|
c
YẾU
CHỈ
ĐẠI
PHƯƠNG QUẢNG PHẬT HOA NGHIÊM KINH
DO:
DUY TẮC THIỀN SƯ LƯỢC GIẢNG
DỊCH
VÀ BIÊN SOẠN : THÍCH DUY LỰC
GIẢI
ĐỀ
ĐẠI PHƯƠNG
QUẢNG là siêu việt số lượng.
ĐẠI là
thể tánh bao gồm tất cả.
PHƯƠNG QUẢNG
là nghiệp dụng phổ biến khắp nơi.
PHẬT là
quả giác viên mãn.
HOA dụ cho
vạn hạnh khai mở.
NGHIÊM dụ
cho đại pháp trang nghiêm thành tựu cho con người.
KINH là xuyên
thấu tất cả pháp.
ĐẠI PHƯƠNG
QUẢNG là pháp sở chứng.
PHẬT là
người năng chứng.
Hai chử Hoa
Nghiêm dụ cho Phật ở nơi nhân địa mà vạn hạnh như hoa;
dùng hoa này mà trang nghiêm quả địa, nên gọi là Hoa Nghiêm.
Vì Kinh Hoa
Nghiêm quá dài, khó đọc, khó tin, khó giải, khó hành, khó
chứng, cho nên nay trích dịch yếu chỉ kinh này để giúp cho
các điều khó kể trên được dễ lại một phần nào.
Duy Tắc Thiền
Sư là tổ thứ mười chín của phái Lâm Tế, cũng là trưởng
tử của ngài Trung Phong Thiền Sư, sanh vào cuối đời nhà
Nguyên Trung Quốc. Tác phẩm và ngữ lục của ngài được
ghi trong Tục Tạng Kinh, tập thứ một trăm hai mươi hai.
YẾU
CHỈ
Tám mươi
mốt quyển Kinh Hoa Nghiêm chia làm bốn phần, gọi là tín,
giải, hành, chứng.
Mười một
quyển đầu tiên là vì chúng sanh khai phát cửa TÍN.
Bốn mươi
mốt quyển kế là vì chúng sanh khai phát cửa GIẢI.
Bảy quyển
kế tiếp là vì chúng sanh khai phát cửa HÀNH.
Hai mươi
mốt quyển sau là vì chúng sanh khai phát cửa CHỨNG.
Giải thích
ý nghĩa kinh này chẳng ra ngoài NGŨ CHU, LỤC TƯỚNG, TỨ PHÁP
GIỚI, THẬP HUYỀN MÔN.
NGŨ CHU gồm
năm thứ nhân quả viên tròn chu đáo là nghĩa lý tổng quát
của Kinh Hoa Nghiêm.
1. Nhân
quả sở tín.
2. Nhân quả
sai biệt.
3. Nhân quả
bình đẳng.
4. Nhân quả
thành hạnh.
5. Nhân quả
chứng nhập.
LỤC TƯỚNG
là tổng, biệt, đồng, dị, thành, hoại.
Theo sự thấy
của phàm phu, trên "sự tướng" mà nói, sự và tướng mỗi
mỗi cách biệt chẳng đủ lục tướng. Nếu theo sự thấy
của bậc thánh mà nói, thể tánh các pháp, mỗi một sự,
một tướng đều đủ lục tướng viên dung. Vì lục tướng
viên dung nên các pháp tức là nhất chân pháp giới vô tận
duyên khởi, cũng gọi là Nhất chân pháp giới vô tận của
"pháp giới". Lý viên dung này của vạn pháp do lục tướng
mà được chứng tỏ. Lý này căn cứ theo lời văn nguyện
thứ tư trong Sơ Địa Thập Đại Nguyện của bổn kinh, và
là một đại pháp môn của Tông Hoa Nghiêm do Chí Tướng đại
sư kiến lập (Nhị Tổ Tông Hoa Nghiêm).
1. Tổng
tướng là nhất hàm đa đức như thân người có nhãn, nhĩ,
tỷ, thiệt, thân, ý, do các căn mà thành một thể.
2. Biệt tướng
là nhiều đức dụng mỗi mỗi khác biệt chẳng phải một,
như thân thể tuy là một mà nhãn, nhĩ,v.v...các căn mỗi mỗi
chẳng đồng.
Hai tướng
tổng, biệt này là một thân với các căn tương đối của
hai nghĩa bình đẳng và sai biệt (nhân quả Ngũ Chu).
3. Đồng
tướng là nhiều đức dụng chẳng trái nhau, mỗi mỗi sai
biệt đều thành một nghĩa của Tổng tướng, cũng như nhãn,
nhĩ v.v...các căn mỗi mỗi đều thành nghĩa thân thể mà chẳng
phải vật khác.
4. Dị tướng
là nhiều nghĩa tương đối, mỗi loại khác nhau, cũng như
tướng mạo của nhãn, nhĩ v.v...các căn đều khác nhau.
Hai tướng
đồng dị này là các căn tương đối lẫn nhau mà sáng tỏ
được hai nghĩa bình đẳng và sai biệt.
5. Thành tướng
là nhiều nghĩa đang duyên khởi mà thành một thể, cũng như
các căn duyên khởi mà thành một thân.
6. Hoại tướng
là nhiều nghĩa, mỗi mỗi trụ nơi tự tướng mà chẳng thay
đổi, cũng như các căn trụ nơi tự tướng mà mỗi mỗi đều
hiện ra sự dụng riêng biệt của mình.
Hai tướng
thành hoại này y theo hai tướng đồng dị mà sáng tỏ cái
quả của hai tướng tổng biệt và hai nghĩa bình đẳng, sai
biệt.
Lục tướng
này y theo Thể, Tướng, Dụng, phân làm hai nghĩa bình đẳng
và sai biệt. Biểu đồ như sau :
Tất cả
các pháp
Thể Tướng
Dụng
Tổng
Biệt Đồng Dị Thành Hoại
Tướng
Tướng Tướng Tướng Tướng Tướng
Bình Đẳng
Sai Biệt
TỨ
PHÁP GIỚI :
1. Sự pháp
giới : các pháp sắc và tâm của chúng sanh mỗi mỗi sai biệt,
có giới hạn phân cách, nên gọi là "sự pháp giới".
2. Lý pháp
giới : các pháp sắc và tâm của chúng sanh dù có sai biệt,
mà đồng một thể tánh, nên gọi là "lý pháp giới".
3. Lý sự
vô ngại pháp giới : Lý do sự mà hiển bày, sự do lý mà
thành tựu, lý sự dung hợp lẫn nhau nên gọi là "lý sự vô
ngại pháp giới".
4. Sự sự
vô ngại pháp giới : tất cả giới hạn, phân cách của sự
vật xứng với tánh dung thông, một tức nhiều, nhiều tức
một, lớn vào nhỏ, nhỏ vào lớn, trùng trùng vô tận, nên
gọi là "sự sự vô ngại pháp giới".
THẬP HUYỀN
MÔN cũng gọi là Thập Huyền duyên khởi, do Hoa Nghiêm Tông
kiến lập, để hiển bày "sự sự vô ngại pháp giới" trong
Tứ Pháp Giới. Nếu thông suốt nghĩa này thì có thể nhập
vào Huyền Hải của kinh Hoa Nghiêm, nên gọi là Huyền Môn.
Mười môn này làm duyên với nhau mà sanh khởi cái khác, nên
gọi là Duyên Khởi.
Thập Huyền
Môn là :
1. Đồng
thời cụ túc tương ứng môn :
Tất cả
các pháp đồng thời đầy đủ trong một pháp, mỗi pháp đều
có sự tương trợ lẩn nhau.
2. Quảng
hiệp tự tại vô ngại môn :
Từ một
tâm sanh ra vô lượng pháp là quảng, từ vô lượng pháp trở
về một tâm là hiệp. Muốn quảng, muốn hiệp đều tự tại
vô ngại.
3. Nhất
đa tương dung bất đồng môn :
Một pháp
dung nạp nhiều pháp, nhiều pháp ở trong một pháp, mỗi pháp
chẳng đồng mà đồng, đồng mà chẳng đồng.
4. Chư
Pháp tương tức tự tại môn :
Tất cả
pháp đều do tâm tạo, vốn chẳng có khác, nên pháp kia tức
pháp này, pháp này tức pháp kia, tương tức với nhau.
5. Ẩn
mật hiển liễu câu thành môn :
Ngôn giáo
của chư Phật hoặc ẩn hoặc hiện đều vì thành tựu cho
chúng sanh.
6. Vi
tế tương dung an lập môn :
Tất cả
pháp dù vi tế đến chỗ vô hình vô tướng cũng dung nạp
lẫn nhau và cũng kiến lập lẫn nhau.
7. Nhân
Đà-La-Võng pháp giới môn :
Nhân Đà-La-Võng
là lưới báu của Đế Thích, mỗi mắt lưới đều dùng châu
ngọc giao kết nhau để dụ cho vạn pháp giao kết lẫn nhau,
trùng trùng vô tận.
8. Thác
sự hiển pháp sanh giải môn :
Mượn sự
vật giả thiết thí dụ để hiển bày chánh pháp cho chúng
sanh được dễ sanh khởi tín giải.
9. Thập
thế cách pháp dị thành môn :
Cổ kim xa
cách nhiều kiếp, dù mỗi pháp khác biệt mà nhân quả tương
trợ với nhau nên vạn pháp mỗi mỗi đều được thành tựu.
10. Chủ
Bạn (năng sở) viên minh cụ đức môn :
Dù lập năng
sở mà viên tròn sáng tỏ, siêu việt năng sở, tất cả công
đức vốn tự đầy đủ.
Thập huyền
môn duyên khởi với nhau để diễn tả pháp giới sự sự
vô ngại.
Tại
sao các pháp sự sự vô ngại?
1. Vì duy
tâm sở hiện, nên các pháp vốn chẳng có khác, chỉ do tâm
Như Lai Tạng duyên khởi mà thành pháp sai biệt, nên phải
có lý dung thông.
2. Vì pháp
tánh vô định nên các pháp là pháp duyên khởi của tâm Như
Lai Tạng, vốn chẳng có tự tánh nhất định, nên phải có
lý dung thông.
3. Vì duyên
khởi lẫn nhau, pháp duyên khởi không được tự thể độc
lập, phải do pháp khác làm duyên mà thành, nên phải có lý
dung thông.
4. Vì pháp
tánh dung thông nên sự vật dung thông tự đúng như pháp tánh,
nên phải có lý dung thông.
5. Vì pháp
như mộng huyễn, các pháp chẳng thật, nên phải có lý dung
thông.
6. Vì pháp
như bóng hình, nên các pháp duyên khởi từ một tâm giới
mà chẳng tồn tại, như bóng hình trong gương, nên phải có
lý dung thông.
Sáu thứ
nhân kể trên đều saün có lý dung thông, là y theo đức tướng
của các pháp như như mà nói.
Bốn thứ
nhân kể sau này là theo nghiệp dụng vô ngại mà nói.
7. Vì nhân
vô hạn, nên hàng Bồ Tát tu nhân vô hạn, thì phải được
quả nghiệp dụng vô ngại.
8. Vì Phật
chứng chân tánh cùng tột, nên nghiệp dụng đúng như tánh
cũng vô ngại.
9. Vì sức
thiền định thâm sâu huyền diệu, nên được nghiệp dụng
vô ngại.
10. Vì sức
dụng thần thông giải thoát của tự tánh bất khả tư nghì,
lìa sự ràng buộc của vạn pháp mà được tự tại, nên
nghiệp dụng vô ngại.
Như thế
gọi là "sự sự vô ngại pháp giới". Nếu chứng được sự
sự vô ngại pháp giới thì tất cả đều là việc tự kỷ,
cũng gọi là "nhất chân pháp giới". Nhưng hiện nay người
khắp thế gian đều chẳng biết có việc tự kỷ, vì họ
chẳng biết nên chẳng chịu tin. Vì chẳng tin nên chẳng thể
hành, chỉ ở trong giàu sang, phú quí, tửu sắc, tài lợi mà
trôi qua một đời, chẳng được thành tựu gì cả, dù biết
ngày chết sắp đến, cũng còn không chịu quay đầu lại.
Thật đáng thương xót!
Nhất chân
pháp giới bao gồm vô biên thế giới, mười thứ huyền môn
tổng nhiếp vô lượng pháp môn, tức sự tức lý, tức tánh
tức tướng, tức tục tức chân, tức nhân tức quả, tức
năng tức sở, tức thánh tức phàm, tức đa tức nhất, tức
chánh báo tức y báo, như lưới báu của Đế Thích, trùng
trùng hiển hiện, chẳng phải thần thông làm thành, vốn là
pháp tánh như thế. kẻ mê gặp đâu đều chướng ngại, kẻ
ngộ ngay đó toàn hiển bày. Ấy là lời văn viên đốn, xứng
với tự tánh của Kinh Hoa Nghiêm, cũng là kinh của Thế Tôn
giảng nơi thất xứ cửu hội vậy.
Thất xứ
cửu hội là :
1. Bồ đề
tràng.
2. Phổ-quang-minh
điện.
3. Đao lợi
thiên.
4. Dạ ma
thiên.
5. Đâu xuất
thiên.
6. Tha hóa
thiên.
7 & 8. Trùng
hội nơi Phổ quang minh điện.
9. Thệ đa
lâm.
-
Đệ nhất hội
thuyết Như Lai Y báo và Chánh báo.
-
Đệ nhị hội
thuyết thập tín.
-
Đệ tam hội
thuyết thập trụ.
-
Đệ tứ hội
thuyết thập hạnh.
-
Đệ ngũ hội
thuyết thập hồi hướng.
-
Đệ lục hội
thuyết thập địa.
-
Đệ thất hội
thuyết Đẳng Giác và Diệu Giác.
Thất hội kể
trên đều theo thứ tự mà thuyết, gọi là "Pháp môn hành
Bố".
-
Đệ bát và
đệ cửu hai hội : Phổ Huệ Bồ Tát đề ra hai trăm vấn,
Phổ Hiền Bồ Tát trả lời hai ngàn đáp, phàm nói một pháp
thì tất cả pháp đều bao gồm trong đó, gọi là "Pháp môn
viên dung". "Hành Bố" như hoa đào hoa lý thì hoa trước quả
sau ; "Viên dung" như hoa sen thì hoa quả đồng thời.
-
"Viên dung" có
hai nghĩa :
1. Nhân
gồm Quả Hải (biển quả).
2. Quả thấu
nguồn nhân.
a. Nhân
gồm biển quả là khi đề thập tín thì thập trụ, thập
hạnh, thập hồi hướng, thập địa, đẳng giác, diệu giác
đều bao gồm trong đó.
b. Quả thấu
nguồn nhân là khi đề đẳng giác, diệu giác thì thập địa,
thập hồi hướng, thập hạnh, thập trụ, thập tín cũng đều
bao gồm trong đó. Cho nên nói Hành Bố thì giáo tướng sai
biệt; nói "Viên Dung" thì tánh tướng vô ngại. Tướng là
tướng của tánh, nên Hành Bố chẳng ngại "Viên Dung"; tánh
là tánh của tướng, nên "Viên Dung" chẳng ngại Hành Bố.
Vì "Viên Dung" chẳng ngại Hành Bố, nên một tức là vô lượng.
Hành Bố chẳng ngại "Viên Dung" nên vô lượng tức là một.
Vô lượng tức
là một thì ẩn ẩn dung thông, một tức là vô lượng thì
trùng trùng thấu nhập. Như thế cửu hội cộng thành tám
mươi mốt quyển Kinh Hoa Nghiêm.
Trong kinh
nói :
"Hoa tạng
thế giới sở hữu trần,
Nhất nhất
trần trung kiến pháp giới".
Dịch nghĩa
:
"Bụi trần
đầy thế giới hoa tạng,
Trong mỗi
hạt bụi hiện pháp giới".
Các ngươi
có thấy chăng? Nếu mà thấy được thì liền thấy thân Như
Lai Tạng vô tận quang minh công đức, cùng hư không, khắp
pháp giới, hiện ở nơi đây; vi trần số cõi Phật Bồ Tát
hải hội, cũng tại nơi đây; vi trần số cõi Phật chư thiện
tri thức, thiên long bát bộ, cũng tại nơi đây; vi trần số
cõi Phật bảo tòa, bảo sàng, bảo liên hoa, bảo anh lạc,
bảo võng, bảo thụ cũng tại nơi đây; lời vấn lời đáp;
viên dung hành bố cũng tại nơi đây; tín giải hành chứng
cũng tại nơi đây; Di Lặc búng tay mở cửa lâu các (cung điện)
cũng tại nơi đây; Văn Thù đưa tay xoa đầu Thiện Tài cũng
tại nơi đây. Cho đến ngũ chu, lục tướng, tứ pháp giới,
thập huyền môn, cũng đều tại nơi đây; ấy chẳng phải
ngay đó toàn hiển bày sao?
Trong Kinh
nói : "Tỳ Lô Hoa Tạng Trang Nghiêm Hải, cùng khắp nhất thiết
xứ; Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh bao gồm tất cả
Hoa Tạng Hải".
Nghĩa là
:
Biển trang
nghiêm Liên Hoa Tạng của Phật Tỳ Lô, cùng khắp tất cả
nơi. Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật bao gồm tất cả
pháp.
Đã nói cùng
khắp tất cả nơi xin hỏi : chuồng trâu, chuồng ngựa, quán
rượu, nhà mãi dâm, kiếm thụ đao sơn, chảo dầu sôi, lò
lửa than v.v... những cảnh giới ô uế ác trược này đặt
ở chỗ nào ? Nếu không có chỗ để đặt, bèn cho lò lửa
than, chảo dầu sôi, đao sơn kiếm thụ, gọi là Hoa Tạng Hải
được chăng? Nếu không được gọi là Hoa Tạng Hải thì
chẳng thể nói là cùng khắp tất cả nơi vậy.
Nói Kinh Hoa
Nghiêm bao gồm tất cả pháp, thì xin hỏi những tiếng thần
kêu quỉ khóc, tiếng nước chảy, gió thổi, gà gáy, chó sủa
v.v...những âm thanh ô uế ác trược ấy hướng vào đâu mà
phân biệt? Nếu không có chỗ phân biệt, bèn cho tiếng chó
sủa, gà gáy, tiếng gió thổi, nước chảy, gọi là Kinh Hoa
Nghiêm có được chăng? Nếu không được gọi là kinh Hoa Nghiêm,
thì chẳng thể nói bao gồm tất cả pháp vậy. Các ngươi
ngay chỗ này mà chỉ không ra, Sơn Tăng hôm nay vì các ngươi
chỉ ra cho.
Vô lượng
số thế giới núi thiết vi, vô lượng số giải thoát bồ
đề tràng, vô lượng số ma ni bảo quang tụ, vô lượng số
cung điện lâu các vân, vô lượng số liên hoa sư tử tòa,
vô lượng số biến hóa trang nghiêm thân, vô lượng số quốc
thành thiện tri thức, hôm nay ở trên cây phất trần này đồng
thời hiển lộ ra rồi!
Giáo chủ
Tỳ Lô Giá Na Phật sở thuyết, Phổ Hiền Bồ Tát sở thuyết,
Văn Thù Bồ Tát sở thuyết, thất xứ cửu hội chư Bồ Tát
sở thuyết, bốn mươi mốt vị pháp thân đại sĩ, tất cả
phát đại tâm chúng sanh, Thiên Long Bát Bộ chúng hội sở
thuyết, địa thần thuyết, thủy thần thuyết, hỏa thần
thuyết, phong thần thuyết, sơn lâm thần, đạo tràng thần
sở thuyết, cho đến vân đài thuyết, bảo võng thuyết, trần
thuyết, sát thuyết, đủ thứ thuyết, hôm nay đều nhờ cây
gậy này xiển dương rồi.
Vậy, cây
gậy và cây phất trần tại sao quái lạ như thế? Nếu biết
được chỗ quái lạ thì biết được chỗ dung thông biến
hiện; nếu biết được chỗ dung thông biến hiện, thì biết
được cùng khắp nhất thiết xứ, bao gồm tất cả pháp vậy.
Đã biết được như thế này, mới rõ tiếng thần kêu quỉ
khóc, tiếng nước chảy, gió thổi, chó sủa, gà gáy v.v...không
có pháp nào chẳng phải Kinh Hoa Nghiêm; chuồng trâu, chuồng
ngựa, quán rượu, nhà mãi dâm, đao sơn kiếm thụ... Không
nơi nào chẳng phải Hoa Tạng Hải vậy.
Tâm này chưa
liễu thì danh tướng muôn ngàn sai biệt, tâm này đã liễu
thì thể dụng chỉ là một thôi. Nên nói :
Tam muội
liễu tâm hay như thế
Người tâm
chưa liễu chẳng thể tri.
Có một quyển
đại kinh ở trong một hạt bụi, có người trí phá hạt bụi
này, hiện ra quyển đại kinh. Nếu thấy được quyển đại
kinh này thì tám mươi mốt quyển kinh kia đều thành giấy
vụn.
Chân thiện
tri thức chẳng lìa tự kỷ, cầu đạo nơi tự kỷ, chẳng
tìm ở nơi khác. Nếu gặp được thiện tri thức này thì
năm mươi ba vị thiện tri thức kia đều là người dưng.
Nếu ông
chưa thể thừa nhận như thế, thì chẳng được bỏ qua tám
mươi mốt quyển kinh, cần phải đọc kỹ từ đầu đến
cuối; năm mươi ba vị thiện tri thức cũng nên từng vị mà
tham học. Sở dĩ kinh nói : thiện tri thức là chỗ sanh trưởng
nhiều thiện căn, thiện tri thức là chỗ sanh ra công đức,
thiện tri thức là chẳng nhiễm thế pháp, thiện tri thức
là chẳng thọ ác báo, thiện tri thức là chiếu sáng pháp
giới, thiện tri thức là sanh trưởng thân Bồ Tát. Còn nói
: Gặp thiện tri thức được tâm chẳng tán loạn, gặp thiện
tri thức được phá núi chướng ngại, gặp thiện tri thức
được vào biển đại bi cứu giúp chúng sanh, gặp thiện tri
thức được ánh sáng trí huệ chiếu soi pháp giới. Còn nói
:
Do thân cận
thiện tri thức được dũng mãnh siêng năng tu đạo, do thân
cận thiện tri thức được ở nơi một hạt bụi thuyết pháp
mà âm thanh khắp pháp giới, do thân cận thiện tri thức được
niệm niệm đi đúng hạnh Bồ Tát, cứu cánh an trụ nơi nhất
thiết trí địa.
Lành thay!
Lành thay! Thiện tri thức có sự lợi ích như thế, dù vậy
muốn gặp thiện tri thức, phải có đại nhân duyên, có nhân
duyên thì cách xa ngàn dặm cũng được gặp; không có nhân
duyên thì đối diện mà chẳng thấy. Nên nói :
Ưu Bát Đàm
Hoa còn dễ thấy,
(ba ngàn năm
hiện một lần)
Đại thiện
tri thức rất khó gặp.
Lời này
đâu phải gạt người!
Kinh Hoa Nghiêm
có hai bài kệ, có thể đại diện cho cả bộ kinh này :
Bài kệ thứ
nhất :
Nhược nhân
dục liễu tri,
Tam thế nhất
thiết Phật,
Ưng quán
pháp giới tánh,
Nhất thiết
duy tâm tạo.
Dịch nghĩa
:
Nếu người
muốn biết rõ,
Tất cả
Phật tam thế,
Phải quán
tánh pháp giới,
Tất cả
do tâm tạo.
Tất cả
cảnh giới thánh, phàm, thế gian và xuất thế gian, chỉ một
bài kệ này đã bao gồm chẳng thiếu sót. Hai chữ "Pháp giới"
gồm có tứ thánh lục phàm, hợp thành mười pháp giới.
Mười pháp
giới này vốn chẳng có tự thể, chẳng có tự tánh, chẳng
có tự chủng, cũng chẳng có tự căn (gốc), đều do một
tâm tạo ra.
Nói đến
chữ TÂM cũng như hư không, vốn là thanh tịnh, vốn là thấu
triệt, chẳng có hình dáng, chẳng có phương sở, bất diệt,
bất sanh, bất động, bất biến. Vậy tại sao lại nói là
duy tâm tạo? Nguyên cái tâm này dù nói bất biến mà cũng
là tùy duyên, vì tùy duyên nên năng tạo; nói tùy duyên là
vì một niệm thình lình sanh khởi, hoặc tiếp xúc với ngoại
cảnh, trong và ngoài cảm ứng với nhau, gọi là nhân duyên,
có nhân duyên mới thành pháp giới. Nay dùng thí dụ để tỏ
rõ :
Tâm như nước,
pháp giới như làn sóng. Bản thể của nước vốn yên tịnh,
chẳng phương sở lay chẳng động, khi gặp gió thổi thì muôn
ngàn làn sóng tùy sự tiếp xúc mà nổi lên. Vậy thì nước
có thể tạo ra làn sóng, làn sóng do nước mà có; cũng như
Tâm có thể tạo ra pháp giới, pháp giới do tâm mà có vậy.
Do đó, nhất
thừa linh động, vạn đức trang nghiêm là pháp giới của
chư Phật; viên tu lục độ, tổng nhiếp vạn hạnh, là pháp
giới của Bồ Tát; chấp vào nhân duyên, chứng lý Thiên Không,
là pháp giới của Duyên Giác; tứ đế công thành, chứng tiểu
Niết Bàn, là pháp giới của Thanh Văn; ham tu giới thiện,
làm nhân hữu lậu, là pháp giới của cõi trời; ái nhiễm
chẳng ngừng, cũng làm thiện duyên, là pháp giới của cõi
người; chấp tâm hiếu thắng, nổi sân đấu tranh, là pháp
giới của Tu La; ái kiến làm gốc, bỏn xẻn làm nghiệp, là
pháp giới của ngạ quỷ; Tham dục chẳng ngừng, luôn luôn
si tưởng là pháp giới của súc sinh; tạo mười ác nghiệp,lục
căn thọ báo, là pháp giới của điạ ngục. Nói tóm lại,
vô biên thế giới y theo tâm này mà biến tạo, mặt trăng,
mặt trời y theo tâm này mà vận hành, sự mê của tất cả
chúng sanh là mê tâm này, sự ngộ của thánh hiền tam thừa
là ngộ tâm này, sự dẫn dắt của Đại Tạng giáo điển
là dẫn dắt tâm này, sự khai thị của lịch đại tổ sư
là khai thị tâm này; tam quán quán tâm này; đơn truyền là
truyền tâm này; nhiều kiếp tu tập là tu tâm này; chứng ngộ
từng bậc là chứng tâm này. Do tâm này tùy duyên biến tạo,
nên mới có mười pháp giới, nếu được nhất tâm chẳng
sanh, liễu ngộ liễu chứng, thì mười pháp giới cũng theo
sự liễu mà hết. Thế nên thập ác đã dứt, lục căn thọ
báo chẳng sanh, thì tâm địa ngục được liễu; tham dục
đã dứt, si tưởng chẳng sanh, thì tâm súc sinh được liễu;
ái kiến đã dứt, bỏn xẻn chẳng sanh, thì tâm ngạ quỉ
được liễu; hiếu thắng đã dứt, sân đấu chẳng sanh, thì
tâm Tu La được liễu ; ái nhiễm đã dứt, chánh niệm hiện
tiền, thì tâm cõi người được liễu; bỏ nhân hữu lậu,
tu nghiệp vô lậu thì tâm cõi trời được liễu; chẳng chấp
tứ đế, chẳng giữ chân không, thì tâm thanh văn được liễu;
chẳng chấp nhân duyên, hồi tâm hướng đại (thừa), thì
tâm duyên giác được liễu; lục độ công thành, đốn siêu
địa vị, thì tâm Bồ Tát được liễu; Bồ Đề viên mãn,
quy vô sở đắc thì tâm chư Phật được liễu.
Thế thì
làm sao cho tâm được liễu?
Ngài Diệu
Thọ nói :
Từ tán tâm
đến đa tâm,
Từ đa tâm
đến thiểu tâm,
Từ thiểu
tâm đến nhất tâm,
Từ nhất
tâm đến vô tâm,
Từ vô tâm
đến liễu tâm,
Chỉ cần
tham câu thoại đầu, thì mỗi mỗi tâm đều được liễu.
Bài kệ thứ
nhì :
Nhược nhân
dục thức Phật cảnh giới,
Đương tịnh
kỳ ý như hư không,
Viễn ly vọng
tưởng cập chư thủ,
Linh tâm sở
hướng giai vô ngại.
Dịch nghĩa
:
Nếu người
muốn biết cảnh giới Phật,
Ý căn thanh
tịnh như hư không,
Xa lìa vọng
tưởng và chấp thủ,
Khiến tâm
khắp nơi đều vô ngại.
Cảnh giới
Phật là gì? Không và hữu thay phiên hiển bày, lý sự vô
ngại, một tức nhiều, nhiều tức một, lớn vào nhỏ, nhỏ
vào lớn là cảnh giới Phật vậy. Do đó được biết, một
hạt bụi, một giọt nước cho đến vi trần số cõi Phật
Hoa Tạng Hải đều là cảnh giới Phật cả. Nhưng các ngươi
tay chỉ mắt nhìn, trên là trời, dưới là đất, vận hành
là nhựt nguyệt tịnh mà trụ gọi là núi, động mà chảy
gọi là sông, hữu tình là người, vô tình là vật. Cảnh
giới Phật ngay trước mắt mà lại chẳng thấy, thực là
thật đáng thương xót! Tại sao vậy? Chỉ vì các ngươi nơi
ý căn chưa từng thanh tịnh, nên có đủ thứ vọng tưởng,
đã có vọng tưởng là có phân biệt, đã có phân biệt thì
kẹt vào danh tướng, đã kẹt vào danh tướng nên thấy trời
chỉ là trời, thấy đất chỉ là đất, thấy núi sông chỉ
là núi sông, thấy người vật chỉ là người vật ; lại
ở nơi danh tướng vọng sanh đủ thứ chấp trước, như chấp
núi sông người vật, lại còn ở nơi chấp trước sanh ra
đủ thứ chướng ngại, cũng như bị sắc, thinh, hương, vị
chướng ngại, bị núi, sông, người, vật, vạn tượng sum
la chướng ngại, vì ở khắp nơi đều bị chướng ngại,
nên muốn thấy cảnh giới Phật lại càng khó hơn nữa.
Dù vậy,
nếu ông chân thật muốn thấy cũng chẳng khó, chỉ cần đem
các thứ vọng tưởng, chấp trước, chướng ngại ấy, mỗi
mỗi đều xoay trở về tự tánh, khiến cho nơi ý căn thanh
tịnh như hư không. Ở trên đỉnh đầu mở ra chánh nhãn (tham
ngộ), chiếu soi khắp thế gian. Như vậy thì trời là cảnh
giới Phật, đất cũng là cảnh giới Phật, núi sông người
vật, hạt bụi giọt nước, cho đến vi trần số cõi Phật
thế giới, không nơi nào chẳng phải là cảnh giới Phật
cả. Đang lúc ấy luôn cả vọng tưởng, chấp trước, chướng
ngại cũng đều là cảnh giới Phật rồi vậy.
Cảnh giới
như thế, phi hữu phi không, phi lý phi sự, phi nhất phi đa,
phi tiểu phi đại, phi mê phi ngộ, phi tu phi chứng, gọi là
cảnh giới Phật cũng được, chẳng gọi là cảnh giới Phật
cũng được. Vi diệu như thế bất khả thuyết, viên dung như
thế bất khả thuyết, tự tại vô ngại như thế bất khả
thuyết, chứng ngộ giải thoát như thế bất khả thuyết,
công đức lợi ích như thế bất khả thuyết. Ấy gọi là
bất khả thuyết lại thêm bất khả thuyết của cảnh giới
Phật. Các ngươi ở nơi cảnh giới Phật này đã từng đích
thân đi đến chưa? Nếu chưa đến nơi, cần phải nghe ta từ
đầu nói trắng ra :
-
Nếu ngươi
muốn biết cảnh giới Phật (là trên đầu lại sanh thêm đầu).
-
Ý căn thanh
tịnh như hư không (vì có ai bị ô nhiễm đâu?)
-
Xa lìa vọng
tưởng và chấp thủ (là vạch sóng để tìm nước).
-
Khiến tâm khắp
nơi đều vô ngại (thì trước mắt đều là núi xanh).
Nói
trắng ra rồi đó. Chớ nên hiểu lầm!
Xưa kia Thế
Tôn ở nơi pháp Bồ Đề tràng mới thành chánh giác, than rằng
: "Lạ thay! Nay ta thấy khắp tất cả chúng sanh đều đủ
cả đức tướng trí tuệ của Như Lai, chỉ vì vọng tưởng
chấp trước mà chẳng chứng đắc". Vậy Phật đã đem hết
sự sở chứng tỏ bày rồi, các ngươi hiện đang ở nơi pháp
Bồ Đề Tràng, mỗi người đầu đội hư không, chân đạp
quả đất mà chẳng thành chánh giác là tại sao? Vì vọng
tưởng chấp trước chưa dứt, đại tâm Bồ Đề chưa phát.
Mê thì Bồ
Đề là vọng tưởng,
Ngộ thì
vọng tưởng là Bồ Đề.
Muốn thành
chánh giác cần phải phát tâm Bồ Đề, nên kinh nói :"Tâm
Bồ Đề cũng như chủng tử, vì hay sanh tất cả Phật pháp;
tâm Bồ Đề cũng như đại địa, vì hay trì tất cả thế
gian; tâm Bồ Đề cũng như nước trong sạch, vì hay rửa tất
cả cấu bẩn phiền não; tâm Bồ Đề cũng như gió lớn vì
thổi khắp thế gian đều vô ngại; tâm Bồ Đề cũng như
xe lớn, vì hay chuyên chở chư Bồ Tát; tâm Bồ Đề cũng như
đại đạo (đại lộ), Vì hay khiến chúng sanh được vào
thành đại trí; tâm Bồ Đề cũng như vườn hoa, vì cho chúng
sanh ở nơi đó du hí thọ pháp lạc; tâm Bồ Đề giống như
hạt châu như ý vì hay cấp cho tất cả người nghèo khổ
được no ấm".
Lành thay!
Lành thay! Tâm Bồ Đề có công đức như thế.
Nếu đã
phát tâm Bồ Đề, đương nhiên phải tu hạnh Bồ Tát, hạnh
Bồ Tát nếu chẳng tu, thì tâm Bồ Đề thành vọng phát. Há
chẳng thấy Thiện Tài đồng Tử khi tham vấn mỗi thiện tri
thức đều nói :"Con đã phát tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam
Bồ Đề mà con chưa biết làm sao học hạnh Bồ Tát, làm sao
tu đạo Bồ Tát. Nghe nói bậc thánh hay dạy bảo cách khéo
léo, xin vì con mà thuyết." Ấy là cái gương của Thiện Tài
Đồng Tử phát tâm tu hành. Do đó được biết, dù có nghe
nhiều, nếu chẳng chịu tu hành thì cũng bằng người chẳng
nghe, như người chỉ nói ăn mà chẳng ăn thì làm sao được
no.
Thanh tịnh
pháp thân Tỳ Lô Giá Na giấu trong một lỗ chân lông, biển
hạnh nguyện của Phổ Hiền rải khắp trên trăm đầu ngọn
cỏ.
Dầu ở nơi
một lỗ chân lông, rõ ràng là dựng đất chỏi trời; dù
ở nơi trăm đầu ngọn cỏ, rốt cuộc quét sạch dấu tích.
Các ngươi muốn thấy một lỗ chân lông chăng?
-
Chiều dọc
thì xuyên qua tam tế (quá khứ, hiện tại, vị lai), chiều
ngang thì rộng khắp mười phương; muốn thấy trăm đầu ngọn
cỏ chăng?
-
Tia lửa ánh
chớp không kịp nháy mắt. Có khi một lỗ chân lông nuốt
hết trăm đầu ngọn cỏ, có khi trăm đầu ngọn cỏ hiện
ra một lỗ chân lông, có khi một lỗ chân lông tức là trăm
đầu ngọn cỏ. Có khi trăm đầu ngọn cỏ tức là một lỗ
chân lông; khiến cho Phật Tỳ Lô Giá Na, Bồ Tát Phổ Hiền
hòa thành một khối, làm cho tất cả chúng sanh tìm mãi chẳng
ra, chen thân chẳng lọt, dùng sức chẳng đụng, chân đạp
chẳng vững, vốn chẳng định thể, cũng chẳng định danh.
Có khi gọi là nhất chân pháp giới, có khi gọi là đại quang
minh tạng, có khi gọi là pháp Bồ Đề Tràng, có khi gọi là
diệu trang nghiêm thành, có khi gọi là nghĩa lục tướng, có
khi gọi là thập huyền môn, hoặc nói ám hiệu tử, hoặc
nói bản lai nhân, cho đến dùng nó thành cây gậy, biến nó
thành tiếng hét. Thả đi thu lại, muôn ngàn sai biệt, đến
khi tẩy sạch triệt để khám phá cuối cùng (kiến tánh),
vốn chỉ là một mình tự kỷ! Cái tự kỷ này, ở trời
thì đồng với trời, ở đất thì đồng với đất, nơi người
thì đồng với người, nơi vật thì đồng với vật. Trên
bổn phận tự kỷ, hoặc nói bổn cụ (vốn đầy đủ), hoặc
nói bổn không (vốn trống rỗng), hoặc nói mê và ngộ, hoặc
nói tu và chứng, bày ra đủ thứ dây trói buộc, kỳ thật
:
Gió xuân chẳng
thấp cao,
Nhánh hoa
tự ngắn dài.
Nhớ lại
Thiện Tài Đồng Tử tham vấn khắp miền nam năm mươi ba vị
thiện tri thức, sau cùng gặp Bồ Tát Phổ Hiền, bảo phát
mười đại nguyện, dẫn dắt vãng sanh lạc độ. Dù nói vãng
sanh, thực là hiển thị pháp vốn vô sanh vậy.
Vì đã nói
nhất thiết duy tâm tạo, thì lạc độ đâu phải ở ngoài
tâm? Nên nói tâm tịnh thì Phật độ tịnh.
Duy tâm tịnh
độ diệu như thế,
Kẻ tâm chưa
tịnh khó liễu tri.
PHỤ
CHÚ
HỎI : Đã
nói "Nhất thiết duy tâm tạo" thì pháp giới Phật và cảnh
giới Phật là sở tạo, tâm là năng tạo. Chư Phật đã chứng
quả cùng tột, năng sở đều dứt. Tại sao còn có tâm để
tạo pháp giới Phật và cảnh giới Phật như trong yếu chỉ
đã nói?
ĐÁP : Kinh
Hoa Nghiêm có bài kệ rằng :
Phật thân
sung mãn ư pháp giới,
Phổ hiện
nhất thiết quần sanh tiền,
Tùy duyên
phó cảm mị bất chu,
Nhi thường
xử thử Bồ Đề tòa.
Dịch nghĩa
:
Thân Phật
đầy khắp nơi pháp giới,
Phổ biến
hiện trước mắt chúng sanh,
Tùy duyên
cảm ứng chẳng thiếu sót,
Mà thường
ngồi tại tòa Bồ Đề.
Thân Phật
đầy khắp pháp giới thì làm sao có năng sở, chỉ vì chúng
sanh nơi chín giới kia khởi tâm vọng tạo mới thành bệnh,
nên Phật tùy duyên mà cảm ứng để đối trị. Đối với
bệnh "địa ngục" thì dùng thuốc "địa ngục" để trị.
Đối với bệnh "Bồ Tát" thì dùng thuốc "Bồ Tát" để trị.
Đã nói :
"Tùy duyên
cảm ứng mà thường ngồi tại tòa Bồ Đề" hiển nhiên chưa
từng khởi tâm động niệm, thì làm sao có năng tạo và sở
tạo được?
Sở dĩ nói
: Pháp giới Phật và cảnh giới Phật là chỉ vì độ chúng
sanh mà phương tiện lập danh thôi.
PHỤ
LỤC.
Công án của
Duy Tắc Thiền Sư.
Tăng xin hỏi
về bệnh thiền.
Sư nói :"Ta
có một phương thuốc bí mật, rất là giản dị, chỉ bảo
ông buông thân xả mạng đại tử một lần. Nếu được đại
tử một lần thì tất cả gốc bệnh tự dứt, sau đó nhào
lộn một cái, làm người sống lại như cũ. Khi ấy mới cho
ông đem phương thuốc hiệu nghiệm này để trị người thiền
bệnh khắp thiên hạ".
Tăng do dự
muốn nói.
Sư liền
hét: "Thằng tham sống sợ chết! Ở đây không có chỗ cho
mày đứng. Đi ra!"
(HẾT)
|