26.
Hòa Quang Đồng Trần (Tất niên Đinh Mão-1988)
27.
Tinh Thần Giải Thoát Trong Giáo Lý Phật-đà (Xuân Mậu Thìn-1988)
28.
Những Niềm Vui Chân Thật (Xuân Mậu Thìn-1988)
29.
Tiệc Trà Cuối Năm (Tất niên Mậu Thìn-1989)
30.Tìm
Lại Mình, Biết Được Mình Là Trên Hết (Tất niên Mậu Thìn-1989)
31.
Ra Khỏi Hầm Lửa (Tết Nguyên Đán năm Kỷ Tỵ-1989)
32.
Năm Kỷ Tỵ Nói Chuyện Rắn.
HÒA QUANG ĐỒNG TRẦN
TẤT
NIÊN ĐINH MÃO 1988
Hôm nay là ngày hai mươi chín tháng chạp, ngày tất niên của
Thiền viện chúng ta. Trong buổi tất niên này, chúng tôi có
bổn phận phải nhắc nhở quí vị nhận thấy những ưu điểm
và khuyết điểm trên đường tu của chúng ta trong năm qua.
Nhưng chúng tôi thường nhắc đến những khuyết điểm hơn
để quí vị tu sửa, làm sao mỗi một năm qua chúng ta dứt
sạch được những bệnh hoạn để chuẩn bị qua năm tới
chúng ta có sức mạnh tiến tu, không còn bệnh hoạn nữa.
Đề tài chúng tôi giảng hôm nay là “Hòa Quang Đồng Trần”.
Hòa quang là hòa ánh sáng, đồng trần là đồng với bụi
bặm, tức là trộn lẫn ánh sáng vào với bụi bặm. Tại
sao chúng tôi giảng đề tài này? Gần đây chúng tôi nhận
thấy một số Tăng Ni cũng như Phật tử có bệnh là: Thấy
mình trong sạch, thấy mình tu nhiều, thấy mình tốt hơn mọi
người. Vì thấy mình trong sạch, thấy mình tu nhiều, thấy
mình tốt hơn mọi người cho nên trở thành bệnh hoạn. Trong
cách thấy đó chia ra hai hạng bệnh:
1. Bệnh thứ nhất: Chính mình không trong sạch mà tưởng mình
trong sạch, rồi cho mọi người là bẩn thỉu nhơ nhớp, chỉ
có ta là trong sạch thôi. Nếu không trong sạch mà tưởng mình
trong sạch, đó là bệnh quá lớn. Tại sao vậy? Bởi vì mình
không biết điểm khuyết điểm dở của mình, mà chấp điểm
khuyết điểm dở của bạn bè huynh đệ. Như vậy tự mình
không sửa được mà chỉ oán trách những người chung quanh.
Những người mang bệnh này, bản thân đã không tu tiến được,
còn làm cho huynh đệ chung quanh sanh ra phiền não. Đó là bệnh
rất nặng, rất đáng chê trách. Kinh Phật và chư Tổ thường
dạy chúng ta, người tu tại gia hay xuất gia, phải thấy được
lỗi của mình và quên lỗi của người khác. Nếu chúng ta
không trong sạch mà tự thấy mình trong sạch, đó là không
thấy lỗi mình. Đừng thấy lỗi người mà chúng ta cứ thấy
người này xấu người kia dở, đó là chúng ta trái hẳn với
lời Phật Tổ dạy. Ai mang bệnh này là một bệnh trầm trọng
nhất, khó tiến trên đường tu. Người mang bệnh này có bằng
lòng ai đâu! Vì thấy mình trong sạch, mọi người đều xấu,
dở, cho nên không bằng lòng ai hết.
2. Bệnh thứ hai: Mình thật sự trong sạch rồi chê mọi người
nhơ nhớp xấu xa. Tạo sao mình trong sạch rồi thấy người
nhơ nhớp xấu xa mình chê mà thành bệnh? Lẽ ra mình trong
sạch biết mình trong sạch, người khác nhơ nhớp xấu xa mình
thấy họ nhơ nhớp, xấu xa, đó là đúng lẽ thật. Đúng
lẽ thật thì đâu gọi đó là bệnh. Vì sao lại nói là bệnh?
Vì khi chúng ta trong sạch, thấy mình trong sạch rồi cho mọi
người là nhơ nhớp xấu xa thì chúng ta muốn gần họ hay
không? Mình sạch quá mà gần người dơ xấu thì bị nhiễm
làm sao! Vì vậy mà không muốn gần ai. Nếu không muốn gần
ai thì làm sao mình sống được với người chung quanh. Đó
là bệnh. Trên đường tu, chúng ta cố gắng trong sạch bản
thân mình rồi thấy mọi người đều nhơ xấu mình muốn
tránh. Muốn tránh mọi người thì đi đâu đây? Vô núi chăng,
vô núi không ở được thì đi đâu nữa? Vô rừng, vô rừng
không ở được thì đi đâu nữa? Chẳng lẽ lên mây xanh?
Chính vì nhìn thấy người ở mặt xấu xa nhơ nhớp mà chúng
ta không thể hòa được với mọi người. Nếu không hòa được
với mọi người thì tự chúng ta khu biệt mình, sống ở giữa
rừng người mà giống như ở trong sa mạc. Đó là một bệnh
trong nhà Phật gọi là bệnh thanh tịnh.
Đến đây chúng tôi kể thêm một câu chuyện xưa có người
bị bệnh thanh tịnh cũng tương tự như vậy: Đó là câu chuyện
ông Khuất Nguyên ở Trung Hoa, vào đầu thế kỷ thứ ba. Ông
là quan Tam lư làm chức Đại phu ở nước Sở. Ông là một
người học rộng có tài nhưng vì ông thấy ông thanh tịnh
quá nên không hòa được với mọi người, và khinh rẻ mọi
người. Vì vậy ông làm mất lòng vua Sở, bị vua Sở đày
xuống đất Giang Nam. Khi bị đày đến Giang Nam, ông có làm
quen với một ngư phủ. Ông ngư phủ là một ẩn sĩ có tài,
mà không cho thiên hạ biết tung tích. Khi hai người nói chuyện
với nhau, ông ngư phủ phục ông Khuất Nguyên về văn học,
ông Khuất Nguyên nể ông ngư phủ là người thấu đáo việc
đời. Một hôm thấy ông Khuất Nguyên tỏ vẻ buồn bực khổ
não, ông ngư phủ mới hỏi: “Ngài vì sao đến nông nỗi
như vậy?” Ông Khuất Nguyên trả lời: “Người đời đục
cả chỉ mình ta trong, người đời say cả, chỉ mình ta tỉnh,
vì thế mà ta bị đày tới đây.” Ông Khuất Nguyên thấy
người đời đục cả chỉ mình ông trong, người đời say
cả chỉ mình ông tỉnh. Bởi ông trong, ông tỉnh, cho nên ông
bị đày! Khi đó ông ngư phủ mới nói: “Người đời đục
thì Ngài cũng không nên giữ mình trong sạch, nguời đời say
thì Ngài cũng nên uống vài chén cho say luôn thể.” Nghe nói
như vậy ông Khuất Nguyên bựïc bội: “Ông nói sao vậy?
Không thể nói trắng thành đen được, hay đen thành trắng
được, đá không thể nói là ngọc được, ngọc không thể
là đá được. Cho đến người trượng phu không thể là kẻ
tiểu nhân, mà tiểu nhân không thể là trượng phu. Ông nói
như vậy thật là lộn lạo!” Ông ngư phủ mới nói: “Ngài
đã một lòng cứu nước, cứu dân, lẽ ra phải trà trộn
vào đám tiểu nhân, dần dần cảm hóa họ. Ngài định thay
đổi cuộc đời, phải dấn thân vào chỗ tối tăm làm cho
sáng. Cớ sao lại cho cuộc đời là bẩn thỉu, người đời
là nhơ nhớp?” Một người cư sĩ, một người thường dám
nói câu: Nếu muốn cứu nước cứu dân, phải trà trộn trong
đám tiểu nhân dần dần cảm hóa họ. Muốn thay đổi cuộc
đời cho được trong sạch, cần phải dấn thân vào chỗ tối
tăm làm cho nó sáng ra. Tại sao cho đời là bẩn thỉu, người
đời là nhơ nhớp, rồi thở than khổ sở. Ông Khuất Nguyên
đáp lại: “Kẻ đã tắm gội thay quần áo, không thể lại
nhảy xuống bùn.” Ông cho rằng ông như người tắm gội
sạch rồi, mà bắt ông nhảy xuống bùn, ông không thể làm
được. Khi ấy ông ngư phủ thấy không thể khuyên được
nên than bằng những câu hát:
Nước sông Thương Lang trong thay!
Nước sông Thương Lang đục thay!
Nước trong thì ta giặt giải mũ,
Nước đục thì ta rửa chân.
Hát xong, ông chèo thuyền đi. Ông Khuất Nguyên vì quá trong
sạch, không chịu đựng nổi, phải ôm viên đá gieo mình xuống
sông Mịch La tự tử, nhằm ngày mùng năm tháng năm. Chúng
ta ăn tết ngày mùng năm tháng năm để tưởng nhớ ngày ông
Khuất Nguyên trầm mình chết.
Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy ông Khuất Nguyên bị bệnh
gì? – Bệnh thanh tịnh. Vì ông trong sạch nên ông không muốn
hòa với những người nhơ nhớp xấu xa. Nếu không hòa được
với những người nhơ nhớp xấu xa, thì sống được không?
Cuối cùng phải đi tự tử! Như vậy ông Khuất Nguyên và
ông ngư phủ, ai là người biết sống hơn? – Ông ngư phủ
là người biết sống. Nếu nước trong thì mình giặt giải
mũ, nếu nước đục thì mình rửa chân. Nếu đòi hỏi nước
trong, khi ấy nước lại đục, mình sẽ không dùng nó được
việc gì.
Trở lại việc đạo, đức Phật đã dạy, nếu chúng ta tu
hành được thanh tịnh sáng suốt, thì phải thương và nghĩ
tới những chúng sanh đang mê lầm, đang chìm đắm trong biển
khổ cứu vớt họ, lao mình trong cảnh đó để cứu độ chúng
sanh. Được như vậy chúng ta mới là người thật tình vì
Phật pháp. Nếu cứ nghĩ mình là trong sạch, còn thiên hạ
là xấu xa nhơ bẩn, rồi không muốn gần họ. Không gần với
họ thì chính mình tự cô lập mình, chính mình không làm lợi
gì cho ai được. Trong chúng ta nếu ai đã lỡ bị “bệnh
trong sạch”, phải sửa bỏ để vui vẻ hòa nhịp với mọi
người.
Chúng tôi vừa chỉ thuốc trị bệnh, nhưng không khéo thuốc
cũng thành bệnh. Tại sao thuốc trị bệnh, thuốc lại có
thể thành bệnh? Hòa mình với người là khi mình trong sạch,
đem trong sạch ra hòa với những người nhơ nhớp để giáo
hóa, chuyển hướng họ trở thành trong sạch như mình. Đó
là dùng thuốc trị bệnh. Nếu mình chưa trong sạch mà muốn
hòa với người thì kết quả sẽ ra sao? Hòa quang đồng trần,
quang là ánh sáng, là trong sạch, trần là bụi bặm, là nhơ
nhớp. Mình sáng, mới đem ánh sáng lại chỗ nhơ nhớp để
chuyển nó thành sáng. Nếu mình đang là bụi, đang là nhơ
nhớp mà hòa với nhơ nhớp nữa thì kết quả sẽ như thế
nào? Như vậy thuốc trở thành bệnh. Vì vậy khi dùng thuốc
trị bệnh chúng ta phải dè dặt. Nếu chúng ta thật thanh tịnh,
chúng ta phải thương người chưa thanh tịnh, hòa với họ
để giáo hóa họ. Chớ thở than rằng mọi người xấu quá
làm sao giáo hóa họ được, mọi người mê quá làm sao cho
họ tỉnh được. Mình đã tỉnh, phải tìm mọi cách làm cho
người mê được tỉnh, mình đã sạch, phải tìm mọi cách
làm cho người nhơ được sạch. Như vậy mới đúng tinh thần
của người học đạo, mà cũng chính là nghĩa tự giác giác
tha trong nhà Phật.
Nếu thấy người quá xấu xa, chúng ta thở dài chán nản,
không bằng lòng ai hết, đó là bệnh. Để trị bệnh này,
chúng ta không học gương ông ngư phủ mà phải học gương
ngài Bồ-tát Thường Bất Khinh. Bồ-tát gặp ai cũng bái và
nói: “Tôi không dám khinh các ngài vì các ngài đều sẽ thành
Phật.” Dưới mắt của Bồ-tát Thường Bất Khinh, ai cũng
có thể thành Phật. Như vậy có người nào đáng để mình
khinh chê đâu. Đáng chê chăng, là tự chê mình không có tài,
không có phương tiện chuyển hóa người từ mê thành giác.
Bồ-tát Thường Bất Khinh lúc nào cũng lạc quan, vì Ngài thấy
mọi người đều sẽ thành Phật. Noi gương Ngài, chúng ta
gặp ai cũng phải kính nể vì tin rằng ai rồi cũng sẽ thành
Phật. Với niềm tin đó, chúng ta cố gắng chuyển hóa mọi
người để cùng thành Phật với mình. Dù bị những người
không bằng lòng, có đánh mắng, chúng ta vẫn cam chịu, và
giữ vững niềm tin. Chúng ta cố gắng làm lợi mình, lợi
người trong mọi hoàn cảnh. Đó mới đúng tinh thần của
người học đạo.
Tranh Thiền tông “Thập mục ngưu đồ” hay “Mười bức
tranh chăn trâu”, bức thứ tám là: không còn người không
còn trâu, bức thứ chín là: lá rụng về cội, chim bay về
tổ, nước chảy về nguồn, danh từ nhà thiền gọi là: Nhập
Phật giới. Từ chỗ không ngã không pháp (bức tranh thứ tám)
bước qua một chặng nữa mới thể nhập được pháp thân
thanh tịnh tràn đầy của chúng ta, đó gọi là nhập Phật
giới (bức tranh thứ chín). Khi chúng ta thể nhập được pháp
thân thanh tịnh rồi, nếu chúng ta hài lòng ẩn trú trong cảnh
tịnh đó là chưa có đủ công đức giáo hóa lợi tha. Vì
vậy sau khi nhập Phật giới rồi liền phải bước vào ma
giới (bức tranh thứ mười). Trong mười bức tranh chăn trâu,
bức thứ mười vẽ lên một Thiền sư đóng cửa am trên núi,
tay cầm gậy, tay xách xâu cá chép với bầu rượu đi xuống
chợ, gọi là “Nhập triền thùy thủ” tức là buông thõng
tay vào chợ. Chính chỗ đó trong nhà thiền gọi là vào ma
giới. Khi được thanh tịnh rồi, chúng ta phải lăn mình vào
trong chợ đời để cảm hóa chúng sanh, chúng ta hòa mình với
mọi người còn đang mê muội, còn đang xấu xa mà không bị
lầm lẫn, không bị hoen ố. Trong nhà thiền còn dùng danh từ
là “đầu tro mặt đất”, tức là chúng ta bị bụi bặm
nhem nhuốc vì làm lợi ích chúng sanh, chớ không phải
chính mình bị bụi bặm làm nhơ nhớp. Giai đoạn này gọi
là: hòa quang đồng trần, tức là trộn lẫn ánh sáng trong
bụi bặm. Ánh sáng và bụi bặm tuy hòa lẫn, nhưng là một
hay là hai? Ánh sáng không là bụi bặm được, ánh sáng bao
giờ cũng là ánh sáng. Như vậy chúng ta phải thể nhập được
Phật giới rồi mới đi vào ma giới. Nếu chưa vào Phật giới
mà đi vào ma giới sớm quá, kết quả sẽ ra sao? Vì vậy sau
khi ngộ đạo rồi, ngài Huệ Khả mới đi vào chợ đời,
đến quán rượu, nhà hát v.v… Các Phật tử thấy vậy hỏi
Ngài: “Hòa thượng tu hành, sao lại đến nơi này?” Ngài
đáp: “Ta thử tâm ta, có liên hệ gì đến ông!” Đây là
lúc Ngài vào ma giới.
Chúng ta phải thấy rõ là khi nào nên vào ma giới, khi nào
không nên. Như chúng ta hiện nay chưa thấy đạo mà vào ma
giới ngay, là bệnh. Khi chúng ta nhập được Phật giới rồi
mới nói đến việc vào ma giới. Nhiều người chưa biết
Phật giới, muốn vào ma giới sớm quá, rồi bắt chước các
bậc đạt đạo vào chợ đời, ngồi quán rượu và nói: tôi
đây vào ma giới, buông thõng tay vào chợ. Đó là những người
dùng ngôn ngữ nhà thiền, hay dùng ngôn ngữ của Phật Tổ
để che đậy lòng tham dục của chính mình, chớ không phải
người tu chân thật.
Rõ được bệnh người tu, chúng ta phải biết dùng những
loại thuốc nào đúng lúc đúng lượng mới mong hết bệnh.
Nếu không biết cách dùng thuốc, bệnh không hết mà lại
tăng thêm. Trên đường tu hành chúng ta phải biết nên làm
gì ở mỗi giai đoạn. Nếu đang lúc nỗ lực tiến tu, buông
bỏ các phiền não xấu xa, dù có ai rủ vào ma giới, chúng
ta cũng không dám vào, vì việc tu chưa xong, hãy khoan. Khi nào
chúng ta thật tình là thanh tịnh, hoàn toàn không còn nhiễm
ô nữa, lúc ấy nếu có ai rủ vào ma giới, chính là lúc mình
vào, phải không? Phải biết mình cho thật rõ, việc làm mới
có lợi ích.
Chúng tôi vừa chỉ cho quí vị biết đâu là thuốc, đâu là
bệnh, dùng thuốc đúng thời thì có lợi, nếu sai thời có
hại. Vì vậy người tu phải rất thận trọng. Có nhiều người
ban đầu tu hành rất hay, sau trở thành dở, vì sử dụng thuốc
không đúng thời vậy. Để nhắc lại, sau khi nhập Phật giới
rồi, chúng ta mới vào ma giới được.
Khi nói vào ma giới, chúng tôi xin dẫn bài kệ của một cư
sĩ Việt Nam đời Trần, ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ. Ngài có
làm bài kệ “Nhập Trần” bằng chữ Hán như sau:
Thiều thiều khoát bộ nhập trần lai,
Hoàng sắc mi đầu đỉnh đỉnh khai.
Bắc lí ưu du đầu mã phúc,
Đông gia tán đản nhập lư thai.
Kim tiên đả sấn nê ngưu tẩu,
Thiết sách khiên trừu thạch hổ hồi.
Tự đắc nhất triêu phong giải đống,
Bách hoa nhưng cựu lệ xuân đài.
Bài dịch:
Vào vòng cát bụi
Vào vòng cát bụi nhịp chân đưa,
Vàng óng đầu mi rực rỡ đùa.
Xóm bắc rong chơi gieo bụng ngựa,
Nhà đông vui bước nhập thai lừa.
Roi vàng đánh đuổi trâu bùn chạy,
Dây sắt lôi về cọp đá thua.
Bỗng được một hôm băng giá hết,
Trăm hoa như cũ rộn xuân xưa.
Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ là một cư sĩ tại gia, mà đã nói
được những câu siêu thoát như vậy! Sau đây là ý nghĩa
của bài kệ:
Vào vòng cát bụi là vào ma giới.
Vào vòng cát bụi nhịp chân đưa: là chỉ hình ảnh vị Hòa
thượng tay xách xâu cá chép đi vào chợ (Tranh thiền tông
thứ 10).
Vàng óng đầu mi rực rỡ đùa: tuy đi vào cát bụi nhưng đầu
mi đầu mày của Ngài vẫn rực rỡ, óng ánh chớ không nhem
nhuốc đen tối. Câu này nói lên nghĩa hòa quang đồng trần,
đem ánh sáng đến chỗ tối tăm (chớ không phải đem cái
tối vào bóng tối).
Xóm bắc rong chơi gieo bụng ngựa: đến trong xóm bắc để
nhập vào trong bụng ngựa thọ thai.
Nhà đông vui bước nhập thai lừa: nhập vào thai lừa ở bên
nhà đông.
Hai câu này ý nói: Khi vào trong vòng cát bụi, không chọn nơi
tốt, không tránh nơi xấu, nơi đâu cần làm lợi ích chúng
sanh, các ngài cũng đến được. Không chọn lựa, không chê
nơi xấu dở, các ngài vào những chỗ ấy để làm gì?
Roi vàng đánh đuổi trâu bùn chạy,
Dây sắt lôi về cọp đá thua.
Cầm roi vàng đánh con trâu bằng đất, nó cũng chạy mịt.
Nắm dây sắt kéo con cọp đá, cọp đá cũng phải đầu hàng.
Trâu đất có biết chạy không? Cọp đá có phục ai không?
Tại sao ở đây lại nói đánh trâu đất chạy, lôi cọp đá
thua? Đây ý nói rằng khi đến được thể thanh tịnh sáng
suốt tròn đầy, chúng ta lăn mình vào cuộc đời để giáo
hóa chúng sanh. Lúc ấy chúng ta được đầy đủ diệu dụng
không phải là tầm thường, cho nên trong nhà thiền thường
nói nắm đất hóa thành vàng, khuấy nước biển thành đề-hồ,
tô-lạc. Khi con người đạt đến mức đó rồi, dù ở trong
cảnh xấu xa bẩn thỉu cũng không bị vướng mắc, hay bị
che lấp mờ lối đi. Hình ảnh đánh trâu đất chạy, lôi
cọp đá thua là để chỉ diệu dụng không thể lường được
của người đạt đạo.
Đến hai câu kết:
Bỗng được một hôm băng giá hết: công dụng giáo hóa được
viên mãn (tức là băng giá đã hết).
Trăm hoa như cũ rộn xuân xưa: lúc đó là một mùa xuân đầy
đủ trăm hoa như thuở nào.
Đại ý bài kệ nói rằng khi chúng ta lao mình trong cát bụi
tuy làm những việc rất tầm thường, rất xấu xa mà đầy
đủ diệu dụng, chớ không bị nhiễm, không bị ô uế. Làm
tròn những việc ấy rồi, chúng ta cũng trở về với thể
thanh tịnh sáng suốt như thuở nào, tức là trở về chỗ
mùa xuân của nghìn đời đầy đủ cả trăm hoa không thiếu
loại nào.
Trên đường tu nếu mọi người chúng ta ai cũng thể hiện
được tinh thần đạt đạo thì cuộc đời đẹp biết dường
nào! Đâu còn phải than vắn thở dài thiên hạ xấu quá tôi
không thể giúp gì cho họ được, trái lại chúng ta thấy
rằng mỗi chúng sanh đều có thể giáo hóa được. Chúng ta
nỗ lực tiến tu để đến chỗ viên mãn thanh tịnh. Được
thanh tịnh rồi, chính trong chỗ ô uế, xấu xa chúng ta dùng
những diệu dụng không lường để cảm hóa họ. Được như
vậy rồi, chúng ta mới an nhiên tự tại an trú vào Niết-bàn,
hay là thể nhập Pháp thân, hay nói theo đây là trở về mùa
xuân tràn đầy hoa thơm cỏ lạ.
Để kết luận, tất cả quí vị nên nhớ: Chúng ta có hai
bệnh. Một là bệnh mình chưa thanh tịnh mà tưởng mình thanh
tịnh, rồi chê hết mọi người, đó là bệnh nan y. Ai bị
bệnh này, phải sám hối một ngày bốn lần, nếu một hay
hai lần cũng chưa hết bệnh được. Hai là nếu thật tình
tu hành chín chắn, giữ giới trong sạch, ngôn ngữ hành động
đều thanh tịnh, tâm niệm rất sáng suốt, rồi nhìn thấy
mọi người còn dở, còn xấu quá nên muốn tách rời họ,
muốn tránh xa họ để sự thanh tịnh của mình được trọn
vẹn, đó cũng là bệnh. Vì sao? Vì trên cuộc đời này, chúng
ta đều có sự liên hệ với nhau. Nếu chúng ta chỉ thấy
riêng có một mình, không chịu kết chung với mọi người
để chuyển hóa họ, đó là chúng ta tách rời mình ra khỏi
nhân loại, ra khỏi chúng sanh. Tách riêng mình ra như vậy,
e rồi chúng ta rơi xuống biển sâu, không đứng trên thế
gian, không đứng trên mặt đất được. Vì vậy chúng ta rán
đừng bị bệnh thanh tịnh này. Còn một bệnh nữa là bệnh
chưa thanh tịnh mà xưng là thanh tịnh rồi xông pha mọi nơi.
Càng xông pha càng nhiễm ô, rốt cuộc một ngày nào mình làm
kẻ tệ hơn tất cả thiên hạ, không phương cứu chữa.
Chúng tôi mong rằng tất cả Tăng Ni và Phật tử biết tu phải
ráng tỉnh sáng, biết đúng thời, đúng lúc dùng thuốc trị
tâm bệnh của mình. Sạch được những bệnh trong tâm rồi,
một ngày kia chúng ta mới có thể làm tròn bổn phận của
người xuất gia, của người tu theo đạo giác ngộ giải thoát.
Đó là điều mong mỏi cuối năm của chúng tôi. Mong tất cả
quí vị nỗ lực cố gắng.
NAM-MÔ
BỔN SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT.
TINH THẦN GIẢI THOÁT TRONG GIÁO LÝ PHẬT-ĐÀ
BÀI
NÓI CHUYỆN VỚI TĂNG NI
XUÂN
MẬU THÌN 1998
Nam-mô
Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Hôm nay là ngày Tết Nguyên Đán năm Mậu Thìn, tất cả Tăng
Ni và Phật tử về đây, gọi theo thế tục là mừng tuổi,
chúc mừng năm mới chúng tôi. Để có thì giờ nhắc nhở
kỹ, quí vị lễ Phật rồi ngồi xuống, chúng tôi sẽ nói
chuyện từ từ với quí vị nhiều hơn.
Ngày mùng một Tết năm nay, chúng tôi nghĩ không gì hơn là
nhắc lại mục đích tối thượng của người tu Phật, “Ôn
cố tri tân” là nhắc lại việc cũ để quí vị cùng nhớ,
biết những điều mới để chúng ta thực hiện cho kỳ được.
Vì vậy đề tài chúng tôi nói hôm nay là “Giải Thoát”.
Trong kinh đức Phật đã dạy: “Tất cả nước biển chỉ
có một vị là vị mặn, tất cả giáo pháp của ta chỉ có
một vị là vị giải thoát.” Như vậy mục tiêu tối thượng
của người tu Phật là lấy sự giải thoát làm cứu kính.
Nếu không nắm vững được ý nghĩa giải thoát thì trên đường
tu chúng ta khó đạt được mục đích của mình. Như vậy
giải thoát là giải thoát những gì? Đây là điều chúng tôi
đem ra giãi bày cho tất cả quí vị thấy thật rõ.
Nói đến giải thoát, chúng ta phải thấy nghĩa ngược của
nó hay nghĩa trái của nó. Trái với giải thoát là gì? Là
triền phược theo danh từ Hán, hay trói buộc theo danh từ Việt.
Vì thấy mình bị triền phược hay là bị trói buộc nên chúng
ta nói cầu giải thoát. Do ở trong vòng bao vây của các phiền
não, không làm sao tự thoát ra được nên chúng ta phải nương
giáo pháp đức Thế Tôn chỉ dạy để thoát khỏi trần lao
phiền não. Như vậy giải thoát có nghĩa là cởi mở, là mở
trói, là được tự do. Tất cả chúng ta khi ở trong một hoàn
cảnh bị trói buộc, chúng ta khao khát được cởi mở, khi
ở trong hoàn cảnh bị gò bó trong một khuôn khổ hết sức
chật hẹp chúng ta muốn được tự do muốn được thoát ra
ngoài. Vì vậy nói đến giải thoát là khi đang bị bủa vây
ép ngặt chớ không phải trong hoàn cảnh tự do tự tại. Bủa
vây ép ngặt tức nhiên là khổ đau. Nói rõ hơn ý nghĩa giải
thoát là giải thoát nỗi khổ đau của kiếp người.
Đi sâu vào vấn đề giải thoát, tại sao chúng ta cầu giải
thoát? Và giải thoát như thế nào? Chúng ta phải nhìn thật
kỹ, thấy thật rõ những điều đang trói buộc, đang làm
mình đau khổ và chúng ta tu để cầu giải thoát những điều
đó. Vấn đề giải thoát là một sự thật, không có ngờ
vực. Có lắm người hoặc Tăng Ni, hoặc Phật tử, mỗi khi
lễ Phật nguyện hương đều nguyện đức Thế Tôn gia bị
cho chúng con giải thoát hết khổ đau, dẹp sạch hết phiền
não. Như vậy dẹp phiền não, dứt khổ đau là nhờ sự gia
bị của đức Phật. Nhưng sự thật đức Phật có làm cho
chúng ta giải thoát được không? Đó là một vấn đề. Hơn
nữa có nhiều người nghĩ rằng nói tới giải thoát là nói
một việc gì xa xôi cao cả lắm, coi như mình không bao giờ
với tới được. Nói tới giải thoát là nói chuyện của
những bực thánh chớ không phải là của kẻ phàm. Cho nên
khi nói tu với mục đích giải thoát, chúng ta coi như là chuyện
không bao giờ có, hay là không bao giờ đến được, rồi tự
khi mình và lui sụt, đó cũng là bệnh. Vì vậy chúng ta phải
thật sự nhìn thẳng ý nghĩa giải thoát.
Nói đến giải thoát khỏi các sự ép ngặt bủa vây, chúng
tôi thuật lại câu chuyện sau: “Thuở xưa ở Trung Hoa có
hai vị Thượng tọa, Thượng tọa Minh và Thượng tọa Thâm,
cùng có duyên sự phải đi qua sông Hoài. Khi ngồi đò sang
sông, hai vị thấy nhiều người đánh cá đang kéo lưới.
Khi lưới kéo gần đến bờ, có một con cá từ trong lưới
nhảy vọt ra ngoài. Thượng tọa Minh vỗ tay khen: ‘Hay thay!
Giống như người xuất gia.’ Thượng tọa Thâm bèn nói: ‘Đâu
có hay gì, phải ở ngoài lưới mới hay chứ.’ Thượng tọa
Minh bảo: ‘Thế là huynh Thâm chưa hiểu.’ Đi được một
đoạn đường xa, Thượng tọa Thâm mới bừng hiểu lý mình
đã sai.”
Qua câu chuyện trên, hai vị Thượng tọa đúng ở chỗ nào?
Thượng tọa Thâm nói cũng có lý: Đợi ở trong lưới mới
nhảy ra, chi bằng ở ngoài lưới chẳng thích hơn sao? Nhưng
tại sao Thượng tọa Minh lại nói: huynh Thâm chưa hiểu. Như
chúng tôi đã định nghĩa giải thoát, giải thoát là gì? Là
chúng ta đang bị trói buộc, đang bị ép ngặt, thoát được
sự trói buộc, thoát được sự ép ngặt gọi đó là giải
thoát. Nếu không bị trói buộc, không bị ép ngặt còn nói
giải thoát làm gì? Như con cá đang bị lưới bủa vây, không
có lối thoát nó mới nhảy vọt lên để ra khỏi vòng lưới,
đó là nó giải thoát được mành lưới. Nếu nó ở ngoài
lưới rồi, nó đâu cần nhảy chi nữa. Cũng như vậy, nếu
chúng ta là thánh rồi, chúng ta không có phiền não, không có
khổ đau, chúng ta nói tu để giải thoát còn có nghĩa là giải
thoát nữa hay không? Hẳn là không vậy. Sở dĩ chúng ta nói
tu, nói cầu giải thoát là vì chúng ta bị phiền não nhiều,
bị trói buộc nhiều bởi những tâm niệm xấu xa đen tối
của mình mà chính mình chưa chinh phục được. Vì thế chúng
ta phải cố gắng nỗ lực bứt cho đứt hết mọi sợi dây
phiền não để nhảy tung ra một chân trời mới không còn
bị phiền não trói buộc nữa, đó gọi là giải thoát. Nói
tóm lại, đang bị bao vây, đang bị đau khổ, chúng ta mới
nói đến giải thoát, đó là ý nghĩa câu chuyện của hai vị
Thượng tọa khi xưa.
Sau này, Thiền sư Khuê ở Cổ Sơn, Ngài có bình câu chuyện
đó bằng bốn câu tụng:
Võng trung đào xuất tiện nghi đằng,
Hà cá thiên nhiên tuấn nạp tăng.
Hà tợ đương sơ vị nhập võng
Ngộ lai phương thủy thị tri âm.
Tạm dịch:
Nhảy ra khỏi lưới lại bay xa,
Nào phải thiên nhiên bậc tác gia.
Đâu giống buổi đầu chẳng vào lưới,
Tỉnh ra mới biết thật người nhà.
Nhảy ra khỏi lưới lại bay xa: Đây diễn tả hình ảnh con
cá khi vượt ra khỏi lưới, nó bơi lội tung tăng, không còn
dám lẩn quẩn ở đó nữa.
Nào phải thiên nhiên bậc tác gia: Bậc tác gia là người tu
đạt đạo. Người tu đạt đạo là tự sẵn có, hay đạt
đạo là do công phu huân tu, công phu khó nhọc để chinh phục
nội tâm của mình? Có vị Phật nào bỗng dưng thành Phật
chăng? Có vị Bồ-tát nào bỗng dưng thành Bồ-tát chăng? Có
vị A-la-hán nào bỗng dưng thành A-la-hán chăng? Chắc hẳn
là không! Vì thế thành A-la-hán, thành Bồ-tát hay thành Phật
gốc từ công phu tu hành, vượt khỏi phiền não, chinh phục
được nội tâm của mình. Rồi sau đó mới gọi là bậc tác
gia, mới thành A-la-hán, mới chứng được quả Bồ-đề, chớ
không phải bỗng dưng mà được. Nếu chúng ta quan niệm không
cần phải tu, để tự nhiên được kết quả, điều đó không
bao giờ có.
Ý của Thượng tọa Thâm nói rằng phải ở ngoài lưới, không
đợi vô lưới mới nhảy ra cho phí công, cho nên câu sau nói:
Đâu giống buổi đầu chẳng vào lưới: Buổi đầu không
vào lưới mới là sung sướng, mới là an ổn. Quan niệm như
vậy là không đúng.
Tỉnh ra mới biết thật người nhà: Khi thức tỉnh rồi mới
biết người sư huynh của mình (Thượng tọa Minh) nói là hợp
lý. Sự giải thoát của người tu là vì chúng ta đang ở trong
vòng bao vây của phiền não, của các cám dỗ của sáu trần,
khi chúng ta thoát ra, đó gọi là giải thoát, đó chính là
sức mạnh của người tu. Nếu không có những điều đó thì
không nên nói xuất gia làm gì.
Trong việc giải thoát có những trình tự cao thấp khác nhau,
chớ không phải giải thoát thuần y như nhau. Sau đây chúng
tôi dẫn cách giải thoát trong những bộ kinh theo tinh thần
Nguyên thủy và các giải thoát trong những bộ kinh theo tinh
thần Phát triển.
Nói về việc giải thoát theo tinh thần Nguyên thủy, trong kinh
A-hàm, có câu chuyện ngài Phú-lâu-na đến hỏi Phật. Ngài
Phú-lâu-na thưa: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn dạy cho pháp
yếu để con đến chỗ vắng vẻ tu hành.” Đức Phật liền
dạy: “Nếu mắt thấy sắc không đuổi theo, không chấp chặt,
đó là gần với Niết-bàn. Ngược lại nếu mắt thấy sắc
mà đuổi theo mà chấp chặt đó là xa với Niết-bàn. Lỗ
tai nghe tiếng, lỗ mũi ngửi mùi, thân xúc chạm, ý duyên với
pháp trần nếu không đuổi theo, không chấp chặt là gần
với Niết-bàn, còn đuổi theo, chấp chặt đó là xa với Niết-bàn.”
Khi nhận được pháp yếu rồi, ngài Phú-lâu-na ra đi đến
chỗ vắng vẻ tu hành, chỉ trong vòng ba tháng, Ngài đắc quả
A-la-hán. Như vậy pháp yếu đức Phật dạy tu để giải thoát
đâu có khác với chúng ta, sáu căn tiếp xúc với sáu trần
mà không đuổi theo, không dính mắc hay chấp chặt đó là
giải thoát; nếu đuổi theo, nếu chấp chặt đó là trầm
luân. Trầm luân hay giải thoát rất là đơn giản, không đợi
tới kiếp nào khác, mà ngay nơi hiện tại: mắt thấy sắc,
tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm,
ý duyên với pháp trần, chúng ta không đuổi theo, không dính
mắc, ngay nơi đó chúng ta đã giải thoát rồi. Giải thoát
không phải là chuyện xa vời, không phải là việc không với
tới được, mà chính là thật tế, là cụ thể. Ngay nơi chúng
ta ai cũng có khả năng giải thoát chính mình. Có người nào
nghĩ rằng việc đó mình không thể làm nổi không? Ai cũng
có thể làm được. Vì vậy nói đến tu giải thoát mới nghe
tưởng như là xa vời, cao siêu tuyệt đỉnh, nhưng sự thật
hết sức là gần gũi, hết sức là thật tế đối với chúng
ta. Ngược lại sự trầm luân cũng không xa lạ. Nếu chúng
ta mắt đuổi theo sắc rồi bám chặt vào sắc, tai đuổi theo
tiếng rồi bám chặt vào tiếng v.v… đó là chúng ta trầm
luân.
Trong kinh A-hàm, đức Phật kể một câu chuyện cho chư Tỳ-kheo
nghe: Có một bầy khỉ, con khỉ chúa lãnh đạo dạy những
con khỉ nhỏ: Các người đi ăn phải theo lệnh của ta hướng
dẫn chỉ dạy, đừng có tẻ đoàn đi lang thang sẽ bị nguy
hiểm. Khỉ chúa khôn ngoan biết chỗ nào có bẫy, có rập,
chỗ nào có thợ săn, nên nó tránh né không cho đoàn khỉ
tới những chỗ ấy. Nhưng trong đoàn có một con khỉ hơi
ngạo mạn lại tham ăn, nó nghĩ nếu đi theo đoàn mình
ăn uống không được đầy đủ, chi bằng đi riêng rồi kiếm
thức ăn một mình, tha hồ ăn uống no nê rồi trở về đoàn.
Nó tách đoàn ra đi đến một chỗ kia, chẳng may gặp người
thợ săn dùng cây nhựa để bẫy khỉ. Cây nhựa rất dẻo
và chắc, bên cạnh cây nhựa có để miếng mồi nhử khỉ.
Khỉ con dại khờ thấy mồi mừng quá, nhảy tới chụp mồi.
Vừa đưa tay mặt chụp mồi bị nhựa dính tay, tay trái liền
chụp vào để gỡ liền bị dính luôn. Thế là hai tay bị
dính nhựa. Đến chân mặt đưa vô để quào bị dính luôn,
chân trái liền đưa tới để quào dính luôn chân trái. Như
vậy là hai tay hai chân đều bị dính. Cái đầu liền cúi
xuống cạp gỡ cũng bị dính luôn. Chỉ còn cái đuôi ngoắc
ngoắc cố gắng vùng vẫy để quật cái bẫy ra bị dính luôn.
Như vậy sáu cái: hai tay, hai chân, đầu và đuôi đều bị
dính nhựa không thoát thân được. Lúc ấy người thợ săn
đến lượm khỉ bỏ vô giỏ đem về.
Qua câu chuyện trên đức Phật muốn dạy chúng ta điều gì?
Nếu vì quyền lợi vì thích thụ hưởng, con khỉ tách đoàn
ra đi, rồi bị thợ săn đánh bẫy. Khi sáu căn nó (tức sáu
bộ phận) bị dính bẫy rồi, người ta bắt đem về dễ dàng
không còn ai cứu được. Cũng như vậy, người tu xuất gia
ở trong đoàn Tăng hay Ni có vị thầy chỉ dạy hướng dẫn,
nhưng họ thích thụ hưởng riêng, thích làm theo ý mình, dù
thiếu kinh nghiệm mà vẫn đi ra ngoài. Khi ra ngoài, mắt thấy
sắc liền nhiễm sắc, tai nghe tiếng liền nhiễm tiếng, cho
đến sáu căn bị cột dính với sáu trần. Lúc đó ma vương
dẫn đi một cách dễ dàng, như chú thợ săn lượm con khỉ
bỏ vào giỏ một cách dễ dàng, không khó khăn chút nào.
Khi sáu căn dính với sáu trần, chúng ta lọt vào bàn tay của
ai? Của ma vương phải không? Lọt vào bàn tay của ma vương
rồi, chúng ta khó hy vọng được giải thoát. Vì vậy người
tu muốn được giải thoát phải gan dạ như lời đức Phật
dạy: Sáu căn tiếp xúc với sáu trần đừng đuổi theo, đuổi
theo là tham cầu, đừng dính mắc, dính mắc là nhiễm trước.
Không tham cầu, không nhiễm trước, tức nhiên chúng ta được
giải thoát, sự giải thoát đến với chúng ta hết sức là
dễ dàng. Nếu chúng ta đuổi theo sáu trần là tham cầu, dính
mắc nó là nhiễm trước, khi ấy có vùng vẫy mấy cũng khó
thoát khỏi bàn tay của ma vương.
Người tu chúng ta trên cõi đời này muốn được giải thoát
không phải là chuyện mơ màng xa xôi, mà chính là chuyện thật
tế trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Nếu một người
sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà không dính không mắc,
không đuổi theo, người ấy có hào quang chưa? – Đâu có,
chỉ là không dính mắc sáu trần thôi, chớ đâu có hào quang.
Người ấy có biết chuyện quá khứ, vị lai chưa? – Đâu
có biết quá khứ, vị lai gì. Nhưng người ấy có giải thoát
thật chưa? – Có. Như vậy không phải có hào quang mới là
giải thoát, không phải biết quá khứ vị lai mới là giải
thoát, mà chính sáu căn không bị sáu trần lôi cuốn, cột
trói, đó là giải thoát. Nhưng sáu trần có dây cột trói
mình hay không? Hay là mình cột vào nó? Sự thật là mình cột
vào sáu trần, nghĩa là thấy nó là mình đuổi theo rồi bám
chặt vào nó, đó là mình dính mắc vào sáu trần rồi mình
than van cầu xin Phật Trời cứu giúp con. Ai trói buộc mình
mà mình kêu cứu, mình thắp hương cầu giải thoát? Phật
bảo chúng ta buông, mà chúng ta nắm chặt quá, kẹt tay mình
trong đó, rồi than Phật Trời không cứu con! Muốn cúu chúng
ta, đức Phật dạy: “Ngươi chịu khó buông đi.”
Chúng ta thật giống như đứa bé thò tay vào hũ kẹo. Khi tay
không nó thò vào hũ được, nhưng vì thích kẹo quá nên nắm
đầy cứng, rút tay ra không được, rồi kêu khóc. Mẹ thương
con, bảo nó: “Con buông đi, tay không rút ra dễ dàng, chớ
có khó gì.” Như vậy thuật giải thoát là gì? Chỉ là một
cái buông, nếu còn nắm đầy một tay kẹo, làm sao mẹ cứu
con được!
Đức Phật cũng bảo chúng ta đừng dính với sáu trần, các
Thiền sư cũng dạy chúng ta buông đi, hiện nay chúng tôi cũng
nhắc quí vị đừng chạy theo sáu trần. Câu nói hết sức
là đơn giản mà tràn đầy tinh thần giải thoát. Nếu khéo
một chút, gan dạ một chút, đừng tiếc, như đứa bé không
tiếc kẹo, thì lấy tay ra dễ dàng không phải than khóc.
Trên đường tu, chính vì cầu giải thoát, chúng ta đừng tham
luyến, đừng đắm trước sáu trần. Không tham luyến, không
đắm trước sáu trần là nhân của giải thoát, chớ không
tìm điều gì khác lạ. Không phải có thần thông, không phải
biết quá khứ vị lai, không phải có hào quang sáng chói, mà
giải thoát được. Các quỉ thần cũng có hào quang, cũng biết
quá khứ vị lai, mà vẫn không được giải thoát. Lý giải
thoát của đạo Phật vừa cụ thể vừa thật tế mà cũng
rất dễ dàng phải không? Dễ hay khó? Chỉ cần đừng làm
đứa bé tham kẹo thôi, nếu tham kẹo thì khó, nếu không tham
kẹo thì dễ chớ có khó gì đâu. Buông hết thì lấy tay ra
dễ dàng, không có gì trở ngại, nếu nắm cứng mà muốn
rút tay ra, thật là khó trăm bề. Tất cả quí vị xuất gia
và tại gia có ai nghĩ mình ngu khờ như đứa bé ham kẹo đó
không? Tất nhiên không có ai ngu khờ như vậy, chỉ cần buông
thì lấy tay ra dễ dàng. Đức Phật đã dạy: “Các ngươi
buông đi, đừng có dính với sáu trần, đó là giải thoát.”
Nếu chúng ta không chịu buông, mà cầu xin Phật giúp cho con
được giải thoát, thì giống như đứa bé tham ăn kẹo vậy.
Buông đi thì hết đau khổ, đây là giải thoát theo tinh thần
Nguyên thủy.
Chúng tôi nói đến sự giải thoát trong nhà thiền. Ngày xưa,
có một thiền khách đến hỏi thiền sư Huệ Hải: “Thế
nào là giải thoát.” Ngài Huệ Hải trả lời: “Căn trần
không dính nhau là giải thoát.” Câu trả lời hết sức là
đơn giản! Sáu căn không dính mắc sáu trần, đó là giải
thoát. Câu trả lời vừa đơn giản vừa thật tế, nhưng mới
nghe qua chúng ta thấy khó hiểu quá. Vì sao khó hiểu? Vì chúng
ta tưởng tượng sự giải thoát rất là xa vời, phải có
thần thông biến hóa, đi đến các cõi trời v.v…, không ngờ
sáu căn không dính với sáu trần là giải thoát. Sự thật
quá đơn giản này làm người đọc sách thiền cho là khó
hiểu.
Câu chuyện thứ hai trong nhà thiền là: Tổ Đạo Tín khi còn
là Sa-di đến hỏi đạo với Tổ Tăng Xán: “Bạch Hòa thượng,
làm sao được giải thoát?” Tổ Tăng Xán liền hỏi: “Ai
trói buộc ngươi?” Ngài Đạo Tín đáp: “Không ai trói buộc
cả.” Tổ Tăng Xán bảo: “Cầu giải thoát làm gì?” Ngài
Đạo Tín liền nhận được lý giải thoát. Ngài quan niệm
như chúng ta hiện giờ, Ngài nghĩ mình đang bị trói buộc,
đang bị bủa vây rất là khổ sở, nên mới cầu giải thoát.
Nhưng chúng ta phải nhìn thẳng xem cái gì trói buộc, cái gì
bủa vây chúng ta? Nếu nhìn thẳng không thấy cái gì trói
buộc, cái gì bủa vây cả, ngay đó chúng ta được giải thoát
rồi. Câu chuyện đối đáp giữa Tổ Tăng Xán và Tổ Đạo
Tín nói lên ý nghĩa đó: “Không ai trói buộc thì cầu giải
thoát làm gì?” Chúng ta nghĩ rằng những phiền não, những
tâm niệm đen tối xấu xa đang trói buộc chúng ta, cho nên
chúng ta cầu giải thoát. Nhưng Tổ liền bảo chúng ta nhìn
thẳng xem những phiền não, những tâm niệm ấy có thật sự
trói buộc chúng ta hay không? Khi nhìn thẳng lại chúng nó liền
biến mất. Chúng biến mất không còn nữa thì còn gì mà cầu
giải thoát! Cũng chính với tinh thần này Tổ Bồ-đề-đạt-ma
đã dạy Tổ Huệ Khả. Tổ Huệ Khả than: “Tâm con bất an,
xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm.” Tổ Bồ-đề-đạt-ma
bảo: “Đem tâm ra ta an cho.” Tâm bất an của Tổ Huệ Khả
là tâm gì? Tổ thấy đó là tâm phiền não, tâm trói buộc,
tâm xấu xa. Các tâm đó đang làm cho mình bất an, nên Ngài
cầu được an tâm, cũng như Tổ Đạo Tín cầu được giải
thoát. Khi ấy Tổ Bồ-đề-đạt-ma chỉ cần bảo: “Đem tâm
ra ta an cho.” Ngài Huệ Khả nhìn sững lại xem tâm ra làm
sao mà đem. Nhìn sững lại thì nó mất tiêu, nó tan hoang không
còn, Ngài liền trả lời: “Con tìm tâm không được.” Tổ
Bồ-đề-đạt-ma bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi.” Như
vậy pháp an tâm của Tổ Đạt-ma và “cầu giải thoát làm
gì” của Tổ Tăng Xán có khác nhau không? Thật là không hai,
hình thức có khác, nhưng tinh thần không khác. Tổ Tăng Xán
chỉ cho Tổ Đạo Tín con đường giải thoát bằng cách nhìn
lại xem cái gì trói buộc mình. Nhìn lại không thấy có gì
trói buộc, ngay đó đã giải thoát rồi.
Chúng tôi hiện nay sống cách xa Tổ hơn ngàn năm, chúng tôi
dạy quí vị tu phải làm gì? Quí vị nghĩ rằng các phiền
não làm cho mình khổ đau, buồn phiền, bực bội. Chúng tôi
bảo quí vị các thứ phiền não ấy, quí vị hãy buông đi.
Nhìn lại chúng nó, thấy biết mặt thật của chúng nó rồi,
buông đi đừng theo chúng thì hết phiền não, hết khổ đau,
đó tức là tu vậy. Việc này đâu có khác với lời dạy
người xưa bao nhiêu. Tinh thần giải thoát nằm ngay chỗ nhìn
thẳng, thấy mặt thật của những phiền não. Thấy được
mặt thật của chúng rồi, thì tự chúng nó tan hoang. Nói biết
vọng, nói buông đi là một lối nói thôi. Sự thật nhìn lại
thấy nó, thì nó đã mất hết rồi, còn gì nữa mà phải
biết, còn gì nữa mà phải buông. Đây là trọng tâm trong
Thiền tông mà chúng tôi đã chỉ dạy quí vị. Trọng tâm
đó, chính Tổ Bồ-đề-đạt-ma đã dạy Tổ Huệ Khả, chính
Tổ Tăng Xán đã dạy Tổ Đạo Tín. Đó là chủ đích chúng
tôi muốn chỉ cho quí vị.
Các Tổ dạy chúng ta tu giải thoát đúng với tinh thần đức
Phật đã nói: “Tất cả nước biển chỉ có một vị, vị
mặn; tất cả giáo pháp của ta chỉ có một vị, vị giải
thoát.” Như đoạn đã nói: Sáu căn tiếp xúc với sáu trần,
không dính không mắc, là giải thoát. Đoạn này Tổ dạy:
Nhìn các tâm niệm đang chạy theo sáu trần, biết chúng không
thật, đó là giải thoát. Đoạn trước nói về các căn bên
ngoài không cho dính với trần cảnh, đoạn này nói về các
tâm niệm bên trong, ngay từ cội gốc, các tâm niệm vừa dấy
khởi chạy theo cảnh, chúng ta biết sự thật về chúng nó
thì chúng nó tan hoang ngay từ trứng nước. Chúng ta dẹp các
tâm niệm ngay lúc còn trong bào thai, không đợi chúng nó dính
với cảnh mới tháo gỡ. Như vậy sự giải thoát này là ngay
bên trong, sâu hơn và tế nhị hơn. Giải thoát nói ở đoạn
trên là sáu căn không dính mắc với sáu trần là giải thoát
theo tinh thần nguyên thủy, giải thoát ở đây là dẹp các
tâm niệm ngay khi còn là trứng nước, là giải thoát theo tinh
thần nhà thiền. Các niệm vừa dấy khởi đã bị tiêu diệt
ngay, không có niệm đuổi theo trần cảnh: Mắt thấy sắc
không dính với sắc, tai nghe tiếng không dính với tiếng,
mũi ngửi mùi không dính với mùi… Các niệm đã diệt rồi,
lo gì chúng ra nơi mắt, nơi tai, nơi mũi mà dính với sáu trần
được. Đó là chủ yếu của sự tu thiền mà chúng tôi thường
gọi là Tổ sư Thiền.
Để hiểu rõ hơn tinh thần giải thoát trong nhà thiền chúng
tôi xin dẫn bài kệ của một Thiền sư đời Trần ở Việt
Nam, ngài Điều Ngự Giác Hoàng, tức là vua Trần Nhân Tông.
Bài kệ “Sơn Phòng Mạn Hứng” như sau:
Thùy phược cánh tương cầu giải thoát,
Bất phàm hà tất mịch thần tiên.
Viên nhàn, mã quyện nhân ưng lão,
Y cựu vân trang nhất tháp thiền.
Tạm dịch:
Ai trói lại mong cầu giải thoát,
Chẳng phàm nào phải kiếm thần tiên.
Vượn nhàn, ngựa nhọc, người cũng lão,
Như cũ am mây một giường thiền.
Ngài Trần Nhân Tông nói rất rõ: “Chúng ta cầu giải thoát
vì chúng ta thấy bị trói buộc, nhưng ai trói buộc chúng ta?
Chẳng qua là những tâm niệm tham mê đắm trước trói buộc
chúng ta. Những tâm niệm ấy vừa dấy lên, chúng ta đã thấy
nó rồi, thấy nó tức thì nó tan hoang, như vậy còn ai trói
buộc mình mà cầu giải thoát? Biết các tâm niệm là tạm
bợ, là hư dối, chúng ta không chạy theo nó, đó là giải
thoát. Còn thêm một ý nghĩa nữa: Nói trói buộc là trói buộc
thân năm uẩn này, còn một cái không bao giờ bị trói buộc,
đó là cái gì? Đó là cái không tên, phải không? Cái đó
không phải phàm, không phải thánh. Không phải phàm, cầu thành
tiên làm gì? Không phải phàm, cần cầu thánh hay không? Sở
dĩ chúng ta muốn được thành thánh là vì chúng ta thấy mình
là phàm phải không? Cái đó không phải phàm, tức nhiên không
cầu thành thánh, cũng không cầu thành thần tiên chi nữa.
Vượn nhàn, ngựa nhọc, người cũng lão
Vượn chỉ cho các niệm dấy khởi của chúng ta lăng xăng
như khỉ vượn. Ngựa chỉ cho ý dong ruổi bên ngoài. Tâm viên
ý mã khi đã yên rồi, không còn lăng xăng nữa, khi ấy chúng
ta cũng đã già rồi không còn ham muốn không còn đuổi theo
cái gì nữa. Khi con người không còn ham muốn, tâm viên ý
mã không còn lăng xăng, lúc ấy ra làm sao?
Như cũ am mây một giường thiền.
Lúc ấy chỉ còn một giường thiền ở trong am mây mà thôi.
Giường thiền đó giống như giường của ai, quí vị có biết
không? Giường thiền này là giường ông Duy-ma-cật nằm bệnh.
Trên đường tu lúc nào tâm viên ý mã chịu dừng chịu lặng,
lúc đó chúng ta sẽ đầy đủ cảnh viên mãn của con người
giải thoát hiện tiền. Sự giải thoát viên mãn đó được
tượng trưng bằng một chiếc giường thiền, giường của
ông Duy-ma-cật nằm bệnh v.v… Đối với sự tu hành, cốt
làm sao tâm viên ý mã mỏi mệt, nằm yên ngủ, lúc đó cái
chân thật hiện nguyên hình, không phải tìm kiếm ở đâu
xa xôi.
Chúng tôi dẫn tiếp theo đây câu chuyện của Lục Tổ nhân
nghe một câu trong kinh Kim Cang mà ngộ đạo. Ngũ Tổ giảng
kinh Kim Cang đến đoạn ngài Tu-bồ-đề hỏi Phật: “làm
sao để trụ tâm” tức là: người cầu Vô thượng Bồ-đề
làm sao an trụ được tâm của mình (tức là cái tâm Vô thượng
Bồ- đề), Phật trả lời: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm,
bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô
sở trụ nhi sanh kỳ tâm.” Nghĩa là người phát tâm Vô thượng
Bồ-đề không nên trụ nơi sắc, nơi thanh, nơi hương, nơi
vị, nơi xúc, nơi pháp. Không nên có chỗ trụ đó là trụ.
Cho nên ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, tức là không nên
có chỗ trụ mà sanh tâm Vô thượng Bồ-đề. Khi nghe tới
câu đó, Lục Tổ liền thốt lên rằng:
“Đâu ngờ tánh mình xưa nay vốn thanh tịnh,
Đâu ngờ tánh mình xưa nay vốn tự đầy đủ,
Đâu ngờ tánh mình hay sanh muôn vật v.v…”
Các chữ đâu ngờ, nói lên chỗ ngộ của Lục Tổ, Ngài ngộ
cái gì? Ngài ngộ sáu căn không dính với sáu trần, đó là
giải thoát, phải không? – Chưa phải. Nếu Ngài ngộ sáu
căn không dính với sáu trần, Ngài là Nhị thừa rồi, chớ
không phải là một vị tổ trong Thiền tông. Câu hỏi là:
“Người phát tâm Vô thượng Bồ-đề, muốn an trụ tâm ấy,
phải làm sao?” Đáp: Không dính với sáu trần, là an trụ
tâm Vô thượng Bồ-đề. Ngay nơi câu đáp này Lục Tổ thấy
rõ rằng: Tâm không chạy theo sáu trần là cái Vô thượng
Bồ-đề hiện tiền. Cái Vô thượng Bồ-đề đó đã
sẵn thanh tịnh, đã sẵn đầy đủ mà nó dấy niệm cho nên
hay sanh muôn pháp, mới đuổi theo muôn pháp. Ở đoạn trên
nói sáu căn không dính với sáu trần đó là giải thoát, mà
chúng ta không biết cái gì giải thoát, không có một cái chủ
đề của sự giải thoát. Nhưng ở đây, khi nghe câu đáp,
Lục Tổ thấy được mặt thật của sự giải thoát rồi.
Vì thấy được mặt thật đó, nên Ngài mới thốt lên những
câu đâu ngờ, đâu ngờ mình như vậy, đâu ngờ nó sẵn như
vậy v.v… Khi nghe thốt lên những câu đó, Ngũ Tổ biết đệ
tử đã ngộ, cho nên ngang đó mới truyền y bát cho.
Chúng ta thấy rằng, đối với Thiền tông không phải chỉ
gỡ hết những dính mắc bên ngoài, gọi là giải thoát, giải
thoát bằng một danh từ rỗng, mà phải thấy được mặt
thật của sự giải thoát, mà các bộ kinh Nhị thừa chưa
đề cập tới. Giải thoát là cởi mở, cởi mở là động
từ chớ không phải là chủ từ. Như vậy cởi mở cái gì?
Ở đoạn trước, theo tinh thần Nguyên thủy, chúng ta nghĩ
rằng được giải thoát mà không biết cái gì được giải
thoát. Nhưng tới đây, với tinh thần nhà Thiền, Lục Tổ
không thấy như vậy. Ngài thấy rằng cái giải thoát đó là
tánh Bồ-đề sẵn có của chính chúng ta. Tánh Bồ-đề đó
thanh tịnh từ thuở nào, tánh Bồ-đề đó đầy đủ muôn
pháp, tánh Bồ-đề đó đầy đủ diệu dụng. Sống được
với tánh Bồ-đề đó gọi là giải thoát. Giải thoát là
tánh Bồ-đề không bị nhiễm với sáu trần, nó là cái chủ
thật của mình. Vì vậy trong nhà thiền gọi nó là Bản lai
diện mục, là Chủ nhân ông v.v… Hiểu như quí vị mới thấy
cái trình tự tu tiến của người tu, nếu không chúng ta có
thể hiểu lầm. Lục Tổ ngộ được lý giải thoát, không
phải chỉ là động từ giải thoát mà Ngài thấy được ông
chủ là người không bị trói buộc, ông chủ mới là chủ
từ. Ông chủ đó mới thật là mình, sống được với ông
chủ đó mới thật là viên mãn giải thoát.
Sau đây chúng tôi dẫn thêm câu chuyện con khỉ: Ngài Ngưỡng
Sơn đến hỏi đạo với ngài Trung Ấp: “Bạch Hòa thượng,
thế nào là nghĩa Phật tánh?” Ngài Trung Ấp đáp: “Ta nói
thí dụ thì ông hiểu. Như có con khỉ ở trong cái nhà sáu
cửa. Bên ngoài có một con khỉ đến mỗi cửa kêu chéo
chéo, con khỉ bên trong cũng đáp lại chéo chéo. Đến mỗi
cửa nó mỗi kêu, bên trong đều đáp ứng lại…” Nghe tới
đó ngài Ngưỡng Sơn mới hỏi: “Bạch Hòa thượng, nếu
con khỉ trong nhà nó ngủ thì sao?” Hòa thượng Trung Ấp liền
từ giường thiền bước xuống, chạy lại nắm tay ngài Ngưỡng
Sơn nói: “Chéo chéo ta và ông đã thấy nhau rồi.”
Qua câu chuyện trên, quí vị hiểu thế nào?
Cái nhà sáu cửa là thí dụ cho sáu căn của chúng ta, con khỉ
ở ngoài chéo chéo là thí dụ cho sáu trần. Bởi sáu căn duyên
với sáu trần, con khỉ ở trong nó ứng lên để đối đáp,
nên gọi là dính mắc. Nếu con khỉ ở trong nó ngủ, con khỉ
ở ngoài kêu chéo chéo cách mấy, nó cũng không ứng đáp,
phải vậy không? Tuy mỗi cửa đều có kêu, có động, mà
vì nó ngủ nên nó không đáp lại, nhưng nó vẫn có mặt trong
nhà. Hình ảnh con khỉ ngủ trong nhà giống như chỗ Lục Tổ
thấy, Ngài thấy rằng cái đó nó sẵn có, nó thanh tịnh từ
thuở nào.
Tinh thần Thiền tông chỉ cho chúng ta thấy cái không dính
với sáu trần gọi là giải thoát, không phải động từ giải
thoát suông, mà có ông chủ nằm yên không chạy ra. Sống được
với ông chủ đó mới là thật sự giải thoát, giải thoát
là ông chủ đó, chớ không phải giải thoát bằng một tên
suông.
Chúng ta tu thiền cốt làm sao sống được với ông chủ, ông
chủ đó là ai? Chúng tôi có phê bình câu chuyện của một
Phật tử nói rằng nước biển nổi sóng ầm ầm mà nó không
biết có chứa muối bên trong. Đến khi nước tràn vào bờ,
bị ngăn chận lại, rồi khô đi, bấy giờ chất muối mới
hiện
ra. Như vậy muối khi ở biển hòa tan với nước, nó đã có
sẵn trong nước. Khi nước bốc hơi muối cô đọng lại. Như
vậy nước và muối là hai, cho nên tôi chấm câu chuyện đó
dưới điểm trung bình.
Còn ở đây Lục Tổ nói: “không phải hai”, chính ông chủ
đó, đâu ai khác hơn là mình. Nhưng vì mê mình sống với
cái điên đảo vọng tưởng, rồi bị nó dẫn chạy, gọi
đó là luân hồi, là trói buộc. Nếu tỉnh mình không chạy
theo cái điên đảo vọng tưởng, mình sống thật với ông
chủ, thì ông chủ đó lúc nào mà chẳng hiện tiền.
Bên ngoài có kêu gọi, dù không đáp lại, ông vẫn mở
mắt nhìn mà không dính mắc. Trường hợp con khỉ trong nhà
cũng vậy, đừng tưởng đợi nói đối đáp, nó mới có mặt.
Chính khi không đối đáp, nó cũng vẫn hiện hữu.
Chúng ta giải thoát bằng cách là phải sống thật với ông
chủ của mình, hay là với bản lai diện mục của chính
mình, cái đó đã có sẵn trong chúng ta muôn đời mà chúng
ta quên đi, chúng ta không biết. Ngày nay được Phật Tổ nhắc
chỉ, chúng ta phải ráng nỗ lực để sống trở lại. Quên
ông chủ, gọi đó là mê, sống trở về với ông chủ gọi
đó là tỉnh là giác. Thành kẻ mê làm chúng sanh trầm luân
trong sáu đường, đó là kẻ đau khổ, gọi là bị phiền
trược. Nếu tỉnh, trở về với ông chủ, không còn bị sáu
trần lôi kéo nữa, chỉ một ông chủ hoàn toàn thanh tịnh,
khi đó chúng ta hoàn toàn giải thoát. Giải thoát đó không
có nghĩa là chúng ta phải nhờ ai phụ giúp, mà chính là chúng
ta tự biết tỉnh giác, biết trở về với chính mình. Sự
giải thoát là bổn phận của chúng ta phải trở về, chớ
không ai làm thế, cũng không ai bắt buộc. Rất đáng thương
cho chúng sanh tự có của báu mà không biết, rồi phải thở
than, đau khổ muôn đời. Chúng ta được vinh hạnh, được
phúc đức nhờ Phật Tổ chỉ, chúng ta tuy chưa thấy tạng
mặt tạng mày, nhưng cũng mang máng biết, mang máng tin, đó
cũng là phúc đức lớn, đó là hồng ân sâu rộng Phật Tổ
đã ban bố cho chúng ta.
Mỗi một năm mới là một lần đưa chúng ta đến gần chỗ
chết, chúng ta có duyên phúc lớn, được phước lành nhiều,
mong rằng tất cả ráng làm bổn phận của mình để khỏi
uổng một đời làm người mà không được tỉnh giác. Và
cũng tự mình không để mình bị gạt, tức là chạy theo cái
giả dối, điên cuồng mà quên mất cái chân thật của chính
mình. Được như vậy mới xứng đáng, là con dòng họ Thích,
mới xứng đáng là kẻ quyết chí đi theo con đường Phật
Tổ đã đi.
Hôm nay là ngày đầu năm, chúng tôi mong rằng sang năm mới
này, tất cả quí vị có được sức tỉnh giác mạnh hơn,
và chính quí vị càng ngày càng nhận thấy tường tận cái
chân thật của chính mình rồi sống trở về, đừng bị ngoại
cảnh lôi cuốn, mà phải phiêu bạt, trầm luân đau khổ.
NAM-MÔ
BỔN SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT.
NHỮNG NIỀM VUI CHÂN THẬT
BÀI
NÓI CHUYỆN VỚI PHẬT TỬ
XUÂN
MẬU THÌN 1988
Nam-mô
Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thưa tất cả quí Phật tử,
Mỗi năm đến ngày Tết Nguyên Đán, tất cả Phật tử gần
xa đều tựu hội về đây để trước là lễ Phật, nhân
ngày vía đức Di-lặc, sau là để mừng tuổi chúc thọ chư
Tăng. Phần lễ Phật đã xong, đến phần chúc mừng năm mới.
Theo tinh thần đạo Phật, chúng ta tu không phải là mỗi năm
khi Tết đến chúc mừng nhau sống lâu trăm tuổi muôn tuổi.
Chúc như vậy không có kết quả gì, lời chúc đó chỉ rỗng
suông thôi. Vì vậy thay vì chúc thọ suông chúng tôi sẽ nói
chuyện với quí Phật tử gọi là nhắc nhở đường lối
tu hành trong ngày đầu năm, đồng thời cũng là chúc mừng
nhau trên đường tu mỗi ngày một thăng tiến, chớ không để
dừng lại một chỗ mãi mãi. Vì lẽ đó ngày hôm nay thay vì
chúc Tết thường, chúng tôi sẽ nói về cái vui của đời
và cái vui của đạo trong mùa xuân cho quí Phật tử nghe.
Tất cả Phật tử, sang đầu xuân ai ai cũng thấy đó là mùa
vui tươi, mùa ấm áp, mùa hy vọng, cho nên tất cả cùng chúc
mừng, cùng vui vẻ với nhau. Vì vậy chúc xuân hay là vui xuân
đã có từ xưa đến giờ. Hôm nay chúng ta phải tìm cho thấu
đáo, cho tường tận thế nào là vui xuân, cái vui thật sự
của cuộc đời và cái vui thật sự trong đạo. Hai cái vui
đó nó gần nhau hay không? Nó có lợi ích thiết thực như
thế nào? Đó là điều chúng tôi sẽ nói chuyện với quí
vị hôm nay:
Trước hết chúng tôi nói cái vui của đời.
Quí vị thường thấy ở ngoài đời những lúc nào chúng ta
được vui mừng? Đó là lúc chúng ta được một cái gì hơn
thiên hạ, phải vậy không? Được cái gì thắng hơn người,
lúc đó chúng ta vui. Hơn người đó là cái vui của mình, có
phải vậy không? Thí dụ như quí vị đi vào các cuộc chơi
như cuộc đá banh hay cuộc đánh cờ v.v… Khi mình cười là
lúc nào? Lúc thua hay là lúc thắng? Lúc thắng thì vỗ tay hoan
nghênh cùng vui, cùng cười. Nhưng khi chúng ta thắng chúng ta
cười, những người thua cuộc ra sao? Tự nhiên họ phải buồn
khổ! Như vậy cái vui của cuộc đời là vui khi mình thắng,
mà người thua phải buồn. Thế thì cái vui của chúng ta là
cái vui trọn vẹn của người trong cuộc, hay là chỉ có một
người vui rồi một người buồn, hay là một nhóm vui rồi
một nhóm buồn? Như vậy cái vui của đời là vui trong thắng
cuộc, mà mình thắng thì người khác phải thua, kẻ thắng
thì vui, người thua phải khổ, phải vậy không? Rõ ràng chúng
ta vui trong cái đau khổ của người khác, chớ không phải
là cái vui trọn vẹn, lẽ thật là như vậy. Người thế gian
nghĩ rằng làm sao cho mình được vui, nghĩa là mình chơi thế
nào cũng phải hơn người, thế là mình được vui. Nếu một
lần thua là một lần buồn. Những người khác họ đến với
chúng ta, họ chơi với chúng ta, họ cũng muốn hơn để họ
được vui. Như vậy vui đó là vui trong giành giựt hơn thua,
ai được hơn thì vui, ai bị thua thì khổ. Như vậy mới thấy
rõ cái vui của thế tục là cái vui trong đau khổ.
Ngược lại, cái vui của người tu khác hơn cái vui của người
thế tục. Người thế tục vui khi thắng được người, người
tu vui khi thắng được mình. Thí dụ người Phật tử khi bị
ai nói những lời kích bác làm cho tự ái mình nổi lên, vừa
khi cơn sân bừng bừng nổi dậy, lúc đó mình liền tỉnh
biết cái sân này là xấu, là không xứng đáng với người
Phật tử, vừa biết như vậy mình liền ném nó xuống hay
bỏ nó đi. Do mình buông bỏ, qua được cơn nóng giận, mình
cảm thấy bình tĩnh trở lại, lúc đó mình có vui không? Mình
vui vì mình đã thắng được mình, mình đã chiến thắng chớ
không phải đầu hàng. Như vậy một lần thắng được mình
là một lần vui. Cái vui đó có làm ai khổ hay không? Rõ ràng
mình vui mà người kích bác mình họ thấy mình không trả
lời, không phản đối, họ cũng không có buồn phải vậy
không? Như vậy cái vui đó mới là cái vui trọn vẹn, vui thắng
mình mới là cái vui trọn vẹn. Cái vui thắng người là cái
vui của đau khổ, chớ không phải cái vui thật, mà người
đời cứ đuổi theo cái vui đó để người khác phải khổ.
Người biết tu chỉ vui trong cái thắng mình: một lòng tham
dấy lên mình thắng được nó là mình vui, một cơn giận
nổi lên mình thắng được nó là mình vui, những cái cám
dỗ mà mình thắng được nó là mình vui. Những cái vui đó
chỉ có lợi cho nội tâm mình mà không có hại cho ai. Như
vậy cái vui của đạo mới là cái vui thật sự, vui mà không
có khổ cho ai. Đó là bước thứ nhất.
Đến bước thứ hai, người đời vui khi nào họ được. Thí
dụ như họ đi đường thấy ai làm rớt một món đồ quí
giá, họ lượm được, lúc đó vui hay buồn? Dĩ nhiên lúc
đó rất là vui. Mình được may mắn mình vui, nhưng người
mất vật quí có vui không? Cái được mà mình vui đó đổi
lại bao nhiêu nước mắt của kẻ bị mất. Hơn nữa, như
trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta làm cái gì gặp thời
gặp thế, mua đâu được đó, bán đâu đắt đó, cái gì
cũng hơn người, cái gì cũng được, khi đó mình vui quá,
nhưng người khác thì sao? Thí dụ như ngày hôm qua mình mua
món đồ giá một ngàn đồng, hôm nay bỗng dưng lên giá một
ngàn rưỡi đồng, mình vui quá vì mình được lời nhiều,
nhưng người bán cho mình hôm qua, người đó có buồn không?
Tất nhiên là buồn, vì họ lỗ, họ thiệt thòi mà mình được
vui. Như vậy cái được của mình là vui, mà cái vui của mình
là cái buồn của kẻ khác.
Người Phật tử chúng ta nếu biết vui thì phải vui làm sao?
Không phải vui trong cái được, mà vui trong cái lìa. Nghe nói
thì quí vị buồn quá, lìa mà vui cái gì? Nhưng không ngờ
lìa mới là vui. Người đời được là vui, trái lại người
tu lìa mới là vui. Tại sao lìa là vui? Thí dụ như mình khi
trước bị bệnh ghiền thuốc nó hành mình cay đắng, tốn
tiền tốn bạc. Bây giờ mình bỏ được bệnh ghiền thuốc,
có vui không? Lìa được bệnh ghiền đó là vui, mà vui đó
có ai khổ không? Niềm vui đó làm cả nhà vui lây, phải không?
Như vậy đó mới là cái vui thật. Hồi xưa mình say rượu
mê man, nay quán này mai quán nọ, bao nhiêu tiền cũng không
đủ. Bây giờ mình bỏ rượu tức lìa được rượu, gia đình
mình vui không? Mình thắng được rượu, mình lìa được ghiền
rượu, bản thân mình vui mà gia đình cũng vui. Như vậy do
lìa mà vui đó là người tu, do được mà vui đó là người
đời. Khi mình biết tu, lìa những bệnh ghiền rượu, ghiền
thuốc, ghiền á phiện, tất cả những bệnh ghiền mình bỏ
được, đó là vui.
Xa hơn nữa, lìa được ngũ dục ở thế gian đó là nguồn
vui chân chánh của người học đạo. Người tu thiền khi được
định Sơ thiền gọi là ly sanh hỉ lạc. Ly tức là lìa, lìa
cái gì? Lìa cái mê đắm ngũ dục: sắc, thanh, hương, vị,
xúc. Năm điều này mà mình lìa được không dính không nhiễm
nữa gọi đó là ly. Lìa được ngũ dục rồi thì lòng mình
khoan khoái nhẹ nhàng gọi là được định Sơ thiền: ly sanh
hỉ lạc. Thí dụ khi trước mình có tật thích đi xem hát,
có gánh hát nào lại gióng trống đi ra là mình nôn nao phải
đi xem hát cho kỳ được. Bây giờ biết tu, khi nghe gánh hát
gióng trống, mình nhất định thôi bỏ không đi xem hát. Cho
đến khi gánh hát dọn đi mà mình cũng không bén mảng tới
rạp hát. Đó là mình thắng hay mình thua? Mình lìa được
cái mê xem hát, đó là mình thắng, mình cảm thấy vui. Cái
vui đó có tốn hao xu cắc nào đâu, không tốn tiền, không
tốn bạc mà mình được sự an ổn. Cái vui đó do lìa mà
được. Do xa lìa ngũ dục, không bị nhiễm trước, chúng ta
được vui, gọi đó là ly sanh hỉ lạc được định Sơ thiền.
Kế nữa người đời thích vui, vui trong cảnh nhộn nhịp,
vui nơi chỗ đông đảo ồn ào. Thí dụ như chỗ nào là chỗ
vui của người đời? Rạp hát, sân đá bóng, phòng trà v.v…
Những chỗ đó có chỗ nào là yên tĩnh đâu, toàn là chỗ
nhộn, chỗ ồn. Nhưng đó là nơi họ vui nên họ tìm tới.
Nhưng cái vui ồn náo nhộn nhịp đó có lâu bền hay không?
Thí dụ như nơi rạp hát, khi người hề họ khéo giễu làm
cho mình cười, cười ồ lên, mình cười đến nôn ruột đi
nữa, nhưng một lát khi ra về, rồi cũng hết cười. Mình
chỉ cười được khi trước mắt mình thấy, lỗ tai mình
nghe những chuyện họ khéo gợi, lúc đó mình vui. Ra khỏi
nơi đó rồi, không được vui nữa, nhất là đi xem hát tới
mười một giờ mười hai giờ đêm mới về, vừa đi dọc
đường vừa buồn ngủ, lúc đó có vui không? Hết vui rồi.
Hơn nữa nếu tiền bạc mình eo hẹp, khi xem hát ra về, túi
tiền mình sao nó trống rỗng! Nhớ lại ngày mai không đủ
tiền mua gạo, lúc đó có còn vui không? Cho nên cái vui mình
muốn thấy, muốn được ở chỗ ồn náo, cái vui đó chỉ
là vui nhất thời, tạm bợ, không có lâu bền.
Ngược lại, người học đạo, người biết tu không thích
cái vui ồn ào mà lại thích vui trong yên lặng, ngồi những
nơi yên tĩnh, một mình nhìn trời, nhìn mây, ngắm hoa ngắm
kiểng, lòng mình phơi phới nhẹ nhàng. Cái vui đó là vui của
người trong đạo. Vì vậy người biết tu thiền lấy vui thiền
định làm niềm vui của mình, cho nên gọi Nhị thiền là định
sanh hỉ lạc. Do tâm được yên định sanh ra vui mừng, cái
vui mừng đó có tốn hao gì không? Do tâm định, vui mừng phát
ra, không có tốn hao gì cả. Vui trong yên định là cái vui
sáng suốt, tỉnh táo, khỏe khoắn, an nhàn, không phải cái
vui ồn ào, nhọc nhằn mỏi mệt. Vui ở chỗ nhộn nhịp làm
cho mình mất sức khỏe, tiêu hao nghị lực, vừa tốn của
vừa tốn công, vừa làm cho mình phải suy mòn sức lực. Vui
của người tu, nơi yên lặng, trong lúc thiền định, cái vui
đó nhẹ nhàng thanh thoát, tâm hồn sáng tỉnh đó mới là
cái vui chân thật.
Kế nữa, người đời vui trong mê lầm, không phải vui trong
tỉnh giác. Mê lầm là sao? Thí dụ đánh bạc họ cho đó là
vui. Cái vui đó có phải là vui thật không. Khi đánh mà ăn
thì vui, nếu thua thì khổ. Mà đánh bạc trăm lần đều ăn
hết hay sao? Như vậy cờ bạc là khổ mà người ta tưởng
là vui, rồi phải tốn tiền khổ sở. Đến sòng bạc mà họ
nói là đi mua vui, cái vui đó là vui trong mê lầm. Rồi đến
uống rượu họ cho là vui. Thí dụ năm bảy người rủ nhau
tới quán rượu, chén thù chén tạc, người nào người nấy
say lúy túy, cái đó vui không? Người đời cho ăn nhậu là
vui, nhưng khi say lúy túy rồi nôn mửa, có vui không? Ngồi
quán uống rượu họ cho đó là vui nhưng sự thật là rượu
làm cho sức khỏe tiêu mòn, tiền bạc tốn hao, tăng trưởng
si mê. Như vậy có phải là vui trong mê lầm hay không?
Đối với người học đạo, người Phật tử, vui của mình
là vui giác ngộ. Thí dụ đang ngồi thiền có vấn đề khi
trước mình không hiểu, nay bỗng dưng mình hiểu, hiểu đó
thật là vui, có khi vui quá mình cười to lên… Đó là do giác
ngộ mà vui. Hoặc khi mình đang đi, một vấn đề khi trước
mình chưa thông, bỗng dưng tâm mình sáng ra mình hiểu được,
lúc ấy vui không? – Rất là vui do giác ngộ mà vui. Cái vui
đó có nhọc nhằn tốn hao gì đâu. Càng vui thì trí tuệ càng
sáng phải không? Cái vui đó đưa chúng ta đến chỗ an lạc
hoàn toàn vì đó là cái vui của giác ngộ giải thoát. Ngày
xưa các vị Thiền sư ngồi tu, đến khi các ngài bừng ngộ,
các ngài rất là hoan hỉ. Do giác ngộ mà các ngài hoan hỉ.
Như vậy cái vui của người tu khác với cái vui của người
đời. Người đời lấy mê lầm cho là vui, người tu do giác
ngộ mà vui.
Thêm nữa, người đời vui trong ràng buộc. Ràng buộc là sao?
Là thương yêu, quyến luyến. Thí dụ như bà nội có được
một đứa cháu nội, nó chạy theo nắm tay bà nũng nịu, bà
nội vui không? Hoặc đứa cháu ngoại nó chạy theo nói ríu
rít đủ điều, bà ngoại thương không? Càng vui, càng thương,
càng phải lo nhiều. Vì thương cháu quá, cho nên rồi lo cho
nó ăn ngon, lo cho nó mặc đẹp… Lo hết con tới cháu, lo hoài
đến ngày nhắm mắt cũng chưa xong. Vui như vậy là vui trong
ràng buộc.
Hơn nữa, người nào được nhiều người thương, người
đó vui không? Thấy mình được thiên hạ quí trọng, kính
nể, lúc đó là vui. Nhưng một người thương mình là một
sợi dây trói buộc, hai người thương, là hai sợi dây, mười
người thương là mười sợi dây… Thương nhiều thì gỡ
khó. Vậy mà người ta vui được thiên hạ thương, được
thiên hạ chú ý, quí mình như ngọc như ngà v.v… Do đó, người
đời càng vui, thì càng đắm mình trong sự trói buộc, trói
buộc trong tình thương gia đình, tình thương con cháu tình
thương những người chung quanh v.v… càng thương nhiều thì
càng bị buộc nhiều!
Ngược lại người tu, nhất là người tu Phật, vui là khi
giải thoát. Những gì ràng buộc, làm cho mình bị rối rắm,
phải cắt bỏ nó đi. Cắt bỏ được một mối là vui mừng
một mối. Cắt bỏ đây không có nghĩa là bỏ chồng bỏ con…
mà cắt bỏ là bỏ những tình thương không lợi ích mà còn
gây thêm tai hại cho mình. Thí dụ như người đó với mình
không phải là thân thuộc mà họ nói những lời ngọt ngào,
những lời thương yêu rồi mình tưởng họ thương thật,
tự nhiên mình tự trói mình rồi mình khổ. Ở thế gian có
những lời nói không đúng với tâm niệm, họ nghĩ một đàng
mà nói một nẻo để cầu lợi, để nắm giữ những gì họ
thích. Mình phải biết rõ những lời nói đó không phải thật,
đừng để bị cột trói. Tình thương chân thật nhất là
tình thương cha mẹ với con cái, mà có khi còn phai nhạt, có
khi còn gặp những đứa con bất hiếu thay! Huống nữa là
những người ngoài chắc gì họ thương mình thật, mà nghe
nói họ thương, mình vui mừng thích thú, e rằng có ngày sẽ
phải khổ. Vì vậy những tình cảm thương yêu quyến luyến
vô tình trói cột làm cho mình phải khổ! Người tu lấy sự
giải thoát làm vui, không thể bị trói buộc bởi những tình
cảm riêng tư và những ngũ dục bên ngoài.
Người đời nghĩ rằng cuộc đời mình phải được an vui
hạnh phúc, nhưng từ thuở nhỏ cho đến hiện nay năm mươi,
bảy mươi tuổi, quí vị thấy đời mình vui nhiều hay khổ
nhiều? – Khổ nhiều! Vì sao mình muốn vui mà lại khổ? –
Vì mình muốn vui mà vui trên cái khổ của người khác, cho
nên người khác cũng muốn vui mà vui trên cái khổ của chính
mình. Vì sát phạt lẫn nhau để được vui, nên cái vui đó
khó mà được vẹn toàn. Những người từ sòng bạc đi ra
đâu phải ai ai cũng đều hớn hở. Trong mười người, độ
hai người vui mừng, còn tám người thì âu sầu đau khổ.
Như vậy tại sao người ta cứ đến sòng bạc mãi? Tám lần
khổ chỉ có hai lần vui. Có khi đủ cả mười lần khổ là
khác!
Ở đời nếu chúng ta tìm vui trong sự thắng người, trong
cảnh nhộn nhịp v.v… thì cái vui đó chỉ là tạm bợ mong
manh, không lâu bền được. Chúng ta phải tìm những niềm
vui chân thật ở đạo: vui khi thắng mình, lìa được những
tật xấu; vui khi được ở chỗ yên tịnh, tâm hồn được
an ổn; vui khi được tỉnh giác, thoát ly được những buộc
ràng. Nếu sáng suốt chúng ta tìm cái vui chân thật, thì cái
vui sẽ lâu dài bền bỉ, còn mê lầm chúng ta sẽ đuổi theo
những cái vui giả dối thì vui ít mà khổ nhiều. Mong rằng
quí vị luôn luôn sáng suốt để được an vui hạnh phúc mãi
mãi.
Để kết thúc buổi nói chuyện hôm nay chúng tôi đọc bốn
câu kệ sau đây để quí vị dùng làm kim chỉ nam trong năm
mới:
Nguồn vui mãi vô tận,
Khi nhìn ánh nguyệt chân.
Nơi nơi đều cực lạc,
Phút phút hiện chân thân.
Nguồn vui mãi vô tận, là nguồn vui nào?
Khi nhìn ánh nguyệt chân: Khi nhìn thấy mặt trăng thật, là
mặt trăng nào? Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật nói mặt trăng
thật và mặt trăng thứ hai, chúng tôi nói thêm nữa là bóng
mặt trăng. Mặt trăng chân thật chỉ tâm thể bất sanh bất
diệt của mình, mặt trăng thứ hai chỉ cái chân thể đó
hiện nơi sáu căn, còn bóng mặt trăng là chỉ ý thức duyên
với pháp trần. Muốn được nguồn vui vô tận là khi nào
mình thấy được mặt trăng chân thật. Khi ấy thì thế nào?
Nơi nơi đều cực lạc: Nơi nào cũng cực lạc, không phải
chỉ riêng cõi Tây phương.
Phút phút hiện chân thân: Phút nào cũng hiện cái thân chân
thật.
Chúng tôi xin chúc tất cả quí Phật tử sang năm Mậu Thìn
này được một nguồn vui vô tận khi nhìn thấy mặt trăng
thật, rồi nơi nào cũng là cực lạc, giờ nào cũng là Niết-bàn.
Đó là lời chúc lành của chúng tôi gởi đến quí vị.
NAM-MÔ
BỔN-SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT.
TIỆC TRÀ CUỐI NĂM
TẤT
NIÊN MẬU THÌN 1989
Hôm nay là buổi lễ cuối năm để chúng ta chuẩn bị sang
năm mới. Nó có ý nghĩa của buổi lễ tất niên và cũng là
buổi lễ đón giao thừa…
Trước khi uống trà và dùng bánh mứt, chúng tôi kể một
câu chuyện và nêu lên câu hỏi. Ai trả lời đúng, người
đó được danh dự khai mạc buổi lễ.
Câu chuyện đó như sau:
“Thiền sư Huệ Minh, đệ tử ngài Pháp Nhãn, khi Ngài làm
Trụ trì, một hôm có hai Thiền khách đến tham vấn. Ngài
hỏi:
- Quí vị ở đâu đến?
Thiền khách đáp:
- Chúng tôi ở Thành đô.
Ngài bảo:
- Thượng tọa rời Thành đô đến núi này, thì ở Thành đô
thiếu Thượng tọa, ở núi này dư Thượng tọa. Nếu dư thì
ngoài tâm có pháp, nếu thiếu thì tâm pháp không trùm khắp.
Đáp được thì ở, đáp không được thì đi.”
Bây giờ quí vị thử đáp dùm câu đó.
Thầy Thông Phương xin đáp trước:
- Chỉ thế ấy thôi, nói gì thiếu với dư.
- Tôi chưa chấp nhận. Ai đáp nữa?
Thầy Trụ trì Thiện Pháp nói nhanh:
- Huệ Minh! Huệ Minh!
- Tôi cũng chưa chấp nhận. Ai có câu đáp nào khác?
Dè dặt rồi, thôi tôi đáp thế cho: Tôi vẽ một vòng tròn
(Thầy Viện chủ đưa tay lên vẽ một vòng tròn). Quí vị
bằng lòng không? Sự thật như vậy thôi: Tròn đồng thái
hư, không thiếu không dư.
- Ông Trụ trì thay tôi khai mạc bữa tiệc, rồi tôi sẽ nói
chuyện
TÌM LẠI MÌNH, BIẾT ĐƯỢC MÌNH LÀ TRÊN HẾT
TẤT
NIÊN MẬU THÌN 1989
Đề tài chúng tôi nói chuyện hôm nay là: “Tìm lại mình,
biết được mình là trên hết.” Đề tài này, mới nghe qua
quí vị thấy quá đơn giản, nhưng thật là thiết yếu trong
cuộc sống của chúng ta.
Chúng ta ai ai cũng có thói quen chạy ra bên ngoài, tìm kiếm
bên ngoài. Vì thế chúng ta hiểu biết rất nhiều việc bên
ngoài , nhưng khi trở lại tìm hiểu bản thân mình, con người
mình thì rất là thiếu sót. Nói như vậy không có nghĩa là
chúng tôi phủ nhận ngành y khoa nghiên cứu về con người.
Ở đây tôi muốn nói con người chúng ta còn có một giá trị
khác hơn nữa. Ngoài cái thân hiện đang đi đứng nằm ngồi
này, còn một cái gì nơi chúng ta mà chúng ta cần tìm hiểu.
Vì thế xoay lại mình tìm cho ra cái chân thật của chính mình
là điều tối quan trọng. Nếu không, thì đời sống chúng
ta trở thành lạt lẽo vô vị. Chẳng lẽ chúng ta sống chỉ
để ăn mặc ngủ nghỉ... rồi chờ đến ngày chết sao? Chúng
ta cần phải biết: Sống còn có cái gì cao siêu hơn ở bên
trong. Vì chúng ta cứ phóng ra bên ngoài nên mất mình mà không
biết. Vì vậy chúng tôi mới nhắc quí vị phải: Tìm lại
mình, biết được mình là trên hết.
Lâu nay người ta hiểu lầm cho rằng đạo Phật là huyền
bí, cao siêu, nhưng thật ra đạo Phật rất là thật tế, vì
luôn luôn chủ trương xoay lại tìm con người chân thật của
chính mình. Biết được mình chẳng phải là điều rất thật
tế hay sao? Các cơ quan của chúng ta như mắt, tai, mũi, lưỡi...
quen phóng ra bên ngoài để tìm hiểu, phân tích, mà quên nhìn
lại nơi mình. Vì lẽ đó trong nhà thiền có dạy: phản quan
tự kỷ bổn phận sự, nghĩa là xoay lại chính mình mới là
bổn phận chánh. Nếu chúng ta biết được tất cả bên ngoài,
mà không biết tí gì về chúng ta, đó là một thiệt thòi
lớn lao. Người thế gian khi làm điều gì đều muốn được
thành công, nhưng sự thành công đó kéo dài lắm cũng chỉ
năm ba mươi năm rồi cũng phải buông, không giữ được mãi
mãi. Chỉ có cái chân thật của chính mình mới lâu dài vĩnh
cửu. Nghĩ mới hôm nào chúng ta đôi ba mươi tuổi mà ngày
nay đã già rồi, đời sống con người ngắn ngủi làm sao!
Chẳng bao lâu rồi đến giờ phút cuối cùng! Vì vậy tất
cả của cải thế gian nếu chúng ta nghĩ là nguồn hạnh phúc,
nguồn an vui tuyệt đối, thì điều này không hợp với lẽ
thật. Chỉ có biết rõ được mình mới là điều quan trọng
và thật tế. Lấy ví dụ cho dễ hiểu: Như người ở thế
gian họ rành rẽ việc của làng xóm, của đất nước, của
thế giới, nhưng việc trong nhà họ không biết tí nào, thì
người đó có thiếu thật tế hay không? Việc trong nhà là
nơi gốc họ sống mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm, mà họ
không biết, chỉ biết chuyện bên ngoài, quả là thiếu thật
tế lắm vậy. Nếu chúng ta biết tất cả, cho đến những
vì sao xa xôi trên bầu trời, đó cũng chỉ là biết bên ngoài.
Nếu chúng ta quay lại biết được chính mình, đó mới là
điều cần thiết.
Hiện giờ có nhiều người thường nói cái gì cũng mình,
cũng tôi, cũng ta. Nhưng thử hỏi, cái gì là mình, là ta, thì
khó trả lời cho thông được. Nếu nói thân này là mình,
khi chưa có thân là chưa có mình sao? Nếu có thân rồi mai
kia thân hoại thì mình ở đâu? Nếu nói thân này là mình,
thân này do đất nước gió lửa họp thành, đúng ra là vô
tri, chẳng lẽ mình lại vô tri hay sao? Nếu nói thân này có
cả phần tinh thần lẫn vật chất, thì phần nào là mình?
Tinh thần hay vật chất? Những điều đó rất là thiết yếu
mà ít người quan tâm đến! Chúng ta cứ mải lo tìm sanh kế,
sống ngày này qua ngày khác, cuối cùng từ giã cuộc đời.
Rồi ngang đó chúng ta không biết ra sao nữa, đó là điều
thật đáng buồn. Vì vậy người tu là biết quay lại tìm
cho ra: Mình là cái gì? Là thân tứ đại này chăng? Là những
tình cảm vui buồn thương ghét chăng? Hay là cái gì cao siêu
hơn nữa? Chúng ta tu cốt phải làm sao thấy được con người
mình, con người chân thật.
Chúng tôi xin dẫn bài kệ của một Thiền sư cư sĩ, ngài
Tuệ Trung Thượng Sĩ, đời Trần. Ngài làm bài kệ soi lại
mình, nhan đề là “Chiếu Thân”.
&