c
YẾU
CHỈ
DIỆU
PHÁP LIÊN HOA KINH
Tác giả
: Thích Duy Lực
Giải đề
:
-
Diệu là bất
khả tư nghì.
-
Pháp là phương
tiện để đạt đến giác ngộ cuối cùng.
-
Liên Hoa (Hoa
sen) dụ cho Diệu pháp sanh nơi đất sình ô uế mà chẳng nhiễm,
mùi thơm càng xa càng dịu dàng.
-
Kinh là xuyên
thấu cổ kim.
Diệu Pháp Liên
Hoa là một đại pháp bất khả tư nghì, độ cho chúng sanh
ở cõi ta bà ác trược được không nhiễm, cũng như tự tánh
chìm nơi ác thế đã lâu mà được hiện ra thanh khiết như
hoa sen. Vì Diệu Pháp chẳng thể suy lường, người đọc khó
hiểu, hiểu mà khó tin, tin mà khó hành, hành mà khó chứng.
Cho nên nhiều người y văn giải nghĩa đuổi theo lời nói
mà chẳng hiểu ý Phật, lại mê lầm hiểu theo mê tín, nghịch
với ý chỉ trong kinh.
Tác dụng
của Phật pháp là muốn chúng sanh đều được thành Phật
để giải thoát cái khổ sanh tử, tự giác giác tha. Muốn
đạt đến mục đích này thì phải thực hành đúng theo phương
tiện của Phật dạy trong kinh, nhưng người đời nay có một
số cho đọc tụng là trì kinh, một số thì chỉ nghiên cứu
Phật học để thêm kiến giải mà không chú trọng sự thực
hành thành ra mất hết tác dụng của Phật pháp.
Trích lục
yếu chỉ kinh này là muốn giải quyết những cái khó kể
trên một phần nào, khiến cho người đọc ở chỗ cao sâu
mà nắm được căn bản, ở chỗ quảng đại mênh mông mà
tìm được trung tâm, để thực hành đúng theo lời Phật dạy
cho đến cứu kính thành Phật.
PHẨM TỰA
Thứ Nhất.
"Phật phóng
hào quang chiếu soi" là một triệu chứng tốt đẹp để báo
cho biết Phật sẽ giảng đại pháp hy hữu xưa nay chưa từng
có. Ý muốn tất cả chúng sanh đều biết kính trọng pháp.
Do trọng pháp mới có đủ lòng tin, đủ lòng tin rồi mới
quyết chí thực hành theo, để đạt đến giác ngộ cuối
cùng, vĩnh viễn tự do tự tại.
Dù như vậy
mà trong hội này vẫn có một số tứ chúng năm ngàn người,
vì chưa đủ lòng tin, nên nghe Phật sẽ giảng đại pháp mà
lại bỏ đi. Phật cho đó là những kẻ kém phước, tăng thượng
mạn.
PHẨM PHƯƠNG
TIỆN Thứ Hai.
Theo căn bản
của Phật pháp chỉ có một Phật thừa, nhưng theo phương
tiện thì giảng ra vô lượng vô biên để thích ứng với
căn cơ và trình độ của mọi chúng sanh.
-
Chúng sanh nào
nghe được pháp này thì sẽ thành Phật.
-
Chúng sanh do
nghe pháp (đọc tụng cũng như nghe pháp) mà tín giải là khai
Phật tri kiến.
-
Do tín giải
mà thọ trì (y theo chánh pháp thực hành) là thị Phật tri
kiến.
-
Do thọ trì
mà chứng đắc là ngộ Phật tri kiến.
-
Do chứng đắc
mà thành đạo gọi là nhập Phật tri kiến.
-
Chẳng lập
tất cả tri kiến gọi là Phật tri kiến.
Do một đại
sự nhân duyên này (Nhất-Phật-Thừa) nên Phật thị hiện
trên đời.
Nói một
Phật thừa vì tự tánh bất nhị. Tất cả pháp vốn chẳng
có tự tánh. Chủng tử Phật do nhân duyên sanh khởi. Pháp
nào trụ theo ngôi pháp đó. Cũng như ngọn đèn mỗi giây mỗi
khác; ngọn đèn giây thứ nhứt trụ theo ngôi pháp giây thứ
nhất, ngọn đèn giây thứ nhì trụ theo ngôi pháp giây thứ
nhì; pháp sanh trụ ngôi sanh, pháp diệt trụ ngôi diệt, v.v...Tướng
thế gian luôn luôn thường trụ như thế.
Muốn thấu
suốt nghĩa "thế gian tướng thường trụ" thì phải chứng
ngộ tự tánh mới được.
PHẨM THÍ
DỤ Thứ Ba.
Chúng sanh
ba thừa ở trong nhà lửa tam giới, cũng như con nít ham chơi
ngũ dục tài lợi, không sợ cái khổ sanh lão bệnh tử, không
chịu ra nhà lửa để tránh khỏi chết thiêu. Phật phải dùng
các phương tiện dối gạt (lời nói dối gạt là phương tiện
để cứu độ chúng sanh nên không được coi là vọng ngữ)
nói bên ngoài có đủ thứ đồ chơi, nào là xe dê, nào là
xe nai, nào là xe bò. Hãy mau mau chạy ra mới được tùy ý
lựa chọn món đồ chơi của mình ham thích.
Khi tất cả
được ra ngoài yên ổn rồi, Phật cho đồng đều mỗi đứa
một xe bò lớn (Đại thừa)vì thật ra chẳng có xe dê, xe
nai.
Ở đây chỉ
rõ dù lời Phật nói có ba thừa nhưng kỳ thực chỉ có nhứt
Phật thừa mà thôi.
PHẨM TÍN
GIẢI Thứ Tư.
Hàng Thinh
Văn Duyên Giác, sau khi được nghe đại pháp chưa từng có
và thấy Phật thọ ký Vô Thượng Bồ Đề cho Xá Lợi Phất
mới biết trước kia được ít cho là đủ, tự cho đã được
Niết Bàn, chẳng cầu tiến lên. Đối với đại thừa có
vô lượng pháp tài để thành tựu cho chúng sanh mà tâm họ
chẳng ham thích, cũng như cha là trưởng giả giàu sang mà con
ruột lại bỏ đi ăn xin các nơi, cam chịu nghèo khổ. Dầu
đã gặp cha ruột giàu sang nhưng không dám tin nhận, phải
trải qua hai mươi năm lao nhọc hốt phẩn, mới phát hiện
được tất cả tài sản kia thuộc về mình.
Kinh nói "cha
cho" nhưng sự thật thì tự tánh vốn sẳn có.
"Cha" là dụ
cho tự tánh Phật.
PHẨM DƯỢC
THẢO DỤ Thứ Năm.
Pháp vương
phá chấp ra đời, theo tâm ý chúng sanh mà tùy nghi thuyết
pháp. Diệu pháp khó hiểu khó biết vì tự tánh vô hình vô
thanh, lời nói chẳng thể diễn tả, ý thức chẳng thể suy
lường. kẻ có trí nghe rồi thì được tin, được hiểu.
Kẻ vô trí nghe rồi vẫn còn nghi ngờ, nhưng cũng được gieo
trồng thiện căn.
Ví như mưa
xuống khắp nơi, tất cả cây cối và dược thảo tùy theo
căn tánh lãnh thọ thấm nhuần mà sanh trưởng.
Như Lai thuyết
pháp cũng vậy, một tướng, một vị, gọi là tướng giải
thoát, tướng lìa, tướng diệt. Chúng sanh y theo lời dạy
tu hành, cứu kính sẽ được kiến tánh thành Phật.
PHẨM THỌ
KÝ Thứ Sáu.
Ý của Phật
ở phẩm này tỏ rõ rằng : tất cả đệ tử Phật, bất cứ
thượng căn, trung căn, hạ căn chỉ cần đầy đủ lòng tin,
thực hành theo đúng phương tiện của Phật dạy, cuối cùng
tất cả đều sẽ được thọ ký thành Phật.
PHẨM HÓA
THÀNH DỤ Thứ Bảy.
"Đại Thông
Trí Thắng Phật (Bích Chi Phật)
Mười kiếp
tọa đạo tràng"
thân tâm
chẳng động là trụ nơi Niết Bàn tiểu thừa (hóa
thành) chưa
đến cứu kính (bảo sở) nên: "Phật pháp chẳng hiện
tiền, chẳng
đặng thành Phật đạo"
Sau này bỏ
Niết Bàn tiểu thừa tiến lên đại thừa mới được thành
Phật.
Mười sáu
Vương Tử thành Phật ở mười phương thế giới để tỏ
rõ "Phật Phật bất nhị". Chư Phật đều thuyết Kinh Pháp
Hoa để tỏ rõ "Pháp pháp bất nhị".
Hàng Thinh
Văn Duyên Giác ham pháp tiểu thừa, chẳng tin đại thừa, nên
Phật trước lập phương tiện nói Niết Bàn tiểu thừa để
tâm họ được tạm yên ổn, rồi sau mới dạy pháp Bồ Tát,
để đi đến chỗ cứu kính.
Cũng như
đạo sư (Phật) dẫn dắt chúng tiểu thừa đi tìm châu báu
vì muốn thuận theo ý của đại chúng nên mới biến hóa thành
lớn để tạm nghỉ, sau mới khuyên chúng bỏ nơi "hóa thành"
tiến tới nữa, đến nơi "Bảo Sở" (quả Phật).
PHẨM NGŨ
BÁ ĐỆ TỬ THỌ KÝ Thứ Tám.
THỌ HỌC
VÔ HỌC NHƠN KÝ Thứ Chín.
Phẩm tám,
phẩm chín cũng như phẩm sáu, thất chúng đệ tử cho đến
Thiên Long Bát Bộ, kẻ hộ trì chánh pháp, chẳng kể thứ
lớp tốt xấu, quả vị cao thấp, hữu học (thấp), vô học
(cao), nếu được nghe một câu, một kệ của kinh này cho đến
một niệm tùy hỷ đều được thọ ký thành Phật. Vì gieo
chánh nhân thì sẽ được chánh quả.
PHẨM PHÁP
SƯ THỨ MƯỜI.
Phẩm này
dạy rằng phải tôn trọng, tán thán, cung kính, cúng dường
pháp sư. Nhưng pháp sư thuyết pháp cần phải hiểu rõ ý Phật,
như nói: "vào thất Như Lai" Là tâm đại bi, "mặt áo Như Lai"
là tâm nhu hòa nhẫn nhục, "ngồi tòa Như Lai" là tất cả
pháp KHÔNG (nghĩa là "có" "chẳng thực có", "không" "chẳng
thực không", "chơn" "chẳng thực chơn", "vọng" "chẳng thật
vọng", tất cả pháp đều chẳng thật gọi là tất cả pháp
KHÔNG) rồi mới dùng tâm chẳng giãi đãi vì tứ chúng thuyết
pháp. Nếu chẳng hiểu rõ ý Phật mà tự ý vọng thuyết thì
sẽ bị cái tội cuồng vọng thuyết pháp.
(Kinh Lăng
Nghiêm có nói bốn thứ tội địa ngục :
-
Một là phá
Phật luật nghi.
-
Hai là phỉ
báng Đại Thừa.
-
Ba là cuồng
vọng thuyết pháp.
-
Bốn là hư
tiêu tín thí).
PHẨM HIỆN
BỬU THÁP Thứ Mười Một.
Bảo tháp
từ dưới đất nổi lên. Bảo tháp dụ cho tự tánh. Đất
dụ cho tâm địa. Đa Bảo dụ cho sức dụng của tự tánh
vô lượng vô biên.
Phật thuyết
kinh này, chúng sanh nào nghe theo lời tu hành thì sức dụng
của tự tánh tự nhiên từ nơi tâm địa hiện ra. Nhưng muốn
thấy sức dụng của tự tánh trước tiên cần phải chứng
ngộ tự tánh bất nhị. Cũng như Phật nói: "Phải đợi khi
mười phương phân thân Phật tựu tập lại rồi, Phật Đa
Bảo mới chịu hiện ra cho thấy". Vậy thì vô lượng phân
thân chỉ là một Phật Thích Ca là để thị hiện sự bất
nhị của tự tánh mà thôi.
Đã được
chứng ngộ thì vô biên diệu dụng tự hiện. Sự việc ba
lần biến uế độ thành tịnh độ tức là tỏ bày diệu
dụng của tự tánh.
Bởi vì tự
tánh vô hình, vô thanh, lời nói chẳng thể diễn tả, ý thức
chẳng thể suy lường, là một pháp rất khó hiểu, khó tin,
nên kinh nói : tất cả việc rất khó đều không khó bằng
thuyết pháp này.
PHẨM ĐỀ
BÀ ĐẠT ĐA Thứ Mười Hai.
Phẩm này
chỉ rõ đại pháp khó gặp. Tiền thân Phật Thích Ca nhiều
kiếp làm Quốc Vương, vì cầu đại pháp mà trải qua vô lượng
khổ mới được gặp Thiện tri thức, nghe pháp, phụng trì
cho đến thành Phật. Vì muốn phá trừ chấp trước của những
kẻ chấp ngôn hại nghĩa, chấp thật thời gian và nghiệp
chướng nên khai thị Long Nữ tám tuổi thành Phật, như vậy
thì được biết chẳng phải do tu lâu và năm thứ chướng
của người nữ cũng chẳng phải có nhứt định.
PHẨM KHUYÊN
TRÌ Thứ Mười Ba.
Tất cả
Đại Bồ Tát, A La Hán cho đến Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni đã được
thọ ký rồi đều phát lời thệ trước Phật rằng: "Sau khi
Phật nhập diệt sẽ hộ trì kinh này dù cho bị chúng sanh
tàn ác khinh bỉ, chửi mắng, cho đến dùng dao gậy đánh đập,
đều cam tâm nhẫn chịu mà khuyên họ biên chép thọ trì đọc
tụng, giải thích nghĩa kinh, theo pháp tu hành".
(Biên chép
đọc tụng cũng như nghe Phật thuyết pháp, thọ trì tức là
thực hành đúng như chánh pháp).
PHẨM AN
LẠC HẠNH Thứ Mười Bốn.
Tư cách của
người giảng kinh này (cũng như các Kinh Đại-Thừa liễu nghĩa
khác) cần phải an trụ nơi bốn pháp An-Lạc-Hạnh :
-
Đệ Nhất An-Lạc-Hạnh
: An trụ nơi "Hành xứ" và "Thân cận xứ" của Bồ Tát. "Hành
xứ" là phải nhu hòa nhẫn nhục tâm chẳng kinh sợ, quán các
pháp như thực tướng (chẳng chấp thật), đối với các pháp
đều vô-sở-hành, nghĩa là chẳng hành pháp năng sở, chẳng
hành pháp phân biệt tương đối như nam nữ, hữu vô, v.v...
chẳng hành pháp kiến văn giác tri, đối với các pháp đều
vô-sở-đắc. "Thân cận xứ" là chẳng thân cận các quí tộc
quan trưởng, các tà ma ngoại đạo, các kẻ dùng thế pháp
lập ngôn viết sách, các kẻ ác đáp ác vấn, kẻ đùa giỡn
hung dữ, kẻ thần bí biến hiện, kẻ chăn nuôi săn bắn giết
hại. Những người kể trên hoặc khi có đến thì vì họ
thuyết pháp mà chẳng có tâm hy vọng. Còn đối với người
nữ thuyết pháp cần phải trang nghiêm chẳng sanh tưởng ái
dục, thu nhiếp tâm ý, gọi là nơi "Thân cận xứ" đầu tiên.
Quán tất cả
pháp KHÔNG, vô danh vô tướng, phi sanh phi diệt, vô lượng
vô biên, vô ngại vô chướng, hiểu rõ pháp sanh diệt do nhân
duyên điên đảo mà hiện, gọi là "Thân cận xứ" thứ nhì.
-
Đệ nhị An-Lạc-Hạnh
: chẳng khinh mạn pháp sư khác, chẳng nói thị phi tốt xấu
hay dở của cá nhân, cũng chẳng chỉ tên khen ngợi, cũng không
có tâm oán ghét; đối với kẻ nghe pháp chẳng nghịch ý họ,
có người vấn nạn chẳng dùng pháp Tiểu thừa trả lời,
chỉ dùng pháp Đại thừa giải thích để cho họ được Nhứt-Thiết
Chủng-Trí.
-
Đệ Tam An-Lạc-Hạnh
: chớ khinh bỉ chửi mắng kẻ học Phật và tìm hay dở của
họ, đối với tứ chúng cầu pháp Tam thừa chẳng nên làm
phiền não họ, cũng chẳng nên hý luận các pháp mà sanh ra
tranh luận. Đối với chúng sanh khởi đại-bi-tưởng; đối
với Như Lai khởi từ-phụ-tưởng; đối với Bồ Tát khởi
đại-sư-tưởng. Vì thuận theo pháp mà bình đẳng thuyết
pháp chẳng nhiều chẳng ít, dù kẻ ưa pháp cũng chẳng nói
nhiều.
-
Đệ Tứ An-Lạc-Hạnh
: đối với người tại gia, xuất gia, sanh đại từ tâm, đối
với người chẳng phải Bồ Tát (ở ngoài Đại thừa) sanh
đại bi tâm. Hãy nghĩ rằng họ bị tổn thất lớn, đối
với phương tiện thuyết pháp của Như Lai chẳng thấy, chẳng
nghe, chẳng biết, chẳng hỏi, chẳng tin, chẳng hiểu. Dù họ
chẳng hỏi, chẳng tin, chẳng hiểu kinh này, nhưng khi ta được
Vô Thượng Bồ Đề, phải dùng sức thần thông trí huệ để
dẫn dắt họ, làm cho họ được trụ trong pháp này, từ từ
giải thoát tất cả khổ cho đến cứu kính thành Phật.
PHẨM TÙNG
ĐỊA DŨNG XUẤT Thứ Mười Lăm.
Phật Thích
Ca ở cõi Ta Bà giáo hóa vô lượng vô biên Bồ Tát và quyến
thuộc của Bồ Tát, số lượng chẳng thể dùng thí dụ toán
số để biết được. Tất cả đều từ dưới đất hiện
ra là dụ cho sức dụng vô biên của tự tánh.
Nếu người
nào theo đúng pháp tu hành thì sức dụng vô biên của tự
tánh tất sẽ được tự hiện nơi tâm địa.
Bốn đạo
sư trong vô lượng ức quốc độ chúng Bồ Tát hiệu là Thượng
Hạnh, Vô Biên Hạnh, Tịnh Hạnh, An Lập Hạnh đều là hạnh
môn phương tiện do Phật thiết lập. Chúng sanh y theo phương
tiện ấy mà hành thì được hiển lộ Phật huệ thị hiện
ra sức tự tại thần thông, sức lực sư tử mạnh nhanh, sức
oai thế mạnh lớn của tự tánh.
PHẨM NHƯ
LAI THỌ LƯỢNG Thứ Mười Sáu.
Di Lặc
Bồ Tát thay mặt đại chúng hỏi rằng: "Tại sao Phật
Thích Ca đắc
đạo chẳng được bao lâu mà đã giáo hóa được vô lượng
Bồ Tát như phẩm trên?"
Phật đáp
rằng: Ta thành Phật đã trải qua vi trần kiếp, chẳng phải
suy lường tính toán có thể biết được (phá khái niệm thời
gian), thường giáo hóa ở cõi Ta-bà, đồng thời cũng dẫn
dắt chúng sanh nơi vô lượng quốc độ (phá khái niệm không
gian), quán xét căn khí lòng tin của họ mà tùy cơ hóa độ,
tự nói danh hiệu tuổi tác chẳng đồng (phá khái niệm số
lượng).
Tại sao vậy?
Vì Phật biết được tướng của tam giới như thực, vốn
chẳng sanh tử, cũng không kẻ tại thế và diệt độ, phi
thực, phi hư, chẳng đồng, chẳng khác. Không pháp nào chấp
thật được.
PHẨM PHÂN
BIỆT CÔNG ĐỨC Thứ Mười Bảy.
Nghe Phật
thuyết Phẩm Như-Lai Thọ-Lượng sanh một niệm tín giải,
được công đức không thể hạn lượng. Nếu có người vì
Vô Thượng Bồ Đề mà hành ngũ Ba-La-Mật, trừ Bát-Nhã Ba-La-Mật,
trong tám mươi muôn ức na do tha kiếp, đem công đức này sánh
với công đức tín giải trên thì trăm ngàn muôn ức phần
chẳng bằng một, huống là kẻ y theo pháp mà thọ trì. Nên
vô số Đại Bồ Tát của mười phương thế giới nghe xong
liền được ngộ nhập, y theo căn lực của họ mà hiển hiện
vô biên đại dụng của tự tánh. Nếu muốn phân biệt công
đức, thật chẳng thể kể xiết.
Sự lấy
năm trong sáu Ba-La-Mật để so sánh công đức mà trừ ra Bát-Nhã
Ba-La-Mật là vì diệu dụng của Bát-Nhã bao gồm pháp giới,
chẳng thể thí dụ được. Như kinh nói :
"Phật tử
trụ thử địa (tâm địa cũng là tự tánh Bát Nhã).
Tức là Phật
thọ dụng (hưởng sự vui của Phật).
Kinh hành
và nằm ngồi (trong tự tánh Bát Nhã).
Đều thường
ở trong đó (chẳng ở ngoài tâm địa).
PHẨM TÙY
HÆ CÔNG ĐỨC Thứ Mười Tám.
Nghe kinh tùy
hỉ rồi y theo pháp đã nghe (phải đúng ý Phật), tùy hỉ
chuyển dạy cho cha mẹ, bà con, bạn bè v.v... Người thứ hai,
thứ ba, nghe rồi cũng tùy hỉ, chuyển dạy cho đến người
thứ năm mươi cũng tùy hỉ chuyển dạy như thế.
Nếu có người
vì cầu phước báo mà bố thí vật chất cần dùng hằng ngày
và vàng bạc thất bửu trong thời gian tám mươi năm, cho bốn
trăm vạn ức A-tăng-kỳ thế giới chúng sanh, sau lại dạy
họ tu hành, tất cả đều chứng được quả A-La-Hán, công
đức vô lượng vô biên ấy, nhưng cũng không bằng công đức
nghe kinh rồi tùy hỉ chuyển dạy của người thứ năm mươi.
Tại sao vậy? Vì cầu phước là thuộc pháp hữu vi. Công đức
dù lớn đến mức nào, nhưng phước ấy vẫn còn có số lượng,
trải qua thời gian lâu sẽ hưởng hết. Còn nghe kinh tùy hỉ,
theo pháp tu hành thì được chứng Phật quả, siêu việt số
lượng, phước đức vĩnh viễn không hết được.
PHẨM PHÁP
SƯ CÔNG ĐỨC Thứ Mười Chín.
Thọ trì
đọc tụng, biên chép giải thích, theo pháp tu hành đúng như
kinh này thì được công đức của lục căn viên mãn, cho đến
thần thông trí huệ, diệu dụng vô biên, cứu kính thành Phật.
Pháp sư đã
được công đức của lục căn viên mãn, dùng tâm vô sở
úy thuyết kinh này, thì dùng nhục nhãn có thể thấy tất
cả sắc tướng trong tam thiên đại thiên thế giới; dùng
phàm nhĩ có thể nghe tất cả âm thanh; dùng phàm tỷ có thể
ngửi tất cả mùi hương ; dùng phàm thiệt có thể nếm tất
cả thực vật không kể thơm thúi, đắng chát, tốt xấu,
bất cứ thức ăn nào cũng biến thành thượng vị. Thân thể
thanh tịnh như lưu ly, tất cả sắc tướng, âm thanh trong đại
thiên thế giới đều được hiển hiện trong thân thể, ý
căn thanh tịnh thì thực tướng của các pháp đều được
thấu đạt, nên có thể dùng muôn ngàn lời nói khéo léo tùy
cơ thuyết pháp khiến cho chúng sanh thích nghe kinh, được dễ
hiểu mà hoan hỷ, tín thọ, phụng hành.
PHẨM THƯỜNG
BẤT KHINH BỔ TÁT Thứ Hai Mươi.
Thường Bất
Khinh Bồ Tát là Tỳ Kheo trong thời tượng pháp của Phật
Oai Âm Vương, chẳng đọc tụng kinh điển mà chuyên hạnh
lễ bái, tán thán, để đối trị tứ chúng tăng thượng mạn.
Dù thường bị người nhục mạ, thậm chí bị họ dùng gậy
đánh, dùng ngói đá liệng, cũng chẳng nổi sân, còn lớn
tiếng tán thán rằng: "Ta chẳng dám khinh các Ngài vì các Ngài
đều sẽ làm Phật".
Đây cũng
là một pháp môn trì kinh (phá ngã chấp) cứu kính được
thành Phật. Nếu có người ác khẩu chửi mắng, phỉ báng
kẻ trì kinh, tất phải chịu tội báo lớn. Cũng như kinh nói:
"Ngàn kiếp đọa Vô Gián địa ngục, hai trăm ức kiếp chẳng
được nghe Phật pháp".
PHẨM NHƯ
LAI THẦN LỰC Thứ Hai Mươi Mốt.
Phật hiện
đại thần lực, bày tướng lưỡi rộng dài, phóng vô lượng
quang, đều là sức dụng bất khả tư nghì của tự tánh,
là để tán thán kẻ thọ trì kinh này và tăng cường lòng
tin cho họ, khiến họ quyết chí theo đúng pháp tu hành thì
sức dụng của tự tánh mới được hiển hiện.
PHẨM CHÚC
LỤY Thứ Hai Mươi Hai.
Phật phó
chúc vô lượng Đại Bồ Tát cần phải nhứt tâm truyền bá
pháp Vô Thượng Bồ Đề này, để phổ biến cho tất cả
chúng sanh đều được lợi ích của Phật pháp.
PHẨM DƯỢC
VƯƠNG BỔ TÁT BỒN SỰ Thứ Hai Mươi Ba.
Nhất thiết
Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ Tát (tiền thân Dược Vương Bồ Tát)
nghe Phật Nhựt Nguyệt Tịnh Minh Đức thuyết Kinh Pháp Hoa
liền ham tập khổ hạnh, tinh tấn tu hành, được hiện nhứt
thiết sắc thân tam muội. Trước dùng vật chất cúng dường
Phật, sau nghĩ chẳng bằng lấy thân cúng dường, liền dùng
sức nguyện thần thông mà tự thiêu thân, ánh sáng chiếu
khắp tám mươi ức hằng hà sa số thế giới. Chư Phật trong
đó đồng thời tán thán rằng: "Đó là chơn thật tinh tấn
gọi là chơn pháp cúng dường Như Lai".
Trí Giả
Đại Sư (Tổ thứ ba tông Thiên Thai) đọc đến câu này liền
được chứng ngộ.
Đây tỏ
rõ "ngộ pháp vô sanh" (phá hết ngã chấp) mới được gọi
là "chơn pháp cúng dường". Cũng như kinh nói: "Ư chư thí trung,
tối tôn tối thượng", chẳng phải dùng tất cả vật chất
khác bố thí mà có thể so sánh bằng.
"Ta xả bỏ
hai tay (dụ cho pháp tương đối) ắt sẽ được thành Phật".
Nên nói: "Dùng thất bảo đầy đại thiên thế giới để
cúng Phật, chẳng bằng thọ trì tứ cú kệ của kinh này".
(lìa có, lìa không, lìa chẳng có chẳng không, lìa cũng có
cũng không, gọi là lìa tứ cú, cũng là lìa pháp tương đối,
cũng là thọ trì tứ cú kệ của kinh này).
PHẨM DIỆU
ÂM BỔ TÁT Thứ Hai Mươi Bốn.
Nơi quốc
độ Tịnh Quang Trang Nghiêm có một vị Bồ Tát tên là Diệu
Âm, bạch với Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí muốn đến cõi
ta bà cúng dường Phật Thích Ca, nghe Kinh Pháp Hoa (việc này
là để tăng cường lòng tin của chúng sanh đối với kinh
này) và gặp Văn Thù Bồ Tát. Phật nói: "Thân ông bốn mươi
hai nghìn do tuần (Do tuần có ba thứ: bốn mươi dặm, sáu
mươi dặm, tám mươi dặm). Thân ta sáu trăm năm mươi muôn
do tuần, còn thân Phật cõi Ta-bà thì rất nhỏ. Ông đến
cõi ấy chớ nổi ý khinh bỉ". (Thân Phật vốn chẳng có lớn
nhỏ, thân của chúng sanh cũng như vậy).
PHẨM PHỒ
MÔN Thứ Hai mươi Lăm.
Phổ môn
là phổ biến thị hiện sức dụng thần thông của tự tánh.
Vô Tận Ý
Bồ Tát hỏi Phật: "Quán Thế Âm Bồ Tát vì nhân duyên gì
tên là Quán Thế Âm?"
Phật bảo:
"Nếu có vô lượng chúng sanh chịu các khổ não, nhứt tâm
xưng danh (nhứt tâm là chẳng có niệm nào khác) thì sức dụng
tự tánh Quán Thế Âm hiện ra, tất cả đều được giải
thoát nên gọi là Quán Thế Âm, cũng gọi là tự tánh tự
độ".
Sức dụng
của tự tánh được hiện ra thì vào lửa chẳng cháy, xuống
nước chẳng chìm, dao chém chẳng đứt, thuốc độc chẳng
giết được, ác quỉ chẳng hại được, lìa được tất
cả tham sân si và tà kiến.
VỀ PHƯƠNG
TIỆN TU HÀNH CỦA QUÁN THẾ ÂM CÓ NĂM THỨ QUÁN :
1. Chơn
quán : là lập chơn để phá vọng. Trước tiên phải xoay cái
tánh nghe trở về tự tánh, thoát lìa âm thanh (sở nghe). Sở
nghe đã tiêu thì năng nghe cũng hết. Nên hai tướng động
tịnh chẳng sanh, do đó sự dụng của lục căn dung thông lẫn
nhau gọi là nhĩ căn viên thông cũng gọi là "phản văn văn
tự tánh".
2. Thanh tịnh
quán : là dùng thanh tịnh để đối trị sự ô nhiễm của
năng sở. Năng nghe sở nghe đã hết mà chẳng trụ nơi hết.
Luôn cả tri giải về sự chẳng trụ cũng không.
3. Từ quán
: là độ cho chúng sanh được vui mà chẳng có năng độ gọi
là Vô Duyên Từ.
4. Bi quán
: là độ cho chúng sanh lìa khổ mà chẳng có sở độ gọi
là Đồng Thể Bi.
Khi từ bi
thể hiện thì ngã chấp đều sạch. Tình cảm thương mến
phát huy đến cùng tột, cũng như ánh sáng chiếu khắp mọi
chúng sanh trong pháp giới vũ trụ, chẳng có thiếu sót. Như
vậy được Hòa Quang Đồng Một (Nhiều đèn cùng chung một
ánh sáng) Nên năng sở đều diệt.
5. Quảng
đại trí huệ quán : là trí huệ chiếu khắp pháp giới, quảng
đại siêu việt số lượng. Tất cả năng sở, sinh diệt đều
diệt thì tịch diệt hiện tiền, đây là thực tướng vĩnh
viễn tồn tại cũng như phẩm Phương Tiện đã nói : "Chư
pháp tùng bổn lai, thường tự tịch diệt tướng" vậy.
Phẩm này
chỉ rõ sự diệu dụng của tự tánh tự độ
"Quán Âm
Diệu Trí Lực (diệu dụng của tự tánh)
Năng cứu
thế gian khổ"
là nghĩa
này vậy!
PHẨM ĐÀ
LA NI Thứ Hai Mươi Sáu.
Dược Vương
Bồ Tát hỏi Phật: "Người thọ trì Kinh Pháp Hoa được bao
nhiêu phước?"
Phật bảo:
"Nếu có người cúng dường tám trăm muôn ức na do tha hằng
hà sa số chư Phật, dù được phước nhiều nhưng cũng chẳng
bằng cái phước của người thọ trì một tứ cú kệ của
kinh này, đọc tụng, giải nghĩa, đúng như pháp mà tu hành".
Nên Dược Vương Bồ Tát bạch Phật thuyết chú để bảo
hộ kẻ thuyết pháp và trì kinh; kế đó Dũng Thí Bồ Tát,
Tỳ Sa Môn Thiên Vương, Trì Quốc Thiên Vương và mười La
Sát nữ v.v... đều ở nơi trước Phật lập nguyện thuyết
chú để bảo hộ pháp sư và kẻ trì kinh.
Phẩm này
bảo đảm cho người chân thực tu hành được an toàn, chẳng
sợ tà ma nhiễu loạn.
"Chú" là
biểu thị cho mệnh lệnh và sức dụng của tự tánh. Người
chân thật tu hành thì sức dụng của tự tánh tự hiện, mà
được chư Phật (tự tánh Phật) hộ niệm, chớ chẳng phải
do đọc chú mới được bảo hộ.
PHẨM DIỆU
TRANG NGHIÊM VƯƠNG BỒN SỰ Thứ Hai Mươi Bảy.
Diệu Trang
Nghiêm Vương đã tin ngoại đạo và nhập tà kiến đã lâu,
nhưng quá khứ từng gieo trồng thiện căn, hột giống chín
mùi, nên được sanh hai đứa con làm thiện tri thức cho mình,
dẫn dắt bỏ tà về chánh, liền được Phật Vân Lôi Âm
Tú Vương Hoa Trí thọ ký tương lai sẽ làm Phật hiệu là
Ta La Thọ Vương.
Phẩm này
chứng tỏ nhân quả rõ ràng, đã gieo chánh nhân rồi ắt sẽ
thành chánh quả. Dù sanh nơi nhà tà kiến, nhưng thiện nhân
chủng tử cũng chẳng thối mất.
PHẨM PHỒ
HIỀN BỔ TÁT KHUYẾN PHÁT Thứ Hai Mươi Tám.
Phổ Hiền
Bồ Tát bạch Phật rằng: "Sau khi Phật nhập diệt, thế nào
mới đắc được Kinh Pháp Hoa?"
Phật bảo:
"Nếu người thành tựu bốn pháp sẽ được kinh này :
Một là được
chư Phật hộ niệm
Hai là trồng
nhiều công đức
Ba là vào trong
chánh định
Bốn là phát
tâm cứu độ tất cả chúng sanh".
Thật ra
kẻ tu chánh pháp vốn saün đầy đủ bốn điều kiện này.
Phổ Hiền
Bồ Tát hứa với Phật là sau này ở trong đời ác trược,
Ngài sẽ bảo hộ và giúp đỡ người trì kinh này được
tu hành thành tựu và Ngài thuyết chú để bảo hộ.
Ý của phẩm
này cũng là muốn cho người trì kinh này được tăng cường
lòng tin và khiến họ được an ổn để chuyên tâm tu hành.
Nói tóm lại,
Phật vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện trên đời,
thuyết pháp bốn mươi chín năm, giảng kinh hơn ba trăm hội,
thiết lập phương tiện tám mươi bốn ngàn pháp môn, qui nạp
lại thành bốn đại loại :
1. Tham thiền
là Tổ Sư Thiền.
2. Niệm Phật
là Tịnh Độ Tông.
3. Trì chú
là Mật Tông.
4. Quán tưởng
là thiền quán của các tông về giáo môn, như :
-
Tông Thiên Thai
có Chỉ Quán Thiền.
-
Tông Hiền Thủ
có Pháp Giới Quán Thiền.
-
Tông Duy Thức
có Duy Thức Quán Thiền.
-
Tông Tam Luận
có Tánh-Không-Quán Thiền.
Bấc cứ tu
pháp môn nào cần phải thực hành đúng theo tông chỉ của
pháp môn đó, mới được thành tựu bất thối hoặc chứng
quả. Tu đúng một trong tám mươi bốn ngàn pháp môn kể trên
tức gọi là trì kinh. Đọc tụng chỉ gọi là đọc tụng
chẳng phải là trì kinh.
PHỤ
CHÚ
Tông chỉ
là đường lối thực hành của mỗi tông phái do Phật dạy
và được truyền cho chư Tổ từ đời này qua đời khác (Tổ
Tổ tương truyền).
"Hiểu đúng
ý Phật" là phải phân biệt chánh tà và hiểu nghĩa bốn thứ
tứ y.
A. Phân
biệt chánh tà :
Phá ngã chấp
là chánh, không phá ngã chấp là tà, phá chấp thật là chánh,
chấp thật là tà, cũng như đi đúng đường chánh thì đi
cạn cũng là chánh, đi sâu cũng là chánh, nếu đi lầm đường
tà thì hiểu cạn cũng là tà, hiểu sâu cũng là tà.
B. Bốn
thứ tứ y :
1. Hạnh
tứ y : là bốn thứ y về tu khổ hạnh.
a. Phấn
tảo y.
b. Thường
khất thực.
c. Thọ hạ
tọa (ngồi gốc cây).
d. Hủ lạn
dược (hủ lạn: mục nát).
2. Pháp tứ
y : là bốn thứ y đi đúng chánh pháp.
a. Y pháp
bất y nhơn.
b. Y liễu
nghĩa bất y bất liễu nghĩa.
c. Y nghĩa
bất y ngữ.
d. Y trí bất
y thức.
3. Nhơn tứ
y : là bốn bậc người nên y chỉ.
a. Người
biết đủ tất cả phiền não (ngũ trụ phiền não).
b. Tu Đà
Hoàn và Tư Đà Hàm.
c. A Na Hàm.
d. A La Hán.
Những người
này bên trong đã chứng Bồ Tát đại thừa mà bên ngoài hiện
tướng Thinh Văn để truyền pháp giáo hóa chúng sanh.
4. Thuyết
tứ y : là bốn thứ ý thú đều muốn chúng sanh thành Phật.
a. Ý thú
bình đẳng (ý thú là được ý quên lời, bình đẳng là thuyết
pháp chẳng rời bất nhị của tự tánh).
b. Ý thú
thời khác biệt (*).
c. Ý thú
tùy nghĩa khác biệt (+).
d. Ý thú
tùy thuận theo tâm chúng sanh.
(*) Có 3 thời
khác biệt :
1. Giáo
thời thứ nhất : khi Phật mới thành đạo vì muốn phá chấp
trước của phàm phu và ngoại đạo nên nói các pháp tứ đại,
ngũ uẩn để sáng tỏ nhơn ngã không thật, tức là những
bộ Kinh Tứ A Hàm (Tăng Nhất A Hàm, Trường A Hàm, Trung A Hàm,
Tạp A Hàm).
2. Giáo thời
thứ hai : Phật vì phá sự chấp pháp của tiểu thừa nên
thuyết tất cả pháp đều không thật, là những bộ Kinh Bát
Nhã.
3. Giáo thời
thứ ba : Phật vì phá sự chấp có của tiểu thừa và chấp
không của đại thừa nên thuyết pháp chẳng có chẳng không
để sáng tỏ nghĩa bất nhị của trung đạo, như những bộ
Kinh Thâm Mật, Pháp Hoa, v.v...
(+) Có ba loại
nghĩa khác biệt :
1. Giải
thích tất cả pháp "có" là đệ nhất thời.
2. Giải thích
tất cả pháp "không" là đệ nhị thời.
3. Giải thích
giáo pháp "trung đạo" bất nhị là đệ tam thời.
(Không kể thời
gian trước hay sau mà chỉ phân theo nghĩa loại).
Lược giải
tứ quả của thừa Thanh Văn :
Sơ Quả Tu
Đà Hoàn : người đã dứt hết tất cả kiến hoặc tam giới,
vì chưa dứt được tư hoặc (tư tưởng mê lầm) của dục
giới nên còn phải sanh cõi dục giới bảy lần, dịch là
Nhập Lưu.
Nhị Quả
Tư Đà Hàm : người đã dứt được sáu phẩm tư hoặc trước
của dục giới, còn ba phẩm sau chưa dứt được nên phải
sanh lại cõi dục giới một lần nữa, dịch là Nhứt Lai.
Tam quả A
Na Hàm : người đã dứt thêm được ba phẩm sau (nghĩa là
dứt hết chín phẩm tư hoặc của dục giới) không trở lại
sanh nơi cõi dục giới nữa, (chỉ sanh ở cõi sắc giới và
vô sắc giới) dịch là Bất Lai.
Tứ Quả
A La Hán : người đã dứt hết tất cả kiến hoặc và tư
hoặc của tam giới, đã ra khỏi phần đoạn sanh tử chẳng
thọ sanh nơi lục đạo, dịch là Bất Sanh.
Tam giới
cửu địa :
-
Tam giới gồm
có cửu địa cũng gọi là cửu hữu : dục giới một địa,
sắc giới bốn địa, vô sắc giới bốn địa. Mỗi địa
chia làm chín phẩm tư hoặc cộng chung là tám mươi mốt phẩm.
-
Cửu địa :
1. Dục
giới ngũ thú địa (ngũ thú tạp cư địa)
2. Ly sanh
hỷ lạc địa.
3. Định
sanh hỷ lạc địa.
4. Ly hỷ
diệu lạc địa.
5. Xả niệm
thanh tịnh địa.
6. Không vô
biên xứ địa.
7. Thức vô
biên xứ địa.
8. Vô sở
hữu xứ địa.
9. Phi tưởng
phi phi tưởng xứ địa.
1. Kiến
nhứt thiết trụ địa phiền não tức là tất cả kiến hoặc
của tam giới, dứt hết thì chứng quả Tu Đà Hoàn.
2. Dục ái
trụ địa phiền não tức là tất cả tư hoặc của dục giới,
dứt hết thì chứng quả A Na Hàm.
3. Sắc ái
trụ địa phiền não tức là tất cả tư hoặc của sắc giới.
4. Hữu ái
trụ địa phiền não tức là tất cả tư hoặc của vô sắc
giới, (dù không có xác thân nhưng còn chấp ngã nên còn có
ái) dứt hết tất cả kiến hoặc và tư hoặc kể trên thì
được chứng quả A La Hán.
5. Vô minh
trụ địa phiền não tức là chỗ nguồn gốc sinh khởi tất
cả phiền não, phá được vô thủy vô minh (căn bản vô minh)
thì được kiến tánh thành Phật.
|