THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
 
Mật TôngTây Tạng
 

 
.
YOGA GIẤC MỘNG VÀ SỰ THỰC HÀNH VỀ ÁNH SÁNG TỰ NHIÊN
Namkhai Norbu - Michael Katz biên tập và giới thiệu
Dream Yoga and The Practice of Natural Light, Namkhai Norbu 
Snow Lion Publications, 1992 - Nhà Xuất Bản Thiện Tri Thức 2002

3  Chuyến Hành Hương Đến Maratika

Năm 1984, Norbu Rinpoche đi hành hương từ bắc Nepal đến tu viện Tolu, và đến động Maratika(1) nơi đại Thành Tựu giả(2) Padmasambhava(3) đã nhập thất với phối ngẫu của ngài là Mandarava.(4) Sau đây là một tường thuật một loạt những giấc mộng đáng chú ý Rinpoche có trên hành trình, bắt đầu với một giấc mộng đã có hai ngày sau khi đến tu viện.

Địa điểm của giấc mộng chính là Tu Viện Tolu. Nếu bạn mộng thấy một nơi chốn hay một sự vật bạn đã từng ở trong quá khứ, điều này thường phản ảnh một sự lập lại dấu vết nghiệp ; nếu bạn mộng thấy một nơi chốn hay hoàn cảnh bạn chưa từng ở, điều này phản ảnh một ước ao hay mong muốn. Ngược lại, nếu bạn mộng thấy nơi chốn bạn đang ở, điều này thường có ý nghĩa. Như thế tôi hiểu đây là một giấc mộng quan trọng.

Trong giấc mộng tôi ở động Tolu, và thậm chí có cả người đã đi cùng tôi cũng ở đó. Tôi đang dạy học trò, thì chú tôi tới. Tôi phải nói rằng người đến với chúng tôi không chỉ là chú của tôi, ông còn là một vị thầy chính của tôi, và là một hành giả phi thường và một terton.(5)

Tôi sẽ kể cho các bạn nghe một câu chuyện ngắn nói lên phẩm tính đáng ghi nhận của cuộc đời chú tôi. Khi tôi còn nhỏ, tôi sống gần một tu viện. Tôi còn nhớ có lần một con ngựa còn nhỏ bị chết. Đàn kên kên ăn con ngựa, nhưng ăn xong, một con kên kên ở lại. Chú tôi yêu cầu hai nhà sư đi đem con kên kên ấy về.

Khi trở về tu viện với con kên kên, hai nhà sư nói rằng con chim đã bị thương. Có một mảnh sắt nơi vai nó. Một nhà sư thử lấy nó ra, nhưng con kên kên vùng vẫy và chú tôi bảo ông ngừng tay và thả nó trong một khoảng vườn kín. Tôi nhớ mình đã thấy lạ lùng làm sao khi con kên kên yên lặng và thụ động như vậy. Thật vậy, toàn thể tình huống càng lúc càng trở nên lạ thường.

Hôm sau chú tôi bảo tôi cho kên kên một ít sữa. Khi tôi đến khu vườn hình bán nguyệt, với một sàn gỗ và nắp đậy trên, con kên kên ngồi im bất động. Tôi đặt sữa trước mặt nó. Hơi cử động cái đầu nó bắt đầu uống. Nó uống hết sữa tôi đưa, và khi uống xong nó bắt đầu chạy, và vỗ cánh nhè nhẹ. Vườn rộng nên nó có thể chạy một khoảng dài. Nó chạy đến gần cuối vườn, và rồi trên nửa đường trở lại, nó dừng lại và mảnh kim loại, một que sắt, rớt ra từ cánh nó. Ngay khi mảnh sắt rớt ra, con kên kên bay lên, ngắm hướng Đông nơi có núi lớn là Sitang. Tu viện Dzogchen(6) nổi tiếng ở sau núi đó. Đó cũng là ngọn núi chú tôi thường sống trong một cái hang.

Chúng tôi xem mảnh sắt rớt ra từ cánh kên kên. Nó khá dài. Khúc đầu cắm trong cánh có hình tam giác. Tôi còn nhớ âm thanh trong khi mảnh kim loại rớt ra từ đôi cánh. Câu chuyện này chỉ là một trong những chuyện lạ thường xảy ra quanh chú tôi.

Thế rồi, vào dịp ấy khi ở Tolu, chú tôi hiện ra trong giấc mộng của tôi. Trong giấc mộng ông khoảng mười bốn mười lăm tuổi. Ông nói với tôi rằng ông rất bằng lòng tôi đã cho một bài thuyết pháp đẹp đẽ, có ích cho bất kỳ ai. Tôi hỏi ông có thật sự nghe không. Ông trả lời ông đã nghe từng lời. Trong giấc mộng tôi đã dạy Thik Sum Nedek,(7) ba tuyên bố cuối cùng nổi tiếng của Garab Dorie.(8) Rồi chú tôi yêu cầu tôi giải thích gomter(9) của tôi về Namkha.(10) Tôi trả lời cho ông rằng giấc mộng của tôi về Namkha không phải là một gomter.

Hãy cho tôi giải thích điều tôi đang nói. Một vài năm trước, tôi ở thành phố New York. Tôi có một khóa thảo luận với sinh viên về chức năng của những nguyên tố và năng lực, cũng như về lịch sử Tây Tạng. Ở khóa này tôi giải nghĩa những nguyên tố và tác dụng của chúng theo truyền thống cổ của đạo Bon.(11) Đêm ấy tôi có một giấc mộng, trong đó có một cậu nhỏ mặc đồ màu xanh. Tôi hỏi cậu là ai, và cậu trả lời cậu tên là Puel. Puel là một vị thần nổi tiếng của đạo Bon, đặc biệt được biết về khả năng dự đoán theo chiêm tinh.

Tôi nói, “Nếu ông thực là Puel, hãy giải thích cho tôi về chức năng của những nguyên tố, và làm sao người ta có thể điều hòa chúng khi có những rối loạn.” Cậu trai bé nhỏ này mới giải thích những loại chức năng khác biệt của những nguyên tố, liên hệ với thân thể, đời sống, may mắn, khả năng v.v... Qua đó tôi khám phá nguyên lý chính xác của Namkha, phương pháp điều hòa những nguyên tố của một con người.

Tôi nói với chú tôi rằng giấc mộng này về Puel không phải là một gomter, nó chỉ là một giấc mộng, nhưng ông nhất định rằng nó là một gomter cho nên ông muốn có một sự trao truyền. Vì chú là thầy của tôi, tôi không cảm thấy thoải mái với lời yêu cầu của ông, nhưng ông cố nài nên cuối cùng tôi đọc cho ông cuốn sách, và như thế trao truyền cho. Sau khi xong, ông nói rằng Namkha sẽ là một thực hành quan trọng trong tương lai. Ông cũng nói rằng tôi phải thực hành và dạy về “thực hành năm bóng tối”. Tôi hỏi thực hành năm bóng tối là gì. Ông nói rằng sẽ có vài chỉ dẫn về sau này. Đó là một trong những giấc mộng của tôi.

Suốt những ngày chúng tôi ở Tu Viện Tolu, tôi có liên tục những giấc mộng cực kỳ quan trọng, và chúng tôi đến gần ngày hai mươi lăm, ngày có ý nghĩa về mặt chiêm tinh.(12) Tôi hơi khó ngủ. Với quan tâm điều gì xảy ra giờ đây, tôi đi ngủ, nhưng không thể ngủ chút nào. Cuối cùng, khi tôi ngủ, tôi thấy mình trong một loại giấc mộng, trong đó tôi đang nói với ai đó. Tôi thực sự không biết tôi đang nói với người nào khác, hay đang nói chuyện với chính mình.

Tiếng nói bảo tôi thư giãn, trước hết hơi thở, và rồi thân thể, cho đến khi tôi thấy mình trong trạng thái thư giãn của Samaya.(13) Tôi thầm nghĩ rằng tôi chưa bao giờ nghe nói về trạng thái thư giãn này của Samaya. Tuy nhiên, tôi cố gắng hoài và đặt mình vào trạng thái ấy. Có lúc, do sự khó chịu với những điều kiện ngủ ở Tolu, tôi thức dậy. Thật vậy, tôi thức dậy ít nhất hai hay ba lần trong khi cố gắng đi vào trạng thái thư giãn. Trong một dịp thức dậy ấy, tôi nhận được những lời dạy trong mộng rằng hãy tháo lỏng đôi xà cạp để leo núi, mà do vì quá mệt tôi đã không tháo ra trước khi đi ngủ.

Khi thức dậy nhớ những lời dạy, tôi cởi chúng ra, và ngủ lại một lần nữa, từ từ thư giãn vào trạng thái Samaya. “Chưa hoàn toàn”, tiếng nói nói, “chúng ta phải có hơi thở tươi tắn hơn, dễ dàng hơn.” Để tuân theo, tôi mở rộng lều cho không khí trong lành, dù lúc đó trời rất lạnh và gió nhiều. Một lần nữa tôi lại ngủ và đi vào Samaya. Tôi lại nghĩ rằng Samaya này không phải hoàn hảo, cũng không thực sự là một trạng thái tham thiền nhập định.(14)

Tiếng nói trở lại, bảo “Bây giờ điều phải làm, là đi vào trạng thái của Pháp giới (Dharmadhatu).(15) Như được chỉ dạy, tôi thư giãn, và hướng đến trạng thái của Pháp giới này. Khi ấy tôi thức giấc vì một tiếng ho từ lều bên cạnh.

Tôi đi ngủ lại một lần nữa, và hướng mình qua những cấp độ thư giãn liên tiếp nhau. Tái đi tái lại tôi thức giấc vì lý do này hay lý do khác, và rồi mỗi lần bắt đầu lại từ đầu. Rồi thình lình tiếng nói cất lên, “Chúng ta ở đây, đây là trạng thái của Pháp giới”, với tôi nó có vẻ là trạng thái tham thiền nhập định.

Bây giờ tiếng nói chỉ cho tôi hướng mình đến trạng thái khác. Khi tôi làm điều này, bắt đầu xuất hiện một loại tigle(16) tương tự với cái đã xuất hiện trong một giấc mộng trước ở động Tolu. Tôi cũng thấy một bản viết gì đó, và tôi thức dậy một lần nữa...

Tôi phải bắt đầu lại từ đầu, thư giãn trải qua những giai đoạn khác nhau cho đến khi tigle xuất hiện trở lại. Cái tôi thấy trong tigle là đầu đề một bản văn. Lần này sau đầu đề, có xuất hiện một bản văn, tôi nhìn vào đó thấy như một màn hình phim chiếu bóng. Lần lượt một loạt những thực hành thiền định xuất hiện. Tôi đọc từng trang, nhưng nếu ở điểm nào tôi không thể đọc, tôi chỉ cần nghĩ rằng nó không rõ ràng, và phần không rõ ràng sẽ trở lại. Nó tự lập lại như tôi có một loại điều khiển từ xa. Theo cách này tôi đọc toàn bộ bản văn từ đầu đến cuối ít nhất ba hay bốn lần.

Do những ngắt quãng tôi thường thức dậy. Nhưng mỗi lần tôi ngủ trở lại, và tôi bắt đầu với Samaya và mọi thứ còn lại, và rồi bản văn tiếp tục.

Thình lình có giọng nói, “Bây giờ ngươi đang ở trong trạng thái tiếp theo.” Cái phân biệt trạng thái này với trạng thái khác là bây giờ một ít chữ không hoàn toàn rõ xuất hiện chiếm toàn bộ không gian. Không chú tâm hay nhìn chăm chú, chúng xuất hiện. Như thế, tôi tiếp tục đọc và việc này tiếp tục không gián đoạn cho đến sáng.

Vào lúc này tôi ho mạnh và thức dậy. Những chữ vẫn còn dù mắt tôi đã mở. Đó không phải là một giấc mộng. Tôi thấy chúng một thời gian ngắn, và rồi chúng biến mất. Tôi nghĩ rằng có lẽ đây chỉ là ảnh hưởng của giấc mộng. Tò mò, tôi tiếp tục nhìn vào bầu trời. Trời rất trong và không có cái nhìn thấy nào nữa.

Tôi nhớ một lần tôi đang nhập thất ở Na Uy. Tôi đang giữa thời một thực hành khi cùng một điều như vậy xảy ra. Tôi nói với một số người về kinh nghiệm của tôi vào lúc đó. Trước kia tôi đã đọc về Snang-ba-yi-ger-shar(17) trong những tiểu sử của một số vị thầy thành tựu. Ở Na Uy tôi nhớ lại đã nghĩ rằng trước kia tôi không hiểu câu “Snang-ba-yi-ger-shar” có nghĩa gì. Dù sao, tôi ngủ lại một lần nữa, và thư giãn qua những giai đoạn liên tiếp. Trong giấc mộng, khi được dạy đi vào những trạng thái thư giãn khác nhau, thình lình tôi có một ý nghĩ về một trạng thái thậm chí còn hơn – một cái gì có tên là “Bya-grub-yeshe”, trạng thái cao nhất của trí huệ. Tiếng nói trả lời ý nghĩ tôi, “Nó sẽ đến khi mọi thứ đã trọn vẹn.” Rồi đến sáng. Tôi thực sự mệt mỏi. Người nào khác thì vẫn còn muốn ngủ. Đó là câu chuyện của ngày hai mươi lăm.

Ngày tiếp theo chúng tôi có một cuộc leo núi dài. Chiều hôm đó, khi tôi ngủ, tất cả xảy ra trở lại. Tôi lại đọc bản văn vài lần, và đặc biệt khoảng giữa các chữ không được rõ. Tới một lúc thình lình tôi thức dậy. Tôi thấy đầu mình phủ một tấm mền. Gió nhiều đến độ tôi phải tự che mình. Mở mền ra, tôi mở mắt và nhìn ngay vào bầu trời. Ở đó, rất ngắn ngủi, vẫn còn những chữ.

Bây giờ tôi muốn kể cho các bạn một giấc mộng vào đêm đầu tiên chúng tôi đến động Maratika. Trước khi vào giường tôi tự nghĩ rằng ngày mai sẽ là một ngày tốt đẹp để bắt đầu một thực hành thiền định sống lâu mà tôi đã mang theo. Tôi chưa hoàn toàn phát triển một phương pháp đặc biệt để làm thực hành này, nhưng tôi đã mang bản văn thực hành theo cùng bởi vì tôi nghĩ rằng Maratika là một chỗ tốt để thực hành nó.

Đêm ấy tôi mộng thấy tôi đang sửa soạn làm thực hành trong một cái hang lớn. Tôi đang giải thích phải thực hành như thế nào và đang làm lễ quán đảnh để cho những học trò thực hành. Bình thường, trong truyền thống của chúng ta, để làm một thực hành sống lâu, người ta cần một quán đảnh nhập môn sống lâu.

Những bạn nào biết tôi đều biết rằng tôi không phải là loại người kiểu mẫu trong việc làm những quán đảnh nhập môn tỉ mỉ và nhiều hình thức, nhưng tôi luôn luôn nói rằng cần thiết làm một loại quán đảnh(18) để cho phép thực hành. Trong giấc mộng tôi có ý niệm rằng trước tiên tôi sẽ cho một giải thích cẩn thận về ý nghĩa của quán đảnh. Khi người ta đã hiểu rõ nó, tôi sẽ ban cho quán đảnh với thần chú. Sau đó, chúng tôi sẽ thực hành chung ; điều đó tạo nên sự trao truyền lời nói.

Thế rồi, trong giấc mộng tôi giải thích mỗi điểm về quán đảnh là gì, bắt đầu bằng quán đảnh của thân. Vào lúc đó tôi nhận thấy có một người bên cạnh đưa cho tôi cái gì đó. Tôi quay qua phía người đó, và thấy rằng người ấy không phải một con người bình thường. Tôi chắc chắn điều này, bởi vì mới nhìn tôi thấy phần dưới của thân anh ta là thân một con rắn. Tôi nghĩ rằng có lẽ đây là Rahula,(19) một trong những hộ pháp, nhưng khi tôi nhìn vào mặt thì có vẻ khác. Rồi tôi nghĩ rằng có lẽ người ấy là, hay tượng trưng cho, một người nào tôi đã từng biết. Tôi nhìn lại – khuôn mặt người ấy giống như rồng. Thân thì màu trắng. Thình lình anh ta đặt cái gì đó vào tay tôi.

Nếu bạn đã có một quán đảnh, bạn biết rằng thường có người phụ giúp vị thầy bằng cách đưa cho vị thầy những đồ vật. Vào đúng lúc trong buổi lễ, người trợ tá đưa cho vật thích hợp. Trong giấc mộng người giống như rồng này đưa cho tôi một vật tròn để tôi xác nhận quán đảnh của thân tôi sắp ban.
 

Tôi cầm vật tròn vào tay. Đó là một cái gương, nhưng trên vành có mười hai cái gương nhỏ. Xung quanh tất cả những cái gương nhỏ này có một loại cầu vồng. Và nơi chu vi là lông công. Nó rất đẹp. Khi tôi cầm vào tay, tôi biết rằng đây là vật để làm quán đảnh thân.

Bình thường trong một quán đảnh, gương tượng trưng cho tâm, phương diện thông hiểu. Tức thời trong giấc mộng một giải thích đến với tôi : “Thân thể có vẻ có chất thể, nhưng nó thật là trống không. Biểu tượng cho điều này là sự phản chiếu xuất hiện như là hình thể của chúng ta trong gương.” Nói lời giải thích này xong, tôi dùng gương trong giấc mộng để ban quán đảnh của thân. Trong giấc mộng tôi chạm gương vào đầu của mỗi người nhận quán đảnh. Với mỗi người tôi cũng tụng một thần chú.(20)

Tiếp theo tôi bắt đầu giải thích quán đảnh của lời nói. Vào ngay lúc đó tôi cảm thấy sự hiện diện của một người khác bên trái tôi. Người này cũng đưa một cho tôi một vật để xác nhận. Vật đó là một xâu chuỗi (mala)(21) làm bằng những viên hồng ngọc đỏ sậm làm thành hình số tám. Tôi xem cẩn thận người đưa cho xâu chuỗi. Người ấy có một thân đỏ sậm, và chỉ có một con mắt. Tôi lại nghĩ rằng đây không phải là người bình thường, có lẽ là Ekajati.(22) Mặt khác, người ấy không hoàn toàn giống Ekajati, và trong tay bà là những đồ vật lạ lùng này. Dù sao, ngay sau khi trao tôi xâu chuỗi, tôi lại thấy mình ban cho một giải thích.

“Xâu chuỗi này tượng trưng cho sự phát âm liên tục của thần chú.” Tôi không chỉ giải thích tác động, chức năng của thần chú, mà cũng cho một giải thích rất khác thường về hình thức thần chú này, được trình bày trong hình thức một số tám. Điều này hoàn toàn lạ lùng bởi vì sự giải thích không có gì ăn nhập với thực hành sống lâu (Cedrup Gondus) của Nyala Pema Dendul(23) mà tôi đã đem theo đến đây.

Ngày hôm sau, sau khi mộng thấy một thực hành sống lâu khác dành cho dakini Mandarava, tôi khám phá rằng thực sự có một thực hành Yantik, nó bao gồm sự quán tưởng này. Trong lúc ấy nhân vật Ekajati đặt vào tay tôi một vật khác, vật này là một biểu tượng để cho quán đảnh của tâm. Vật ấy giống như một chữ Vạn, nhưng ở trên đỉnh có những cái đinh ba. Nó được làm bằng đá xanh trong suốt và quý giá.

Rồi tôi giải thích ý nghĩa sự trao truyền của tâm. Sau đó, tôi đặt vật này lần lượt ở trái tim của mỗi người. Cùng lúc đó tôi đọc chú liên hệ với quán đảnh của tâm. Sau khi tôi đặt vật ấy nơi trái tim của người thứ nhất, tôi thấy rằng nó để lại một dấu in và dấu in của vật ấy quay, với một âm thanh nho nhỏ. Nó có vẻ rất sống động. Khi tôi quán đảnh cho người kế tiếp, sự việc như vậy lại xảy ra. Cuối cùng khi tôi hoàn tất tôi thấy rằng mọi dấu in chữ Vạn vẫn còn quay. Tôi làm buổi lễ quán đảnh như vậy, và rồi tôi thức dậy. Ngày hôm sau tôi quyết định nhập thất trong hang. Nhiều học trò đi theo tôi trong cuộc hành hương này cùng làm thực hành Pema Dendul trong hang Manda-rava.

Ngày hôm sau tôi có giấc mộng đặc biệt khác. Dù nhiều người trong đoàn chúng tôi chưa đến, tôi nằm mộng rằng tất cả chúng tôi đều ở trong hang. Chúng tôi đã thực hành và tôi đang cho những giáo pháp. Có vẻ như giấc mộng của đêm trước được tái tạo lại một cách chính xác. Bên trái tôi là nhân vật màu đỏ với một con mắt. Một lần nữa bà cầm nhiều đồ vật trong tay ; lần này bà đưa cho tôi một quả cầu pha lê.

Bây giờ tôi rõ rằng vị này phụ giúp tôi khi tôi dạy. Tôi cầm pha lê vào trong tay và nhìn nó. Ở trung tâm của pha lê tôi thấy một chữ. Ngay khi vừa thấy chữ đặc biệt này, tôi biết rằng đây quả thực là Ekajati. Tôi cũng có một cái nhìn thấy trong mộng rất rõ ràng về hộ pháp Ekajati khuyên bảo tôi : “Đây là lúc để mở kho tàng tâm con của vòng đời sống của Vajra, sự thực hành dakini để đạt được sống lâu.”

Nhìn vào trong quả cầu pha lê nhỏ, tôi có thấy những tia sáng chiếu khắp mọi hướng từ chữ ở giữa, nhưng chúng không chiếu ra ngoài quả cầu. Khi cầm quả cầu tôi hỏi, “Vật gì đây ?” Bà nói, “Đây là ‘Ta-te’. Con phải làm ‘Ta-te’.” Tôi trả lời, “Con không hiểu.” Khi tôi nói thế, hình như pha lê biến mất trong tôi. Tôi nhìn quanh để thấy Ekajati, nhưng bà cũng biến mất.

Ngay khi thức dậy, ý nghĩ đầu tiên của tôi là “Ta-te”, và nó có nghĩa là gì. Còn lâu trời mới sáng, tôi có thì giờ, thế nên tôi tiếp tục tập trung vào từ ngữ “Ta-te”. Đây không phải là một chữ quen thuộc. “Ta” nghĩa là thanh tịnh, “te” nghĩa là đương đầu, hay đôi khi có nghĩa là lập danh sách. Trong trạng thái nửa thức tôi nghĩ về chữ này, thì chợt đến với tôi ý nghĩ tôi được yêu cầu viết ra bản văn, và về sau viết lại nó mà không dò theo bản văn thứ nhất để thử nghiệm sự chính xác của nó. Bây giờ thì rõ ràng điều tôi phải làm.

Sau khi tắm rửa, tôi lấy giấy và bút, và đi đến một hòn đá. Rồi không có một dàn bài nào, tôi viết bất kỳ cái gì đến với tâm trí tôi. Tôi viết vài trang, và cái nổi lên là một buổi lễ của Ekajati. Đây là sự bắt đầu. Sau đó tôi đi ăn sáng. Trong thời gian ăn sáng tôi yêu cầu một học trò đem cho tôi một cuốn sổ tay. Khi xong buổi ăn sáng mà bà ấy chưa trở lại, thế nên tôi lấy một cuốn sổ tay khác đến một chỗ đặc biệt nơi tôi đã ở ngày đầu tiên, một nơi thần lực của Maratika, và ngồi xuống.

Tôi sắp bắt đầu thì bà học trò đến với một cuốn sổ tay màu đen và một cây bút đỏ. Tôi bắt đầu viết, như là viết một lá thơ. Tôi mở đầu bằng địa danh Mara-tika, giờ và ngày. Lúc đó là 9 giờ 15 sáng. Khi tôi đang viết, những người trong nhóm tôi đi đến. Một số họ không biết tôi đang làm gì. Khi họ đến gặp tôi, tôi cố tránh họ.

Dù những gián đoạn, tôi viết xong lúc 12 giờ 15. Khi chấm dứt, tôi đã dùng hết trang cuối cùng, đúng vào dòng cuối cùng của cuốn sổ tay. Có vẻ đó như có chủ ý sắp đặt. Tôi tự nghĩ rằng đó là một dấu hiệu tốt.

Trở lại chỗ đóng lều, tôi đưa bản văn cho hai học trò giữ trong vài ngày. Tôi nghĩ sau vài ngày nữa tôi sẽ viết lại. Đó sẽ là “Ta-te”, bản thứ hai để đối chiếu với bản thứ nhất để xác định sự đích xác của nó. Điều này sẽ là chứng cớ rằng bản văn là đích thực chứ không phải chỉ là một trò chơi của trí năng.

Hai ngày trôi qua. Vào ngày thứ ba, tôi có một giấc mộng chỉ cho rằng thời gian đã đến để viết và làm vài minh giải. Sau khi hoàn thành thực hành buổi sáng tôi lại ngồi viết, và tiếp tục cho đến buổi ăn trưa. Lần thứ hai tôi viết ra bản văn thì rất an bình và chữ viết dễ dàng. Lần này mất hai giờ rưỡi. Rồi tôi yêu cầu đem bản chánh lại, và chị tôi so sánh hai bản. Gần như không có khác biệt nào, chỉ trừ hai hay ba sửa chữa về văn phạm.

Đây là câu chuyện nguồn gốc bản văn thực hành này, một thực hành để phát triển một đời sống lâu và vững chãi. Bản văn gồm những thần chú, những thực tập hơi thở và kiểm soát năng lực cũng như quán tưởng. Cũng có những giáo huấn về những luân xa và những kinh mạch. Trong truyền thống Tây Tạng loại thực hành này thường được đóng dấu niêm phong, nghĩa là nó được giữ bí mật trong rất nhiều năm. Khi bạn đang giữ một vật bí mật như vậy bạn thậm chí không được phép nói rằng bạn đang giữ một vật bí mật. Trong trường hợp này điều đó không cần thiết. Không có sự chỉ dẫn bản văn ấy cần được niêm kín. Tôi không có bí mật để giữ gìn ; bởi thế, tôi nói về nó. Tôi cũng nói về nó ở Maratika, và đã làm sự trao truyền những thần chú.
 

CHÚ THÍCH CHƯƠNG BA

1. Động Mandarava ở Maratika : Bắc Nepal, nơi Norbu Rinpoche đã ẩn cư năm 1984, có hai động thiêng. Cái lớn gắn liền với Padmasambhava, và cái nhỏ với Man-darava. Vào thế kỷ thứ bảy, Mandarava – cùng với Guru Padmasambhava – đã thực hành và đạt được bất tử trong động này, do đó nó được biết là Động của Đời Sống Thọ.

2. Mahasiddha : Sankrit, nghĩa đen là “Đại Tinh Thông”. Maha là đại, siddha là người đã đạt được siddhi – những năng lực tâm thần và tâm linh. Trong Phật giáo Tây Tạng có kiểu mẫu Tám Mươi Bốn Đại Thành Tựu Giả (Mahasiddha) gồm đàn ông và phụ nữ đã đạt những năng lực siêu nhiên. Những hành giả tantra này sống ở Ấn Độ và Nepal vào thế kỷ thứ tám.

3. Guru Padmasambhava : Sanskrit, padma (hoa sen) và sambhava (sanh). Một đạo sư Phật giáo Ấn Độ về Tantra và Dzogchen từ Oddiyana. Ngài được biết là “Liên Hoa Sanh” vì sự sanh ra kỳ diệu từ hoa sen. Guru Padmasambhava biểu lộ một cách tự phát là một chú bé tám tuổi ngồi trên một hoa sen giữa hồ ở Oddiyana. Ngài đưa Phật giáo đến Tây Tạng từ Ấn Độ ở thế kỷ thứ tám. Với những năng lực phi thường của mình, Guru Padmasambhava chiến thắng những chướng ngại ngăn cản Phật giáo cắm rễ vào đất Tây Tạng.

4. Mandarava : Công chúa Ấn Độ này từ Mandi là một trong những phối ngẫu chính của Padmasambhava. Bà bỏ cuộc đời vương giả để thực hành Pháp. Bà được biết tiếng nhất do làm chủ sự thực hành sống lâu với Padmasambhava. Bà được cầu khẩn trong một số nghi thức Tantra nhằm mục đích kéo dài tuổi thọ.

5. Terton : Người khám phá terma, hay những bản văn Pháp được cất dấu với mục đích để được khám phá về sau. Những terma được tin là dấu trong cây, hồ, đất và thậm chí trong bầu trời.

6. Tu Viện Dzogchen : Trong thế kỷ mười bảy, ở Kham (Đông Tây Tạng) Tu Viện Dzogchen được xây dựng bởi Dzogchen Rinpoche thứ nhất, Pema Rigzin. Nó trở thành tu viện lớn nhất của Nyingma. Tu viện được xem là một trong hai mươi lăm nơi hành hương lớn của miền Đông Tây Tạng. Sát cạnh tu viện là động thiêng của Padmasambhava và ba hồ thiêng. Nhiều học giả nổi tiếng của tất cả bốn phái Phật giáo Tây Tạng và từ truyền thống Bon đã học ở Tu Viện Dzog-chen. Patrul Rinpoche và Mipham là hai vị trong số đó. Năm 1959 Tu Viện Dzogchen bị người Trung Quốc hủy hoại. Tu viện hiện giờ được xây lại ở Mysore, Nam Ấn Độ.

7. Thik Sum Nedek : Ba tuyên bố của Garab Dorje. Bản văn này tóm lại những giáo lý Dzogchen trong ba điểm thiết yếu : (1) Sự giới thiệu trực tiếp trạng thái bổn nguyên từ thầy qua trò. (2) Người thực hành không nghi ngờ gì nữa về trạng thái bổn nguyên là thế nào. (3) Người thực hành tiếp tục trong trạng thái của tánh giác bổn nguyên cho đến khi chứng ngộ hoàn toàn.

8. Garab Dorje : Theo những nguồn truyền thống của Nyingma, Garab Dorje sống 166 năm sau parinirvana (bát Niết bàn) của Phật. Có nói rằng Garab Dorje được mang thai một cách vô nhiễm bởi công chúa làm ni, con của một nhà vua ở Oddiyana. Vị ni này đang thực hành trên một hòn đảo giữa một cái hồ thì có một giấc mộng. Cô mộng thấy một người đàn ông đẹp đẽ, mặc đồ trắng cầm một bình pha lê với những thần chú khắc trên đó. Người này ban quán đảnh cho vị ni, và rồi tan thành ánh sáng vào trong thân thể vị ni. Thời gian sau giấc mơ này, cô sanh ra Garab Dorje. Theo những nguồn Nyingma, Garab Dorje là đạo sư Dzog-chen đầu tiên thuộc loài người. Trong đời trước ở một cõi khác, Garab Dorje đã nhận trao truyền Dzogchen trực tiếp từ biểu lộ báo thân của Vajrasattva. Sau khi sanh vào cõi người, Garab Dorje lập tức nhớ lại những giáo lý Dzogchen và dạy cho một tầng lớp chúng sanh là những dakini ở xứ sở thiêng liêng Oddiyana. Ngài cũng có những đệ tử người, một trong số đó là Manju-shrimita, người tổ chức những giáo lý của Garab Dorje thành Semde, Longde, và Managede. Để biết thêm về Garab Dorje, xem Những Chữ Vàng của John Reynolds, nhà xuất bản Snow Lion, 1996. (Bản dịch Việt ngữ của nhà xuất bản Thiện Tri Thức, 2002.)

9. Gomter : “terma tâm”, một terma khám phá trong dòng tâm của một terton.

10. Namkha : Một phương pháp thực hành để quân bình những nguyên tố. Một namkha được làm phù hợp với bản chiêm tinh ngày sanh (bản tử vi) của một người. Nó gồm hai miếng gỗ và một sợi dây năm màu, mỗi màu tượng trưng một nguyên tố : trắng, kim loại ; lục, gỗ/không khí ; đỏ, lửa ; vàng, đất ; và xanh, nước. Sợi dây màu được quấn quanh miếng gỗ trong một cách thức làm tác động điều hòa những nguyên tố của mình. Những namkha được một vị thầy cho phép thực hành, và người thực hành được ban cho chỉ dạy thiền định về một nghi lễ mà nếu thực hành chung với nam-kha, có thể có thể làm quân bình những nguyên tố của người ta.

11. Bon : là tôn giáo cổ và địa phương của Tây Tạng, nguồn gốc của nó có trước khi Phật giáo vào Tây Tạng rất lâu. Theo Lopon Tenzin Namdak, đạo Bon ở Tây Tạng có khoảng 18.000 năm trước công nguyên. Bon chia thành hai : Bon Cổ và Bon Tân hay Bon “Yung-drung”. Bon Cổ có những thực hành theo thuyết vạn vật hữu linh và bùa chú, trong khi Bon Yung-drung chia sẻ nhiều tương đồng với Phật giáo, đạo này đã đến Tây Tạng vào thế kỷ thứ tám từ Ấn Độ. Theo Namkhai Norbu Rinpoche và Lopon Tenzin Namdak, Dzogchen thuộc về truyền thống cổ của Bon, và được thực hành ở Tây Tạng đã lâu trước khi Phật giáo được du nhập.

12. Ngày hai mươi lăm : Ngày hai mươi lăm âm lịch, khi mặt trăng khuyết, được biết là Ngày Dakini. Ngày Dakini nối kết với năng lực giác ngộ thuộc nữ tính trong thời gian này. Ngày Dakini là một thời gian tốt lành để làm Ghana Puja (Lễ Tiệc Dâng Cúng).

13. Samaya : Dù từ samaya thường được dịch là “cam kết”, và thường liên quan đến sự duy trì một thực hành thiền định hay thệ nguyện sống một cách trong sạch, trong thực hành giấc mộng nó có ý nghĩa riêng. Trong giấc mộng của Norbu Rinpoche, những từ Samaya và Dharmadhatu ám chỉ những cấp độ liên tiếp sâu hơn của sự thư giãn, buông xả.

14. Tham thiền : Sự thực hành chủ yếu của Dzogchen trong đó người ta liên tục ở trong một trạng thái tự-giải thoát. Trong trạng thái này người ta vượt khỏi mọi ý niệm của tâm thức nhị nguyên bình thường, tuy nhiên người ta hoàn toàn có khả năng sử dụng trí năng và tâm thức lý tính. Tham thiền không bao gồm cố gắng tìm thấy những kinh nghiệm của tĩnh lặng hay sáng tỏ, cũng không tránh những phóng dật. Trong tham thiền, khi một tư tưởng sanh khởi nó không bị đè nén cũng không được theo đuổi, mà tự-giải thoát và tan biến một cách tự phát. Đây là sự thực hành giải thoát tất cả cái gì sanh khởi mà một vị thầy Dzogchen đưa vào khi ông cho những giải thích về bản tánh của tâm.

15. Dharmadhatu : Từ này theo bình thường ám chỉ nền tảng tối hậu của hiện thể, và chiều kích của thực tại đúng như nó là. Tuy nhiên, trong bối cảnh giấc mộng nó đặc biệt nói đến cấp độ thư giãn sâu nhất.

16. Tigle : Có nhiều định nghĩa khác nhau của tigle. Trên một cấp độ, nó được định nghĩa là cái gì không có góc, một vòng tròn hay một quả cầu, như chữ bindu (giọt, hạt) của tiếng Sanskrit chẳng hạn. Tigle cũng được định nghĩa như chiều kích bên trong của một quả cầu. Tigle Chenbo (Khối Cầu Lớn), nghĩa là “cái bao gồm mọi sự”, là một từ khác của Dzogchen. Tigle cũng được biết như “tinh túy”, như trong nying thik, “tinh túy của tâm”. Trong một định nghĩa khác, tigle là tinh khí nơi đàn ông, và tinh dịch nơi đàn bà, chúng là những phương tiện vật chất để chuyên chở năng lực. Theo Yantra Yoga, tigle được định nghĩa là hình thức tinh chất nhất của năng lực vi tế của thân thể, cũng như Kudalini trong Sanskrit. Những tigle cũng là những quả cầu nhỏ ánh sáng cầu vồng sanh khởi với sự bắt đầu của những cái nhìn thấy trong thực hành togel.

17. Snang-ba-yi-ger-shar : Sự sanh khởi tự phát của các chữ.

18. Quán đảnh : Nhập môn, trao truyền và truyền pháp của thân, ngữ, tâm. Hiện hữu con người được làm bằng thân, ngữ, tâm. Thứ nhất, có chiều kích của “thân”, nó là sự tương quan lẫn nhau sinh động giữa thân người ta và môi trường vật chất chung quanh. Có hai từ Tây Tạng khác nhau để chỉ “thân”. Lu là thân vật chất thô của một người bình thường, trong khi ku ám chỉ thân cao cả của một người giác ngộ. Thứ hai, có chiều kích của năng lực của chúng ta gọi là “ngữ”, nó biểu thị bởi ngữ, hơi thở và năng lực tâm linh. Ngữ bình thường được biết như là ngag, trong khi ngữ giác ngộ là sung. Trong chiều kích của tâm hay ý, có yid, tâm bình thường, và thuk, tâm giác ngộ. Với trao truyền từ thầy qua trò, xảy ra một khả năng liên lạc trên ba cấp độ : vật chất, năng lực và tâm thức. Sự trao truyền Dzogchen của vị thầy là cho mục tiêu phát hiện bản tánh chân thật của cá nhân. Quán đảnh truyền pháp hay wang là một nghi lễ trong đó sự trao truyền này xảy ra. Truyền pháp, đặc biệt trong Phật giáo Mật thừa, có thể cực kỳ tỉ mỉ, sử dụng những dụng cụ tượng trưng và nghi lễ. Trong Dzogchen, phương pháp giới thiệu trực tiếp, đưa vào trực tiếp, nó có thể tỉ mỉ hay không tỉ mỉ, được dùng để giới thiệu người ta với bản tánh của tâm họ. Xem sự đưa vào trực tiếp này trong Những Chữ Vàng, John Reynolds.

19. Rahula : Một hộ pháp chánh của những giáo lý Dzogchen. Rahula biểu lộ trong một hình thức đáng sợ và dữ dội. Ngài có thần lực cực độ, và theo Namkhai Norbu Rinpoche, nếu không được kính trọng có thể gây tai hại đáng kể.

20. Mantra : Nghĩa đen, “bảo vệ tâm”. Mantra (thần chú) là sự phát âm những âm tiết thiêng liêng. Những thần chú khác nhau có những chức năng khác nhau : một số được dùng để kích động và làm hoạt động năng lực của người ta trong khi một số khác tạo ra một hậu quả bình an và bình lặng. Mục đích tối hậu của thần chú là giúp cho hành giả vượt khỏi tư tưởng nhị nguyên. Nhiều thần chú nối kết với bổn tôn riêng biệt, và trong nghi lễ Mật thừa chúng được trì tụng cho đến khi người ta đạt đến cùng những phẩm tính giác ngộ như bổn tôn.

21. Mala : Trong truyền thống Phật giáo một mala hay xâu chuỗi gồm 108 hạt dùng để đếm lần trì chú.

22. Ekajati : là hộ pháp chánh của những giáo lý Dzog-chen. Giác ngộ từ vô thủy, Ekajati là một xuất sanh (trulpa) trực tiếp của trí huệ bổn nguyên, Samantabhadri, vị này là phương diện nữ tính của Phật bổn nguyên Samantabhadra (Phổ Hiền). Là bậc giác ngộ bổn nguyên, Samantabhadri có trí huệ biết tất cả tám mươi bốn triệu giáo lý của Dzogchen. Ekajati biểu lộ có thể thấy được trong một hình tướng hung nộ để hàng phục loại chúng sanh rất có thần lực và tiềm ẩn sự phá hoại gọi là Mamos. “Ekajati” nghĩa là “một mắt”, nó tượng trưng trí huệ. Thân thể vị này có những cái độc nhất : một mắt, một răng, và một vú. Những đặc trưng này tượng trưng tánh giác bất nhị. Là nữ hộ pháp thủ lãnh của những giáo lý Dzogchen, vị này tiếp xúc với một terton hay vị thầy Dzogchen khi thời gian đã chín cho việc phát hiện một giáo lý hay một terma. Norbu Rinpoche đã nhận một sadhana từ Ekajati như là phần của gomter này về thực hành Mandarava. Sadhana là một khẩn cầu, trong đó hành giả yêu cầu Mandarava xóa sạch những chướng ngại đến chứng ngộ hoàn toàn và ban cho sự che chở trên con đường.

23. Cedrub Gondus : “Sự Hợp Nhất của những Tinh Túy Bổn Nguyên”, sự thực hành sống lâu mà Norbu Rin-poche đã đem đến Maratika. Thực hành sống lâu này là một terma của bổn sư của Changchub Dorje, Nyala Pema Dendul (1816-1872). Sự thực hành nguyên được trao truyền trực tiếp từ Phật Amitayus (Vô Lượng Thọ) đến Guru Padmasambhava. Trong động thiêng Mara-tika ở Bắc Nepal, Dakini Mandarava và Guru Padma-sambhava đã thực hành và làm chủ sự hợp nhất những tinh túy bổn nguyên và đạt được bất tử. Vào thế kỷ thứ tám, để lợi lạc những thế hệ tương lai, Guru Padma-sambhava viết ra sự thực hành và đặt nó như một kho tàng được che dấu trong một núi ở Đông Tây Tạng. Khoảng một ngàn năm sau, trong thế kỷ mười chín, Nyala Pema Dendul tái khám phá “kho tàng che dấu” hay terma này. Trong vài năm ngài thực hành terma sống lâu này một cách mãnh liệt. Vào cuối đời ngài đạt đến thân ánh sáng cầu vồng. Nyala Pema Dendul trao truyền sự thực hành cho Changchub Dorje và Ayu Khandro, cả hai thực hành nó và do đó sống lâu lạ thường – 137 năm và 116 năm theo thứ tự. Hai vị này cũng đạt thân ánh sáng. Namkhai Norbu Rinpoche nhận sự trao truyền terma này từ cả Changchub Dorje và Ayu Khandro, và có trao truyền sự thực hành để làm lợi lạc cho các đệ tử.


4  Một Phỏng Vấn Norbu Rinpoche

Michael : Tôi muốn hỏi ngài vài câu hỏi về những giấc mộng. Trước hết, lịch sử thực hành giấc mộng ngài đã làm là như thế nào ?

Norbu : Anh muốn nói gì với chữ “lịch sử” ?

M : Khi nào và do ai sự thực hành đầu tiên về giấc mộng được dạy ? Ai có tiếng trong việc dạy nó ?

N : Không dễ trả lời điều này, bởi vì những giáo lý dạy về giấc mộng đến từ nhiều loại giáo lý tantra khác nhau, đặc biệt Mahamaya Tantra, nhưng cũng từ những giáo lý Dzogchen.

M : Khi nào Mahamaya Tantra được viết ?

N : Vượt khỏi thời gian ; bạn không thể nói khi nào nó được viết.

M : Có tác giả riêng biệt nào không ?

N : (cười) Không có tác giả của những giáo lý tantra. Có lẽ một mahasiddha đã trao truyền giáo lý này và du nhập nó từ Oddiyana(1) vào Ấn Độ. Sau cùng, Saraha giới thiệu Guyasamaja Tantra, và Tilopa giới thiệu Chakrasambhava Tantra. Có thể điều đại loại như vậy được xem là lịch sử sự trao truyền của một tantra, nhưng không có lịch sử nguyên bản của những tantra.

M : Rinpoche, đôi khi ngài dạy những thực hành giấc mộng trong đó người ta quán tưởng một chữ  (2) trắng ở trái tim, nhưng có khi khác ngài dạy cần quán chữ   ở cổ họng. Đâu là những hoàn cảnh khác nhau khi thì quán chữ   ở tim khi thì ở cổ họng ?

N : Quán tưởng chữ “A” ở cổ họng thì đặc biệt cho việc nhớ lại những giấc mộng. Quán tưởng chữ “A” ở cổ họng có tác dụng kiểm soát năng lực và sự sáng tỏ. Khi bạn quán tưởng chữ “A” trắng ở tim, bạn làm việc với nguyên lý ánh sáng tự nhiên ; đó là một phương pháp khác.

M : Tại sao chúng ta mộng ?

N : Vâng, đôi khi mộng do những bhaksha, những ấn tượng ban ngày. Những cái ấy là lo âu, thái độ và tính toán của chúng ta. Cũng có loại mộng khác sanh khởi từ sự sáng tỏ của chúng ta. Loại mộng này tùy thuộc vào những điều kiện và sự sáng tỏ của người mộng.

M : Chúng ta phân biệt những giấc mộng sanh khởi từ sự sáng tỏ của chúng ta và những giấc mộng sanh khởi từ những ấn tượng hàng ngày và những bhaksha của chúng ta như thế nào ?

N : Nếu chúng ta có một ngày mệt nhọc, và tất cả điều chúng ta có thể làm là ăn và rơi vào một giấc ngủ nặng nề, điều này không giống với chúng ta có một giấc mộng của sáng tỏ. Khá thường trong những điều kiện đó chúng ta có những giấc mộng về cái gì đã làm chúng ta bận tâm. Dù thế nào cũng khó mà nhớ giấc mộng này do sự nặng nề của giấc ngủ. Trái lại, khi gần sáng và gần thức dậy, những giấc mộng của chúng ta có thể hoàn toàn sáng tỏ. Nó rất giống như những giấc mộng phối hợp với sáng tỏ, nó có thể có ý nghĩa đặc biệt cho cuộc đời chúng ta. Nó chỉ ra nhiều điều.

M : Điều này cũng thật đối với người thực hành yoga giấc mộng ?

N : Nếu bạn là một hành giả yoga giấc mộng, những giấc mộng sanh khởi từ sáng tỏ sẽ phát triển và tăng thêm. Tuy nhiên những giấc mộng nối kết với sáng tỏ hiện hữu với bất kỳ ai. Ai cũng có sáng tỏ vốn sẵn.

M : Khi nào những đứa trẻ bắt đầu mộng ? Nội dung giấc mộng của chúng có phản ảnh những đời trước cũng như những bhaksha không ?

N : Vâng, chúng ta nói những đứa bé có nhiều giấc mộng hơn sanh khởi từ những ấn tượng của một đời trước. Những trẻ nhỏ có thể dễ nhớ hơn những sự kiện từ một đời trước ; sự sáng tỏ của nó ít bị che ám hơn. Dần dần điều này thay đổi khi đứa bé lớn lên và những căng thẳng và bám luyến của cuộc đời bình thường được tạo ra.

M : Ngài có gợi ý rằng những bậc cha mẹ là hành giả nên dạy cho con cái họ yoga giấc mộng vào tuổi nhỏ và khuyến khích chúng phát triển những giấc mộng của chúng ?

N : Tôi không nghĩ thế. Nó không dễ dàng cho trẻ em.

M : Có một tuổi đặc biệt khi trẻ em bắt đầu mộng ? Hay nó là cái gì bắt đầu ngay từ lúc sanh ra ?

N : Tôi nghĩ chúng hầu như mộng ngay từ lúc sanh ra.

M : Có những lúc chúng tôi có một giấc mộng trong đó chúng nhận được lời khuyên có vẻ có lý. Chúng tôi có thật sự được khuyên bảo không ?

N : Vâng, lại có hai khả năng. Nếu giấc mộng của bạn nối kết với sự sáng tỏ bạn có thể thật sự nhận được lời khuyên và thông tin ích lợi. Ngược lại, nếu bạn có những căng thẳng hay bám luyến rất mạnh, bạn cũng có thể nhận lời khuyên trong một giấc mộng, nhưng bạn không nói đây là lời khuyên hoàn hảo.

M : Ngài có thể cho chúng tôi một thí dụ về một giấc mơ đặc biệt nối kết với sáng tỏ ngài đã có ?

N : Vâng, nhiều năm trước tôi có một người bạn ở Ý. Cô là một người bạn tốt, một ca sĩ có tài, và cô cũng thích thú thực hành. Nhưng gia đình cô lại không như vậy. Dù sao, một đêm tôi nằm mộng thấy rằng tôi đang lái xe ở Naples. Rồi tôi thấy một chiếc xe đỏ hướng về phía tôi. Khi nhìn gần hơn, tôi nhận ra người lái xe – chính là người bạn của tôi và cô ta có vẻ giận dữ. Tôi vòng xe lại và hướng trở lại về Rome và sau một thời gian ngắn đến trước mặt buyn đinh của tôi. Bạn tôi đến sau một chút. Cô trông không giận dữ nữa, nhưng lại nói, “Tôi muốn cám ơn thầy đã giúp tôi.” Tôi đưa cho cô một cái đồng hồ Thụy Sĩ. Rồi tôi nhìn cô lần nữa và cô không có đầu. Tôi rất ngạc nhiên. Tôi thức giấc, cảm thấy rất lạ lùng. Tôi cố gắng gọi cô ở nhà nhưng mẹ cô trả lời, nói rằng cô đã đi Lugano, Thụy Sĩ. Tôi yêu cầu mẹ cô nhắn lại là hãy gọi tôi, nhưng tôi không nghe gì cả, nên tôi gọi lại. Mẹ cô nói với tôi rằng cô đã trở về từ Lugano một lát rồi đã đi Nam Tư cho một buổi ca hát. Mẹ cô đã không nói với cô thông điệp của tôi vì bà không thích tình bạn của chúng tôi. Khi cô trở về từ Nam Tư, cô lại ra đi, lần này là Naples. Trên đường đi cô gặp một tai nạn xe hơi chết người. Đây là một thí dụ.

M : Rinpoche, ngài có những giấc mộng trong đó ngài đã nhớ một cuốn sách giáo lý. Điều này xảy ra thế nào ?

N : Một giấc mộng như vậy cũng là loại nối kết với sáng tỏ. Trong loại giấc mộng này, người ta có thể làm nhiều việc, như nghiên cứu, đọc hay học.

M : Ngài có thể cho chúng tôi một số thí dụ những biểu tượng giấc mộng mà người Tây Tạng tin là quan trọng ?

N : Tôi sẽ cho bạn hai giải thích có thể về cùng một giấc mộng. Nếu bạn đang làm sự thực hành tịnh hóa nào đó, nằm mộng thấy bạn đang rửa hay tắm thì tốt. Nó chỉ ra rằng sự tịnh hóa của bạn đang thành công và bạn đang phát triển sự sáng tỏ của bạn.

Nếu bạn đang không thực hành thiền định và bạn có một giấc mộng như vậy, chúng tôi nói hãy cảnh giác, vì nó có thể chỉ cho rằng bạn đang có mối nguy mất tiền hay tài sản.
M : Ngài đã ngụ ý rằng khi sáng tỏ phát triển trong n
hững giấc mộng, đôi khi người ta có thể dự đoán tương lai. Ngài có kinh nghiệm về những giấc mộng của riêng ngài hay của những vị thầy của ngài về việc này ?

N : Nếu bạn phát triển sự sáng tỏ của bạn, bạn chắc chắn có thể có những loại biểu lộ này ở trong những giấc mộng. Qua những giấc mộng đó đôi khi bạn có thể khám phá điều gì về tương lai. Những giấc mộng của sáng tỏ được nối kết với trí huệ vốn sẵn của chúng ta và những hạt giống nghiệp chúng ta đã tạo ra qua kinh nghiệm thiền định và những hành động tốt trong cuộc đời. Về những hạt giống nghiệp chúng ta đã tích tập, cũng có những khả năng tiềm năng này trở thành biểu lộ. Những tiềm năng này có thể trở nên biểu lộ khi có những điều kiện phụ(3) để làm chín chúng. Với những điều kiện phụ thích hợp, những biểu lộ như những giấc mộng của tương lai có thể xảy ra. Chúng ta có thể tìm thấy nhiều thí dụ về những biểu lộ trong tiểu sử của những vị thầy thiền định.

Chính chúng ta cũng có thể có những giấc mộng như vậy, những giấc mộng cho phép chúng ta thấy hay hiểu điều gì đó. Đó là một phương diện của một giấc mộng của sáng tỏ. Chẳng hạn, nhiều năm trước, 1960, khi tôi ở Ý khoảng một năm, tôi đã có một giấc mộng trong đó tôi nói chuyện với ai đó, nhưng không biết người ấy là ai. Người này giải thích cho tôi tình hình chính trị sau đó ít lâu sẽ như thế nào.

Tôi được nói cho nghe Trung Quốc và Liên Xô sẽ có những rắc rối cụ thể. Tôi trả lời trong giấc mộng rằng điều đó không thể, bởi vì tôi biết hai nước đó có một mối tương quan sâu xa, họ chia sẻ nhau cùng một quan điểm chính trị. Khi tôi ở Trung Quốc, có một hội đoàn Liên Xô hợp tác với người Trung Quốc trong việc giáo dục và tuyên truyền.

Như thế tôi nghĩ không thể có những vấn đề rắc rối gì giữa Trung Quốc và Liên Xô cả. Tiếng nói vẫn nói với tôi rằng sẽ có xung đột mâu thuẫn giữa hai nước. Nó không những nói rằng sẽ có những vấn đề giữa Liên Xô và Trung Quốc, mà còn sẽ có mối tương quan bạn bè giữa Mỹ và Trung Quốc. Tôi trả lời điều đó không thể.

Tuy nhiên, tiếng nói nói rằng điều đó sẽ xảy ra bởi vì hoàn cảnh giữa Trung Quốc và Mỹ thì khác trong bản chất với mối tương quan giữa Liên Xô và Trung Quốc. Mỹ và Trung Quốc cả hai đều quan tâm đến làm ăn và trao đổi thương mại. Họ không có vấn đề gì về phân chia ranh giới, khác với Trung Quốc và Liên Xô, vì Mỹ và Trung Quốc rất xa nhau. Đó là một trong những giấc mộng của tôi. Ngày hôm sau tôi kể lại giấc mộng này với người phụ tá là Geshe Jampa Sangye. Ông nghĩ rằng giấc mộng này thấy rất khó đúng được.

Sau vài tháng, chúng tôi thấy báo chí nói rằng Trung Quốc và Liên Xô có những vấn đề xích mích. Bạn tôi, vị Geshe rất ngạc nhiên. Về sau ông còn ngạc nhiên hơn khi Mỹ và Trung Quốc phát triển một liên lạc tốt hơn. Giấc mộng này là một thí dụ về giấc mộng của sáng tỏ ; giấc mộng chứng tỏ có thực.

Một cách thức chính để cho những người thực hành sáng tỏ trong giấc mộng là làm thực hành ánh sáng tự nhiên được thành công. Qua điều này, có tỉnh giác trong giấc mộng. Nhưng không chỉ tỉnh giác. Do làm thực hành này chúng ta tiếp tục phát triển những giấc mộng của sáng tỏ và giảm bớt những giấc mộng của bhaksha bình thường. Qua phát triển những giấc mộng của sáng tỏ, tỉnh giác của những giấc mộng phát triển.

Như thế người ta có thể dùng nhiều phương pháp thực hành trong trạng thái mộng. Có nhiều kỹ thuật thực hành mà chúng ta không thể dễ dàng sử dụng vào ban ngày, bởi vì chúng ta có những giới hạn trên cấp độ vật lý. Dù nếu chúng ta có một ý niệm tốt đẹp thực hành những kỹ thuật ấy như thế nào, chúng vẫn không dễ áp dụng. Trong lúc mộng, do chúng ta không có sự vận hành của các giác quan, thế nên chúng ta không bị giới hạn bởi thân thể vật lý và như thế có thể dễ dàng áp dụng nhiều phương pháp.

Nhờ kinh nghiệm thực hành trong trạng thái mộng, chúng ta có thể có một kinh nghiệm rất mạnh mẽ và hiểu sâu sắc về bản chất như mộng của cuộc đời thường nhật. Theo cách này chúng ta giảm bớt những bám luyến và căng thẳng của chúng ta, và có thể thực sự hiểu điều Phật Thích Ca nói khi ngài tuyên bố rằng mọi sự thì không thật và như huyễn hay như mộng. Kết quả bám luyến giảm bớt là do sự kiện rằng bám luyến đặt nền trên một niềm tin mạnh mẽ rằng những hiện tượng của cuộc đời này là quan trọng và thực.

M : Một lần tôi có một giấc mộng trong đó tôi nhận từ cảnh sát một giấy phạt vì đã đậu xe vào chỗ không đúng. Tôi nhớ lại ngày hôm sau và quyết định phải rất cẩn thận. Tôi bỏ tiền vào máy tính tiền đậu xe để chắc chắn khỏi có giấy phạt. Khi đi dạo quanh tôi ý thức thời giờ để về lấy xe cho kịp. Tuy nhiên khi trở lại xe, thì đã trễ hơn một phút và tôi thấy một giấy phạt đúng như tôi đã thấy trong giấc mộng. Tôi đã cố gắng để tránh hậu quả này. Có thể thay đổi kết quả của một chuỗi sự kiện sau khi mộng thấy chúng theo một cách nào đó ?

N : Đôi khi bạn có thể hợp tác với giấc mộng sáng tỏ của bạn. Nó có thể trở nên rất hữu dụng để bạn vượt qua nhiều vấn nạn. Nhưng thay đổi những sự kiện thì không dễ dàng lắm bởi vì mọi sự đều nối kết với những nguyên nhân phụ. Đôi khi chúng là những nguyên nhân phụ rất rắc rối, và bạn không thể làm gì nhiều. Tôi đã kể cho bạn câu chuyện một người bạn của tôi ở Ý. Tôi đã có một giấc mơ rắc rối về cô, nhưng tôi không thể làm gì cả. Đó là một thí dụ. Tuy nhiên, đôi khi chúng ta biết rằng một giấc mộng nói điều gì đó về tương lai, chúng ta có thể sửa đổi những kế hoạch của chúng ta để ngăn chặn một vấn nạn tiềm ẩn.

Một lần, khi tôi chuẩn bị đi Trung Quốc trong lần viếng thăm thứ hai, tôi đã có nhiều giấc mơ xấu đêm này qua đêm khác. Tôi bị quấy nhiễu bởi những giấc mơ này và trở nên quan tâm về chuyến đi Trung Quốc. Rồi vợ tôi Rosa và con tôi Yeshe đến miền bắc Ý nghỉ hè. Kế hoạch của tôi là bỏ đi Trung Quốc. Nhưng ngày họ ra đi đến miền bắc Ý họ có một tai nạn xe hơi.

Rạng sáng hôm ấy tôi có một giấc mộng xấu, tôi đang lái xe thật nhanh. Tôi sắp đến một nơi hết đường và cố gắng thắng xe, nhưng tôi không thể, bởi vì tôi lái quá nhanh. Nếu tôi tiến lên, tôi sẽ rớt xuống một vực đá dựng đứng. Tôi không biết làm sao và rất sợ hãi. Vào lúc đó tôi nhận ra rằng tôi đang mộng và tình huống này không thật. Tức khắc tôi nghĩ, “Tôi phải chuyển hóa nó.” Tức khắc tôi chuyển hóa xe hơi thành một con ngựa. Bấy giờ tôi cỡi trên một con ngựa, một con ngựa đá rất lớn. Tôi không rơi xuống vực. Sau khi tỉnh dậy, vào bữa ăn sáng, một học trò của tôi đến từ Rome chở tôi đến phi trường. Tôi nói với anh ta về giấc mộng lạ lùng của tôi hồi đêm, và những đêm trước tôi cũng có những giấc mộng xấu. Sau đó, trước khi tôi ra đi, tôi nhận được một cú điện thoại từ bắc Ý. Tôi nghe rằng Rosa và Yeshe đã có một tai nạn.

Tôi nghĩ giấc mộng chỉ liên hệ đến tình huống xấu của họ, nhưng họ cũng chẳng nguy hiểm lắm. Họ đang ở trong bệnh viện, nhưng không trầm trọng. Tôi vẫn có ý định đi Trung Quốc và ngày sau tôi sẽ đi Rome. Nhưng sáng hôm đó tôi có một giấc mộng xấu khác. Tôi đã tỉnh dậy một nửa. Trong trạng thái giữa mộng và thức có người nào nói với tôi rất rõ ràng, “Ông chớ đi.” Thật rõ ràng. Rồi tôi tỉnh dậy. Tôi nghĩ thật đã có ai nói, nhưng mới biết tiếng nói đó ở trong mộng.

Tôi đổi chương trình, và không đi Trung Quốc. Tôi không biết cái gì xảy ra cho tôi nếu tôi đi vào lúc đó. Không dễ biết cái gì đích xác là vấn đề. Điều duy nhất tôi có thể nói là một tháng sau tôi nghe những tin tức rằng ở Lhasa có nhiều người bị bắt bỏ tù và có cả một số bị giết vì bị cho là có hại cho chế độ. Tôi không biết đó có phải là vấn đề không, hay có lẽ liên quan đến máy bay. Đôi khi có thể vượt qua số phận xấu bằng sự sáng tỏ trong những giấc mộng ; điều này rất có ích.

M : Rinpoche, ngài đã nói rằng vào lúc chết người ta có thể dùng tỉnh giác đã phát triển trong thực hành ánh sáng tự nhiên và trong thực hành giấc mộng. Tôi cũng có nghe nói rằng sự tỉnh giác của người ta trở nên mạnh hơn đến bảy lần sau khi chết. Xin ngài nói cho làm sao tự giải thoát vào lúc chết và bao nhiêu kinh nghiệm một người Tây phương phải có với những giấc mộng sáng tỏ để anh ta hay chị ta có thể thành tựu giải thoát này ? Ý kiến ngài về chuyện này ?

N : Nếu bạn có một số giấc mộng của sáng tỏ, bạn có thể có những lợi lạc và những khả năng liên hệ đến giáo lý và con đường. Tuy nhiên, nếu bạn quan tâm đến việc dùng thực hành để giải thoát sau khi chết, bấy giờ bạn phải có sự trao truyền phương pháp, và những giáo lý về chủ đề này trong đời bạn.

Như một thí dụ, chúng ta hãy thảo luận về shitro,(4) cái được gọi ở Tây phương là Tử Thư Tây Tạng. Nó là một thực hành liên hệ đến những biểu lộ an bình và hung nộ.

Khi bạn nhận một trao truyền – sự cho phép của một vị thầy để học trò thực hành một phương pháp đặc biệt – thì qua thần lực của sự trao truyền ấy, một cái gì được nối kết với tiềm năng của bạn, tiềm năng này cho đến lúc ấy là tiềm ẩn như một hạt giống nghiệp chưa biểu lộ. Sau đó bạn dùng kinh nghiệm thực hành của bạn trong cuộc sống bạn. Thế có nghĩa là bạn đang khai triển khả năng của sự biểu lộ của những tiềm năng của bạn.

Một thí dụ giản dị về tiềm năng là một tấm gương. Nếu bạn nhìn vào một tấm gương bạn khám phá ra là nó có tiềm năng vô hạn. Nó có thể là một tấm gương nhỏ, nhưng dù là tấm gương nhỏ nó vẫn có thể phản chiếu một cái thấy toàn thể một vùng thôn quê. Sự phản chiếu thì vượt khỏi kích cỡ của tấm gương. Qua những phản chiếu bạn thấy trong tấm gương, bạn có thể khám phá tiềm năng vô tận của nó ; sự phản chiếu là rất quan trọng để khám phá bản chất đó.

Nếu trong cuộc đời của mình chúng ta nhận một trao truyền và rồi thống nhất thần lực của sự trao truyền đó nhờ thần lực của thần chú, và sau đó thực hành và chuẩn bị cho loạt những biểu lộ hung nộ và bình an của phương pháp shitro xảy ra trong bardo của hiện hữu, trước bardo bình thường, bấy giờ chúng ta có khả năng của sự biểu lộ ấy. Bởi vì chúng ta chuẩn bị, chúng ta có tiềm năng cho sự biểu lộ đặc biệt này, và vào lúc chúng ta nhận biết nó chỉ là tiềm năng của chúng ta, không có cái gì khác.

Khi chúng ta nhận biết điều này qua trao truyền và qua phương pháp, bấy giờ chúng ta có thể giải thoát thực sự. Giải thoát nghĩa là đi vào bản tánh đích thực của chúng ta. Chúng ta không lệ thuộc nữa vào những tư tưởng và những phán đoán và cái nhìn thấy bị quy định thuộc nghiệp.(5)

Khi những hành giả của ban đêm chết, họ sẽ có khả năng giải thoát. Đối với những người không có khả năng thành tựu vào lúc chết theo cách này, có một sự trở lại bardo của hiện hữu. Một sự trở lại như vậy có nghĩa là một lần nữa chúng ta sẽ tái sanh và có lại chức năng của tâm và thức của các giác quan, cả hai đều rất giống với phần việc tương đương của chúng trong trạng thái mộng. Sự khác biệt ở chỗ trong trạng thái mộng những tác dụng của các thức chúng ta không nương dựa vào thân thể và các giác quan vật lý. Vì lý do này chúng ta có sự sáng tỏ trong bardo bảy lần hơn trong cuộc sống đời thường, như Mật thừa giải thích.

M : Tôi đã đọc nhiều câu chuyện của người Tây phương họ có những kinh nghiệm giấc mộng sáng tỏ. Họ có thể chuyển hóa một ác mộng thành một tình huống an bình hay có thể vượt qua sự sợ hãi của họ trong một giấc mộng. Nếu họ chưa bao giờ nghe về những thực hành Tantra và Dzogchen nhưng có những kinh nghiệm về sự sáng tỏ và biết đủ để chuyển hóa những giấc mộng xấu của họ thành những hoàn cảnh tốt, thế thì trong bardo của hiện hữu họ có thể chuyển hóa một biểu lộ hung nộ thành một biểu lộ tích cực và ít ra đạt được một tái sanh thuận lợi, nếu không nói là giải thoát trọn vẹn ?

N : Nếu người ta có kinh nghiệm chuyển hóa một hoàn cảnh xấu trong giấc mộng thành một hoàn cảnh an bình, điều này chỉ có nghĩa người ta có kinh nghiệm này trong giấc mộng. Khi người ta có khả năng chuyển hóa xấu thành tốt hay an bình trong một giấc mộng, thế không có nghĩa là người ta cũng có khả năng đó trong bardo sau khi chết.

Nếu bạn muốn được giải thoát bạn phải có quyền lực để nối kết với tỉnh giác của bản tánh đích thực của bạn. Thật tánh của bạn thì không phải là một cái nhìn thấy nhị nguyên. Những quan niệm tốt và xấu liên hệ với tri giác mà tự thân nó là kết quả của nghiệp. Hiểu biết bardo là chuyện khác. Trước hết bạn cần có một phương pháp để khám phá tiềm năng của bạn, rồi bạn khám phá tiềm năng của bạn thì vượt khỏi sống chết như thế nào, và vượt khỏi những giới hạn của cái thấy bình thường về tốt và xấu. Nếu bạn không có sự hiểu này về thật tánh của bạn, tôi không nghĩ có một khả năng để tự giải thoát trong bardo.

M : Điều này đưa chúng ta đến những phương pháp của Dzogchen, biết thật tánh của mình qua trao truyền trực tiếp và thực hành giấc mộng và ánh sáng tự nhiên. Ngài có thể nói gì về thực hành Dzogchen và người ta nhận trao truyền như thế nào ? Làm sao những thực hành Dzogchen đưa đến khả năng tự giải thoát vào lúc chết, hay thậm chí có những kinh nghiệm về sáng tỏ trong khi sống ? Đâu là sự tương quan giữa mọi thực hành giấc mộng và mọi điều chúng ta đã nói về Dzogchen, nghĩa là, giữa những thực hành ban đêm và tỉnh giác của Rigpa vào ban ngày ?

N : Nguyên lý trong những giáo lý Dzogchen là hiểu biết. Chúng ta cần hiểu hiện trạng đích thật của chúng ta. Chúng ta chỉ có thể biết cái này nhờ hiểu biết về sự hiện hữu của chúng ta. Chẳng hạn, chúng ta nói tâm là một trong ba hiện hữu của chúng ta – thân, ngữ, tâm. Nó cũng là gốc của ba hiện hữu. Khi chúng ta nói đến tâm, chúng ta muốn nói tâm như là một thể trạng tương đối, với nó chúng ta suy nghĩ và phán đoán. Chúng ta đi sâu hơn khi chúng ta nói bản tánh của tâm. Nhưng có cách gì khám phá bản tánh của tâm nếu chúng ta không biết tâm là cái gì.

Tâm là phần của thể trạng tương đối của chúng ta, sự hiện hữu của thân, ngữ, tâm của chúng ta. Khi chúng ta khám phá sự hiểu biết về thể trạng đích thực của chúng ta trong những giáo lý Dzogchen, chúng ta gọi nó là trạng thái của Rigpa, hay sống trong bản tánh đích thật của chúng ta. Hiểu biết này cũng là gốc của sự thực hành những giấc mộng.

Những giấc mộng là một phần của đời sống chúng ta. Đời sống chúng ta có ban ngày và ban đêm. Ban đêm chúng ta mê lầm trong những giấc mộng của chúng ta ; ban ngày chúng ta mê lầm với tâm chúng ta – phán đoán, suy nghĩ, tạo ra nhiều sự việc. Chúng ta trải qua đời mình như vậy. Tỉnh thức hay tương tục sự tỉnh giác của chúng ta trong thời gian mộng nghĩa là duy trì cùng sự tỉnh giác chúng ta có lúc ban ngày. Nếu chúng ta không có khả năng ở trong trạng thái của Rigpa, trạng thái của hiểu biết đích thật, thì dù ban ngày với thực hành tham thiền, chúng ta không thể có nó trong thời gian ban đêm. Nó là cùng một nguyên lý. Nếu chúng ta có ít nhất sự hiểu biết này của Rigpa trong ban ngày với nhiều kinh nghiệm, bấy giờ khi chúng ta dùng hiểu biết này trong thời gian ban đêm, sẽ dễ dàng hơn ở trong trạng thái này. Chúng ta có thể có nhiều kinh nghiệm trong thời gian mộng hơn trong thời gian ban ngày. Thế nên đây là sự tương quan của thực hành với kinh nghiệm ban đêm.

M : Đối với Tantra cũng thế chăng ?

N : Vâng, trong Tantra ít nhiều cũng như trong Dzog-chen.

M : Tôi có nghe cần thiết phải có sự trao truyền từ một vị thầy để nhận được những thực hành này, cần thiết phải hiểu chúng, phát triển chúng. Có phải ngài cũng có một sự trao truyền từ một vị thầy để phát triển những thực hành về tỉnh giác trong mộng ? Hình như có nhiều người Tây phương có những kinh nghiệm với sự mộng sáng tỏ. Đâu là mối liên hệ giữa trao truyền và phát triển sự sáng tỏ trong trạng thái mộng ? Nó thiết yếu như thế nào ?

N : Nếu bạn muốn có chỉ một kinh nghiệm giới hạn về những giấc mộng, có tỉnh giác trong thời gian mộng hay thậm chí những kinh nghiệm sáng tỏ nào đó, bạn có thể làm như vậy dù bạn không nhận được sự trao truyền nào. Tuy nhiên, nếu bạn muốn xem kinh nghiệm mộng là con đường của bạn, thấy nó ảnh hưởng bạn bên trên đời sống của bạn, sau cái chết, và dùng thực hành giấc mộng của bạn để chuẩn bị cho bardo, bấy giờ bạn phải được trao truyền. Nếu khác đi, bạn không thể vượt lên, và có khả năng dùng những phương pháp khác nhau của sự thực hành.

Người ta có thể về sau khám phá ra ý nghĩa của một giáo lý, dù ngay lúc trao truyền họ không hiểu. Bạn cần có sự trao truyền về cái tỉnh giác. Tỉnh giác liên hệ với sự sáng tỏ và năng lực của chúng ta. Nếu bạn có một trao truyền thì sẽ có một sự liên tục, một khả năng lập lại. Chẳng hạn nếu bạn có sự trao truyền thực hành Shitro trong đời bạn, thì bạn có khả năng cho sự biểu lộ của nó trong bardo.

M : Nếu ngài đọc về những thực hành giấc mộng này trong một cuốn sách, ngài có thể thực hành dù không có trao truyền ?

N : Điều đó còn tùy. Một người có thể có một số kết quả trong khi người khác không có. Không có gì bảo đảm. Nhưng nếu bạn có một phương thức chính xác đi sau sự trao truyền, bạn có thể có nhiều kinh nghiệm.

M : Thế chẳng phải bản thân sự trao truyền làm nhẹ bớt nghiệp của người ta hay tạo thêm công đức ?

N : Mọi sự là tương đối.

M : Rinpoche, có một bản văn của Dzogchen của Mi-pham (Chương 5 của sách này) giải thích sự thực hành tỉnh giác và tham thiền. Làm thế nào người ta có thể hiểu sâu bản văn này và áp dụng nó ngày và đêm ?

N : Khi bạn đọc một cuốn sách bạn có thể hiểu tất cả những quan niệm theo một cách trí thức. Nếu bạn nhận một trao truyền từ một vị thầy, bạn có thể có một mùi vị khác.

M : Rinpoche, có vẻ ngài có một phương pháp trao truyền không chính thống hơn nhiều lama khác...

N : Đó không phải là sáng chế của tôi. Đó là truyền thống những giáo lý Dzogchen. Trong Dzogchen có một cách để trao truyền. Tương tự như vậy, một vị thầy triết học trao truyền hiểu biết và kiến thức qua ngôn ngữ của triết học. Phương pháp này có tác dụng cho người đã đủ điều kiện cho nó. Người có đủ điều kiện bởi phương pháp của Tantra có thể nhận sự trao truyền qua nghi lễ. Người đơn giản có thể nhận một trao truyền qua nói chuyện, như hai người, hai người bạn với nhau. Điều này cũng là một cách trao truyền và thông hiểu. Điểm chính là người ta phải kinh nghiệm cái hiểu biết đích thật. Không có nó, người ta có thể nhận hàng trăm quán đảnh nhập môn và giải thích, nhưng chúng không làm thông thoáng gì nhiều trong cái thấy hiểu Dzogchen.

M : Có phải quan trọng là ý thức rằng mình đang nhận một trao truyền ?

N : Điều đó tùy thuộc vào người nhận sự trao truyền. Nếu ai đó thực sự được chuẩn bị và có khả năng nhận sự trao truyền, bấy giờ một người thầy dù trao truyền theo cách nào cũng sẽ rất lợi ích, và người đó được lợi lạc. Nếu người ta không được chuẩn bị và không có khả năng, bấy giờ không dễ nhận sự trao truyền.

M : Nếu có người nhận trao truyền, nhưng không hiểu ngay được, thì vẫn có một giá trị lớn khi nhận nóù, hay giá trị chỉ có khi hiểu được nó ?

N : Nếu có người nhận một trao truyền nhưng không hiểu, bấy giờ vào lúc đó không có lợi lạc nhiều. Khi bạn nhận một trao truyền và bạn tỉnh thức dậy, thực sự bước vào một trạng thái của hiểu biết, bấy giờ sẽ có những lợi lạc.

M : Ở Tây phương, ít ra có một truyền thống tin rằng mọi yếu tố của một giấc mộng tiêu biểu những khía cạnh hay những phóng chiếu của người mộng. Họ có thể yêu cầu một người tường thuật từng chi tiết để có được thông tin về người nằm mộng. Ngài nghĩ gì về điều này ?

N : Chúng ta phải phân biệt giữa những giấc mộng phát sanh từ những bhaksha và những giấc mộng khởi sanh từ sáng tỏ. Nếu chúng là những giấc mộng phát sanh từ những ấn tượng hàng ngày, bạn có thể học được trạng thái của người nằm mộng theo cách bạn đã diễn tả. Nếu những giấc mộng phát sanh từ sự sáng tỏ, đó là một trường hợp khác ; chúng không chỉ là sự phóng chiếu.

M : Đi hay nói trong giấc mộng của mình có nghĩa là gì ?

N : Nếu người ta đang ngủ rất sâu và họ có một giấc mộng phối hợp với những bhaksha, những lo toan, họ sẽ cảm thấy nó thật và rất cụ thể. Họ sẽ rất hòa nhập với tình huống đó. Đó là tại sao họ không chỉ mộng mà còn đi và nói. Nếu bạn thực sự tức giận trong một giấc mộng, bạn cũng đứng bật dậy.

M : Đôi khi có vẻ như những giấc mộng xảy ra theo chuyển động nhanh. Tại sao điều này xảy ra ?

N : Có hai lý do. Một là nói chung tâm của chúng ta không có giới hạn. Tâm làm việc rất nhanh. Đôi khi trong một thời gian rất ngắn chúng ta có thể mộng những hành động của cả một ngày. Lý do khác là những giấc mộng có thể phối hợp với xáo động, và khi chúng ta bị xáo động giấc mơ trở thành nhanh.

M : Có sự liên hệ nào giữa những giấc mộng và việc đưa thông tin vào trí nhớ của chúng ta ?

N : Có thể học và thậm chí huấn luyện mình ở trong giấc mộng nếu bạn tỉnh biết.

M : Khi người ta ngủ trong Tịnh Quang thì còn mộng không ?

N : Nếu bạn ngủ trong Tịnh Quang bấy giờ những giấc mộng của bạn trở nên nối kết hơn với sáng tỏ và rất ít nối kết với những bhaksha. Những giấc mộng của bạn trở nên rõ ràng hơn và có ý nghĩa hơn.

M : Sự khác biệt giữa trạng thái mộng và kinh nghiệm khi thức bình thường là thế nào ?

N : Kinh nghiệm khi thức thì cụ thể hơn và nối kết với sự bám luyến của chúng ta, trong khi mộng thì ít bám luyến. Chúng ta dùng từ không thực bởi vì trong những giấc mộng chúng ta đã có một ý niệm hay hiểu biết về sự việc.

M : Đối với một lama hay hành giả mạnh mẽ, có khác biệt nào giữa mộng và kinh nghiệm khi thức trong một nghĩa tuyệt đối ?
N : Có lẽ nếu người ta thể nhập kinh nghiệm của người ta một cách trọn vẹn, người ta có thể thấy cùng một nguyên lý và cùng một tình trạng trong cả hai trạng thái. Bấy giờ đời sống quả thực là một giấc mộng.

M : Có sự liên hệ nào giữa thân huyễn,(6) được nói đến trong Sáu Yoga của Naropa,(7) với việc mộng ?

N : Mộng là con đường chính yếu cho sự thành tựu thân huyễn. Nếu bạn có kinh nghiệm về thân huyễn bạn sẽ dễ dàng hiểu những giấc mộng vận hành như thế nào.

M : Giá trị của sự phát triển thân huyễn là thế nào ?

N : Với một thân huyễn được phát triển bạn sẽ có sự chứng ngộ hoàn toàn về cái không thực.

M : Khi người ta phát triển khả năng của thân huyễn, người ta có thể phóng chiếu thân này trong thời gian thức cũng như khi ngủ ?

N : Có thể bởi vì người ta hòa nhập mọi sự.

M : Nếu người ta nhận một giáo lý hay trao truyền trong một giấc mộng, cái này có chắc chắn như khi người ta nhận một trao truyền khi thức ?

N : Nếu bạn thực sự tỉnh biết trong trạng thái mộng thì giá trị là như nhau.

M : Ngài có nói rằng nói chung nếu bạn không minh bạch trong trạng thái mộng khi bạn nhận một trao truyền, bấy giờ sự trao truyền này không giá trị nhiều ?

N : Đôi khi một giấc mộng trao truyền có thể chỉ ra một sự quấy nhiễu của jabo(8) chẳng hạn.

M : Mới đây tôi có một giấc mộng tôi với một lama và vị ấy giải thích ý nghĩa một giấc mộng khác mà tôi đã có. Đây là một giấc mộng của sáng tỏ ?

N : Nó tùy thuộc vào cái được giải thích và ai giải thích. Một giấc mộng như vậy không luôn luôn là một giấc mộng của sáng tỏ. Cũng có thể ma quỷ tạo ra những vấn đề.

M : Làm thế nào người ta có thể phân biệt một giấc mộng của trao truyền thật sự và một giấc mộng của một sự quấy nhiễu ?

N : Tùy thuộc vào cái hiểu của bạn và bạn cảm thấy thế nào. Khi sự sáng tỏ của bạn phát triển bạn sẽ phân biệt được. Nếu đó là một quấy nhiễu bạn sẽ cảm thấy xáo trộn vào hôm sau.

M : Một vị thầy có thể đi vào những giấc mộng của học trò ?

N : Đúng vậy.

M : Có những chuyện bất thường khác có thể xảy ra trong hay qua những giấc mộng ?

N : Bất thường là một từ tương đối, nhưng tôi sẽ kể vài câu chuyện có thể minh họa. Một lần nọ rất nhiều năm trước ở miền Đông Tây Tạng có một tỉnh, nó hiện giờ vẫn còn. Có hai gia đình sống ở đó, họ liên lạc với nhau. Một gia đình có một con gái. Mỗi ngày cô đến một ngọn núi tên là Gundron
.
Gundron là nhà của một vị thần quan trọng bảo vệ vùng này. Có một tảng đá đặc biệt trên núi đó được biết là chỗ nương dựa của vị bảo vệ địa phương này. Cô gái đến gần tảng đá mỗi ngày, đưa gia súc đến đó thả cho đi lang thang. Khi cô đến cô thường nghỉ dưới một hốc đá trong khi thú vật gặm cỏ. Một hôm trời mưa, cô núp dưới tảng đá và ngủ thiếp khá lâu. Trong giấc mộng cô thấy mình ở gần tảng đá với một người trẻ và rất mạnh mẽ. Với cô điều đó rất thực dù chỉ là một giấc mộng. Họ nói chuyện với nhau và có sự tiếp xúc tình dục.

Sau đó cô thức dậy và thấy chuyện này chỉ là một giấc mộng, nhưng rồi vài tháng sau cô ngạc nhiên thấy mình có thai. Cha mẹ cô rất ngạc nhiên vì không có người đàn ông nào chung quanh nơi họ ở.

Sau chín tháng cô sanh ra một đứa bé rất mạnh mẽ. Nó lớn lên thành một người đặc biệt. Nó trông không dễ thương, nhưng rất mạnh về thể lực. Nó xây một cái nhà bằng nhiều thân cây lớn, và trở thành rất nổi tiếng bởi vì quá mạnh mẽ.

Có vị vua xứ Derge, Đông Tây Tạng, vào thời kỳ đó có những rắc rối với những cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ. Nhà vua yêu cầu tất cả đàn ông của vùng đó đi lính để bảo vệ Tây Tạng. Người mạnh mẽ này trở nên rất nổi tiếng vì đã chiến thắng nhiều binh lính Mông Cổ, và về sau thành tỉnh trưởng. Câu chuyện này được viết trong một cuốn sách tôi đã đọc, về lịch sử và nguồn gốc của gia đình mẹ tôi. Bạn muốn biết tôi có tin câu chuyện này ? Ồ, có. Có nhiều câu chuyện gia đình tương tự ở Tây Tạng. Những câu chuyện như thế không quá đỗi hiếm hoi, lạ thường trong lịch sử Tây Tạng.

Trong truyền thuyết đạo Bon cổ thường nói đến Tirang. Tirang là một loại chúng sanh, gần với con người, nhưng không hoàn toàn là con người. Tirang thuộc về loại Nyen.(9) Trong loài Nyen có những chúng sanh gọi là Masang hay Tirang.

Những chúng sanh này được xem là gần với người. Như nói ở trên, đã có những tiếp xúc tình dục giữa người và Tirang, và những thế hệ đã được tạo thành. Có một cuốn sách khác về lịch sử của vua Tây Tạng đầu tiên. Ông đến từ vùng Đông Tây Tạng, từ một vùng gọi là Pu-el. Theo chuyện kể này, được viết bởi một vị thầy Dzogchen thế kỷ thứ mười một, có một người đàn bà tiếp xúc với một Tirang và có những đứa con trai. Trong những đứa con trai này, có người tên là Ou-er. Khi đứa trẻ lớn lên, một số tu sĩ đạo Bon tiên đoán và tính chiêm tinh để biết nó là loại người gì, bởi vì nó có những thần lực phi thường. Họ hơi sợ những thần lực này. Thế nên họ nói rằng đây có thể là một đứa bé Tirang và nó phải được đem đi khỏi vùng còn không họ có thể có những rắc rối. Sau đó, họ làm những buổi lễ để xua đuổi Tirang và rồi họ gởi đứa bé ra khỏi Pu-el. Sau đó nó đến vùng Trung Tây Tạng. Vào lúc đó Trung Tây Tạng không có vua. Khi dân chúng khám phá ra đứa trẻ có thần lực phi thường, nó sớm được chỉ định làm Vua Tây Tạng. Nó được gọi là Pu-gel. Gel nghĩa là vua và Pu nghĩa là từ vùng Pu-el. Tên nó được biết rộng rãi là tên của vị vua đầu tiên của Tây Tạng, nhưng hầu hết người ta không biết nguồn gốc cái tên này. Sách lịch sử mà tôi nói đến cho chúng ta câu chuyện này và những thí dụ khác về sự tiếp xúc giữa người và Tirang.

Thí dụ tiếp theo xảy ra mới đây thôi. Tôi định đi thăm địa điểm của những vua Shang-Shung cổ ở Tây Tạng. Chúng tôi đã đi bằng xe hơi, nhưng ngay trước khi đến, chúng tôi rời xe và xếp đặt đi bằng ngựa và bò yak. Ở chỗ chúng tôi dừng là những công trình cổ đổ nát, còn cổ hơn những cái bị phá hủy hồi Cách mạng Văn hóa. Chúng tôi dựng lều giữa những đổ nát này. Gần đó là một đống đất khác thường, và tôi hỏi người địa phương chỗ này là cái gì. Họ bảo trong thời xa xưa, đây là một tu viện đạo Bon gọi là Tu Viện Shang-Shung. Bởi vì đây là tu viện rất cổ, không có tin tức nào còn được biết.

Đêm ấy tôi có một giấc mộng thú vị. Trong mộng có một ngôi đền rất đẹp với bốn cửa nhìn ra bốn hướng. Tôi đi vào cửa đông. Ở trong có một tượng khổng lồ của một thiền giả với ba con mắt. Trong tay phải là một gyan-sen, một ngọn cờ chiến thắng. Trong bàn tay trái là một kapala,(10) một chén bằng sọ người. Tôi đến rất gần tượng và thấy chữ Tây Tạng dưới thiền giả, tôi đọc “Tempa Namka”. Tempa Namka là một vị thầy đạo Bon nổi tiếng của Shang-Shung. Đấy không phải Tempa Namka của Tây Tạng, một trong hai mươi lăm đệ tử của Padmasambhava.(11) Đấy là Tempa Namka của Shang-Shung, ở vào thời còn xa hơn vị Tempa Namka kia.

Trong giấc mộng, tôi rời đền theo cửa tây. Bên ngoài có nhiều chorten(12) chung quanh tôi. Thình lình cái nhìn thấy của tôi chuyển lại thành cái nhìn thấy hiện tại ; lại chỉ có những đống đất và không có chorten nào.

Tôi tự hỏi cái gì đã xảy ra. Rồi tôi trở lại để nhìn ngôi đền, chỉ để khám phá rằng nó đã tan biến. Mọi cái còn lại chỉ là những đống đất. Tôi ngạc nhiên. Tôi thầm nghĩ : “Có một lần trong quá khứ một ngôi đền và nhiều cái tháp đã ở đây, vậy mà ngày nay chỉ còn những đống đất.” Trong giấc mộng tôi biết rằng đây là một kinh nghiệm của sáng tỏ. Rồi tôi nhìn vào đống đất phía tây, sự sụp đổ của một cái tháp. Có một ánh sáng đến từ cái tháp này, giống như ánh sáng mặt trời phản chiếu từ một viên pha lê hay một miếng thủy tinh. Khi tôi bước đến ánh sáng, nó bắt đầu giảm bớt. Khi tôi đến tháp, ánh sáng hoàn toàn biến mất, và có một cái lỗ trong tháp. Tôi nghĩ, “Chắc phải có cái gì lạ trong lỗ này”, và đưa tay vào bên trong. Đó là một cái lỗ rất sâu và tôi có thể đặt cả cánh tay cho tới vai vào trong đó. Cảm thấy có một cái gì trong lỗ, tôi lấy nó ra. Đó là một tượng garuda(13) của thời Tempa Namka xa xưa ; tôi rất vui mừng với sự tìm thấy của mình. Tuy nhiên, tôi biết rằng tôi đang mộng tất cả sự việc này. Rồi tôi tỉnh dậy. Đó là lúc tháo lều và tôi quên đi giấc mộng.

Khi người ta chất đồ lên ngựa và bò yak tôi quay phim cảnh đổ nát. Tới một lúc, tôi thấy mình gần đống đất đã là cái tháp nơi tôi tìm thấy con chim garuda trong mộng. Vào lúc đó tôi nhớ lại giấc mộng, và nhìn về phía nó xem có ánh sáng không. Dù không có ánh sáng, tôi thấy cái lỗ. Tôi đưa tay vào, nó không sâu như trong giấc mộng. Tôi phải đào đất, làm gãy những móng tay. Khi tôi đạt đến gần tới vai tôi thấy có cái gì đó. Tôi lấy nó ra. Đó là một con garuda bằng kim loại, đúng như trong giấc mộng. Nó rất cũ. Bạn có thể thấy nó ở một tấm hình trong phim tôi quay về chuyến du hành Tây Tạng.

Sự kiện này xảy ra gần Núi Kailash(14) ở Tây Tạng trong mùa hè 1988. Đó là một thí dụ một giấc mộng liên hệ đến sự việc gì cụ thể như thế nào.

M : Những kết quả sau chót của sự làm việc với giấc mộng là gì ?

N : Nếu người ta tiến bộ đến mức cao cấp người ta có thể dừng dứt sự mộng. Nếu người ta tiến bộ đến mức trung người ta sẽ đến chỗ nhận biết mình đang mộng. Còn ít nhất, nếu người ta thực hành, những giấc mộng của người ta sẽ trở nên sáng tỏ và tốt hơn.

M : Rinpoche, ngài có luôn luôn minh bạch trong những giấc mộng của ngài ?

N : Không luôn luôn. Nó tùy vào những hoàn cảnh.
 

CHÚ THÍCH CHƯƠNG BỐN

1. Oddiyana : Địa điểm và sự hiện hữu của xứ sở này được các học giả tranh luận đã lâu. Nó được định chỗ ở nhiều nơi khác nhau : trong thung lũng Swat của Pakistan, Afghanistan và miền Tây Tây Tạng. Oddiyana được cho là nguồn gốc của cả những Tantra Anuttara và những Tantra của Dzogchen, và được xem là nơi sinh của Padmasambhava.

2.   : Norbu Rinpoche diễn tả những thực hành dùng chữ   của Tây Tạng trong chương hai của cuốn sách này.

3. Những điều kiện phụ : Cách mà những điều kiện chính, hay những hạt giống nghiệp, tương tác với những điều kiện phụ để biểu lộ một giấc mộng báo trước tương lai được giải thích dưới đây theo một thí dụ tưởng tượng.

Do những hành động xấu hoặc trong đời này hay trong những đời trước, những cá nhân có những món nợ. Những món nợ này là những tiềm năng nghiệp chúng tựu thành sự tổn hại hay chết của cá nhân khi họ phải trả.

Trong thí dụ của chúng ta, một cá nhân là một hành giả thiền định mạnh mẽ và đã sống một đời đức hạnh lái chiếc xe đến một người thợ máy để sửa chữa những cái thắng. Người này lẫn người thợ máy không ai nhớ rằng trong một đời trước này đã gây tổn hại cho người thợ máy.

Do sức mạnh của hạt giống nghiệp, người thợ máy vô tình không sửa chữa bộ thắng được hoàn hảo. Khi người hành giả đang lái xe, người ấy ghi nhận một tiếng rít nhỏ của bộ thắng một cách tiềm thức. Nhờ thực hành thiền định, người này thường nhớ những giấc mộng của mình khá sống động, và tối hôm đó anh mộng thấy anh có một tai nạn xe hơi do hỏng thắng. Hôm sau anh lái trở lại chiếc xe đến chỗ sửa xe, và khi kiểm soát sự hư hỏng của bộ thắng được khám phá trước khi có một tai nạn.

Trong câu chuyện của chúng ta, cả tín hiệu rít nhỏ và kinh nghiệm của cá nhân trong việc nhớ lại những giấc mộng là những điều kiện phụ trợ giúp cho giấc mộng về cái sẽ xảy ra được biểu lộ. Trong trường hợp một hành giả thiền định rất cao cấp, những điều kiện phụ có thể ở trong lãnh vực mà thường được xem là kỳ diệu, phép lạ.

4. Shitro hay Kar-gling-zhi-tro, một terma của Karma Lingpa. Sự thực hành 58 hóa thần hung nộ và 42 hóa thần an bình, các vị này khởi lên như những cái nhìn thấy trong chonyid bardo. Shitro được phối hợp với tiến trình chết, đem đến sự sáng tỏ cho những người thực hành nó và chuẩn bị cho họ vượt qua những chướng ngại vào lúc chết. Nó cũng được người sống thực hành cho lợi lạc của những người vừa mới chết. Những bản văn này đã được biết sai ở Tây phương như là Tử Thư Tây Tạng, do sự dịch lầm của Evans Wentz. (Xem Tự Giải Thoát Nhờ Thấy Tánh Giác Nguyên Sơ của John Reynolds.) Tên đúng của hai bản văn chính này là Bardo Thodrol và Giải Thoát Nhờ Nghe trong Trạng Thái Trung Ấm. Có sáu bardo hay “trạng thái trung ấm” tương đương với những kinh nghiệm từ chết đến tái sanh, gồm kinh nghiệm sau khi chết, tất cả được diễn tả trong Shitro Terma.

5. Cái nhìn thấy theo nghiệp : Theo lý thuyết nghiệp của Phật giáo, tri giác của chúng ta là kết quả của những hành động trước kia, kết quả đó dẫn đến sự nhập thân vào một lãnh vực nơi đó có một “thực tại” được tham dự. Thật vậy, cùng một môi trường có thể được tri giác khác nhau tùy theo “cái nhìn thấy” của mỗi người. Theo thí dụ cổ điển của Phật giáo, một dòng sông loài người thì thấy mát mẻ, trong khi chúng sanh cõi địa ngục thì thấy là dòng nham thạch, và một con cá thì thấy đó là không khí trong lành.

6. Thân huyễn : được phát triển qua thực hành một trong Sáu Yoga của Naropa.

7. Sáu Yoga của Naropa : Những yoga này được Naropa kết tập. Naropa là một đại thành tựu giả của truyền thống Kagyud. Sáu Yoga là : Yoga về nội nhiệt Tumo, Yoga Thân Huyễn, Yoga Giấc Mộng (Milam), Yoga Ánh Sáng, Yoga Bardo, và Yoga Phowa (chuyển di thức).

8. Jabo : Một loại chúng sanh gây ra những chướng ngại như bệnh tật... Norbu Rinpoche nói rằng loại chúng sanh này có thể tạo ra mê lầm trong giấc mộng.

9. Nyen : Một loại hộ pháp, thường nối kết với một nơi chốn đặc biệt như núi hay hồ.

10. Kapala : Đồ chứa trong nghi lễ thường làm bằng xương sọ người. Kapala là vật làm lễ từ Anuttara Tantra. Nó tượng trưng lòng bi, và máu của tất cả các chúng sanh được tượng trưng là chứa trong đó.

11. Hai mươi lăm đệ tử của Guru Padmasambhava : Những đệ tử chánh của đại sư Padmasambhava trong thời gian ngài dạy Pháp ở Tây Tạng. Mỗi một đệ tử trong hai mươi lăm người này lập nguyện tái sanh trong những đời tương lai trong hình tướng con người để khám phá Terma cho lợi lạc của những hành giả tương lai. Quan trọng cần ghi nhận rằng mọi Terma đều đến từ Guru Padmasambhava ; một số cũng đến từ Vimalamitra.

12. Chorten, cũng gọi là stupa (tháp) : Một kiến trúc phác họa những cấp độ, giai đoạn của con đường đến giác ngộ. Bên trong tháp thường chứa những xá lợi hay đồ pháp khí.

13. Garuda (Sanskrit) hay khyung Tây Tạng : Một con chim huyền thoại giống con ó. Ở Tây Tạng garuda tiêu biểu nguyên tố lửa. Nó cũng là một biểu lộ của tia chớp. Garuda (Kim Xí Điểu) hàng phục loài rồng. Garuda được đặc biệt cầu khẩn để chữa các bệnh do loài rồng gây ra, như bệnh da và các loại ung thư. Trong truyền thống Ấn Độ, garuda là nửa người nửa chim và chở thần Vishnu. Garuda liên hệ đến Chim Sấm hay Chim Lửa trong những thần thoại khác.

14. Núi Kailash : Ở Tây Tạng, núi Kailash là núi thiêng liêng nhất đối với Phật tử Tây Tạng. Nó được xem là sự biểu lộ nguyên mẫu của ngọn núi thiêng ở trung tâm thế giới. Nó cũng được những người đạo Bon, đạo Ấn giáo và đạo Jain tôn thờ.


5  Phật Không Xa Hơn Bàn Tay Mình

Chú thích của người biên tập : Sau đây là một bản văn chưa từng được dịch về con đường Dzogchen. Tác giả, đại thiền sư Mipham Rinpoche (1816-1914) của phái Nyingma, đã thử chỉ ra “thật tánh của tâm”.

Những Giáo Huấn Tinh Túy của Tâm ; 
Phật Không Xa Hơn Bàn Tay Mình

I. Con kính lễ Padmasambhava,
Và Lama vinh quang là sự lưu xuất của đại trí Văn Thù(1) (và giống như) tất cả chư Phật và những con của các ngài.
Cho những ai muốn học thiền định (của) việc nhận biết thâm nghĩa của tâm,
Tôi sẽ giải thích ngắn gọn, con đường bắt đầu của những giáo huấn cốt lõi.(2)
Ban đầu cần thiết phải nương dựa vào những giáo huấn tinh túy nhất của một Lama (có) kinh nghiệm chứng ngộ.
Nếu người ta không nhập vào kinh nghiệm mà những giáo huấn của Lama chỉ ra,
Bấy giờ mọi kiên trì và cố gắng trong thiền định đều giống như bắn tên trong bóng tối.
Vì lý do này hãy khước từ mọi cái thấy hiểu hư hỏng và giả tạo về thiền định.
Điểm (cốt lõi) là đặt để (tỉnh giác của mình) trong trạng thái không tạo tác, tự-an trụ ; khuôn mặt của trí huệ trần trụi vốn tách lìa với vỏ bọc của tâm thức (nghĩa là cái nó đồng hóa với).
Nhận biết (trí huệ này), người ta đạt đến điểm thiết yếu.
Nghĩa của “thường trụ từ vô thủy” là trạng thái tự nhiên, không do tạo tác này.(3)
Đã khai triển một tin chắc bên trong rằng mọi hình tướng xuất hiện là tinh túy của Pháp thân,(4) chớ từ bỏ (hiểu biết này).
(Buông lung) trong những giải thích lan man (về đạo, con đường) thì giống như đuổi theo một cầu vồng.
Khi những kinh nghiệm thiền định sanh khởi như (sản phẩm) của tỉnh giác về trạng thái không tạo tác vĩ đại, đó không do chú tâm bên ngoài, (mà) do hộ trì vô tác (không hoạt động).(5)
Kỳ diệu thay, (khi) người ta đạt được hiểu biết này.

II. Vào lúc tốt đẹp (đi đến) trạng thái chặng giữa,
(Người ta) duy trì trạng thái không dao động liên tục bằng nhớ lại trạng thái tự-an trụ của tự tâm.
Chỉ ở trong trạng thái này là đủ.
Tâm không do tạo tác không gì khác hơn là cái này.
(Nếu bị che ám) bởi những đám mây sanh khởi của tâm thức phân biệt tạo thành một phân cách giữa chủ thể và đối tượng thiền định,
Vào lúc đó (hãy nhớ) bản tánh của tâm vốn là không tạo tác từ vô thủy – tự tâm, trống rộng như bầu trời.
Thư giãn nghỉ ngơi, giải thoát sự trói buộc và xua tan bám chấp.
Cái hiểu biết tự-an trụ khôn