21.
Chén Trà Khai Mạc (Tất niên Bính Dần-1987)
22.
Sáng Việc Lớn.
23.
Mùa Xuân Miên Viễn (Xuân Đinh Mão-1987)
24.
An Lạc Sau Khi Bứng Gốc Khổ Đau.
25.
Bài Kinh Bát-nhã (Tất niên Đinh Mão-1988)
CHÉN TRÀ KHAI MẠC
TẤT
NIÊN BÍNH DẦN 1987
Uống trà tất niên, theo thông lệ, chúng tôi kể một câu
chuyện, quí vị hãy lắng nghe. Kể xong tôi hỏi, quí vị trả
lời. Vị nào trả lời đúng, thì được vinh dự khai mạc
buổi lễ tất niên.
Câu chuyện bắt đầu:
“Khi xưa có một vị Sư ni tên Lưu Thiết Ma, đệ tử ngài
Qui Sơn. Thiền sư Tử Hồ, đệ tử ngài Nam Tuyền nghe danh
Sư ni là người đối đáp lanh lẹ, nên đến cật vấn.
Khi đến ngài Tử Hồ liền hỏi:
- Bà có phải là Lưu Thiết Ma chăng?
Bà đáp:
- Chẳng dám.
Ngài hỏi tiếp:
- Mài bên phải hay mài bên trái?
(Vì sao mà ngài Tử Hồ hỏi như vậy? Vì “Thiết” có nghĩa
là sắt, “Ma” là mài. Tên Lưu Thiết Ma là Lưu Mài Sắt,
nên Ngài hỏi: mài bên phải hay mài bên trái.)
Bà trả lời:
- Vì sao mà Hòa thượng điên đảo vậy?
Ngài Tử Hồ liền lấy gậy đập bà một gậy.”
*
Bây giờ tôi hỏi quí vị: Gậy đó là gậy thưởng hay gậy
phạt?
- Gậy thưởng. (một vị Tăng thưa)
- Chưa có quyền khai mạc. Ai sáng suốt nói xem: Gậy đó là
gậy thưởng hay phạt?
- Đó là phần của các Ni, nhờ các Ni giải đáp. (thầy Tri
sự Phước Tú nói)
- Nếu nói thưởng không đúng thì nghĩ sao? Ai dám nói? Thưởng
không có quyền khai mạc rồi, phải nói sao đây?
- Thưa Thầy gậy phạt. (một cô Ni nói)
- Phạt cũng không có quyền khai mạc nữa. Như vậy là sao?
Nếu nói điên đảo là quấy nên phạt, nếu nói điên đảo
là phải nên thưởng. Nhưng hai cái thưởng phạt đều sai
hết, rồi phải nói sao? Vậy phần khai mạc về ai?
- Thưa Thầy không thưởng không phạt. (một vị Tăng thưa)
- Cũng trật luôn.
- Thưa Thầy tại mở miệng nói nên bị đòn. (một cô Ni thưa)
- Cũng không phải nữa.
- Thôi để đỡ mất thời giờ, tôi đại diện quí vị trả
lời. Tôi giải thích để quí vị thấy, Lưu Thiết Ma có nghĩa
là Lưu Mài Sắt. Bởi mài sắt nên ngài Tử Hồ mới hỏi:
Mài bên phải hay mài bên trái? Nếu là người dốt thì trả
lời kẹt bẫy của Ngài. Bên phải bên trái là hai bên cũng
đều trật hết. Bà Lưu Thiết Ma là người thấy xa biết
rõ liền bẻ lại Hòa thượng: Vì sao Hòa thượng điên đảo
vậy? Vì Ngài thấy có bên phải thấy có bên trái là Ngài
có điên đảo rồi! Hòa thượng liền đánh, đánh đó là
thưởng hay phạt? Ai đang có lỗi? Bà có lỗi hay Hòa thượng
có lỗi? - Hòa thượng có lỗi. Nếu bà Lưu Thiết Ma nói “vì
sao mà Hòa thượng điên đảo vậy” mà ngài Tử Hồ đi liền
thì Ngài thua trận, nên Ngài liền ra oai đánh một cái thoát
nạn, chớ không khen, không chê. Đó là cái đánh thoát nạn.
Tôi trả lời rồi, mời Thầy trụ trì đại diện tôi khai
mạc, và mời quí vị dùng bánh mứt, uống trà, rồi tôi sẽ
nói chuyện sau.
SÁNG VIỆC LỚN
TẤT
NIÊN BÍNH DẦN 1987
Hôm nay là ngày Tất niên cuối năm Bính Dần, bắt đầu sang
năm Đinh Mão, tất cả người tu chúng ta mỗi năm một lần,
phải ôn lại việc cũ và chuẩn bị cho việc mới. Nói một
cách dễ hiểu hơn những điều gì dở trong năm qua chúng ta
phải chừa để chuẩn bị cho năm tới được tốt đẹp hơn,
được sáng sủa hơn. Đó là bổn phận của tất cả chúng
ta, Tăng Ni và Phật tử.
Đề tài chúng tôi nói hôm nay nghiêng về người xuất gia,
nếu là cư sĩ quí vị cũng lấy đây làm kinh nghiệm, còn
Tăng Ni thì phải cố gắng thực hiện cho kỳ được những
gì mà tôi nhắc nhở hôm nay.
Ngài Trần Tôn Túc, đệ tử lớn của Tổ Hoàng Bá, sư huynh
của Tổ Lâm Tế, Ngài có nói:
“Việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ,
Việc lớn đã sáng như đưa ma mẹ.”
Đây là câu mà tất cả Tăng Ni và Phật tử phải nghiền
ngẫm để ứng dụng cho xứng đáng với tinh thần người
tu. Tất cả chúng ta tu đều mong rằng một ngày nào sẽ sáng
được việc lớn. Nếu việc lớn đã sáng, việc tu của chúng
ta đã đủ, đã xong rồi hay chưa? Qua câu nói của ngài Trần
Tôn Túc, chúng ta thấy rất rõ: Việc lớn chưa sáng, chúng
ta phải cố gắng nỗ lực tiến tu để sáng việc lớn. Nếu
việc lớn đã sáng rồi không phải ngang đó chúng ta dừng
lại mà còn phải tiếp tục nữa.
Cổ đức có nói:
“Chưa đến vô tâm cần phải đến,
Đã đến vô tâm, vô cũng thôi.”
Khi chưa được vô tâm, chưa sáng được việc lớn, chúng
ta cần phải tiến tu để được sáng, được vô tâm. Nhưng
khi đã được vô tâm rồi, chữ “Vô” cũng thôi, chớ không
phải vô tâm rồi ngay đó là đủ. Muốn khai triển đầy đủ
ý nghĩa này, chúng tôi xin tuần tự nêu ra từ những cái dở
đến cái hay để tất cả Tăng Ni và Phật tử ứng dụng
tu hành cho khỏi sai lầm.
Trước tiên chúng tôi nói các bệnh của người tu Phật hiện
nay. Bệnh thứ nhất là khinh lờn. Người tu chúng ta khi mới
bước chân vào đạo, cư sĩ cũng như xuất gia, lúc đầu phấn
khởi hăng hái, coi như việc đạt đạo ở trước mắt, không
xa. Nhưng qua năm thứ hai, năm thứ ba, những phấn khởi, những
hăng hái buổi ban đầu giảm dần, rồi khinh lờn, rồi coi
thường. Vì vậy người xưa thường nhắc: “Nhất niên Phật
tại tiền, nhị niên Phật thăng thiên.” Nói theo Sư ông chúng
tôi, Sư cụ Khánh Anh: “Tam niên Phật xa lơ xa lắc.” Năm
đầu mới vào đạo, chúng ta thấy việc đạt đạo không
khó, nhưng qua năm thứ hai năm thứ ba hay nhiều năm nữa, tinh
thần phấn khởi hăng hái buổi ban đầu giảm xuống lần
lần, rồi đạo càng ngày càng xa, nhất là trong giới tu sĩ.
Người tu sĩ khi mới xuất gia có ý nguyện nhất định phải
giải thoát ngay trong hiện đời. Nhưng khi xuất gia được
vài ba năm hơi quen rồi, thỉnh thoảng cũng có chuyện hơn
thua, chuyện phải quấy, tâm ban đầu yếu đi từ từ, có
khi quá yếu đến đỗi bị rầy chê. Đó là vì chúng ta không
giữ được tâm ban đầu. Phật Tổ thường dạy chúng ta phải
nhớ tâm ban đầu. Nếu chúng ta giữ được nó thì đạo không
xa, việc giải thoát không khó, còn quên thì đạo càng ngày
càng xa, việc giải thoát càng ngày càng khó.
Trong kinh A-hàm Phật có nói: Người mới xuất gia giống như
cô dâu mới về nhà chồng, đối với cha chồng, mẹ chồng,
chị chồng, em chồng, thảy đều quí nể, khép nép cung kính.
Nhưng ở đôi ba năm có con cái rồi, đối với cha chồng coi
không ra gì, không còn nể cha mẹ chồng, ăn hiếp luôn chị
chồng, em chồng, cả đến người chồng cũng không vị nể.
Người tu cũng vậy. Khi mới vào đạo cạo tóc xuất gia, đối
với Hòa thượng, Thượng tọa thì khép nép cung kính, đối
với các Sư huynh thì nể nang dễ dạy. Nhưng ở đến một
năm, hai năm, ba năm sau, thấy các Hòa thượng, Thượng tọa
có khi quên cúi đầu, cho đến khi sai bảo không vâng làm nữa.
Vì cái bệnh khinh lờn này nên việc tu không tiến được.
Vì vậy Phật bảo chúng ta phải nhớ tâm ban đầu.
Các kinh thường dạy: Các thầy Tỳ-kheo, mỗi sáng phải nhớ
rờ đầu một lần. Rờ đầu để nhớ mình đã cạo tóc
xuất gia, không còn nghĩ đến chuyện gì ở đời nữa, nếu
không, lâu ngày rồi quên mình là người xuất gia. Phật dạy
chúng ta phải nhớ trên đường tu đừng có niệm khinh lờn.
Nếu có niệm khinh lờn thì ban đầu tu thấy tiến, nhưng sau
rồi lùi, lùi cho tới không biết bao giờ tiến được nữa.
Đó là bệnh thứ nhất của người tu.
Bệnh thứ hai là bệnh tự mãn. Tự mãn là được ít mà cho
là đủ. Có những người tu học được ít bộ kinh, tụng
được hai thời công phu, bái sám rành rẽ, coi như bao nhiêu
đó là đủ cho mình làm Phật sự, rồi hài lòng tự mãn với
cái mình đã được, lấy đó làm sở trường mà không cố
gắng nỗ lực tiến tu. Như vậy mình tự khép mình trong phạm
vi hẹp hòi để rồi chịu cả một đời tu không tiến nổi.
Đây, tôi nhắc lời của Thiền sư Thanh ở Dũng Tuyền, Ngài
nói với chúng rằng:
“Tôi ở trong đây bốn mươi chín năm còn có khi tẩu tác,
các ông chớ nói to, người kiến giải thì nhiều, người
hành giải thì ít, muôn người không có một. Kiến giải ngôn
ngữ cần biết suốt, nếu thức chưa hết sẽ bảo đi trong
luân hồi vậy.” Quí vị thấy, Ngài là một Thiền sư đã
ngộ đạo, Ngài nói Ngài đã ở bốn mươi chín năm trên núi
Dũng Tuyền còn có khi tẩu tác tức là tâm chạy bậy như
trâu hoang, huống nữa là những người mới vào đạo một
năm hai năm ba năm, coi như mình xong việc, ăn to nói lớn tưởng
mình như là thánh, đó là điều không nên. Ngài dạy: “người
kiến giải thì nhiều, người hành giải thì ít” tức là
người thấy hiểu thì nhiều mà hành được thì ít. Trong
muôn người hiểu, chưa có được một người hành. Ngài nói
như vậy, không phải cấm không cho chúng ta có kiến giải.
Ngài dạy kiến giải ngôn ngữ cần phải biết suốt, phải
thông nhưng nếu thức tình chưa hết sẽ đi trong luân hồi.
Người xưa biết được bệnh của chúng ta nên nhắc nhở
khiến chúng ta biết rõ trên đường tu không phải đơn giản,
không phải một sớm một chiều là xong việc, không phải
thấy biết là rồi, mà còn phải hành, phải sống được
với nó nữa, đó là điều thật thiết yếu. Hiện nay cũng
có một ít Tăng Ni nghe hiểu, hiểu rồi cứ ăn to nói lớn,
tưởng đó là hay, không ngờ vẫn còn thức tình, đến khi
chết vẫn đi trong luân hồi. Cho nên chúng ta phải khéo cố
gắng vượt qua các lỗi đó mới được.
Đến bệnh thứ ba, là bệnh thụ hưởng.
Có một số người tu được một thời gian năm năm, mười
năm, thọ giới làm trụ trì, coi như mình xứng đáng là người
lãnh đạo tín đồ, rồi tự hài lòng. Từ sự tự hài lòng
đó sanh ra thụ hưởng tức là nghĩ tới ăn chơi vui đùa,
chạy theo dục lạc, mà không nghĩ tới việc tiến tu. Đó
là điều rất nguy hiểm cho đạo. Chúng ta tu cốt làm sao dứt
sạch các phiền não, mà phiền não phát xuất từ dục lạc.
Nếu chúng ta còn thụ hưởng dục lạc thì phiền não làm
sao sạch được. Vì vậy nên người nào tu hành mà nặng về
hưởng thụ, người đó thế nào rồi cũng bị dục lạc làm
chủ. Bị dục lạc làm chủ thì đời này không thể tiến
được, mai kia cũng khó mà trả được nợ áo cơm. Cho
nên có bài kệ:
Học đạo bất thông lý,
Phục thân hoàn tín thí.
Trưởng giả bát thập nhất,
Kỳ thọ bất sanh nhĩ.
Dịch:
Học đạo chẳng thông lý,
Đem thân đền tín thí.
Trưởng giả tuổi tám mốt,
Cây kia chẳng sanh nhĩ (nấm).
Bài kệ này thuật lại việc một Tỳ-kheo tu hành tương đối
tốt. Có một ông trưởng giả thấy vậy quí kính, mỗi ngày
dâng cúng mọi sự rất đầy đủ (tứ sự cúng dường). Nhưng
vị Tăng không thông được lý đạo, chưa sáng được việc
lớn, nên khi chết thân trở lại đền nợ thí chủ. Đền
nợ bằng cách thành cây mỗi ngày mọc nấm cho ông trưởng
giả ăn. Tới khi ông trưởng giả tám mươi mốt tuổi cây
mới thôi mọc nấm. Như vậy để thấy rằng nếu tu mà không
sáng được đạo, không dứt được thức tình, dù chúng ta
có cố gắng cũng chưa giải thoát được. Nếu chúng ta thụ
hưởng càng nhiều thì họa càng lắm. Vị Tăng này tuy ở
tốt, mà vẫn phải trả nợ hoa báu. Đó là trả nợ nhẹ
làm cây cho người ta ăn nấm, rồi hết nợ mới đi. Nếu
chúng ta nặng nợ hơn, chúng ta phải mang thân xấu xí hơn
nhiều đi trong lục đạo để đền nợ của đàn-na thí chủ.
Vì vậy người tu chúng ta phải nhớ rằng trên đường tu
không phải chỉ có một hai thời khóa tụng, không phải chỉ
thành ông trụ trì là xong việc tu. Chúng ta tu cốt làm sao
thấy được đạo, sống được với đạo, chớ không phải
là việc đơn giản. Thấy được đạo, sống được với
đạo mới mong thoát ly sanh tử. Đó là điều thiết yếu mà
chúng tôi mong tất cả Tăng Ni và Phật tử nhớ để nỗ lực
tiến tu, đừng có hài lòng, đừng có tự mãn, rồi phải
chiêu họa đời sau. Đó là phần chúng tôi kể về bệnh của
người tu.
Phần thứ hai nói đến: “Việc lớn chưa sáng như đưa ma
mẹ.” Tại sao ngài Trần Tôn Túc nói: việc lớn chưa sáng
như đưa ma mẹ? Quí vị nhớ những người con khi đưa đám
ma mẹ mình, thì lúc đó gương mặt thật âu sầu ảo não,
tâm hồn thật buồn bã khắc khoải vô cùng. Cũng như vậy,
đối với người tu chúng ta chưa sáng được việc lớn, ngày
nào tháng nào năm nào, chúng ta cũng phải ôm ấp trong lòng
băn khoăn khắc khoải, niệm niệm quyết chí tiến tu. Cái
gì mình chưa hiểu phải tìm cho hiểu, cái gì mình chưa thông
phải ráng học hỏi cho thông. Như vậy khả dĩ còn tiến được.
Nếu việc lớn chưa sáng mà cứ vui chơi hết ngày hết tháng,
như vậy không mong gì đạt được sở nguyện của mình. Vì
vậy việc lớn chưa sáng, chúng ta lúc nào cũng phải ôm ấp,
lo âu, trăn trở trong lòng, phải nỗ lực cố gắng tu hành
để đạt cho kỳ được mới thôi. Như vậy mới khả dĩ
xứng đáng một người xuất gia theo Phật. Nếu chúng ta không
làm đúng lời Phật Tổ dạy thì rất uổng một đời tu của
mình, lại còn làm cho thiên hạ chê cười khinh bỉ, đạo
lý cao siêu của Phật trở thành vô giá trị. Vì vậy nếu
việc lớn chưa sáng chúng ta phải luôn luôn nỗ lực tiến
tu, chúng ta không có quyền nghĩ rằng mình tu cho có chừng
để rồi đời sau tu nữa. Chúng ta phải quyết chí sáng được
việc lớn ngay trong đời này, nếu chưa xong ít ra cái mê cũng
mòn cũng mỏng để sau này tiếp tục một cách dễ dàng.
Xưa có những Thiền sư mỗi khi chiều xuống, xét lại mình
chưa tiến được bao nhiêu, các ngài rơi lệ, còn chúng ta
mỗi khi chiều xuống thì vui cười hỉ hạ. Chúng ta có tiến
không mà vui cười? Tại sao các ngài không tiến thì khóc còn
chúng ta không tiến lại cười? Tâm niệm người xưa và tâm
niệm chúng ta ngày nay khác nhau ở chỗ nào? Nếu thật tình
quyết chí cầu giải thoát, mà mình không đạt được điều
mong mỏi, làm sao vui, làm sao thảnh thơi cười đùa! Vì vậy
người xưa đã nhiệt tình khi nhớ tới việc tu hành của
mình, qua một ngày mất đi mà không tiến là các ngài
đau khổ xót xa đến độ phải rơi nước mắt. Chúng ta ngày
nay dù không bằng được người xưa, ít ra mỗi ngày qua chúng
ta phải nao nao tự hỏi rằng tại sao mình hèn nhát, mình tu
không tiến. Một ngày tu không tiến còn rơi nước mắt, một
tháng tu không tiến chắc phải khóc òa lên! Còn một năm tu
không tiến quí vị nghĩ nên làm sao? Nếu một năm qua kiểm
lại mình tu không tiến được một bước nào, thật là đau
lòng hổ thẹn, không thể nào an ổn được. Tu cốt phải
tiến, không phải đứng một chỗ, đứng một chỗ có nghĩa
là lùi, huống nữa có nhiều người còn bước lùi nữa, việc
đó thật là quá tệ. Do đó hôm nay là ngày cuối năm, chúng
ta tự kiểm lại mình thấy qua một năm, mình tu không tiến
được bước nào, chúng ta phải lập nguyện cho mạnh, lập
chí cho vững để vươn lên, không để yếu hèn như năm cũ
nữa. Như vậy chúng ta mới xứng đáng là người tu có trọng
trách làm lợi mình, lợi người, tự giác, giác tha. Đó là
điều mà chúng tôi mong mỏi nhất.
Phần thứ ba là “việc lớn đã sáng như đưa ma mẹ”. Vì
sao như vậy? Vì chúng ta tưởng rằng một khi ngộ được
lý đạo, ngang đó là thành Phật, thành Tổ. Thật sự chưa
phải. Sau đây là bài kệ chúng tôi thường nhắc:
“Đốn ngộ tuy đồng Phật,
Đa sanh tập khí thâm,
Phong đình ba thượng dũng,
Lý hiện niệm du xâm.”
“Đốn ngộ tuy đồng Phật” tức là thấy được đạo,
Phật với mình không khác. Nhưng “đa sanh tập khí thâm”
tức là nhiều đời tập khí sau dầy, nóng giận phiền não
hồi xưa còn ghi đậm nét trong thói quen của mình. Bây giờ
tuy ngộ được lý đạo nhưng khi chạm việc cũng còn giận
cũng còn nóng. “Phong đình ba thượng dũng” : như ngoài biển
gió dừng rồi mà sóng vẫn còn vỗ ầm ầm. “Lý hiện niệm
du xâm”, đối với đạo lý thì thấy được lẽ thật rồi,
nhưng mà niệm vẫn còn dấy lên hoài. Các niệm đó làm mờ
tối tánh giác của mình. Khi ngồi lại nó cứ tràn vào, lấn
mãi, nó quấy động cả giờ ngồi thiền không lúc nào tha
mình. Như vậy đừng tưởng rằng ngộ được lý đạo là
xong việc, mà còn phải nỗ lực tiến tu, làm sao trong tất
cả giờ những niệm đó không quấy nhiễu mình, không làm
mờ tánh giác của mình, chừng đó mới khả dĩ hợp với
đạo. Chớ còn ngang đó mà hài lòng tự mãn đó là bệnh
lớn.
Chính chỗ này trong kinh Trung A-hàm có ghi: Một hôm có người
ngoại đạo tới hỏi Phật: - Thưa ngài Cù-đàm, những đệ
tử của Ngài đã ngộ đạo, những người đó có đến Niết-bàn
hết hay chăng? Phật trả lời:
- Có người đến Niết-bàn, có người không đến Niết-bàn.
Người
ngoại đạo lấy làm lạ hỏi:
- Tại sao đã ngộ đạo rồi, có người được đến Niết-bàn
lại có người không đến?
Phật ví dụ: Như có người bị mũi tên độc bắn vào tay,
thầy thuốc được mời tới mổ lấy tên ra, khử độc băng
bó kỹ càng và bảo ráng giữ gìn đừng cho nhiễm trùng.
Nhưng người đó nghĩ rằng tên độc đã nhổ ra, dùng thuốc
khử độc rồi, còn lo sợ gì nữa. Ngang đó tha hồ xông pha,
vết thương bị nhiễm trùng, bệnh trở nặng rồi chết. Người
thứ hai cũng bị tên độc và cũng được nhổ tên ra, khử
trùng xong băng bó cẩn thận và cũng được dặn dò như trước.
Người này biết giữ gìn từ khi đó không dám để dơ để
nhiễm trùng, vết thương lành lần lần rồi khỏi hẳn. Như
vậy hai người cùng bị tên độc, cùng được mổ lấy tên
ra, khử độc như nhau, tại sao một người chết, một người
lành?
Phật nói: “Cũng như vậy, những người tu ngộ đạo rồi
mà ngang đó biết nghe lời Phật tiến tu, gìn giữ đạo hạnh
càng ngày càng trong sáng thì sẽ đến Niết-bàn. Những người
ngộ đạo rồi, ngang đó tự mãn làm những việc xông pha
trái với đạo lý lần lần bị nhiễm rồi thối đọa.”
Như vậy quí vị mới thấy, đừng tưởng ngộ rồi là xong.
Vì đa sanh tập khí thâm, tuy ngộ đạo rồi mà tập khí vẫn
còn, nếu lân la với thói quen cũ thì bị nhiễm. Nên nói “việc
lớn đã sáng như đưa ma mẹ”, chúng ta phải luôn luôn nỗ
lực tu, không phải ngang đó mà dừng.
Đây tôi dẫn lời Thiền sư Truyền Sở ở núi Thanh Phong.
Có vị Tăng hỏi:
- Việc lớn đã sáng, vì sao như đưa ma mẹ?
Ngài đáp:
- “Chẳng gặp gió xuân hoa chẳng nở,
Đến khi hoa nở lại thổi rơi.”
Quí vị có thấy giống hai câu tôi nói ở trên chăng?
“Chưa đến vô tâm cần phải đến,
Đã đến vô tâm, vô cũng thôi.”
Đợi có gió xuân hoa mới nở. Đừng tưởng hoa nở là xong
việc, mà còn phải nhờ gió thổi cho hoa rụng luôn mới là
xong việc. Chúng ta thấy người xưa rất cẩn thận dè dặt
chỉ dạy chúng ta cách tu hành.
Thiền Sư Tử Thuần ở Đơn Hà có làm bài tụng:
Gia sơn qui đáo mạc nhân tuần,
Kiệt lực dần thân phụng nhị thân
Cơ tận công vong ân nghĩa đoạn,
Tiện thành bất hiếu xiển-đề nhân.
Dịch:
Gia sơn về đến chớ dần dà,
Gắng sức sớm hôm dưỡng mẹ cha
Cơ hết công quên ân nghĩa dứt,
Bỗng thành bất hiếu người xiển-đề.
Tại sao câu kết lạ lùng vậy? Tôi sẽ giải thích bài kệ
cho quí vị hiểu: Gia sơn về đến chớ dần dà nghĩa là người
tu như kẻ trở về quê hương, hy vọng thiết tha nhất là
về tới nhà. Về tới nhà còn phải: Gắng sức sớm hôm dưỡng
mẹ cha, chẳng phải về đến nhà để chơi suông. Nuôi dưỡng
mẹ cha rồi còn nghĩ mình là con có hiếu, là kẻ có công,
cũng chưa được, nên nói: Cơ hết công quên ơn nghĩa dứt,
tới đó điều kiện công ơn nuôi dưỡng cha mẹ không còn
thấy nữa. Bỗng thành bất hiếu người xiển-đề. Tại sao
câu kết lại như vậy? Chúng ta thường nghe trong kinh nói xiển-đề
tiếng Phạn, dịch nghĩa là bất tín, tức là không đủ lòng
tin. Ở đây xiển-đề chia ra ba loại:
1. Người phạm tội ngũ nghịch gọi là xiển-đề.
2. Người đối với Tam Bảo không có lòng tin gọi là xiển-đề.
3. Người như ngu như ngây không còn thấy có Phật ở trên
để kính, không còn thấy có chúng sanh ở dưới để xem thường,
cũng gọi là xiển-đề. Người này thấy Phật với chúng
sanh bình đẳng.
Như trên đã nói:
Chẳng gặp gió xuân hoa chẳng nở
Đến khi hoa nở lại thổi rơi.
Nếu còn thấy mình là người đắc đạo, là người ngộ
đạo là chưa xong. Nếu ngộ đạo thật sự mà còn thấy mình
đắc đạo, ngộ đạo là chưa rồi, huống nữa chưa ngộ
đạo mà còn tự xưng ta là người thấy đạo, ngộ đạo,
thì nên nghĩ người ấy như thế nào? Vì vậy trong kinh Kim
Cang có đoạn: “Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp.”
Tới chỗ rốt ráo pháp chân chánh còn phải buông xả, huống
là phi pháp. Lời Phật dạy giống như cái bè đưa mình qua
sông, tới bờ rồi bè cũng bỏ, như vậy mới rồi việc.
Nếu mình tu tới đó rồi hài lòng tự mãn thì không thể
nào trángh khỏi việc ôm chặt chiếc bè không lên bờ được.
Đó là ý nghĩa bài tụng của ngài Đơn Hà Tử Thuần.
Một Thiền sư khác, ngài Thanh Long, nhân ý này nói một bài
tụng:
Bần tử dụ trung tằng chỉ chú
Linh bình tân khổ uổng ta đà
Khúc thùy phương tiện thân phân phó
Triếp mạc nhân tuần xử tả khoa.
Dịch:
Trong dụ kẻ nghèo từng chỉ rõ
Lang thang cay đắng luống trôi qua
Được bày phương tiện vì giao phó
Thôi chớ lơ là khiến mất xa.
Ngài Thanh Long nhắc chúng ta người tu chẳng khác nào kẻ cùng
tử trong kinh Pháp Hoa. Trong thời gian lang thang nơi xứ lạ
quê người, người cùng tử chịu muôn ngàn cay đắng. Khi
tìm được lối trở về đến nhà, qua được những cay đắng
rồi vẫn chưa xong việc. Còn phải: Được bày phương tiện
vì giao phó. Ông trưởng giả dùng phương tiện dẫn cùng tử
về nhà trao kho tàng sự nghiệp. Khi được trao sự nghiệp
rồi, thôi chớ lơ là khiến mất xa, còn phải giữ gìn bảo
quản cho sự nghiệp được lâu dài bền vững. Ví dụ chàng
cùng tử trong kinh Pháp Hoa chỉ cho chúng ta khi sáng được
việc lớn mà không chịu nỗ lực cố gắng nữa thì
một ngày nào đó chúng ta cũng bị rơi trở vào chỗ chưa
sáng. Vì vậy khi sáng được việc lớn rồi, cần phải
nỗ lực cố gắng cho đến bao giờ viên mãn công hạnh của
người tu mới là xong việc.
Tất cả người tu Phật chúng ta đừng bao giờ nghĩ rằng
thấy được đạo là xong việc mà phải hành đạo và hằng
sống được với đạo. Mình và đạo không hai mới là thật
sự giải thoát, giải thoát ngay trong đời này, chớ không
phải đợi tới khi chết mới giải thoát, thì quá mơ hồ
xa xôi.
Để kết luận, chúng tôi xin lập lại hai câu đầu nguyên
văn chữ Hán:
Vị đáo vô tâm tu yếu đáo
Ký đáo vô tâm vô dã hưu.
Dịch:
Chưa đến vô tâm cần phải đến
Đã đến vô tâm vô cũng thôi.
Nếu chúng ta còn mù tối chưa thấy được đạo, cần phải
nỗ lực cố gắng học hành tham vấn. Khi đến chỗ vô tâm
rồi, chính cái vô chúng ta cũng phải buông, mới đến chỗ
mình và muôn vật không hai. Nếu còn đeo cái vô, thì vô tình
chúng ta lại rơi vào biển vô sanh của rồng chết.
Nếu đã qua một năm mà tu không tiến, chúng ta hối hận muốn
kéo năm cũ lại để tu hành thì không thể được. Vì vậy
chúng ta đành phải để nó trôi qua. Nhưng năm tới chúng ta
phải làm sao cho xứng đáng không phụ tinh thần xuất gia cầu
giải thoát của chính mình. Năm cũ qua rồi, chúng ta đã
hỷ hạ vui chơi, năm mới sắp đến, chúng ta cũng hỷ hạ
vui chơi không lo tu hành, e rằng một đời tu của chúng ta
trở thành số không.
Hôm nay chúng tôi nhắc lại lời dạy của ngài Trần Tôn Túc
để cho tất cả quí vị người tại gia cũng như xuất gia
tự xét lại mình coi có tu nhiều hay tu ít. Nếu chúng ta đã
tiến tu thì năm tới cũng phải cố gắng để khá hơn. Còn
nếu người nào cảm thấy qua một năm mà không tiến chút
nào thì ngang đây chuẩn bị cho năm tới phải nỗ lực phát
nguyện mạnh mẽ để đền bù lại những thiếu sót của
một năm qua và xứng công trong năm tới. Như vậy mới không
uổng một đời tu của mình. Đó là điều mong mỏi của chúng
tôi trong ngày tháng cùng năm hết này. Mong quí vị chuẩn bị
bước qua năm mới và sáng mai chúng ta có chương trình mới
để tiến đúng với sở nguyện của chúng ta.
NAM-MÔ
BỔN SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT.
MÙA XUÂN MIÊN VIỄN
BÀI
NÓI CHUYỆN VỚI TĂNG NI
XUÂN
ĐINH MÃO 1987
Hôm nay là ngày Tết Nguyên Đán, quí Tăng Ni Phật tử câu
hội về đây để chúc mừng năm mới, tôi rất hoan hỉ. Vậy
quí vị lễ Tổ chứng minh cho rồi tôi sẽ nói chuyện.
Trước hết tôi chúc tất cả Tăng Ni và Phật tử năm nay
được hưởng một mùa Xuân Miên Viễn. Muốn hưởng một
mùa xuân miên viễn, chúng ta phải làm gì? Cần những yếu
tố nào?
Tất cả người trên thế gian đều thừa nhận một năm có
bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Mùa xuân khí hậu ấm áp, cây
cối đâm chồi nẩy lộc, mọi người đều vui mừng, nên
nói mừng xuân, vui xuân hay chơi xuân. Nói tới mùa xuân là
nói tới sự vui tươi, hạnh phúc, coi như nó có sẵn trong
mùa xuân. Nhưng mùa xuân theo thời gian dài lắm chỉ tròn ba
tháng rồi cũng hết xuân, tới hạ, thu, đông. Cho nên cái
vui con người chỉ hưởng một lúc nào rồi mất, nhường
chỗ cho mùa hạ nóng bức, mùa thu buồn tẻ, mùa đông ảm
đạm thê lương.
Người tu chúng ta không thể chấp nhận vui xuân giới hạn
theo thời tiết, cần phải có cái vui mãi mãi không mất, mãi
mãi còn nơi chúng ta. Chúng ta phải tu như thế nào để hưởng
được một mùa xuân miên viễn?
Mùa xuân miên viễn phát nguồn từ đâu? Chính đức Phật
Thích-ca là vị giáo chủ đã chỉ cho chúng ta một mùa xuân
miên viễn. Gần đây hơn, chính Tổ Bồ-đề-đạt-ma là người
đem lại mùa xuân miên viễn trong đạo cho tất cả chúng ta.
Tổ đã gieo rắc mùa xuân ấy vào tâm hồn người tu thiền
chúng ta như thế nào? Sau đây tôi dẫn một số câu chuyện
của các Thiền sư, quí vị sẽ nhận thấy mùa xuân miên viễn
thể hiện trong tâm hồn những người đã sáng được lẽ
đạo và sống với đạo như thế nào?
Trước tiên tôi dẫn câu chuyện: “Một vị Tăng hỏi ngài
Động Sơn Lương Giới:
- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?
Ngài Động Sơn đáp:
- Đợi dòng nước Động Sơn chảy ngược, ta sẽ vì ông nói.”
Nước ở Động Sơn là nước trong khe động trên núi chảy
xuống, có lúc nào chảy ngược trở lên đâu? Nếu nước
ở sông ở biển khả dĩ còn có chảy lên chảy xuống, còn
nước suối trên động núi không bao giờ chảy ngược. Tại
sao ngài Động Sơn bảo đợi dòng nước Động
Sơn chảy ngược sẽ vì ông nói? Câu đó đã nói gì về ý
Tổ sư từ Ấn Độ sang? Tổ sư đây là Tổ Bồ-đề-đạt-ma.
Những vị học và tu thiền thường thắc mắc không biết
Tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Hoa có ý gì đem truyền dạy
cho chúng ta? Ý đó như thế nào? Ngài Động Sơn trả lời
như vậy có dễ hiểu không? Biết ý Tổ sư từ Ấn Độ sang
chưa?
Sau này Thiền sư Nghĩa Thanh ở Đầu Tử có làm bài kệ tụng
về điều đó:
Cổ nguyên vô thủy nguyệt hà sanh,
Mãn ngạn Tây lưu nhất phái phân.
Thông Lãnh bãi tuần Hùng Nhĩ mộng,
Tuyết đình hưu thoại Thiếu Lâm xuân.
Dịch:
Nguồn xưa không nước nguyệt đâu sanh,
Một mạch dòng Tây chảy ngập tràn.
Thông Lãnh hỏi rồi Hùng Nhĩ mộng,
Tuyết sân thôi nói Thiếu Lâm xuân.
Qua bài kệ này ngài Nghĩa Thanh đã nói gì về câu đáp của
ngài Động Sơn?
“Cổ nguyên vô thủy nguyệt hà sanh,”
Dòng suối xưa nếu khô cạn thì làm sao bóng mặt trăng rọi
ở dưới. Dòng suối có nước trong, chúng ta mới thấy được
bóng mặt trăng ở dưới đáy suối, nếu dòng suối đã khô
thì không thấy bóng mặt trăng.
“Mãn ngạn Tây lưu nhất phái phân.”
Mãn là đầy, ngạn là bờ. Dòng suối xưa kia vẫn tràn cả
bờ từ phương Tây trôi mãi chia ra một mạch (phái: mạch).
Ở đây dường như có sự mâu thuẫn. Câu trên nói dòng suối
khô cạn không có bóng mặt trăng. Câu dưới lại nói dòng
suối từ phương Tây chảy lại tràn đầy cả bờ rồi chia
ra chảy mãi. Như vậy ý nói gì? Câu đầu nói dòng suối không
nước tức là không bóng trăng để chỉ câu đáp của ngài
Động Sơn. Đợi dòng suối chảy ngược tôi sẽ vì ông nói.
Câu hai: Dòng suối đó không có bóng mặt trăng tức là khô
cạn. Tuy nói cạn mà không cạn vì nó vẫn chảy tràn cả
bờ và trôi mãi cho tới ngày nay.
Đến hai câu sau rất là đẹp:
“Thông Lãnh bãi tuần Hùng Nhĩ mộng,
Tuyết đình hưu thoại Thiếu Lâm xuân.”
Ở núi Thông Lãnh không còn thưa hỏi nữa, trên núi Hùng Nhĩ
chỉ là giấc mộng thôi. Là ý nghĩa gì? Tổ Bồ-đề-đạt-ma
khi tịch tại Thiếu Lâm, nhục thân Ngài được nhập tháp
trên núi Hùng Nhĩ. “Thông Lãnh bãi tuần” tức là ở Thông
Lãnh không còn thưa hỏi nữa, Tổ Bồ-đề-đạt-ma đã hết
duyên giáo hóa ở Trung Hoa. Nhục thân Ngài nhập tháp trên
núi Hùng Nhĩ chẳng qua là một giấc mộng.
“Tuyết đình hưu thoại Thiếu Lâm xuân.”
Tuyết đình là nơi sân tuyết, khi Tổ Huệ Khả đến hỏi
đạo với Tổ Bồ-đề-đạt-ma. Tổ Đạt-ma ngồi xoay mặt
vào vách lặng yên Tổ Huệ Khả đứng ngoài sân, mùa Đông
tháng chạp ở miền Bắc Trung Hoa tuyết xuống ngập đầu
gối mà ngài Huệ Khả vẫn đứng trơ nhìn thẳng vào Tổ,
mặt không đổi sắc. Tổ thương tình xoay lại hỏi:
- Cầu việc gì mà chịu khổ hạnh vậy?
- Con xin Ngài dạy cho pháp môn cam lồ.
Từ đó về sau Tổ mới nhận Ngài là đồ đệ. Khi thầy
trò còn thưa hỏi qua lại là lúc Tổ còn duyên giáo hóa. Khi
Tổ Huệ Khả không còn thưa hỏi nữa tức là Ngài đã đạt
đạo, thấy được chân tướng mà Tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền
dạy, lúc ấy ở Thiếu Lâm hoàn toàn là một mùa xuân. Nên
nói: trước sân đầy tuyết không còn thưa hỏi nữa, núi
Thiếu Lâm hoàn toàn là một mùa xuân: mùa xuân miên viễn,
mùa xuân không còn bị thời gian chi phối, xuân mãi mãi, không
bao giờ có vẻ ảm đạm của thu, lạnh lẽo của đông nữa.
Muốn được mùa xuân miên viễn phát xuất từ Thiếu Lâm,
phải qua một cơn tuyết ngập tới gối, chớ không giản dị
như những vị hiện giờ mong ước. Vừa được ấm no sung
túc vui cười, vừa mong ước được mùa xuân Thiếu Lâm, chắùc
chắn là không được.
Trên đường đạo, chúng ta phải chịu đựng những gian nan
khổ sở mới hưởng được một nguồn vui không bao giờ cùng
tận. Người tu phải đối diện với sự lạnh lẽo cô đơn,
từ bỏ mọi sự ấm áp của thế tình, lúc đó chỉ có nguồn
chánh pháp sưởi ấm lòng chúng ta thôi. Nếu chúng ta tu mà
muốn được tình đời sưởi ấm mãi, chắc rằng chúng ta
phải chịu lạnh muôn kiếp. Chúng ta phải cam lạnh với tình
đời, phải buông xả, chỉ còn trơ trọi một con người,
khi ấy chúng ta mới được sưởi ấm bằng một nguồn vui
miên viễn của mùa xuân Thiếu Lâm.
Dòng suối từ Tây chảy sang và chảy mãi đến Việt Nam chúng
ta, dòng suối đó đến nay vẫn còn. Chúng ta có hưởng được
hay không là do sức chịu đựng và sức nỗ lực của chúng
ta, cũng như sau một cơn tuyết lạnh rồi chúng ta mới thấy
được một mùa xuân ở Thiếu Lâm. Đó là ý nghĩa bài kệ
của ngài Nghĩa Thanh.
Đến câu chuyện một vị Tăng hỏi ngài Cửu Phong (ngài Cửu
Phong là vị thị giả hỏi chết Thủ tọa ở Thạch Sương).
Tăng hỏi:
-Tổ tổ truyền nhau là truyền việc gì?
Là truyền y bát chăng? Nếu truyền y bát thì khô khan làm sao!
Y bát là vật vô tình, truyền vật vô tình đâu có lợi gì
cho chúng ta, đâu có sưởi ấm chúng ta mãi mãi. Nếu nghĩ
Tổ Tổ truyền nhau là truyền y bát, điều đó không phải
là đạo lý, nên ngài Cửu Phong đáp:
- Thích-ca nghèo, Ca-diếp giàu.
(Nguyên văn chữ Hán: Thích-ca xan, Ca-diếp phú.)
Tăng hỏi:
-Thế nào là Thích-ca nghèo?
Ngài đáp:
-Không một vật cho người.
Tại sao đức Thích-ca nghèo lắm vậy? -Không một vật cho
người, không nghèo là gì? Vì vậy nên sau này con cháu Ngài
nghèo, mà nghèo nhất là ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn, Ngài nghèo
cho tới không có đất cắm dùi, và không có dùi để cắm
nữa. Ngài trình bày chỗ nghèo của mình:
Năm xưa nghèo còn có đất cắm dùi,
Năm nay nghèo không có dùi để cắm.
Như vậy Phật Tổ truyền thừa cái gì? Đức Thích-ca không
có một vật cho người, có cái gì mà truyền!
Vị Tăng lại hỏi thêm:
-Thế nào là Ca-diếp giàu?
Ngài Cửu Phong đáp:
- Trong nước Mạnh Thường Quân.
Khi xưa ở Trung Hoa, Mạnh Thường Quân là người nuôi
rất nhiều dũng sĩ, những dũng sĩ nào thất thời thất thế
ông đều nuôi hết, nên nói Mạnh Thường Quân là người
giàu. Như vậy Tổ Ca-diếp giàu là giàu cái gì? Nếu Tổ Ca-diếp
nghèo thì chắc không truyền tớùi bây giờ. Bởi Ngài giàu
cho nên Ngài truyền nối mãi cho tới ngày nay không dứt, không
giàu là gì? Con cháu đông vầy, đó là cái giàu của ngài
Ca-diếp.
Đức Thích-ca nghèo vì không một pháp cho người, Tổ Ca-diếp
giàu vì truyền mãi không dứt. Không một pháp cho người mà
truyền mãi không dứt có mâu thuẫn không? – Không. Nếu chúng
ta thấy được cái không mâu thuẫn đó là chúng ta thấy được
mùa xuân miên viễn, còn nếu chúng ta thấy có sự mâu thuẫn
là không thấy được mùa xuân miên viễn.
Thiền sư Tử Thuần ở núi Đơn Hà có làm bài kệ nói về
câu đối đáp trên:
Tịch quang ảnh lý hiện toàn thân,
Quí dị thiên nhiên quýnh xuất luân.
Gia phú nhi nô thiên đắc lực,
Dạ phân đăng hỏa chiếu tây lân.
Dịch:
Tịch quang trong bóng hiện toàn thân,
Sang khác thiên nhiên vượt hạng thường.
Con khó nhà giàu riêng đắc lực,
Đêm chia đèn lửa rọi xóm gần.
Tịch quang ảnh lý hiện toàn thân. Tịch là lặng, quang là
sáng. Trong cái sáng lặng bóng nó hiện toàn thân.
Quí dị thiên nhiên quýnh xuất luân. Quí là sáng, dị là khác,
quýnh xuất luân là vượt khỏi bình thường. Cái giàu sẵn
vậy khác hơn là vượt khỏi tất cả cái giàu sang bình
thường của người đời.
Gia phú nhi nô thiên đắc lực. Gia phú là nhà giàu, nhi nô
là con tôi tớ. Cha giàu mà con là tôi tớ riêng được chỗ
đắc lực. Cha giàu dụ cho ông trưởng giả trong kinh Pháp
Hoa, con tôi tớ dụ cho gã cùng tử chịu làm tôi tớ. Nhưng
nếu người con tôi tớ hiểu được việc nhà rồi tức là
đã đắc lực thì ông cha:
Dạ phân đăng hỏa chiếu tây lân. Ban đêm chia đèn lửa để
chiếu rọi xóm gần. Nếu đứa con nghèo khi có sức mạnh
hoặc có khả năng quản lý được gia nghiệp rồi thì người
cha liền chia đèn chia lửa để soi sáng cho láng giềng chung
quanh.
Trong bài kệ này, hai câu đầu nói lên ý đức Thích-ca Ngài
nghèo, bởi vì trong cái sáng lặng lẽ, có cái bóng hiện ra
toàn vẹn. Cái bóng đó không thật, không thật thì có gì
để chia, có gì để trao! Nhưng trong đó có ngầm cái giàu,
không phải cái giàu thông thường của thế nhân, mà cái giàu
vượt trên tất cả những cái thường tình. Đó là cái giàu
của thiên nhiên sẵn có.
Hai câu sau chỉ cái giàu của ngài Ca-diếp. Ngài Ca-diếp rất
giàu. Con cháu của Ngài nghèo nàn, một khi có sức kham nhẫn
chịu đựng được, có đủ khả năng gánh vác được thì
Ngài trao chia cho đèn lửa để nối tiếp mãi mãi. Danh từ
trong đạo thường nói người sau nối tiếp người trước
là “tục diệm truyền đăng” nghĩa là nối lửa trao đèn.
Tại sao không nói trao ngọc trao vàng mà nói trao lửa trao đèn?
Bởi vì chủ yếu của đạo Phật là giác ngộ, mà giác ngộ
là trí tuệ, trí tuệ là sáng suốt. Vì chúng sanh bị vô minh
mê mờ nên phải trôi mãi trong luân hồi lục đạo. Chỉ có
ngọn đèn trí tuệ mới phá được vô minh. Nếu vô minh hết
thì chúng sanh ra khỏi vòng luân hồi.
Nói đến sự truyền bá chánh pháp là nói đến sự trao đèn
nối lửa để soi sáng cho chúng sanh, cho con người và cho nhân
loại. Chúng ta học đạo cốt làm sao thấy được chủ yếu
của đạo để trên đường tu khỏi bị lầm lẫn. Nếu học
đạo mà không thấy chủ yếu đó, chúng ta cứ nghĩ những
phương tiện là đạo, tỉ dụ như bố thí, nhẫn nhục là
đạo, đó chưa phải là cứu kính. Mục tiêu của Phật là
chúng ta phải có ánh sáng trí tuệ mới cứu khổ được chúng
sanh.
Nói đến việc trao đèn, chúng tôi nhớ câu chuyện nhan đề
là “Giáo Lý Tối Thượng” của một Thiền sư Nhật Bản:
“Ngày xưa có một chú mù đi thăm bạn. Vì là bạn cố tri
nên gặp lại ngồi nói chuyện mãi quên giờ. Khi ra về trời
đã khuya, ngoài trời tối đen, anh bạn thương chú quá, nói:
- Ngoài kia trời tối, để tôi đốt đèn cho anh cầm về.
Anh mù cười nói:
Tôi thấy ngày như đêm, đêm như ngày, cần gì đèn.
Anh bạn giải thích:
Tuy anh không cần đèn, nhưng anh nên cầm cây đèn đi, người
đi đường thấy được cây đèn họ trángh khỏi đụng vào
anh.
Thấy có lý, anh mù nhận cây đèn anh bạn đốt và trao cho.
Trên đường về bất thần có người đụng vào anh mù. Người
mù than phiền:
- Anh không thấy tôi sao?
Người kia nói:
Dạ, tôi không thấy.
- Tôi cầm cây đèn mà anh không thấy à?
Người đi đường đáp:
- Thưa bạn cây đèn bạn tắt từ bao giờ!”
Qua câu chuyện trên “giáo lý tối thượng” ở chỗ nào?
Để quí vị suy gẫm, chúng tôi sẽ giải thích sau.
Trong nhà thiền, Thiền sư được trao đèn là ngài Đức Sơn.
Ngài Đức Sơn sau khi đầu phục, được ngài Long Đàm Sùng
Tín nhận làm đệ tử. Một đêm, Ngài đứng hầu thầy trong
thất. Mãi tới khuya, ngài Sùng Tín bảo:
- Đêm đã khuya sao ông không xuống?
Ngài Đức Sơn liền bước ra vén rèm lên, bèn trở lại thưa:
- Ngoài kia tối đen.
Nói đến tối đen tức là muốn xin đèn chớ gì? Ngài Sùng
Tín liền thắp đèn cầy rồi trao. Ngài Đức Sơn vừa đưa
tay cầm cây đèn thì ngài Sùng Tín thổi phụt tắt. Ngay đó
ngài Đức Sơn liền ngộ, từ đó về sau không cần đèn nữa.
Như vậy trao đèn đó có trao hay không? Tại sao ngài Đức
Sơn cầm đèn, vừa đưa tay nhận lấy, ngài Sùng Tín lại
thổi phụt tắt đi? Đó lại gọi là trao đèn tiếp lửa.
Trao ở chỗ nào? Nếu hiểu câu chuyện này thì hiểu câu chuyện
trên.
Trong câu chuyện trước, người bạn thương người bạn mù
quá nên đốt đèn cho anh cầm tay để trángh tai nạn. Đã
là mù thì dù có đèn cũng là vô ích, nó tắt hay còn cháy,
có biết đâu! Bởi vậy nên đèn tắt lúc nào cũng không biết!
Khi sáng mắt rồi đưa đèn mới hữu dụng.
Cũng như vậy, nếu ngài Huệ Khả không đứng lạnh ngoài
tuyết trước sân Thiếu Lâm thì Tổ Đạt-ma đâu có trao đèn
cho Tổ Huệ Khả. Khi đủ khả năng đủ sức nhận rồi mới
trao. Nhưng trao mà không trao. Trao đèn cho người lúc họ đi
đêm, nếu sáng ngày thì họ đâu có cần nữa. Vì vậy nơi
chúng ta nếu không phát sáng được cái vô sư trí thì dù
thầy dù bạn có muốn cho chúng ta sáng, sáng cũng không nổi.
Cái học ngôn ngữ lý thuyết nơi thầy nơi bạn không cứu
được cái mê của chúng ta. Muốn cứu được cái mê của
chúng ta, chính cái vô sư trí phải phát. Khi nào phát được
cái vô sư trí lúc đó mới được trao đèn. Trao đèn là trao
như vậy, nên mới gọi là giáo lý tối thượng. Còn nếu
vô sư trí chưa phát mà trao cũng vô ích thôi. Hiểu như vậy
quí vị mới hiểu nghĩa trao đèn tiếp lửa, trao mà không
trao gì hết. Bởi vậy mới có câu chuyện sau này:
“Có vị Tăng hỏi Thiền sư Cư Hối:
- Tổ Đạt-ma lại là Tổ chăng?
Ngài Cư Hối đáp:
- Chẳng phải Tổ. (Trả lời coi ngang ngược quá!)
- Đã chẳng phải Tổ lại đến làm gì?
- Vì ông chẳng tiến. (Vì ông chẳng tiến được, nên Ngài
sang.)
Vị Tăng liền hỏi:
- Sau khi tiến thì thế nào?
Ngài Cư Hối đáp:
- Mới biết chẳng phải Tổ.”
Câu này thật là hay! Sau khi tiến được mới biết chẳng
phải Tổ. Ngài Đức Sơn vì tiến không được, thấy ngoài
trời tối đen, nên cần đèn. Cần đèn thì thầy đốt cho.
Đốt cho rồi liền thổi phụt tắt. Tắt rồi mới tiến được.
Tiến được mới thấy thầy có trao đèn cho mình không? Khi
chưa tiến được thì mong thầy trao cho mình một cái gì, cho
nên còn thấy có Tổ. Khi tiến được rồi thì còn gì nữa
mà trao? Mới biết không phải Tổ. Không phải Tổ mà là Tổ.
Cái đó mới là lạ lùng.
Qua câu chuyện trên, cũng ngài Tử Thuần có làm bài kệ:
Thiếu Lâm tục diệm sự kham kỳ,
Lạp dạ phương khai tuyết hậu chi
Hoàng Bá tích niên tằng hữu ngữ,
Đại Đường quốc lý một Thiền sư.
Dịch:
Thiếu Lâm tiếp lửa việc lạ kỳ,
Tháng chạp tuyết rơi sau mới chia
Hoàng Bá năm xưa từng đã nói,
Đại Đường cả nước không Thiền sư.
Tại sao cả nước Đại Đường mà không Thiền sư? Bởi vì
nói Tổ thì người ta cứ nghĩ như ở ngoài thế gian, ông
Tổ thợ mộc thì dạy cách làm mộc, phải đục đẽo như
thế nào, cần những đồ nghề gì. Ông Tổ thợ rèn chỉ
dạy cách làm thợ rèn. Còn ông Tổ trong nhà Thiền dạy chúng
ta cái gì? Truyền cho chúng ta cái gì? Không có một pháp cho
người, mà dạy cái gì, truyền cái gì? Đã không có dạy,
không có truyền thì gọi là Tổ được không? Tuy không dạy,
không truyền mà vẫn là Tổ. Mới nhìn qua coi như không phải
Tổ, vì mỗi người chúng ta đã sẵn có cái chân thật đó
rồi chớ không phải Ngài cho, nên nói không phải Tổ. Nếu
không có sẵn, dù Ngài chỉ Đông, vẽ Tây, thì chắc rằng
chúng ta cũng không thấy được cái chân thật đó, cho nên
nói không phải Tổ mà là Tổ. Cũng như vậy, ngài Hoàng Bá
nói cả nước Đại Đường không có Thiền sư, chỉ tạm
gọi là Thiền sư.
Ý nghĩa của bài kệ như sau:
“Thiếu Lâm tục diệm sự kham kỳ.” Sự truyền đăng tục
diệm ở Thiếu Lâm rất lạ lùng. Sự đó phát xuất từ lúc
nào? “Lạp dạ phương khai tuyết hậu chi” : sau đêm tháng
chạp tuyết lạnh mới nở được hoa, nên nói : Tháng chạp
tuyết rơi sau mới chia tức là chia đèn tiếp lửa sau đêm
tuyết ở Thiếu Lâm. Như vậy chúng ta thấy rằng việc truyền
thừa của chư Tổ là mồi đèn tiếp lửa để soi sáng mãi
mãi cho chúng sanh ở thế gian.
Vì lẽ vừa nêu trên, chúng tôi đặt tên Thiền viện Thường
Chiếu. Nếu nói Thường Chiếu suông thì thấy nó lơ lửng
quá! Vậy cái gì Thường Chiếu? – Tuệ Nhật Thường Chiếu
hay Tuệ Đăng Thường Chiếu, nghĩa là truyền đèn tiếp lửa.
Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn có câu: “ tuệ nhật phá
chư ám” tức là mặt trời trí tuệ phá hết mọi tối tăm,
mà Thường Chiếu là phá ám chớ gì? Vì thế chúng ta phải
hiểu cho tường tận chủ đích của người trước. Thường
Chiếu theo tinh thần nhà thiền là ngọn đèn, ngọn đuốc
hay là mặt trời trí tuệ mãi mãi soi sáng không bao giờ gián
đoạn.
Chúng tôi có tham vọng muốn chia đèn tiếp lửa từ thuở
Phật Tổ, nối mãi mãi đến bây giờ và về sau, để soi
sáng chúng sanh không để bị gián đoạn, tắt dứt. Tuy hiện
giờ có soi chút chút, nhưng nếu mai kia khi tôi mất rồi, quí
vị phải tiếp tục soi sáng mãi mãi đừng để nó gián đoạn,
nếu gián đoạn thì mất ý nghĩa Thường Chiếu rồi. Chủ
đích của người tu Phật là dùng ánh sáng trí tuệ để soi
sáng chúng sanh phá tan màn vô minh đen tối, giúp chúng sanh
thoát khỏi dòng trầm luân sanh tử. Vì vậy mà tôi thích tên
Chiếu. Có người cười bảo là chiếu lát chiếu rơm gì đó,
vì không rõ mục tiêu tôi nhắm với tham vọng hơi nhiều.
Chúng tôi mong rằng quí vị có mặt hôm nay, trong ngày đầu
năm, ý thức được bổn phận và mục đích của mình. Biết
được mục đích rồi lúc nào chúng ta cũng nhắm thẳng mục
đích đó. Hòa thượng Viện trưởng đã dạy chúng ta: Làm
việc gì một thời gian rồi, phải tự hỏi lại mình xem có
đi đúng mục đích của mình hay không? Vì danh lợi hay vì
cái gì? Phải luôn luôn hỏi lại mình để nhắc mình đi đúng
mục tiêu mà mình đã nhắm.
Ở đây, chúng tôi nhắm mục tiêu “Phật Tổ tương truyền”.
Chúng ta đã thừa hưởng ánh sáng mặt trời đó, chúng ta
nên đem ánh sáng ấy soi lại cho những người chung quanh và
những người sau để cùng sáng với chúng ta. Có những khi
cần giảng chữ Thường Chiếu, tôi giảng có tính cách nhè
nhẹ để người ta không thấy tham vọng của mình, tôi nói
Thường Chiếu là tên của một Thiền sư Việt Nam. Bây giờ
cần nói sâu nguyện vọng của mình, tôi nói là Tuệ
Nhật Thường Chiếu hay Tuệ Đăng Thường Chiếu, chớ không
phải là chuyện thường. Hôm nay tôi nêu ra cho tất cả quí
vị thấy bản hoài của người tu phải đạt cho kỳ được
cái gì mà Phật Tổ mong muốn nơi chúng ta.
Phần kết luận bài nói chuyện hôm nay là lời chúc xuân đầu
năm của tôi với Tăng Ni và Phật tử, tôi xin nhắc lại lời
của người xưa:
Bất đạp kim thời lộ,
Thường du kiếp ngoại xuân.
Tức là: Không dẫm trên con đường hiện thời, thường dạo
một mùa xuân kiếp ngoại. Kiếp ngoại xuân là gì? Kiếp là
chỉ cho thời gian, như nói một đời, một kiếp. Hoặc trong
kinh nói tiểu kiếp, trung kiếp, đại kiếp chỉ cho thời gian
dài thăm thẳm. Kiếp ngoại xuân là xuân vượt ngoài thời
gian, năm, tháng. Nói tới xuân là nói tới thời gian. Nhưng
nếu chúng ta không dẫm trên con đường hiện thời là chúng
ta hưởng được mùa xuân ngoài thời gian, còn gọi là mùa
xuân miên viễn. Vì sao không đạp trên con đường hiện thời?
Con đường hiện thời chỉ cho con đường mà chúng sanh đang
tranh đua chen lấn nhau đi, đó là con đường danh, lợi, tài,
sắc v.v… Nếu chúng ta không đạp trên những con đường
đó thì chúng ta sẽ hưởng được một mùa xuân kiếp ngoại,
mùa xuân miên viễn không còn bị lệ thuộc thời gian. Hai
câu này chúng tôi tạm dịch theo thể văn lục bát:
Chẳng đi theo bước đương thời,
Mùa xuân kiếp ngoại thảnh thơi dạo hoài.
Hôm nay, ngày đầu năm Đinh Mão, chúng tôi mong rằng tất cả
Tăng Ni cùng Phật tử sẽ hưởng một mùa xuân miên viễn.
Làm sao một đời này chúng ta luôn luôn được an vui, không
còn cảm thấy khổ đau vì ngoại cảnh, vì cái đuổi xua của
quỉ vô thường, mà chúng ta hằng vui trong một mùa xuân kiếp
ngoại hay nói cách khác là một mùa xuân miên viễn.
NAM-MÔ
BỔN SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT
AN LẠC SAU KHI BỨNG GỐC KHỔ ĐAU
BÀI
NÓI CHUYỆN VỚI PHẬT TỬ
XUÂN
ĐINH MÃO 1987
Hôm nay là ngày Tết Nguyên Đán năm Đinh Mão 1987, quí Phật
tử đến chùa lễ Phật và chúc mừng năm mới quí thầy.
Để đáp lại lòng kính trọng Tam Bảo của quí Phật tử,
chúng tôi sẽ có lời chúc đầu năm hơi dài dòng một chút,
không chỉ một câu ngắn gọn rồi thôi, lời chúc này gồm
nhiều chi tiết. Hôm nay đầu đề chúng tôi chúc là: Cầu
tam bảo gia hộ cho tất cả Phật tử một năm mới hoàn toàn
an lạc.
Khi nói đến an lạc, trước phải nói đến đau khổ. Nếu
nói an lạc suông, quí vị lại tưởng là mình thảnh thơi
lắm, rồi không cố gắng tu hành. Vì vậy khi chúc quí Phật
tử một năm mới hoàn toàn an lạc, chúng tôi sẽ nói rõ nguồn
gốc đau khổ của con người hiện tại và vị lai. Nếu biết
được nguồn gốc đau khổ mình nhổ phăng bứt gốc bứt
rễ nó lên thì an lạc sẽ đến, an lạc thật sự.
Tất cả Phật tử chúng ta là con Phật phải nhìn thấy đúng
như cái nhìn cái thấy của đức Phật. Sau khi giác ngộ rồi,
đức Phật thấy rõ được bản chất của con người như
thế nào, Ngài đem ra chỉ dạy để chúng ta thức tỉnh biết
rõ được con người mình. Khi biết rõ được con người mình
thì chúng ta mới biết làm sao để hết khổ và làm sao để
đến an lạc thật sự, đó là gốc của sự tu. Nếu chúng
ta không biết bản chất của mình là vui hay khổ cứ sống
lây lất qua ngày, đua đòi theo những hình thức vật chất,
chúng ta phải tạo nghiệp thọ khổ, chẳng những đời này
mà còn kéo dài không biết bao nhiêu kiếp nữa. Vì lòng từ
bi, đức Phật muốn cho mọi người hết khổ, nên trước
tiên Ngài chỉ rõ nguồn gốc đau khổ. Thấy được nó chúng
ta mới có thể đào bới nó lên được. Nếu không thấy nó
chúng ta muốn cầu vui mà cái vui không bao giờ đến, vì chúng
ta có biết cái khổ đâu mà bới lên. Thành ra muốn vui mà
con người cứ khổ, cái khổ cứ tràn tới mãi mãi. Chính
con người ở thế gian đang là như vậy, lúc nào cũng chúc
mừng nhau năm mới được an vui hạnh phúc, nhưng đến cuối
năm quí vị thấy có an vui hạnh phúc không? Luôn luôn chúc
nhau an vui hạnh phúc mà kết quả lại không có an vui hạnh
phúc chi hết, mà trái lại nhiều khổ đau, nhiều bực bội.
Chúc như vậy chỉ là chúc suông thôi.
Ở đây chúng tôi muốn quí Phật tử thật sự sang năm này
là một năm quí Phật tử tạo nên một cội nguồn của sự
an lạc. Muốn tạo nên cội nguồn an lạc đó trước tiên
quí Phật tử phải biết nguồn gốc đau khổ là cái gì? Biết
được nó rồi chúng ta mới có thể bứng gốc bứng rễ nó
để thành an lạc.
Nguồn gốc đau khổ là cái gì?
Trong đạo Phật, lúc nào đức Phật cũng muốn chỉ cho mọi
người thấy được lẽ thật của kiếp sống con người.
Chúng ta cứ tìm những điều quanh quẩn bên ngoài mà những
điều đó dù chúng ta thấy được lẽ thật của chúng, cũng
là lẽ thật bên ngoài thôi; còn bản thân chúng ta chưa biết
chưa thấy đó là một khuyết điểm lớn lao. Vì vậy đức
Phật nói rõ bản chất của con người là khổ hay vui? –
Khổ! Vừa nghe thoáng qua chúng ta cảm thấy bi quan, nhưng đó
là sự thật.
Vì sao bản chất con người là đau khổ?
Đức Phật dạy: đau khổ chia ra hai phần:
1. Đau khổ do sự cảm thọ.
2. Đau khổ do lòng tham ái.
Như vậy chúng ta cần xác định lại kiếp sống con người
là đau khổ, chớ không phải là an vui. Đức Phật dạy những
đau khổ của con người là do:
- Sanh, già, bệnh, chết,
- Ái biệt ly khổ,
- Oán tắng hội khổ,
- Cầu bất đắc khổ,
- Ngũ ấm xí thạnh khổ.
Chúng ta ở trên thế gian này thật là khổ. Trong cuộc sống
quí vị muốn một trăm điều, kết quả được bao nhiêu?
Nhiều lắm là hai chục điều thôi tức là có hai chục
phần trăm được như ý. Đó là tôi nói ưu đó, có khi còn
chưa được như vậy nữa! Còn tám chục phần trăm là bất
như ý, tức là không toại nguyện, mà không toại nguyện là
đau khổ. Nhìn tổng quát, đức Phật nói cuộc đời con người
là đau khổ, sanh là khổ. Đó là cái khổ thứ nhất.
Già có khổ không? Có ai nói già mà vui đâu! Già thì thân
thể yếu gầy bệnh hoạn, rồi răng rụng da nhăn, chân mỏi
gối dùn, đi đứng lụm cụm, đủ chuyện phiền hà, nên nói
già là khổ.
Bệnh có vui không? Bệnh là khổ rồi, không ai chối được.
Còn chết thì sao? Là đại khổ!
Như vậy thử kiểm lại ở trần gian này, có người nào thoát
khỏi sanh lão bệnh tử hay không? Ai cũng sanh ra rồi già đi,
ai cũng phải bệnh hoạn rồi cuối cùng là chết. Không một
ai thoát khỏi bốn điều này, cho nên nói kiếp người đau
khổ là như vậy.
Đến ái biệt ly: thương mà xa lìa. Những người mình thương
rất là thương mà xa lìa, có gì khổ cho bằng! Có người
nào khỏi xa lìa thân nhân mình đâu, thân nhất là cha mẹ,
vợ chồng, anh em, bạn bè, có lúc cũng phải xa lìa. Như vậy
gọi là ái biệt ly khổ. Oán tắng hội khổ: ghét mà gặp
mặt nhau cũng khổ. Những người mình không thích, không muốn
thấy mặt mà cứ ở ngay trước mắt mình hoài thì làm sao
vui được! Cầu bất đắc khổ: mong cầu mà không được
như ý cho nên khổ. Cái khổ thứ tám là ngũ ấm xí thạnh
khổ. Năm ấm sắc, thọ, tưởng, hành, thức cấu hợp thành
thân này, luôn luôn chống đối, bất an cho nên đau khổ.
Tám điều khổ vừa kể trên, chúng ta đều phải đa mang suốt
cuộc đời, không thiếu sót một điều nào. Có ai khỏi sanh
già bệnh chết? Có ai không xa lìa người thương, không gặp
gỡ người mình ghét? Có ai cầu điều gì được điều nấy
đâu? Tám điều khổ của con người là sự thật, không chối
cãi được. Đau khổ là một lẽ thật không làm sao tránh
được, nó luôn luôn theo dõi ép ngặt khiến chúng ta bất
an. Nếu có gượng cười gượng vui, chỉ trong giây lát rồi
cũng khổ. Ví dụ như khi gặp bạn bè vui tươi chốc lát,
đến lúc về nhà đau chân, mỏi lưng… cảm thấy khổ thân.
Như gặp người thân thì mừng rỡ, nhắc lại người xa cách
thì than khóc. Gặp người mình thích thì tươi cười, gặp
người mình ghét thì bực bội. Cả ngày vui buồn thay đổi
luôn luôn, điều vui thì ít, đau khổ thì nhiều. Bản chất
con người là đau khổ. Đức Phật gọi đó là Khổ đế:
Khổ là một lẽ thật không chối cãi được.
- Tám điều khổ do đâu mà ra? Gốc từ cảm thọ mà ra. Cảm
thọ chia ra làm hai phần:
1. Cảm thọ sai biệt của sáu căn rồi chấp nê sanh đau khổ.
2. Cảm thọ do đuổi theo thú vui rồi giành giựt sanh đau khổ.
Vì sao cảm thọ sai biệt của sáu căn gây nên đau khổ? Chúng
ta ai cũng có sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Sáu
căn này có những cảm thọ ngoại cảnh không giống nhau. Thí
dụ như mắt chúng ta nhìn thấy sự vật, nếu vị nào có
con mắt nghệ thuật, khi nhìn bình hoa đặt trên bàn thì trầm
trồ khen hoa chưng đẹp mắt. Nhưng một người khác không
có mắt nghệ thuật nhìn mấy nhánh hoa lưa thưa ngả nghiêng
không có gì đẹp cả. Người bảo đẹp, người cho là xấu,
hai người không đồng ý nhau rồi sanh bực tức tranh cãi.
Con mắt xúc chạm với sắc trần, người thấy đẹp, người
thấy xấu là do cảm thọ sai biệt mà ra. Như vậy ai đúng?
Nếu không ai đúng thì sao lại tranh cãi? Thật là vô lý. Mỗi
người có cái thấy không giống nhau. Do cái thấy khác nhau,
rồi không đồng ý với nhau nên sanh cãi rầy. Nguyên do là
vì chúng ta không có nhận xét đúng đắn.
Đến cảm thọ sai biệt của lỗ tai. Thí dụ hai ba người
bạn ngồi chơi, một người kể chuyện phải quấy trong xóm,
rồi nói: Những người nghèo thật đáng thương. Người bạn
khá giả nghe nói như vậy thì vẫn bình tĩnh, trong khi người
bạn nghèo cho rằng mình bị khinh khi. Cùng nghe một câu chuyện,
mà một người thì không bị xúc phạm, còn một người thì
bị tự ái, bị mặc cảm. Lời nói có giá trị bằng nhau,
nhưng khi nghe rồi sự cảm thọ khác nhau, nên sanh vui buồn
khác nhau. Một người cho rằng không có chỉ trích người
nghèo, một người cho rằng mình nghèo nên bị khinh khi, hai
người không đồng ý nhau nên sanh cãi vã. Đó là do sự cảm
thọ sai biệt của lỗ tai.
Sự cảm thọ của mũi có giống nhau không? Như người miền
Nam nghe mùi sầu riêng nói: thơm quá! Nhưng người miền Trung
bảo: hôi quá! Cùng một mùi sầu riêng người nói thơm, người
nói hôi. Như vậy ai đúng? Người nói mùi sầu riêng là thơm
sẽ cãi với người kia. Người nói mùi sầu riêng là hôi
sẽ cãi lại. Hai người sẽ đi đến ẩu đả nhau. Ai đúng?
Ai sai? Người bàng quan ngoại cuộc nếu ở miền Nam thì cho
rằng người ngửi thơm là đúng, nếu ở miền Trung thì cho
người ngửi hôi là đúng. Do sự huân tập khác nhau nên sự
cảm thọ có sai biệt. Sự tranh cãi đúng sai thật là vô ích,
không khôn chút nào hết, lại làm buồn lòng nhau, chẳng phải
nguồn gốc của đau khổ sao? Buồn giận nhau, không ngó mặt
nhau, gọi là oán tắng hội, đau khổ từ đó mà sanh.
Sự cảm thọ của lưỡi cũng khác nhau! Thí dụ cô đầu bếp
làm thức ăn. Cô nấu canh nêm nếm đàng hoàng rất là vừa
ý. Nhưng vì cô quen ăn mặn nên những người quen ăn lạt
chê là nêm canh quá mặn. Cô đầu bếp tức giận nghĩ mình
nấu nướng kỹ lưỡng, nêm nếm vừa ăn lắm mà còn bị
chê trách! Chung qui chỉ vì thói quen của cái lưỡi người
quen ăn mặn, người quen ăn lạt mà thôi. Người quen ăn mặn
cảm thấy vừa miệng thì người quen ăn lạt cho là mặn và
ngược lại, người quen ăn lạt cảm thấy vừa ăn thì người
quen ăn mặn cho là lạt. Như vậy lấy đâu làm tiêu chuẩn?
Vì sao lại cãi nhau cho sự cảm thọ của mình là đúng? Mỗi
người có khẩu vị khác nhau. Cùng một thức ăn, người khen
ngon, người chê dở. Người thích món ăn này, người thích
món ăn kia, vì mỗi người có cảm thọ riêng biệt theo thói
quen của mình. Chẳng những chúng ta có thói quen đời này
mà còn cả thói quen của đời trước nữa. Thí dụ có người
khi cha mẹ sanh ra chỉ ăn chay lạt, không ăn thịt cá được.
Vì lý do gì? Có phải là cảm thọ quá khứ còn lại, nên
không thích mùi thịt cá. Lại có người cha mẹ bảo ăn chay,
thì thích dùng thức ăn mặn. Như vậy là do thói quen của
mọi người, hoặc ở hiện tại, hoặc đã huân tập trong
quá khứ. Chúng ta không nên chủ quan bắt buộc người khác
phải giống mình. Nhưng ở trên thế gian này phần đông chúng
ta đều chủ quan muốn ai cũng giống mình, nhất là con cái
trong nhà. Nếu con trong nhà làm khác ý cha mẹ, cha mẹ sẽ
bực tức giận trách rầy la, tạo bao điều đau khổ trong
gia đình. Tất cả cũng do sự cảm thọ sai biệt mà ra.
Cảm thọ của thân như thế nào? Cũng riêng biệt tùy theo
mỗi người. Thí dụ: Hai người ở chung một căn phòng, một
người mập béo, một người gầy ốm. Căn phòng có một cửa
sổ khi trời vừa mát người gầy ốm cảm thấy lạnh vội
đi đóng cửa sổ… Người mập béo nghĩ thế nào? Cảm thấy
bực bội, khí trời nóng bức vừa dịu mát lại đóng cửa
sổ, không giận sao được! Rồi hai người cãi vã nhau, có
khi đi đến ẩu đả. Như vậy lẽ thật ở đâu? Đó là do
cảm thọ sai biệt của thân nên người ta bất đồng ý với
nhau rồi sanh bất hòa, đó là nguồn gốc đau khổ.
Thứ sáu là cảm thọ của ý. Điều này là quan trọng hơn
hết. Cảm thọ của ý là gồm nghiệp của quá khứ và thói
quen của hiện tại. Mỗi người chúng ta sống trong hoàn cảnh
gia đình và xã hội khác nhau nên được sự giáo dục và
hiểu biết khác nhau. Người thấy thế này là phải, người
thấy thế kia là phải. Thí dụ: Một người sanh trong gia đình
theo đạo Phật từ thuở bé, một người sanh trong gia đình
theo đạo Chúa từ thuở bé. Hai người ngồi nói chuyện với
nhau, do sự huân tập khác nhau nên có những cảm nghĩ khác
nhau. Người tin Chúa cho đạo Chúa là đúng, không chấp nhận
đạo Phật. Người tin Phật cho đạo Phật là hay, không chấp
nhận đạo Chúa. Hai người tranh luận với nhau, có những
quan điểm bất đồng, bực bội cãi vã lẫn nhau. Đó là nguồn
gốc của đau khổ. Đến đời sống của vợ chồng trong gia
đình cũng vậy. Người chồng có sự huân tập của người
nam, lo việc rộng lớn ngoài xã hội, người vợ có sự huân
tập của người nữ, lo việc tỉ mỉ trong nhà. Hai vợ chồng
có hai huân tập khác nhau, nên thường không đồng ý kiến
với nhau. Ai cũng thấy mình là đúng, người kia là sai, nên
không ai chịu thua ai, cuối cùng đi đến ly dị, hậu quả
là con phải chịu đau khổ! Nguyên do từ đâu? Chỉ do sự
cảm thọ sai biệt, rồi chấp chặt cho quan niệm của mình
là đúng, bắt người khác phải nghe phải thấy như mình,
phải có những cảm nghĩ những hiểu biết như mình. Nếu
không đồng ý nhau thì lắc đầu than thở: Sao không có ai
là bạn tri kỷ với mình! Thử hỏi trên thế gian này có mấy
người tri kỷ giống mình như một? Chắc là không rồi, vậy
mà buộc lòng phải sống chung nhau thật là quá đau khổ!
Thế thì phải làm sao cho hết đau khổ! Chỉ đừng chấp nê
là hết đau khổ! Cùng một mùi trái cây tôi ngửi cho là thơm
cũng đúng, chị cho là hôi cũng đúng theo thói quen của mỗi
người, như vậy hòa nhau, tránh được sự tranh cãi. Cùng
một thức ăn chị nếm nghe mặn, tôi nghe lạt, cả hai đều
đúng theo thói quen của cả hai, tất nhiên hòa nhau không có
tranh cãi v.v… Nếu còn chủ trương sai biệt cho mình là đúng,
người là sai, là còn tranh cãi, còn đau khổ. Nhận chịu s