4.
Những chướng nạn của đức Phật (Tất niên Canh Ngọ 1991)
5.
Vẻ đẹp tuyệt trần (Xuân Tân Mùi, Tăng Ni)
6.
Biểu tượng hoa sen (Xuân Tân Mùi, Phật tử)
NHỮNG
CHƯỚNG NẠN CỦA ĐỨC PHẬT
TẤT
NIÊN CANH NGỌ (1991)
Trước khi vào đề tài, tôi nêu lên vài câu chuyện nhỏ để
quí vị thấy rõ sự việc chúng tôi nói hôm nay. Có nhiều
người nói năm nay tuổi tôi xấu nên xảy ra nhiều chuyện
không tốt. Từ lâu tôi nghĩ rằng tuổi không quan trọng mà
chính hành động và tư tưởng mới quan trọng nên tôi không
để ý đến tuổi nhưng nhiều người lại cho đó là đúng
sự thật. Nếu đúng thì chắc mỗi năm chúng ta phải tốn
tiền coi lịch đàng hoàng rồi cúng sao giải hạn. Đó là
điều chúng tôi không chấp nhận.
Cuộc đời mỗi người chúng ta đều có khi thăng khi trầm,
có lúc được hanh thông, có khi gặp những điều bất hạnh,
nhưng đối với tôi, tôi không thấy có gì gọi là bất hạnh.
Ở đời không thể nào chúng ta có một cuộc sống bình
yên mãi mà phải có khi lên, khi xuống, như vậy cuộc đời
mới có giá trị. Như khi đi con đường Đà Lạt, chúng ta
không buồn ngủ là nhờ đi qua đèo, chúng ta thường tỉnh
để nhìn cảnh đẹp. Cảnh đẹp là do có xuống dốc lên
đèo, đời chúng ta có hay đẹp cũng là nhờ khi thế này khi
thế khác, nếu cứ bình bình hoài thì giống như đi đường
bằng phẳng miền Tây, xe chạy một lúc là buồn ngủ. Như
vậy không có gì gọi là bất hạnh hay xui rủi, chẳng qua
đó là nhân duyên trong cuộc đời, trong tương đối phải
như vậy. Lại chính những khi thăng trầm chúng ta càng thấy
rõ mình hơn. Khi thăng chúng ta không tự hào, không ngạo mạn,
khi trầm chúng ta không buồn, không khổ, đó là có tiến trên
đường tu. Trái lại khi thăng thì hãnh diện, khi trầm thì
than thở thì thật là mình chưa ra gì! Thế nên những đổi
thay là những cơ hội để người tu thấy rõ mình hơn, biết
mình đã tiến được bước nào chưa, nếu tiến được, đó
là điều đáng mừng, nếu không, đó là điều đáng xấu
hổ trên đường tu.
Hôm nay là ngày cuối năm, quí vị thấy năm xui của tôi đã
chấm dứt chưa? Thật ra ai nói tôi xui rủi cũng được, nhưng
riêng tôi, tôi thấy mỗi năm đều có những cái hay,
cái dở theo nhau. Thí dụ như năm nay tôi muốn đi ra Bắc để
tìm thêm tư liệu thì lại có phương tiện, đi về được
bình an, người đời cho đó là may. Ở đời không có một
chiều, cần yếu là chúng ta không bi quan khi gặp những bất
hạnh, cũng như không lạc quan khi thấy những việc tốt đến
với mình. Chúng ta phải luôn thấy được mình trước hoàn
cảnh thuận hay nghịch, đó là chúng ta biết tu. Như vậy tôi
đã kiểm điểm sơ lược chuyện cũ của riêng cá nhân tôi
trong năm nay.
Đến đây tôi đề cập đến chuyện xa hơn, đó là chuyện
của đức Phật, tất cả Tăng Ni và Phật tử nghe, rồi lấy
đó làm gương tu học. Nếu chúng ta chỉ một chiều nhìn đức
Phật là một đấng đại hùng, đại lực, đại từ, đại
bi, toàn năng, toàn trí..., đời của Ngài hoàn toàn không có
chuyện gì đáng buồn đáng vui cả, đó là chúng ta lý tưởng
hoá đời sống đức Phật, chớ sự thật không phải như
thế. Chúng ta phải nhìn đức Phật qua những hoàn cảnh thuận
nghịch trong đời sống thực tế để xem Ngài xử sự như
thế nào, rồi từ đó chúng ta thu nhặt những kinh nghiệm,
hun đúc ý chí, và trở thành những con người cứng cỏi thấy
rõ được lẽ thật; nếu không, nhiều khi chúng ta hay than
thân trách phận, nghĩ rằng đức Phật ra đời giáo hóa dễ
quá, còn chúng ta sao gặp đủ mọi điều khó khăn... Vậy
đề tài chúng tôi nói hôm nay là “Những chướng nạn của
đức Phật”.
Đức Phật còn chướng nạn sao? Thế gian thường nói: ‘‘Phật
còn vương tám nạn, huống là người sao khỏi tai ba.” Nghĩa
là Phật bị tám nạn, còn người chỉ ba tai ách thôi. Phật
còn nạn nhiều hơn chúng ta nữa! Hiểu như vậy chúng ta mới
có cái nhìn rõ ràng.
Trước tiên tôi nói những chướng nạn của đức Phật qua
cái nhìn của phàm phu và Nhị thừa để quí vị đừng có
những lầm lẫn khác. Từ trước đến nay đa số người học
Phật nghĩ rằng đức Phật là một đấng tròn đầy tất
cả công đức, nên trên đường hoằng hoá Ngài không vấp
phải chướng ngại. Vậy hôm nay chúng ta đi sâu vào vấn đề
để tìm xem đức Phật gặp những chướng nạn nào trên đường
hoằng hóa của Ngài. Tôi chia ra: trước là chướng nạn bên
ngoài, kế là chướng nạn bên trong.
Nói đến chướng nạn bên ngoài, tôi trích một bài trong kinh
Tứ Thập Nhị Chương. Trên đường giáo hóa, một hôm vào
buổi sáng, đức Phật một mình mang bát đi khất thực trong
thôn. Tại thôn ấy có một người Bà-la-môn, vì đệ tử
của ông đã theo Phật qui y quá đông, nên khi thấy Phâït
ôm bát đi khất thực, ông liền đi theo sau Phật và gọi tên
Phật chửi mãi. Đức Phật vẫn im lặng đi, Phật im lặng
chừng nào ông càng tức chừng nấy. Đến đầu đường ông
chạy đến trước chận Phật lại, ông hỏi: Sa-môn Cù-đàm,
Ngài có điếc không? Đức Phật trả lời: Không.
- Ông
không điếc tại sao ông không nghe tôi chửi?
- Có nghe.
- Nghe sao ông không trả lời?
Đức Phật dùng thí dụ nói: Giả như nhà ông có lễ lớn,
sau buổi lễ thân nhân ra về, ông đem quà tặng, nếu những
người ấy không nhận thì quà đó thuộc về ai?
Người Bà-la-môn đáp: Tôi tặng, người ta không nhận thì
về tôi chớ về ai.
Phật bảo: Cũng thế, ông chửi mà ta không nhận thì lời
chửi đó đâu có dính dáng gì đến ta.
Người Bà-la-môn đành im lặng trở về.
Đó là trường hợp thứ nhất, đức Phật bị người ta chửi
mà vẫn điềm đạm. Khi người ấy tức quá nhịn không nổi,
hỏi Ngài có điếc không mà làm thinh thì Ngài đáp là Ngài
nghe. Nhưng tại sao không cãi? Vì Ngài nghe mà không nhận, cũng
như người đem quà tặng chúng ta, nếu chúng ta không nhận
thì của đó đâu có dính gì với chúng ta và quà đó vẫn
còn nguyên là của họ. Như vậy quí vị có thể lấy bài
kinh này làm bài kinh nhật tụng để tu học. Nếu có người
chửi, quí vị có lặng lẽ đi và khi họ hỏi tại sao không
trả lời thì quí vị nói thế nào? Chúng tôi thấy đây là
một bài kinh mà người tu chúng ta không bao giờ quên được.
Một lần nữa, cũng trên đường giáo hóa, hôm ấy đức Phật
đi khất thực một mình, gặp một người Bà-la-môn khác cũng
theo sau chửi Phật, chửi mãi mà đức Phật vẫn lặng lẽ
đi, không đối đáp gì cả. Ông tức quá, đến đầu đường
ông chận Phật, đức Phật dừng lại, trải tọa cụ ngồi.
Ông hỏi: Sa-môn Cù-đàm thua tôi chưa?
Đức Phật trả lời:
Kẻ
hơn thì thêm oán,
Người
thua ngủ chẳng yên,
Hơn
thua hai đều xả,
Ấy được an ổn ngủ.
Như vậy quí vị thấy, nếu hỏi chúng ta thua chưa thì chúng
ta nói thế nào? Có lẽ sẽ nói: Tôi nhịn đó chớ không phải
tôi thua đâu. Ráng nhịn chớ trong lòng còn tức lắm nghĩa
là có cơ hội sẽ trả thù. Trái lại đức Phật bình tĩnh
trả lời: Kẻ hơn thì thêm oán, nghĩa là nếu mình hơn thì
kẻ bị thua oán mình.
Người thua ngủ chẳng yên: nếu nghĩ rằng mình thua thì tức,
ngủ không được. Quí vị nhớ lại khi nào cãi với ai mà
chịu lép một, hai câu, khi về nhà tối đó ngủ ngon không?
Cứ nhớ phải đáp câu nào cho hay hơn, nặng hơn, nghĩ hết
câu này đến câu khác, so sánh, suy tính... nên rồi mất ngủ.
Hơn thua hai đều xả: bỏ cả hơn, cả thua, cả hai đều bỏ
hết.
Ấy được an ổn ngủ, tức là an ổn ngủ một giấc thật
ngon.
Như vậy sở dĩ chúng ta mất ăn mất ngủ là tại điều gì?
Tại những hơn thua, được mất! Khi được cũng ngủ không
yên, mất cũng ngủ không xong. Hơn người, khi trở về vẫn
còn hằn học nhớ mình nói câu đó hay, hành động đó giỏi,
còn nếu thấy thua thì bực tức ngủ không được. Trái lại
đức Phật gác ra ngoài việc hơn thua nên Ngài an ổn tự tại,
không buồn, không bực. Bài kinh trên trích trong kinh A-hàm.
Như vậy quí vị thấy đã hai lần đức Phật bị Bà-la-môn
chửi, kêu tên chửi chớ không phải nói xa nói gần như chúng
ta hiện nay, thế mà đức Phật vẫn thản nhiên và còn nói
lên những lời đạo lý cho người ta thức tỉnh.
Trên đây là cá nhân chửi, tiếp đến là tập thể chửi.
Sau khi đức Phật thành đạo chưa lâu, có lẽ khoảng bốn
năm năm, khi ấy Ngài còn trẻ, một hôm Ngài đi giáo hóa đến
một vùng có một người Bà-la-môn giàu có lại giỏi về
tướng số và sanh được một cô con gái thật đẹp. Vừa
gặp Phật ông liền xem tướng, thấy gần đủ ba mươi hai
tướng tốt của Phật ông trầm trồ khen, rồi vội vã trở
về báo tin cho vợ biết là có một người tướng thật tốt,
nếu ở thế gian sẽ làm vua Chuyển luân. Vợ chồng ông từ
lâu muốn tìm một người rể xứng đáng, nay gặp người
này, ông thật vừa lòng. Nghe xong bà bảo ông dẫn bà đến
gặp đức Phật. Khi ấy đức Phật khất thực xong, Ngài ngồi
dưới cội cây thọ trai. Hai ông bà đến gặp lúc Phật đang
thọ trai, ông chỉ cho bà thấy những tướng tốt của Ngài,
rồi hai ông bà cùng đồng ý nói thế này: “Ngài Cù-đàm,
chúng tôi có một đứa con gái đẹp lắm, xin gả cho Ngài.”
Nghe đến đó đức Phật liền đáp: “Ông nói con gái của
ông đẹp, nhưng dưới mắt người tu chúng tôi, tất cả người
dù đẹp dù xấu cũng chỉ là một đãy da chứa toàn đồ
hôi hám đâu có giá trị gì.” Khi đó có một đứa thể
nữ đi theo, nghe được lời này, nó về thuật lại cho cô
tiểu thơ nghe, cô rất tức giận, từ trước đến nay chưa
có ai dám khinh chê cô, nay Sa-môn Cù-đàm dám chê cô là một
đãy da hôi thúi, cô thề sẽ trả thù. Sau đó vua nước Kosambi
đi hỏi cô làm vợ, và cô được làm thứ hậu. Một hôm
đức Phật đi giáo hóa đúng vào xứ cô ở. Nghe tin Ngài đến,
đó là cơ hội hiếm có để cô trả thù, cô thuê những người
hung bạo trong vùng đón Phật, dặn khi thấy đức Phật tới
thì cả đoàn nam nữ vây quanh chửi đến khi nào đức Phật
đi chỗ khác mới thôi.
Lần này đức Phật đi có ngài A-nan đi theo. Hai thầy trò
vừa vào xứ đó, bỗng dưng một nhóm người cả nam lẫn
nữ xông ra chửi, đua nhau chửi. Đức Phật vẫn thản nhiên
như không có việc gì, nhưng ngài A-nan thì chịu không nổi
nên mới thưa: Bạch Thế Tôn, thôi chúng ta đi chỗ khác.
Đức Phật hỏi: Đi đâu A-nan?
- Bạch Thế Tôn, chúng ta qua nước Đề-xá.
-Nếu đến nước đó mà dân chúng cũng cư xử giống như
dân ở đây thì ông nghĩ sao?
- Bạch Thế Tôn, chúng ta qua thành Hoa Thị.
- Nếu đến đấy mà dân chúng cũng cư xử như thế này thì
ông nghĩ sao?
- Bạch Thế Tôn, chúng ta đến nơi nào mà người ta không
bạc đãi chúng ta như ở đây, như là về thành Tỳ-xá-ly
hay là thành Vương Xá chẳng hạn.
Đức Phật liền đặt câu hỏi: Tại sao dân chúng thành Vương
Xá, thành Tỳ-xá-ly lại ưu đãi chúng ta?
Ngài A-nan thưa: Bạch Thế Tôn, vì dân chúng ở đó đã từng
nghe Thế Tôn dạy, họ biết rõ chánh pháp và họ có trí tuệ
phân biệt được hành động nào là thiện, hành động nào
là tội lỗi, do đó họ rất chiêm ngưỡng đức Thế Tôn,
thôi chúng ta về đó đi.
Đức Phật liền hỏi: A-nan, giả sử có người thầy thuốc
giỏi bậc nhất có thể đăng bảng trước cổng rằng: ở
đây chỉ trị bệnh cho những người bệnh nhẹ và không bệnh,
còn ai bệnh nặng xin mời đi nơi khác, có như vậy không A-nan?
- Bạch Thế Tôn, không.
- Tại
sao?
- Vì
thầy thuốc hay cần trị cho những người bệnh nặng, nếu
thầy thuốc có lương tâm mà bệnh nặng không trị giùm, chỉ
trị bệnh nhẹ và không bệnh thì thật là vô lý.
- Này
A-nan vì sao dân chúng ở xứ này lại đối đãi tệ bạc với
chúng ta như vậy?
- Bạch Thế Tôn, vì ở đây họ chưa từng nghe Phật thuyết
pháp, họ không biết hành động nào là thiện, hành động
nào là ác, nên họ mới xử tệ với chúng ta.
- A-nan, Như Lai ra đời vì làm lợi ích cho mọi người, vì
cứu khổ chúng sanh, cũng như người thầy thuốc hay là cốt
để trị những người đang đau khổ vì bệnh trầm trọng.
Dân chúng ở đây như những người bệnh nặng, Như Lai cần
phải có mặt để giáo hoá họ, còn dân chúng ở thành Tỳ-xá-ly
hay Vương Xá giống như những người bệnh nhẹ không cần
đến Thế Tôn, chỉ những đệ tử của Thế Tôn cũng đủ
để giáo hóa họ rồi; nơi này nếu Thế Tôn không đích thân
đến thì ai dám đến đây giáo hóa?
Nghe như thế ngài A-nan liền thưa: Bạch Thế Tôn, ở đây
đâu có ai cần nghe Thế Tôn giảng, họ xử sự quá tệ bạc
thì làm sao giáo hóa?
Đức Phật giải thích thêm: Ví như người bệnh nặng, thân
thể và tâm hồn họ bị giày xéo đau khổ nên tư cách và
ngôn ngữ họ không bình thường, vì thế họ có những lời
nói xúc chạm đến thầy thuốc, nếu người thầy thuốc thương
bệnh nhân như con thì phải bỏ qua những điều đó để trị
lành bệnh cho họ. Cũng như thế, dân chúng đây là những
người bệnh nặng nên họ có những thái độ bất thường,
chúng ta nên giáo hóa họ chớ không nên bỏ họ.
Nghe Phật nói đến đó những người côn đồ liền thức
tỉnh, họ đồng thưa: Bạch Thế Tôn, chúng tôi xin lỗi Ngài,
chúng tôi thật là người bệnh nặng, mong Ngài ở lại đây
giáo hóa chúng tôi.
Đức Phật và ngài A-nan ở lại, chỉ hơn một tuần lễ họ
đã qui y rất đông, không kém thành Tỳ-xá-ly hay Vương Xá
bao nhiêu.
Như vậy quí vị thấy đức Phật có bị chửi không? Một
hay nhiều người chửi? Khi bị chửi đức Phật có buồn giận
không? Đó là những hành động chúng ta phải nhớ mãi, phải
lấy làm kim chỉ nam trên đường tu, chớ nếu vừa nghe một
lời chửi mắng đã nổi cáu lên, bỏ đi thì chắc trên đường
tu, trên đường giáo hóa chúng ta không làm được gì cả.
Đó là ba trường hợp Phật bị chửi. Hai trường hợp trước
là chửi đơn lẻ, còn trường hợp thứ ba là cả tập thể
chửi.
Tiếp đến là những chuyện vu cáo. Khi đức Phật ở tại
Tinh xá thuyết pháp, một hôm giữa hội chúng đông đảo Tăng
Ni và cư sĩ, bỗng một cô gái dòng Bà-la-môn tên Chiên-giá-ma-nạp,
có lẽ do những người Bà-la-môn ghét đức Phật xúi giục,
cô độn bụng to lên rồi giữa đám đông cô đứng lên vỗ
bụng nói: “Tôi đến đây nghe pháp, ngài Cù-đàm phạm tội
tư thông với tôi nên hiện tôi đang mang thai.” Tiếp đó
cô vỗ bụng và chửi mắng ầm ĩ. Quí vị nghĩ việc này
thật quá sức tưởng tượng phải không? Vu cáo giữa đại
chúng Tăng Ni Phật tử thì còn mặt mũi nào ngó ai. Thế mà
đức Phật vẫn bình tĩnh, không nói một lời. Cô gái vỗ
bụng trong giây lát chợt dây đứt, những gì cô độn trong
bụng rơi xuống hết, ngay đó mọi người đều thấy rõ lời
vu cáo của cô. Việc này thật quá sức tưởng tượng của
chúng ta, trên đường hoằng pháp hiện nay, chưa có ai gặp
trường hợp như vậy.
Song cũng chưa đặc biệt bằng trường hợp sau đây.
Khi đức Phật về Tinh xá Trúc Lâm, tất cả vua quan và dân
chúng đều tới để nghe Ngài giảng dạy mỗi ngày, do đó
có một số người Bà-la-môn theo qui y với đức Phật, vì
thế có một người Bà-la-môn tên là Tôn-đà-lợi rất tức
giận, muốn hại Phật. Ông cho con gái ông, cô gái cũng đẹp,
đi nghe giảng, được vài lần rồi ông giết con gái, giữa
đêm lén đem vào đất tinh xá Trúc Lâm, đào lỗ chôn. Đến
sáng ông đi thưa quan là con gái ông đi nghe giảng pháp ở
tinh xá Trúc Lâm, nay bỗng dưng mất tích không thấy về. Quan
quân mới đi tìm, ông cũng đi theo. Ông dẫn họ đi khắp tinh
xá, đến một chỗ có dấu đất mới lấp ông bảo họ đào
lên thì thấy thây của con ông bị giết chôn tại đó. Ông
liền lớn tiếng buộc đức Phật phạm hai tội: dâm và sát,
tức là tư thông với con gái ông rồi giết để phi tang.
Quí vị thấy câu chuyện không phải là thường, giết con
rồi lại tố cáo Phật phạm tội. Trong trường hợp này không
có gì minh chứng được nên đức Phật chỉ lặng thinh. Tinh
xá Trúc Lâm thuộc nước Ma-kiệt-đà, vua nước Ma-kiệt-đà
rất mến Phật nên ông cho người điều tra thật kỹ, kết
quả mới biết chính ông Bà-la-môn giết con ông và đem chôn
trong tinh xá, từ đó mới minh oan cho đức Phật. Vậy quí
vị thấy Ngài bị tai nạn nhiều hay ít? Những chuyện xảy
ra thật quá sức tưởng tượng của chúng ta, thế mà Ngài
vẫn an nhiên, không tranh cãi, không sợ sệt. Trên đây chỉ
là những chướng nạn bên ngoài.
Tôi kể tiếp những chướng nạn bên trong, tức là nội bộ.
Tất cả quí vị đều biết Đề-bà-đạt-đa là em chú bác
của Phật, Đề-bà-đạt-đa là con nhà chú, Phật là con nhà
bác. Đề-bà-đạt-đa xuất gia và tu chứng được ngũ thông
chớ không phải là thường. Khi chứng được ngũ thông rồi,
ông mới dùng thần thông cảm hóa Thái tử A-xà-thế. Ông
có mộng làm giáo chủ nhưng còn đức Phật là ông không làm
giáo chủ được nên muốn hại đức Phật. Ông mới xui Thái
tử A-xà-thế cướp ngôi vua cha rồi thả voi say giết Phật,
nhưng không được. Cuối cùng một hôm đức Phật đi ngang
chân núi, ông ở trên núi xô đá lăn xuống, đức Phật bị
dập một ngón chân nên ông phạm tội “xúc Phật thân huyết”.
Lại thêm những chuyện như ông rủ chư Tăng bỏ đoàn đi
theo ông v.v... nghĩa là ông tạo sự rối loạn, trong chúng
lúc đó không còn yên ổn được, sau cùng phải nhờ hai ngài
Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đi giải thích cho chúng, họ
mới trở về với Phật. Quí vị thấy thật là đáng buồn,
một người vừa là em chú bác, đó là chỗ tình thân, vừa
là tu hành chứng được ngũ thông, không phải tu “lơ mơ”
như chúng ta hiện nay, vậy mà muốn hại Phật và phá hòa
hợp Tăng, làm điên đảo cả chúng.
Đến người thứ hai là Tỳ-kheo Thiện Tinh, con Phật (con của
một vị thứ phi, không phải con bà Da-du-đà-la) cũng theo Phật
xuất gia. Vị này rất thông minh, thuộc làu mười hai bộ
Kinh, tu chứng được Tứ thiền, nhưng ông lại chê đức Phật,
chê giáo lý của Phật không hay, không đến cứu kính, ông
bác cả nhân quả, cả Niết-bàn. Nhiều lần đức Phật khuyên,
ông vẫn đinh ninh như vậy. Quí vị thấy đáng buồn không?
Con trong nhà đồng thời tu khá, thuộc kinh cũng nhiều, lại
làm chướng ngại Phật.
Đến người thứ ba là Tỳ-kheo Thiện Túc, theo Phật xuất
gia một thời gian, một hôm ông đến Phạm Chí Dà-bà nói
lỗi đức Phật. Ông nói: Đại sư, tôi không theo ngài Cù-đàm
nữa, vì Ngài không nói cho tôi nghe những điều tôi cần nghe
và Ngài cũng không hiện thần thông cho tôi thấy, vì thế
tôi xin theo Đại sư. Ông lại kể tám lỗi của Phật cho ngoại
đạo nghe. Nghe xong, đến một hôm gặp đức Phật, ông ngoại
đạo mới thuật lại cho đức Phật. Như vậy quí vị thấy
đệ tử Phật yêu cầu Phật phải hiện thần thông cho thấy,
Phật không hiện thần thông liền chê Phật và bỏ đi theo
ngoại đạo. Câu chuyện này xuất xứ từ kinh Trường A-hàm.
Thêm một người nữa là Tỳ-kheo Man Đồng Tử, ông xuất
gia theo Phật một thời gian rồi yêu cầu Phật phải khẳng
định thế giới này là thường hay vô thường, sau khi nhập
Niết-bàn rồi còn hay hết v.v... Phật phải giải thích điều
đó rõ ràng cho ông nghe, ông mới tu theo Phật, nếu Phật không
giải thích ông sẽ hoàn tục. Đức Phật mới quở ông là
ngu si và đức Phật dùng thí dụ mũi tên bắn vào người
(kinh Tiễn Dụ), đó là trường hợp thứ tư.
Đến trường hợp thứ năm là hai nhóm Tỳ-kheo ở nước Câu-xá-di
tranh đấu nhau, khi đó Phật dùng bài kệ khuyên:
Nếu dùng tranh dứt tranh,
Rốt cùng không thấy dứt,
Chỉ nhẫn hay dứt tranh,
Pháp ấy đáng tôn quí.
Phật dạy: Nếu dùng tranh đấu để dứt tranh đấu, rốt
cuộc không thể dứt được, chỉ nhẫn nhục mới hay dứt
được tranh đấu, pháp đó là pháp tôn quí nhất. Quí vị
nghĩ các thầy Tỳ-kheo sẽ nói thế nào? Các Tỳ-kheo thưa:
“Thế Tôn là Pháp chủ, nay xin dừng, kia nói con, con đâu
thể không nói lại”, nghĩa là Ngài đừng có can thiệp, đừng
có khuyên nữa, họ chửi con thì con chửi lại. Quí vị thấy
Phật đầy đủ phước đức như vậy mà đệ tử của Ngài
có nghe Ngài trăm phần trăm không hay là họ cãi nhau, Ngài
khuyên cũng không được? Thế nên đức Phật bỏ đi vô rừng.
Đó là tôi kể chưa hết, tôi chỉ trích một số câu chuyện
cho quí vị nghe. Đến kết luận đức Phật nói bốn câu kệ
cho biết trong đời của Ngài, Ngài đã chịu những gì:
Ta như voi giữa trận,
Hứng chịu cung tên rơi,
Chịu mọi sự phỉ báng,
Ác giới rất nhiều người.
(Pháp cú 320)
Ngài nói Ngài giống như con voi to ở giữa trận, bên này bên
kia tên bắn rớt trúng, rồi mâu giáo đâm trúng, chịu đựng
đủ tất cả sự phỉ báng, tại sao? Vì người thế gian ác
giới nhiều quá! Bốn câu kệ nói lên cái thảm của Ngài
là chịu đựng đủ mọi chuyện.
Như vậy quí vị thấy cuộc đời của Ngài không nhàn hạ
như chúng ta tưởng, Ngài cũng chịu đắng cay trăm bề. Đó
là tôi dẫn cái nhìn đức Phật với con mắt phàm phu và Nhị
thừa. Con mắt phàm phu và Nhị thừa thấy Phật cũng khổ
và thấy xót xa cho Phật.
Đến
cái nhìn với con mắt Phật thừa (Phật thừa chớ không nói
Đại thừa) thì lại khác hẳn. Những cái gọi là tai nạn
đó có đúng là tai nạn không? Đầu tiên tôi dẫn kinh
Pháp Hoa, trong phẩm Đề-bà-đạt-đa đức Phật kể rằng:
Đề-bà-đạt-đa không những một đời này mà nhiều đời
trước Phật ở nơi nào hành hạnh Bồ-tát ông cũng đều
tới phá Phật. Phật bảo: Nhờ Đề-bà-đạt-đa mà ta chóng
thành Phật, rồi Ngài thọ ký Đề-bà-đạt-đa sau sẽ thành
Phật.
Tôi đặt nghi vấn cho quí vị thấy. Thông thường chúng ta
nghe nói ai ngăn trở phá hại người tu hành, nhất là tu hạnh
Bồ-tát làm lợi ích chúng sanh, thì phải đọa địa ngục.
Đề-bà-đạt-đa mỗi lần phá hại Bồ-tát thì
phải rơi vào địa ngục, trả hết tội ở địa ngục khi
trở lên còn dư báo phải làm súc sanh rồi đến làm người
si ám ngọng liệu. Vậy tại sao mỗi khi Phật ra đời đều
có ông theo sau phá Phật? Vậy là ông thoát khỏi địa ngục
sao? Nếu Đề-bà-đạt-đa không phải là một vị đại
Bồ-tát thì ông rơi xuống địa ngục mất rồi, đâu có thể
theo Phật hoài, đâu có thể Phật đến đâu ông đến đấy
được. Mỗi lần hại Phật, hại Bồ-tát là một lần phải
đọa địa ngục trăm ngàn kiếp thì làm sao có mặt mà phá
hoài? Hơn nữa lần nào ông cũng có oai quyền chớ không phải
là người thường. Như vậy để biết rằng với cái nhìn
của kinh Pháp Hoa, Đề-bà-đạt-đa là một vị đại Bồ-tát
ứng dụng nghịch hạnh để giúp Bồ-tát chóng thành Phật.
Thế nên nhìn với con mắt Phật thừa thì thấy hạnh phúc
quá! Chúng ta tu mà ai chửi chúng ta nhiều, đó là đại Bồ-tát
làm nghịch hạnh để giúp chúng ta mau đạt đạo, dù phải
xuống địa ngục. Đại Bồ-tát thì đúng ra chúng ta phải
lễ bái chớ đừng nói mang ơn thôi. Như vậy với cái nhìn
đó chúng ta thấy rằng người làm trở ngại đường tu của
chúng ta không phải là kẻ tầm thường. Chúng ta tu là làm
lành, giáo hoá người làm lành, đó là điều tốt, thế gian
đều thừa nhận như vậy. Nhưng có người lại hại chúng
ta, chửi mắng chúng ta, vậy họ không biết tốt xấu sao?
Họ làm như vậy mục đích để làm gì? Dĩ nhiên là để
thử xem đạo lực chúng ta ra sao? Nếu đạo lực chúng ta còn
yếu thì phải ráng tu để mau tiến, nếu đạo lực mạnh
thì vượt qua, tức là cũng mau tiến, như vậy là cơ hội
để thử thách cho chúng ta vươn lên, giúp chúng ta tiến lên.
Đó đúng là Thiện hữu tri thức. Nếu người làm nghịch
hạnh, chửi mắng chúng ta trên phương diện tu hành, nghĩa
là người làm khổ chúng ta đã là Thiện tri thức thì người
giúp chúng ta có phải là Thiện tri thức không? Đương nhiên
là Thiện tri thức. Chúng ta nhìn kẻ chửi mắng là Thiện
tri thức, kẻ giúp đỡ cũng là Thiện tri thức, vậy mới
là tâm bình đẳng đối với người phá và người giúp. Tâm
bình đẳng mới gọi là Đại từ bi, đó là tâm Bồ-tát.
Muốn đạt Phật thừa thì phải có Bồ-tát tâm. Vì thế tất
cả chúng ta tu theo Phật thì phải hiểu rõ ý nghĩa này, có
như thế trên đường tu chúng ta mới thấy không có gì là
chướng nạn, tất cả đều là duyên hoặc thuận hoặc nghịch
giúp chúng ta mau đạt đạo thôi. Vậy thì đừng giận người
này, trách người kia, hờn người nọ. Bồ-tát không thấy
có người thù địch, nếu thấy có thù địch thì không phải
là Bồ-tát vì tâm chưa bình đẳng, còn có ân có oán, chưa
bình đẳng là chưa phải đại từ bi. Bình đẳng mới gọi
là từ bi, tình thương trùm khắp không có thân sơ. Thế nên
tinh thần Phật thừa cho thấy người nào giúp chúng ta tu tiến
thì người đó là Thiện tri thức của ta. Thiện tri thức
có khi thuận hạnh, có khi nghịch hạnh, nhưng dầu thuận,
dầu nghịch cũng đều là Thiện tri thức, vậy có ai mà chúng
ta chán ghét đâu? Hiểu như vậy quí vị mới thấy việc tu
hành của chúng ta rộng rãi thênh thang vô cùng tận.
Đến cái nhìn của Thiền tông, trong bài Chứng Đạo Ca ngài
Huyền Giác đã nói :
Tùng tha báng, nhậm tha phi,
Bả hỏa thiêu thiên đồ tự bì,
Ngã văn kháp tợ ẩm cam lộ,
Tiêu dung đốn nhập bất tư nghì.
Hẳn ai cũng thuộc làu bài này, nhưng không biết mấy người
hành được? Chỉ thuộc lời nói chớ chưa thuộc ở công
hạnh. Tôi giải thích: “Tùng tha báng, nhậm tha phi” tức
là mặc người chê, mặc người chửi mắng. Tại sao mặc
cho người chê bai, chửi mắng? Vì “Bả hỏa thiêu thiên đồ
tự bì”, sự chê bai mắng chửi của họ giống như là cầm
cây đuốc đốt thiêu bầu trời. Cầm đuốc thiêu trời thì
chừng nào trời cháy? Nếu chúng ta cầm lâu thì thế nào?
Tay chúng ta bị cháy chớ trời không bao giờ cháy. Câu này
thâm sâu làm sao! Chúng ta có cái bệnh là bị ai mắng ai chửi,
chúng ta liền vồ lấy lời mắng chửi đó để ăn thua. Thế
thì chẳng khác nào người ta vừa cầm đuốc quơ, chúng ta
liền đưa rơm lại cho cháy bừng rồi la lên. Trái lại đức
Phật hay Bồ-tát mặc người chửi, mặc người mắng, tâm
vẫn thản nhiên như bầu hư không không động. Không động
thì lời chửi mắng rốt lại về ai? Chỉ bao nhiêu đó cũng
thấy việc tu hành của chúng ta cao hay thấp. Nhiều khi học
đạo thuộc làu, nói thao thao nhưng gặp việc thì sân si vẫn
còn đầy trong lòng, đó là bệnh. Người thật tu phải theo
gương đức Phật, ai chửi cũng mặc, cứ chậm rãi đi, đến
cuối cùng khi họ hỏi thì trả lời một câu nhẹ nhàng mà
đạo lý, như vậy mới là thật tu. Nếu tất cả quí vị
Tăng Ni và Phật tử ở đây đều thuộc lòng và ứng dụng
được hai câu này thì chắc Thiền viện tiến bộ vô cùng
và quí vị đều là Bồ-tát con. Dễ quá chỉ có hai câu thôi
mà ứng dụng được là Bồ-tát con. Mặc ai khen, mặc ai chê,
tâm chúng ta không động thì giống như họ cầm lửa đốt
trời; trái lại tâm chúng ta động thì giống như họ cầm
lửa đốt, chúng ta cầm bổi tới mồi nên chỉ một lúc là
hai người mặt đỏ hết. Ở thế gian đều như vậy cả thành
ra bên nào cũng khổ, bên kia cầm lửa đốt trước rồi chúng
ta cầm bổi tới mồi thì hai bên đều cháy tiêu. Như vậy
mới thấy đạo lý là dạy chúng ta làm sao cho bản thân mình
không khổ và cũng cứu khổ cho người. Người ta nóng cầm
lửa đốt, chúng ta phải nguội để cho nó không cháy. Đốt
không cháy họ buồn họ bỏ luôn, chúng ta cũng không khổ.
Trái lại người mới cầm đuốc đốt, chúng ta đem bổi lại
liền, rồi hai bên cùng cháy, cháy lan khắp cả, chính vì thế
mà khổ, thiền viện này phiền não, thiền viện kia cũng phiền
não, am cốc này phiền não, am cốc kia cũng phiền não, đó
là vì mồi lửa với nhau chớ không chịu dập tắt. Tôi thấy
chỉ cần nhớ hiểu được ý nghĩa này thì đường tu của
chúng ta tiến bộ biết bao nhiêu.
Đến hai câu sau thì thật là tuyệt vời:
“Ngã văn kháp tợ ẩm cam lộ,
Tiêu dung đốn nhập bất tư nghì.”
Nghĩa là tôi nghe giống như uống nước cam lồ, tiêu dung vào
chỗ không thể nghĩ bàn. Nghe chửi mà như uống nước cam
lồ ngon ngọt, quí vị có thể được như vậy không? Tôi
chỉ yêu cầu quí vị thuộc lòng hai câu trên, đừng đem bổi
tới mồi là được rồi chớ như uống nước cam lồ là quá
cao. Uống nước cam lồ vừa mát mẻ lại vừa ngọt ngào,
nghe chửi mà mát mẻ ngọt ngào thật là Bồ-tát mới được,
chớ chúng ta chưa được. Vì thế tất cả chúng ta khả dĩ
ứng dụng hai câu trên được, còn hai câu dưới phải chờ
một, hai kiếp sau mới có thể ứng dụng nổi. Vì xem như
uống nước cam lồ nên mới tiêu dung vào chỗ không thể nghĩ
bàn.
Như vậy theo cái nhìn của những bộ Kinh thuộc Phật thừa
hay cái nhìn của Thiền tông, cũng gọi là Tối thượng thừa
thì đều thấy những khó khăn trở ngại là những điều
tốt giúp chúng ta tiến lên. Ngài Huyền Giác còn nói thêm:
Quán ác ngôn thị công đức,
Thử tắc thành ngô thiện tri thức,
Bất nhân xan báng khởi oan thân,
Hà biểu vô sanh từ nhẫn lực.
Nghĩa là chúng ta phải xem lời nói ác của người là công
đức cho chúng ta. Người ta chê chúng ta, chửi chúng ta đó
là chúng ta tăng trưởng công đức chớ không có mất. Quí
vị xét xem có phải không? Vì nếu bị người chửi mà chúng
ta vẫn an nhiên không động thì người chung quanh sẽ đánh
giá chúng ta như thế nào? À, cô ấy tu thật, cô ấy tu hay,
như vậy là công đức rồi. Trái lại nghe người mắng một
câu, chúng ta tìm một câu khác nặng hơn đáp lại thì đó
là công đức hay là gì? Đó là quán ác ngôn thị tội lỗi!
Nghe lời nói ác mà chúng ta an nhiên không hờn không oán, đó
mới là công đức. Vậy ai nói lời dữ với chúng ta tức
là đem công đức đến cho chúng ta, phải không? Thấy là phải
thì cố gắng thực hành. Nếu xét lời nói ác là công đức
thì người nói những lời ác ắt là Thiện tri thức. Như
đoạn trước tôi nói: Chê bai hay giúp đỡ đều làm cho chúng
ta tiến, vậy đều là Thiện tri thức, không có người xấu
người dở, trong xã hội này ai cũng giúp cho chúng ta tiến
cả.
Ngài giải thích tiếp: “Bất nhân xan báng khởi oan thân”
nghĩa là đừng do chê bai mà khởi tâm đây là kẻ oán, kia
là người thân. Còn thấy có oán có thân thì “Hà biểu vô
sanh từ nhẫn lực” nghĩa là còn thấy có kẻ oán, người
thân thì đâu đủ tiêu biểu sức từ bi nhẫn nhục của chính
mình.
Như thế người tu, nếu ai chửi một câu đáp lại một câu,
đó là hay hay dở? Được người khen hay chê? Trái lại nếu
người chửi mà chúng ta im lặng không giận không hờn thì
người ta khen hay chê? Dĩ nhiên người ta sẽ khen: Cô ấy tu
thật, thầy ấy tu thật. Chúng ta muốn tu thật chớ không
ai muốn tu dối. Vậy chúng ta phải làm sao? Nên an nhiên đừng
giận, đừng nóng, như thế mới là thật tu và mới tăng trưởng
công đức. Quí vị kiểm lại xem trong lúc làm Phật sự, tất
cả chúng ta có gặp những điều như đức Phật gặp chưa?
Hình như chưa. Hiện giờ người ta tốt với chúng ta quá,
nếu có nói gì cũng nói bóng nói cạnh chút chút thôi, chớ
chưa có ai chửi thẳng vào mặt. Trong chúng đây quí vị thấy
có huynh nào gọi tên mình chửi không? Chưa có, chỉ nói cạnh
chút chút thôi mà đã có lần muốn xăn tay áo rồi, như vậy
sức từ nhẫn đến mức nào? Hẳn là bằng Trương Phi!
Tóm lại tất cả chúng ta là người tu, dầu là xuất gia hay
tại gia, đều muốn tăng trưởng công đức, tiêu diệt tội
lỗi; chính tội lỗi là cái chướng đưa chúng ta xuống ba
đường ác, còn công đức là duyên tốt đưa chúng ta đến
giải thoát. Hai việc quá rõ ràng, một đưa lên, một kéo
xuống. Có người nào tu mà nói “tôi cầu xuống địa ngục”
không? - Không, nhất định là giải thoát. Vậy điều nào
kéo chúng ta xuống, nhất định là phải dừng, như thế mới
thật là người cầu giải thoát. Thường mỗi khi đắp y,
nhất là y Tỳ-kheo, quí vị đọc bài kệ “Thiện tai giải
thoát phục”: lành thay chiếc áo giải thoát. Đắp y là mặc
áo giải thoát, giải thoát tức là đi lên. Thế nhưng ai động
đến là nổi sân đó là đã phản bội với bản nguyện từ
buổi đầu.
Thế nên hôm nay nhân ngày cuối năm, tôi kiểm điểm lại
những điều dở mà chúng ta còn vướng để tất cả mọi
người đều cố gắng tinh tấn tu hành, làm sao mỗi năm qua
là một năm chúng ta vươn lên, chớ không thể qua một năm
chúng ta vẫn đứng y chỗ cũ, hoặc là lùi lại thì thật
đáng trách. Người tu là người đã nguyện bỏ hết cuộc
đời thế tục, cầu đạo giải thoát, mỗi năm qua là mỗi
năm bị thời gian giũa mòn mạng sống, mạng sống đã mòn
mà hạnh nghiệp không tăng những điều hay, lại chứa thêm
những điều dở, như vậy đời tu sẽ đi lùi chớ không tiến
được. Vậy tất cả chúng ta là đệ tử Phật thì phải
học gương của Phật. Tôi chỉ cần quí vị học đến mức
bị người chửi mà vẫn điềm đạm trả lời như đức Phật,
đó cũng là quá hay rồi, chớ không đề cập đến tập thể
hoặc đủ các việc vu oan giá họa.
Tôi nhắc lại, gương đức Phật rõ ràng đó, nếu tất cả
chúng ta quyết chí tu hành thì chúng ta phải nhớ để vươn
lên, noi theo con đường của Ngài chớ đừng lùi lại đi lối
khác. Đó là điều tôi thấy cần phải nhắc nhở, không phải
chỉ riêng cho quí vị mà cũng chính là nhắc cho tôi, trên
đường tu lúc nào chúng ta cũng phải vươn lên chớ không
dừng lại ở một chặng nào.
Riêng tôi lâu lâu kiểm lại, thấy thiên hạ sân nhiều quá
tôi cũng giật mình. Người này mới nổi đốm lửa nhỏ xíu
thôi chưa phải là cây đuốc mà người khác đã vội đem
bổi tới mồi liền nên lửa phiền não cháy rực hoài. Như
vậy con đường tu là lý tưởng chúng ta đã chọn để tiến,
sao chúng ta lại phản bội nó, không giữ đúng như lời hứa
ban đầu: Nguyện tiến trên con đường giải thoát không lui.
Nhất là mỗi đêm quí vị tụng bài phát nguyện, Cây Kiếm
Bát-nhã tay không rời, nhưng quí vị có rời lúc nào chưa?
Trong một năm nay quí vị rời mấy lần? Hay là đến giờ
lên chùa mới cầm kiếm, khi ra khỏi chùa thì ném cây kiếm
đâu mất, đến khi gặp phiền não bị nó trói, không cắt
đứt được, đó là tại rời cây kiếm, không giắt nó sẵn
nơi lưng, nên quí vị thua trận mãi!
Thế nên trên đường tu không gì hơn là chúng ta hằng nhớ
bản nguyện ban đầu và ý chí khi chúng ta xuất gia. Chúng
ta quyết tu thì phải quyết sửa những điều dở xấu mà
Phật đã chê trách và phải hành những điều hay mà Phật
đã hành, như vậy mới xứng đáng là đệ tử Phật, đệ
tử xuất gia hoặc tại gia. Nếu không thì Phật dạy một
đàng, chúng ta làm một ngả, kết cuộc Phật đi một đường,
chúng ta đi một nẻo. Nếu đường Phật đi là đường giải
thoát thì đường chúng ta đi là đường trầm luân. Như vậy
chúng ta tự làm khổ mình và cũng không lợi ích gì cho ai
hết.
Hôm nay nhân ngày cuối năm tôi dẫn những câu chuyện của
đức Phật để tất cả quí vị biết rõ, rồi tất cả chúng
ta cùng noi gương Ngài mà tiến tu để mai kia quí vị sẽ nối
bước theo đức Phật, không sai một bước nào, như thế mới
thật là xứng đáng.
VẺ ĐẸP TUYỆT TRẦN
XUÂN
TÂN MÙI (1991)
(Tăng
Ni)
Hôm
nay nhân ngày Tết Nguyên Đán năm Tân Mùi (1991), Tăng Ni và
Phật tử về đây chúc mừng năm mới và yêu cầu chúng tôi
có những lời nhắc nhở đầu năm, để tất cả quí vị
nhớ cố gắng tu tiến trên đường giác ngộ, nên tôi sẽ
có ít lời với quí vị. Hôm nay chúng tôi nói đề tài lạ
một chút, nghe dường như phàm tục nhưng thật không phải
trần tục, đó là “VẺ ĐẸP TUYỆT TRẦN”.
Mở đầu tôi dẫn lời cổ đức đã nói:
Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ,
Liễu ám hoa minh biệt nhất thôn.
Nghe hai câu trên quí vị cảm thấy thế nào? Tôi tạm dịch
:
Núi cùng sông hết nghi không lối,
Liễu biếc hoa tươi riêng một thôn.
Người xưa từ đức Phật đến chư Tổ, đều nhìn thấy
cuộc sống của con người trên trần gian này, hay nói gọn
là kiếp người, ai ai cũng như nhau. Có mặt trên đời rồi
chờ ngày chết, trăm người như một không có lối nào khác;
dù sang trọng quyền quí hay nghèo hèn cực khổ, cũng
chỉ lăn lộn trong cuộc đời mấy mươi năm rồi cùng đi
theo con đường chung là trở về cõi tử, vì thế nói:
“Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ”, nghĩa là khi đi trên đường
núi đến chỗ cùng rồi, nguồn sông đến chỗ nghẽn rồi,
người ta nghi ngờ là hết lối đi, tất cả người đều
thấy như vậy và đều phải chấp nhận như vậy. Nhưng nếu
ai có phúc duyên, biết tu, biết tìm một lối thoát thì sẽ
đến:
“Liễu ám hoa minh biệt nhất thôn”, tức là liễu biếc
hoa tươi riêng một thôn. Khi đến chỗ cùng đó không phải
là hết, nếu người biết tẽ một lối khác thì sẽ thấy
ở bên kia còn một thôn đầy liễu biếc hoa tươi đẹp đẽ,
thôn đó không giống con đường cùng, con đường tuyệt vọng
của người đời, mà là một lối tẽ đặc biệt tràn đầy
những cái tươi đẹp sáng sủa không ai ngờ, không ai biết.
Như vậy người đời ai cũng nghĩ mình sanh ra, lớn lên có
gia đình, con cái, lo cho con cái lớn khôn rồi sửa soạn chết.
Trăm người như một đều đến chỗ không còn lối thoát,
nhưng rồi quen đi nên ai cũng thấy lẽ đương nhiên là
như vậy, phải chấp nhận chớ không có cách nào khác. Nhưng
phúc duyên thay những người con Phật! Đức Phật đã vạch
cho chúng ta một lối thoát, lối thoát đó Ngài đã đi qua
nên Ngài chỉ cho chúng ta cùng tiến. Vì thế ngày nay, người
xuất gia hoặc tại gia được duyên lành theo Phật, khi đến
chỗ sơn cùng thủy tận lại có một lối tẽ khác đẹp đẽ
vô cùng. Lối tẽ đó là VẺ ĐẸP TUYỆT TRẦN, không còn
dính một mảy bụi chớ không phải tuyệt trần theo nghĩa
thế gian thường hiểu.
Như thế quí vị mới thấy người đời thật đáng thương!
Khi sanh ra người ta cứ nghĩ lo cho hết bổn phận rồi chết,
chấp nhận con đường cùng ấy. Đáng thương hơn nữa là
khi sắp chết cũng không biết số phận mình sẽ ra sao, chết
rồi đi đâu? Đường trước mờ mờ mịt mịt, vì thế Tổ
Qui Sơn có câu: ‘‘Tiền lộ mang mang vị tri hà vãng”, tức
là đường trước mờ mờ không biết về đâu! Như thế niềm
đau khổ thứ nhất là đi đến chỗ cùng, chỗ chết mà không
biết làm sao thoát. Niềm đau khổ thứ hai là khi chết thân
phận mình sẽ ra sao, mờ mịt không biết đâu mà lường trước.
Vì không biết nên khi sống mải lo cho cái sống, đến lúc
ngã ra chết đành phó thác cho số phận, số phận đó là
sẽ đi theo nghiệp. Vì không biết nên nghe đến cái chết
người ta kinh hoàng sợ hãi. Nếu chúng ta biết đạo rồi
thì đường trước có mờ mờ hay không? Dĩ nhiên là không.
Tại sao? Nếu chưa ra khỏi sanh tử, chúng ta đã biết chọn
một lối đi trên con đường lành, nên khi mất thân này chúng
ta tiến trên con đường lành, cõi người cõi trời. Như vậy
đối với người tu, dù chưa tiến đến chỗ giải thoát trọn
vẹn, ít ra cũng đã chọn được con đường đi, nên khi sắp
nhắm mắt chúng ta yên lòng, biết rằng con đường trước
sáng sủa hơn hiện tại, sẽ đẹp đẽ vô cùng.
Tóm lại tất cả chúng ta là người biết đạo, biết tu,
thì trên đường đời chúng ta không phải là người tuyệt
cùng bặt lối, trái lại chúng ta có một lối rẽ, một lối
thoát rất đẹp đẽ mà đức Phật đã chỉ dạy cho chúng
ta. Lối thoát đẹp đẽ đó đưa chúng ta đến chỗ an lành
muôn thuở, chớ không phải chỉ là cái đẹp đẽ trong một
thời gian ngắn ngủi tạm bợ rồi tan hoại. Thế nên cái
đẹp mà tôi kể ở đây là “vẻ đẹp tuyệt trần”, chữ
tuyệt trần theo nghĩa thông thường là đẹp hơn tất cả,
nhưng ở đây chúng tôi dùng chữ tuyệt trần là dứt sạch
không còn một mảy trần. Lòng trần đã sạch thì cái đẹp
đó mới là tuyệt trần. Nói như thế để tất cả quí vị
ý thức rằng chúng ta được duyên lành đi trên đường tu
giải thoát là chúng ta đã có một lối đi đẹp đẽ, sáng
sủa, vui tươi tràn đầy hạnh phúc ở ngày mai chớ không
phải chúng ta đi trên đường cùng, đi trong lối nghẽn và
cũng để mừng rằng đời chúng ta không phải đen tối, không
phải mù mịt như bao nhiêu chúng sanh khác.
Tiếp đến tôi dẫn những bài quí vị đã học để quí vị
nhớ lại kỹ con đường mình đi qua. Đầu tiên là tôi dẫn
một ít bài trong mười mục chăn trâu để tất cả quí vị
thấy con đường chúng ta đi qua đẹp như thế nào. Đa số
người thế gian cho người tu chúng ta là kẻ bất hạnh vì
không được quyền hưởng những niềm vui thế gian, chúng
ta xây mặt với hạnh phúc trần gian. Nhưng họ không ngờ
chính vì đa mang hạnh phúc trần gian nên kết cuộc tất cả
người đời đều phải châu mày than thở. Thoạt nhìn dáng
bên ngoài ai cũng có vẻ tươi tắn, tỏ ra vui cười, nhưng
nếu đi sâu vào từng cá nhân, từng gia đình, chúng ta thấy
thế gian khóc nhiều hơn cười. Cuộc đời có gì vui đâu,
nhưng lỡ rồi phải cắn răng mà chịu, chớ không biết làm
sao hơn! Thấy chúng ta là người không đua đòi, không đuổi
theo dục lạc thế gian, họ tưởng chúng ta là kẻ thiệt thòi
nhưng không ngờ chúng ta lại có một lối đi đẹp đẽ lâu
dài. Tuy nhiên không phải bước vào lối đó là mọi việc
đều như ý. Quí vị nhớ mục số một trong mười mục chăn
trâu, thằng chăn có được thảnh thơi không? Trâu hoang cắm
đầu chạy, trâu mạnh mười, sức thằng chăn chỉ có một,
trâu lại đương hoang, muốn chinh phục, muốn kềm giữ nó
là cả một công trình. Nếu thằng chăn dùng trí khôn ngoan,
dùng mọi phương tiện nào dây dàm cột mũi, nào roi đánh
thì sẽ điều phục được nó. Trái lại nếu thằng chăn
quá dốt, quá khờ cứ chạy đuổi theo con trâu mà trong tay
không dây, không roi thì chắc không thể điều phục nổi nó.
Thế nên trong giai đoạn đầu người chăn trâu là người
cực khổ. Khác hơn ở thế gian, do thả tâm đuổi theo dục
lạc nên được một chút dục lạc nào người ta cho đó là
hưởng hạnh phúc. Còn chúng ta là người xoay lại chăm chăm
lo chăn con trâu của mình nên không đoái nhìn, không tìm hưởng
dục lạc thế gian, vì vậy mà hai quan niệm khác nhau. Chăn
trâu trong giai đoạn đầu là khó khăn, là nhọc nhằn khổ
sở nhưng khi chăn được, tức là giai đoạn xỏ được mũi
rồi lôi cổ nó theo mình, thì từ đó về sau từ từ sẽ
nhẹ nhàng. Đến đây tôi dẫn bài kệ chăn trâu số sáu tức
là mới quá bán phần trên đường tu mà đã được sung sướng
như thế này, quí vị nghe thì thấy rõ ràng là tràn trề hạnh
phúc.
Kỵ ngưu dĩ lệ dục hoàn gia,
Khương địch thanh thanh tống vãn hà,
Nhất phách nhất ca vô hạn ý,
Tri âm hà tất cổ thần nha.
Khi chúng ta điều phục được trâu, rồi ngồi trên lưng trâu
thuần thục cỡi về nhà vào buổi chiều thì còn gì sung sướng
hơn! Gió mát trời trong, ngồi trên lưng trâu cầm ống sáo
vừa thổi vừa ca thật là vui vô hạn, “Nhất phách nhất
ca vô hạn ý”, niềm vui không thể kể hết! “Tri âm hà
tất cổ thần nha”, những người tri âm của mình đâu cần
phải mở miệng nói. Bài này tôi tạm dịch:
Cỡi trâu thong thả trở về nhà,
Tiếng sáo vi vu tiễn vãn hà,
Một nhịp một ca vô hạn ý,
Tri âm đâu phải động môi à.
Như vậy quí vị thấy chỉ mới quá bán phần trên đường
tu mà đã vui vẻ như thế, huống nữa là mãn đường tu thì
vui đến mức nào. Có phải là chúng ta sống một đời tràn
trề hạnh phúc hay không? Thế nên nếu chúng ta chịu khó nỗ
lực chăn được con trâu của mình thì mai kia trên đường
tu, trên đường về quê hương, chúng ta là kẻ thảnh thơi
nhất, an nhàn nhất, nhìn thấy toàn là hoa tươi cỏ đẹp
chớ không còn những nỗi buồn bã khổ đau của kiếp người.
Đấy là “biệt nhất thôn” tức là một làng riêng, làng
chúng ta trở về đó. Trên đây là nói về bức tranh chăn
trâu thứ sáu của Thiền tông.
Bức tranh chăn trâu thứ sáu của Đại thừa có khác một
chút:
Lộ địa an nhiên ý tự như,
Bất lao tiên sách vĩnh vô câu.
Sơn đồng ổn tọa thanh tùng hạ,
Nhất khúc thăng bình lạc hữu dư.
“Lộ địa an nhiên ý tự như” tức là con trâu nằm dưới
đất trống yên ổn nghỉ ngơi.
“Bất lao tiên sách vĩnh vô câu” là không nhọc nhằn cầm
roi và dây mũi.
“Sơn đồng ổn tọa thanh tùng hạ”, thằng chăn ngồi dưới
cội tùng thong thả.
“Nhất khúc thăng bình lạc hữu dư”, hát một bản nhạc
thăng bình, vui không còn gì hơn. Quí vị thấy niềm vui đến
đây thật không thể diễn tả hết được. Bài kệ này chúng
tôi tạm dịch:
Đất trống ngủ yên ý tự an,
Chẳng cần roi mũi, mãi thanh nhàn.
Tùng xanh dưới cội mục đồng nghỉ,
Một bản thăng bình rất hân hoan.
Vừa rồi là hình ảnh một chú mục đồng ngồi trên lưng
trâu thổi sáo, đến đây là hình ảnh một chú mục đồng
ngồi dưới cội tùng hát bản nhạc thăng bình, tức là đến
thời thái bình thịnh trị, mọi người đều vui ca thong thả,
không còn bận rộn lo âu gì cả.
Như vậy kiểm lại trên đường tu, nếu tất cả chúng ta
nỗ lực chịu cực chịu khổ qua nửa phần đường, trong
nửa phần đường đó:
- Giai
đoạn thứ nhất là vất vả trăm phần,
- Giai
đoạn thứ hai sự vất vả còn khoảng tám mươi phần,
- Giai
đoạn thứ ba sự vất vả còn khoảng sáu mươi phần,
- Đến
giai đoạn thứ tư còn khoảng bốn mươi phần,
- Đến
giai đoạn thứ năm xem như hết vất vả rồi,
- Giai
đoạn thứ sáu là bắt đầu thảnh thơi tự tại trên con
đường trở về quê hương.
Đó là những hình ảnh tôi cho là đẹp tuyệt trần, chính
khi chúng ta chiến thắng được bản thân mình, chiến thắng
được vọng tưởng (cụ thể hoá bằng con trâu đã thuần
thục, đã nghe lời và chú mục đồng ngồi trên lưng trâu
trở về), lúc đó mọi sự thảnh thơi sẽ đến với chúng
ta, niềm an lạc vô biên vô tận sẽ đến với chúng ta.
Vậy con đường tu là con đường tăm tối hay là con đường
tươi sáng?
- Con
đường của chúng ta đi là con đường tươi sáng vô cùng,
thế mà có nhiều người đi vừa hơi mỏi chân là đã muốn
trở về, thật là đáng tiếc vì chọn con đường tu tức
là đã tìm được một lối đi đẹp đẽ vui tươi an nhàn
tự tại.
Tuy nhiên không có sự an vui hạnh phúc nào mà chúng ta không
phải trả giá bằng mồ hôi, nước mắt. Như nhiều khi ngồi
thiền phải muốn khóc vì đau chân, hoặc ở trong chùa nhiều
khi bị rầy nên khóc lên khóc xuống. Song nếu chúng ta nỗ
lực cố gắng thì ngày mai chúng ta sẽ được hưởng cảnh
thanh nhàn an vui, nếu không muốn trả cái giá đó mà đòi
hưởng cảnh an nhàn tự tại thì chắc là không có. Ở trong
đạo cũng như ở thế gian, muốn được quả vui trước hết
chúng ta phải có công phu khó nhọc. Thí dụ như muốn hưởng
những quả mít ngon thì hiện tại chúng ta phải đem hạt mít
ương trồng, phải bón phân, tưới nước, nhổ cỏ từ ba
năm đến năm năm mới thu được kết quả, chớ không bao
giờ muốn ăn mít ngon liền có mít ngon, trừ khi có tiền trong
túi. Nhưng muốn có tiền cũng phải lao động đổ mồ hôi
mới có được. Vậy muốn hưởng quả tốt trước hết phải
chịu cực chịu khó, quả tốt mới đến được. Có nhiều
người mơ tưởng rằng chùa, Thiền viện là cảnh cực lạc,
cảnh thiên đường tại thế, vào đó ngày nào cũng vui, giờ
nào cũng an. Hiểu như vậy e là lầm, vì vào đó rồi còn
phải dùng bao nhiêu công phu mới qua được những khó khăn
để đến chỗ an lạc, chớ không phải vào chùa rồi mọi
việc đều như ý.
Tôi nhắc lại để quí vị hiểu con đường chúng ta chọn,
chúng ta đi là con đường rất đẹp, rất tươi vui, xán lạn
ở ngày mai, nhưng muốn đi đến lối rẽ an lạc đó, tìm
được thôn riêng đó, chúng ta phải đi tột cùng con đường
dài mới bước sang được lối tẽ này. Tôi chỉ mới dẫn
hai bài thơ nói đến mục thứ sáu của mười bức tranh chăn
trâu mà quí vị đã thấy đẹp đẽ như vậy. Đến đây tôi
dẫn những bài quí vị vừa học trong Tuyết Đậu Tụng Cổ,
tức là ngài Tuyết Đậu tụng các công án.
Đầu tiên là công án Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn đăng
đường nói với chúng rằng: Ngài nắm hòn núi Tu-di lại,
nó nhỏ bằng hạt gạo, hạt lúa. Ngài Tuyết Đậu tụng cho
chúng ta nghe như thế này:
Ngưu đầu một, mã đầu hồi,
Tào Khê cảnh lý tuyệt trần ai.
Đả cổ khán lai quân bất kiến,
Bách hoa xuân chí vị thùy khai?
Tạm dịch:
Đầu trâu mất, đầu ngựa về,
Trong vắt Tào Khê kính chẳng nhơ.
Đánh trống đến xem anh khó thấy,
Trăm hoa xuân đến nở vì ai?
Bài này có cái đẹp nào mà tôi đem vào đây? Ngài Tuyết
Phong Nghĩa Tồn nói: Ngài nắm núi Tu-di lại nhỏ bằng hạt
lúa, hạt gạo. Núi Tu-di lớn bao nhiêu? Hạt gạo lớn bao nhiêu?
Nắm hòn núi to lại bằng hạt lúa hạt gạo là để nói lên
điều gì? Tức là dưới con mắt của Thiền sư, tất cả
những tướng đối đãi lớn như núi Tu-di, nhỏ như hạt gạo...
không còn nữa. Như vậy cái nhìn của Thiền sư đã thoát
khỏi mọi tướng đối đãi của trần gian. Khi thoát khỏi
mọi đối đãi của trần gian, tâm chúng ta sẽ như thế nào?
Sẽ không còn dính một chút bụi trần. Sở dĩ chúng ta còn
dính bụi trần là vì còn ở trong đối đãi hơn thua, phải
quấy, được mất, nên phiền não theo đó dấy khởi , tâm
chúng ta trở thành nhiễm ô, vì thế gọi là trần ai. Ngài
Tuyết Đậu thấy được công án này nên Ngài mới hạ câu
đầu:
‘‘Ngưu đầu một, mã đầu hồi” tức là đầu trâu mất,
đầu ngựa về, nghĩa là một câu vô nghĩa vô lý, không ai
biết là gì, để nói lên khi con người đã thoát khỏi đối
đãi thì không có ý niệm, không có tình duyên theo cảnh. Thế
nên nói “đầu trâu mất đầu ngựa về”, nói một cách
không có lý thú để diễn tả tâm không còn dính mắc với
cảnh.
Đến câu thứ hai: “Tào Khê cảnh lý tuyệt trần ai” là
trong gương Tào Khê không dính một mảy bụi. Nghe nói gương
Tào Khê ai cũng tưởng là gương của Lục Tổ, nhưng nếu
tất cả chúng ta đi theo con đường của Lục Tổ thì chúng
ta đều có cái gương riêng, gương đó cũng được gọi là
gương Tào Khê. Như vậy tất cả chúng ta khi tâm dứt đối
đãi thì không còn dính một mảy bụi ở trong lòng. Hiện
nay nếu quí vị buông hết những được mất hơn thua v.v...
thì lòng quí vị có phiền não không? - Đâu còn tí nào phiền
não và phiền não hết thì tâm mình trong sáng như gương không
dính một mảy bụi. Khi ấy:
“Đả cổ khán lai quân bất kiến”: đánh trống mời thiên
hạ đến xem, nhìn trong gương cũng không ai thấy được một
mảy bụi, cũng không ai thấy được cái gương như thế nào.
Câu kết thúc thật là đẹp đẽ: “Bách hoa xuân chí vị
thùy khai?” Nghĩa là đến mùa Xuân, trên núi, trong rừng,
bên cạnh suối... trăm hoa đua nhau nở là vì ai ? Vì quí thầy
hay vì quí Phật tử? - Không vì ai cả. Nghĩa là Xuân đến
thì hoa nở chớ không phải vì người này xem hoa, người kia
yêu hoa mà nó nở cho họ xem.
Như vậy khi tâm chúng ta không còn dính một mảy bụi thì
muôn vật đều đẹp đẽ trước mắt chúng ta, khi duyên đến
tức là thời tiết đến, mùa Xuân đến thì hoa tự nở chớ
không phải vì ai, không phải đợi chúng ta chăm sóc vun bón...
Đây là một công án diễn tả tâm chúng ta khi tự tại không
còn kẹt ở hai bên thì kết quả sẽ tốt đẹp như thế.
Đến công án thứ hai là công án của ngài Vân Môn. Một hôm
ngài Vân Môn bảo: Ngày mười lăm về trước thì không hỏi
ông, ngày mười lăm về sau hãy nói một câu xem? Không ai đáp
được, Ngài tự nói: Mỗi ngày đều là ngày tốt. Công án
này hay ở điểm nào? Tất cả chúng ta đang sống trong hiện
tại nhưng tâm chúng ta nhớ chuyện hôm qua, hôm kia, năm xưa,
năm cũ, tức là sống ở hiện tại mà tâm lùi về quá khứ.
Nhiều khi sống ở hiện tại mà tâm hướng về vị lai như
ngày nay là ngày mồng một Tết mà chúng ta nghĩ tháng hai,
tháng ba chúng ta sẽ phát tài hoặc tháng tư, tháng năm chúng
ta đi ngoại quốc... Giờ phút hiện tại không sống thì sống
cũng như chết, chết nhưng còn ăn, còn nói, còn đi. Ăn, nói,
đi, mà chết vì chính hiện tại mới là sống, nhưng trong
ba thời quá khứ hiện tại vị lai tâm chúng ta cứ lui về
quá khứ hoặc hướng tới vị lai, mơ ước tưởng tượng
mà quên mất giây phút hiện tại. Thế nên Ngài mới nói không
hỏi ngày mười lăm về trước mà ngay ngày mười lăm về
sau hãy nói cho một câu, không ai nói được thì Ngài nói ‘‘mỗi
ngày đều là ngày tốt”. Như thế không cần mở lịch, vì
ngày nào cũng là ngày tốt. Tại sao? Đây ngài Tuyết Đậu
tụng:
Khứ khước nhất, niêm đắc thất,
Thượng hạ tứ duy vô đẳng thất.
Từ hành đạp đoạn lưu thủy thanh,
Túng quan tả xuất phi cầm tích.
Thảo nhung nhung, yên mịch mịch,
Không Sanh nham bạn hoa lan tịch,
Đàn chỉ kham bi Thuấn Nhã Đa.
Tạm dịch:
Bỏ đi một, nắm được bảy,
Trên dưới bốn bên không đồng bậc.
Thong dong đạp bặt tiếng suối reo,
Phỏng xem vẽ được chim bay dấu.
Cỏ xanh rì, khói trắng bạc,
Không Sanh bên núi hoa rơi loạn,
Khảy tay làm thảm Thần Hư Không.
Qua bài kệ này chúng ta thấy tài của ngài Tuyết Đậu diễn
tả khi tâm chúng ta không còn kẹt quá khứ, vị lai, đó là
dùng mấy chữ “bỏ đi một, nắm được bảy” nghĩa là
không còn kẹt vào quá khứ, vị lai nữa, chỉ ngay hiện tại
thôi.
“Trên dưới bốn phương không đồng bậc” nghĩa là bốn
hướng và trên dưới không có cái gì gọi là giống nhau.
Như vậy nếu tâm chúng ta đối với thời gian không còn có
niệm sai biệt hướng về quá khứ vị lai mà sống ngay hiện
tại thì thế nào? Tâm đã bình đẳng nghĩa là ngay trong phút
giây này hiện tại thì thế nào? Tâm đã bình đẳng nghĩa
là ngay trong phút giây này
“Thong dong đạp bặt tiếng suối reo.” Dầu cho tiếng suối
reo bên cạnh, chúng ta đi rất thong thả bên bờ suối, cũng
đạp được tiếng suối im bặt. Sao hay đến thế? Tiếng
suối có hình dáng gì mà đạp được bặt tiếng? Đó là
để nói rằng khi tâm chúng ta không còn niệm hướng về quá
khứ vị lai, chỉ sống với hiện tại thôi, lúc đó sẽ có
diệu dụng, dường như chúng ta đi từ từ thong thả mà cũng
làm cho tiếng suối reo im bặt.
“Phỏng xem vẽ được chim bay dấu”, nghĩa là thấy chim
bay trong hư không, giả sử muốn vẽ dấu của nó, cũng vẽ
được. Như vậy hai câu này diễn tả khi chúng ta dứt được
tâm quá khứ vị lai rồi thì ngay trong phút hiện tại này
chúng ta sẽ được diệu dụng, nó vi tế vô cùng, những
bước đi thong dong làm cho suối phải im tiếng, chim bay trong
hư không dường như mắt cũng thấy được dấu chân của
nó. Đây lại đẹp thêm:
“Cỏ xanh rì, khói trắng bạc.” Khi ấy chúng ta thấy
đây là cỏ mùa Xuân xanh rì như nhung, kia là đám mây khói
trắng như bạc, không còn gì xấu xa đen tối nữa. Tiếp đến
Ngài dẫn:
“Không Sanh bên núi hoa rơi loạn”, tức là ngài Tu-bồ-đề
ngồi bên sườn núi im lặng mà Thiên Đế Thích rải
hoa cúng dường. Tâm chúng ta đến chỗ nhất như thì dường
như không nói không làm mà tất cả chung quanh đều cảm thông,
đều thấy được.
“Khảy tay làm thảm Thần Hư Không”: chỉ khảy ngón tay,
Thần Hư Không cũng hiện ra buồn thảm. Khi chúng ta tu hành
đến giai đoạn tâm được an nhiên tự tại thì mọi
diệu dụng tràn đầy trước mắt và chúng ta nhìn thấy tất
cả đều hay, đẹp và nên thơ. Tôi dẫn những kệ tụng trên
để quí vị thấy tương lai đẹp đẽ của con đường chúng
ta đang đi.
Sang đến Thiền sư Việt Nam của chúng ta có nhìn giống như
thế không? Đây là vị Thiền sư mà tôi thường hay nhắc
nhất, đó là Thiền sư Chân Không. Có vị Tăng hỏi: Khi sắc
thân bại hoại thì thế nào? Tức là người ta đến lúc chết
thì thế nào? Ngài liền đáp:
Xuân khứ Xuân lai nghi Xuân tận,
Hoa lạc hoa khai chỉ thị Xuân.
Tôi tạm dịch:
Xuân đến Xuân đi ngỡ Xuân hết,
Hoa nở hoa tàn vẫn là Xuân.
Thật đẹp làm sao! Người ta thắc mắc băn khoăn hỏi sắc
thân của chúng ta, đến giờ phút bại hoại thì thế nào?
Người thế gian đến giờ phút đó là khóc, là khổ đau,
nhưng với Ngài thì Ngài bảo: Xuân đến Xuân đi ngỡ Xuân
hết, hoa nở hoa tàn vẫn là Xuân. Mùa Xuân có đến có đi,
như hôm nay bắt đầu mùa Xuân tức là Xuân đến, ba tháng
sau gọi là Xuân đi, đến rồi đi, tưởng như Xuân hết. Còn
hoa nở trong mùa Xuân, như hôm nay các cành mai đang nở, mai
mốt nó sẽ tàn, nở trong mùa Xuân, tàn cũng trong mùa Xuân,
như vậy sống chết vẫn ở trong cái tươi đẹp chớ không
bao giờ mất. Thế là sống đẹp mà chết cũng tươi, không
phải sống là vui chết là khổ. Tại sao? Vì đối với người
thấy đạo sống và chết chỉ là sự sanh diệt của hòn bọt
trong biển, hợp hoặc tan cũng đều nằm trong biển, có thoát
đi đâu, khi hợp lại không làm cho biển tăng lên, khi tan ra
cũng không làm cho biển giảm xuống, hợp hay tan cũng thế
thôi. Thế nên Thiền sư khi thấy con người lúc sắp lâm chung
bồi hồi lo sợ không biết thân phận sẽ ra sao thì Ngài
nói rõ rằng: Mùa Xuân đến, mùa Xuân đi người ta tưởng
là mùa Xuân hết, nhưng hoa khi nở khi tàn, dù có hai thời,
vẫn là trong một mùa Xuân. Vậy mùa Xuân ở đây là mùa Xuân
mãi mãi chớ không phải mùa Xuân chỉ có trong thời tiết
ba tháng. Như vậy để thấy rằng sự có mặt và vắng mặt
của chúng ta trên trần gian này chỉ là tạm thời chớ trong
cái tươi sáng vĩnh viễn, chúng ta lúc nào cũng hiện hữu,
không bao giờ thiếu vắng. Đó là điều Thiền sư đã thấy
như vậy.
Đến một vị Thiền sư khác vào đời Lý, Thiền sư Viên
Chiếu. Có một vị Tăng hỏi Ngài: Thế nào là nghĩa Kiến
tánh thành Phật? Ngài trả lời:
Khô mộc phùng xuân hoa cạnh phát,
Phong xuy thiên lý phức thần hương.
Tôi tạm dịch:
Cây héo Xuân về hoa nở rộ,
Gió đưa ngàn dặm nực hương mầu.
Khi Tăng hỏi nghĩa Kiến tánh thành Phật thì Ngài đáp: giống
như là cây héo, cây khô gặp mùa Xuân về liền nở hoa. Người
thế gian vì không nhận ra Phật tánh của mình nên thấy thân
này có sanh, có diệt, khi sanh là vui mừng, khi diệt là khổ
đau; trái lại người tu nhìn thấu được tánh chân thật
của mình, tức là kiến tánh, thì thấy thân này có tàn có
hoại cũng như là cây khô, khi thời tiết nhân duyên đến
tức là mùa Xuân về nó vẫn nở hoa, chớ không phải mục
luôn. Người tu khi ngộ đạo thấy tánh rồi thì ngay nơi thân
tầm thường, nhớp nhúa, không ra gì này có cái đẹp đẽ
tươi sáng vô cùng, đó là ví dụ mùa Xuân về hoa nở rộ.
Đến câu kế “Gió đưa ngàn dặm nực hương mầu”, lúc
gió ở đâu thổi về đều nghe mùi hương nhiệm mầu thơm
ngát mũi. Như vậy hai câu thơ này cho chúng ta thấy đường
trước chúng ta đẹp đẽ làm sao, giống như mùa Xuân về
hoa nở rộ, giống như gió ngàn phương thổi về mùi thơm
nhiệm mầu nồng nực khắp bầu trời. Như thế quí vị thấy
đẹp đẽ thơm tho là con đường chúng ta đang đi, đang tiến
tới.
Lại có vị Tăng hỏi: Thế nào là bản ý của chư Phật?
Ngài Viên Chiêu liền đáp:
Xuân chức hoa như gấm,
Thu lai diệp tự hoàng.
Dịch:
Xuân dệt hoa như gấm,
Thu sang lá tự vàng.
Câu trả lời đẹp làm sao! Mùa Xuân đến hoa nở đẹp như
gấm thêu hoa, mùa thu sang lá vàng rụng. Như vậy Xuân đến,
thu sang vẫn là tự nhiên, Xuân về hoa nở, thu đến lá vàng,
sự vật là như thế. Bản ý chư Phật thế nào? Bản ý chư
Phật là như nhiên, như Xuân về hoa nở, thu đến lá vàng,
không có gì thêm, không niệm trần nào len lỏi vào.
Đến Thiền sư Thiền Lão, một hôm vua Lý Thái Tổ đến,
thấy Ngài ở trong núi, Vua hỏi: Ngài ở đây được bao lâu
rồi?
Ngài trả lời:
Đản tri kim nhật nguyệt,
Thùy thức cựu Xuân thu.
Tạm dịch:
Chỉ biết ngày tháng này,
Ai hay Xuân thu trước.
Nhà vua liền hỏi thêm: Hòa thượng ở đây hằng ngày làm
gì? Ngài trả lời:
Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh,
Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân.
Dịch:
Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác,
Trăng trong mây bạc hiện toàn chân.
Ngài Thiền Lão Thiền sư trả lời câu hỏi của vua Lý Thái
Tổ về thời gian Ngài ở trong núi bao lâu là: Chỉ biết ngày
nay tháng này thôi. Như vậy Ngài đang sống với niệm hiện
tại (ngay bây giờ), không nhớ quá khứ, không mơ tưởng vị
lai. Nếu con người được như vậy thì hiện tại đang làm
gì? Ngài trả lời: Nhìn trúc biếc hoa vàng, thấy trăng trong
mây bạc... tất cả đều hiện cái thể chân thật của chính
mình, chớ không có ngoài.
Vậy khi chúng ta tu hành đến lúc tâm mình tự tại, không
dính mắc một cái gì, lúc đó tất cả cảnh trước mắt
chúng ta đều nên thơ, đều tuyệt diệu, những cảnh đẹp
không thế nào diễn tả hết, những cảnh đó chúng tôi gọi
là vẻ đẹp tuyệt trần, nghĩa là đẹp mà không dính một
mảy bụi nào. Bụi đó ở đâu? Ở trong tâm chúng ta. Tâm
không còn chút bụi thì mọi cảnh trước mắt đều đẹp,
đều nên thơ. Trái lại nếu tâm chúng ta còn bụi phiền não
thì mọi cảnh đều là cảnh buồn, cảnh tang tóc. Như thế
tất cả chúng ta tu hành là đã chọn được một con đường,
con đường tươi sáng hạnh phúc ở mai sau. Chọn được rồi,
hiện chúng ta đang cất bước đi, quí vị có muốn đi nhanh
đến để hưởng hay không? Hay quí vị thích ngồi chơi, chần
chờ trong những đám gai góc, những vũng bùn lầy? Tôi ví
dụ như chúng ta là khách du lịch muốn đến một thành phố
đẹp, nhưng biết rằng trên đoạn đường về thành phố
phải qua những đoạn đường lồi lõm, nhơ nhớp, bẩn thỉu,
quí vị nghĩ chúng ta muốn đi nhanh qua để đến chỗ tươi
đẹp mà chúng ta hằng mơ ước, hay là chúng ta cứ dần dà
đến chỗ nào mệt thì ngồi chơi để ngửi mùi hôi hám của
những đống rác, hay dừng lại những chỗ đất lồi lõm
gai góc, ngồi xuống thì bị đâm thủng chẳng hạn? Chắc
không ai bằng lòng ngồi lì mãi ở chỗ nhơ nhớp gai góc khi
biết rằng đến nơi kia sẽ đẹp đẽ trăm phần. Thế nên
chúng ta đã có một lối đi, đã biết được kết quả sẽ
là tươi sáng, đẹp đẽ thì phải nỗ lực, không nên chần
chờ, hẹn nay, hẹn mai mà phải ráng đi đến nơi, sớm chừng
nào tốt chừng nấy.
Tóm lại hôm nay là ngày đầu năm, tôi phác họa con đường
đi của quí vị để thấy đó là con đường tươi sáng .
Vậy mong rằng tất cả quí vị nếu không phải là người
yếu hèn hay thác loạn, thì sẽ không chần chờ, không thối
lui trên bước đường toàn là hoa thơm cỏ lạ. Chúng ta phải
hăng hái, cố gắng tiến đến chỗ chúng ta đã nhắm, đến
mục tiêu chúng ta đã quyết đến vì đó là nơi đẹp đẽ,
tươi sáng, là nơi an lạc muôn đời. Chúng ta đâu còn dốt
nát dại khờ gì mà phải dính nhiễm, cãi nhau trong đám gai
góc? Đánh nhau trong gai có vui gì đâu, dù có thắng cũng trầy
da tróc vảy. Thế thì mặc ai muốn tranh hơn thua, muốn lôi
kéo... chúng ta cứ gỡ mà đi, đi thẳng đến đích cuối cùng
là nơi đẹp đẽ vô hạn. Đến đó rồi mặc tình ngồi chơi
thổi sáo hát khúc thanh bình, rảnh rang cỡi mây cỡi gió về
rủ bạn bè cùng đi với mình cho vui, chớ không lẽ lăn lộn
mãi trong đám gai góc bùn lầy, giành nhau những cái không đáng
giành, hơn nhau những cái không đáng hơn thì thật là uổng
phí cả cuộc đời.
Mong rằng năm nay, tôi tạm gọi là năm cuối để hướng dẫn
dạy dỗ quí vị, những gì Kinh điển Phật Tổ dạy, tôi
đem ra giảng nói cho quí vị nghe, quí vị ráng lãnh hội đầy
đủ và đồng thời cố gắng mạnh mẽ bước trên con đường
chúng ta đang đi, đừng giậm chân tại chỗ và tối kỵ là
đừng bao giờ trở bước lại. Đó là điều tôi nhắc nhở,
mong tất cả quí vị ý thức được đường tu, biết ngày
mai tươi sáng thì phải nỗ lực tiến lên, không nên chần
chờ nữa.
BIỂU TƯỢNG HOA SEN
XUÂN
TÂN MÙI (1991)
(Phật
tử)
Hôm
nay là ngày Tết Nguyên Đán, chúng tôi dùng hình ảnh hoa sen
để chúc Tết quí Phật tử. Trong đạo Phật biểu tượng
hoa sen có những gì kỳ đặc? Hôm nay chúng tôi nói lên biểu
tượng đó để tất cả quí Phật tử ý thức việc tu hành,
sống theo tinh thần của biểu tượng hoa sen và đi đúng theo
hướng của đức Phật đã dạy.
Nói
đến hoa sen trước nhất trong chùa, chúng ta thấy tượng đức
Phật ngự trên toà sen. Hẳn quí vị cũng nhớ thuở xưa khi
thành Phật Ngài ngồi ở đâu? Ngài ngồi dưới cội Bồ-đề,
trên toà cỏ. Hiện nay chúng ta lại để đức Phật ngồi
trên tòa sen, như vậy là không đúng sự thật rồi. Vậy tòa
sen mang ý nghĩa gì mà tất cả Phật tử chúng ta lại quí
trọng để làm đài cho đức Phật ngồi? Kế đến khi đi
chùa quí Phật tử thấy tháp thờ các vị trụ trì hay những
vị có đạo đức cao đều có để các búp sen. Vậy các búp
sen nói lên ý nghĩa gì mà trong đạo Phật từ chùa, tháp cho
đến mộ của Phật tử cũng để hình ảnh hoa sen? Cả đến
gia đình Phật tử cũng dùng lá cờ có hình hoa sen. Đó là
những điều chúng tôi thấy người Phật tử cần phải hiểu
rõ để khi có người hỏi chúng ta biết cách giải thích.
Tuy không phải khó nhưng giải thích không suôn, vì chúng
ta không biết được ý nghĩa rõ ràng. Đây tôi nêu ra hai phần:
1.
Ý nghĩa biểu tượng hoa sen theo tinh thần Phật giáo Nguyên
thủy.
2.
Ýnghĩa biểu tượng hoa sen theo tinh thần Phật giáo Phát triển
hay là Đại thừa.
Theo
tinh thần Phật giáo Nguyên thủy: Thường hoa sen xuất phát
từ trong bùn nhơ, luôn luôn sen mọc trong ao, trong hồ. Điều
đó ca dao Việt Nam đã có nhắc đến và quí vị cũng đã
nhớ, đã thuộc. Như vậy giá trị của hoa sen là từ nơi
bùn nhơ sen trỗi dậy, vươn lên khỏi bùn, ra khỏi nước
rồi trổ hoa. Lúc đầu mầm nó chui trong bùn nhưng khi gần
trổ hoa thì nó vượt khỏi bùn, ngâm trong nước và lên khỏi
mặt nước mới trổ hoa. Khi ở trong bùn thì hôi, nhưng khi
nó nở hoa thì thơm ngát. Vậy giá trị của hoa sen là từ
chỗ nhơ nhớp hôi hám mà trổ hoa có mùi hương tinh khiết,
đó là điểm kỳ đặc của hoa sen. Tỉ dụ như hoa hồng,
hoa cúc, hoa mai chúng ta trồng trên khô, trổ hoa thơm thì cũng
thường, vì chúng không có cái gì hôi hám. Còn sen ở trong
bùn lại trổ được hoa thơm, điều đó thật hiếm có. Thế
nên đạo Phật dùng ý nghĩa này của hoa sen để tượng trưng
cho người tu hành. Theo sử, đức Phật ngày xưa là thái tử
con vua Tịnh Phạn, Ngài sống trong cảnh vương giả đầy đủ
ngũ dục, tức là sắc, thanh, hương, vị, xúc dư thừa. Ngài
sống trong ngũ dục, chìm trong ngũ dục, nhưng chính từ trong
ngũ dục sau này Ngài thức tỉnh, Ngài thoát ra khỏi ngũ dục
và đi tu. Khi đi tu Ngài sống khổ hạnh đến ngày viên mãn
đạo quả, thành một đức Phật sáng suốt giác ngộ, cũng
như hoa sen từ trong bùn vươn ra khỏi bùn, lên khỏi mặt nước
rồi trổ hoa. Thế nên đức Phật dạy:
Trước tâm ta buông lung,