Chuyện
cái thất
Thiên
hạ không tu, cũng có đất quanh Thường Chiếu. Có đất đã
xây thất. Có đất để đó không xây. Tôi thấy thiên hạ
có đất, dù có thất hay không, thảy đều rất thích. Cái
thích ấy giờ mới toại nguyện. Đất rồi cũng có. Không
lớn cũng không nhỏ. Đương nhiên phải xây liền một cái
thất.
Thất
vừa tính xây, ngay đúng tháng 7. Thiên hạ bàn vô “Tháng
7 xây nhà cô hồn quậy phá. Tính kiểu chi đó?” Nghe cũng
động tâm. Nhưng ngẫm cho cùng, nếu qua tháng 7, vật giá leo
thang kiểu này, nhất định nhà còn … nửa cái. Coi ra đáng
sợ hơn cả cô hồn. Thôi thì khởi công ngay rằm tháng 7 cho
xong. Tiền yên mà tâm cũng yên. Cô hồn kệ nó.
Thất
vừa xây xong, Ni viếng vội qua. Nhìn quanh nhìn quất, ngẫm
tới ngẫm lui, Ni phán :
- Cái
cửa nhỏ quá!
- Dạ
thưa, đồ cũ tận dụng.
- Làm
sao khiên cái hòm ra?
Trời
đất! Nhà mới xây xong, chưa ở đã tính chuyện chết.
-
Dạ đâu đã ở mà tính khiên ra?
Như
vừa ngộ ra điều gì, Ni cười như hoa :
- À
không. Sư phụ đã làm cái nhà phúng điếu. Có gì để ở
ngoài đó, không cần vô đây.
Mô
Phật! Xin bái thiền ni.
Hôm
nay vừa xuống tới nơi, nhận được tin mới :
- Dạ
thưa, Sư cô LB có cho bó nhan.
- Để
ăn tân gia?
- Chắc
vậy.
Coi
như gần đủ. Xoay qua, thấy nhỏ cầm cái máy ảnh canh tới
canh lui, mới nhớ còn thiếu tấm hình. Chụp đây một tấm,
có gì còn có để … thờ.
Vậy
là đủ bộ. Có quà tân gia.
Con
khỉ bên trong
Cô
em ngày nào cũng chửi cô chị. Bởi cô chị tưng tửng
mà cô em thì không tỉnh. Cô chị làm duyên cho cô em. Cô em
lại làm duyên cho cô chị. Vô minh duyên hành, hành duyên thức
… Hai chị em cứ thế mà chửi nhau. Nghiệp miệng càng tăng.
Sân giận càng nhiều. Vòng trói buộc theo đó nối tiếp.
Mình
không tửng nên không động miệng vô cớ như cô chị, nhưng
không tránh khỏi như cô em khi đời sống không thuần
một màu hồng. Khó mà không sân khi người ta nói ngang. Khó
mà yên ổn khi người ta nói ngược. Song người ngược thì
người lỗi. Mình nổi sân chửi lại, lỗi đó lại thuộc
mình.
Mình
lớn tiếng, vì mình không biết việc đó đem lại tổn hại
cho mình. Mình không biết mọi suy nghĩ hành động của mình
đều khắc sâu trong tâm thức như những vết hằn trên lưng
ngựa hoang. Thứ gì mang hơi hướm vị tha, nhẹ nhàng … nó
như con trai ngậm cát, một hạt trai xuất hiện trong tương
lai. Thứ gì mang hơi hướm tham lam, sân giận … đều
để lại vết hằn nhức nhối không chỉ trong hiện tại.
Đó là đứng trên mặt quả báo phước đức mà nói. Trên
mặt tâm thức, một khi mình thực hiện quen thứ gì,
nó có lực bắt mình theo nó như nước theo dòng. Không chửi
không chịu được. Không lên tiếng thở không trôi. Mình nghiện
chửi nghiện la như nghiện xì ke ma túy.
Vài
tháng tôi lại bị một đợt nóng sôi sục thêu đốt ruột
gan. Cái nóng khiến mình tức tối, chỉ muốn hét cho hả hơi,
chỉ muốn bầm nát mọi thứ. Một đợt nóng có chu kỳ. Tôi
khám phá điều ấy khi thực hành pháp “Biết vọng không
theo” của Hòa thượng Trúc Lâm. Vì muốn không theo, phải
biết cái gì là vọng, phải biết tâm mình đang chất thứ
gì trong đó. Buồn, vui, suy nghĩ, nhớ nhung, đau khổ v.v…
Tất cả những gì hiện lên trong tâm, mình đều phải biết.
Nhờ quá trình đó, mới hay mẽ lửa trong tâm, nó có chu kỳ.
Nguyên do nào nó nằm đó, phát tán âm thầm, mình chưa thấu
được. Chỉ biết, việc bên ngoài là duyên để mẽ lửa
bên trong có cơ bùng phát, không phải bản chất sự việc
là thứ làm mình sân giận. Không có mẽ lửa âm ĩ kia, việc
bên ngoài dù bức bối bao nhiêu, cũng không khiến mình phải
hét hay la.
Mẻ
lửa tuy thấy có sẵn trong mình, nhưng là cái quả mình đã
huân tập từ bao kiếp trước. Nếu không huân tập thì nó
không có. Không chỉ với sân, tham dục, kiến thức v.v… tất
cả hiện diện trong mình đều theo qui luật huân tập. Thứ
gì quen nhiều, thứ đó có lực khiến mình thông thái giỏi
giang về nó khá nhiều. Chửi một lần, không ý thức việc
đó tai hại, chửi tiếp lần hai. Chửi lần hai thấy được
việc, chửi tiếp lần ba. Cứ vậy, một ngày một ít, tập
quen với nó lúc nào không hay. Một khi chửi đã thành quen,
cái chửi nó bắt mình chửi, không phải là mình làm chủ
cái chửi. Do mỗi ngày tập quen với nó mợt ít, nên hiện
đời nó sai sử mình. Đụng chuyện là hét. Nó chính là nhân,
khiến bất cứ chuyện gì bên ngoài cũng thành cái duyên để
mình nổi sân. Một khi đủ duyên bộc cháy, nó sẽ lan mãi
không ngừng. Nó có cái lực khiến mình hăng tiết. Hăng tiết
là duyên để lửa thêm nồng. Vết hằn xéo tâm càng đậm.
Ngưỡng
Sơn hỏi thiền sư Hồng Ân ở Trung Ấp : Làm sao thấy được
Phật tánh?
Sư
đáp : Ta vì ông nói một ví dụ. Như một nhà có sau cửa.
Trong có một con khỉ. Ngoài có một con khỉ kêu chóe chóe.
Con khỉ bên trong liền kêu chóe chóe đáp lại. Sáu cửa đều
đáp như thế.
Ngưỡng
Sơn lễ tạ thưa : Nhờ Hòa thượng ví dụ nên con đã rõ.
Lại có một việc. Như con khỉ bên trong ngủ, con khỉ bên
ngoài muốn gặp thì sao?
Sư
bước xuống giường thiền, nắm tay Ngưỡng Sơn múa : Chóe
chóe, ta cùng ông thấy nhau.
Hỏi
làm sao thấy được Phật tánh? Trả lời “một con khỉ”
kêu ra sáu cửa. Song CON KHỈ KÊU đó chưa phải là Phật tánh.
Chỉ là DỤNG của Phật tánh. Sân là dụng hiện hành của
con khỉ đang kêu. Dụng này do mê mà có. Do mê nên cái quả
của nó là đau khổ và bất an. Vì được huân tập trong bao
đời kiếp, nên thấy cái gì gai mắt liền bực, nghe cái gì
không đúng liền sân, ăn nhằm hạt sạn nổi dóa, ngửi phải
mùi hôi phát khùng, dầu bắn vào người nổi điên, nghĩ đến
chuyện nó nói ngược mà cổ uất nghẹn. Con khỉ bên ngoài
làm duyên cho con khỉ bên trong lên tiếng. Nếu con khỉ bên
trong đã ngủ, tức mầm tham sân si được lắng yên, thì con
khỉ bên ngoài dù kêu bao nhiêu, mọi thứ vẫn bình yên. Mọi
động tác thi vi lúc đó đều là diệu dụng thanh tịnh của
tâm. Dụng thanh tịnh thì hiện tại an vui, tương lai cũng an
vui.
Mọi
đáng tiếc xảy ra hiện nay, con giết cha, vợ giết chồng,
nhân loại tàn sát lẫn nhau v.v… đều do không thấy được
con khỉ đang kêu này. Mình không ý thức được sự tai hại
của con khỉ đang kêu. Mình không nhận định được con khỉ
sắp kêu, con khỉ vừa kêu hay con khỉ đã kêu. Mình nhập
chung mình với nó nên cớ sự mới ra như vậy. Nếu nhận
định được con khỉ sắp kêu hay đang kêu, rồi dừng ngay
không cho nó kêu nữa, thì mọi thứ sẽ yên ổn hài hòa.
Việc
đâu tiên để con khỉ ngủ yên, là mình phải NHẬN DẠNG
được con khỉ của mình. Trước là nhận cho được HÌNH
TƯỚNG con khỉ đang kêu. Sau là nhận cho ra THỰC TƯỚNG của
con khỉ ấy. Nghe chuyện tâm nổi bực, thì phải nhận dạng
được cái bực đó. Thấy bực là biết con khỉ của mình
đã kêu. Kêu rồi thì bịt miệng nó lại đừng cho nó kêu
tiếp. Nó mở miệng là mình bịt. Bịt không xong, phải làm
công tác tư tưởng cho nó, để nó chịu yên. Từ từ nó chán
nó ngủ … Khi nó ngủ rồi thì sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp bên ngoài dù thế nào, tâm mình cũng an nhiên tĩnh lặng.
Tám gió thổi chẳng động là đó. Không phải con khỉ ngủ
yên hoàn toàn mình mới nhận được trạng thái an nhiên tự
tại. Việc nào con khỉ ngủ yên, mình nhận liền sự an nhiên
trong công việc đó. Khi tất cả thời, tất cả chỗ mà con
khỉ ngủ yên hoàn toàn, thì Thiền sư Hồng Ân cùng Ngưỡng
Sơn sẽ nói với mình “Ta cùng con thấy nhau”.
Hiểu
và ngộ
Thiền
sư Pháp Nhãn Văn Ích đến Mân Nam tham vấn. Giữa đường
gặp tuyết rơi, phải tạm tá túc trong viện Đại Tạng đàm
luận với thiền sư Quế Sâm mất mấy ngày. Tuyết dứt,
Văn Ích từ giã tiếp tục hành cước. Quế Sâm tiễn Pháp
Nhãn đến sơn môn, liền chỉ tảng đá bên đường hỏi :
- Đại
đức thường nói tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, chẳng
hay tảng đá này trong tâm đại đức hay ngoài tâm đại đức?
Pháp
Nhãn không cần suy nghĩ, đáp liền :
- Theo
Duy thức, ngoài tâm không có pháp, đương nhiên là ở trong
tâm.
Quế
Sâm cười :
- Đại
đức là tăng hành cước, cớ sao để tảng đá trong tâm?
Pháp
Nhãn đớ lưỡi không biết trả lời, phải ở lại giải
quyết cho xong mối nghi.
Tảng
đá thì ai cũng thấy ngoài tâm. Song luận Duy Thức lại nói
ngoài tâm không có pháp. Tổ đã nói thì không phải chuyện
đùa. Vậy nó ở đâu? Với tâm thức hiện nay của mình thì
câu trả lời vẫn là trong tâm. Đó là cách suy nghĩ thường
tình của người đời : Không bên này thì bên kia, không trong
thì ngoài, không ngoài thì trong, không xấu thì đẹp, không
đẹp thì xấu v.v… không bao giờ thoát được sự chia chẻ
hai bên của trí phân biệt. Song nếu trong tâm, vì sao Quế
Sâm lại hỏi “Cớ sao để tảng đá trong tâm?”.
Tảng
đá ngoài tâm thì trái với lời Tổ. Tảng đá trong tâm thì
bị Thiện tri thức cười. Vậy nó ở đâu? Không trong cũng
không ngoài. Hội chăng? Một chút ngần ngừ … đã qua mất
rồi!
Ở
lại viện Địa Tạng, hằng ngày Pháp Nhãn đều đến trình
kiến giải với Quế Sâm, nhưng Quế Sâm đều lắc đầu,
cho cái thấy của Pháp Nhãn chưa thấu triệt. Lần nào Quế
Sâm cũng trả lời : Phật pháp không phải những thứ ấy.
Cuối
cùng Pháp Nhãn than :
-
Con đã cùng lời hết ý rồi.
Quế
Sâm nói :
- Nếu
luận bàn về Phật pháp thì mọi người sẵn đủ.
Ngay
lời nói ấy Pháp Nhãn đại ngộ.
Không
phải chỉ Pháp Nhãn mới biết cái mà mọi người đều sẵn
đủ đó. Mình thừa biết đó là Phật tánh. Song đó là hiểu
không phải ngộ. Vì sao? Vì trong đầu mình chỉ mới xuất
hiện hai từ Phật tánh chứ chưa thấy được cái Phật tánh
ấy hình dạng ra sao, mặt mũi thế nào. Ngộ chính là nhận
biết nó ra sao, hình tướng thế nào. Mình sẽ mau mắn “Nó
vô tướng”. Ừ! Nó vô tướng, nhưng nó vô tướng ra sao?
Nếu nó vô tướng thì dựa vào đâu để biết nó có? Nếu
đã có tướng để thấy, dù là tướng không, thì làm sao
nói nó vô tướng? Đã có tướng để thấy thì nó là cái
BỊ BIẾT, chỉ là tướng hư vọng, không phải là Phật tánh.
Phật tánh không rơi vào cái thấy năng sở. Nếu nó không
tướng, sao kinh Bát Nhã nói “Tướng không của các pháp không
sanh v.v…”. Rất nhiều thứ để mình lầm lẫn và nghi hoặc
khi chỉ dùng tri thức học hỏi để hiểu những thứ vượt
ngoài tri thức. Thành NGỘ và HIỂU tuy đồng chỉ cho sự thông
thấu, nhưng thật là cách xa một trời một vực.
Chính
vì HIỂU và NGỘ không giống nhau, hay nói thông thoáng một
chút, ngộ có nhiều lớp : Có cái ngộ chỉ mới là sự
thẩm thấu từ sách vở, hoặc do suy luận mà ra. Có cái ngộ
do chính mình bật ra, nhưng vẫn chỉ là một dòng kiến giải,
chưa thoát khỏi ngôn từ. Có cái ngộ là thể nhập một cảnh
giới. Có cái ngộ là chứng mà không có cảnh giới để chứng
v.v… Do ngộ có nhiều lớp nhiều lang như thế, mà trong nhà
thiền xuất hiện nhiều chuyện lý thú.
Một
lần Tô Đông Pha đến thăm Phật Ấn, viết thư báo trước
rằng “Hãy như thiền sư Triệu Châu đón Triệu Vương, không
cần ra ngoài”. Ông cho mình có trình độ hiểu thiền thâm
cao, nên muốn Phật Ấn dùng lễ thượng thừa đón mình như
Triệu Châu từng đón Triệu Vương. Song vừa đến nơi đã
thấy Phật Ấn lù lù ở cổng. Ông trách “Đạo hạnh của
thầy xem ra không bằng Triệu Châu. Vẫn không thoát được
thói thường tình”. Không ngờ Phật Ấn dùng kệ đáp rằng
:
Triệu
Châu ngày ấy thiếu khiêm nhường
Không
ra tận cổng đón Triệu Vương
Đâu
giống Kim Sơn vô lượng tướng
Đại
thiên thế giới một gường thiền
Chỉ
hiểu Phật pháp qua chữ nghĩa sách vở, chưa có sự thực
nghiệm, nên xem kinh thì vướng kinh, thấy tướng liền dính
tướng, mà không thấu được thực chất của những thứ
ấy. Triệu Châu không ra nghinh tiếp Triệu vương vì cho Triệu
Vương là bậc thượng cơ. Nhưng không phải cứ bậc
thượng cơ là cứ theo cách đó mà nghinh tiếp. Có khi vì tâm
tâm tương đắc mới ra tận cổng đón nhau. Nghĩa là, tướng
bên ngoài chưa hẳn là thứ quyết định được bản chất
sự việc, dù có khi nó như thế. Khóc, thường biểu hiện
cho chất buồn. Nhưng có khi vui quá, nước mắt cũng rơi. Thành
cái tướng nước mắt đó, không dứt khoát là tướng biểu
hiện cho chất buồn hay vui. Cũng như không phải cứ ra tận
cổng như thế, thì cốt cách đã không bằng người xưa. Mọi
thứ đều lệ thuộc vào duyên. Hãy nghe Phật Ấn nói :
Đâu
giống Kim Sơn vô lượng tướng
Đại
thiên thế giới một gường thiền
Ối
trời! Trùm khắp Tam thiên đại thiên thế giới như thế thì
tướng gì ra tướng gì vào? Anh chỉ thấy được tướng ra
tướng vào mà không thấy được tướng “không ra không vào”,
bởi anh chưa thoát khỏi trí phân biệt. Chính vì trí phân
biệt đó mà mọi thứ thành phân chia khúc đoạn như hiện
nay.
Trong
kinh Lăng Nghiêm, Phật ví chúng sanh như những người bị nhặm
mắt thấy có vân tròn quanh bóng đèn. Vân tròn do mắt bệnh
mà có. Bệnh lành thì vân tròn cũng không. Tức ngoài mắt
bệnh không có vân tròn. Ngoài tâm không có pháp cũng vậy.
Thấy mọi thứ hiện diện, có đến, đi, trong, ngoài như hiện
nay, chẳng qua do tâm bất giác từ thời vô thủy mà thấy.
Không phải pháp vốn như thế. Vì cái nhìn của Tô Đông Pha
còn bị hạn cuộc trong trí phân biệt, nên Đông Pha thấy
Phật Ấn có đến có đi, nào phải Phật Ấn có đến đi.
Vậy
thì … tảng đá là ngoài tâm hay trong tâm? Luận thì cũng
ra, nhưng muốn thấu đáo thật sự, cần lìa ngôn luận, phá
thẳng vào trí phân biệt mới xong. Muốn phá vào trí phân
biệt thì làm thế nào? Chạm duyên xúc cảnh, tâm khởi liền
biết, biết rồi liên ngưng, không cho nối tiếp. Một lúc
nào đó, phân biệt cũng dừng. Còn, niệm khởi không biết,
biết rồi liền theo, thì … Giường thiền xơ xẩy, hụt chân
cổ gãy.
Làm
thế nào để có an lạc
Có
ba Phật tử thỉnh vấn thiền sư Vô Đức : Xin hỏi Thầy,
làm sao để có an lạc?
Thiền
sư Vô Đức không trả lời mà hỏi lại : Các ông nghĩ là
thế nào mới gọi là an lạc?
Ba
vị trả lời :
- Có
tiền bạc là an lạc.
-
Có tình yêu là an lạc.
-
Có danh vị là an lạc.
Tuy
ba kiểu, nhưng chung qui không ngoài ba thứ tình, tiền và danh
vọng. Đó là tất cả những gì mà đa số chúng ta hiện nay
đang xả thân vì nó. Vì thế khi được hỏi thế nào mới
gọi là an lạc, ba vị liền trả lời : Tình, tiền và danh
vị.
TIỀN
BẠC CHƯA HẲN LÀ THỨ MANG LẠI AN LẠC
Khi
đã hỏi “Làm sao để có an lạc?” thì biết cuộc sống
hiện tại không mấy an lạc. An lạc rồi thì chắc chẳng
ai hỏi làm chi. Muốn có an lạc mà nghĩ tiền bạc là thứ
mang lại an lạc thì biết người trả lời không phải là
người may mắn về tiền bạc. Không có nó, cuộc sống mình
không an lạc. Không có nó, mình thất bát khổ nạn … nên
mới nghĩ có tiền là có an lạc. An lạc là trạng thái an
vui nhẹ nhàng không vướng bận lo âu. Song tiền bạc có thật
là thứ làm mình an vui? Trả lời “không” thiên hạ nói
mình xạo, thành phải nói có. Quả tình, tiền bạc giúp mình
thư thả hơn trong cuộc sống khi nhu cầu về ăn mặc và mọi
sinh hoạt đời thường vẫn còn là thứ cần thiết với mình.
Đi đâu cũng phải có tiền. Tiền có thể giúp mình trở thành
hiếu hạnh, tình nghĩa, biết điều, giải quyết được khá
nhiều công việc mà ít phải tốn hao sức lực. Đó cũng là
lý do thiền sư Vô Đức dạy “Có tiền phải biết bố thí”.
Bố thí, chỉ cho động tác trao tặng, đưa ra. Có tiền thì
phải biết sử dụng, trang trải. Cái đáng xài thì xài, không
thì thôi ... Nếu mình chịu chi, biết mang niềm vui đến cho
người, thì tiền là thứ mang lại hạnh phúc cho mình.
Song
chịu bố thí rồi, biết cách sài tiền rồi, tiền có thật
mang lại an lạc cho mình không? Thiền sư Vô Đức trả lời
“Có tiền thì phiền não lo lắng sẽ theo sau”. Tiền đúng
là mang lại một ít vui vẻ cho mình, nhưng để có được
nó, đa phần đều phải lo lắng, đầu óc không thư thả.
Đã có lo lắng cạnh tranh thì an lạc không có. Chưa kể tiền
có khi còn là đầu mối của tai họa. Có khi chết chỉ vì
đi một chiếc xe đắt tiền hay vài phân vàng tòn ten nơi tai.
Con cái hư hỏng một phần vì tiền bạc dư giả cho các cuộc
vui. Tuần báo An Ninh vừa rồi, phân tích về 7 nỗi lo của
những kẻ giàu nhất thế giới : Sợ thua sút người khác,
sợ phá sản, sợ thuế má, tòa án, sợ lừa đảo, bạo động,
bắt cóc v.v…
Nói
chung thứ gì ở đời cũng có hai mặt của nó. Tiền là thứ
mang lại niềm vui cho mình, nếu mình biết cách sử dụng.
Nhưng không phải là thứ hoàn toàn mang lại hạnh phúc cho
mình. Chủ yếu là phải làm chủ được đồng tiền, không
dính mắc vào nó, thì mình mới có hạnh phúc khi có tiền.
Song
có tiền mà không có tình thì muộn phiền có khi cũng lắm.
Vì vậy, người thứ hai trả lời “Có tình yêu là an lạc”.
TÌNH
YÊU CHƯA HẲN LÀ THỨ MANG LẠI AN LẠC
Yêu
mà không được đáp trả là nỗi bất hạnh lớn lao. Đó
là điều không thể chối cãi. Không chỉ trong tình yêu đôi
lứa mà cả trong tình cảm cha mẹ, anh em, bạn bè … Không
khỏi muộn phiền khi không có sự đồng cảm. Không khỏi
cô độc khi phải trơ trọi một mình. Không được yêu thương
quả là bất hạnh. Vì thế, nghĩ “Được yêu thương sẽ
có an lạc” là chuyện thường tình trong cuộc đời. Nhưng
được yêu thương có thật là hoàn toàn an lạc? Thiền sư
Vô Đức trả lời “Có tình yêu, phiền não lo lắng sẽ theo
sau”. Tình cảm chưa hẳn là thứ mang lại hạnh phúc cho mình.
Bởi khi thương yêu thì thường có sự đáp trả hai chiều,
dù không hẳn khi nào cũng vậy. Có đáp trả là có lo lắng
muộn phiền. Phật nói “Có ái sinh lo, có ai sinh sợ”. Yêu
thương đi liền với lo lắng và bất an.
Cuộc
sống là một chuỗi nhân duyên nối tiếp trùng phùng. Nhân
duyên hiện đời chưa hẳn là mối nhân duyên từ bao kiếp
trước. Thăng trầm bể dâu lắm đổi, nhân duyên hiện đời
mười ngón tay đếm không xong. Lắm mối tối nằm không. Thành
được yêu thương chưa chắc đã an vui. Song dù ôm được
hết vào lòng một lúc, vẫn không tránh khỏi vô thường.
Bởi không ai tránh khỏi cái chết. Một thiền sư Nhật Bản,
khi nghe tin con qua đời, đã làm hai câu thơ :
Đời
như hạt sương rơi.
Tuy
nhiên, tuy nhiên …
Biết
đời mong manh như hạt sương, nhưng không khỏi ưu phiền khi
nghe tin con vừa mất. Càng hạnh phúc yêu thương, nỗi lo lắng
mất mát càng lớn, nỗi đau đớn rức ray càng mạnh. Người
ra đi bận lòng. Kẻ ở lại khổ đau. Khổ đau cho ngang với
những gì đã được hạnh phúc. Nói chung, KHÔNG CÓ khổ đã
đành, mà CÓ chưa chắc yên vui. Chẳng trách Tổ Trúc Lâm nói
:
Câu
CÓ
câu KHÔNG
Đau
đáu lo sợ
Cho
nên, thiền sư Vô Đức dạy “Có tình yêu phải biết trang
trải”.
Tình
yêu trang trải là loại tình yêu không qui hướng về mình,
mà cũng không qui hướng riêng ai. Bởi có riêng là có mình
trong đó. Đã có mình thì không khỏi lo lắng khổ đau. Thành
có tình yêu phải biết trang trải hướng đến muôn người.
Trang trải, không có nghĩa là yêu thật nhiều hay trở thành
cây khô lạnh giá. Trang trải là yêu thương mà không dính
mắc. Nó là loại tình thương được dẫn đường bằng trí
tuệ Phật, hướng ta và người về đường thiện, không mang
tính vị kỷ.
DANH
VỊ CHƯA HẲN LÀ THỨ MANG LẠI AN LẠC
Danh
vị, thiền sư Vô Đức nói “Có danh vị, phiền não và lo
lắng sẽ theo sau”. Không một thành công nào không phải gắng
sức. Đạt được đã mất sức. Giữ cho vững còn mất sức
hơn. Tôi đã dành hết quãng đời thơ trẻ để bảo tồn
danh vị cho mình. Vị trí hàng đầu không thể của ai ngoài
tôi. Tôi bị mắng và ăn đòn nhiều hơn một học trò dốt.
Phải gác mọi vui chơi, giải trí và cả bệnh tật. Chỉ có
đàn, đàn đến phát bệnh để giữ vững danh vị hàng đầu.
Song ý chí con người không thể phăng tới khi thân thể đã
kiệt quệ. Cuối cùng … thà bỏ cuộc hơn là đội trên đầu
một cái mông. Không ngờ “thà bỏ cuộc” lại mở ra một
khoảng trời mới. Nước mắt thầy cô vô hiệu khi đứa trẻ
đã “giác ngộ”. Thanh thản nhẹ nhàng biết bao khi vứt
gánh nặng khỏi vai mình.
Nói
vậy, không phải để khuyên mọi người phá bỏ tinh thần
cầu tiến hay tán thán việc bỏ học. Đến với đạo mình
còn phải học, phải làm, huống là ngoài đời? Có điều
không nên dính mắc vào đó quá nhiều khiến mọi việc trở
thành tồi tệ. Hiện nay tình trạng trẻ tự tử chỉ vì không
đủ sức đạt tiếp danh vị mà cha mẹ mình mong muốn không
phải không có. Đó là việc tồi tệ. Cố gắng, nhưng không
nên để nó chi phối mình quá mức. Được thì tốt, chưa
thì thôi.
Đến
với thiền, tiền tình và danh vị không phải không có. Có
khi còn nhiều hơn người ngoài đời. Bởi đó là cái quả
được dựng từ cái nhân phước báu. Quá trình hành Bồ tát
đạo là quá trình phước báu đang được gầy dựng. Nhưng
nó không phải là chỗ nhắm đến của người tu thiền. Không
nhắm đến, nên có thì bình thản, mất cũng bình thản. Nói
đến thiền là nói đến Phật tâm. Phát huy lại trí tuệ
và lòng từ sẵn có của mình mới là việc chính yếu của
người tu thiền. Vì thế, danh vị, tiền tài và tình cảm
không phải là thứ thiết yếu để người tu vướng bận.
Một khi trí tuệ khai phát, danh vị, tiền tình dù đủ cũng
như áng mây. Chúng đến như mây thì đi sẽ như mây. Nhẹ
nhàng không vướng bận. Không có gì đánh động được bầu
trời tâm. Đủ hay thiếu, được hay mất … không phải là
thứ làm mình bận lòng. Sống được vậy, mới thực là có
an lạc.
Muôn
duyên cắt đứt, một thân nhàn
Hơn
bốn mươi năm, giấc mộng tràng
Nhắn
bảo mọi người thôi chớ hỏi
Bên
kia trăng gió rộng thênh thang
Thiên
sư Pháp Loa
Sai
khiến được ba câu
Nói
đến thiền, thái độ im lặng thường được biểu dương
là chỗ rốt ráo. Cử chỉ không có ngôn từ thường được
ca tụng là hạnh của kẻ hiểu thiền. Chưa hẳn! Hãy xem Triệu
Châu vấn đáp.
Đang
tham thiền, Triệu Châu bảo : Sáng thì chưa sáng, nói tối
thì sắp sáng, ông ở bên nào?
Tăng
thưa : Không ở hai đầu.
Sư
bảo : Thế ấy là ở khoảng giữa?
Tăng
thưa : Nếu ở khoảng giữa liền ở hai đầu
Sư
bảo : Tăng này ở nơi lão tăng đã bao lâu, nói năng thế
ấy không ra khỏi ba câu. Song dù ra được cũng còn ở trong
ba câu. Ông làm sao?
Tăng
thưa : Con sai khiến được ba câu.
Sư
bảo : Sao không nói sớm?
Nói
sáng thì chưa sáng, vì sanh thì chưa sanh. Nói tối thì không
được, vì sắp sanh mà không phải diệt. Vậy, giữa cái khoảng
sáng và tối, sanh và diệt đó ông ở khoảng nào, nói ta nghe!
Cha, không có công phu khó mà vào được chỗ này. Cái gì sáng
sáng, Cái gì tối tối? Lắm kẻ điên đầu!
Xin
đừng bỏ cuộc, vẫn còn nhiều chỗ thú vị qua giai thoại
này.
Tăng
đáp mau mắn “Không ở hai đầu”. Một câu trả lời sao
mà đạo lý! Đúng là con cháu nhà thiền. Triệu Châu không
phải tay vừa. Đâu thể chừng đó mà đủ, liền hỏi “Vậy
ở khoảng giữa?”. Không ở hai đầu thì phải ở đâu trong
khoảng hai đầu đó chứ! Triệu Châu muốn tăng xác định.
Nhưng Tăng không phải là hạng chỉ có cơm cháo qua ngày “Nếu
ở khoảng giữa liền ở hai đầu”. Ừ! Không ở hai đầu
mà cho là giữa, khác gì hai đầu? Bởi có chỗ nơiù. Đã
có chỗ nơi, thì dù không ở hai đầu, nó cũng không khác
hai đầu. Cũng còn trong vòng sanh diệt. Là vọng, không phải
chân.
Cho
nên, khi có người hỏi “Làm sao phân biệt giữa chân và
vọng?”. Thiền sư Thông Phương trả lời “Biết vọng là
chân”. Ngay khi biết vọng, chính lúc đó là chân. Niệm niệm
biết vọng, niệm niệm chân. Không cần vạch vọng tìm chân.
Chân nếu thấy được, chân liền thành vọng. Cho nên, nếu
nghe Trung Luận tụng rằng : Vạn pháp “không sanh cũng không
diệt, không đến cũng không đi …” mà cho chúng “đứng
yên”, hay tách hai đầu mút sanh diệt ra, nhét cái “không
sanh không diệt” vào giữa, cho đó là vô niệm, là ta đang
nuốt phải trà mắt mèo của lão Triệu Châu. Chỉ chút chỗ
này, lấy vọng làm chân, bỏ hết công lao của mình.
Trả
lời đến đó, không phải kẻ có thực lực khó mà làm được.
Nhưng Triệu Châu vẫn còn một câu rốt sau, liền mắng “Nói
năng thế ấy không ra khỏi ba câu. Song dù ra được, cũng
còn ở trong ba câu”. Nếu là kẻ còn bị ba câu trói buộc,
nghe phán câu đó không khỏi tái mặt.
Triệu
Châu mắng Tăng nhân, không phải không có lý do. Đến với
nhà thiền, không ai không biết nụ cười của Phật Thích
Ca, sự im lặng bất hủ của ngài Duy Ma, ngón tay nổi tiếng
của thiền sư Câu Chi ... Những hình tướng không ngôn từ
đó, thường để biểu hiện cho cội nguồn nhất tâm chân
thật, dứt bặt ngôn thuyết. Song vì là kẻ có thực lực,
đúng là không bị ba câu trói buộc, không bị hình tướng
dẫn chạy, nên tăng không bắt chước những hình tướng đó,
mà trả lời “Con sai sử được ba câu”.
Con
sai sử được ba câu. Nghĩa là, Pháp Đạt không còn bị Pháp
Hoa chuyển, mà đã chuyển được Pháp Hoa. Pháp vốn không
lỗi, lỗi là do mình sử dụng pháp không đúng duyên. Ngôn
từ cũng không lỗi. Lỗi là do mình sử dụng nó không đúng
lúc, đúng thời, dụng pháp mà chấp trước v.v… Không phải
cứ có ngôn từ là không chân, im lặng mới vàng ròng. Nói
hay nín đều tương ưng nếu có trí tuệ dẫn đường. Đương
nhiên phải là loại trí tuệ “Mỗi mỗi từ trong hông ngực
mình lưu xuất”, [9] không phải là thứ vay mượn bên ngoài.
Được vậy, tuy lời nói không y kinh luận, mà không ngoài
kinh luận. Mỗi mỗi đều ứng lý hợp cơ. Không như con vẹt,
dạy câu nào ôm chết câu đó, không thể tùy duyên vận dụng.
Dạy một câu chào khách, ăn trộm đến nó vẫn “Chào khách!”
. Dạy một câu ăn trộm, khách đến nó vẫn “Ăn trộm!”.
Người dạy cái gì, nó cứ theo cái ấy mà nói. Không thể
y lý tùy duyên mà dụng pháp cho thông hoạt. Chỉ vì nương
tựa vào tri thức hiểu biết của người mà không phát huy
được khả năng sẵn có của mình, thành mọi thứ đều hạn
cuộc và hay nhầm lẫn.
Người
xưa nói “Khi mê thì tứ cú đều sai. Khi tỉnh thì tất cả
đều đúng”. Mê thì nói cũng trật, nín cũng trật. Tỉnh
thì nói nín đều xong. Ngài Huyền Giác nói “Nói nín động
tịnh thể an nhiên”. Sống được với thể tánh chân thật
của mình, tức thấu suốt được thực tánh của vạn pháp,
không bị hình tướng ngôn từ làm mờ mắt, thì dụng pháp
dù xuôi hay ngược vẫn không lìa chân, đều là hoạt dụng
vi diệu.
Song
làm sao để sống đượcvới thể tánh chân thật của mình?
Thiền sư Lâm Tế nói “Các ông hiện nay biết nghe pháp, chẳng
do tứ đại của các ông. Cái BIẾT ấy hay dùng được tứ
đại. Nếu khéo thấy được như thế thì đi đứng tự do.
Chỗ thấy của sơn tăng không ngoài pháp ấy … Trong Ngũ Đài
Sơn không có Văn Thù. Chỉ cái dùng trước mắt các ông trước
sau không khác, nơi nơi không nghi, chính là Văn Thù sống. Các
ông một niệm tâm sáng không phân biệt, nơi nơi thảy là
chân Phổ Hiền ... Hiểu được như thế mới nên xem kinh”.
Nói chung, phải làm sao phát huy được cái BIẾT của mình.
Chỉ cần BIẾT rõ ràng không thêm gì khác. Thẳng tắt, đơn
giản mà không lầm. Miên mật được, thì tự mình sẽ có
tin tức.
Tam
Tạng được kinh
qua cái nhìn
Thiền tông
TÂY
DU KÝ, một bộ chuyện gần như ai cũng thích. Người
đời thích. Các bậc Tôn túc xưa cũng thích. Nhắc đến Tôn
Ngộ Không đổ hết bình đờm giãi vào họng, Sư phụ cười
ha hả. Cái cười của Sư phụ khiến tôi tò mò. Cứ hỏi
vì sao Tây Du chiếu trên truyền hình, khúc cuối sao mà tệ
hại, xem ra phỉ báng đạo Phật quá nhiều, mà với Sư phụ
lại có giá trị đạo lý như vậy?
Cái
tật vốn lười, đọc lại nguyên bản chữ hán Tây Du thì
có mà chết. Thôi thì chỗ nào thấy họ phỉ báng, mình moi
chỗ đó ra xem, coi người xưa viết gì mà các bậc Tôn túc
có những nhận xét khác nhau. Không ngờ, khi Tam Tạng đến
chân núi Linh Thứu trở về sau, đọc tới đâu mê mẫn tới
đó. Nếu cho Tây Du là bộ ký sự gởi gắm quá trình
ngược dòng hoàn tịnh của một hành giả tu Phật để đến
bờ kia v.v... Cũng có cái lý để mình chiêm nghiệm.
1.
MỞ ĐẦU
Nói
“Tam Tạng được kinh qua cái nhìn Thiền tông”, không có
nghĩa, đó là cái nhìn của tất cả những hành giả tu thiền.
Chỉ vì trong phần luận giải, phải mượn những tình tiết
liên quan đến Thiền tông mới hí luận được về nó, nên
nói “Qua cái nhìn Thiền tông”. Luận ra đây, cũng không
phải để chống đối hay hiển sự đúng sai đối với những
quan điểm nghịch lại. Làm sao có thể khẳng định mình đúng
người sai, khi mình không phải là chính tác giả? Chỉ là
mượn gió đưa thuyền, mượn nôm bẩy cá … xẻ chia một
chút “ngọt bùi” với những kẻ đồng duyên. Cũng là để
thấy, thực lý DUYÊN KHỞI đang chi phối thế giới này : Pháp
không tánh cố định, chỉ tùy duyên hiện tướng. Tùy tâm
thức của từng người mà pháp pháp thành sai biệt. Cảnh
SỞ DUYÊN không còn ở vị trí của chính nó, mà đã thành
SỞ DUYÊN DUYÊN qua tâm thức của từng người. Ca rằng
:
Sở
Duyên bày hiện
Duyên
thành Duyên Duyên
Mượn
gió đưa thuyền
Bát
Nhã đồng lên
Do
chỉ tập trung vào đoạn Tam Tạng được kinh, lại “Qua cái
nhìn của Thiền tông”, nên đây không bàn đến quá trình
thỉnh kinh ở phần trước, chỉ lạm bàn khi Tam Tạng đến
được chân núi Linh Thứu trở về sau.
2.
CHỈ THẲNG CHỖ TÂM CHỨNG
Vượt
bao khổ cực sóng gió, đến được chân núi Linh Sơn, 4 thầy
trò Tam Tạng được đại tiên Kim Đăng chỉ đường “Thánh
tăng! Hào quang ngũ sắc lưng chừng trời mà ngài thấy đó
chính là Linh Thứu, cảnh giới của Phật Tổ”. Tôn Ngộ
Không nói “ … Tuy thấy đó chứ còn xa …”. [10]
Nguồn
tâm chân nguyên vốn thanh tịnh trùm sáng, nhưng nó không phải
là đối tượng để ta thấy được. Thứ gì còn trong vòng
năng sở đối đãi, thứ đó có thể là chân, nhưng là đối
với vọng mà nói, chưa là TÁNH THỂ tột cùng cần đạt.
Ngài Nam Tuyền nói “Không biết là vô ký. Biết là vọng
giác”. So với tâm vọng động của chúng sanh, biết tuy là
chân, nhưng đó chỉ mới là phần CHÂN DỤNG của TÁNH THỂ
chân như, chưa phải là cái nhân PHẬT TÁNH để ta đạt được
cái quả là NIẾT BÀN PHẬT, nên nói vọng giác. Vì sợ người
tu chấp DỤNG làm THỂ, nên Nam Tuyền đã phải phương tiện
một câu “Biết là vọng giác”. Tuy là vọng giác nhưng không
có BIẾT, thì chân núi Linh Thứu còn không có phần, nói là
lên núi.
Cho
nên, dù thân tâm không còn, chỉ hiện tiền một trạng thái
thanh lương sáng khắp, nhưng là cái thanh lương mình còn cảm
nhận được, thì vẫn chưa thoát được cảnh giới của thức
ấm. Chỉ mới là cảnh SỞ MINH mà kinh Lăng Nghiêm đã nói.
Ngài Thiết Nhãn nói “Lúc đó tâm của bạn rỗng rang như
hư không. Bạn cảm thấy cả pháp giới hiện hữu trong ấy,
như có cái gì thanh lương khó nghĩ … Khi trạng thái này tiếp
tục một thời gian mà bạn nghĩ mình đã được giác ngộ,
và thấy mình ngang hàng với Thích Ca hay Bồ Đề Đạt Ma là
bạn lầm. Ngôi vị này là thể hội ấm thứ 5. Đây là
điều mà kinh Lăng Nghiêm nói “Hội nhập cái tịch lặng,
trở về bờ mé của thức”… Đây là thức thứ 8 của chúng
sanh. Thức này chính là nguyên nhân đưa đến luân hồi …
Mặc dù thức này gần giống với bản tâm nhưng không phải
là bản tâm”. Chính vì vậy, THẤY RỒI ĐÓ mà vẫn
CÒN XA. Đạo lý vô cùng!
3.
CẦU ĐỘC MỘC VÀ THUYỀN KHÔNG ĐÁY
Sau
khi Kim Đăng kiếu từ, 4 thầy trò tiếp tục đi và gặp một
con sông đang nổi sóng. Tam Tạng hoang mangï. Ngộ Không chỉ
cây cầu trên biển nói “Cái cầu đằng kia, qua được mới
thành chánh giác”. Nhin kỹ thì quả tình có một cây cầu
độc mộc bắt vòng qua biển như một cái mống. Tam Tạng
lắc đầu “Cầu này người phàm làm sao đi được. Kiếm
ngõ khác cho xong”. Tôn Ngộ Không nói “Có ngõ khác
đâu mà kiếm. Đằng nào cũng phải qua cầu này”. Nói xong,
Tôn hành giả qua cầu rồi trở lại dắt Bát Giới. Bát Giới
sợ hãi, một mực đòi đằng vân. Tôn Hành Giả nạt “Chỗ
này là chỗ nào mà đằng vân giá vụ? Phải qua cầu này mới
thành Phật được”.
Muốn
vượt biển sanh tử đến bờ giác ngộ, chỉ có cầu độc
mộc và thuyền không đáy mới có thể qua được.
Cầu
độc mộc là cầu chỉ có một cây như cầu khỉ. Nhưng cầu
khỉ còn thẳng, cầu này cong vòng không có điểm tựa. Muốn
đi được cầu này, phải ‘độc hành độc bộ’ mới qua
được cầu này. Không để tâm thức rơi vào nhị biên phân
biệt, mới qua được cầu này. Muốn đến bờ giác, hành
giả phải phá thẳng vào trí phân biệt của mình. Trí phân
biệt là TƯỚNG ĐẦU trong LỤC THÔ của luận Đại Thừa
Khởi Tín. Trí phân biệt không phá, thì không thể nói chuyện
làm Tổ thành Phật. Như không vào được cửa Đại Thừa
Khởi Tín hay Trung Luận thì khoang bàn đến Hoa Nghiêm. Đó
là con đường duy nhất để hành giả tu Phật đến được
bờ kia. Chính là cửa BẤT NHỊ trong kinh Duy Ma, BÁT BẤT của
Trung luận, tất cả đều PHI của kinh Lăng Già v.v... Cầu
này, thần thông không làm gì được. Dù thần thông bậc nhất
như Mục Kiền Liên, cũng còn không xong, huống là thuật đằng
vân của Trư Bát Giới.
Cầu
tuy khó đi, nhưng nếu vững tâm quyết chí thì vẫn đi được.
Một khi hành giả đã xác định tinh thần tu hành rõ ràng,
như Ngộ Không từng quả quyết “Muốn làm Tổ thành Phật
chỉ có đường này”, thì dù khó khăn bao nhiêu, mình vẫn
qua được. Còn như Tam Tạng hay Trư Bát Giới, buông vọng
vài keo đã thấy nặng nề, ức chế … tâm liền thối lui,
khó mà đi được cầu này.
Tôn
hành giả qua được cầu này, nên có tên là Ngộ Không. Ngộ
ra tánh không của vạn pháp thì đi được cầu này không mấy
khó khăn. Nhân và quả không lìa nhau.
Đang
phân vân thì bỗng đâu có con thuyền trôi đến, Tam Tạng
cả mừng, nhưng khi nhìn lại. thấy đó là thuyền không đáy,
ông thất sắc nói “Thuyền không đáy đưa người sao đặng”.
Người đưa đò nói “Thuyền này không tầm thường. Tuy là
không đáy mà an vững …” Nghe vậy nhưng Tam Tạng vẫn dùng
dằng, liền bị Tôn Hành giả xô ngay xuống thuyền. Sau
khi bị xô xuống thuyền, thấy xác mình trôi lềnh bềnh trên
sông, Tam Tạng qua đò đến được đất Phật, gặp được
Như Lai, rồi theo tôn giả Ca Diếp và A Nan đến chỗ để
kinh.
Bàng
cư sĩ nói “Khó khó khó, mười tạ dầu mè trên cây, vuốt”.
Khó vì tâm mình vốn quen an trụ. Luôn phải có chỗ để bám
víu nương tựa, không dễ gì chịu buông để tâm trở lại
trạng thái VÔ TRỤ của nó. Sợ trống vắng, sợ mất kiến
giải sở trường, sợ tan thân nát mạng ... trăm ngàn cái
sợ, trăm ngàn cái ngại, thành cầu đò luôn sẵn mà ít người
đến được bờ kia. Nếu chưa một lần chết đi sống lại,
cái mà người xưa nói “Tuyệt hậu tái tô”, thì chưa thể
nào chiêm nghiệm được tánh Phật trong chính mình. Tánh Phật
chưa nghiệm, thì quả Phật còn xa.
4.
VĂN PHONG CỦA THIỀN SƯ.
Sau
khi cho 4 thầy trò xem tủ đựng kinh, A nan và Ca Diếp
nói với Tam Tạng “Thánh tăng Đông Độ đến đây thỉnh
kinh, có nhân sự chi tặng bọn ta chăng? Có thì đưa sớm để
ta phát kinh”. Tam Tạng nói “Đường xá xa xôi, đệ
tử không có sắm sửa”. Tổ sư trả lời “Giỏi! Giỏi!
Giỏi! Đi tay không thỉnh kinh về lưu truyền thì kẻ đời
sau chết đói”. Tôn Hành Giả thấy vậy, đòi kiện Như Lai.
A Nan liền ngăn “Đừng có rầy rà, chỗ này không phải là
chỗ chơi, ra đây mà lãnh kinh”. 4 thầy trò lãnh được kinh,
lên đường trở về Đông độ.
Ca
Diếp và A Nan là hai vị Tổ đầu tiên của Thiền Tông. Ca
Diếp là người được Như Lai chia cho nửa tòa ngồi, vì khi
Như Lai đưa cành sen lên ở hội Linh Sơn, Ca Diếp là người
duy nhất nhận được ý chỉ mà Như Lai nói. Chỉ yếu của
Thiền Tông là “Bất lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo,
trực chỉ tâm người, thấy tánh thành Phật”. Tiếng hét
của Lâm Tế, cây gậy của Vân Môn, ngón tay của Câu Chi …
không hề thông qua văn tự kinh điển, nhưng không gì không
phải là lời của Phật Tổ. Nó không khác cành sen trên hội
Linh Sơn. Tâm tâm truyền nhau, ngay đó mà nhận, ngay đó mà
tu, không qua kinh điển văn tự. Đơn giản, thẳng tắt, nhưng
phải là hàng căn cơ bậc thượng mới nhận và sống được
với tâm này. Ngàn kinh muôn luận, tám vạn pháp môn, chỉ
với mục đích giúp người nhận được tâm này.
Nói
về văn phong của người xưa, thường chỉ có văn phong của
thiền sư là quái gở và khó hiểu. Tôn Túc sập cửa làm
nát chân Vân Môn. Phổ Hóa vác hòm chạy khắp 4 cửa thành.
Thiền sư Gessan, mặc lời biếm nhẽ chê bai của thiên hạ,
luôn bắt mọi người phải trả tiền công rất cao cho những
bức họa của mình v.v... Chẳng qua vì trí tuệ của chư vị
không còn bị buộc ràng trong trí phân biệt, mọi hành sử
không vì bản thân mà chỉ vì lợi ích của muôn người. Nên
có khi, cái thấy phàm tình của người đời khó mà biện
tới. Chính vì thế, một trong bốn “Y” của một hành giả
tu Đại thừa là “Y pháp bất y nhân”.
Hồng
Châu Thủy Lão, lần đầu đến tham bái Mã Tổ, bị Mã Tổ
đòi lễ “Ông lạy trước cái đã”. Thủy Lão liền cúi
xuống lạy. Mã Tổ đạp một đạp, Sư té nhào và hoát nhiên
đại ngộ. Nếu khi Mã Tổ đòi lễ, Thủy Lão khởi liền
cái thấy hướng ngoại như thầy trò Tam Tạng : Cho thái độ
đó là ngạo mạn, thì việc đại ngộ hẳn không xảy ra.
Cho nên, việc A nan và Ca Diếp trao kinh vô tự và đòi phẩm
vật cúng dường - với cái nhìn của người đời là hối
lộ gian lận - lại là chuyện thường tình dưới con
mắt Thiền Tông.
Tôn
Hành Giả có thể thấy yêu ma quỉ mị biến hành, có thể
thấy tướng Phật hóa hiện, nhưng tâm của chư vị Thiền
Tổ thì dò không tới, mới đòi bẩm báo với Phật Tổ. Mới
thấy “Đốn ngộ tuy đồng Phật, đa sanh tập khí thâm”.
Dù từng một lần đặt chân lên đất Phật, từng một lần
chết đi sống lại, thì phần tập khí sở tri vẫn còn. Ngay
cả hàng Bồ tát ở giai vị Thập địa vẫn còn phần sở
tri vi tế ngu, nên chưa thể có cái thấy thấu suốt như chư
Như Lai. Thành “Chưa ngộ như đưa ma mẹ. Ngộ rồi, như đưa
ma mẹ” là vậy.
Phong
cách Thiền sư thì rất đơn giản : Ngay đó liền nhận, không
nhận thì thôi, không có gì để bàn tiếp. Bung ra một câu
mà thấy thiền khách không nhận được, chư vị liền phủi
sạch. Vì thế, A Nan nói với thầy trò Tam Tạng “Đừng có
rầy rà … thôi ra đây lãnh kinh”.
5.
KINH VÔ TỰ VÀ HỮU TỰ
Khi
nghe hai vị Tổ sư giao kinh vô tự cho thầy trò Tam Tạng, Nhiên
Đăng Phật Tổ cười “Chúng tăng của Đông Độ u mê, coi
sao ra kinh vô tự, thỉnh về làm sao dùng được, uổng công
cho Tam Tạng”. Rồi sai người đi lấy về đổi kinh hữu
tự. Nhưng do tránh thiết bảng của Tôn Hành Giả, Bạch Hùng
làm kinh rơi vãi tứ phía. Lúc đó thầy trò Tam Tạng mới
vỡ lẽ : Kinh mình thỉnh về chỉ toàn giấy trắng không chữ.
Bàn tới bàn lui, 4 thầy trò quyết định trở lại gặp Như
Lai, vạch cho ra thói hư tật xấu của chư vị Tổ sư
.
Không
muốn thí xả mà vẫn muốn nhận được kinh, thì chỉ có
một loại kinh để nhận : Kinh vô tự. Kinh vô tự là chỉ
cho nguồn tâm vốn sẵn trong mỗi chúng sanh. Không tu, không
thí xả, không cần cúng dường gieo duyên, không màng đến
phước báu, nó vẫn hiện diện đầy đủ. Chỉ do vô minh
ngăn che mà không ai sử dụng được cái dụng vô bờ của
nó. Nếu có thể ngay đó trở về, một bước thể nhập,
ngay đó mà sống thì chỉ cần bảo nhậm, không cần phước
nghiệp gieo duyên, tất cả vẫn tròn đầy. (Đã nói trong Truyền
Tâm Pháp Yếu của thiền sư Hoàng Bá). Chư vị Tổ sư, nếu
gặp được những vị thiền khách có căn cơ bậc thượng
này, cũng không khuyên họ cúng dường, bố thí, nhẫn nhục
… như Tuệ Trung Thượng Sĩ nói với Trúc Lâm đại đầu
đà : “Giữ giới cùng nhẫn nhục, chiêu tội chẳng chiêu
phước”. Có điều, loại kinh đó khó mà truyền thừa rộng
rãi cho kẻ đời sau, nhất là vào thời mạt pháp, là thời
mà người tu thích văn từ chữ nghĩa hơn giới luật tu hành,
thích học vị hơn tu chứng, kinh vô tự khó mà vào được,
nên A Nan kết luận “Giỏi! Giỏi! Giỏi! … thì con cháu đời
sau chết đói”. Đó là lý do vì sao, không đưa phẩm vật
ra, mấy thầy trò vẫn nhận được kinh mà chỉ là kinh vô
tựï.
Nếu
không phải là hàng căn khí có thể sử dụng được kinh vô
tự của mình, thì phải theo lối mòn muôn thuở mà đi, là
phải có tâm thí xả mới có thể nhận pháp tu hành. Xưa,
đức Phật từng phải thí xả cả thân xác cho quỉ dữ chỉ
để nhận một bài kệ bốn câu. Muốn thỉnh kinh học đạo,
bước đầu của người tu là phải gieo duyên với Tam bảo.
Thứ dễ nhất là cúng dường tài vật. Bởi không đủ duyên
không nhận được pháp. Đương nhiên vật phẩm cúng dường
không hẳn chỉ nằm trên mặt tài vật. Nó là những gì thuộc
về phước hạnh. Ví thế, trên LÝ thì “Duy tuệ thị nghiệp”
mà trên SỰ thì “Phước huệ song tu”.
Nói
về mặt công đức, thỉnh kinh mà không biết thí xả tài
vật thân tâm, nói chung là không biết thí xả ngã và ngã
sở, thì công đức phước báu khó có. Vì phước báu không
nằm trong giấy trắng mực đen, cũng không nằm trong việc
thỉnh kinh, mà nó còn liên quan đến nhiều việc khác. Thỉnh
kinh mà không làm theo những gì kinh dạy thì giá trị nhận
được không có bao nhiêu. Thí xả công sức tài vật mới
được phước báu phú quí. Thí xả thân tâm đến chỗ rốt
ráo, mới nhận ra cái chân thường hằng lạc, hằng tịnh.
Kẻ đi trước có biết thí xả thân tâm tu hành, thì việc
truyền trao mới có giá trị. Không thì như kẻ mù dẫn người
mù, con cháu đời sau không thể khá.
Chính
vì thế, khi nghe Tôn hành giả bẩm tấu A Nan và Ca Diếp đòi
của đút lót, Như Lai chỉ cười “Thôi đừng ta thán, ta
đã biết rồi. Chỉ vì kinh này không thể khinh truyền, cũng
không thể tay không mà có được kinh. Lúc trước, chúng tăng
ở đây, có mang kinh xuống tụng cầu siêu cho gia đình Triệu
trưởng giả … Triệu trưởng giả chỉ trả công cho ba đấu
gạo trắng thêm chút vàng bạc. Ta vẫn nói trưởng giả bỏn
xẻn, con cháu sau này ắt phải nghèo. Nay ngươi đến tay không,
thỉnh được bản giấy trắng, đó là chân kinh vô tự rất
quí. Chỉ vì chúng sanh Đông độ các ngươi ngu mê không ngộ,
chỉ có thể dùng kinh hữu tự mà truyền, nên mới như thế”.
Cái chỗ về tay không mà Như Lai nói quí đó, là chỗ thiền
sư Nguyên Liễn hỏi Thủ Sơn Tỉnh Niệm ở Hà Nam “Học
nhân đến núi báu, tay không trở về thì sao?” Thủ Sơn đáp
“Hãy nhận kho báu nhà mình”. Ngay đó Nguyên Liễn đại
ngộ và nói “Không còn nghi lời các thiền sư”. Nếu ngay
đó nhận được, thì không có gì quí hơn. Nhưng lúc này hai
thầy trò Tam Tạng đang thị hiện cho tầng lớp chúng sanh
còn chấp vào tướng bên ngoài, không nhận được lý tâm
tông mà Tổ Phật muốn chỉ bày, nên kinh vô tự trở thành
vô dụng, chư vị Tổ sư mới thành những kẻ tệ ác phỉnh
lừa, cảnh giới Phật mới thành lục đạo, yêu ma.
Kinh
hữu tự, đương nhiên không bằng được kinh vô tự, dù cả
hai đều là chân kinh. Do ứng với cái duyên là chúng sanh ngu
mê ở Đông Độ mà kinh vô tự biến thành hữu tư,ï là loại
kinh mình đang đọc tụng hay học hành ngày nay. Thứ gì ứng
duyên mà hiện, thứ đó không mang tính chân lý phổ quát.
Vì thế, sau khi bị nhận chìm trong biển trầm luân của chúng
sanh, kinh nào cũng bị mất mấy chương sau. Nghĩa là, thứ
gì còn thuộc ngôn từ chữ nghĩa, thứ đó còn thiếu chưa
đủ. Chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng. Nhờ ngón tay để thấy
mặt trăng, ngón tay không phải là mặt trăng. Tuy kinh luận
chưa phải chính là những gì Như Lai muốn mọi người hướng
đến, nhưng phải nhờ đến kinh luận, mình mới biết đường
tu hành mà nhận cho được những gì Như Lai muốn nói. Vì
thế tuy kinh hữu tự không có giá trị bằng kinh vô tự, nhưng
nó là thứ cần thiết cho chúng sanh thời mạt pháp. Cần thiết,
không có nghĩa là rốt ráo. Chỉ là phương tiện, như thuyền
đò đưa mình đến bờ kia. Cho nên, với một hành giả tu
Phật, là tu để đạt được trí tuệ và đức tướng của
Như Lai, mà công phu chỉ dừng ở mặt giới luật hay những
tri thức có được từ kinh điển, thì chưa đủ. Chủ yếu
vẫn là nhận ra bản tâm thanh tịnh của chính mình và sống
được với nó. Đó là ý nghĩa vì sao sau khi rơi xuống biển,
kinh nào cũng mất hết mấy chương sau. Mấy chương đó chính
là bờ kia, là thứ mà luận Trung Quán đã nói “Tự
biết không do ai, tịch diệt không hí luận, không khác không
phân biệt, ấy gọi là thực tướng”
6.
TÂM THAM ÁI CHẤP THỦ
Thiền
sư Kim Bát Phong sau khi chứng ngộ, có thể buông hết mọi
duyên tham ái, nhưng riêng một cái bát ngọc dùng cơm là rất
yêu thích. Một lần, do tuổi thọ đã hết nên Diêm Vương
sai mấy tên tiểu quỉ đến bắt Sư. Kim Bích Phong biết trước,
nhập định giỡn đùa. Lũ tiểu quỉ không cách gì bắt được,
mới hỏi kế Thổ địa. Thổ địa nói “Ông ta rất
thích cái bát ngọc, nếu đụng đến nó, chắc ông ta xuất
định”. Quả thật, nghe tiếng bát ngọc khua, Sư nóng tâm
xuất định. Lúc đó mới biết, tham ái nhất thời có thể
thiêu hủy huệ mạng của người tu, nên Sư đập nát bát
ngọc, để lại một bài kệ rồi nhập niết bàn. Tu đến
cỡ có thể tự tại với sanh tử như thế, mà còn dính mắc
vào một cái bát ngọc, huống là kẻ còn đang chập chững
trên đường. Mới thấy tâm chấp thủ vi tế khó mà lường
hết.
Tam
Tạng, khi bị tôn giả A nan đòi nhân sự cúng dường, không
phải không có phẩm vật để cúng. Vẫn còn cái bình bát
vua Đường ban tặng. Nhưng không hiểu vì không nhớ hay vì
không muốn đưa ra mà nói ‘không có phẩm vật’. Người
tu, có khi dám bỏ hết cuộc đời, chịu đủ thứ đắng cay
để hoàn thành công hạnh của mình, nhưng rồi lại chấp
vào những công hạnh đó mà không đến được bờ kia : Chìm
mê trên đỉnh cao của những hình tướng bên ngoài, mà quên
mất hình tướng bên ngoài dù rực rỡ phát triển bao nhiêu,
cũng chỉ là phương tiện, chưa phải chính là chỉ yếu mà
Như Lai muốn ta đạt đến. Bát ngọc là một vật rất thô,
nhưng một người như Kim Bát Phong vẫn có thể dính mắc,
huống là những thứ mang đầy tính Phật pháp như thỉnh kinh,
dịch thuật, chùa chiền, học vị v.v…? Không thể không nhắc
nhở sao?
Tất
cả chỉ là PHƯƠNG TIỆN giúp mình và người đến được
bờ kia. Pháp, nếu được sử dụng đúng với bản chất của
nó, thì pháp pháp đều chân. Nhưng một khi nó được dựng
lập, hãnh diện hay tôn xưng quá mức cần thiết, đến nỗi
chỉ còn lều bều hình thức bên ngoài mà thực chất thì
bị bỏ mặt, là mình đang đi lệch với những gì Như Lai
đã nói. Cho nên, những hình ảnh mang tính phỉ báng trong Tây
Du Ký, chính là lời nhắc nhỡ rất giá trị cho những ai tu
Phật. Những hành giả mang trong mình lời nguyện “Thượng
cầu Phật đạo. Hạ hóa chúng sanh … Đệ tử và chúng sanh,
đều trọn thành Phật đạo”. Lời nguyện như một lời
hứa, không chỉ với mình mà cho tất cả các chúng sanh hữu
duyên với mình. Hình ảnh thầy trò Tam Tạng, do tập trung
hết tinh lực cho việc thỉnh kinh, đã quên mất lời hứa
với lão rùa già, một chúng sinh thấp kém, từng giúp ngài
phương tiện đến được bờ kia, không phải là lời răn
nhắc rất giá trị cho những hành giả tu Phật đó sao? Đáng
để nghiền ngẫm lắm chứ!
5
PHÁP
khiến chánh
pháp không diệt
Mục
đích chung của tôn giáo là dạy con người có cách sống sao
cho phù hợp với chân lý để mọi người có được cuộc
sống hạnh phúc. Song không phải tôn giáo nào cũng thực hiện
đúng với mục đích đó. Hiện thực, ta thấy tôn chỉ giáo
lý của mỗi nơi mỗi khác, khác cả trong từng tông phái của
một tôn giáo, thấy tôn giáo cứ như biệt lập với xã hội.
Thậm chí có tôn giáo chỉ thấy mang lại sự mê tín chết
chóc hơn là làm lợi ích cho ai. Cái sai khác đó, một phần
là do nhu cầu tâm linh của nhân loại khác nhau, một phần
bắt nguồn từ việc vận dụng giáo pháp của con người vào
đời sống của mình. Nó lệ thuộc vào trình độ nhận thức
của từng giáo phái, từng thành phần đẳng cấp và cuối
cùng là mục đích của chính người đang sử dụng nó.
Để
thực hiện đúng vai trò là mang lại lợi ích thiết thực
cho đời sống nhân loại, nhất là vào thời mạt pháp, với
đạo Phật, CHÁNH GIÁO phải trường tồn. Luật Thập Tụng
nêu ra 5 pháp khiến chánh giáo được trường tồn :
1.
Tôn trọng chánh giáo : Các Tỳ-kheo chỉ y theo chánh giáo tiến
tu. Lìa xa thuyết Tiểu thừa và các ngoại đạo tà lệch.
Đây chỉ đề cập đến Tỳ-kheo, vì Tỳ-kheo là bộ mặt
đại diện cho Phật giáo, nhưng thật ra là cho tất cả những
ai theo đạo Phật, không kể tại gia hay xuất gia, nam hay nữ,
già hay trẻ ... Tất cả đều có phần.
CHÁNH
GIÁO nói đây là chỉ cho phần giáo pháp thuộc Nhân, Thiên,
Nhị thừa, Đại thừa và Nhất thừa. Với hàng Tỳ-kheo, phải
là phần giáo pháp từ Nhị thừa trở lên. Vì trong cái duyên
là Tỳ-kheo, không thể lấy Nhân Thiên thừa làm chỗ đến.
Vì
sao muốn chánh giáo tồn tại ta phải tôn trọng nó? Tôn trọng
nói đây, không chỉ nằm ở mặt cảm niệm, mà còn THỰC
HÀNH chánh giáo Như Lai đã nói. Nhờ đó chánh giáo mới tồn
tại. Song muốn tôn trọng chánh giáo thì đầu tiên phải biết
phân biệt cái gì chánh, cái gì tà. Tiêu chuẩn phân biệt
rất dễ : Giáo lý hay tông phái nào dạy ta trừ bỏ tham sân
si, giáo lý đó thuộc chánh giáo. Thành chỗ nào khuyên mình
tiêu trừ tham sân si, thì dù không thích mình cũng biết chỗ
đó là chánh giáo.
Tuy
nói lìa xa Tiểu thừa nhưng không phải là tẩy chay kinh pháp
Tiểu thừa. Trên mặt GIÁO LÝ, giáo lý Tiểu thừa là căn
bản của Phật giáo. Đại và Nhất thừa, là phần giáo triển
khai sâu phần căn bản đó. Nó chỉ ra tánh thực của vạn
pháp cũng như của các thừa. Trên mặt CÔNG PHU TU HÀNH, dù
Tiểu hay Đại, chủ yếu đều dạy người tu đối duyên xúc
cảnh, không để 6 căn dính mắc 6 trần. Tùy mức độ mà
có thô tế khác nhau.
Xa
lìa Tiểu thừa nói đây, là muốn người tu không nên dừng
trụ giữa đường (hóa thành) mà phải tiếp tục trở về
cội nguồn chân thật của chính mình (bảo sở). Xà lìa Tiểu
thừa, là muốn người tu đừng chỉ vì lợi ích của riêng
mình mà quên mất hạnh nguyện độ sanh lợi ích cho muôn người.
Với tinh thần Đại thừa, không phải chỉ có lợi mình mà
còn phải lợi người. Lợi người là để việc lợi mình
thêm hoàn thiện. Chánh pháp nhờ đó mới có cơ lưu truyền
rộng rãi dài lâu. Cho nên, ngay với pháp môn Niệm Phật, Tổ
thứ 13 của tông Tịnh Độ là ngài Ấn Quang, cũng khuyên người
niệm Phật không được từ bỏ hạnh nguyện độ sanh.
Nói
đến chánh giáo, dù ngàn kinh muôn luận, giáo môn hay tông
phái có nghịch nhau, thì tất cả đều qui về một mối :
Giúp người đời nhận ra lý chân của vạn pháp. Tùy sâu
cạn mà lý chân này có cạn sâu.
Trên
mặt TU HÀNH, tất cả đều tập trung vào việc từ bỏ tham,
sân, si. Các bạn đừng nghĩ đến với thiền, không còn trừ
tham sân si. Tu cỡ nào, kiểu gì cũng phải trừ bỏ tham sân
si. Tùy theo duyên hiện đời, là xuất gia hay tại gia, là tu
giải hoát hay chỉ ngừng ngang mặt phước báu Nhân Thiên,
mà việc trừ bỏ có cạn hay sâu, ít hay nhiều. Đến với
Phật pháp mà không trừ bỏ tham sân si thì không phải là
Phật tử.
Trừ
bỏ tham sân si, với thiền chính là nhận chân được tánh
thực của tham sân si. Nhận chân được tánh thực của tham
sân si thì tất cả pháp đều là Phật pháp. Thiền ngoại
đạo không dạy ta trừ bỏ tham sân si. Chỉ dạy ta đủ công
phu du sơn ngoạn thủy, chỉ tập trung vào vấn đề ăn uống,
sức khoẻ, đấu tranh v.v… mà bỏ đi việc trừ bỏ tham sân
si.
2.
Dừng sân ác : Các Tỳ-kheo thường hành nhẫn nhục, không
sinh tâm sân nhuế. Công đức vang xa, khiến người người
qui ngưỡng. Nhẫn nhục là hạnh đầu của người tu. Nhẫn,
giúp mình an vui. Nhẫn, khiến mọi thứ hài hòa. Nhẫn, trí
tuệ mới hiển phát. Nhẫn, mới làm được việc lớn v.v…
Nên đắc đạo đợt một, gọi là VÔ SANH NHẪN. Đắc đạo
đợt hai, gọi là VÔ SANH PHÁP NHẪN. Muốn vô sanh kiểu nào
cũng phải có nhẫn. Không nhẫn không thể vô sanh.
Hạnh
này càng quan trọng đối với người tu thiền. Nhẫn với
tiền tài, tình cảm, danh vọng, hơn, thua, được, mất v.v…
Chính là thiền.
Không
nghĩ ác, làm ác là việc phải có của người con Phật, dù
chỉ là một Phật tử tại gia. Làm ác là chỉ cho những hành
tác chỉ khiến người đau khổ mà không mang lại lợi ích
cho người. Muốn không làm ác thì niệm ác vừa dấy,
phải tỉnh mà dừng lại, không nên để nó tiếp diễn hay
thành hành động. Đó là nền tảng để cuộc sống hiện
tại của mình và người được yên vui. Cũng là cái nhân
đưa đến cái quả hạnh phúc dài lâu.
3.
Kính sự thượng tọa : Các Tỳ-kheo đối với bậc Đại đức
ở cư vị Thượng tọa cung kính thuận sự. Siêng cầu pháp
yếu. Đại đức hay Thượng tọa nói đây, chỉ cho chất thực
bên trong của một Tỳ-kheo, không phải chỉ cho danh hiệu có
được do ngày tháng trôi qua. Vì không có chất thực là đạo
đức và trí tuệ bên trong, thì dù với danh hiệu Hòa thượng
chăng nữa, chư vị cũng khó mà đòi hỏi Phật tử học hỏi
hay tôn kính chư vị. Còn Phật tử, dù muốn chăng nữa, biết
học gì ở chư Thượng tọa khi đạo đức và trí tuệ của
chư vị không có? Dù ngoài có muốn cung kính, trong cũng khó
thuận tình.
PHÁP
YẾU là thứ cần thiết để trí tuệ phát triển. Phát triển
trí vô sư là đích đến của người tu Phật, cũng là nền
tảng để việc lợi tha được hoàn mãn. Nên với pháp yếu
phải siêng thưa hỏi tu học.
Thiền
tăng Khắc Khế, trụ nơi pháp hội của Phật Quang 12 năm,
không hề thấy hỏi đạo. Mỗi lần hỏi đến, Khế đều
nói : Con thấy Thầy ngày nào cũng bận, nên không dám làm
phiền.
Ba
năm rồi bốn năm sau … vẫn như thế.
Một
lần, Phật Quang chủ động : Vì sao tham cứu tu hành mà không
đến hỏi ta?
Tăng
Khế vẫn một mực : Con thấy Thầy bận ...
Phật
Quang hét : Bận, bận! Vì ai mà bận? Ta cũng có thể vì ông
mà bận chứ.
Tăng
Khế liền tỉnh.
Có
nghiên cứu, có công phu thì mới thấy có nhiều thứ khó khăn
để hỏi. Không có gì thắc mắc vì ngày tháng cứ để trôi
xuôi. Thành đừng sợ tham vấn Thiện tri thức là làm phiền
chư vị. Ai cũng sẵn sàng vì mình mà bận. Có điều, hỏi
hoài mà không chịu tu, hỏi toàn chuyện linh tinh, hỏi cái
không thể trả lời, trả lời chỉ thêm kiến giải cho mình
thì chư vị không trả lời, đành “Cắt đứt sắn bìm”.
Không phải các ngài thiếu trí tuệ hay không muốn mình thưa
hỏi pháp yếu.
4.
Ưa thích chánh pháp : Các Tỳ-kheo ở nơi chỗ Thượng tọa
nghe thuyết Diệu pháp, sanh tâm ưa thích sâu xa, hoan hỉ phụng
hành. Diệu pháp là pháp chỉ cho mình thấy được lý chân
của cuộc đời như Tứ đế, Thập nhị duyên sanh v.v… Sâu
hơn, nó chính là TRÍ TUỆ và LÒNG TỪ sẵn có trong mỗi chúng
ta. Chỉ vì vô minh mà bị khuất lấp. Nghe Diệu pháp, giúp
ta nhớ lại được cội nguồn chân thật đó. Nó giúp ta có
cái nhìn đúng đắn với thân tâm thế giới quanh mình. Nó
cũng là thứ giúp mình có niềm tin với việc tu hành. Tu hành,
giúp mình nhận ra phần Diệu pháp sẵn đủ trong mình. Niềm
tin càng được củng cố. Vì thế, ngoài việc sinh tâm ưa
thích còn phải hoan hỉ phụng hành. Có hoan hỉ phụng hành
mới sinh tâm ưa thích bền lâu. Những tệ nạn đáng tiếc
xảy ra trong giáo đoàn của Phật từ xưa đến nay, chỉ vì
không ưa thích Diệu pháp mà ưa thích các thứ khác. Cho nên,
ưa thích Diệu pháp là một trong 5 thứ khiến chánh pháp được
trường tồn trong thời mạt pháp.
5.
Khéo dạy bảo các người mới học : Các Tỳ-kheo, đối với
pháp Đại thừa, phương tiện diễn thuyết khiến kẻ sơ tâm
học tập có chỗ y chỉ tiến tu vào đạo. Đây, chỉ nói
dạy pháp Đại thừa mà không nói các pháp khác, vì “Đại
thừa xuất sanh tất cả Thanh văn, Độc giác, cùng các thiện
pháp của thế và xuất thế gian”. [11] Tiến là nói Đại
thừa mà thật là đủ tất cả. Đủ tất cả nhưng không
ngoài hai thứ tự lợi và lợi tha. Thiếu một thì không phải
Đại thừa.
PHƯƠNG
TIỆN, là tùy theo tánh dục căn cơ của người mới học mà
có pháp cho họ, để họ có thể tăng tiến tự lợi và lợi
tha. Vì dù là diễn nói đúng pháp Nhất thừa chăng nữa, mà
quá căn cơ tánh dục của người, thì như nước đổ đầu
vịt, không chút lợi ích. Vì thế phải khéo phương tiện,
tùy nghi lập pháp. Song LẬP PHÁP thế nào cũng không được
ra ngoài LÝ CHÂN. Cái không lìa lý đó, là điều kiện tiên
quyết để pháp phương tiện của ta không rơi vào ngoại đạo
tà giáo. Có vậy, phương tiện đó mới thật có lợi ích.
Như
đến với đạo Phật, không chỉ có học mà còn phải có
giới luật và tu hành. Vì Diệu pháp của Như Lai tuy là thứ
sẵn đủ trong mỗi chúng sanh, nhưng do vô minh mà nó ẩn mất.
Giờ muốn nó hiển thì phải thiền định lắng tâm. Song do
căn cơ người tu chỉ ngang tới mức giữ giới và học kinh
luận, chưa thể trừ vọng trong tâm, nên việc thiền định
lắng tâm tạm gác lại. Trên LÝ thì phải đủ ba thứ giữ
giới, học và tu ngay tâm. Nhưng trên SỰ, do căn cơ người
đời mà phương tiện chỉ còn hai là giữ giới và học hỏi.
Không phải vì cái học là chỗ tối cùng, rồi lấy đó làm
kế sinh nhai, mà bỏ luôn phần thiền dịnh lắng tâm. Khéo
dạy và khéo biết như thế, gọi là khéo phương tiện. Nói
“khéo”, vì khế cơ mà không lìa lý.
Là
Phật tử chân chính của Như Lai, chúng ta không thể không
quan tâm và thực hành năm pháp trên. Đó là pháp cúng dường
lớn nhất trong các pháp cúng dường.
Đậu
Hũ tâm sự
Ngày
Đậu Hũ mới tới chùa. Thầy đưa Đậu Hũ lên Chân Nguyên.
Núi đá cheo leo, hoa vàng nở rực bốn phía. Gió mát, Đậu
Hũ ngồi võng đong đưa “Rằng xưa, có gã từ quan, lên non
tìm động hoa vàng … nhớ nhau!”. Thầy bước ra, tướng
như … Bodhi-dharma. Giống nhất là hai con mắt, chỉ còn thiếu
mỗi bộ râu. Đậu Hũ sực tỉnh. Lên tới chỗ ni mà còn
nhớ nhau, về nhà sao nhớ nổi Phật? Quên!
Trưa
dùng cơm, thầy trò tăng tục hạ thổ bình đẳng. Đậu Hũ
không quen, ngần ngừ. Tăng nói :
- Mắc
cỡ thì cứ ra ngoài ngồi chờ ...
Đậu
Hũ đâu dễ bắt nạt, nhọn mỏ :
- Nếu
vì mắc cỡ … không ra.
Thầy
nghe tăng tục qua lại, chỉ cười.
May
mà kịp tỉnh. Sĩ diện một chút đói rồi. Bắp cải, lũ
khỉ trên núi đã xuống bưng đi. Lão bà nấu ăn gõ gõ đũa
bếp, chống trời “Cái bắp cải nớ tao nấu thầy ăn. Tụi
bây có đem bắp cải xuống trả hay không thì nói. Tao cho nhịn
hết …”. Vậy mà lũ khỉ mang cái bắp cải xuống trả,
giờ mới có ăn.
Đậu
Hũ không đi đâu nữa. Lên núi, cũng không còn mững hoa vàng
nhớ nhau. Cũ mèm, nhớ chi! Con cháu nhà thiền, có gì mơ mộng?
Viển vông chi cho ngày tháng khắc sâu. Không được như các
thiền sư “Chuyện hôm nay chỉ biết hôm nay. Xuân thu ngày
trước ai hay làm gì”, thì cũng chút chút gì đó tương tợ,
cho xứng cái danh nhà thiền :
Chuyện
hôm ni chỉ biết hôm ni
Xuân
thu trước nớ nhớ chi cực mình
Hy
vọng một chút hiện tiền, ngàn năm chỉ là nhất niệm. Thôi
nhớ thôi thương cho đời bớt cực. Thương thương nhớ nhớ
vất vã vô ngần. Nhớ không? Đã dặn không nhớ, sao còn nhớ
không?
Đậu
Hũ khi nào cũng lo. Lo trong rồi tới lo ngoài. Tập lâu thành
tánh lúc nào không hay. Lo con, lo cái … đủ mọi thứ lo. Chuyện
chưa thấy tới cũng lo. Lo nứt con mắt. Lo cháy bao tử …
Rốt cuộc nghiệm ra một điều : Có thứ đáng ra không tới,
chỉ nhờ mình lo, nó mới tới mau. Thứ gì đã tới, có lo
nó vẫn cứ tới. Chuyện chi phải lo cho cực? Lo quá, nó chưa
thấy tới mình đã phát bệnh. Bệnh rồi, việc tới, muốn
lo lo cũng không xong. Không xong thì lại càng lo. Càng lo, càng
bệnh. Trong lúc thập tử nhất sinh, mới thấy mình … ngu!
Những chuyện ruồi bu cũng làm.
Ngộ
rồi, hết bệnh. Mới thấy cái vòng luẩn quẩn nó trói buộc
mình. Cái này ló ra, cái kia liền theo. Cái kia đã theo, cái
nọ liền hiện. VÔ MINH duyên HÀNH, HÀNH duyên THỨC … Chúng
nắm tay nhau, duyên khởi trùng trùng, chỉ mình là thiệt. SANH,
LÃO, BỆNH, TỬ cứ thế nối đuôi. May là kiếp này chưa đến
chữ TỬ đã kịp nhận ra : Lo là vô bổ. Cứ ngay hiện tại
mà sống. Có đức mặc sức mà ăn, lo gì? Đáng lo là phước
không đủ, đức không chăm. Chỉ lo đè bẹp thiên hạ từ
tình đến tiền … Cái đó đáng lo! Cái quả mà tới
không sao lo xuể.
Đậu
Hũ, nhiều chuyện ngẫm ra rất buồn. Thứ mình không làm,
người nói mình làm. Thứ mình không nghĩ, người nói mình
nghĩ. Buồn này nối tiếp buồn kia. Vang vọng! Nhưng ngẫm
cho cùng, đâu phải tại ai … Cây đâu tự lên khi không
có mầm. Hoa đâu tự rụng khi chưa đủ duyên.
Những
ngày lang thang phố chợ, mẹ chồng không phải người khó,
tánh tình hiền lương, nhưng cứ quả quyết “Chuyện đó
nó làm”. Đậu Hũ có bao giờ làm? Nghĩ còn không nghĩ, có
đâu mà làm. Nhưng bà vẫn quyết nó làm vậy đó! Đậu Hũ
suy nghĩ : Mẹ chồng hiền lương không hề nói bậy, nhưng
sao vậy hè? Sao mà nên nỗi lạ lùng? Oan khiên chi lắm! Ngẫm
tới ngẫm lui riết thành công án. Một hôm nổ tung, buồn
tản như mây.
Cái
NGHIỆP QUÁ KHỨ của mình DUYÊN với cái TƯỞNG hiện tại
của người, nó ra vậy đó! Cái NGHIỆP của mình, là do quá
khứ mình lỡ gieo nhân không tốt. Giờ nó ra hoa, quả tụ
hiện hình mình phải hứng thôi. Cái TƯỞNG của người, là
nhìn sự vật con người theo những định kiến của người.
Như thấy mèo có 4 chân, hình thành trong đầu cái nghĩ 4 chân
là mèo. Thế là cứ lấy chuẩn đó mà hướng ra ngoài định
liệu. Khổ nỗi mèo có 4 chân thì đúng. Nhưng đủ 4 chân
chưa chắc là mèo. Còn nhiều thứ khác như lông, như đuôi
… rất là nhiều thứ hội tụ mới ra thành mèo. Đâu phải
chỉ mỗi một duyên 4 chân, đã nói là mèo. Có điều đa số
mình đây rất hay như vậy. Cứ thấy vài tướng giống nhau,
liền cho nó là vậy đó. Nhưng nào có phải. Có khi chỉ là
cái TƯỞNG của mình. Bị TƯỞNG chi phối vì hay vướng tướng
bên ngoài, không nhìn thấy được bản chất bên trong. Thành
Tổ vẫn khuyên “Phản quan tự kỷ bổn phận sự”.
Vì
là cái nghiệp của mình, thôi thì giải nghiệp cho xong. Không
hướng ra ngoài phê tới phê lui, giữ gìn mồm miệng cho kỹ.
Tâm mình, mình liệu. Khởi niệm liền biết. Biết rồi quay
vô đừng hướng ra ngoài khởi tiếp. Nghiệp rồi cũng tiêu.
Tưởng rồi cũng hết. Nhà thiền hay nói “Tùy duyên tiêu
nghiệp cũ. Hồn nhiên mặc áo xiêm”. Nghiệp tới thì gắn
bình thản cho yên. Bạch Ẩn làm rất chí tình, không cần
biện minh. Ngày ngày vác bình xin sữa nuôi trẻ cho nghiệp
tiêu đi.
Bởi
do cái tưởng của người, nên rồi mọi thứ như vật soi
dưới mặt trời, không cần biện minh. Tất cả đều tỏ.
Thầy vẫn là thầy. Trò vẫn là trò. Có gì khác xưa? Cổ
nhân làm được, đâu lý hậu sinh không làm? Bắt chước thử
coi !
Nói
dễ, làm không phải dễ. Làm được, nhẹ gánh buồn lo. Cuộc
đời tươi sáng ...
Đậu
Hũ thấy sao?
Còn
thấy gì nữa …
Thôi
thì thôi, để mặc mây trôi
Ôm
trăng đánh giấc bên đồi dạ lan …
Bận
lòng chi với những được mất thế gian. Đậu Hũ không còn
thấy buồn. Mẹ chồng có thương, nhà chồng không ghét thì
tốt. Không thương mà ghét, Đậu Hũ cũng đâu mất gì. Đậu
Hũ vẫn là Đậu Hũ. Trăng đó bên đồi dạ lan. Lục Tổ
vẫn nói “Thuơng ghét chẳng bận lòng, duỗi thẳng hai chân
ngủ”. Chỉ vì cứ muốn được thương, mà sầu với khổ.
Thoát thương thoát ghét, tới lui nhẹ nhàng. Việc mình mình
làm, cho tròn cái đạo làm người, cho thành cái nghĩa dâu
con. Coi như một chút tư lương trói gỡ kiếp tằm …
Thôi
thì thôi, chỉ là phù vân
Thôi
thì thôi nhé, chỉ ngần ấy thôi … [12]
TP
HCM ngày 30.11.2007
Chân
Hiền Tâm
CHÚ
THÍCH
[1]
Phần CHUYỂN PHÁP LUÂN (được in nghiêng) là lời của ngài
Hiền Thủ, Tổ thứ 3 tông Hoa Nghiêm.
[2]
Lời của ngài Hiền Thủ, Tổ thứ ba tông Hoa Nghiêm.
[3]
Ngài Tiêu Diệm, tức ông ác được thờ trong các chùa, là
hiện thân của đức Quán Thế Âm, giáo hóa cõi ngạ quỉ.
[4]
Một vị Hòa thượng lập đàn tràng bố thí cho người nghèo.
Một phụ nữ đói rách, bụng mang dạ chửa cùng hai con nhỏ
và một con chó mang một mớ tóc đến cúng dường, rồi xin
thức ăn. Vị chủ đàn cho ba phần. Bà lại xin thêm phần
con chó. Cho con chó rồi, bà lại xin thêm phần cho đứa trẻ
trong bụng. Tới đây thì vị chủ đàn mất kiên nhẫn, quát
to. Bà liền biến thành Bồ tát Văn Thù ngồi sư tử, cưỡi
mây ngũ sắc bay đi.
[5]
Pháp trần : Chỉ cho tư tưởng, suy nghĩ v.v… trong tâm thức.
[6]
Trích Câu Chuyện Triết Học. Will Durant. Bản dịch của Trí
Hải và Bửu Ðích.
[7]
Hoa Nghiêm Thám Huyền Ký - Tổ Hiền Thủ.
[8]
Lăng Già Tâm Ấn – Thiền sư Hàm Thị trực giải.
[9]
Nham Ðầu nói “Về sau, nếu muốn xiển dương Ðại giáo,
mỗi mỗi đều phải từ hông ngực mình lưu xuất. Sau này
cùng ta che trời che đất mà đi”.
[10]
Phần in nghiêng này, được trích dịch từ Tây Du Ký. Có chỗ
là tóm lược quá trình thỉnh kinh. Lời của các nhân vật
đều được trích dịch từ bản chữ Hán.
[11]
Kinh Thắng Man Phu Nhân Hội.
[12]Thơ
của Phạm Thiên Thư
DANH
SÁCH ẤN TỐNG
-
Trương Kim Cương
-
Một Đạo hữu đạo tràng Thái Tuệ
-
Tuệ Quang Định
-
Hồng Nhẫn
-
Từ Viên
-
Từ An
-
Từ Mãn Nguyện
-
Chân Hiền Tâm