3 Chuyến
Hành Hương Đến Maratika
Năm
1984, Norbu Rinpoche đi hành hương từ bắc Nepal đến tu viện
Tolu, và đến động Maratika(1) nơi đại Thành Tựu giả(2)
Padmasambhava(3) đã nhập thất với phối ngẫu của ngài là
Mandarava.(4) Sau đây là một tường thuật một loạt những
giấc mộng đáng chú ý Rinpoche có trên hành trình, bắt đầu
với một giấc mộng đã có hai ngày sau khi đến tu viện.
Địa
điểm của giấc mộng chính là Tu Viện Tolu. Nếu bạn mộng
thấy một nơi chốn hay một sự vật bạn đã từng ở trong
quá khứ, điều này thường phản ảnh một sự lập lại
dấu vết nghiệp ; nếu bạn mộng thấy một nơi chốn hay
hoàn cảnh bạn chưa từng ở, điều này phản ảnh một ước
ao hay mong muốn. Ngược lại, nếu bạn mộng thấy nơi chốn
bạn đang ở, điều này thường có ý nghĩa. Như thế tôi
hiểu đây là một giấc mộng quan trọng.
Trong
giấc mộng tôi ở động Tolu, và thậm chí có cả người
đã đi cùng tôi cũng ở đó. Tôi đang dạy học trò, thì chú
tôi tới. Tôi phải nói rằng người đến với chúng tôi không
chỉ là chú của tôi, ông còn là một vị thầy chính của
tôi, và là một hành giả phi thường và một terton.(5)
Tôi
sẽ kể cho các bạn nghe một câu chuyện ngắn nói lên phẩm
tính đáng ghi nhận của cuộc đời chú tôi. Khi tôi còn nhỏ,
tôi sống gần một tu viện. Tôi còn nhớ có lần một con
ngựa còn nhỏ bị chết. Đàn kên kên ăn con ngựa, nhưng ăn
xong, một con kên kên ở lại. Chú tôi yêu cầu hai nhà sư
đi đem con kên kên ấy về.
Khi
trở về tu viện với con kên kên, hai nhà sư nói rằng con
chim đã bị thương. Có một mảnh sắt nơi vai nó. Một nhà
sư thử lấy nó ra, nhưng con kên kên vùng vẫy và chú tôi
bảo ông ngừng tay và thả nó trong một khoảng vườn kín.
Tôi nhớ mình đã thấy lạ lùng làm sao khi con kên kên yên
lặng và thụ động như vậy. Thật vậy, toàn thể tình huống
càng lúc càng trở nên lạ thường.
Hôm
sau chú tôi bảo tôi cho kên kên một ít sữa. Khi tôi đến
khu vườn hình bán nguyệt, với một sàn gỗ và nắp đậy
trên, con kên kên ngồi im bất động. Tôi đặt sữa trước
mặt nó. Hơi cử động cái đầu nó bắt đầu uống. Nó uống
hết sữa tôi đưa, và khi uống xong nó bắt đầu chạy, và
vỗ cánh nhè nhẹ. Vườn rộng nên nó có thể chạy một khoảng
dài. Nó chạy đến gần cuối vườn, và rồi trên nửa đường
trở lại, nó dừng lại và mảnh kim loại, một que sắt, rớt
ra từ cánh nó. Ngay khi mảnh sắt rớt ra, con kên kên bay lên,
ngắm hướng Đông nơi có núi lớn là Sitang. Tu viện Dzogchen(6)
nổi tiếng ở sau núi đó. Đó cũng là ngọn núi chú tôi thường
sống trong một cái hang.
Chúng
tôi xem mảnh sắt rớt ra từ cánh kên kên. Nó khá dài. Khúc
đầu cắm trong cánh có hình tam giác. Tôi còn nhớ âm thanh
trong khi mảnh kim loại rớt ra từ đôi cánh. Câu chuyện này
chỉ là một trong những chuyện lạ thường xảy ra quanh chú
tôi.
Thế
rồi, vào dịp ấy khi ở Tolu, chú tôi hiện ra trong giấc mộng
của tôi. Trong giấc mộng ông khoảng mười bốn mười lăm
tuổi. Ông nói với tôi rằng ông rất bằng lòng tôi đã cho
một bài thuyết pháp đẹp đẽ, có ích cho bất kỳ ai. Tôi
hỏi ông có thật sự nghe không. Ông trả lời ông đã nghe
từng lời. Trong giấc mộng tôi đã dạy Thik Sum Nedek,(7) ba
tuyên bố cuối cùng nổi tiếng của Garab Dorie.(8) Rồi chú
tôi yêu cầu tôi giải thích gomter(9) của tôi về Namkha.(10)
Tôi trả lời cho ông rằng giấc mộng của tôi về Namkha không
phải là một gomter.
Hãy
cho tôi giải thích điều tôi đang nói. Một vài năm trước,
tôi ở thành phố New York. Tôi có một khóa thảo luận với
sinh viên về chức năng của những nguyên tố và năng lực,
cũng như về lịch sử Tây Tạng. Ở khóa này tôi giải nghĩa
những nguyên tố và tác dụng của chúng theo truyền thống
cổ của đạo Bon.(11) Đêm ấy tôi có một giấc mộng, trong
đó có một cậu nhỏ mặc đồ màu xanh. Tôi hỏi cậu là
ai, và cậu trả lời cậu tên là Puel. Puel là một vị thần
nổi tiếng của đạo Bon, đặc biệt được biết về khả
năng dự đoán theo chiêm tinh.
Tôi
nói, “Nếu ông thực là Puel, hãy giải thích cho tôi về chức
năng của những nguyên tố, và làm sao người ta có thể điều
hòa chúng khi có những rối loạn.” Cậu trai bé nhỏ này
mới giải thích những loại chức năng khác biệt của những
nguyên tố, liên hệ với thân thể, đời sống, may mắn, khả
năng v.v... Qua đó tôi khám phá nguyên lý chính xác của Namkha,
phương pháp điều hòa những nguyên tố của một con người.
Tôi
nói với chú tôi rằng giấc mộng này về Puel không phải
là một gomter, nó chỉ là một giấc mộng, nhưng ông nhất
định rằng nó là một gomter cho nên ông muốn có một sự
trao truyền. Vì chú là thầy của tôi, tôi không cảm thấy
thoải mái với lời yêu cầu của ông, nhưng ông cố nài nên
cuối cùng tôi đọc cho ông cuốn sách, và như thế trao truyền
cho. Sau khi xong, ông nói rằng Namkha sẽ là một thực hành
quan trọng trong tương lai. Ông cũng nói rằng tôi phải thực
hành và dạy về “thực hành năm bóng tối”. Tôi hỏi thực
hành năm bóng tối là gì. Ông nói rằng sẽ có vài chỉ dẫn
về sau này. Đó là một trong những giấc mộng của tôi.
Suốt
những ngày chúng tôi ở Tu Viện Tolu, tôi có liên tục những
giấc mộng cực kỳ quan trọng, và chúng tôi đến gần ngày
hai mươi lăm, ngày có ý nghĩa về mặt chiêm tinh.(12) Tôi hơi
khó ngủ. Với quan tâm điều gì xảy ra giờ đây, tôi đi
ngủ, nhưng không thể ngủ chút nào. Cuối cùng, khi tôi ngủ,
tôi thấy mình trong một loại giấc mộng, trong đó tôi đang
nói với ai đó. Tôi thực sự không biết tôi đang nói với
người nào khác, hay đang nói chuyện với chính mình.
Tiếng
nói bảo tôi thư giãn, trước hết hơi thở, và rồi thân
thể, cho đến khi tôi thấy mình trong trạng thái thư giãn
của Samaya.(13) Tôi thầm nghĩ rằng tôi chưa bao giờ nghe nói
về trạng thái thư giãn này của Samaya. Tuy nhiên, tôi cố
gắng hoài và đặt mình vào trạng thái ấy. Có lúc, do sự
khó chịu với những điều kiện ngủ ở Tolu, tôi thức dậy.
Thật vậy, tôi thức dậy ít nhất hai hay ba lần trong khi cố
gắng đi vào trạng thái thư giãn. Trong một dịp thức dậy
ấy, tôi nhận được những lời dạy trong mộng rằng hãy
tháo lỏng đôi xà cạp để leo núi, mà do vì quá mệt tôi
đã không tháo ra trước khi đi ngủ.
Khi
thức dậy nhớ những lời dạy, tôi cởi chúng ra, và ngủ
lại một lần nữa, từ từ thư giãn vào trạng thái Samaya.
“Chưa hoàn toàn”, tiếng nói nói, “chúng ta phải có hơi
thở tươi tắn hơn, dễ dàng hơn.” Để tuân theo, tôi mở
rộng lều cho không khí trong lành, dù lúc đó trời rất lạnh
và gió nhiều. Một lần nữa tôi lại ngủ và đi vào Samaya.
Tôi lại nghĩ rằng Samaya này không phải hoàn hảo, cũng không
thực sự là một trạng thái tham thiền nhập định.(14)
Tiếng
nói trở lại, bảo “Bây giờ điều phải làm, là đi vào
trạng thái của Pháp giới (Dharmadhatu).(15) Như được chỉ
dạy, tôi thư giãn, và hướng đến trạng thái của Pháp giới
này. Khi ấy tôi thức giấc vì một tiếng ho từ lều bên
cạnh.
Tôi
đi ngủ lại một lần nữa, và hướng mình qua những cấp
độ thư giãn liên tiếp nhau. Tái đi tái lại tôi thức giấc
vì lý do này hay lý do khác, và rồi mỗi lần bắt đầu lại
từ đầu. Rồi thình lình tiếng nói cất lên, “Chúng ta ở
đây, đây là trạng thái của Pháp giới”, với tôi nó có
vẻ là trạng thái tham thiền nhập định.
Bây
giờ tiếng nói chỉ cho tôi hướng mình đến trạng thái khác.
Khi tôi làm điều này, bắt đầu xuất hiện một loại tigle(16)
tương tự với cái đã xuất hiện trong một giấc mộng trước
ở động Tolu. Tôi cũng thấy một bản viết gì đó, và tôi
thức dậy một lần nữa...
Tôi
phải bắt đầu lại từ đầu, thư giãn trải qua những giai
đoạn khác nhau cho đến khi tigle xuất hiện trở lại. Cái
tôi thấy trong tigle là đầu đề một bản văn. Lần này sau
đầu đề, có xuất hiện một bản văn, tôi nhìn vào đó
thấy như một màn hình phim chiếu bóng. Lần lượt một loạt
những thực hành thiền định xuất hiện. Tôi đọc từng
trang, nhưng nếu ở điểm nào tôi không thể đọc, tôi chỉ
cần nghĩ rằng nó không rõ ràng, và phần không rõ ràng sẽ
trở lại. Nó tự lập lại như tôi có một loại điều khiển
từ xa. Theo cách này tôi đọc toàn bộ bản văn từ đầu
đến cuối ít nhất ba hay bốn lần.
Do
những ngắt quãng tôi thường thức dậy. Nhưng mỗi lần tôi
ngủ trở lại, và tôi bắt đầu với Samaya và mọi thứ còn
lại, và rồi bản văn tiếp tục.
Thình
lình có giọng nói, “Bây giờ ngươi đang ở trong trạng thái
tiếp theo.” Cái phân biệt trạng thái này với trạng thái
khác là bây giờ một ít chữ không hoàn toàn rõ xuất hiện
chiếm toàn bộ không gian. Không chú tâm hay nhìn chăm chú,
chúng xuất hiện. Như thế, tôi tiếp tục đọc và việc này
tiếp tục không gián đoạn cho đến sáng.
Vào
lúc này tôi ho mạnh và thức dậy. Những chữ vẫn còn dù
mắt tôi đã mở. Đó không phải là một giấc mộng. Tôi
thấy chúng một thời gian ngắn, và rồi chúng biến mất.
Tôi nghĩ rằng có lẽ đây chỉ là ảnh hưởng của giấc
mộng. Tò mò, tôi tiếp tục nhìn vào bầu trời. Trời rất
trong và không có cái nhìn thấy nào nữa.
Tôi
nhớ một lần tôi đang nhập thất ở Na Uy. Tôi đang giữa
thời một thực hành khi cùng một điều như vậy xảy ra.
Tôi nói với một số người về kinh nghiệm của tôi vào
lúc đó. Trước kia tôi đã đọc về Snang-ba-yi-ger-shar(17)
trong những tiểu sử của một số vị thầy thành tựu. Ở
Na Uy tôi nhớ lại đã nghĩ rằng trước kia tôi không hiểu
câu “Snang-ba-yi-ger-shar” có nghĩa gì. Dù sao, tôi ngủ lại
một lần nữa, và thư giãn qua những giai đoạn liên tiếp.
Trong giấc mộng, khi được dạy đi vào những trạng thái
thư giãn khác nhau, thình lình tôi có một ý nghĩ về một
trạng thái thậm chí còn hơn – một cái gì có tên là “Bya-grub-yeshe”,
trạng thái cao nhất của trí huệ. Tiếng nói trả lời ý
nghĩ tôi, “Nó sẽ đến khi mọi thứ đã trọn vẹn.” Rồi
đến sáng. Tôi thực sự mệt mỏi. Người nào khác thì vẫn
còn muốn ngủ. Đó là câu chuyện của ngày hai mươi lăm.
Ngày
tiếp theo chúng tôi có một cuộc leo núi dài. Chiều hôm đó,
khi tôi ngủ, tất cả xảy ra trở lại. Tôi lại đọc bản
văn vài lần, và đặc biệt khoảng giữa các chữ không được
rõ. Tới một lúc thình lình tôi thức dậy. Tôi thấy đầu
mình phủ một tấm mền. Gió nhiều đến độ tôi phải tự
che mình. Mở mền ra, tôi mở mắt và nhìn ngay vào bầu trời.
Ở đó, rất ngắn ngủi, vẫn còn những chữ.
Bây
giờ tôi muốn kể cho các bạn một giấc mộng vào đêm đầu
tiên chúng tôi đến động Maratika. Trước khi vào giường
tôi tự nghĩ rằng ngày mai sẽ là một ngày tốt đẹp để
bắt đầu một thực hành thiền định sống lâu mà tôi đã
mang theo. Tôi chưa hoàn toàn phát triển một phương pháp đặc
biệt để làm thực hành này, nhưng tôi đã mang bản văn thực
hành theo cùng bởi vì tôi nghĩ rằng Maratika là một chỗ tốt
để thực hành nó.
Đêm
ấy tôi mộng thấy tôi đang sửa soạn làm thực hành trong
một cái hang lớn. Tôi đang giải thích phải thực hành như
thế nào và đang làm lễ quán đảnh để cho những học trò
thực hành. Bình thường, trong truyền thống của chúng ta,
để làm một thực hành sống lâu, người ta cần một quán
đảnh nhập môn sống lâu.
Những
bạn nào biết tôi đều biết rằng tôi không phải là loại
người kiểu mẫu trong việc làm những quán đảnh nhập môn
tỉ mỉ và nhiều hình thức, nhưng tôi luôn luôn nói rằng
cần thiết làm một loại quán đảnh(18) để cho phép thực
hành. Trong giấc mộng tôi có ý niệm rằng trước tiên tôi
sẽ cho một giải thích cẩn thận về ý nghĩa của quán đảnh.
Khi người ta đã hiểu rõ nó, tôi sẽ ban cho quán đảnh với
thần chú. Sau đó, chúng tôi sẽ thực hành chung ; điều đó
tạo nên sự trao truyền lời nói.
Thế
rồi, trong giấc mộng tôi giải thích mỗi điểm về quán
đảnh là gì, bắt đầu bằng quán đảnh của thân. Vào lúc
đó tôi nhận thấy có một người bên cạnh đưa cho tôi cái
gì đó. Tôi quay qua phía người đó, và thấy rằng người
ấy không phải một con người bình thường. Tôi chắc chắn
điều này, bởi vì mới nhìn tôi thấy phần dưới của thân
anh ta là thân một con rắn. Tôi nghĩ rằng có lẽ đây là
Rahula,(19) một trong những hộ pháp, nhưng khi tôi nhìn vào
mặt thì có vẻ khác. Rồi tôi nghĩ rằng có lẽ người ấy
là, hay tượng trưng cho, một người nào tôi đã từng biết.
Tôi nhìn lại – khuôn mặt người ấy giống như rồng. Thân
thì màu trắng. Thình lình anh ta đặt cái gì đó vào tay tôi.
Nếu
bạn đã có một quán đảnh, bạn biết rằng thường có người
phụ giúp vị thầy bằng cách đưa cho vị thầy những đồ
vật. Vào đúng lúc trong buổi lễ, người trợ tá đưa cho
vật thích hợp. Trong giấc mộng người giống như rồng này
đưa cho tôi một vật tròn để tôi xác nhận quán đảnh của
thân tôi sắp ban.
Tôi
cầm vật tròn vào tay. Đó là một cái gương, nhưng trên vành
có mười hai cái gương nhỏ. Xung quanh tất cả những cái
gương nhỏ này có một loại cầu vồng. Và nơi chu vi là lông
công. Nó rất đẹp. Khi tôi cầm vào tay, tôi biết rằng đây
là vật để làm quán đảnh thân.
Bình
thường trong một quán đảnh, gương tượng trưng cho tâm,
phương diện thông hiểu. Tức thời trong giấc mộng một giải
thích đến với tôi : “Thân thể có vẻ có chất thể, nhưng
nó thật là trống không. Biểu tượng cho điều này là sự
phản chiếu xuất hiện như là hình thể của chúng ta trong
gương.” Nói lời giải thích này xong, tôi dùng gương trong
giấc mộng để ban quán đảnh của thân. Trong giấc mộng
tôi chạm gương vào đầu của mỗi người nhận quán đảnh.
Với mỗi người tôi cũng tụng một thần chú.(20)
Tiếp
theo tôi bắt đầu giải thích quán đảnh của lời nói. Vào
ngay lúc đó tôi cảm thấy sự hiện diện của một người
khác bên trái tôi. Người này cũng đưa một cho tôi một vật
để xác nhận. Vật đó là một xâu chuỗi (mala)(21) làm bằng
những viên hồng ngọc đỏ sậm làm thành hình số tám. Tôi
xem cẩn thận người đưa cho xâu chuỗi. Người ấy có một
thân đỏ sậm, và chỉ có một con mắt. Tôi lại nghĩ rằng
đây không phải là người bình thường, có lẽ là Ekajati.(22)
Mặt khác, người ấy không hoàn toàn giống Ekajati, và trong
tay bà là những đồ vật lạ lùng này. Dù sao, ngay sau khi
trao tôi xâu chuỗi, tôi lại thấy mình ban cho một giải thích.
“Xâu
chuỗi này tượng trưng cho sự phát âm liên tục của thần
chú.” Tôi không chỉ giải thích tác động, chức năng của
thần chú, mà cũng cho một giải thích rất khác thường về
hình thức thần chú này, được trình bày trong hình thức
một số tám. Điều này hoàn toàn lạ lùng bởi vì sự giải
thích không có gì ăn nhập với thực hành sống lâu (Cedrup
Gondus) của Nyala Pema Dendul(23) mà tôi đã đem theo đến đây.
Ngày
hôm sau, sau khi mộng thấy một thực hành sống lâu khác dành
cho dakini Mandarava, tôi khám phá rằng thực sự có một thực
hành Yantik, nó bao gồm sự quán tưởng này. Trong lúc ấy nhân
vật Ekajati đặt vào tay tôi một vật khác, vật này là một
biểu tượng để cho quán đảnh của tâm. Vật ấy giống
như một chữ Vạn, nhưng ở trên đỉnh có những cái đinh
ba. Nó được làm bằng đá xanh trong suốt và quý giá.
Rồi
tôi giải thích ý nghĩa sự trao truyền của tâm. Sau đó, tôi
đặt vật này lần lượt ở trái tim của mỗi người. Cùng
lúc đó tôi đọc chú liên hệ với quán đảnh của tâm. Sau
khi tôi đặt vật ấy nơi trái tim của người thứ nhất,
tôi thấy rằng nó để lại một dấu in và dấu in của vật
ấy quay, với một âm thanh nho nhỏ. Nó có vẻ rất sống động.
Khi tôi quán đảnh cho người kế tiếp, sự việc như vậy
lại xảy ra. Cuối cùng khi tôi hoàn tất tôi thấy rằng mọi
dấu in chữ Vạn vẫn còn quay. Tôi làm buổi lễ quán đảnh
như vậy, và rồi tôi thức dậy. Ngày hôm sau tôi quyết định
nhập thất trong hang. Nhiều học trò đi theo tôi trong cuộc
hành hương này cùng làm thực hành Pema Dendul trong hang Manda-rava.
Ngày
hôm sau tôi có giấc mộng đặc biệt khác. Dù nhiều người
trong đoàn chúng tôi chưa đến, tôi nằm mộng rằng tất cả
chúng tôi đều ở trong hang. Chúng tôi đã thực hành và tôi
đang cho những giáo pháp. Có vẻ như giấc mộng của đêm
trước được tái tạo lại một cách chính xác. Bên trái
tôi là nhân vật màu đỏ với một con mắt. Một lần nữa
bà cầm nhiều đồ vật trong tay ; lần này bà đưa cho tôi
một quả cầu pha lê.
Bây
giờ tôi rõ rằng vị này phụ giúp tôi khi tôi dạy. Tôi cầm
pha lê vào trong tay và nhìn nó. Ở trung tâm của pha lê tôi
thấy một chữ. Ngay khi vừa thấy chữ đặc biệt này, tôi
biết rằng đây quả thực là Ekajati. Tôi cũng có một cái
nhìn thấy trong mộng rất rõ ràng về hộ pháp Ekajati khuyên
bảo tôi : “Đây là lúc để mở kho tàng tâm con của vòng
đời sống của Vajra, sự thực hành dakini để đạt được
sống lâu.”
Nhìn
vào trong quả cầu pha lê nhỏ, tôi có thấy những tia sáng
chiếu khắp mọi hướng từ chữ ở giữa, nhưng chúng không
chiếu ra ngoài quả cầu. Khi cầm quả cầu tôi hỏi, “Vật
gì đây ?” Bà nói, “Đây là ‘Ta-te’. Con phải làm ‘Ta-te’.”
Tôi trả lời, “Con không hiểu.” Khi tôi nói thế, hình như
pha lê biến mất trong tôi. Tôi nhìn quanh để thấy Ekajati,
nhưng bà cũng biến mất.
Ngay
khi thức dậy, ý nghĩ đầu tiên của tôi là “Ta-te”, và
nó có nghĩa là gì. Còn lâu trời mới sáng, tôi có thì giờ,
thế nên tôi tiếp tục tập trung vào từ ngữ “Ta-te”. Đây
không phải là một chữ quen thuộc. “Ta” nghĩa là thanh tịnh,
“te” nghĩa là đương đầu, hay đôi khi có nghĩa là lập
danh sách. Trong trạng thái nửa thức tôi nghĩ về chữ này,
thì chợt đến với tôi ý nghĩ tôi được yêu cầu viết
ra bản văn, và về sau viết lại nó mà không dò theo bản
văn thứ nhất để thử nghiệm sự chính xác của nó. Bây
giờ thì rõ ràng điều tôi phải làm.
Sau
khi tắm rửa, tôi lấy giấy và bút, và đi đến một hòn
đá. Rồi không có một dàn bài nào, tôi viết bất kỳ cái
gì đến với tâm trí tôi. Tôi viết vài trang, và cái nổi
lên là một buổi lễ của Ekajati. Đây là sự bắt đầu.
Sau đó tôi đi ăn sáng. Trong thời gian ăn sáng tôi yêu cầu
một học trò đem cho tôi một cuốn sổ tay. Khi xong buổi ăn
sáng mà bà ấy chưa trở lại, thế nên tôi lấy một cuốn
sổ tay khác đến một chỗ đặc biệt nơi tôi đã ở ngày
đầu tiên, một nơi thần lực của Maratika, và ngồi xuống.
Tôi
sắp bắt đầu thì bà học trò đến với một cuốn sổ tay
màu đen và một cây bút đỏ. Tôi bắt đầu viết, như là
viết một lá thơ. Tôi mở đầu bằng địa danh Mara-tika, giờ
và ngày. Lúc đó là 9 giờ 15 sáng. Khi tôi đang viết, những
người trong nhóm tôi đi đến. Một số họ không biết tôi
đang làm gì. Khi họ đến gặp tôi, tôi cố tránh họ.
Dù
những gián đoạn, tôi viết xong lúc 12 giờ 15. Khi chấm dứt,
tôi đã dùng hết trang cuối cùng, đúng vào dòng cuối cùng
của cuốn sổ tay. Có vẻ đó như có chủ ý sắp đặt. Tôi
tự nghĩ rằng đó là một dấu hiệu tốt.
Trở
lại chỗ đóng lều, tôi đưa bản văn cho hai học trò giữ
trong vài ngày. Tôi nghĩ sau vài ngày nữa tôi sẽ viết lại.
Đó sẽ là “Ta-te”, bản thứ hai để đối chiếu với bản
thứ nhất để xác định sự đích xác của nó. Điều này
sẽ là chứng cớ rằng bản văn là đích thực chứ không
phải chỉ là một trò chơi của trí năng.
Hai
ngày trôi qua. Vào ngày thứ ba, tôi có một giấc mộng chỉ
cho rằng thời gian đã đến để viết và làm vài minh giải.
Sau khi hoàn thành thực hành buổi sáng tôi lại ngồi viết,
và tiếp tục cho đến buổi ăn trưa. Lần thứ hai tôi viết
ra bản văn thì rất an bình và chữ viết dễ dàng. Lần này
mất hai giờ rưỡi. Rồi tôi yêu cầu đem bản chánh lại,
và chị tôi so sánh hai bản. Gần như không có khác biệt nào,
chỉ trừ hai hay ba sửa chữa về văn phạm.
Đây
là câu chuyện nguồn gốc bản văn thực hành này, một thực
hành để phát triển một đời sống lâu và vững chãi. Bản
văn gồm những thần chú, những thực tập hơi thở và kiểm
soát năng lực cũng như quán tưởng. Cũng có những giáo huấn
về những luân xa và những kinh mạch. Trong truyền thống Tây
Tạng loại thực hành này thường được đóng dấu niêm phong,
nghĩa là nó được giữ bí mật trong rất nhiều năm. Khi bạn
đang giữ một vật bí mật như vậy bạn thậm chí không được
phép nói rằng bạn đang giữ một vật bí mật. Trong trường
hợp này điều đó không cần thiết. Không có sự chỉ dẫn
bản văn ấy cần được niêm kín. Tôi không có bí mật để
giữ gìn ; bởi thế, tôi nói về nó. Tôi cũng nói về nó
ở Maratika, và đã làm sự trao truyền những thần chú.
CHÚ
THÍCH CHƯƠNG BA
1.
Động Mandarava ở Maratika : Bắc Nepal, nơi Norbu Rinpoche đã
ẩn cư năm 1984, có hai động thiêng. Cái lớn gắn liền với
Padmasambhava, và cái nhỏ với Man-darava. Vào thế kỷ thứ bảy,
Mandarava – cùng với Guru Padmasambhava – đã thực hành và
đạt được bất tử trong động này, do đó nó được biết
là Động của Đời Sống Thọ.
2.
Mahasiddha : Sankrit, nghĩa đen là “Đại Tinh Thông”. Maha là
đại, siddha là người đã đạt được siddhi – những năng
lực tâm thần và tâm linh. Trong Phật giáo Tây Tạng có kiểu
mẫu Tám Mươi Bốn Đại Thành Tựu Giả (Mahasiddha) gồm đàn
ông và phụ nữ đã đạt những năng lực siêu nhiên. Những
hành giả tantra này sống ở Ấn Độ và Nepal vào thế kỷ
thứ tám.
3.
Guru Padmasambhava : Sanskrit, padma (hoa sen) và sambhava (sanh). Một
đạo sư Phật giáo Ấn Độ về Tantra và Dzogchen từ Oddiyana.
Ngài được biết là “Liên Hoa Sanh” vì sự sanh ra kỳ diệu
từ hoa sen. Guru Padmasambhava biểu lộ một cách tự phát là
một chú bé tám tuổi ngồi trên một hoa sen giữa hồ ở Oddiyana.
Ngài đưa Phật giáo đến Tây Tạng từ Ấn Độ ở thế kỷ
thứ tám. Với những năng lực phi thường của mình, Guru Padmasambhava
chiến thắng những chướng ngại ngăn cản Phật giáo cắm
rễ vào đất Tây Tạng.
4.
Mandarava : Công chúa Ấn Độ này từ Mandi là một trong những
phối ngẫu chính của Padmasambhava. Bà bỏ cuộc đời vương
giả để thực hành Pháp. Bà được biết tiếng nhất do làm
chủ sự thực hành sống lâu với Padmasambhava. Bà được cầu
khẩn trong một số nghi thức Tantra nhằm mục đích kéo dài
tuổi thọ.
5.
Terton : Người khám phá terma, hay những bản văn Pháp được
cất dấu với mục đích để được khám phá về sau. Những
terma được tin là dấu trong cây, hồ, đất và thậm chí trong
bầu trời.
6.
Tu Viện Dzogchen : Trong thế kỷ mười bảy, ở Kham (Đông Tây
Tạng) Tu Viện Dzogchen được xây dựng bởi Dzogchen Rinpoche
thứ nhất, Pema Rigzin. Nó trở thành tu viện lớn nhất của
Nyingma. Tu viện được xem là một trong hai mươi lăm nơi hành
hương lớn của miền Đông Tây Tạng. Sát cạnh tu viện là
động thiêng của Padmasambhava và ba hồ thiêng. Nhiều học
giả nổi tiếng của tất cả bốn phái Phật giáo Tây Tạng
và từ truyền thống Bon đã học ở Tu Viện Dzog-chen. Patrul
Rinpoche và Mipham là hai vị trong số đó. Năm 1959 Tu Viện Dzogchen
bị người Trung Quốc hủy hoại. Tu viện hiện giờ được
xây lại ở Mysore, Nam Ấn Độ.
7.
Thik Sum Nedek : Ba tuyên bố của Garab Dorje. Bản văn này tóm
lại những giáo lý Dzogchen trong ba điểm thiết yếu : (1) Sự
giới thiệu trực tiếp trạng thái bổn nguyên từ thầy qua
trò. (2) Người thực hành không nghi ngờ gì nữa về trạng
thái bổn nguyên là thế nào. (3) Người thực hành tiếp tục
trong trạng thái của tánh giác bổn nguyên cho đến khi chứng
ngộ hoàn toàn.
8.
Garab Dorje : Theo những nguồn truyền thống của Nyingma, Garab
Dorje sống 166 năm sau parinirvana (bát Niết bàn) của Phật.
Có nói rằng Garab Dorje được mang thai một cách vô nhiễm
bởi công chúa làm ni, con của một nhà vua ở Oddiyana. Vị
ni này đang thực hành trên một hòn đảo giữa một cái hồ
thì có một giấc mộng. Cô mộng thấy một người đàn ông
đẹp đẽ, mặc đồ trắng cầm một bình pha lê với những
thần chú khắc trên đó. Người này ban quán đảnh cho vị
ni, và rồi tan thành ánh sáng vào trong thân thể vị ni. Thời
gian sau giấc mơ này, cô sanh ra Garab Dorje. Theo những nguồn
Nyingma, Garab Dorje là đạo sư Dzog-chen đầu tiên thuộc loài
người. Trong đời trước ở một cõi khác, Garab Dorje đã
nhận trao truyền Dzogchen trực tiếp từ biểu lộ báo thân
của Vajrasattva. Sau khi sanh vào cõi người, Garab Dorje lập tức
nhớ lại những giáo lý Dzogchen và dạy cho một tầng lớp
chúng sanh là những dakini ở xứ sở thiêng liêng Oddiyana. Ngài
cũng có những đệ tử người, một trong số đó là Manju-shrimita,
người tổ chức những giáo lý của Garab Dorje thành Semde,
Longde, và Managede. Để biết thêm về Garab Dorje, xem Những
Chữ Vàng của John Reynolds, nhà xuất bản Snow Lion, 1996. (Bản
dịch Việt ngữ của nhà xuất bản Thiện Tri Thức, 2002.)
9.
Gomter : “terma tâm”, một terma khám phá trong dòng tâm của
một terton.
10.
Namkha : Một phương pháp thực hành để quân bình những nguyên
tố. Một namkha được làm phù hợp với bản chiêm tinh ngày
sanh (bản tử vi) của một người. Nó gồm hai miếng gỗ và
một sợi dây năm màu, mỗi màu tượng trưng một nguyên tố
: trắng, kim loại ; lục, gỗ/không khí ; đỏ, lửa ; vàng,
đất ; và xanh, nước. Sợi dây màu được quấn quanh miếng
gỗ trong một cách thức làm tác động điều hòa những nguyên
tố của mình. Những namkha được một vị thầy cho phép thực
hành, và người thực hành được ban cho chỉ dạy thiền định
về một nghi lễ mà nếu thực hành chung với nam-kha, có thể
có thể làm quân bình những nguyên tố của người ta.
11.
Bon : là tôn giáo cổ và địa phương của Tây Tạng, nguồn
gốc của nó có trước khi Phật giáo vào Tây Tạng rất lâu.
Theo Lopon Tenzin Namdak, đạo Bon ở Tây Tạng có khoảng 18.000
năm trước công nguyên. Bon chia thành hai : Bon Cổ và Bon Tân
hay Bon “Yung-drung”. Bon Cổ có những thực hành theo thuyết
vạn vật hữu linh và bùa chú, trong khi Bon Yung-drung chia sẻ
nhiều tương đồng với Phật giáo, đạo này đã đến Tây
Tạng vào thế kỷ thứ tám từ Ấn Độ. Theo Namkhai Norbu Rinpoche
và Lopon Tenzin Namdak, Dzogchen thuộc về truyền thống cổ của
Bon, và được thực hành ở Tây Tạng đã lâu trước khi Phật
giáo được du nhập.
12.
Ngày hai mươi lăm : Ngày hai mươi lăm âm lịch, khi mặt trăng
khuyết, được biết là Ngày Dakini. Ngày Dakini nối kết với
năng lực giác ngộ thuộc nữ tính trong thời gian này. Ngày
Dakini là một thời gian tốt lành để làm Ghana Puja (Lễ Tiệc
Dâng Cúng).
13.
Samaya : Dù từ samaya thường được dịch là “cam kết”,
và thường liên quan đến sự duy trì một thực hành thiền
định hay thệ nguyện sống một cách trong sạch, trong thực
hành giấc mộng nó có ý nghĩa riêng. Trong giấc mộng của
Norbu Rinpoche, những từ Samaya và Dharmadhatu ám chỉ những cấp
độ liên tiếp sâu hơn của sự thư giãn, buông xả.
14.
Tham thiền : Sự thực hành chủ yếu của Dzogchen trong đó
người ta liên tục ở trong một trạng thái tự-giải thoát.
Trong trạng thái này người ta vượt khỏi mọi ý niệm của
tâm thức nhị nguyên bình thường, tuy nhiên người ta hoàn
toàn có khả năng sử dụng trí năng và tâm thức lý tính.
Tham thiền không bao gồm cố gắng tìm thấy những kinh nghiệm
của tĩnh lặng hay sáng tỏ, cũng không tránh những phóng dật.
Trong tham thiền, khi một tư tưởng sanh khởi nó không bị
đè nén cũng không được theo đuổi, mà tự-giải thoát và
tan biến một cách tự phát. Đây là sự thực hành giải thoát
tất cả cái gì sanh khởi mà một vị thầy Dzogchen đưa vào
khi ông cho những giải thích về bản tánh của tâm.
15.
Dharmadhatu : Từ này theo bình thường ám chỉ nền tảng tối
hậu của hiện thể, và chiều kích của thực tại đúng như
nó là. Tuy nhiên, trong bối cảnh giấc mộng nó đặc biệt
nói đến cấp độ thư giãn sâu nhất.
16.
Tigle : Có nhiều định nghĩa khác nhau của tigle. Trên một
cấp độ, nó được định nghĩa là cái gì không có góc,
một vòng tròn hay một quả cầu, như chữ bindu (giọt, hạt)
của tiếng Sanskrit chẳng hạn. Tigle cũng được định nghĩa
như chiều kích bên trong của một quả cầu. Tigle Chenbo (Khối
Cầu Lớn), nghĩa là “cái bao gồm mọi sự”, là một từ
khác của Dzogchen. Tigle cũng được biết như “tinh túy”,
như trong nying thik, “tinh túy của tâm”. Trong một định
nghĩa khác, tigle là tinh khí nơi đàn ông, và tinh dịch nơi
đàn bà, chúng là những phương tiện vật chất để chuyên
chở năng lực. Theo Yantra Yoga, tigle được định nghĩa là
hình thức tinh chất nhất của năng lực vi tế của thân thể,
cũng như Kudalini trong Sanskrit. Những tigle cũng là những quả
cầu nhỏ ánh sáng cầu vồng sanh khởi với sự bắt đầu
của những cái nhìn thấy trong thực hành togel.
17.
Snang-ba-yi-ger-shar : Sự sanh khởi tự phát của các chữ.
18.
Quán đảnh : Nhập môn, trao truyền và truyền pháp của thân,
ngữ, tâm. Hiện hữu con người được làm bằng thân, ngữ,
tâm. Thứ nhất, có chiều kích của “thân”, nó là sự tương
quan lẫn nhau sinh động giữa thân người ta và môi trường
vật chất chung quanh. Có hai từ Tây Tạng khác nhau để chỉ
“thân”. Lu là thân vật chất thô của một người bình
thường, trong khi ku ám chỉ thân cao cả của một người giác
ngộ. Thứ hai, có chiều kích của năng lực của chúng ta gọi
là “ngữ”, nó biểu thị bởi ngữ, hơi thở và năng lực
tâm linh. Ngữ bình thường được biết như là ngag, trong khi
ngữ giác ngộ là sung. Trong chiều kích của tâm hay ý, có
yid, tâm bình thường, và thuk, tâm giác ngộ. Với trao truyền
từ thầy qua trò, xảy ra một khả năng liên lạc trên ba cấp
độ : vật chất, năng lực và tâm thức. Sự trao truyền Dzogchen
của vị thầy là cho mục tiêu phát hiện bản tánh chân thật
của cá nhân. Quán đảnh truyền pháp hay wang là một nghi lễ
trong đó sự trao truyền này xảy ra. Truyền pháp, đặc biệt
trong Phật giáo Mật thừa, có thể cực kỳ tỉ mỉ, sử dụng
những dụng cụ tượng trưng và nghi lễ. Trong Dzogchen, phương
pháp giới thiệu trực tiếp, đưa vào trực tiếp, nó có thể
tỉ mỉ hay không tỉ mỉ, được dùng để giới thiệu người
ta với bản tánh của tâm họ. Xem sự đưa vào trực tiếp
này trong Những Chữ Vàng, John Reynolds.
19.
Rahula : Một hộ pháp chánh của những giáo lý Dzogchen. Rahula
biểu lộ trong một hình thức đáng sợ và dữ dội. Ngài
có thần lực cực độ, và theo Namkhai Norbu Rinpoche, nếu không
được kính trọng có thể gây tai hại đáng kể.
20.
Mantra : Nghĩa đen, “bảo vệ tâm”. Mantra (thần chú) là sự
phát âm những âm tiết thiêng liêng. Những thần chú khác
nhau có những chức năng khác nhau : một số được dùng để
kích động và làm hoạt động năng lực của người ta trong
khi một số khác tạo ra một hậu quả bình an và bình lặng.
Mục đích tối hậu của thần chú là giúp cho hành giả vượt
khỏi tư tưởng nhị nguyên. Nhiều thần chú nối kết với
bổn tôn riêng biệt, và trong nghi lễ Mật thừa chúng được
trì tụng cho đến khi người ta đạt đến cùng những phẩm
tính giác ngộ như bổn tôn.
21.
Mala : Trong truyền thống Phật giáo một mala hay xâu chuỗi
gồm 108 hạt dùng để đếm lần trì chú.
22.
Ekajati : là hộ pháp chánh của những giáo lý Dzog-chen. Giác
ngộ từ vô thủy, Ekajati là một xuất sanh (trulpa) trực tiếp
của trí huệ bổn nguyên, Samantabhadri, vị này là phương diện
nữ tính của Phật bổn nguyên Samantabhadra (Phổ Hiền). Là
bậc giác ngộ bổn nguyên, Samantabhadri có trí huệ biết tất
cả tám mươi bốn triệu giáo lý của Dzogchen. Ekajati biểu
lộ có thể thấy được trong một hình tướng hung nộ để
hàng phục loại chúng sanh rất có thần lực và tiềm ẩn
sự phá hoại gọi là Mamos. “Ekajati” nghĩa là “một mắt”,
nó tượng trưng trí huệ. Thân thể vị này có những cái
độc nhất : một mắt, một răng, và một vú. Những đặc
trưng này tượng trưng tánh giác bất nhị. Là nữ hộ pháp
thủ lãnh của những giáo lý Dzogchen, vị này tiếp xúc với
một terton hay vị thầy Dzogchen khi thời gian đã chín cho việc
phát hiện một giáo lý hay một terma. Norbu Rinpoche đã nhận
một sadhana từ Ekajati như là phần của gomter này về thực
hành Mandarava. Sadhana là một khẩn cầu, trong đó hành giả
yêu cầu Mandarava xóa sạch những chướng ngại đến chứng
ngộ hoàn toàn và ban cho sự che chở trên con đường.
23.
Cedrub Gondus : “Sự Hợp Nhất của những Tinh Túy Bổn Nguyên”,
sự thực hành sống lâu mà Norbu Rin-poche đã đem đến Maratika.
Thực hành sống lâu này là một terma của bổn sư của Changchub
Dorje, Nyala Pema Dendul (1816-1872). Sự thực hành nguyên được
trao truyền trực tiếp từ Phật Amitayus (Vô Lượng Thọ) đến
Guru Padmasambhava. Trong động thiêng Mara-tika ở Bắc Nepal, Dakini
Mandarava và Guru Padma-sambhava đã thực hành và làm chủ sự
hợp nhất những tinh túy bổn nguyên và đạt được bất
tử. Vào thế kỷ thứ tám, để lợi lạc những thế hệ
tương lai, Guru Padma-sambhava viết ra sự thực hành và đặt
nó như một kho tàng được che dấu trong một núi ở Đông
Tây Tạng. Khoảng một ngàn năm sau, trong thế kỷ mười chín,
Nyala Pema Dendul tái khám phá “kho tàng che dấu” hay terma này.
Trong vài năm ngài thực hành terma sống lâu này một cách mãnh
liệt. Vào cuối đời ngài đạt đến thân ánh sáng cầu vồng.
Nyala Pema Dendul trao truyền sự thực hành cho Changchub Dorje và
Ayu Khandro, cả hai thực hành nó và do đó sống lâu lạ thường
– 137 năm và 116 năm theo thứ tự. Hai vị này cũng đạt thân
ánh sáng. Namkhai Norbu Rinpoche nhận sự trao truyền terma này
từ cả Changchub Dorje và Ayu Khandro, và có trao truyền sự thực
hành để làm lợi lạc cho các đệ tử.
4 Một
Phỏng Vấn Norbu Rinpoche
Michael
: Tôi muốn hỏi ngài vài câu hỏi về những giấc mộng. Trước
hết, lịch sử thực hành giấc mộng ngài đã làm là như
thế nào ?
Norbu
: Anh muốn nói gì với chữ “lịch sử” ?
M :
Khi nào và do ai sự thực hành đầu tiên về giấc mộng được
dạy ? Ai có tiếng trong việc dạy nó ?
N :
Không dễ trả lời điều này, bởi vì những giáo lý dạy
về giấc mộng đến từ nhiều loại giáo lý tantra khác nhau,
đặc biệt Mahamaya Tantra, nhưng cũng từ những giáo lý Dzogchen.
M :
Khi nào Mahamaya Tantra được viết ?
N :
Vượt khỏi thời gian ; bạn không thể nói khi nào nó được
viết.
M :
Có tác giả riêng biệt nào không ?
N :
(cười) Không có tác giả của những giáo lý tantra. Có lẽ
một mahasiddha đã trao truyền giáo lý này và du nhập nó từ
Oddiyana(1) vào Ấn Độ. Sau cùng, Saraha giới thiệu Guyasamaja
Tantra, và Tilopa giới thiệu Chakrasambhava Tantra. Có thể điều
đại loại như vậy được xem là lịch sử sự trao truyền
của một tantra, nhưng không có lịch sử nguyên bản của những
tantra.
M :
Rinpoche, đôi khi ngài dạy những thực hành giấc mộng trong
đó người ta quán tưởng một chữ (2) trắng ở trái
tim, nhưng có khi khác ngài dạy cần quán chữ ở
cổ họng. Đâu là những hoàn cảnh khác nhau khi thì quán chữ
ở tim khi thì ở cổ họng ?
N :
Quán tưởng chữ “A” ở cổ họng thì đặc biệt cho việc
nhớ lại những giấc mộng. Quán tưởng chữ “A” ở cổ
họng có tác dụng kiểm soát năng lực và sự sáng tỏ. Khi
bạn quán tưởng chữ “A” trắng ở tim, bạn làm việc với
nguyên lý ánh sáng tự nhiên ; đó là một phương pháp khác.
M :
Tại sao chúng ta mộng ?
N :
Vâng, đôi khi mộng do những bhaksha, những ấn tượng ban ngày.
Những cái ấy là lo âu, thái độ và tính toán của chúng
ta. Cũng có loại mộng khác sanh khởi từ sự sáng tỏ của
chúng ta. Loại mộng này tùy thuộc vào những điều kiện
và sự sáng tỏ của người mộng.
M :
Chúng ta phân biệt những giấc mộng sanh khởi từ sự sáng
tỏ của chúng ta và những giấc mộng sanh khởi từ những
ấn tượng hàng ngày và những bhaksha của chúng ta như thế
nào ?
N :
Nếu chúng ta có một ngày mệt nhọc, và tất cả điều chúng
ta có thể làm là ăn và rơi vào một giấc ngủ nặng nề,
điều này không giống với chúng ta có một giấc mộng của
sáng tỏ. Khá thường trong những điều kiện đó chúng ta
có những giấc mộng về cái gì đã làm chúng ta bận tâm.
Dù thế nào cũng khó mà nhớ giấc mộng này do sự nặng nề
của giấc ngủ. Trái lại, khi gần sáng và gần thức dậy,
những giấc mộng của chúng ta có thể hoàn toàn sáng tỏ.
Nó rất giống như những giấc mộng phối hợp với sáng tỏ,
nó có thể có ý nghĩa đặc biệt cho cuộc đời chúng ta.
Nó chỉ ra nhiều điều.
M :
Điều này cũng thật đối với người thực hành yoga giấc
mộng ?
N :
Nếu bạn là một hành giả yoga giấc mộng, những giấc mộng
sanh khởi từ sáng tỏ sẽ phát triển và tăng thêm. Tuy nhiên
những giấc mộng nối kết với sáng tỏ hiện hữu với bất
kỳ ai. Ai cũng có sáng tỏ vốn sẵn.
M :
Khi nào những đứa trẻ bắt đầu mộng ? Nội dung giấc mộng
của chúng có phản ảnh những đời trước cũng như những
bhaksha không ?
N :
Vâng, chúng ta nói những đứa bé có nhiều giấc mộng hơn
sanh khởi từ những ấn tượng của một đời trước. Những
trẻ nhỏ có thể dễ nhớ hơn những sự kiện từ một đời
trước ; sự sáng tỏ của nó ít bị che ám hơn. Dần dần
điều này thay đổi khi đứa bé lớn lên và những căng thẳng
và bám luyến của cuộc đời bình thường được tạo ra.
M :
Ngài có gợi ý rằng những bậc cha mẹ là hành giả nên dạy
cho con cái họ yoga giấc mộng vào tuổi nhỏ và khuyến khích
chúng phát triển những giấc mộng của chúng ?
N :
Tôi không nghĩ thế. Nó không dễ dàng cho trẻ em.
M :
Có một tuổi đặc biệt khi trẻ em bắt đầu mộng ? Hay nó
là cái gì bắt đầu ngay từ lúc sanh ra ?
N :
Tôi nghĩ chúng hầu như mộng ngay từ lúc sanh ra.
M :
Có những lúc chúng tôi có một giấc mộng trong đó chúng
nhận được lời khuyên có vẻ có lý. Chúng tôi có thật
sự được khuyên bảo không ?
N :
Vâng, lại có hai khả năng. Nếu giấc mộng của bạn nối
kết với sự sáng tỏ bạn có thể thật sự nhận được
lời khuyên và thông tin ích lợi. Ngược lại, nếu bạn có
những căng thẳng hay bám luyến rất mạnh, bạn cũng có thể
nhận lời khuyên trong một giấc mộng, nhưng bạn không nói
đây là lời khuyên hoàn hảo.
M :
Ngài có thể cho chúng tôi một thí dụ về một giấc mơ đặc
biệt nối kết với sáng tỏ ngài đã có ?
N :
Vâng, nhiều năm trước tôi có một người bạn ở Ý. Cô
là một người bạn tốt, một ca sĩ có tài, và cô cũng thích
thú thực hành. Nhưng gia đình cô lại không như vậy. Dù sao,
một đêm tôi nằm mộng thấy rằng tôi đang lái xe ở Naples.
Rồi tôi thấy một chiếc xe đỏ hướng về phía tôi. Khi
nhìn gần hơn, tôi nhận ra người lái xe – chính là người
bạn của tôi và cô ta có vẻ giận dữ. Tôi vòng xe lại và
hướng trở lại về Rome và sau một thời gian ngắn đến
trước mặt buyn đinh của tôi. Bạn tôi đến sau một chút.
Cô trông không giận dữ nữa, nhưng lại nói, “Tôi muốn
cám ơn thầy đã giúp tôi.” Tôi đưa cho cô một cái đồng
hồ Thụy Sĩ. Rồi tôi nhìn cô lần nữa và cô không có đầu.
Tôi rất ngạc nhiên. Tôi thức giấc, cảm thấy rất lạ lùng.
Tôi cố gắng gọi cô ở nhà nhưng mẹ cô trả lời, nói rằng
cô đã đi Lugano, Thụy Sĩ. Tôi yêu cầu mẹ cô nhắn lại
là hãy gọi tôi, nhưng tôi không nghe gì cả, nên tôi gọi
lại. Mẹ cô nói với tôi rằng cô đã trở về từ Lugano
một lát rồi đã đi Nam Tư cho một buổi ca hát. Mẹ cô đã
không nói với cô thông điệp của tôi vì bà không thích tình
bạn của chúng tôi. Khi cô trở về từ Nam Tư, cô lại ra
đi, lần này là Naples. Trên đường đi cô gặp một tai nạn
xe hơi chết người. Đây là một thí dụ.
M :
Rinpoche, ngài có những giấc mộng trong đó ngài đã nhớ một
cuốn sách giáo lý. Điều này xảy ra thế nào ?
N :
Một giấc mộng như vậy cũng là loại nối kết với sáng
tỏ. Trong loại giấc mộng này, người ta có thể làm nhiều
việc, như nghiên cứu, đọc hay học.
M :
Ngài có thể cho chúng tôi một số thí dụ những biểu tượng
giấc mộng mà người Tây Tạng tin là quan trọng ?
N :
Tôi sẽ cho bạn hai giải thích có thể về cùng một giấc
mộng. Nếu bạn đang làm sự thực hành tịnh hóa nào đó,
nằm mộng thấy bạn đang rửa hay tắm thì tốt. Nó chỉ ra
rằng sự tịnh hóa của bạn đang thành công và bạn đang
phát triển sự sáng tỏ của bạn.
Nếu
bạn đang không thực hành thiền định và bạn có một giấc
mộng như vậy, chúng tôi nói hãy cảnh giác, vì nó có thể
chỉ cho rằng bạn đang có mối nguy mất tiền hay tài sản.
M
: Ngài đã ngụ ý rằng khi sáng tỏ phát triển trong n
hững
giấc mộng, đôi khi người ta có thể dự đoán tương lai.
Ngài có kinh nghiệm về những giấc mộng của riêng ngài hay
của những vị thầy của ngài về việc này ?
N :
Nếu bạn phát triển sự sáng tỏ của bạn, bạn chắc chắn
có thể có những loại biểu lộ này ở trong những giấc
mộng. Qua những giấc mộng đó đôi khi bạn có thể khám
phá điều gì về tương lai. Những giấc mộng của sáng tỏ
được nối kết với trí huệ vốn sẵn của chúng ta và những
hạt giống nghiệp chúng ta đã tạo ra qua kinh nghiệm thiền
định và những hành động tốt trong cuộc đời. Về những
hạt giống nghiệp chúng ta đã tích tập, cũng có những khả
năng tiềm năng này trở thành biểu lộ. Những tiềm năng
này có thể trở nên biểu lộ khi có những điều kiện phụ(3)
để làm chín chúng. Với những điều kiện phụ thích hợp,
những biểu lộ như những giấc mộng của tương lai có thể
xảy ra. Chúng ta có thể tìm thấy nhiều thí dụ về những
biểu lộ trong tiểu sử của những vị thầy thiền định.
Chính
chúng ta cũng có thể có những giấc mộng như vậy, những
giấc mộng cho phép chúng ta thấy hay hiểu điều gì đó. Đó
là một phương diện của một giấc mộng của sáng tỏ. Chẳng
hạn, nhiều năm trước, 1960, khi tôi ở Ý khoảng một năm,
tôi đã có một giấc mộng trong đó tôi nói chuyện với ai
đó, nhưng không biết người ấy là ai. Người này giải thích
cho tôi tình hình chính trị sau đó ít lâu sẽ như thế nào.
Tôi
được nói cho nghe Trung Quốc và Liên Xô sẽ có những rắc
rối cụ thể. Tôi trả lời trong giấc mộng rằng điều đó
không thể, bởi vì tôi biết hai nước đó có một mối tương
quan sâu xa, họ chia sẻ nhau cùng một quan điểm chính trị.
Khi tôi ở Trung Quốc, có một hội đoàn Liên Xô hợp tác
với người Trung Quốc trong việc giáo dục và tuyên truyền.
Như
thế tôi nghĩ không thể có những vấn đề rắc rối gì giữa
Trung Quốc và Liên Xô cả. Tiếng nói vẫn nói với tôi rằng
sẽ có xung đột mâu thuẫn giữa hai nước. Nó không những
nói rằng sẽ có những vấn đề giữa Liên Xô và Trung Quốc,
mà còn sẽ có mối tương quan bạn bè giữa Mỹ và Trung Quốc.
Tôi trả lời điều đó không thể.
Tuy
nhiên, tiếng nói nói rằng điều đó sẽ xảy ra bởi vì hoàn
cảnh giữa Trung Quốc và Mỹ thì khác trong bản chất với
mối tương quan giữa Liên Xô và Trung Quốc. Mỹ và Trung Quốc
cả hai đều quan tâm đến làm ăn và trao đổi thương mại.
Họ không có vấn đề gì về phân chia ranh giới, khác với
Trung Quốc và Liên Xô, vì Mỹ và Trung Quốc rất xa nhau. Đó
là một trong những giấc mộng của tôi. Ngày hôm sau tôi kể
lại giấc mộng này với người phụ tá là Geshe Jampa Sangye.
Ông nghĩ rằng giấc mộng này thấy rất khó đúng được.
Sau
vài tháng, chúng tôi thấy báo chí nói rằng Trung Quốc và
Liên Xô có những vấn đề xích mích. Bạn tôi, vị Geshe rất
ngạc nhiên. Về sau ông còn ngạc nhiên hơn khi Mỹ và Trung
Quốc phát triển một liên lạc tốt hơn. Giấc mộng này là
một thí dụ về giấc mộng của sáng tỏ ; giấc mộng chứng
tỏ có thực.
Một
cách thức chính để cho những người thực hành sáng tỏ
trong giấc mộng là làm thực hành ánh sáng tự nhiên được
thành công. Qua điều này, có tỉnh giác trong giấc mộng. Nhưng
không chỉ tỉnh giác. Do làm thực hành này chúng ta tiếp tục
phát triển những giấc mộng của sáng tỏ và giảm bớt những
giấc mộng của bhaksha bình thường. Qua phát triển những
giấc mộng của sáng tỏ, tỉnh giác của những giấc mộng
phát triển.
Như
thế người ta có thể dùng nhiều phương pháp thực hành trong
trạng thái mộng. Có nhiều kỹ thuật thực hành mà chúng
ta không thể dễ dàng sử dụng vào ban ngày, bởi vì chúng
ta có những giới hạn trên cấp độ vật lý. Dù nếu chúng
ta có một ý niệm tốt đẹp thực hành những kỹ thuật ấy
như thế nào, chúng vẫn không dễ áp dụng. Trong lúc mộng,
do chúng ta không có sự vận hành của các giác quan, thế nên
chúng ta không bị giới hạn bởi thân thể vật lý và như
thế có thể dễ dàng áp dụng nhiều phương pháp.
Nhờ
kinh nghiệm thực hành trong trạng thái mộng, chúng ta có thể
có một kinh nghiệm rất mạnh mẽ và hiểu sâu sắc về bản
chất như mộng của cuộc đời thường nhật. Theo cách này
chúng ta giảm bớt những bám luyến và căng thẳng của chúng
ta, và có thể thực sự hiểu điều Phật Thích Ca nói khi
ngài tuyên bố rằng mọi sự thì không thật và như huyễn
hay như mộng. Kết quả bám luyến giảm bớt là do sự kiện
rằng bám luyến đặt nền trên một niềm tin mạnh mẽ rằng
những hiện tượng của cuộc đời này là quan trọng và thực.
M :
Một lần tôi có một giấc mộng trong đó tôi nhận từ cảnh
sát một giấy phạt vì đã đậu xe vào chỗ không đúng. Tôi
nhớ lại ngày hôm sau và quyết định phải rất cẩn thận.
Tôi bỏ tiền vào máy tính tiền đậu xe để chắc chắn khỏi
có giấy phạt. Khi đi dạo quanh tôi ý thức thời giờ để
về lấy xe cho kịp. Tuy nhiên khi trở lại xe, thì đã trễ
hơn một phút và tôi thấy một giấy phạt đúng như tôi đã
thấy trong giấc mộng. Tôi đã cố gắng để tránh hậu quả
này. Có thể thay đổi kết quả của một chuỗi sự kiện
sau khi mộng thấy chúng theo một cách nào đó ?
N :
Đôi khi bạn có thể hợp tác với giấc mộng sáng tỏ của
bạn. Nó có thể trở nên rất hữu dụng để bạn vượt
qua nhiều vấn nạn. Nhưng thay đổi những sự kiện thì không
dễ dàng lắm bởi vì mọi sự đều nối kết với những
nguyên nhân phụ. Đôi khi chúng là những nguyên nhân phụ rất
rắc rối, và bạn không thể làm gì nhiều. Tôi đã kể cho
bạn câu chuyện một người bạn của tôi ở Ý. Tôi đã có
một giấc mơ rắc rối về cô, nhưng tôi không thể làm gì
cả. Đó là một thí dụ. Tuy nhiên, đôi khi chúng ta biết
rằng một giấc mộng nói điều gì đó về tương lai, chúng
ta có thể sửa đổi những kế hoạch của chúng ta để ngăn
chặn một vấn nạn tiềm ẩn.
Một
lần, khi tôi chuẩn bị đi Trung Quốc trong lần viếng thăm
thứ hai, tôi đã có nhiều giấc mơ xấu đêm này qua đêm
khác. Tôi bị quấy nhiễu bởi những giấc mơ này và trở
nên quan tâm về chuyến đi Trung Quốc. Rồi vợ tôi Rosa và
con tôi Yeshe đến miền bắc Ý nghỉ hè. Kế hoạch của tôi
là bỏ đi Trung Quốc. Nhưng ngày họ ra đi đến miền bắc
Ý họ có một tai nạn xe hơi.
Rạng
sáng hôm ấy tôi có một giấc mộng xấu, tôi đang lái xe
thật nhanh. Tôi sắp đến một nơi hết đường và cố gắng
thắng xe, nhưng tôi không thể, bởi vì tôi lái quá nhanh. Nếu
tôi tiến lên, tôi sẽ rớt xuống một vực đá dựng đứng.
Tôi không biết làm sao và rất sợ hãi. Vào lúc đó tôi nhận
ra rằng tôi đang mộng và tình huống này không thật. Tức
khắc tôi nghĩ, “Tôi phải chuyển hóa nó.” Tức khắc tôi
chuyển hóa xe hơi thành một con ngựa. Bấy giờ tôi cỡi trên
một con ngựa, một con ngựa đá rất lớn. Tôi không rơi xuống
vực. Sau khi tỉnh dậy, vào bữa ăn sáng, một học trò của
tôi đến từ Rome chở tôi đến phi trường. Tôi nói với
anh ta về giấc mộng lạ lùng của tôi hồi đêm, và những
đêm trước tôi cũng có những giấc mộng xấu. Sau đó, trước
khi tôi ra đi, tôi nhận được một cú điện thoại từ bắc
Ý. Tôi nghe rằng Rosa và Yeshe đã có một tai nạn.
Tôi
nghĩ giấc mộng chỉ liên hệ đến tình huống xấu của họ,
nhưng họ cũng chẳng nguy hiểm lắm. Họ đang ở trong bệnh
viện, nhưng không trầm trọng. Tôi vẫn có ý định đi Trung
Quốc và ngày sau tôi sẽ đi Rome. Nhưng sáng hôm đó tôi có
một giấc mộng xấu khác. Tôi đã tỉnh dậy một nửa. Trong
trạng thái giữa mộng và thức có người nào nói với tôi
rất rõ ràng, “Ông chớ đi.” Thật rõ ràng. Rồi tôi tỉnh
dậy. Tôi nghĩ thật đã có ai nói, nhưng mới biết tiếng
nói đó ở trong mộng.
Tôi
đổi chương trình, và không đi Trung Quốc. Tôi không biết
cái gì xảy ra cho tôi nếu tôi đi vào lúc đó. Không dễ biết
cái gì đích xác là vấn đề. Điều duy nhất tôi có thể
nói là một tháng sau tôi nghe những tin tức rằng ở Lhasa
có nhiều người bị bắt bỏ tù và có cả một số bị giết
vì bị cho là có hại cho chế độ. Tôi không biết đó có
phải là vấn đề không, hay có lẽ liên quan đến máy bay.
Đôi khi có thể vượt qua số phận xấu bằng sự sáng tỏ
trong những giấc mộng ; điều này rất có ích.
M :
Rinpoche, ngài đã nói rằng vào lúc chết người ta có thể
dùng tỉnh giác đã phát triển trong thực hành ánh sáng tự
nhiên và trong thực hành giấc mộng. Tôi cũng có nghe nói rằng
sự tỉnh giác của người ta trở nên mạnh hơn đến bảy
lần sau khi chết. Xin ngài nói cho làm sao tự giải thoát vào
lúc chết và bao nhiêu kinh nghiệm một người Tây phương phải
có với những giấc mộng sáng tỏ để anh ta hay chị ta có
thể thành tựu giải thoát này ? Ý kiến ngài về chuyện này
?
N :
Nếu bạn có một số giấc mộng của sáng tỏ, bạn có thể
có những lợi lạc và những khả năng liên hệ đến giáo
lý và con đường. Tuy nhiên, nếu bạn quan tâm đến việc
dùng thực hành để giải thoát sau khi chết, bấy giờ bạn
phải có sự trao truyền phương pháp, và những giáo lý về
chủ đề này trong đời bạn.
Như
một thí dụ, chúng ta hãy thảo luận về shitro,(4) cái được
gọi ở Tây phương là Tử Thư Tây Tạng. Nó là một thực
hành liên hệ đến những biểu lộ an bình và hung nộ.
Khi
bạn nhận một trao truyền – sự cho phép của một vị thầy
để học trò thực hành một phương pháp đặc biệt – thì
qua thần lực của sự trao truyền ấy, một cái gì được
nối kết với tiềm năng của bạn, tiềm năng này cho đến
lúc ấy là tiềm ẩn như một hạt giống nghiệp chưa biểu
lộ. Sau đó bạn dùng kinh nghiệm thực hành của bạn trong
cuộc sống bạn. Thế có nghĩa là bạn đang khai triển khả
năng của sự biểu lộ của những tiềm năng của bạn.
Một
thí dụ giản dị về tiềm năng là một tấm gương. Nếu
bạn nhìn vào một tấm gương bạn khám phá ra là nó có tiềm
năng vô hạn. Nó có thể là một tấm gương nhỏ, nhưng dù
là tấm gương nhỏ nó vẫn có thể phản chiếu một cái thấy
toàn thể một vùng thôn quê. Sự phản chiếu thì vượt khỏi
kích cỡ của tấm gương. Qua những phản chiếu bạn thấy
trong tấm gương, bạn có thể khám phá tiềm năng vô tận
của nó ; sự phản chiếu là rất quan trọng để khám phá
bản chất đó.
Nếu
trong cuộc đời của mình chúng ta nhận một trao truyền và
rồi thống nhất thần lực của sự trao truyền đó nhờ thần
lực của thần chú, và sau đó thực hành và chuẩn bị cho
loạt những biểu lộ hung nộ và bình an của phương pháp
shitro xảy ra trong bardo của hiện hữu, trước bardo bình thường,
bấy giờ chúng ta có khả năng của sự biểu lộ ấy. Bởi
vì chúng ta chuẩn bị, chúng ta có tiềm năng cho sự biểu
lộ đặc biệt này, và vào lúc chúng ta nhận biết nó chỉ
là tiềm năng của chúng ta, không có cái gì khác.
Khi
chúng ta nhận biết điều này qua trao truyền và qua phương
pháp, bấy giờ chúng ta có thể giải thoát thực sự. Giải
thoát nghĩa là đi vào bản tánh đích thực của chúng ta. Chúng
ta không lệ thuộc nữa vào những tư tưởng và những phán
đoán và cái nhìn thấy bị quy định thuộc nghiệp.(5)
Khi
những hành giả của ban đêm chết, họ sẽ có khả năng giải
thoát. Đối với những người không có khả năng thành tựu
vào lúc chết theo cách này, có một sự trở lại bardo của
hiện hữu. Một sự trở lại như vậy có nghĩa là một lần
nữa chúng ta sẽ tái sanh và có lại chức năng của tâm và
thức của các giác quan, cả hai đều rất giống với phần
việc tương đương của chúng trong trạng thái mộng. Sự khác
biệt ở chỗ trong trạng thái mộng những tác dụng của các
thức chúng ta không nương dựa vào thân thể và các giác quan
vật lý. Vì lý do này chúng ta có sự sáng tỏ trong bardo bảy
lần hơn trong cuộc sống đời thường, như Mật thừa giải
thích.
M :
Tôi đã đọc nhiều câu chuyện của người Tây phương họ
có những kinh nghiệm giấc mộng sáng tỏ. Họ có thể chuyển
hóa một ác mộng thành một tình huống an bình hay có thể
vượt qua sự sợ hãi của họ trong một giấc mộng. Nếu
họ chưa bao giờ nghe về những thực hành Tantra và Dzogchen
nhưng có những kinh nghiệm về sự sáng tỏ và biết đủ
để chuyển hóa những giấc mộng xấu của họ thành những
hoàn cảnh tốt, thế thì trong bardo của hiện hữu họ có
thể chuyển hóa một biểu lộ hung nộ thành một biểu lộ
tích cực và ít ra đạt được một tái sanh thuận lợi, nếu
không nói là giải thoát trọn vẹn ?
N :
Nếu người ta có kinh nghiệm chuyển hóa một hoàn cảnh xấu
trong giấc mộng thành một hoàn cảnh an bình, điều này chỉ
có nghĩa người ta có kinh nghiệm này trong giấc mộng. Khi
người ta có khả năng chuyển hóa xấu thành tốt hay an bình
trong một giấc mộng, thế không có nghĩa là người ta cũng
có khả năng đó trong bardo sau khi chết.
Nếu
bạn muốn được giải thoát bạn phải có quyền lực để
nối kết với tỉnh giác của bản tánh đích thực của bạn.
Thật tánh của bạn thì không phải là một cái nhìn thấy
nhị nguyên. Những quan niệm tốt và xấu liên hệ với tri
giác mà tự thân nó là kết quả của nghiệp. Hiểu biết
bardo là chuyện khác. Trước hết bạn cần có một phương
pháp để khám phá tiềm năng của bạn, rồi bạn khám phá
tiềm năng của bạn thì vượt khỏi sống chết như thế nào,
và vượt khỏi những giới hạn của cái thấy bình thường
về tốt và xấu. Nếu bạn không có sự hiểu này về thật
tánh của bạn, tôi không nghĩ có một khả năng để tự giải
thoát trong bardo.
M :
Điều này đưa chúng ta đến những phương pháp của Dzogchen,
biết thật tánh của mình qua trao truyền trực tiếp và thực
hành giấc mộng và ánh sáng tự nhiên. Ngài có thể nói gì
về thực hành Dzogchen và người ta nhận trao truyền như thế
nào ? Làm sao những thực hành Dzogchen đưa đến khả năng
tự giải thoát vào lúc chết, hay thậm chí có những kinh nghiệm
về sáng tỏ trong khi sống ? Đâu là sự tương quan giữa mọi
thực hành giấc mộng và mọi điều chúng ta đã nói về Dzogchen,
nghĩa là, giữa những thực hành ban đêm và tỉnh giác của
Rigpa vào ban ngày ?
N :
Nguyên lý trong những giáo lý Dzogchen là hiểu biết. Chúng
ta cần hiểu hiện trạng đích thật của chúng ta. Chúng ta
chỉ có thể biết cái này nhờ hiểu biết về sự hiện hữu
của chúng ta. Chẳng hạn, chúng ta nói tâm là một trong ba
hiện hữu của chúng ta – thân, ngữ, tâm. Nó cũng là gốc
của ba hiện hữu. Khi chúng ta nói đến tâm, chúng ta muốn
nói tâm như là một thể trạng tương đối, với nó chúng
ta suy nghĩ và phán đoán. Chúng ta đi sâu hơn khi chúng ta nói
bản tánh của tâm. Nhưng có cách gì khám phá bản tánh của
tâm nếu chúng ta không biết tâm là cái gì.
Tâm
là phần của thể trạng tương đối của chúng ta, sự hiện
hữu của thân, ngữ, tâm của chúng ta. Khi chúng ta khám phá
sự hiểu biết về thể trạng đích thực của chúng ta trong
những giáo lý Dzogchen, chúng ta gọi nó là trạng thái của
Rigpa, hay sống trong bản tánh đích thật của chúng ta. Hiểu
biết này cũng là gốc của sự thực hành những giấc mộng.
Những
giấc mộng là một phần của đời sống chúng ta. Đời sống
chúng ta có ban ngày và ban đêm. Ban đêm chúng ta mê lầm trong
những giấc mộng của chúng ta ; ban ngày chúng ta mê lầm với
tâm chúng ta – phán đoán, suy nghĩ, tạo ra nhiều sự việc.
Chúng ta trải qua đời mình như vậy. Tỉnh thức hay tương
tục sự tỉnh giác của chúng ta trong thời gian mộng nghĩa
là duy trì cùng sự tỉnh giác chúng ta có lúc ban ngày. Nếu
chúng ta không có khả năng ở trong trạng thái của Rigpa, trạng
thái của hiểu biết đích thật, thì dù ban ngày với thực
hành tham thiền, chúng ta không thể có nó trong thời gian ban
đêm. Nó là cùng một nguyên lý. Nếu chúng ta có ít nhất
sự hiểu biết này của Rigpa trong ban ngày với nhiều kinh
nghiệm, bấy giờ khi chúng ta dùng hiểu biết này trong thời
gian ban đêm, sẽ dễ dàng hơn ở trong trạng thái này. Chúng
ta có thể có nhiều kinh nghiệm trong thời gian mộng hơn trong
thời gian ban ngày. Thế nên đây là sự tương quan của thực
hành với kinh nghiệm ban đêm.
M :
Đối với Tantra cũng thế chăng ?
N :
Vâng, trong Tantra ít nhiều cũng như trong Dzog-chen.
M :
Tôi có nghe cần thiết phải có sự trao truyền từ một vị
thầy để nhận được những thực hành này, cần thiết phải
hiểu chúng, phát triển chúng. Có phải ngài cũng có một sự
trao truyền từ một vị thầy để phát triển những thực
hành về tỉnh giác trong mộng ? Hình như có nhiều người
Tây phương có những kinh nghiệm với sự mộng sáng tỏ. Đâu
là mối liên hệ giữa trao truyền và phát triển sự sáng
tỏ trong trạng thái mộng ? Nó thiết yếu như thế nào ?
N :
Nếu bạn muốn có chỉ một kinh nghiệm giới hạn về những
giấc mộng, có tỉnh giác trong thời gian mộng hay thậm chí
những kinh nghiệm sáng tỏ nào đó, bạn có thể làm như vậy
dù bạn không nhận được sự trao truyền nào. Tuy nhiên, nếu
bạn muốn xem kinh nghiệm mộng là con đường của bạn, thấy
nó ảnh hưởng bạn bên trên đời sống của bạn, sau cái
chết, và dùng thực hành giấc mộng của bạn để chuẩn
bị cho bardo, bấy giờ bạn phải được trao truyền. Nếu
khác đi, bạn không thể vượt lên, và có khả năng dùng những
phương pháp khác nhau của sự thực hành.
Người
ta có thể về sau khám phá ra ý nghĩa của một giáo lý, dù
ngay lúc trao truyền họ không hiểu. Bạn cần có sự trao truyền
về cái tỉnh giác. Tỉnh giác liên hệ với sự sáng tỏ và
năng lực của chúng ta. Nếu bạn có một trao truyền thì sẽ
có một sự liên tục, một khả năng lập lại. Chẳng hạn
nếu bạn có sự trao truyền thực hành Shitro trong đời bạn,
thì bạn có khả năng cho sự biểu lộ của nó trong bardo.
M :
Nếu ngài đọc về những thực hành giấc mộng này trong một
cuốn sách, ngài có thể thực hành dù không có trao truyền
?
N :
Điều đó còn tùy. Một người có thể có một số kết quả
trong khi người khác không có. Không có gì bảo đảm. Nhưng
nếu bạn có một phương thức chính xác đi sau sự trao truyền,
bạn có thể có nhiều kinh nghiệm.
M :
Thế chẳng phải bản thân sự trao truyền làm nhẹ bớt nghiệp
của người ta hay tạo thêm công đức ?
N :
Mọi sự là tương đối.
M :
Rinpoche, có một bản văn của Dzogchen của Mi-pham (Chương 5
của sách này) giải thích sự thực hành tỉnh giác và tham
thiền. Làm thế nào người ta có thể hiểu sâu bản văn này
và áp dụng nó ngày và đêm ?
N :
Khi bạn đọc một cuốn sách bạn có thể hiểu tất cả những
quan niệm theo một cách trí thức. Nếu bạn nhận một trao
truyền từ một vị thầy, bạn có thể có một mùi vị khác.
M :
Rinpoche, có vẻ ngài có một phương pháp trao truyền không
chính thống hơn nhiều lama khác...
N :
Đó không phải là sáng chế của tôi. Đó là truyền thống
những giáo lý Dzogchen. Trong Dzogchen có một cách để trao truyền.
Tương tự như vậy, một vị thầy triết học trao truyền
hiểu biết và kiến thức qua ngôn ngữ của triết học. Phương
pháp này có tác dụng cho người đã đủ điều kiện cho nó.
Người có đủ điều kiện bởi phương pháp của Tantra có
thể nhận sự trao truyền qua nghi lễ. Người đơn giản có
thể nhận một trao truyền qua nói chuyện, như hai người,
hai người bạn với nhau. Điều này cũng là một cách trao
truyền và thông hiểu. Điểm chính là người ta phải kinh
nghiệm cái hiểu biết đích thật. Không có nó, người ta
có thể nhận hàng trăm quán đảnh nhập môn và giải thích,
nhưng chúng không làm thông thoáng gì nhiều trong cái thấy
hiểu Dzogchen.
M :
Có phải quan trọng là ý thức rằng mình đang nhận một trao
truyền ?
N :
Điều đó tùy thuộc vào người nhận sự trao truyền. Nếu
ai đó thực sự được chuẩn bị và có khả năng nhận sự
trao truyền, bấy giờ một người thầy dù trao truyền theo
cách nào cũng sẽ rất lợi ích, và người đó được lợi
lạc. Nếu người ta không được chuẩn bị và không có khả
năng, bấy giờ không dễ nhận sự trao truyền.
M :
Nếu có người nhận trao truyền, nhưng không hiểu ngay được,
thì vẫn có một giá trị lớn khi nhận nóù, hay giá trị
chỉ có khi hiểu được nó ?
N :
Nếu có người nhận một trao truyền nhưng không hiểu, bấy
giờ vào lúc đó không có lợi lạc nhiều. Khi bạn nhận một
trao truyền và bạn tỉnh thức dậy, thực sự bước vào một
trạng thái của hiểu biết, bấy giờ sẽ có những lợi lạc.
M :
Ở Tây phương, ít ra có một truyền thống tin rằng mọi yếu
tố của một giấc mộng tiêu biểu những khía cạnh hay những
phóng chiếu của người mộng. Họ có thể yêu cầu một người
tường thuật từng chi tiết để có được thông tin về người
nằm mộng. Ngài nghĩ gì về điều này ?
N :
Chúng ta phải phân biệt giữa những giấc mộng phát sanh từ
những bhaksha và những giấc mộng khởi sanh từ sáng tỏ.
Nếu chúng là những giấc mộng phát sanh từ những ấn tượng
hàng ngày, bạn có thể học được trạng thái của người
nằm mộng theo cách bạn đã diễn tả. Nếu những giấc mộng
phát sanh từ sự sáng tỏ, đó là một trường hợp khác ;
chúng không chỉ là sự phóng chiếu.
M :
Đi hay nói trong giấc mộng của mình có nghĩa là gì ?
N :
Nếu người ta đang ngủ rất sâu và họ có một giấc mộng
phối hợp với những bhaksha, những lo toan, họ sẽ cảm thấy
nó thật và rất cụ thể. Họ sẽ rất hòa nhập với tình
huống đó. Đó là tại sao họ không chỉ mộng mà còn đi
và nói. Nếu bạn thực sự tức giận trong một giấc mộng,
bạn cũng đứng bật dậy.
M :
Đôi khi có vẻ như những giấc mộng xảy ra theo chuyển động
nhanh. Tại sao điều này xảy ra ?
N :
Có hai lý do. Một là nói chung tâm của chúng ta không có giới
hạn. Tâm làm việc rất nhanh. Đôi khi trong một thời gian
rất ngắn chúng ta có thể mộng những hành động của cả
một ngày. Lý do khác là những giấc mộng có thể phối hợp
với xáo động, và khi chúng ta bị xáo động giấc mơ trở
thành nhanh.
M :
Có sự liên hệ nào giữa những giấc mộng và việc đưa
thông tin vào trí nhớ của chúng ta ?
N :
Có thể học và thậm chí huấn luyện mình ở trong giấc mộng
nếu bạn tỉnh biết.
M :
Khi người ta ngủ trong Tịnh Quang thì còn mộng không ?
N :
Nếu bạn ngủ trong Tịnh Quang bấy giờ những giấc mộng
của bạn trở nên nối kết hơn với sáng tỏ và rất ít
nối kết với những bhaksha. Những giấc mộng của bạn trở
nên rõ ràng hơn và có ý nghĩa hơn.
M :
Sự khác biệt giữa trạng thái mộng và kinh nghiệm khi thức
bình thường là thế nào ?
N :
Kinh nghiệm khi thức thì cụ thể hơn và nối kết với sự
bám luyến của chúng ta, trong khi mộng thì ít bám luyến. Chúng
ta dùng từ không thực bởi vì trong những giấc mộng chúng
ta đã có một ý niệm hay hiểu biết về sự việc.
M :
Đối với một lama hay hành giả mạnh mẽ, có khác biệt nào
giữa mộng và kinh nghiệm khi thức trong một nghĩa tuyệt đối
?
N
: Có lẽ nếu người ta thể nhập kinh nghiệm của người
ta một cách trọn vẹn, người ta có thể thấy cùng một nguyên
lý và cùng một tình trạng trong cả hai trạng thái. Bấy giờ
đời sống quả thực là một giấc mộng.
M :
Có sự liên hệ nào giữa thân huyễn,(6) được nói đến
trong Sáu Yoga của Naropa,(7) với việc mộng ?
N :
Mộng là con đường chính yếu cho sự thành tựu thân huyễn.
Nếu bạn có kinh nghiệm về thân huyễn bạn sẽ dễ dàng
hiểu những giấc mộng vận hành như thế nào.
M :
Giá trị của sự phát triển thân huyễn là thế nào ?
N :
Với một thân huyễn được phát triển bạn sẽ có sự chứng
ngộ hoàn toàn về cái không thực.
M :
Khi người ta phát triển khả năng của thân huyễn, người
ta có thể phóng chiếu thân này trong thời gian thức cũng như
khi ngủ ?
N :
Có thể bởi vì người ta hòa nhập mọi sự.
M :
Nếu người ta nhận một giáo lý hay trao truyền trong một
giấc mộng, cái này có chắc chắn như khi người ta nhận
một trao truyền khi thức ?
N :
Nếu bạn thực sự tỉnh biết trong trạng thái mộng thì giá
trị là như nhau.
M :
Ngài có nói rằng nói chung nếu bạn không minh bạch trong trạng
thái mộng khi bạn nhận một trao truyền, bấy giờ sự trao
truyền này không giá trị nhiều ?
N :
Đôi khi một giấc mộng trao truyền có thể chỉ ra một sự
quấy nhiễu của jabo(8) chẳng hạn.
M :
Mới đây tôi có một giấc mộng tôi với một lama và vị
ấy giải thích ý nghĩa một giấc mộng khác mà tôi đã có.
Đây là một giấc mộng của sáng tỏ ?
N :
Nó tùy thuộc vào cái được giải thích và ai giải thích.
Một giấc mộng như vậy không luôn luôn là một giấc mộng
của sáng tỏ. Cũng có thể ma quỷ tạo ra những vấn đề.
M :
Làm thế nào người ta có thể phân biệt một giấc mộng
của trao truyền thật sự và một giấc mộng của một sự
quấy nhiễu ?
N :
Tùy thuộc vào cái hiểu của bạn và bạn cảm thấy thế
nào. Khi sự sáng tỏ của bạn phát triển bạn sẽ phân biệt
được. Nếu đó là một quấy nhiễu bạn sẽ cảm thấy xáo
trộn vào hôm sau.
M :
Một vị thầy có thể đi vào những giấc mộng của học
trò ?
N :
Đúng vậy.
M :
Có những chuyện bất thường khác có thể xảy ra trong hay
qua những giấc mộng ?
N :
Bất thường là một từ tương đối, nhưng tôi sẽ kể vài
câu chuyện có thể minh họa. Một lần nọ rất nhiều năm
trước ở miền Đông Tây Tạng có một tỉnh, nó hiện giờ
vẫn còn. Có hai gia đình sống ở đó, họ liên lạc với
nhau. Một gia đình có một con gái. Mỗi ngày cô đến một
ngọn núi tên là Gundron
.
Gundron
là nhà của một vị thần quan trọng bảo vệ vùng này. Có
một tảng đá đặc biệt trên núi đó được biết là chỗ
nương dựa của vị bảo vệ địa phương này. Cô gái đến
gần tảng đá mỗi ngày, đưa gia súc đến đó thả cho đi
lang thang. Khi cô đến cô thường nghỉ dưới một hốc đá
trong khi thú vật gặm cỏ. Một hôm trời mưa, cô núp dưới
tảng đá và ngủ thiếp khá lâu. Trong giấc mộng cô thấy
mình ở gần tảng đá với một người trẻ và rất mạnh
mẽ. Với cô điều đó rất thực dù chỉ là một giấc mộng.
Họ nói chuyện với nhau và có sự tiếp xúc tình dục.
Sau
đó cô thức dậy và thấy chuyện này chỉ là một giấc mộng,
nhưng rồi vài tháng sau cô ngạc nhiên thấy mình có thai. Cha
mẹ cô rất ngạc nhiên vì không có người đàn ông nào chung
quanh nơi họ ở.
Sau
chín tháng cô sanh ra một đứa bé rất mạnh mẽ. Nó lớn
lên thành một người đặc biệt. Nó trông không dễ thương,
nhưng rất mạnh về thể lực. Nó xây một cái nhà bằng nhiều
thân cây lớn, và trở thành rất nổi tiếng bởi vì quá mạnh
mẽ.
Có
vị vua xứ Derge, Đông Tây Tạng, vào thời kỳ đó có những
rắc rối với những cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ. Nhà
vua yêu cầu tất cả đàn ông của vùng đó đi lính để bảo
vệ Tây Tạng. Người mạnh mẽ này trở nên rất nổi tiếng
vì đã chiến thắng nhiều binh lính Mông Cổ, và về sau thành
tỉnh trưởng. Câu chuyện này được viết trong một cuốn
sách tôi đã đọc, về lịch sử và nguồn gốc của gia đình
mẹ tôi. Bạn muốn biết tôi có tin câu chuyện này ? Ồ, có.
Có nhiều câu chuyện gia đình tương tự ở Tây Tạng. Những
câu chuyện như thế không quá đỗi hiếm hoi, lạ thường
trong lịch sử Tây Tạng.
Trong
truyền thuyết đạo Bon cổ thường nói đến Tirang. Tirang
là một loại chúng sanh, gần với con người, nhưng không hoàn
toàn là con người. Tirang thuộc về loại Nyen.(9) Trong loài
Nyen có những chúng sanh gọi là Masang hay Tirang.
Những
chúng sanh này được xem là gần với người. Như nói ở trên,
đã có những tiếp xúc tình dục giữa người và Tirang, và
những thế hệ đã được tạo thành. Có một cuốn sách khác
về lịch sử của vua Tây Tạng đầu tiên. Ông đến từ vùng
Đông Tây Tạng, từ một vùng gọi là Pu-el. Theo chuyện kể
này, được viết bởi một vị thầy Dzogchen thế kỷ thứ
mười một, có một người đàn bà tiếp xúc với một Tirang
và có những đứa con trai. Trong những đứa con trai này, có
người tên là Ou-er. Khi đứa trẻ lớn lên, một số tu sĩ
đạo Bon tiên đoán và tính chiêm tinh để biết nó là loại
người gì, bởi vì nó có những thần lực phi thường. Họ
hơi sợ những thần lực này. Thế nên họ nói rằng đây
có thể là một đứa bé Tirang và nó phải được đem đi
khỏi vùng còn không họ có thể có những rắc rối. Sau đó,
họ làm những buổi lễ để xua đuổi Tirang và rồi họ gởi
đứa bé ra khỏi Pu-el. Sau đó nó đến vùng Trung Tây Tạng.
Vào lúc đó Trung Tây Tạng không có vua. Khi dân chúng khám
phá ra đứa trẻ có thần lực phi thường, nó sớm được
chỉ định làm Vua Tây Tạng. Nó được gọi là Pu-gel. Gel
nghĩa là vua và Pu nghĩa là từ vùng Pu-el. Tên nó được biết
rộng rãi là tên của vị vua đầu tiên của Tây Tạng, nhưng
hầu hết người ta không biết nguồn gốc cái tên này. Sách
lịch sử mà tôi nói đến cho chúng ta câu chuyện này và những
thí dụ khác về sự tiếp xúc giữa người và Tirang.
Thí
dụ tiếp theo xảy ra mới đây thôi. Tôi định đi thăm địa
điểm của những vua Shang-Shung cổ ở Tây Tạng. Chúng tôi
đã đi bằng xe hơi, nhưng ngay trước khi đến, chúng tôi rời
xe và xếp đặt đi bằng ngựa và bò yak. Ở chỗ chúng tôi
dừng là những công trình cổ đổ nát, còn cổ hơn những
cái bị phá hủy hồi Cách mạng Văn hóa. Chúng tôi dựng lều
giữa những đổ nát này. Gần đó là một đống đất khác
thường, và tôi hỏi người địa phương chỗ này là cái
gì. Họ bảo trong thời xa xưa, đây là một tu viện đạo
Bon gọi là Tu Viện Shang-Shung. Bởi vì đây là tu viện rất
cổ, không có tin tức nào còn được biết.
Đêm
ấy tôi có một giấc mộng thú vị. Trong mộng có một ngôi
đền rất đẹp với bốn cửa nhìn ra bốn hướng. Tôi đi
vào cửa đông. Ở trong có một tượng khổng lồ của một
thiền giả với ba con mắt. Trong tay phải là một gyan-sen,
một ngọn cờ chiến thắng. Trong bàn tay trái là một kapala,(10)
một chén bằng sọ người. Tôi đến rất gần tượng và
thấy chữ Tây Tạng dưới thiền giả, tôi đọc “Tempa Namka”.
Tempa Namka là một vị thầy đạo Bon nổi tiếng của Shang-Shung.
Đấy không phải Tempa Namka của Tây Tạng, một trong hai mươi
lăm đệ tử của Padmasambhava.(11) Đấy là Tempa Namka của Shang-Shung,
ở vào thời còn xa hơn vị Tempa Namka kia.
Trong
giấc mộng, tôi rời đền theo cửa tây. Bên ngoài có nhiều
chorten(12) chung quanh tôi. Thình lình cái nhìn thấy của tôi
chuyển lại thành cái nhìn thấy hiện tại ; lại chỉ có
những đống đất và không có chorten nào.
Tôi
tự hỏi cái gì đã xảy ra. Rồi tôi trở lại để nhìn ngôi
đền, chỉ để khám phá rằng nó đã tan biến. Mọi cái còn
lại chỉ là những đống đất. Tôi ngạc nhiên. Tôi thầm
nghĩ : “Có một lần trong quá khứ một ngôi đền và nhiều
cái tháp đã ở đây, vậy mà ngày nay chỉ còn những đống
đất.” Trong giấc mộng tôi biết rằng đây là một kinh
nghiệm của sáng tỏ. Rồi tôi nhìn vào đống đất phía tây,
sự sụp đổ của một cái tháp. Có một ánh sáng đến từ
cái tháp này, giống như ánh sáng mặt trời phản chiếu từ
một viên pha lê hay một miếng thủy tinh. Khi tôi bước đến
ánh sáng, nó bắt đầu giảm bớt. Khi tôi đến tháp, ánh
sáng hoàn toàn biến mất, và có một cái lỗ trong tháp. Tôi
nghĩ, “Chắc phải có cái gì lạ trong lỗ này”, và đưa
tay vào bên trong. Đó là một cái lỗ rất sâu và tôi có thể
đặt cả cánh tay cho tới vai vào trong đó. Cảm thấy có một
cái gì trong lỗ, tôi lấy nó ra. Đó là một tượng garuda(13)
của thời Tempa Namka xa xưa ; tôi rất vui mừng với sự tìm
thấy của mình. Tuy nhiên, tôi biết rằng tôi đang mộng tất
cả sự việc này. Rồi tôi tỉnh dậy. Đó là lúc tháo lều
và tôi quên đi giấc mộng.
Khi
người ta chất đồ lên ngựa và bò yak tôi quay phim cảnh
đổ nát. Tới một lúc, tôi thấy mình gần đống đất đã
là cái tháp nơi tôi tìm thấy con chim garuda trong mộng. Vào
lúc đó tôi nhớ lại giấc mộng, và nhìn về phía nó xem
có ánh sáng không. Dù không có ánh sáng, tôi thấy cái lỗ.
Tôi đưa tay vào, nó không sâu như trong giấc mộng. Tôi phải
đào đất, làm gãy những móng tay. Khi tôi đạt đến gần
tới vai tôi thấy có cái gì đó. Tôi lấy nó ra. Đó là một
con garuda bằng kim loại, đúng như trong giấc mộng. Nó rất
cũ. Bạn có thể thấy nó ở một tấm hình trong phim tôi quay
về chuyến du hành Tây Tạng.
Sự
kiện này xảy ra gần Núi Kailash(14) ở Tây Tạng trong mùa
hè 1988. Đó là một thí dụ một giấc mộng liên hệ đến
sự việc gì cụ thể như thế nào.
M :
Những kết quả sau chót của sự làm việc với giấc mộng
là gì ?
N :
Nếu người ta tiến bộ đến mức cao cấp người ta có thể
dừng dứt sự mộng. Nếu người ta tiến bộ đến mức trung
người ta sẽ đến chỗ nhận biết mình đang mộng. Còn ít
nhất, nếu người ta thực hành, những giấc mộng của người
ta sẽ trở nên sáng tỏ và tốt hơn.
M :
Rinpoche, ngài có luôn luôn minh bạch trong những giấc mộng
của ngài ?
N :
Không luôn luôn. Nó tùy vào những hoàn cảnh.
CHÚ
THÍCH CHƯƠNG BỐN
1.
Oddiyana : Địa điểm và sự hiện hữu của xứ sở này được
các học giả tranh luận đã lâu. Nó được định chỗ ở
nhiều nơi khác nhau : trong thung lũng Swat của Pakistan, Afghanistan
và miền Tây Tây Tạng. Oddiyana được cho là nguồn gốc của
cả những Tantra Anuttara và những Tantra của Dzogchen, và được
xem là nơi sinh của Padmasambhava.
2.
: Norbu Rinpoche diễn tả những thực hành dùng chữ
của Tây Tạng trong chương hai của cuốn sách này.
3.
Những điều kiện phụ : Cách mà những điều kiện chính,
hay những hạt giống nghiệp, tương tác với những điều
kiện phụ để biểu lộ một giấc mộng báo trước tương
lai được giải thích dưới đây theo một thí dụ tưởng
tượng.
Do
những hành động xấu hoặc trong đời này hay trong những
đời trước, những cá nhân có những món nợ. Những món
nợ này là những tiềm năng nghiệp chúng tựu thành sự tổn
hại hay chết của cá nhân khi họ phải trả.
Trong
thí dụ của chúng ta, một cá nhân là một hành giả thiền
định mạnh mẽ và đã sống một đời đức hạnh lái chiếc
xe đến một người thợ máy để sửa chữa những cái thắng.
Người này lẫn người thợ máy không ai nhớ rằng trong một
đời trước này đã gây tổn hại cho người thợ máy.
Do
sức mạnh của hạt giống nghiệp, người thợ máy vô tình
không sửa chữa bộ thắng được hoàn hảo. Khi người hành
giả đang lái xe, người ấy ghi nhận một tiếng rít nhỏ
của bộ thắng một cách tiềm thức. Nhờ thực hành thiền
định, người này thường nhớ những giấc mộng của mình
khá sống động, và tối hôm đó anh mộng thấy anh có một
tai nạn xe hơi do hỏng thắng. Hôm sau anh lái trở lại chiếc
xe đến chỗ sửa xe, và khi kiểm soát sự hư hỏng của bộ
thắng được khám phá trước khi có một tai nạn.
Trong
câu chuyện của chúng ta, cả tín hiệu rít nhỏ và kinh nghiệm
của cá nhân trong việc nhớ lại những giấc mộng là những
điều kiện phụ trợ giúp cho giấc mộng về cái sẽ xảy
ra được biểu lộ. Trong trường hợp một hành giả thiền
định rất cao cấp, những điều kiện phụ có thể ở trong
lãnh vực mà thường được xem là kỳ diệu, phép lạ.
4.
Shitro hay Kar-gling-zhi-tro, một terma của Karma Lingpa. Sự thực
hành 58 hóa thần hung nộ và 42 hóa thần an bình, các vị này
khởi lên như những cái nhìn thấy trong chonyid bardo. Shitro
được phối hợp với tiến trình chết, đem đến sự sáng
tỏ cho những người thực hành nó và chuẩn bị cho họ vượt
qua những chướng ngại vào lúc chết. Nó cũng được người
sống thực hành cho lợi lạc của những người vừa mới
chết. Những bản văn này đã được biết sai ở Tây phương
như là Tử Thư Tây Tạng, do sự dịch lầm của Evans Wentz.
(Xem Tự Giải Thoát Nhờ Thấy Tánh Giác Nguyên Sơ của John
Reynolds.) Tên đúng của hai bản văn chính này là Bardo Thodrol
và Giải Thoát Nhờ Nghe trong Trạng Thái Trung Ấm. Có sáu bardo
hay “trạng thái trung ấm” tương đương với những kinh
nghiệm từ chết đến tái sanh, gồm kinh nghiệm sau khi chết,
tất cả được diễn tả trong Shitro Terma.
5.
Cái nhìn thấy theo nghiệp : Theo lý thuyết nghiệp của Phật
giáo, tri giác của chúng ta là kết quả của những hành động
trước kia, kết quả đó dẫn đến sự nhập thân vào một
lãnh vực nơi đó có một “thực tại” được tham dự.
Thật vậy, cùng một môi trường có thể được tri giác khác
nhau tùy theo “cái nhìn thấy” của mỗi người. Theo thí
dụ cổ điển của Phật giáo, một dòng sông loài người
thì thấy mát mẻ, trong khi chúng sanh cõi địa ngục thì thấy
là dòng nham thạch, và một con cá thì thấy đó là không khí
trong lành.
6.
Thân huyễn : được phát triển qua thực hành một trong Sáu
Yoga của Naropa.
7.
Sáu Yoga của Naropa : Những yoga này được Naropa kết tập.
Naropa là một đại thành tựu giả của truyền thống Kagyud.
Sáu Yoga là : Yoga về nội nhiệt Tumo, Yoga Thân Huyễn, Yoga
Giấc Mộng (Milam), Yoga Ánh Sáng, Yoga Bardo, và Yoga Phowa (chuyển
di thức).
8.
Jabo : Một loại chúng sanh gây ra những chướng ngại như bệnh
tật... Norbu Rinpoche nói rằng loại chúng sanh này có thể tạo
ra mê lầm trong giấc mộng.
9.
Nyen : Một loại hộ pháp, thường nối kết với một nơi
chốn đặc biệt như núi hay hồ.
10.
Kapala : Đồ chứa trong nghi lễ thường làm bằng xương sọ
người. Kapala là vật làm lễ từ Anuttara Tantra. Nó tượng
trưng lòng bi, và máu của tất cả các chúng sanh được tượng
trưng là chứa trong đó.
11.
Hai mươi lăm đệ tử của Guru Padmasambhava : Những đệ tử
chánh của đại sư Padmasambhava trong thời gian ngài dạy Pháp
ở Tây Tạng. Mỗi một đệ tử trong hai mươi lăm người
này lập nguyện tái sanh trong những đời tương lai trong hình
tướng con người để khám phá Terma cho lợi lạc của những
hành giả tương lai. Quan trọng cần ghi nhận rằng mọi Terma
đều đến từ Guru Padmasambhava ; một số cũng đến từ Vimalamitra.
12.
Chorten, cũng gọi là stupa (tháp) : Một kiến trúc phác họa
những cấp độ, giai đoạn của con đường đến giác ngộ.
Bên trong tháp thường chứa những xá lợi hay đồ pháp khí.
13.
Garuda (Sanskrit) hay khyung Tây Tạng : Một con chim huyền thoại
giống con ó. Ở Tây Tạng garuda tiêu biểu nguyên tố lửa.
Nó cũng là một biểu lộ của tia chớp. Garuda (Kim Xí Điểu)
hàng phục loài rồng. Garuda được đặc biệt cầu khẩn để
chữa các bệnh do loài rồng gây ra, như bệnh da và các loại
ung thư. Trong truyền thống Ấn Độ, garuda là nửa người
nửa chim và chở thần Vishnu. Garuda liên hệ đến Chim Sấm
hay Chim Lửa trong những thần thoại khác.
14.
Núi Kailash : Ở Tây Tạng, núi Kailash là núi thiêng liêng nhất
đối với Phật tử Tây Tạng. Nó được xem là sự biểu
lộ nguyên mẫu của ngọn núi thiêng ở trung tâm thế giới.
Nó cũng được những người đạo Bon, đạo Ấn giáo và đạo
Jain tôn thờ.
5 Phật
Không Xa Hơn Bàn Tay Mình
Chú
thích của người biên tập : Sau đây là một bản văn chưa
từng được dịch về con đường Dzogchen. Tác giả, đại
thiền sư Mipham Rinpoche (1816-1914) của phái Nyingma, đã thử
chỉ ra “thật tánh của tâm”.
Những
Giáo Huấn Tinh Túy của Tâm ;
Phật
Không Xa Hơn Bàn Tay Mình
I.
Con kính lễ Padmasambhava,
Và
Lama vinh quang là sự lưu xuất của đại trí Văn Thù(1) (và
giống như) tất cả chư Phật và những con của các ngài.
Cho
những ai muốn học thiền định (của) việc nhận biết thâm
nghĩa của tâm,
Tôi
sẽ giải thích ngắn gọn, con đường bắt đầu của những
giáo huấn cốt lõi.(2)
Ban
đầu cần thiết phải nương dựa vào những giáo huấn tinh
túy nhất của một Lama (có) kinh nghiệm chứng ngộ.
Nếu
người ta không nhập vào kinh nghiệm mà những giáo huấn của
Lama chỉ ra,
Bấy
giờ mọi kiên trì và cố gắng trong thiền định đều giống
như bắn tên trong bóng tối.
Vì
lý do này hãy khước từ mọi cái thấy hiểu hư hỏng và
giả tạo về thiền định.
Điểm
(cốt lõi) là đặt để (tỉnh giác của mình) trong trạng
thái không tạo tác, tự-an trụ ; khuôn mặt của trí huệ
trần trụi vốn tách lìa với vỏ bọc của tâm thức (nghĩa
là cái nó đồng hóa với).
Nhận
biết (trí huệ này), người ta đạt đến điểm thiết yếu.
Nghĩa
của “thường trụ từ vô thủy” là trạng thái tự nhiên,
không do tạo tác này.(3)
Đã
khai triển một tin chắc bên trong rằng mọi hình tướng xuất
hiện là tinh túy của Pháp thân,(4) chớ từ bỏ (hiểu biết
này).
(Buông
lung) trong những giải thích lan man (về đạo, con đường)
thì giống như đuổi theo một cầu vồng.
Khi
những kinh nghiệm thiền định sanh khởi như (sản phẩm) của
tỉnh giác về trạng thái không tạo tác vĩ đại, đó không
do chú tâm bên ngoài, (mà) do hộ trì vô tác (không hoạt động).(5)
Kỳ
diệu thay, (khi) người ta đạt được hiểu biết này.
II.
Vào lúc tốt đẹp (đi đến) trạng thái chặng giữa,
(Người
ta) duy trì trạng thái không dao động liên tục bằng nhớ
lại trạng thái tự-an trụ của tự tâm.
Chỉ
ở trong trạng thái này là đủ.
Tâm
không do tạo tác không gì khác hơn là cái này.
(Nếu
bị che ám) bởi những đám mây sanh khởi của tâm thức phân
biệt tạo thành một phân cách giữa chủ thể và đối tượng
thiền định,
Vào
lúc đó (hãy nhớ) bản tánh của tâm vốn là không tạo tác
từ vô thủy – tự tâm, trống rộng như bầu trời.
Thư
giãn nghỉ ngơi, giải thoát sự trói buộc và xua tan bám chấp.
Cái
hiểu biết tự-an trụ khôn