7.
Đời tu của tôi (Tất niên Tân Mùi 1992)
8.
Hòn ngọc quí trong núi lửa (Tết Nhâm Thân 1992, Tăng Ni)
9.
Xuân Nhâm Thân nói chuyện con khỉ (chúc Tết Phật tử ,1992)
ĐỜI
TU CỦA TÔI
TẤT
NIÊN TÂN MÙI (1992)
Đêm
nay là đêm Tất niên. Trong đêm này chúng ta kiểm lại những
tư tưởng và việc làm của chúng ta trong năm qua để tìm
một lối đi trong sáng cho đời tu của mình mỗi năm mỗi
được tăng tiến. Nhưng đêm Phổ trà hôm nay lại đặc biệt
hơn những năm qua vì nó mang một ý nghĩa rất quan trọng,
không phải của toàn chúng, mà quan trọng trong đời tu của
tôi.
Kiểm điểm lại từ khi đi tu cho đến ngày nay, chúng tôi
đã làm được những gì và đã có những thất bại nào.
Đây không có nghĩa là tôi kể lại một dòng lịch sử, mà
chúng tôi muốn nói lên những cái ưu cái khuyết của bản
thân tôi trong cuộc hành đạo, để quí vị lấy đó làm kinh
nghiệm sau này khi đứng ra lãnh chúng dạy người. Có được
kinh nghiệm, quí vị sẽ giáo hóa rộng rãi như tôi hoặc hơn
tôi.
Trong đời tôi ngang đây phần giáo hóa coi như dừng lại,
nếu không phải là chấm dứt. Nếu có thêm thắt chút ít,
không đáng kể, còn phần chánh đến đây là đã xong trách
nhiệm của tôi. Cho nên chữ Tất niên hôm nay là Tất một
đời hoằng pháp của tôi (Nhưng chưa đầy ba năm sau Hòa thượng
trở lại hoằng hóa độ sanh và thành lập Thiền viện Trúc
Lâm tại Đà Lạt để làm sống dậy Thiền tông đời Trần
và cũng là khôi phục Thiền tông Việt Nam). Chắc rằng
có nhiều người muốn nghe, nên tôi không ngại mất thời
giờ tuần tự kể chuyện, quí vị vừa uống trà vừa nghe.
Trước hết tôi kể về phần ưu trong đời tu của tôi.
Tôi thường tự mừng và khoe với đại chúng rằng tôi được
Tam Bảo ưu đãi trên đường tu, ưu đãi rất là trọng hậu.
Những ưu đãi đó tôi xin kể theo thứ tự:
Điểm ưu thứ nhất:
Tôi
gốc là người ngoại đạo, không biết gì về đạo Phật
cả, cha mẹ tôi không biết đạo Phật, bản thân tôi cũng
không biết đạo Phật, mà ham tu. Như vậy ham tu là một chủng
tử trong quá khứ, chớ không phải ở hiện tại. Tôi nghe
ông thân bà thân tôi kể lại: Khi được sanh ra thì tôi đau
yếu luôn, các chị gái của tôi cũng vậy, chỉ sống được
năm, bảy tháng thôi. Đến phiên tôi thì èo uột, nên trong
nhà sợ lắm. Có một số đạo hữu biết tụng kinh nên mới
rủ cha mẹ tôi nhập môn. Muốn bảo đảm cho tôi được sống
nên ông thân tôi mới nhập môn theo đạo Cao Đài. Coi như
tôi là nhân tố đưa gia đình theo đạo Cao Đài. Như vậy
tôi theo đạo khi mới lọt lòng mẹ, nhưng điều đặt biệt
là sao tôi lại thích đạo Phật. Tuy thích đạo Phật nhưng
không biết làm sao đến chùa, cũng không biết thưa hỏi với
ai. Chỉ biết là lúc nào tôi cũng muốn tu Phật thôi. Tôi
nghĩ đó là chủng tử quá khứ chớ không phải mới. Vì thế
khi phát tâm đi tu, thật tình tôi không biết chọn lựa, vì
có từng vào chùa đâu mà biết nơi nào hay nơi nào dở, nơi
nào đáng học, nơi nào không. Việc đi tu của tôi đối với
đạo Phật là một việc đánh liều, vì ham tu nên đi tu, không
lựa chọn nơi chốn để tu, cũng không nghĩ có thể làm lợi
ích cho Phật pháp mai sau. Song nhờ Tam Bảo gia hộ tôi đi đúng
chỗ. Vừa bước chân vào đạo là tôi đi thẳng vào
Phật học đường, nơi Hòa thượng Viện trưởng đang dạy
học. Hòa thượng đang dạy Sơ đẳng Phật học năm thứ ba
thì tôi vào chùa. Ngài chấp nhận cho tôi tu và cho học năm
thứ ba Sơ đẳng mà thật tình tôi chưa biết “chữ nhất”,
vì tôi đã mất hai năm học đầu. Như vậy tôi học đạo
thật là không có thứ tự lớp lang chi hết. Nhưng tôi được
Hòa thượng thương, đưa cho tôi những kinh sách in sẵn của
Ngài để theo đó mà dò. Nhất là lúc ấy tôi lại có một
chú Thiện hữu tri thức còn nhỏ, là anh chú bác với Đắc
Huyền, hiệu là Thanh Đức. Tuy còn nhỏ để chóp, nhưng chú
rất thông minh, giỏi chữ Hán, chú tiểu gọi tôi bằng chú.
Hai chú cháu học chung với nhau, chú tiểu đọc chữ Hán tôi
giải nghĩa. Tôi không thuộc mặt chữ nhưng đọc đến đâu
tôi biết giải nghĩa đến đó, hai chú cháu hợp tác với
nhau học được một năm đến cuối lớp Sơ đẳng bước
lên Trung đẳng.
Khi tôi bắt đầu vào đạo năm 1949, ở dưới quê được
vài ba năm, đến năm 1953 thì Hòa thượng Viện trưởng cho
tôi và một số huynh đệ về nhập học tại Phật học đường
Nam Việt, chùa Ấn Quang. Thế là chúng tôi bắt đầu vào lớp
Trung đẳng Phật học. Khi còn ở quê, mấy năm sau lớp
học Hòa thượng dạy chỉ còn có hai người: bên Tăng là
tôi, bên Ni là cô Trí Định, mà Hòa thượng vẫn giảng dạy
đều, nên khi lên Ấn Quang học chúng tôi theo kịp huynh đệ
không có gì gọi là khó khăn. Như vậy Tam Bảo đã ưu đãi
tôi nên xui khiến tôi đi trúng chỗ, nếu không tôi sẽ đi
vào các chùa làm thầy cúng, cứ lo đi cúng kính hoài, không
biết rồi đời tu của tôi sẽ ra sao?
Tôi thuộc về loại người cứng đầu, coi hiền nhưng cứng
đầu. Tu theo đạo Cao Đài tôi không thỏa mãn, vì có những
điều tôi thấy dường như không thật nên tôi từ chối không
theo. Khi đến với đạo Phật, nếu tôi vào chùa chỉ lo cúng
kính, chắc tôi sẽ bỏ cuộc, hoặc là hoàn tục, hoặc lên
núi non tu theo ngoại đạo không biết chừng.
Kiểm
điểm lại, tôi thấy Tam Bảo đã ủng hộ tôi, hậu đãi
tôi. Không biết lựa chọn, cũng không quen với ai mà khi tôi
bước vào chùa lại trúng ngay Phật học đường, lại được
Hòa thượng Viện trưởng chỉ dạy. Ngài là một vị giáo
thọ đầy đủ đức và tài, sau này được mời lên chùa
Ấn Quang (Phật học đường Nam Việt) làm Đốc giáo, tức
là Hiệu trưởng. Theo thế gian nói, tôi như chuột rơi vào
hũ nếp! Tôi chỉ biết ham tu, và đi vào chỗ đúng như sở
nguyện. Có nhiều người xuất gia trước tôi năm mười năm,
bây giờ là trụ trì, chỉ lo cúng kính thôi, chớ không thông
hiểu đạo lý bao nhiêu, thật là đáng thương.
Điểm ưu thứ hai:
Tôi là con người có tật không chịu dừng, cũng không biết
đủ trong khi tìm kiếm một cái gì. Vì thế khi học lớp Trung
học Phật giáo, tôi được đọc các quyển kinh mà những
dịch giả nào là ngài Tam tạng Pháp sư Cưu-ma-la-thập,
nào là ngài Tam tạng Huyền Trang..., các Ngài đều thông suốt
Tam tạng giáo điển, còn riêng tôi không biết gì, chỉ được
học năm, ba quyển kinh, thì làm sao có đủ tư cách là người
sau này lãnh trách nhiệm làm lợi ích cho nhiều người!
Cho nên tôi ước mơ làm sao mình có được Tạng Kinh để
tìm xem trong ấy dạy những gì? Nếu không có Tạng Kinh
thì coi như đời tu của mình chỉ có một hai mảnh vụn của
Phật pháp thôi. Cái mơ ước đó của tôi rồi cũng được
toại nguyện. Tức là khoảng năm 1961 đạo hữu Minh Đạo
và gia đình phát tâm thỉnh cho tôi Tạng Kinh. Cũng năm đó
tôi bị bệnh phổi phải nằm bệnh viện, và sau đó tôi lên
Phương Bối ở Bảo Lộc cất thất tên là Thiền Duyệt thất
để dưỡng bệnh. Nói đi dưỡng bệnh mà thật tình tôi đọc
kinh. Khai Tạng Kinh ra đọc, tôi mới biết còn bao nhiêu quyển
kinh tôi chưa từng biết. Nhất là mấy bộ A-hàm, càng đọc
tôi thấy càng hay. Nhớ lại các bộ kinh Đại thừa tôi
thấy làm như tôi mất lòng tin. Tại sao vậy? Vì kinh A-hàm
thực tế và cụ thể quá, kể những câu chuyện rõ ràng,
còn các kinh Đại thừa kể chuyện đâu đâu.
Ví dụ như trong kinh Kim Cang ngài Tu-bồ-đề hỏi Phật: Người
phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, làm sao hàng phục
được tâm mình? Phật bảo: Muốn hàng phục tâm mình thì
phải độ tất cả chúng sanh, nào là có sắc, không sắc,
cho đến có tưởng, không tưởng v.v..., độ tất cả vào
Vô dư Niết-bàn. Đọc đến đây tôi nản quá: Vô dư Niết-bàn
tức là Niết-bàn của hàng A-la-hán, sau khi chứng quả nhập
Niết-bàn. Mình bây giờ là phàm Tăng chưa có cái gì hết,
làm sao độ người vào Vô dư Niết-bàn? Chẳng những độ
người mà phải độ tất cả chúng sanh... tính chừng
bao nhiêu? Vô biên vô số thì làm sao độ. Độ tất cả vào
Vô dư Niết-bàn mà mình chưa được Niết-bàn thì làm sao
độ được! Đến đây tôi cứ thở dài, rồi nói: Mình học
kinh mà không có thực hành gì được, Phật nói chuyện cao
xa trên trời trên mây đâu không.
Rồi tôi đọc thêm kinh Pháp Hoa, lại khổ nữa. Nhất là trong
phẩm “Hiện Bửu Tháp” Phật đang nói pháp bỗng dưng có
cái tháp dưới đất chui lên lững lờ trên hư không v.v...,
chuyện không sao tin nổi. Đến phẩm “Tùng Địa Dũng Xuất”
cũng vậy, Phật đang nói kinh, rồi đất rung động nứt ra,
Bồ-tát ở dưới đất vọt lên vô số..., sao kỳ lạ quá
không thể tin được. Tự nhiên tôi thấy như mất lòng tin
nơi kinh điển Đại thừa. Lúc ấy khi dạy Tăng Ni tôi có
nói một câu mà sau này tôi sám hối, tôi nói rằng: “Kinh
điển Đại thừa phải để trên trang mà thờ, chớ không
có ứng dụng được, vì dạy chuyện đâu đâu, làm sao ứng
dụng.” Tôi nói như vậy là thấy tôi mất lòng tin đến
mức nào!
Lúc ấy tôi chỉ tin các kinh A-hàm, cụ thể và thực tế.
Nên khi nằm ở Thiền Duyệt thất trên Phương Bối, tôi soạn
dịch ra những bài kinh A-hàm có đủ tính cách cần thiết
để dạy cho Tăng Ni. Mỗi bộ A-hàm tôi đều trích dịch một
quyển và thầm nguyện để đền ơn Thầy Tổ và đàn-na thí
chủ thì mình phải dạy dỗ lại một số Tăng Ni. Tôi soạn
dịch chương trình đó xong và có ý ngầm sau khi hết bệnh
tôi sẽ mở lớp dạy chư Tăng. Đó là một chương trình chuyên
khoa, chư Tăng chuyên học Kinh điển để sau này ra làm trụ
trì hoặc làm Phật sự.
Điểm ưu thứ ba:
Đến cuối năm 1962, tôi trở về thành phố ở trong An Dưỡng
Địa. Tôi cất một cái thất lá ở riêng, vì có mặc cảm
bị bệnh phổi mà ở chung sợï lây bệnh cho chúng tội nghiệp
(mặc dù lúc ấy tôi đã hết bệnh).
Khi ấy Hòa thượng Giám đốc Ấn Quang và Hòa thượng Đốc
giáo tức là Thầy tôi bảo: “Thanh Từ hết bệnh về Ấn
Quang tiếp dạy.” Tôi thưa: “Vì bệnh con là bệnh phổi
ở chung trong chúng không được tốt, hơn nữa ở Ấn Quang
ồn quá. Quí Hòa thượng bảo con dạy, xin mở trường tại
An Dưỡng Địa này, con mới có thể làm việc được.” Chính
Hòa thượng Giám đốc đứng ra lo cất trường Huệ Nghiêm
năm 1963. Tôi mới nghĩ ra chương trình chuyên khoa dạy Tăng
Ni trong vòng ba năm để đền ơn Thầy Tổ và đàn-na thí chủ.
Tôi mới mời Hòa thượng Bửu Huệ và Hòa thượng Thiền
Tâm cùng về hợp tác mở trường chuyên khoa và chỉ nuôi
ba mươi Tăng sinh. Chúng tôi vận động thì có cư sĩ ủng
hộ nuôi từng vị trong vòng ba năm. Lớp học đó bây giờ
còn có mặt ở đây là Phước Hảo, Thiện Phát, Nhật Quang.
Tôi nghĩ rằng chúng Tăng học trong ba năm có thể hiểu vững
được căn bản Phật pháp. Lúc ấy chư Ni bên Dược Sư cũng
phát tâm xin mở một lớp chuyên khoa như vậy, có các vị
Ni lớn dự học, lớp ấy cũng do chúng tôi chịu trách nhiệm.
Như vậy chúng tôi thay phiên nhau giảng dạy một lớp Tăng
ở An Dưỡng Địa và một lớp Ni ở Dược Sư, dự định
ba năm là tròn bản nguyện của chúng tôi. Nhưng vừa được
một năm rưỡi tức là khoảng cuối năm 1964 thì Viện Hóa
Đạo cho ba trăm Tăng vào ở tại Huệ Nghiêm. Thành thử chúng
tôi phải lo cai quản luôn tất cả và mở thêm các lớp phụ
vừa học đời vừa học đạo. Chúng tôi lãnh trách nhiệm
vừa lớp chuyên khoa và các lớp phụ cho đến năm 1966, là
xong bản nguyện ba năm giảng dạy của chúng tôi.
Thế là Tam Bảo đã ưu đãi tôi rồi, phải không? Ước mơ
có Tạng Kinh để mò mẫm nghiên cứu thì có Tạng Kinh. Dự
định dạy ba mươi Tăng thôi, thì có thêm một lớp Ni số
học chúng cũng tương đương. Sau đó lại trông coi thêm ba
trăm Tăng nữa... muốn một mà thành ba thành bốn. Như vậy
có phải là Tam Bảo đã ưu đãi tôi không? Muốn ít mà được
nhiều.
Điểm ưu thứ tư:
Sau ba năm giảng dạy tuy biết việc ở Học viện còn bề
bộn, và biết rằng Thầy tôi sẽ buồn, nhưng tôi cũng xin
rút lui ra Vũng Tàu cất thất ở và đặt tên là Pháp Lạc
thất. Thật ra tôi ham tu Thiền. Khi vào đạo tôi đọc lịch
sử đức Phật thấy Ngài ngồi thiền dưới cội Bồ-đề
và thành Phật. Còn tôi bây giờ niệm Phật hoài, buồn quá,
Phật đâu có niệm Phật mà Ngài thành Phật, tại sao mình
không tu giống Phật, mình không phải đệ tử Phật sao? Vì
thế tôi quyết định tu Thiền. Tôi ham tu thiền mà không thầy
dạy, nên tôi mò trong tạng Kinh đọc những bài nói về Thiền.
Về Thiền nguyên thủy tôi còn hiểu được, về Thiền tông
tôi cứ lắc đầu không hiểu nổi, các Thiền sư nói như
đùa vậy, hỏi một đường đáp một ngả đâu đâu, nhiều
khi còn hung hăng đánh nạt, làm nhiều chuyện quái gở không
chịu nổi. Vì vậy tôi không tin Thiền tông mà chỉ ứng dụng
tu theo Thiền Lục Diệu Pháp Môn, môn Thiền này gồm cả Nguyên
thủy và Đại thừa do ngài Trí Khải Đại sư dạy.
Tôi thật tình ham tu Thiền mà tiến thì không tiến được
vì không người chỉ bảo hướng dẫn, phải tự mò mẫm.
Trong Lục Diệu Pháp Môn, đầu tiên là Sổ tức, kế đó là
Tùy tức, rồi Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh. Sổ tức là đếm hơi
thở, tôi làm tốt, qua Tùy tức là theo hơi thở vô ra tôi
làm cũng được. Nhưng đến Chỉ, chỉ là dừng, trong đó
dạy phải dừng ở trán hoặc ở đầu mũi, hoặc dừng chỗ
quả tim nơi ngực, hoặc dừng ở rún. Khi tôi dùng pháp “Chỉ”,
tôi dừng ở trán thì nhức đầu, tôi dừng ở ngực thì nghe
nhói tim, tôi dừng ở rún thì buồn ngủ. Dừng chỗ nào cũng
không được, thành ra tới Chỉ thì tôi bế tắc không làm
sao tu được. Thật là khổ! Tôi quyết tu, mà chặng một chặng
hai tôi bước qua được nhưng đến chặng ba thì bị bế tắc.
Không biết làm sao, tôi bèn chuyển qua Ngũ Đình Tâm Quán tức
là năm pháp quán để dừng vọng tâm, gồm có: Quán bất tịnh,
quán từ bi v.v... tôi sử dụng pháp quán thân bất tịnh, quán
cho đến nó hoại ra. Sách dạy quán thân bất tịnh đến khi
nào nhớ tới thân, mình cảm thấy rợn người, chịu không
nổi muốn ụa mửa, là thành công quán bất tịnh. Nếu ngay
đó mà tiếp tục quán nữa thì chịu không nổi, chán quá
rồi có thể tự tử hoặc mượn người khác cắt cổ giùm,
chớ không mang nổi cái thây ma này nữa.
Khi xưa có một lần đức Phật dạy một số Tỳ-kheo quán
bất tịnh. Các ngài tu quán bất tịnh đến thuần thục, gớm
thân chịu không nổi, nên mượn người khác làm ơn chặt
đầu giùm, bao nhiêu y bát xin cúng dường lại. Ông đó giết
giùm một lúc mấy mươi thầy Tỳ-kheo. Sau đó, đến ngày
tụng giới, họp chúng lại, Phật thấy số thầy Tỳ-kheo
sao thưa thớt, còn ít quá, mới hỏi lý do. Khi biết các thầy
mượn người ta chặt đầu giùm, Phật mới quở: Ta dạy các
ông quán bất tịnh để trị bệnh tham dục, chớ không phải
quán bất tịnh để mà tự tử, như vậy là sai rồi. Phật
bảo sau khi quán bất tịnh thành tựu rồi, tức là nhớ tới
thân mình thì gớm đến rởn óc, thì phải trở qua quán tịnh.
Pháp quán tịnh dạy: Tưởng như mình xẻ da thịt ra một lằn
thấy xương trắng (chớ không phải lấy dao xẻ) mình tưởng
nó từ là xương trắng mờ mờ, rồi lần lần nó trắng ra
cho đến chừng nào nó phát quang là thành tựu quán tịnh.
Sau khi quán bất tịnh rồi, tôi áp dụng pháp quán tịnh. Tôi
tưởng xẻ da thịt ra, rồi tôi quán, sao đau đầu quá, chịu
không nổi tôi ngừng. Kế tôi chẻ thêm chỗ khác và quán
nữa, đầu tôi nóng và nhức, chịu không nổi. Tôi lại chẻ
dưới ngực để quán, nhưng quán đến đâu thì đau đến
đó, chịu không được, nên ngang đó tôi bị bế tắc. Bế
tắc từ Lục Diệu Pháp Môn đến quán bất tịnh, tôi khi
ấy cứ lòng vòng loanh quanh, không biết đường mà đi, tiến
không được, thối cũng không xong. Đời tu của tôi cảm thấy
gần như cùng đường rồi.
Tôi mới đọc qua “Tham Thiền Yếu Chỉ” của ngài Hư Vân,
trong ấy có nói về Tu Thoại Đầu. Tôi liền áp dụng ngay
quán thoại đầu, tôi dùng câu: “Trước khi cha mẹ chưa sanh
mình là gì?” và quán mãi câu này. Ban đầu đề lên được,
một hôm tôi đề, đề hoài nó không lên, tôi không biết
làm sao, tiến tới cũng không được mà lui lại cũng không
xong. Như vậy mới thấy đời tu mình không có thầy, không
có người hướng dẫn thật là khổ vô cùng. Có thể nói
gần như tôi bị tới chỗ bế tắc. Tôi chỉ mong ước làm
sao biết tu Thiền, pháp Thiền nào cũng được miễn là biết
tu Thiền là được rồi. Nhưng tôi tu pháp Thiền nào cũng
không xong, coi như đời tu của mình không có kết quả! Xoay
qua trở lại từ pháp này sang pháp kia chạy vòng quanh mãi,
nhưng tôi gan, nói tu là tu, tất cả ba tạng Kinh đều để
trong tủ khoá lại không giở ra đọc cũng không coi một cái
gì, chỉ còn một chuyện tu thôi, tôi cắm đầu miệt mài
tu, mà sao cứ lúng túng loanh quanh mãi. Buồn quá tôi lạy sám
hối và khóc với Phật: “Kiếp trước không biết con bị
nghiệp chướng gì mà sao tu hành không ra gì hết!” Mỗi khi
buồn là tôi lạy Phật sám hối. Tôi sám hối đơn giản lắm
không có bài bản gì. Tôi quì xuống lạy Phật: “Con bị
nghiệp chướng sâu dày nên việc tu hành thối chuyển, xin
Phật thương gia hộ cho con, có nghiệp chướng gì con xin sám
hối.” Lạy Phật và khóc với Phật, trong bụng nghĩ sao tôi
thật thà thưa như vậy. Vì thế mà Phật thương, bất thần
một đêm tôi ngồi thiền bỗng dưng tự tôi sáng được lý
Thiền. Khi sáng được lý Thiền thì tất cả những câu trong
kinh Kim Cang hay kinh Pháp Hoa hồi xưa học tôi bị bế tắc,
bỗng dưng tôi hiểu hết, hiểu một cách dễ dàng như có
ai dạy sẵn mình vậy. Tôi lấy làm lạ quá, tôi chưa tin tôi,
tôi mới mở tạng Kinh ra đọc, đến những bộ nói về Thiền
khi xưa tôi không hiểu, bây giờ đọc tới đâu tôi hiểu
tới đó, hiểu một cách say sưa thích thú. Tôi mới thấy
thật là chuyện bất ngờ cho nên tôi cười, cười tới ba
bữa, cười hoài, cười một mình thôi. Điều mình thật khổ
công tìm, tìm không ra, bây giờ bất thần tìm thấy được
quá mừng nên đi đứng nằm ngồi gì tôi cũng cười, cười
hoài đến ba hôm. Mở Tạng Kinh ra tôi đọc lại sử các Thiền
sư tôi hiểu được ngay. Thế là Tam Bảo đã ưu đãi tôi
quá rồi, nếu không thì tôi đã chết trong thất không làm
được gì. Đây là một sự ưu đãi rất trọng hậu chưa
bao giờ có ai được cơ hội tốt như tôi. Không thầy không
bạn, mò mẫm không ra rồi ráng tu, tự nó sáng ra, hiểu được
những điều mà trước kia tôi chưa từng hiểu.
Tôi thuộc người không kín đáo nên biết cái gì thì phải
nói không có giấu giếm, việc này hay quá tại sao mình để
nghi ngờ hoài cho uổng, mình phải nói ra cho mọi người cùng
hiểu mới được. Lẽ ra tôi phải để năm năm mười năm
để nuôi dưỡng thánh thai thì mới tới chỗ diệu dụng.
Nhưng vì hiểu được, mừng quá nên tôi chuẩn bị mở cửa
thất, rồi mở lớp dạy thiền...
Nói tóm lại đời tu của tôi gặp được nhiều ưu đãi:
Ưu đãi số một là tôi vào chùa đúng chỗ, ưu đãi số hai
là tôi muốn có Tạng Kinh liền đượïc Tạng Kinh, ưu đãi
số ba là tôi muốn dạy Tăng Ni để đền ơn giáo dục của
Thầy Tổ thì tôi được dạy. Đến cái ưu đãi thứ tư này
tôi muốn tu thiền mà không có người chỉ dạy, chỉ biết
mò mẫm một mình, bỗng dưng sáng đạo, như vậy nếu không
phải Tam Bảo gia hộ ưu đãi tôi, thì là ai?
Từ khi tôi thấy được cái hay (ánh sáng đạo) tôi bắt đầu
dịch những quyển Kinh và Sử, mà khi xưa tôi đọc tôi không
hiểu gì. Dịch ra thì phải dạy, nếu chỉ đưa sách đã dịch
ra cho người đọc, thì chắc không ai hiểu gì. Vì thế tôi
mới tuyên bố chuẩn bị mở khoá thứ nhất dạy thiền. Tuy
vậy tôi lại dè dặt, nghe người ta nói tu thiền điên, tôi
chưa điên là may, nếu chỉ người khác tu mà điên thì làm
sao? Tôi rất quí trọng mạng người, nếu việc làm nào của
tôi không có lợi được cho người thì thôi, chớ tôi không
dám làm gì hại người, đó là câu thệ nguyện của tôi ngay
lúc còn là cư sĩ chưa biết đạo. Tôi tự phát nguyện như
thế này: “Đời tôi nếu không có thể làm được một viên
linh đơn cứu tất cả mạng sống của người, thì ít ra cũng
làm một viên thuốc bổ để cho người bớt khổ.” Có lời
nguyện như vậy, nên tôi không bao giờ nỡ để cho ai khổ
vì tôi, cho nên khi thấy được cái hay tôi không thể nào
giấu được, không thể im lặng được nên mới mở khoá
dạy tu thiền. Để ngừa việc điên có thể xảy ra, trong
khoá đầu tôi chỉ chọn mười người thôi. Qua ba năm thấy
không có ai điên, nên khoá thứ hai tôi mở ra ba chỗ: Chân
Không, Linh Quang (ở Cát Lở - Vũng Tàu), và Bát-nhã trên núi,
dành cho bên Ni. Tôi dạy một lượt ba nơi, qua ba năm trả
nợ xong thì tôi nghỉ. Dạy ba nơi, ít ra cũng được sáu mươi
người hiểu, họ nói thay cho mình thì tôi nghỉ. Vì vậy tôi
tuyên bố dạy hết khoá hai là tôi nghỉ. Nhưng không biết
đây là họa hay là phước, khoá hai bắt đầu năm 1974, đến
năm 1975 mới được nửa khóa thì bất an. Mấy năm trước,
khi tu trên núi thì có thí chủ lo, nay phải tự túc thì đất
núi khô cằn, làm sao tự túc? Bây giờ phải làm sao? - À,
phải xuống núi. Thầy trò mới dắt nhau xuống núi làm ruộng
làm rẫy. Đa số trong chúng đây không biết làm đất, nên
tôi phải đứng ra hướng dẫn làm ruộng làm rẫy cho có ăn.
Vì hoàn cảnh đã lỡ bày ra tôi phải làm sao cho trọn
vẹn đến nơi đến chốn, tôi phải ăn ở có thủy có chung
cho tròn bản nguyện. Gặp việc khó khăn tôi không đành bỏ
mặc, ai làm gì thì làm.
Lẽ ra tôi được nghỉ năm 1976, nhưng đến bây giờ là năm
1992, mười mấy năm qua rồi tôi vẫn cưu mang buông không được.
Vì buông ra thì chắc rằng kẻ chạy ngược người chạy xuôi,
kẻ đi Đông người đi Tây, không làm sao ngồi một chỗ để
yên tu, cho nên tôi phải cưu mang. Tăng thì ở Thường Chiếu,
Ni thì vào Viên Chiếu, cuốc rẫy trồng khoai. Lần lượt ngày
qua ngày, việc làm thấy như là thiệt thòi, nhưng nhờ cực
khổ nên chư Tăng Ni lúc đó có kinh nghiệm, trong việc tu hành
ít có thối Bồ-đề tâm. Gần đây được nhàn hạ một chút,
đa số người tu hơi lôi thôi, có điều gì buồn hay khó thì
muốn khăn gói ra đi. Khi trước nhờ cảnh khó nên ai nấy
luyện được ý chí chịu cực chịu khổ, không có nản lòng,
gặp cảnh khó không thối tâm, gặp điều gì buồn cũng cố
gắng chết sống với con đường tu của mình.
Đến khi xuống núi, tức năm 1986, tôi thầm nghĩ dạy thêm
một khoá độ năm mươi Tăng rồi nghỉ là đủ trả nợ rồi.
Bên Ni thì dư số đó. Khi xưa chương trình tu là ba năm, bây
giờ kéo dài từ 1986 đến nay (1992) là sáu năm, thời gian
gấp đôi. Vì ở trên núi học nhiều hành nhiều mà lao động
ít, còn về đây thì lao động nhiều mà học ít, hành ít
nên thời gian phải gấp đôi. Như vậy tôi mơ ước bên Tăng
được chừng năm mươi vị, còn bên Ni nhiều lắm là một
trăm, mà nay bên Tăng đến một trăm và bên Ni đến ba, bốn
trăm, tôi mong muốn một mà thành hai thành ba. Thế thì nếu
không phải Tam Bảo gia hộ, làm sao tôi làm được việc này.
Như vậy những điều gì tôi mong muốn, Tam Bảo đều cho tôi
mãn nguyện trội gấp mấy lần điều tôi ước muốn.
Ngoài ra trong đời tu, tôi còn những sở nguyện nhỏ nữa
cũng được thành tựu. Như khi học kinh Phật và học Sử,
tôi thấy hiện tại ở bên Nam tông thì Phật giáo Tích Lan
là ròng rặc nhất và tiến bộ hơn các nước khác, ở bên
Bắc tông thì Phật giáo Nhật Bản là thịnh hành và vững
vàng hơn cả. Vì vậy tôi mơ ước có cơ hội được qua Ấn
Độ chiêm bái những thánh tích của Phật, biết rõ nơi đức
Phật sanh ra, thành đạo và nhập Niết-bàn, biết rõ không
nghi để hướng dẫn Tăng Ni sau này. Và tôi mơ ước được
đi Tích Lan và Nhật Bản để học hỏi những điều hay của
các nước đó. Thế là đến năm 1966, tôi được đi Ấn Độ
hai mươi ngày, qua Tích Lan một tuần, rồi sau đó tôi qua Nhật
Bản ở được hai mươi ngày... thành thử những điều tôi
ước muốn đều được toại nguyện. Nếu sau này tôi có
đi viếng thêm nơi này nơi khác đó là quá ý muốn của tôi.
Tôi luôn luôn được phước, muốn ít mà được nhiều. Bây
giờ tôi chưa dám nghĩ sẽ đi đâu vì tôi chưa nguyện trước,
đến lúc đó thì sẽ tùy duyên.
Hiện giờ quí vị có biết tôi muốn cái gì nữa hay không?
Tôi không muốn gì hơn là làm Người Vô Sự. Vì thế tôi
giao hết mọi việc lại cho quí vị kể từ ngày mồng hai
Tết về sau. Tôi làm người vô sự, đi đâu thì đi, ở đâu
thì ở, ưng đi thì đi, ưng về thì về, không có hẹn trước
ngày nào đi ngày nào về, đột ngột bất ngờ, cho có tự
do một chút. Tỉ dụ như đi từ thất đến chánh điện, có
người bưng cái khay đi trước, mình phải đi ngay thẳng đường
lối, không dám đi quanh co, mất hết tự do. Nếu có tự do,
muốn đi thì đi, muốn ghé đâu thì ghé, mệt ngồi xuống
lề nghỉ, khỏe đứng dậy đi. Đó là điều tôi mơ ước
hiện giờ, mơ ước được làm người vô sự thảnh thơi,
mà tôi chưa biết làm được bao lâu. Thật là Tam Bảo đã
gia hộ tôi quá nhiều. Chính ngày xưa tôi không tin được
giáo lý Đại thừa, nhưng bây giờ tôi lại tin sâu hơn ai
hết, tôi tin một cách chắc chắn rằng: Giáo lý Đại thừa
là những hòn ngọc quí mà người ta không thấy được.
Tại sao tôi tin được giáo lý Đại thừa? Tại sao tôi tin
được Thiền tông?
Sau khi nhận hiểu rồi, tôi mới cảm thông được chỗ đức
Phật ngồi dưới cội bồ-đề. Trước kia Ngài đã từng
đi học với những tu sĩ nổi tiếng đương thời đã chứng
đạo quả. Tuy nhiên, khi học Ngài thấy chỗ sở đắc của
những vị đó chưa thỏa mãn sở nguyện của Ngài, tức là
chưa có giải thoát sanh tử. Vì thế Ngài bỏ đi, cuối cùng
Ngài ngồi tọa thiền dưới cội bồ-đề. Toạ thiền tức
là lóng lặng nội tâm, nghĩa là tâm không còn xao động, không
còn dấy niệm thì mới được định. Từ khi Ngài tọa thiền
được định rồi, bỗng dưng đêm mùng tám tháng chạp Ngài
giác ngộ. Giác ngộ tức là thấy rõ được manh mối nào
khiến con người phải đi vào đường sanh tử, và làm cách
gì cắt đứt được dòng sanh tử để giải thoát, gọi là
giải thoát sanh tử. Thấy rõ ràng không còn nghi ngờ, và thấy
luôn cả những gì gần xa nhỏ lớn Ngài đều thấy hết biết
hết. Ngài tuyên bố rằng: Ngài giác ngộ thành đạo là tự
Ngài phát ra chớ không có ai dạy, cho nên Ngài nói Ngài học
đạo không có thầy. Nói học đạo không thầy, thật khó
hiểu quá, người ta học có thầy, tại sao Ngài học không
thầy? Nhưng chính sự thật là Ngài học đạo không thầy,
chỉ tâm Ngài an định rồi trí tuệ phát sáng. Từ chỗ đó
tôi nhớ lại trong khi tôi đang loanh quanh lẩn quẩn không ai
khai sáng giùm tôi, rồi tự tôi ráng ngồi thiền, tâm tôi
được phần nào yên tĩnh, tự nó sáng ra. Như vậy tôi tu
có thầy không? Cũng không có thầy. Tôi mới thấy rõ chỗ
đức Phật giác ngộ không thầy, mà mình bây giờ cũng tự
sáng lên được. Vì thế tôi tin được Kinh điển Đại thừa,
Kinh điển Đại thừa luôn luôn nói rằng: Tất cả chúng ta
đều có tánh giác, tức là Phật tánh. Tánh giác đó đang
bị vô minh che phủ, nếu màn vô minh thưa mỏng thì tánh giác
hiện ra. Nếu không có tánh giác thì làm sao ngộ? Nếu không
có tánh giác thì làm sao bỗng dưng sáng được lẽ đó. Trong
nhà Thiền gọi đó là Vô sư trí, tức là trí không có thầy.
Hiểu được Vô sư trí hay là Tánh giác rồi thì thấy tất
cả Kinh điển Đại thừa đều chỉ cái đó, bao nhiêu Kinh
điển Đại thừa cũng đều xoay quanh trọng tâm đó. Cho nên
trong kinh thường nói: nhất thật tướng ấn, tức là chỉ
có tâm thể chân thật là duy nhất, như trong kinh Pháp Hoa nói:
Chỉ có một Phật thừa, nếu nói có hai có ba là không đúng.
Thế nên nếu chúng ta nhận được lẽ đó rồi thì đọc
bao nhiêu Kinh điển Đại thừa chúng ta đều thấy trùng hợp
không sai khác. Rồi từ đó tôi mới tin sâu Kinh điển Đại
thừa và tôi thấy thật là hay đáo để, tôi mới đem Kinh
điển Đại thừa ra giảng dạy. Thật ra khi xưa tôi học tôi
không tin, thì làm sao tôi hiểu, nếu hiểu được tức tôi
đã tin rồi.
Như vậy kinh Đại thừa tôi không hiểu, thiền tôi cũng không
biết nhưng tôi cố gắng tu cố gắng học, rồi tự nó sáng
ra được, hiểu được kinh, biết được thiền, tất cả
đều do tâm yên tịnh rồi nó phát ra. Nếu không có trí vô
sư làm gì có được điều đó. Như vậy chúng ta mới hiểu
được đức Phật ngồi yên tịnh, Ngài giác ngộ. Hiểu được
điều đó rồi thì mọi việc chung quanh mình hiểu hết không
còn nghi ngờ.
Giáo lý Đại thừa ngày xưa không hiểu mà ngày nay chúng tôi
hiểu được, cũng không phải là do thầy dạy. Nếu thầy
dạy thì khi xưa tôi hiểu tôi tin rồi, mà khi xưa tôi không
tin, tức là thầy dạy cũng dạy văn tựï thôi, còn chỗ thật
tôi cũng chưa nhận được. Sau này qua kinh nghiệm bản thân,
qua cái thấy được, cái nhận được nơi mình, tôi mới tin
được Kinh điển Đại thừa. Qua kinh nghiệm bản thân tôi
mới tin đức Phật ngồi dưới cội bồ-đề thành Phật.
Tôi tin được điều đó thật là rõ ràng không còn nghi ngờ
gì nữa. Cho nên sau này tôi giảng kinh tôi cười hoài vì tôi
thấy hay quá, thật là thích thú. Khi xưa tôi có làm bài thơ
“Người Mù”, (rất tiếc là tôi đã quên) tả hoàn cảnh
người quờ quạng đụng tấm vách này, đụng tấm vách kia,
u đầu xể trán mà không biết đường ra, vì không thấy đường.
Khi mình thấy được rồi, thật là mừng, mới thấy Phật
pháp thật là hay đáo để và chúng ta là đại phước đức
mới được ở trong nhà Phật pháp. Những điều Phật nói
là một lẽ thật, không có chỗ nào là không thật, nhưng
vì mình không biết nên mới nghi ngờ. Thí dụ kinh nói: tất
cả chúng sanh đều có Phật tánh, thì quí vị có nghi ngờ
không? Mình thấy Phật tánh bao giờ đâu, nói mình có mà mình
không thấy cũng như không có. Nhưng khi có tu rồi, chúng ta
mới thấy rõ ràng mình có, cho nên mới phát ra, nếu không
có làm sao phát ra? Thế rồi tôi tin lời Phật nói tất cả
chúng sanh đều sẽ thành Phật. Tại sao tôi dám khẳng định
như vậy? Vì đức Phật cũng là chúng sanh.
Khi xưa tôi học Kinh điển Đại thừa nói đức Phật mười
chín tuổi xuất gia tôi chấp nhận. Kinh Nguyên thủy nói đức
Phật hai mươi chín tuổi xuất gia tôi không đồng ý, vì sao?
Vì Ngài ở trong cung lâu quá, hưởng dục lạc rất nhiều,
thấy Ngài sao tầm thường quá mà đi xuất gia mau thành Phật,
nên tôi không chấp nhận. Nhưng bây giờ tôi lại khen Ngài.
Hai mươi chín tuổi xuất gia tức là hợp lý, Ngài có đến
mấy người con. Tại sao tôi khen Ngài? Vì Ngài là con người,
khi còn ở trong cảnh thế gian Ngài cũng như mọi người thế
gian không hơn không kém, Ngài cũng hưởng dục lạc, có nhiều
vợ có nhiều con. Mới nhìn qua thấy Ngài sống hết sức là
tầm thường. Nhưng chính từ cái tầm thường đó Ngài tu
Ngài giác ngộ. Từ một con người rất là bình thường như
chúng ta, Ngài giác ngộ và thành Phật, cũng như mầm sen ở
dưới bùn, trồi lên thành một đóa hoa nên luôn luôn để
Ngài ngự trên tòa sen là hết sức hợp lý. Từ một con người
như chúng ta, Ngài tu thành Phật thì chúng ta hiện giờ cũng
là những con người tầm thường nếu chúng ta ráng tu như
Ngài thì nhất định cũng thành. Nếu đức Phật từ trên
trời rơi xuống, thanh tịnh sáng suốt hơn tất cả thiên hạ,
thì chúng ta mới vô phần.
Đức Phật là con người ban đầu rất là bình thường, nhưng
vì có Phật tánh, Ngài khéo dẹp trừ vô minh để Phật tánh
sáng ra thì Ngài thành Phật. Chúng ta cũng có Phật tánh, tuy
ở trong cảnh phàm tục, nhưng nếu biết tu thì chúng ta cũng
giác ngộ, điều đó không nghi ngờ. Vì chúng ta có sẵn tánh
giác nên khui trúng chỗ thì nó phát sáng ra. Nếu không có
sẵn tánh giác, khui mấy cũng không sáng nổi. Vì có sẵn tánh
giác, nên ai khéo tu thì cũng có thể giác ngộ được; nhìn
lại Kinh điển Đại thừa, tôi thấy điều này rất là rõ
ràng.
Tuy nhiên trong kinh A-hàm đức Phật nói rằng ngài Đề-bà-đạt-đa
không có một chút thiện cho nên nhất định phải đọa địa
ngục. Rồi sau này tôi cũng đọc kinh A-hàm trong một bài đức
Phật nói rằng: Đềø-bà-đạt-đa tuy bây giờ đọa địa
ngục nhưng sau này sẽ hết nghiệp chướng, được tu, rồi
cũng sẽ được chứng quả thành Phật. Thế nên chúng ta thấy
một người làm tội lỗi tuy rằng hiện tại rất khổ, nhưng
vì có sẵn hạt giống lành nên sau khi trả hết nghiệp, cũng
có duyên trở lại tu, rồi sẽ thành Phật. Vì vậy bây giờ
tôi cởi mở hơn khi xưa nhiều. Khi xưa ai tu nửa chừng rồi
ra đời, tôi ghét lắm vì không làm đến nơi đến chốn uổng
một đời tu. Nhưng bây giờ tôi lại cảm thông, vì khi ra
đời trả hết nghiệp, họ trở lại tu nữa, rồi có ngày
cũng thành Phật, tuy hơi muộn hơi lâu một chút. Chỉ cần
cho họ tu, họ cần xuất gia thọ giới thì cho xuất gia thọ
giới. Nếu bị trần duyên trói buộc thì họ trở lại đời.
Nếu giẫy giụa thoát khỏi thì họ trở lại tu. Hột giống
gieo rồi thì không có mất, Phật dạy rất rõ như vậy.
Qua những điều tôi vừa kể, quí vị thấy những ước nguyện
của tôi đều thành tựu mà thành gấp bội phần. Như vậy
Tam Bảo đã gia hộ và ưu đãi tôi tối đa. Tôi tin sâu rằng
Tam Bảo không bao giờ bỏ những người quyết chí tu hành.
Tôi thường nói với chư Tăng: Chỉ sợ không tu chớ đừng
lo Tam Bảo không gia hộ mình. Trong kinh thường nói: Chúng sanh
bỏ Phật, chớ Phật không bỏ chúng sanh. Vì chúng ta không
chịu tu nên bỏ Phật, chớ Phật không lúc nào bỏ chúng ta.
Chúng ta tin sâu Tam Bảo, rồi tất cả Phật sự sẽ được
viên mãn. Những người không có lòng tin mới bị Tam Bảo
bỏ rơi. Chữ “tin” ở đây là do mình nhận chân được
lẽ thật rồi mình tin, chớ không phải tin bằng cách cúng
lạy rồi Tam Bảo gia hộ. Chúng ta có nhiệt tình đối với
đạo, chúng ta có nhiệt tình trên đường tu hành thì chúng
ta sẽ được Tam Bảo gia hộ chớ không có bỏ sót.
Đến những cái khó của tôi trong khi làm Phật sự.
Khóa thứ nhất ở Chân Không chúng tôi có được mười Tăng
sinh, con số khiêm nhường như vậy tưởng đâu dạy trọn
ba năm ít ra cũng được đủ mười người. Không ngờ dạy
mới có ba tháng thì có ba vị: Thiện Ấn, Thiện Năng và Thông
Lạc rủ nhau ra đi. Rồi đến Đắc Huyền cũng bắt chước
chạy theo. Khóa học mười người mới có ba tháng mà rút
đi hết bốn người, nếu không có can đảm thì cũng mất
tinh thần nhiều lắm. Tuy nhiên tôi đã học được ở Hòa
thượng Viện trưởng Thầy tôi, Ngài nói: Tôi dạy lớp học
ba mươi, bốn mươi người, dù lớp học còn một, hai người,
tôi cũng dạy. Theo gương đó, tôi nói còn mấy chú tôi dạy
mấy chú, nhất định mãn ba năm mới thôi. Kế một, hai tuần
sau Đắc Huyền trở về sám hối, đến Thiện Năng vài ba
tháng sau cũng về sám hối. Bốn người ra đi thì hai người
trở về, còn hai người thì đi luôn, một người về Trảng
Bàng tu, một người thì ra đời có hai, ba đứa con. Quí vị
thấy làm Phật sự đâu phải lúc nào cũng đều như nguyện,
có những trục trặc mà mình phải lập chí, phải cương quyết
làm đến nơi cho tròn.
Khóa học thứ hai thì có những khó khăn ở nội bộ. Cuộc
sống đang lỉnh kỉnh bất ổn, Tăng Ni sinh phải lo tự túc
thì Định Huệ bất thần kiếm chuyện rút lui làm rộn cho
tôi. Đến chuyến chót này, năm ngoái đây Như Thủy làm rối
ren một lúc. Như vậy cái gì thành công đâu phải có một
chiều, có những trục trặc bên trong chớ không phải lúc
nào cũng xuôi thuận. Đó là ba chặng khó trong nội bộ mà
tôi phải trải qua.
Song chủ trương của tôi là định làm việc gì thì phải
làm đến nơi đến chốn, khi nào xong mới thôi. Gặp khó khăn
tôi lại cương quyết phải duy trì, tôi phải trải thân ra
lo. Khi nào thấy dễ tôi mới buông, buông mà vẫn tu được,
tôi không ngại, tôi dám buông. Vì vậy mà qua những cái khó.
Còn có cái khó của ngoại cảnh. Thiền viện ở trên núi
nhờ quí Phật tử ủng hộ nên Tăng sinh làm công tác mỗi
ngày hai tiếng đồng hồ tượng trưng thôi cho có sức khỏe,
chớ không đặt thành vấn đề tự túc. Trong bản Thanh qui
ban đầu, tôi nói chủ trương của chúng tôi là nhờ Phật
tử giúp đỡ để cho Tăng Ni tu hành chớ không có làm kinh
tế tự túc. Nhưng rồi hoàn cảnh đổi thay, tức nhiên Thanh
qui cũng phải đổi thay. Tăng Ni không thể trông cậy vào Phật
tử nữa, mà phải chuyển qua tự túc, đó là vấn đề cay
đắng chớ không phải đơn giản. Làm sao nuôi dưỡng được
tinh thần hăng hái tu, hăng hái lao động của Tăng Ni? Cho nên
lúc đó tôi mới cho họ dùng những bài ca bài hát ở ngoài
đồng để họ đỡ buồn, nếu bắt làm việc cực quá chai
tay rồi ai cũng chán. Vì vậy có nhiều người nói tôi sao
dễ quá, Thiền viện gì mà ca hát om sòm. Nếu bắt Tăng Ni
đi cuốc cả ngày mà không cho vui một chút thì làm sao làm
nổi, nhưng ca hát những bài đạo lý chớ không phải nói
việc tầm thường thế gian. Bây giờ thì tôi cấm ca hát,
vì hiện nay phương tiện sống cũng tương đối đủ, Tăng
Ni làm cũng vừa phải, không có cực lắm thì đâu cần vui,
vừa làm vừa tu trong yên lặng, đâu cần gì phải ca hát.
Đời tu của tôi có những cái dễ nhưng cũng gặp những cái
khó. Trong cái khó thật ra tôi không tính toán cũng không suy
nghĩ phải làm sao, tôi chỉ âm thầm xin Tam Bảo gia hộ. Ai
làm gì nói gì, tôi cứ lặng thinh mà chịu chờ Tam Bảo gia
hộ, rồi cái tốt đẹp sẽ đến, tôi không có phản ứng
để chống chọi gì hết. Điều quan trọng của người tu
không phải ở chỗ khôn lanh xảo trá, mà ở chỗ chân thật
biết tu. Chúng ta khôn trong đạo đức chớ không nên khôn
trong mưu mẹo thế gian. Thế nên tôi mong rằng tất cả quí
vị cố gắng tập làm sao giữ được tư cách một người
tu là một người chân thật. Trong kinh Duy-ma-cật có câu: “trực
tâm thị đạo tràng” nghĩa là tâm ngay thẳng là đạo tràng.
Đừng nghĩ rằng mình phải dùng nhiều xảo thuật để có
phương tiện, có tiền, hay để thu hút nhân tâm, chỉ cần
mình chân thành đối với tất cả Tăng Ni và Phật tử.
Tôi thường nói với lòng chân thành: “Tôi là kẻ nợ của
Tăng Ni, nhưng ai đòi thì tôi trả, ai chưa đòi thì tôi hẹn.”
Bởi sức mình hữu hạn, trả nợ một lượt không kham, ai
đòi sớm thì trả sớm, ai chưa đòi thì để dành đó
sẽ trả sau. Tôi thấy tôi là kẻ nợ, chớ không phải là
người ban ơn ban phúc cho ai hết. Mắc nợ, bổn phận tôi
phải trả, tôi không nghĩ tôi ban ơn cho người này, giúp
đỡ người kia rồi bắt họ nhớ ơn tôi. Tôi nói như vậy
với tất cả lòng chân thành của tôi. Và nhân lòng chân thành
đó Tăng Ni cảm thông và thương mến tôi, chớ tôi không có
xảo thuật riêng để thu hút người. Ai tới cũng vậy, đạo
lý thế nào tôi nói thế ấy, không có ý riêng tư hoặc dỗ
dành riêng ai.
Thành thật mà nói, tôi là một người khó. Vì sao? Vì tôi
đặt trách nhiệm cho tôi quá nặng. Tôi làm hàng rào phía
sau Thiền viện, có nhiều vị mỉa mai nói: tôi giữ mấy ông
thầy còn hơn là giữ con gái nữa. Tôi đặt trạm phía trước
tại nhà khách, có thầy Tri khách trông coi, nếu có ai đi ra
thì báo cáo. Ở phía sau có cửa hậu để ra ruộng, cửa có
chìa khóa do Trụ trì hay Tri sự giữ không cho lơi lỏng. Chung
quanh chùa một bên có rào, một bên có các bà xuất gia lớn
tuổi, nếu có ai trong Thiền viện đi lông bông bị các bà
báo cáo. Như vậy tôi bố trí đâu đó nghiêm mật, nếu có
điều gì tôi liền biết không giấu giếm tôi được.
Tại sao tôi phải khó? Tại vì tôi ở nhiều chùa, nhiều trường
Phật học, tôi thấy, tôi biết. Có nhiều người phát tâm
tu rất tốt, nhưng khi vào chùa gặp hoàn cảnh không thuận
lợi, họ nhiễm lần lần rồi trở thành xấu! Lỗi đó
tại ai? Có phải tại người hướng dẫn không khéo bảo hộ
để cho họ phải thối tâm? Vì vậy tôi đặt trách nhiệäm
là tôi phải bảo hộ, nếu ai còn ở với tôi ngày nào là
tôi phải bảo hộ họ ngày ấy. Dù tu không được giải thoát
ngay trong hiện tại, ít ra họ cũng là một vị Tăng thanh tịnh
có đức hạnh, đó là bổn phận của tôi. Khi nào họ ra ngoài
tầm tay tôi thì tôi hết bổn phận. Thành ra có nhiều vị
ở đây cũng hơi buồn, sao mà đi đâu cũng bị rầy hoài!
Cái khó của tôi là do trách nhiệm, do bổn phận của tôi
phải làm như vậy. Nếu quí vị ra khỏi đây rồi thôi, làm
gì thì làm tôi không có nói gì hết, vì nó quá tầm tay của
tôi.
Chư Tăng ở đây giả sử như tu không có tiến một trăm phần
trăm như ý mình muốn, chỉ được chừng hai mươi, ba mươi
phần trăm thôi, tôi cũng bảo đảm rằng mấy chú cũng sẽ
là Tăng sĩ tốt xứng đáng. Nếu các chú bỏ đây ra đi thì
có thể tưởng tượng rằng mình sẽ được một trăm phần
trăm, nhưng thật ra tôi chưa dám tin điều đó, có thể được
mà cũng có thể sẩy chân bất cứ lúc nào, vì bên ngoài trơn
trợt lắm, có đủ điều kiện để cho mình sẩy chân. Vì
thế ở đây có ai xin đi, nếu tôi khuyên đừng đi thì ngại
người khác hiểu lầm rằng tôi lợi dụng giữ chúng cho đông
để Phật tử cúng dường nhiều, nên ai xin đi thì tôi sẵn
sàng cho, nhưng đến thì khó.Vì sao tôi lại đặt như vậy?
Vì tôi cảm thông với đức Phật. Khi Phật nói kinh Pháp Hoa,
rồi có năm trăm vị Tỳ-kheo thối tịch, Phật bảo: Thôi
hột lép gió bay, còn lại hột chắc. Có chỗ khác Phật nói:
‘‘Thà một ngày hoàn tục cả năm trăm vị Tăng, còn hơn
là ở trong đạo mà phá giới.” Như vậy Phật chấp nhận
cho ra đời chớ không muốn mình ở trong đạo mà hư hỏng.
Cũng thế những vị đến với tôi thì rất khó, phải có
điều kiện tôi mới nhận, nhưng khi không muốn ở thì tôi
sẵn sàng cho đi chớ không có năn nỉ. Có nhiều chú từ bi
hơn tôi, thấy huynh đệ muốn đi thì theo khuyên lơn, còn tôi
thì gật đầu cho đi. Như vậy người lớn từ bi hơn hay người
nhỏ từ bi hơn? Mới nhìn hình như người nhỏ từ bi hơn
vì năn nỉ khuyên lơn đừng đi. Còn tôi khi thấy một người
không muốn ở, mình cố khuyên, họ có ở lại cũng không
được vui, nếu họ làm điều gì sai mình rầy, họ nói:
“tôi không muốn ở, tại quí vị xúi giục hay bắt buộc
tôi ở”, cho nên mình rầy không được. Còn người phát
nguyện ở để tu thì mình có bổn phận bảo vệ họ kỳ
cùng đến nơi đến chốn.
Như vậy quí vị mới thấy người lớn là người mang một
trọng trách nặng nề đối với người nhỏ, trọng trách
đó mình tự thấy tự đặt ra chớ không có ai bắt buộc.
Tự tôi thấy mình đã tu thì mình phải lo cho những người
tu, mình đã biết thì phải giúp cho những người chưa biết,
mình thấy cái hay thì nói cho người ta cùng thấy. Như vậy
trên đường đạo chúng ta cùng dìu dắt nhau, chớ không thể
âm thầm hưởng cái vui riêng mà không chia sớt cho người.
Lập trường của tôi là rõ ràng như vậy, nghĩa là muốn
làm sao cho tất cả đều được an ổn vui tươi.
Đức Phật là bậc Đạo sư tức là người thầy dẫn đường,
biết đường và đi trước, chớ không bao giờ thầy dẫn
đường lại đi sau. Bây giờ quí vị cảm thông cho tôi, khi
còn ở trên Chân Không, tôi hứa dạy xong khóa thứ nhì từ
năm 1974 đến năm 1976, thì tôi sẽ nghỉ để chuyên tu, vì
tôi thấy nhưng tôi chưa hành đến nơi đến chốn. Tôi định
nghỉ để tôi hành. Nhưng duyên không cho phép tôi nghỉ, nên
tôi tiếp tục dạy cho đến ngày nay, thì trên đầu tôi không
còn sợi tóc đen nào, lại thêm bệnh hoạn. Như vậy ngang
đây tôi nghỉ có vừa chưa? - Vừa quá rồi! Tôi nghỉ không
phải để nhàn hạ thảnh thơi, mà chính là để làm việc
khác. Tôi nghỉ việc giảng dạy giáo hóa Tăng Ni bằng ngôn
ngữ văn tự, nhưng tôi phải làm những việc bằng hành động
và tư cách. Những ngày nghỉ của tôi là những ngày chuyên
tu, tôi phải cắm đầu làm việc đó để ít ra khi nhắm mắt
tôi được tự chủ năm bảy mươi phần trăm, nếu chưa được
hoàn toàn. Tôi không thể chỉ nói cho hay rồi tự mãn, mà
phải làm cho được những gì tôi nói. Đó là trách nhiệm
của người dẫn đường, dẫn đường là phải đi trước.
Tôi khuyên quí vị tu mà tôi không tu thì làm sao? Những gì
tôi thấy tôi đã nói hết để quí vị ứng dụng tu. Bây
giờ tôi phải thực hành được, để thấy rằng những điều
tôi nói là lẽ thật, nếu quí vị ứng dụng như vậy thì
sẽ có lợi ích lớn. Đây là điều thiết yếu chúng tôi
cần phải nêu lên cho quí vị thấy rõ.
Trên đường tu thời gian rất là quí báu, nếu tôi còn sống
thêm năm bảy năm nữa, thời gian đó tôi ứng dụng thực
hành. Khi chưa thấy đường thì công phu mình đi cứ loanh quanh
lẩn quẩn vì không biết đâu là mục đích. Nếu thấy đường
rồi thì công phu của mình dù không tới đích ít ra cũng tiến
được khá dài. Thế nên khi tôi buông mọi việc coi như tôi
thảnh thơi, nhưng thật ra muốn làm người vô sự không phải
là dễ, làm người đa sự thấy khó mà dễ, làm người vô
sự mới thật là khó. Vì vậy tôi mong rằng thời gian tôi
làm người vô sự, quí vị đừng mang những điều đa sự
đến thưa kiện khiếu nại hay than van: Từ ngày Thầy đi,
Thiền viện chúng con bơ vơ đói thiếu v.v... Quí vị phải
gan dạ chịu đựng để cho tôi được vô sự, thì có lợi
cho tôi mà cũng có lợi cho quí vị, đừng níu kéo làm mất
thì giờ của tôi vô ích. Tôi buông là buông dứt khoát chớ
không có buông nửa chừng, níu kéo tôi chỉ thêm nhọc nhằn
thôi, không có lợi gì cho cả hai bên. Đó là ý tôi muốn
nhắc nhở trong đêm hôm nay.
Đây là buổi Tất niên chót tôi dự tại Thiền viện Thường
Chiếu. Từ đây về sau tôi không có dự nữa, dù có mặt
ở đây tôi cũng im lặng, vô sự mà! Tôi chỉ mong sao thời
gian làm người vô sự của tôi kéo dài một chút để tôi
đủ thời giờ làm được kha khá. Trước khi im lặng, tôi
mong rằng tất cả quí vị biết rõ ý và việc làm của tôi
từ thủy chí chung như thế nào, quí vị rút kinh nghiệm và
cảm thông để cho tôi được yên mà làm một việc rất cầøn
thiết cho đời tu của tôi.
Khi trao gánh nặng lại cho quí vị lãnh đạo các Thiền viện,
điều mong mỏi duy nhất của tôi là tất cả chúng ta đều
thành thật lo cho Phật pháp, và chân thành thương những người
sau chúng ta, đặt mình là kẻ có trách nhiệm có bổn phận
chớ không phải mình là người ban ơn ban phúc. Nếu có ai
không nghĩ nhớ tới mình thì thôi, biết ơn hay không cũng
được. Họ đi ngang mình không chào cũng thôi, không nên bắt
lỗi làm chi, cứ làm hết bổn phận mình là vui. Vì là người
mang nợ, mình trả được nợ là khoẻ thôi, trả xong nợ
là yên lòng mình. Mong rằng quí vị hiểu chủ trương này
của tôi, và phải nhớ rõ khi làm Phật sự gặp lúc khó khăn
chính là lúc mình phải giữ vững trách nhiệm. Khi nào dễ,
có người thay mình được khi ấy mới buông. Đừng thấy
khó rồi quăng đi, đó là người vô trách nhiệm. Hãy chân
thành lo cho đạo, quyết chí tu thì khó cũng thành dễ, phải
có thiện tâm thiện chí tối đa thì mọi việc đều tốt
đẹp.
Những điều hay dở trong cuộc sống của tôi, tôi đã kể
ra cho quí vị nghe, mong rằng tất cả hãy cố gắng thực hiện
được những điều hay và lợi ích với tinh thần trách nhiệm
và lòng chân thành lo cho đạo pháp.
HÒN
NGỌC QUÍ TRONG NÚI LỬA
TẾT
NHÂM THÂN (1992)
(Tăng
Ni)
Ngày
đầu Xuân tất cả Tăng Ni và Phật tử về đây để chúc
mừng năm mới, nhân đây chúng tôi nhắc nhở đôi lời để
quí vị có đủ tư lương tiến tu trên đường giải thoát.
Đầu Xuân trong đạo cũng như ngoài đời, chúng ta đều đến
chúc mừng những vị lớn tuổi được thêm một tuổi thọ.
Quí vị đến mừng tuổi, song tôi lại có cái buồn, mừng
thêm một tuổi, nhưng buồn giảm mạng sống hết một năm.
Mỗi năm tuổi thọ tăng thêm, nhưng mạng sống chúng ta lại
giảm, cứ như thế mà giảm dần cho đến một ngày nào hết
chúc thọ nữa, thì chừng đó tới ngày húy kỵ, nhắc đến
ngày ấy là sợ, là buồn. Như thế tất cả người đi trước,
người theo sau, và những người sau này ai ai cũng đều lũ
lượt đi trên con đường mỗi ngày mỗi giảm mạng sống.
Vì thế người học đạo phải nhận thức đúng ý nghĩa thời
gian, thì chúng ta sống mới có giá trị.
Ý nghĩa thời gian là thế nào?
Thời gian trôi qua không dừng một chỗ. Thời gian trôi, vô
thường đuổi gấp, vô thường tức là hoại diệt. Vì vậy
mỗi một năm qua vô thường hoại diệt đang hoành hành tàn
phá thân chúng ta làm cho thân phải mòn mỏi hư hao rồi hủy
diệt. Chính vì thế đức Phật dùng chữ “Con Quỉ Vô Thường”.
Vô thường là con quỉ, nó phá hoại, không để chúng ta được
an ổn. Song thời gian cũng rất quí giá, nó cho chúng ta làm
được những việc lợi ích cho mình và cho người.
Tóm lại khi nói tới thời gian, chúng ta phải nhớ hai đặc
điểm:
-Đặc điểm thứ nhất:
Thời gian qua rồi không trở lại. Thế nên ngày nào còn được
khỏe mạnh, ngày nào còn khả năng làm được nhiều điều
lợi ích, thì chúng ta phải tận dụng hết khả năng của
mình, đừng để thời gian trôi qua rồi tìm lại không được;
cũng đừng để chúng ta trở thành một con người vô ích
tuy có mặt trong xã hội mà chỉ là một vật thừa, thật
uổng cho thời gian quí báu của một đời người.
-Đặc điểm thứ hai:
Thời gian là những nhát búa, là những ngọn lửa thiêu đốt,
phá hoại thân thể chúng ta. Nó thật là đáng sợ, không cho
chúng ta an ổn. Chúng ta phải ráng làm sao đừng để thời
gian chi phối đời chúng ta, rồi chúng ta trở thành cát bụi
vô ích. Nhất là tuổi già từ năm mươi sáu mươi về sau,
chúng ta cảm thấy đã yếu mòn đi rất nhiều, nên mỗi ngày
qua là mỗi ngày khổ thôi, chớ có vui gì!
Biết rõ được ý nghĩa thời gian chúng ta phải làm sao? Chẳng
lẽ để thời gian thiêu đốt mình đến bại hoại không còn
gì nữa. Nếu chỉ biết thân bị vô thường thiêu đốt là
chủ yếu, là thật thì rất uổng cho một đời. Có mặt rồi
trở về không, thật là giá trị không ra gì. Vì vậy người
tu khi biết thời gian làm tiêu mòn con người, chúng ta phải
làm sao tìm ra trong cái tiêu mòn đó một cái gì mãi mãi không
tiêu mòn. Dù thời gian có hủy hoại thân này, chúng ta cũng
cảm thấy không buồn, không sợ. Vì sao? Vì trong cái bại
hoại, có cái không bại hoại, trong cái tiêu tan mất mát có
cái không tiêu tan mất mát. Nói một cách khác là còn có cái
trường cửu, bất sanh bất diệt. Được vậy đối với thời
gian chúng ta không còn sợ nữa. Con quỉ vô thường chỉ có
thể phá hoại được thân xác giả tạm thôi, chớ không thể
nào sờ mó đến cái chân thật của chúng ta. Người biết
tu là tìm tới cái chân thật đó, rồi mới thấy cuộc đời
mấy mươi năm chỉ là tạm bợ giả dối. Thấy được cái
thật rồi, chúng ta không còn lo âu sợ hãi trước những biến
hoại của luật vô thường.
Một Thiền sư Việt Nam đời Lý, ngài Ngộ Ấn có diễn tả
điều đó qua hai câu thơ:
Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận
Liên phát lô trung thấp vị càn.
Dịch:
Tươi nhuần sắc ngọc trong núi cháy
Lò lửa hoa sen nở thật xinh.
Hòn ngọc trên ngọn núi cháy sắc vẫn tươi nhuần. Đóa hoa
sen nở trong lò lửa vẫn thắm tươi.
Qua hai câu thơ, Ngài muốn diễn tả điều gì?
Hình ảnh thứ nhất: Trong cái vô thường hoại diệt, có cái
chưa từng bị hoại diệt, giống như hòn ngọc quí trong ngọn
núi cháy hừng hực mà vẫn tươi nhuần. Lửa cháy trên ngọn
núi là dụ cho lửa vô thường thiêu đốt ngọn núi ngũ uẩn.
Trên thân ngũ uẩn bị vô thường thiêu đốt, chúng ta có
một hòn ngọc quí đẹp đẽ không đổi thay màu sắc. Chúng
ta không mắc kẹt trong ngọn núi ngũ uẩn và không chịu thua
ngọn lửa vô thường là vì chúng ta có được hòn ngọc quí.
Hình ảnh thứ hai: Trong lò lửa cháy rực, có một đóa hoa
sen mọc lên, nở tròn, sắc hương thanh khiết. Trong lò lửa
làm gì có hoa sen mọc? Đây để diễn tả: Chính trong thân
bị lửa vô thường thiêu đốt từng giây từng phút, lại
có cái chân thường nằm sẵn trong đó, không bị tất cả
cái vô thường động đến được. Một đóa sen nở trong
lò lửa là chuyện phi thường mà thế gian không bao giờ tưởng
tượng được. Thế nhưng tất cả chúng ta ai ai cũng có đóa
hoa sen đó. Biết sống với nó, thì chúng ta hết sợ lò lửa
vô thường. Cũng như khi nắm được hòn ngọc quí trong núi
cháy rực, thì chúng ta hết sợ ngọn lửa cháy rực đó, chúng
ta vẫn tươi cười vì nó không làm gì được hòn ngọc quí
của chúng ta.
Điều chúng tôi muốn nói với tất cả quí vị: Tuy thời
gian là vô thường, biến đổi, thân này cũng bại hoại theo
cái vô thường biến đổi của thời gian, nhưng trong thân
bại hoại này vẫn còn có cái không bại hoại, trong thân
vô thường này vẫn còn có cái Chân Thường Vĩnh Cửu. Cho
nên chúng ta phải khéo, phải sáng suốt tìm cho ra, thấy cho
được cái chân thường vĩnh cửu ấy. Được vậy chúng ta
mới an nhiên tự tại, mới hằng được vui tươi không bao
giờ có những niệm buồn khổ khi thấy thân bệnh hoạn, chết
chóc. Chúng ta vẫn cười mãi, vì tất cả vô thường là trò
ảo mộng, không đáng để chúng ta bận tâm.
Chúng ta còn có cái chân thật đang hiện hữu và mãi mãi hiện
hữu, đó mới thật là Mùa Xuân Miên Viễn. Ngày nào cũng
là xuân, tám mươi tuổi cũng thấy xuân, ngày mai thân hoại
cũng vẫn thấy xuân. Nếu chỉ biết xuân là lúc hoa nở, khí
trời ấm áp, gió phương đông thổi về, mọi người vui vẻ,
thì khi hết xuân, qua hạ nóng bức, đến đông lạnh lẽo,
chúng ta sẽ buồn khổ chớ không an ổn. Nếu tìm được cái
chân thật, không đổi dời, thì chúng ta không bao giờ còn
có gì đáng buồn đáng sợ trên cuộc đời này nữa.
Tuy chưa hoàn toàn sống được mùa xuân ấy, nhưng tôi tự
hứa: Tôi sẽ là người sống được mùa xuân miên viễn đó.
Tôi hy vọng rằng ngày mai thân tôi có hoại đi tôi vẫn cười,
vì tôi còn có mùa xuân mãi mãi không hoại. Nếu không thì
khi thân hoại chúng ta sẽ khổ đau, vì không biết chúng ta
sẽ mang thân nào khác! Nếu biết thân này chỉ là giả tướng
tạm bợ hợp rồi tan, còn cái chân thật kia chưa bao giờ
hợp cũng chưa bao giờ tan, thì chúng ta sẽ yên lòng sống
trong mọi hoàn cảnh, yên lòng trong tất cả thời gian tuổi
thọ ngắn dài của chúng ta.
Được diễm phúc bước vào con đường đạo, chúng ta phải
đi tìm mùa xuân miên viễn ấy, chớ không phải vào đạo
để được những tạm bợ thế gian. Nào là chùa to, Phật
lớn, chúng đông, tất cả đều bị lửa vô thường đốt
hết. Chỉ có một cái không bị đốt đó là cái chân thật
của mình. Sự thành công của người tu không phải là cất
được một trăm ngôi chùa, không phải là giáo hóa mấy ngàn
đệ tử, mà sự thành công của chúng ta là tìm được mùa
xuân miên viễn. Đời người tu chúng ta là một đời tự
tại, an vui trong cái khổ đau vô thường. Được như thế
mới gọi là phi thường, mới gọi là giải thoát.
Chúng ta giải thoát cái gì?
Giải thoát được vô thường sanh tử. Nếu không được cái
chân thường vĩnh cửu thì chúng ta không bao giờ được giải
thoát. Vì hiểu được điều này nên tôi mong rằng: Tăng Ni
và Phật tử, quí vị ráng nhìn cho kỹ, thấy cho sâu chỗ
chân thật này mà tôi đã qua bao nhiêu năm cố gắng chỉ cho
quí vị. Thật ra tôi đã đem hết tâm can để nói lên lẽ
thật đó. Quí vị chịu khó đọc tới đọc lui, nghe đi nghe
lại những lời nhắc nhở của chúng tôi, thì quí vị thấy
được cái miên viễn đó, và sẽ được tự tại trong cuộc
đời vô thường biến hoại này. Bằng không thì quí vị tu
chỉ được cái nhân lành rồi cũng bị vô thường, nhưng
vô thường trong cái tốt một chút vậy thôi. Thí dụ như
một khúc gỗ mục mỗi ngày qua mỗi rã nát và một cái nhà
sang trọng mỗi ngày qua mỗi cũ dần. Hai cái đó tuy giá trị
khác nhau nhưng rốt cuộc rồi cũng đi tới bại hoại, chỉ
có hoại trước, hoại sau mà thôi. Cái nhà đẹp rồi cũng
bị cũ hư từ từ, chớ không phải là cái đẹp miên viễn.
Thế nên chúng ta làm sao đừng kẹt trong cái vô thường, dù
nó đẹp đến đâu, chúng ta cũng không thích, không vui. Chúng
ta chỉ vui thật sự khi thoát khỏi luật vô thường.
Song tâm con người lại thích cái vô thường đẹp. Cho nên
năm cũ gần tàn lại mong năm mới, rồi năm này hơi chán lại
mong năm tới, chỉ mong cái mới tốt hơn cái cũ, mà không
ngờ mong mãi rồi đến cái bại hoại. Vì thế người học
đạo phải sáng suốt, không mong năm mới tốt hơn năm cũ
mà chỉ mong thoát khỏi vô thường. Chính khi đó thì tất
cả ngày, tháng, năm đều là một mùa xuân. Bằng không thì
thiếu gì người ngày xuân vẫn khóc, đâu phải ngày xuân
là đẹp là vui hết đâu. Thiếu gì người ngay mùa đông ảm
đạm mà vẫn cười. Đây không phải là luật chung mà là
việc riêng của mỗi người chúng ta. Nhưng dù khóc dù cười
ở mùa xuân hay mùa đông cũng đều không có giá trị gì.
Ở tất cả mùa chúng ta vẫn cười luôn, đó mới là chân
giá trị.
Chúng ta cố gắng làm sao, trong một kiếp này, đào cho được
hòn ngọc quí đang chôn sâu dưới lòng đất vô minh. Bới
nó lên, nắm nó trong tay rồi chúng ta mới vui cười. Có người
hỏi: “Không biết Bồ-tát Địa Tạng cầm hòn ngọc trong
tay để làm chi?” Tu thành Bồ-tát rồi, phải xả hết, chớ
còn cầm hòn ngọc để làm gì? Nhưng đó là một ý nghĩa
hết sức thâm trầm. Địa là đất, Tạng là chôn giấu. Hòn
ngọc quí đó đang chôn giấu ở dưới đất vô minh phiền
não. Chúng ta chịu khó bươi móc những vô minh phiền não ra
rồi chúng ta sẽ có hòn ngọc quí, giống như ngài Địa Tạng
đang nắm nó ở trong tay vậy.
Là người học đạo chúng ta không nên buồn, không nên lo
thân này già chết, chúng ta chỉ buồn lo: Tại sao chúng ta
cứ dung dưỡng vô minh? Tại sao chúng ta cứ chứa chấp phiền
não? Vô minh phiền não còn dầy thì không bao giờ chúng ta
thấy được hòn ngọc quí. Thế nên chúng ta phải phá dẹp
vô minh để cho hòn ngọc quí hiện tiền, như vậy mới là
một đời tu xứng đáng. Không làm được việc đó thì đừng
mong chúng ta được an vui.
Bao nhiêu năm rồi chúng tôi giảng đông giảng tây, giải Kinh
giải Luận chỉ cốt làm sao cho quí vị nhận ra mình có hòn
ngọc quí. Ngang đây khi tôi nghỉ giảng dạy rồi, quí vị
ráng dùng cây kiếm trí tuệ bươi xới miếng đất phiền
não vô minh cho nó nát ra để lấy cho được hòn ngọc quí,
đây là thời gian quí vị phải làm. Khi trước quí vị chưa
tin mình có hòn ngọc quí nên tôi cố gắng nói cho quí vị
tin. Ngày nay quí vị tin rồi, không phải ngang đây là đủ
mà quí vị phải ra công đào xới mảnh đất vô minh cho tan
nát để thấy hòn ngọc quí của mình. Như vậy mới khỏi
uổng công chúng tôi giảng dạy bao nhiêu năm. Nếu quí vị
cứ hài lòng biết mình có hòn ngọc quí rồi lo gì, cứ để
đó, đi lo chuyện phải quấy hơn thua, thì hòn ngọc cứ bị
chôn vùi, tuy quí vị có nó mà không sử dụng được, rồi
vẫn chịu khổ đau mãi.
Nỗ lực dẹp hết những chướng ngại để thấy được hòn
ngọc là quí vị thành công trên đường tu. Khi ấy quanh năm
suốt tháng đều là mùa xuân, tất cả đều là mùa xuân,
mùa xuân chân thật. Không còn nữa mùa xuân tạm bợ, xuân
trong cái bị thiêu đốt cháy mòn cho đến ngày bại hoại.
Chỉ một mùa xuân miên viễn bất sanh bất diệt, xuân đó
là thoát khỏi vô thường, xuân đó là vô minh phiền não không
còn có mặt nữa.
Mong rằng sang năm mới qua lời nhắc nhở của chúng tôi, tất
cả Tăng Ni và Phật tử cố gắng thực hiện sống được
mùa xuân miên viễn. Tất cả chúng ta sẽ cười mãi, đến
phút tắt thở vẫn còn cười. Đó mới thật là người nhận
được hòn ngọc quí nơi mình, đó mới thật là người tu
đạo giải thoát.
XUÂN
NHÂM THÂN NÓI CHUYỆN CON KHỈ
CHÚC
TẾT PHẬT TỬ (1992)
Ngày
Xuân năm nay có hai ý nghĩa, ý nghĩa thứ nhất là chúng tôi
sẽ đem đạo lý khuyến khích nhắc nhở tất cả Phật tử
tinh tấn tu hành, ý nghĩa thứ hai là một ngày Xuân chúng tôi
tạm biệt tất cả quí Phật tử, xem như là trong những ngày
Xuân từ đây về sau ít có cơ hội chúng ta gặp lại. Không
phải tôi từ giã để đi theo Phật mà để tôi có thì giờ
tu, tôi nói rõ để nhiều vị tưởng lầm là tôi trối trăng.
Từ khi khởi sự dạy Tăng Ni cũng như Phật tử đến nay,
mỗi năm chúng tôi đều dự những buổi lễ đầu Xuân và
có những lời nhắc nhở quí Phật tử, nhưng từ năm này
tôi không tiếp tục nữa nên xem như là lần Xuân cuối để
tôi và quí Phật tử gặp gỡ nhau. Lần này tôi không nói
nhiều nhưng tôi tin rằng quí Phật tử nhớ nó là một kỷ
niệm sau cùng, quí vị nhớ kỹ ứng dụng tu để đời tu
hành của người Phật tử tại gia có kết quả tốt. Thông
thường mỗi năm tôi có một đề tài Xuân, năm nay đề tài
Xuân nói về con khỉ, vì Nhâm Thân là năm con khỉ. Con khỉ
có những ý nghĩa thâm trầm trong đạo Phật nên tôi dùng
đề tài này để nói chuyện với quí vị.
Tôi sẽ kể về hai con khỉ, một trong kinh A-hàm và một thuộc
về các Thiền sư. Trước hết tôi nói chuyện con khỉ trong
kinh A-hàm. Đức Phật kể lại thế này: Có một bầy khỉ
khi đi ăn, con khỉ chúa luôn luôn kêu gọi các con khỉ trong
đàn phải theo đàn đừng đi riêng lẻ rồi bị nguy hiểm.
Nhưng có một con khỉ do đi theo đàn kiếm ăn không được
nhiều nên nó buồn và nghĩ rằng: Thôi mình tách đàn đi riêng,
biết đâu kiếm được mồi nhiều, ăn ngon hơn, theo đàn không
đủ chia. Do đó nó tách đàn đi riêng, nó đi đến đúng chỗ
thợ săn đặt mồi, mồi thật là ngon nhưng bên cạnh có mấy
cây nhựa làm bẫy. Con khỉ thấy mồi, vì còn nhỏ chưa kinh
nghiệm nên nhảy vào chụp mồi. Tay thứ nhất vừa đưa vào
liền trúng bẫy nên dính nhựa, nó lúng túng lấy tay thứ
hai gỡ (nói tay chớ thật là hai chân trước), nhưng vừa đưa
vào liền dính luôn, còn lại hai chân sau, nó lấy chân thứ
ba quào cho tróc không ngờ cũng dính vào bẫy, còn chân sau
cùng nó nghĩ là còn có thể cứu được nên đưa chân đạp
mạnh cho bẫy rớt ra, không ngờ lại dính sâu hơn nữa. Bốn
chân đều dính vào bẫy, chỉ còn hy vọng dùng miệng gỡ
nên nó hả miệng cạp để gỡ mấy cái chân, nhưng miệng
lại dính luôn. Không biết làm sao, chỉ còn có cái đuôi ngúc
ngoắc, nó vận dụng hết sức lấy đuôi giựt ra không ngờ
dính luôn cái đuôi. Như vậy sáu bộ phận của con khỉ đều
dính chặt vào bẫy nhựa, người thợ săn đến cột chân
nó lại quảy về. Đó là ví dụ, qua hợp pháp, Phật dạy
các thầy Tỳ-kheo và Phật tử phải khéo tu sáu căn. Sáu bộ
phận của con khỉ là ví dụ cho sáu căn của chúng ta: mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Sáu căn nếu an trú trong phạm
vi của nó tức là giống như con khỉ theo bầy không bị nguy
hiểm. Trái lại nếu sáu căn phóng ra ngoài thì sẽ bị nguy
hiểm. Thí dụ như mắt vừa thấy sắc đẹp, chạy theo liền
nhiễm trước, đến tai thích tiếng hay, mũi thích mùi thơm,
lưỡi thích vị ngon, thân thích xúc chạm, ý chạy theo pháp
trần. Sáu bộ phận đó đuổi theo sáu trần gọi là dính
mắc, giống như con khỉ dính hết sáu bộ phận vào bẫy.
Con khỉ dính hết sáu bộ phận thì thợ săn cột nó quảy
về, còn chúng ta sáu căn dính với sáu trần rồi thì ma vương
sẽ lôi chúng ta đi. Chúng ta tu để thành Phật chớ không
phải tu để thành ma, nếu ma lôi chúng ta thì chúng ta theo
ai? - Theo ma! Nhưng ma là gì? Ai cũng tưởng ma có nanh có vuốt,
mặt mày rằn ri nhưng không phải, ma khôn lắm, nó trá hình.
Những gì đẹp làm cho chúng ta bị lôi cuốn, đó là ma, đừng
tưởng là đẹp thật. Nghe tiếng hay tai chúng ta nhiễm, đó
cũng là ma. Như vậy sáu trần hấp dẫn lôi cuốn chúng ta,
đó là sáu con ma, theo nó thì bị ma dẫn. Trái lại sáu trần
dù đẹp dù xấu thế nào chúng ta cũng không màng, không dính,
đó là chúng ta làm chủ được thì ma không tài nào lôi kéo
chúng ta. Thế là chúng ta thoát được đường ma, thoát đường
ma là đi đường Phật, là tu theo Phật. Như vậy quí vị thấy
hai con đường, một bên là ma, một bên là Phật, nhưng đường
nào dễ đi hơn? Thành thật mà nói thì đường ma hấp dẫn
quá. Vì hấp dẫn nên tất cả chúng ta ai cũng thích đi đường
ma, nghĩa là thấy cái gì đẹp là muốn được, muốn được
tức là bị ma dẫn, bị nó cột hết một chân, vì để được
sắc đẹp đó nên việc gì dù tội lỗi cũng vẫn làm, mọi
điều xấu ác theo đó mà sanh. Thế nên chúng ta vừa buông
lung sáu căn theo sáu trần là chúng ta đã đi theo đường ma,
theo đường ma là khó trông cầu giải thoát. Chúng ta bị ma
dẫn đi tức là nô lệ nó, trở thành ma em, ma con, ma cháu...
Tóm lại hai đường: một bên dính mắc thì bị lôi đi, một
bên không dính mắc được tự do tự tại, mà đạo Phật
là đạo giải thoát, tự do là nhân của giải thoát.
Chúng ta là người thích tu. Tại sao thích tu? Phải giải thích
cho rõ. Thích tu có nghĩa là mong giải thoát, khỏi bị trói
buộc. Thí dụ như một cô gái mười tám, mười chín tuổi
lại thích đi tu. Người ta hỏi đi tu là thích điều gì? Không
lẽ nói nghe tụng kinh hay nên thích, hoặc vào chùa được
bánh kẹo nhiều nên thích. Thích đi tu là vì thấy tình cảm
ở thế gian cột trói con người trong vòng tài sắc không còn
lối thoát. Vì muốn thoát những cột trói đó nên đi tu.
Thí dụ một cô Ni mười bảy, mười tám tuổi ở chùa, khi
có việc cần đi đâu thì nói “nay tôi đi chợ mua đồ”,
rồi vào mặc áo tràng đi liền không có gì trói buộc cả.
Trái lại một cô gái ở ngoài đời cũng khoảng tuổi đó,
có gia đình rồi có một đứa bé chừng năm bảy tháng...
muốn đi chợ có dễ không? Mượn ai giữ giùm bé đây? Đó
là điều thứ nhất, lại không biết mình đi rồi bé có khóc
không? Tức nhiên từ đó chúng ta thấy có trói buộc,
lại thêm những trói buộc nhỏ nhỏ nữa như trước khi đi
phải sửa soạn mặt mày cho kỹ một chút v.v... Trong khi cô
Ni thì rất đơn giản, chỉ mặc chiếc áo tràng vào đàng
hoàng là đi, không có điều gì bận lòng. Giải thoát là như
thế, tức là không bị ràng buộc, mà không buộc ràng đó
là vì mình tôn trọng mình, muốn được giải thoát nên mình
tu.
Như vậy ý nghĩa tu của đạo Phật là giác ngộ và giải
thoát. Giác ngộ là biết lẽ thật. Những gì trói buộc, những
gì không trói buộc, chúng ta đều biết rõ, chúng ta không
dùng cái trói buộc để tự buộc ràng, chúng ta phải theo
cái gì có thể giải thoát khỏi sự buộc ràng nên nói giải
thoát là nói tự do. Vả lại hiện tại chúng ta được tự
do thì khi nhắm mắt chúng ta cũng tự tại nhắm mắt. Nếu
quí Phật tử có gia đình, có con, có cháu, khi gần nhắm mắt
thì thế nào? Con khóc: Ba ơi Ba! Ba đi bỏ con sao? Cháu gọi:
Ông nội ơi! Ông nội chết rồi ai dẫn cháu đi chơi v.v…
nghĩa là kẻ này gọi, người kia khóc, xót xa đi không đành,
tức là lẩn quẩn trở lại. Còn những thầy tu đi, đệ tử
có thương cũng chỉ rưng rưng nước mắt chớ không kêu khóc
là bỏ con v.v... Thầy đi rồi, nhưng những gì Thầy dạy y
theo tu thì được, thế nên mới nhẹ nhàng thảnh thơi đi.
Đó là tôi nói thí dụ cụ thể cho quí vị thấy mục đích
của người tu là giải thoát, tức là không bao giờ chấp
nhận sự trói buộc. Nếu sáu căn dính sáu trần là trói buộc!
Nếu dính là đi đường trầm luân, không dính là đi đường
giải thoát. Đức Phật vạch cho chúng ta thấy rõ hai con đường,
quí thầy nhắc quí Phật tử nhớ hai con đường đó, phải
chọn mà đi, chớ đức Phật cũng như quí thầy không lôi
quí Phật tử được, chỉ quí vị phải tự nhớ.
Từ trọng tâm đó, chúng ta thấy thời đức Phật tại thế,
các Tỳ-kheo đi khất thực phải nhìn xuống đất không quá
ba thước. Các ngài sợ điều gì? Sợ bị dính, bị nhiễm
nên không dám nhìn để giữ mắt. Đến ai nói hay nói dở
gì cũng không để ý, giữ tai không dính, nghĩa là cố làm
sao tránh dính nhiễm vì biết rằng dính nhiễm là khổ đau
trầm luân. Không dính căn nào là đỡ khổ căn ấy, còn
nếu dính hết thì hết cứu. Tỉ dụ như hai tay hai chân dính
mà còn miệng thì còn kêu bạn bè cứu được, nếu dính luôn
miệng thì hết nhúc nhích. Như vậy con đường tu chúng tôi
thấy hết sức rõ ràng là ở nơi sáu căn tức là mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, ý. Thế nên trong kinh Lăng Nghiêm khi đức
Phật muốn chỉ điểm quan trọng, căn bản luân hồi sanh tử
và căn bản giải thoát Niết-bàn thì không phải chỉ một
mình đức Phật mà cả mười phương chư Phật cùng hưởng
ứng, đồng thời nói với ngài A-nan: “Sáu căn của ông là
cội gốc của luân hồi sanh tử và sáu căn của ông cũng
là cội gốc giải thoát Niết-bàn.” Tóm lại trọng tâm của
đạo Phật là chỉ chúng ta biết thế nào là giải thoát,
thế nào là trầm luân, con đường đó từ đâu có? Phật
chỉ cho chúng ta, quí thầy cũng chỉ cho quí Phật tử, nhưng
gỡ được, tránh được hay không là quyền của quí Phật
tử. Nghĩa là bị nhiễm thì trầm luân, không dính mắc thì
giải thoát, đó là cội gốc tu hành. Dầu ai nói có thần
thông biến hóa gì mà mắt còn nhiễm sắc, tai còn nhiễm tiếng
thì người đó chưa phải giải thoát, chưa phải là người
tu chân chánh. Người tu chân chánh là gỡ được sáu căn không
nhiễm sáu trần.
Như vậy ý nghĩa con khỉ hết sức là quan trọng. Phải nhớ
con khỉ dính hết sáu bộ phận, người thợ săn lôi đâu
đi đó không giẫy giụa gì được, còn nếu dính vài bộ
phận thì còn giãy giụa được chút ít nhưng cũng phải đi
theo. Chỉ không dính mới thật tự do tự tại. Vậy hẳn
quí vị biết rõ con đường tu rồi!
Đến con khỉ thứ hai, con khỉ trong nhà Thiền. Một hôm ngài
Ngưỡng Sơn Huệ Tịch đến Thiền sư Trung Ấp, Ngài hỏi:
“Bạch Hòa thượng, thế nào là nghĩa Phật tánh?” Thiền
sư Trung Ấp đáp: “Ta nói thí dụ cho ông nghe, như có con
khỉ trong cái lồng có sáu cửa, bên ngoài có con khỉ kêu
chéo chéo, con khỉ ở trong đáp lại chéo chéo, con khỉ ở
ngoài đến phía nào kêu, con khỉ ở trong cũng hưởng ứng
lại liền.” Ngài nói như thế thôi.
Ngài Ngưỡng Sơn Huệ Tịch đã cảm thông được điều đó,
Ngài liền nói: “Bạch Hòa thượng nếu con khỉ ở trong ngủ
thì sao?”
Ngài Trung Ấp liền từ trên toà bước xuống nắm tay ngài
Huệ Tịch nói: “Chúng ta thấy nhau rồi, chúng ta thấy nhau
rồi!” Hỏi nghĩa Phật tánh mà ngài Trung Ấp lại nói chuyện
con khỉ ở trong và con khỉ ở ngoài. Đây tôi giảng rộng,
con khỉ trong là con khỉ ý thức của chúng ta, con khỉ ngoài
là con khỉ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Bên ngoài
có sắc đẹp, vừa chợt thấy thì bên trong ý thức phân biệt
liền chạy theo, thế nên ngoài kêu thì trong hưởng ứng. Như
vậy sáu cửa, cửa nào ngoại cảnh vừa hiện ra, bên trong
đều hưởng ứng cả. Chúng ta có giống như vậy không? Nghĩa
là tai vừa nghe tiếng nói, liền dấy niệm phân biệt rồi
xét lời nói đó là khen mình hay chê mình. Nếu khen thì vui,
chê thì giận, vậy là vừa có âm thanh ý thức liền duyên
theo phân biệt, rồi giận, buồn, thương, ghét tiếp theo. Ở
mắt, mũi, lưỡi, thân đều như vậy.
Trái lại nếu sáu căn không chạy theo sáu trần thì thế nào?
Tức là trường hợp con khỉ ở trong ngủ, bên ngoài kêu chéo
chéo cũng mặc, ngủ thì không phản ứng, không phản ứng
là nghĩa Phật tánh hiện tiền. Vì nếu sáu căn không chạy
theo sáu trần thì ở mắt có ánh sáng của tánh giác
hiện ra nơi mắt, ở tai có ánh sáng của tánh giác hiện ra
nơi tai, nơi sáu căn đều có ánh sáng trí tuệ giác ngộ hiện
ra. Nếu ý thức vừa dấy khởi chạy theo sáu trần, dính mắc
thì tánh giác ẩn khuất. Thế nên Phật tánh không rời sáu
căn, hiển lộ ngay nơi sáu căn. Như tôi hay thí dụ cái nhà
vào ban đêm, chung quanh đều tối, muốn biết trong nhà có
đèn hay không thì phải làm sao? Phải nhìn qua các cửa, nếu
nơi cửa có ánh sáng phát ra thì biết bên trong có đèn. Như
chùa này ban đêm chúng ta mở một ngọn đèn néon lớn và
mở toang các cửa, người bên ngoài đứng phía trước thì
thấy ánh sáng ra cửa trước, đứng bên hông thì thấy ánh
sáng ra các cửa hông, đứng phía sau thì thấy ánh sáng ra
cửa sau, mỗi cửa đều có ánh sáng phát ra... Cái nhà có
thể là sáu cửa, năm cửa... Ngọn đèn chỉ có một, ánh
sáng phát ra đến năm, sáu. Ánh sáng của cửa cái với ánh
sáng của cửa sau thấy như khác nhưng thật không khác, ánh
sáng cửa hông, cửa sổ với ánh sáng cửa sau cũng không khác.
Tóm lại tất cả ánh sáng đều không có hai.
Cũng thế nơi sáu căn của chúng ta đã sẵn có tánh giác hiển
lộ, nhưng vì có sự nhạy cảm nên vừa gặp cảnh, ý thức
liền chạy ra hưởng ứng nên che khuất tánh giác hiêïn có
của chúng ta, chúng ta chỉ nhớ phân biệt mà không nhớ cái
hằng thấy, hằng nghe. Vậy tu Thiền là gì? Tức là chúng
ta luôn luôn dụ dỗ hay là cột con khỉ ở trong lồng lại
cho nó nằm yên, nó ngủ thì con khỉ ở ngoài chạy đến sáu
cửa kêu gì cũng mặc, con khỉ ở trong vẫn ngủ yên và như
thế mọi việc đều an. Đừng để nó thức, nó chạy thì
khó mà tu được.
Hiện nay quí vị thấy con khỉ của quí vị thức hay ngủ?
- Thức, lại có vẻ rất tỉnh chớ không phải thức kiểu
mơ mơ màng màng, thế nên bên ngoài vừa “chéo chéo” là
nó hưởng ứng liền. Vì thế chúng ta dễ quên tánh giác của
mình và cứ sống mãi với cái loạn động, cái lăng xăng,
đó là nhân của trầm luân. Nếu muốn tu thì không gì hơn
là tất cả quí vị phải coi chừng con khỉ của mình, dụ
nó bằng những lời êm ái khuyên lơn, ru cho nó ngủ, ngủ
được thì tốt, nếu không được thì lấy dây cột nó lại
cho nó khỏi nhảy, khỏi chạy. Không nhảy, không chạy, một
lúc mỏi mệt nó cũng phải ngủ, chớ để nó thức nó lanh
lẹ quá thì nguy hiểm.
Tóm lại chuyện tu hành của chúng ta nói nghe dài dòng mênh
mông, nhưng thật ra không ngoài canh giữ con khỉ của mình,
hay nói cách khác là canh giữ sáu căn của mình đừng để
vọng thức chạy theo phân biệt, nói theo tinh thần kinh A-hàm
là chúng ta được giải thoát, nói theo Thiền là chúng ta có
tánh giác hiển lộ nơi sáu căn. Bên Kinh chỉ nói mình giải
thoát mà không biết cái gì giải thoát, còn bên Thiền nói
mình giải thoát là vì có sẵn cái không sanh không diệt bên
trong, nếu không bị lôi cuốn thì thường hiển lộ.
Vậy giải thoát là chúng ta sống được với cái chân thật
hằng giác hằng tri của chúng ta. Còn vọng thức phân biệt
là không thật nhưng nó nhạy quá, khôn lanh quá nên cả ngày
chúng ta bị nó dẫn dụ, chạy ngược chạy xuôi không ngừng.
Bao nhiêu người tu đều sợ dừng không nổi vọng tưởng,
nay chúng ta biết sự nguy hiểm của nó, mong tất cả quí Phật
tử ý thức dừng nó bằng đủ mọi phương tiện. Dùng một
pháp để dừng nó thì đó là sợi dây trói. Nếu không dùng
một pháp thì mỗi khi nó muốn chạy, muốn nhảy ra tiếp xúc
với cảnh ngoài thì nạt nộ nó một chút, nạt nó im thì
thôi, không cột dây làm chi cho cực, lại phải tốn công mở.
Nếu nạt nó, nó nằm im tức nhiên chúng ta im luôn không cần
nạt thêm nữa. Như vậy quí vị thấy được ý nghĩa tu chưa?
Tu Phật là như vậy.
Hôm nay là ngày đầu Xuân cũng là buổi cuối tôi nói chuyện
với quí vị Phật tử, nên tôi lấy nền tảng, cội gốc
của đạo Phật ra nhắc cho quí vị biết để ứng dụng tu.
Vì trăm ngàn pháp môn tu cũng đều qui về cội gốc đó, không
có pháp nào khác hơn. Nắm vững cội gốc thì tất cả quí
vị sẽ tu tiến và chắc chắn sẽ biết rõ mình còn trầm
luân hay giải thoát, biết rõ không nghi. Đừng đến chỗ này
hỏi, đến chỗ kia cầu, nhất là đừng đi soi căn. Chính
tôi đã bị nhiều người đến thưa: Thầy coi căn con tu được
không? Ai cũng có tánh giác, chỉ chịu khó đừng cho con khỉ
làm lộng thì tánh giác hiện ra, ai cũng có quyền làm việc
đó, thế mà không tự tin, cứ đi hỏi đầu này đầu kia,
mất thì giờ, tốn tiền vô ích. Quí Phật tử phải biết
rõ ý nghĩa tu, nguồn cội tu là như vậy, đừng để bị người
ta gạt. Chúng ta đã bị con khỉ gạt rồi, nó làm rối loạn
tơi bời, lại chạy ra ngoài bị người ta gạt một lớp nữa
thì không còn chỗ nào cứu nổi. Quí vị ráng tỉnh táo sáng
suốt, biết được gốc của việc tu, từ đó về sau quí
vị tự mình cởi, tự mình mở, mở được cái nào là yên
lành được cái đó.
Thí dụ lưỡi của chúng ta từ lâu ăn thịt cá quen nên nghe
ngon, nay đổi lại ăn chay, ăn rau thì nghe lợt lạt, vậy lưỡi
của chúng ta có dính chưa? - Dính vị ngon của cá thịt. Nhưng
tôi hỏi quí vị ăn rau có chết không? - Đâu có chết! Ăn
rau cũng khỏe, cũng mạnh, cũng hồng hào vậy. Chúng ta biết
ăn cá thịt thì lưỡi nghe ngon nhưng rồi cũng chết, nhưng
ăn rau không hại loài vật còn ăn cá thịt là hại chúng nó.
Bữa ăn nào không có thịt gà, thịt vịt v.v... là buồn, vậy
là vì lưỡi mà chúng ta giết hại chúng sanh. Nếu gỡ được
lưỡi tức là ăn cá cũng được, ăn rau cũng được, ăn để
mà sống là quí vị gỡ được một chút, gỡ được một
chút là được tự do một chút. Đến chùa dọn rau thì ăn
rau, về nhà dọn gì ăn nấy không buồn, không bực. Quí vị
hiểu cho thật rõ, gỡ một cái là yên một việc, tự do được
một việc. Gỡ lưỡi tuy khó nhưng dễ hơn gỡ mắt và tai,
hai căn này dính nhiều lắm, nếu gỡ được xem như gỡ được
nửa phần, những căn khác tuy khó mà dễ, như mũi lâu lâu
mới thoảng mùi một chút, lưỡi thì đến bữa ăn mới nếm
nên có chừng mực, chỉ mắt và tai luôn hiện hữu, thấy
việc này việc kia, nghe chuyện này chuyện nọ luôn, nên Phật
dạy phải tu hai căn đó trước. Hiện nay Phật tử chúng ta
đa số tu cái lưỡi nhiều, tập ăn chay... Ăn chay nhưng ai
nói tức cũng giận muốn cãi lại, đó là chưa biết tu lỗ
tai. Đến mắt thấy cái gì đẹp cũng thích, như vậy mắt
cũng chưa tu, chỉ tu cái lưỡi một chút. Tuy nhiên được
chút nào cũng đỡ chút ấy, vẫn hơn không tu. Nhưng điều
hay nhất là phải tiến chớ đừng giậm chân một chỗ, từ
tu được lưỡi rồi lần lần đến mũi, tai, mắt, tu thế
nào mà không dính mắc gì cả, con khỉ của chúng ta nằm ngủ
yên lành ở trong thì khi ấy chúng ta tự do tự tại, không
còn gì sợ sệt.
Như vậy là đường lối tu hành tôi đã nhắc cho quí vị
nghe, hiểu, mong rằng tất cả nhớ để ứng dụng tu. Nói
nhiều nghe rồi quên hết không lợi bằng nói ít mà quí vị
nhớ và tu được. Năm nay là năm con khỉ, quí vị nhớ hai
con khỉ tôi vừa kể, ráng giữ đúng như lời Phật, lời
chư Tổ dạy thì quí vị sẽ an lành tự tại ngay trong đời
này, không cần đến đời sau, đời sau nữa. Con khỉ bên
trong ngủ rồi, con khỉ bên ngoài có làm lộng gì mình cũng
không nhúc nhích, đó là giải thoát tự tại ngay trong đời
này. Đó là lời nhắc nhở cuối của tôi.
Vậy hôm nay nhân quí Phật tử đến chúc mừng ngày đầu
Xuân, tôi nhắc nhở tất cả quí vị ứng dụng tu và tôi
cũng xin ngày nay coi như là tạm biệt quí vị. Quí vị nhớ
lời tôi dạy, y như thế tu là đủ rồi, cũng như tôi có
mặt. Nếu tìm tôi mà không chịu gỡ các căn thì cũng không
lợi gì. Quí vị phải gỡ từ từ để cho mình được tự
do tự tại, đó là biết ứng dụng lời tôi dạy, là đền
ơn tôi rồi. Mong tất cả quí vị cố gắng.