11.
Những Cái Vui Trong Đạo Phật (Xuân Canh Thân-1980)
12.
Sanh Tử Sự Đại (Đêm trừ tịch cuối năm Canh Thân-1980)
13.
Xuân Tinh Tấn.
14.
Tùy Duyên Bất Biến.
15.
Pháp Môn Không Hai (Xuân Giáp Tý-1984)
NHỮNG CÁI VUI TRONG ĐẠO PHẬT
XUÂN
CANH THÂN 1980
Trong nhà Phật ngày mùng một là ngày vía đức Di-lặc. Đức
Di-lặc hiện tại là một vị Bồ-tát, nhưng mà tương lai
sẽ là Phật. Cho nên khi nãy chúng ta lễ Ngài là “Đương
lai hạ sanh Di-lặc Tôn Phật”. Chúng tôi gọi Ngài là Phật,
vì là một vị Phật sẽ đến, sẽ thành, còn gọi Ngài là
Bồ-tát vì là vị Bồ-tát hiện tại. Phần nhiều ở chùa
đến ngày này đều cử lễ vía Ngài. Đó là một thông lệ
nhưng mang nhiều ý nghĩa quan trọng. Người thế gian ai cũng
quan trọng ngày đầu năm, cho đó là ngày chứa đựng đầy
đủ ý nghĩa trong một năm. Vì vậy mọi hành động, ngôn
ngữ ý niệm đều được dè dặt, dè dặt từ cử chỉ lời
nói, việc làm, để giữ gìn một năm đầy tốt đẹp.
Ở đây trong nhà Phật, chúng ta gọi ngày đầu năm là ngày
vía đức Di-lặc. Ngài là hình ảnh đẹp đẽ vui tươi mà
ai cũng đều nhớ đều thấy. Nhìn gương mặt của Ngài, bao
giờ cũng thấy Ngài nở một nụ cười, gọi là nụ cười
Di-lặc. Nụ cười đó không bị thời gian giới hạn. Lúc
nào quí vị nhìn thấy tượng Ngài đều là cười. Thuở bé
quí vị thấy Ngài cười, đến già cũng thấy Ngài cười,
cho đến chúng ta tắt thở cũng thấy Ngài cười. Nụ cười
đó là nụ cười Di-lặc.
Đáng lý đề tài chúng tôi nói chuyện hôm nay lấy tên là
“Nụ cười Di-lặc”, nhưng nói như vậy thì sợ e nó khuôn
trong một hình thức nhỏ. Cho nên chúng tôi chọn đề tài
tương xứng với ngày đầu Xuân, tức là ngày vui của dân
tộc, của mọi cá nhân, cũng là ngày vui trong đạo, tức là
ngày đón mừng một vị Bồ-tát sắp thành Phật ở mai sau.
Đón mừng Bồ-tát Di-lặc, một vị sẽ thành Phật, đó là
hình ảnh bên ngoài. Còn hình ảnh bên trong tức là đón mừng
những người Phật tử, những người con Phật mai kia cũng
sẽ thành Phật. Đó là hy vọng tràn trề chứa đựng bao nhiêu
cái đẹp đẽ của tương lai. Cho nên ngày đầu Xuân cũng
là ngày vui của chúng ta, cũng là một ngày hứa hẹn chúng
ta sẽ toàn giác thành Phật. Vì vậy đề tài hôm nay là “Những
cái vui trong đạo Phật”. Nó hơi tầm thường một chút,
nhưng nó rộng rãi để quí vị nghe cho rõ.
Người đời có quan niệm rằng đạo Phật chán đời yếm
thế làm gì có cái vui. Không ngờ trong đạo Phật chứa tràn
trề niềm vui, những niềm vui đó phát xuất từ cạn đến
sâu.
1- Cái vui của người Phật tử đến chùa là tập cái vui
“tùy hỷ”, hỷ là mừng, tùy là theo. Khi chúng ta nhìn thấy
một người bạn hay một kẻ thân làm một điều lành, một
việc phải thì chúng ta phát tâm vui theo. Người làm vui năm,
chúng ta cũng vui được năm. Người làm vui mười chúng ta
cũng vui mười. Vui theo việc làm lành làm phải của người
bạn người thân, cho đến những người đồng đạo của
chúng ta. Chúng ta phát được niềm vui đó, thì công đức
cũng bằng của người làm việc phải, việc thiện. Nói như
vậy quí vị không khỏi nghi ngờ. Thí dụ: Người ta đem mười
đồng bạc tới chùa cúng tăng hay cúng Tam Bảo, mình không
có đồng xu nào hết, thấy người ta cúng Tam Bảo họ vui,
mình cũng vui theo, thì công đức của người cúng mười đồng
với công đức của người vui theo bằng nhau. Mới nghe qua
như bất công bằng vì mình không tốn một xu nào mà lại
công đức bằng. Nhưng đức Phật nói công đức bằng nhau.
Có người hỏi: Bạch Thế Tôn, tại sao công đức tùy hỷ
và công đức bố thí lại bằng nhau? Phật trả lời: Như
một ngọn đèn, hay một cây đuốc đang cháy, có người cầm
cây đuốc đến mồi. Khi mồi xong, cây đuốc này cháy, cây
đuốc kia cháy, thử hỏi ánh sáng hai cây đuốc có thua nhau
không? Cây đuốc bị mồi có mất ánh sáng không? Phật nói:
Cũng vậy, người làm việc lành việc thiện, chính họ đã
có công đức rồi. Người kia phát tâm tùy hỷ vui theo việc
lành, việc thiện đó, công đức cũng ngang bằng với người
làm lành làm thiện. Như vậy tốt quá, nhẹ nhàng quá, lựa
là chúng ta có nhiều tiền mới làm việc công đức. Ai làm
việc công đức chúng ta tùy hỷ tán dương thì chúng ta có
công đức ngang bằng rồi.
Tại sao tùy hỷ có công đức lớn như vậy?
Người có của đem ra bố thí hay là có công đem ra giúp người,
đó là họ xả được cái tâm ích kỷ, tham lam của họ để
làm việc bố thí, làm việc cúng dường, làm việc cứu giúp.
Còn người phát tâm tùy hỷ thì xả được cái tâm tật đố,
vì thông thường thế gian thấy người ta làm cái gì hơn mình
thì sanh tật đố.
Thí dụ hai huynh đệ đi chùa, người kia có mười đồng cúng,
mình không có, thì cảm thấy buồn, rồi nói móc nói ngoéo,
chớ không bao giờ có tâm tùy hỷ vui theo. Thấy người ta
làm, mình làm không được thì có cái đố kỵ. Đó là tâm
xấu. Bây giờ chúng ta phát tâm tùy hỷ là dẹp được cái
tâm tật đố.
Người bố thí xả được cái tâm tham lam ích kỷ, người
tùy hỷ xả được cái tâm tật đố, thì hai người công
đức bằng nhau. Nhưng ở thế gian, chúng ta hằng thấy, cho
đến em ruột trong nhà, khi thấy người anh làm được nhiều
của giàu, còn mình không có của nghèo, thì tự nhiên có mặc
cảm đố kỵ với anh rồi. Vì vậy tình anh em có hơi xa cách.
Vì sao? Bởi cái tâm tật đố không muốn ai hơn mình. Thấy
người hơn mình là sanh tâm đố kỵ. Đó là thông bệnh của
con người. Cho nên ở đây chúng ta học đạo phải tập cái
tâm tùy hỷ. Không phải đợi làm việc công đức mới tùy
hỷ, mà thấy ai làm được cái gì an vui, hạnh phúc tốt đẹp,
chúng ta đều tùy hỷ hết.
Một thí dụ nữa. Chúng ta nghèo ăn cơm hẩm với muối hột,
người bạn chúng ta giàu, ăn cơm gạo lúa thơm, thịt cá đầy
bàn. Thấy như vậy chúng ta vẫn tùy hỷ bảo: “Anh sung sướng
quá, tôi mừng cho anh được đầy đủ sung túc.” Thấy mình
tùy hỷ người bạn giàu đó ghét mình không? Không ghét mà
thương, có thể còn giúp đỡ mình nữa. Nhưng mà ở đời
người ta chịu làm vậy không? Hay là nếu mình ăn cơm hẩm
muối cục, bạn mình ăn cơm gạo lúa thơm, cá thịt đầy
bàn, thì tự nhiên thấy không vui, rồi kiếm chuyện nói móc
nói ngoéo. Do đó tình bạn bè tự nhiên xa cách. Mình đố
kỵ người ta, người ta thương mình sao được. Từ cái đó
mà sanh ra ngăn cách. Bạn trở thành thù, bởi đố kỵ mà
ra. Từ hoàn cảnh ăn ở, cách xử sự, cho đến làm việc
thiện v.v... Tất cả chúng ta đều nên tập cái tâm tùy hỷ.
Có người làm được việc mà chúng ta không đủ khả năng
làm, chúng ta nên mừng theo.
Một thí dụ khác. Hồi thuở bé, chúng ta đi học ở trường,
khi thầy giáo cô giáo kêu trả bài, hôm nào mình không thuộc
bài bị điểm nhỏ, nếu bạn mình thuộc bài được điểm
lớn thì mình có thương người được điểm lớn hay không?
Mình lười biếng không học, nên thua người ta, người ta
siêng học được điểm lớn, tại sao mình lại buồn ghét,
lại đố kỵ.
Hoặc giả, trong đám học trò, đến cuối năm những đứa
học giỏi được khen thưởng, được những món quà, còn
mình là kẻ học dở đứng hạng chót, nhưng khi thấy người
ta lãnh quà, thì mình có vui lây không? Hay là thấy ghét rồi
kiếm chuyện này chuyện kia để thách đố. Cái tâm đó có
từ thuở bé, chớ không phải bây giờ mới có. Chúng ta mang
sẵn nó từ thơ ấu. Giờ đây biết tu chúng ta bỏ cái tật
đó. Nó tương đương với tham lam. Tham lam có thì tật đố
cũng có. Người biết làm lành làm phước, họ xả được
lòng tham, chúng ta biết tùy hỷ, thì bỏ được tâm tật đố.
Như vậy cả hai đều bỏ được một tật cho nên đức Phật
nói: “Công đức ngang nhau.”
Như vậy, mai mốt đi chùa, hai huynh đệ, người này có món
đồ cúng Phật, cúng tăng, mình không có mình cũng vui theo,
mừng cho bạn có tiền để cúng chùa. Như vậy cả hai công
đức đều như nhau. Đừng nghĩ mình nghèo không có gì cúng
mà không muốn đi chung nữa. Đừng nghĩ như vậy. Đó là trái
với đạo lý. Hiểu ứng dụng cho đúng thì chúng ta mới thấy
Phật pháp công bằng, không thiên người giàu, không bỏ người
nghèo. Ai cũng có phước hết, chỉ cần có tâm lành, tâm thiện
là được. Đó là cái vui nhỏ đầu tiên của người vào
đạo.
Trong gia đình, anh em chúng ta ai giàu ai khá, ai được cái gì
tốt hạnh phúc, chúng ta đều vui mừng như chính chúng ta được.
Ngoài xã hội từ bạn bè cho đến mọi người, ai được
cái gì hay cái gì tốt, cái gì sung sướng, chúng ta vui mừng
như chính chúng ta được. Rồi đến trong đạo huynh đệ chúng
ta có cái gì hay cái gì tốt, chúng ta vui mừng như chính chúng
ta được. Nếu được như vậy chúng ta còn khổ hay không?
Tự nhiên là vui rồi, lúc nào cũng có niềm vui, vui theo cái
vui của người. Chúng ta không bị tật đố làm cho cách biệt,
làm cho buồn bực, không để đố kỵ làm mất tình anh em
ruột thịt trong nhà, mất cả bạn bè ngoài xã hội và mất
cả tình đạo ở trong chùa. Được như vậy đi đến đâu
chúng ta cũng có niềm vui, dù tay không, không giúp ai được
cái gì. Trái lại mình nghèo mặc áo rách, thấy người ta
mặc áo lành thì xụ mặt xuống rồi bươi móc. Như vậy làm
gì có vui. Đi đâu cũng buồn hết vì thấy những người khác
hơn mình. Cái buồn đó nó tràn trề, vì ở đời làm sao mình
bằng tất cả được. Bây giờ chúng ta biết tùy hỷ, thấy
ai có cái gì đẹp cái gì hơn, chúng ta đều vui hết, mừng
cho họ. Tâm niệm của người Phật tử phải là tâm niệm
làm cho mọi người hết khổ. Phật là vị cứu khổ chúng
sanh, chúng ta đã là Phật tử, tức con Phật chúng ta phải
mang cái quan niệm làm cho chúng sanh hết khổ. Nếu chưa hết
khổ ít ra cũng bớt khổ. Thấy một người bớt khổ về
sự ăn, sự mặc, hoặc bớt khổ về cái gì, miễn thấy họ
bớt khổ là chúng ta mừng. Nếu chúng ta đố kỵ là không
phải con Phật rồi. Vì vậy muốn được niềm vui đầu tiên,
chúng ta phải tập phát tâm tùy hỷ. Ai có điều gì hay, cái
gì tốt mình đều vui theo chớ không đố kỵ. Đó là cái
vui thứ nhất của người vào đạo.
2- Đến cái vui thứ hai sâu hơn, tế nhị hơn là cái vui “hỷ
xả”. Hỷ là mừng, xả là buông bỏ.
Hỷ xả có hai mặt:
- Hỷ xả những tài vật bên ngoài.
- Hỷ xả những chấp chứa trong lòng.
Nếu chúng ta có tài vật dư dả, lúc nào cũng nên vui vẻ
xả giúp cho những người thiếu đói bần cùng. Cái của mình
làm do mồ hôi nước mắt mình tạo, mà mình cảm thấy no
đủ hay dư rồi thì vui xả cho những người thiếu hay những
người ít oi hơn. Đó là hỷ xả những vật bên ngoài. Cái
đó chắc dễ, phải vậy không? Đó là cái xả bên ngoài.
Tuy vậy cũng hơi khó làm, vì có nhiều người, kẻ khác thấy
họ dư mà bản thân họ lại thấy thiếu. Có một đồng muốn
hai đồng, có hai đồng muốn mười đồng, có mười đồng
muốn ba mươi đồng, muốn cho đến ngày tắt thở mà vẫn
chưa đủ. Như vậy làm sao xả được. Cho nên muốn có cái
xả đó chúng ta phải học Phật. Phật dạy chúng ta tri túc,
tức biết đủ. Chúng ta biết đủ thì mới xả được. Trong
nhà Phật nói “Người không biết đủ thì như cái túi không
đáy.” Bỏ vào bao nhiêu nó tuột xuống hết bấy nhiêu. Dù
bỏ bao nhiêu cũng không đầy vì cái bệnh không biết đủ,
như vậy thì làm sao mà xả.
Thí dụ: Mỗi ngày buổi trưa chúng ta ăn ba chén cơm, dù bữa
nào có đồ ăn ngon, chúng ta cũng ăn ba chén đủ rồi. Nếu
dư thì giúp cho người nào đó, hoặc nói dễ hiểu hơn cho
một con vật nào đó. Dù đó là phần dư của mình, nhưng
cũng là một lối xả. Chớ nên, khi ăn ba chén vừa no rồi,
thấy có đồ ăn ngon, muốn ăn thêm nữa. Như vậy là phí
phạm, vì cái lượng của mình chừng đó là đủ, mà mình
không ưng dừng ngang đó. Đó là nói về cái ăn, còn bao nhiêu
cái khác, chẳng hạn như cái mặc. Chúng ta có ba bộ đồ
đủ để mặc, giả sử chúng ta có bộ thứ tư tức dư rồi
nhưng mà có đủ chưa? Có bộ thứ tư thấy đủ chưa? Đến
bộ thứ năm cũng chưa đủ nữa. Như vậy chừng nào
mới xả được. Cho nên muốn xả thì phải biết đủ. Biết
đủ mới xả được, còn không biết đủ thì không bao giờ
xả được hết.
Như vậy quí vị muốn tập hỷ xả về tài sản thì quí vị
phải thấy đủ và biết đủ. Cái dư đó dùng để giúp người
này người nọ không một chút luyến tiếc. Đó gọi là tâm
hỷ xả, vui vẻ mà giúp chớ không bị bắt buộc, không đợi
ai bắt buộc hết.
Hỷ xả tuy khó nhưng còn dễ hơn cái hỷ xả này: Hỷ xả
ở tâm. Nếu có người nào làm mình phiền, mình buồn nhất
là người mình thường gặp mặt, mà lại làm mình buồn.
Khi buồn mình có vui được không? Nếu buồn thì gương mặt
lúc nào cũng dàu dàu hoặc thêm vẻ nhăn nhó nữa. Vậy, muốn
cho mình hết khổ, thì tập xả, vui vẻ mà xả. Xả này là
tha thứ, là bỏ qua. Mỗi khi những người chung quanh mình có
làm gì phiền là mình buồn. Phiền ở đây là phiền hận-
phiền não và sân hận, hai cái đương chất trong lòng mình,
mình phải buông xả nó đi. Người nào còn ôm lòng phiền
hận, họ sẽ đau khổ, đau khổ từ hiện tại cho đến mai
kia, chớ không phải ở một giai đoạn nào thôi. Vì vậy,
khi biết rằng mình đang ôm lòng phiền hận người này kẻ
khác, thì mình phải vui vẻ bỏ hết, nghĩa là hỷ xả, tức
là bao nhiêu cái phiền muộn đang chứa chấp trong lòng phải
bỏ hết.
Tại sao chúng ta phải bỏ hết?
Muốn bỏ của cải thì chúng ta phải biết đủ. Bây giờ
muốn bỏ phiền hận, phải làm sao đây? Phải có lý do gì
mình mới bỏ được chứ. Chớ nói bỏ đại thì làm sao mà
bỏ. Phải bỏ làm sao? Bỏ cách nào?
Muốn bỏ được sự phiền muộn trong lòng, chúng ta phải
thấy cuộc đời là vô thường, là ảo mộng. Nay chết, mai
chết tới nơi, ôm hận mà làm gì. Đừng giận đừng hờn
để lo tu hành. Do nghĩ cái chết sắp đến mà chúng ta buông
xả được hết. Ai sống đời đây mà cứ giận hoài, buồn
hoài. Cái buồn cái giận đó, chỉ làm khổ mình khổ người
không lợi gì hết. Biết vậy chúng ta phải buông hết. Vì
cái chết đến nơi, chúng ta phải ráng để cho tâm an ổn,
đừng có buồn giận ai. Nghĩ đến vô thường mà hỷ xả.
Tiến hơn nữa, chúng ta thấy cuộc đời như ảo mộng, ngày
nay có mặt đây, ngày mai đã mất rồi. Sống trong tạm bợ,
mình tạm bợ, người tạm bợ, mọi người đều sống trong
tạm bợ. Tại sao không thương nhau, nâng đỡ nhau.
Thí dụ: Nếu chúng ta biết rằng, chúng ta là người đang
sắp bị kêu án tử hình, và những người chung quanh ta cũng
bị kêu án tử hình hết, trong lúc mắc bận nghĩ đến cái
chết, đâu ai có thì giờ để buồn giận nhau. Giả sử trong
khi lẫn lộn chung chạ nhau đó, có dẫm lên nhau, hay có làm
gì phiền toái nhau, cũng bỏ qua. Phải biết rằng cái chết
là trên hết, chớ ở đó lo buồn giận làm gì.
Chính cái chết, nghĩ đến cái chết, chúng ta mới thấy cuộc
đời là tạm bợ, sống không có cái gì bảo đảm hết. Như
vậy chúng ta còn buồn giận nhau làm gì. Hãy buông xả hết
những gì chứa chấp trong lòng. Ai ở đời đây mà giận với
hờn.
Quí vị đã học Phật nhiều năm rồi, vậy có tập được
cái tánh buông xả đó hay chưa? Đi chùa cúng Phật mà còn
giận còn hờn bạn bè anh em huynh đệ hay không? Nếu ai còn
chứa phiền giận gì đó, thì ngang đây hãy nguyện đức Phật
chứng minh cho để xả hết, trong bụng trống rỗng không còn
gì hết. Đừng thèm giận, đừng thèm buồn ai. Dù có cái
giận cái buồn đó từ mười năm hay ba mươi năm rồi, ngày
nay cũng xả. Dại gì chúng ta chứa rắn độc trong nhà. Phiền
hận là rắn độc, có ai muốn chứa rắn độc trong nhà đâu.
Nếu chứa rắn độc trong nhà thì sớm muộn gì cũng bị nó
cắn. Cho nên khi biết là rắn độc rồi, thì xả, đuổi ra
khỏi nhà, không bao giờ dung nó. Đó là cái thiết yếu. Nếu
quí vị biết như vậy là quí vị tu rồi đó. Quí vị thấy
hai cái rõ ràng: - Nếu phiền hận thì không vui. - Người nào
hết phiền hận, tâm hồn rỗng rang trống trải thì người
đó vui vẻ. Muốn cho được vui vẻ chúng ta phải tập hỷ
xả những sự vật bên ngoài, hỷ xả những phiền muộn trong
lòng. Trong ngoài đều hỷ xả hết. Đó là cái vui tột độ
của mình đó.
Sở dĩ đức Phật Ngài cười hoài, là vì Ngài hỷ xả, còn
chúng ta quạu hoài là vì chúng ta còn phiền hận, chúng ta
cố chấp. Đó là nguyên nhân của đau khổ của bệnh tật,
nguyên nhân của xấu xa và cũng là nguyên nhân của đê hèn.
Người nào phiền hận thì người đó đau khổ, mặt mày xấu
xa, tâm hồn không bao giờ được thơ thới, tâm hồn sầu
não thì sanh bệnh hoạn chứ gì.
Vậy ai muốn mình xấu, ai muốn mình bệnh, ai muốn mình đê
hèn?
Ai cũng muốn mình là người tươi đẹp, ai cũng muốn mình
là người rất sung sướng. Mà tại sao mình lại chứa các
nhân đau khổ như vậy? Có phải tự mình mâu thuẫn với mình
hay không? Cho nên khi nào còn chút giận ai, buồn ai thì biết
rằng mình muốn hại mình đó, muốn làm cho mình xấu, mình
khổ, mình bệnh hoạn.
Như vậy quí vị có cần ngày mùng chín đi cúng sao hay không?
Cúng sao là để cầu năm này mình khỏi tai nạn, mình được
vui sướng. Bây giờ quí vị xả hết, không giận ai thì năm
nay quí vị khỏi tai nạn, quí vị vui sướng rồi, cúng làm
chi cho mất công. Nếu mình biết mình xả rồi, thì mình được
an ổn, dù cho năm đó mình có gặp sao La Hầu, Kế Đô gì
đó chẳng hạn, mình cũng an lành như thường. Mình không giận
ai thì ai thù mình, không thù người thì ai hại mình. Đó là
nguyên nhân an ổn thực tế. Còn cái kia là cái cầu mong huyền
hoặc trên trời, chớ không chịu cái thực tế hiện tại.
Như vậy đức hỷ xả là cái hết sức quí báu cho cuộc sống
hiện tại của chúng ta. Quí vị muốn được vui, muốn được
tươi đẹp, sống lâu thì quí vị phải tập hỷ xả. Ba điều
ấy có được đều do hỷ xả hết. Còn người nào không
muốn hỷ xả là người đó muốn chết yểu, bệnh hoạn xấu
xa. Như vậy quí vị hãy chọn lấy một cái ngày đầu năm
này, chọn cái nào cho trọn năm đều vui như đức Di-lặc.
Đó là cái vui thứ hai.
3.- Cái vui thứ ba là vui “Pháp hỷ”.
Thông thường nhà Phật hay dùng: Đó là “Pháp hỷ thiền
duyệt” nghĩa là chúng ta nghe chánh pháp trong lòng thấy nhẹ
nhàng thư thới. Đó là vui pháp hỷ hay pháp lạc. Tại sao
vậy? Vì chúng ta nghe kinh học đạo, chúng ta tìm được lẽ
thật, chúng ta tìm được một nguồn an ủi vui tươi. Chính
do tìm được, thấy được lẽ thật đó mà lòng chúng ta
nhẹ nhàng thư thới. Đó là cái vui của đạo. Người nào
học đạo, nghe đạo mà thấy trong lòng vui tươi sung sướng,
đó là người đã được pháp lạc hay pháp hỷ. Còn người
nào nghe đạo mà gục lên gục xuống, nghiêng qua ngả lại,
thì người đó khó tìm được pháp lạc. Nếu không có cái
vui nghe pháp, dù có đi chùa nhưng khó tinh tấn nổi. Có thích
đâu mà tinh tấn. Bởi vì chúng ta cố gắng làm khi chúng ta
thích thú làm, nếu không có sự thích thú thì không bao giờ
có sự cố gắng nào hết. Người học đạo phải làm sao
nghiền ngẫm thấy lẽ thật của đức Phật dạy tức là
thấy được chân lý. Phật đã chỉ dạy trong kinh. Nhận những
lời chân thật cho rõ rồi, chúng ta mới thấy vui sướng,
cái vui sướng đó gọi là pháp hỷ hay pháp lạc. Nhân nghe
chánh pháp của Phật mà mình được vui thích, cái vui đó
là cái vui chân thật. Có nhận được cái vui đó rồi thì
tu hành mới tinh tấn được. Nếu không nhận được, có tu
chăng, chẳng qua là cầu mong được cái này cái nọ, chớ
không phải vui thích để mà tu. Người học đạo chân chánh
là phải vui với đạo mà tu, chớ không phải là cầu mong
cái gì khác. Như vậy khi nghe kinh hoặc đọc sách Phật phải
ráng chịu khó đem tâm trí nghiền ngẫm tức là Chánh tư duy.
Xét cho đúng đắn, cho tột cùng, thấy được lẽ thật trong
đó thì mình vui thích lên. Cái vui thích đó làm cho mình có
một sức mạnh tinh tấn trên con đường đạo.
Thí dụ: Ngoài đời, khi người ta vui quá người ta khóc, trong
đạo cũng thế. Khi đọc kinh Phật, có một sự vui mừng lạ
đời cảm động cũng rơi nước mắt. Đó là trường hợp
của ngài Khuê Phong. Đi tu, được người tặng cho một quyển
kinh Viên Giác, đọc qua Ngài vui mừng lạ đời, vui tới rơi
nước mắt.
Cũng như vậy, chúng ta có thân nhân đi đâu xa hai mươi, ba
mươi năm không gặp nhau, gặp lại mừng quá đến rơi nước
mắt. Đó là cái vui sướng tột cùng khiến đến rơi nước
mắt. Người học đạo mà vui đến mức đó thì không bao
giờ thối chuyển. Khi nào đọc kinh mà thấy Phật nói hay
quá cảm động sung sướng, rơi nước mắt, thì đó là duyên
lành khá sâu rồi. Người được cái vui đó là người ít
bị những sự khó khăn hay là chướng ngại làm cho họ phải
lui sụt. Còn học đạo khi đọc kinh thì thấy buồn ngủ,
tụng kinh ngáp lên ngáp xuống, thì đó là không tìm được
cái vui trong đạo. Không có cái vui thì sự tu khó mà tiến
bộ được. Đó là cái vui của Pháp hỷ hay là Pháp lạc.
4.- Đến cái vui sâu hơn nữa là “Thiền duyệt”.
Duyệt là vui, vui nhè nhẹ, chớ không phải vui mừng hớn hở.
Thường thường ở trong nhà Thiền có tả: Trong khi tọa thiền,
đến giai đoạn thân tâm an ổn, hơi thở nhẹ nhàng, đến
lúc đó có giai đoạn khinh an, nhẹ nhàng, thơ thới khác hơn
bình thường. Cái vui lần lần chớ không phải cái vui mạnh
đó gọi là Thiền duyệt. Chỉ khi nào chúng ta tọa Thiền
hay tu Thiền, lúc đi sâu trong đó tâm hồn an ổn, thân thể
điều hòa, rồi tự nhiên có cái vui an lành mà nhà Phật gọi
là “Thiền duyệt vi thực” tức là lấy cái vui thiền định
làm món ăn.
Quí Phật tử nào mới tập ngồi Thiền thì thấy ngồi Thiền
vui hay khổ. Ngồi tay chân đau, thân thể mỏi mệt, mồ hôi
chảy ướt áo, không thấy vui chút nào hết: Ngồi mà
khổ chớ không thấy vui. Như vậy tới giờ ngồi Thiền là
tới giờ hình phạt hay là giờ an ổn?
Lúc đầu, tới giờ ngồi Thiền thấy như là một hình phạt
nào đó, nhưng đến lúc tập quen rồi, ngồi Thiền thấy nhẹ
nhàng an ổn. Tới giờ đó không ngồi thì thấy như thiếu
cái gì?
Thí dụ: Như mỗi buổi sáng, chúng ta ăn cơm hay là trưa chúng
ta ăn cơm, khi đến giờ đó mà không được ăn cơm, chúng
ta cảm thấy khó chịu. Chúng ta tu Thiền cũng phải như vậy.
Đến giờ ngồi Thiền mà không ngồi được, chúng ta cảm
thấy cái gì thiếu thốn, nó đòi hỏi không an. Đó là cái
vui trong Thiền định. Nó như thức ăn rồi, thiếu nó như
thiếu cơm. Tức là Thiền duyệt vi thực. Ít người lấy cái
vui trong Thiền định làm thức ăn, vì cần phải tu tập lâu
dài mới tới trạng thái đó. Tới được trạng thái đó
rồi mới thấy an vui, nhưng phải công phu kha khá một chút
mới được. Không phải ngồi năm tháng ba tháng mà được,
nhất là ngồi buổi đầu, khổ chớ không phải vui, nhọc
nhằn khổ sở lắm. Qua cái nhọc nhằn khổ sở rồi, mình
điều phục được thân tâm lúc đó mình mới được an vui.
Cái an vui đó gọi là Thiền duyệt. Bao giờ thấy cái vui Thiền
định không thể thiếu được như là bữa cơm không thể
thiếu được, gọi đó là “Thiền duyệt vi thực”. Đó
là cái vui thứ tư.
5.- Đến cái vui thứ năm khó hơn, là vui “Tịch Lạc”. Cái
vui này ít được nghe. Nó xuất xứ từ bốn câu kệ ở kinh
Đại Bát Niết-bàn. Trong đó nói rằng:
Chư hành vô thường
Thị sanh diệt pháp
Sanh diệt diệt dĩ
Tịch diệt vi lạc
Tức là lấy chữ đầu Tịch và chữ cuối Lạc. Cho nên gọi
là vui Tịch Lạc. Cái vui đó là cái vui cứu kính của người
tu. Hai cái vui đầu nó gần gũi với quí vị, nhưng mà
người Phật tử làm chưa mấy được. Phải gắng từ cái
vui thứ nhất đến cái vui thứ hai. Có được hai cái vui đó
rồi mới đến cái vui thứ ba thứ tư, cuối cùng là cái vui
thứ năm. Vui trong Tịch Lạc. Tịch tức là tịch tịnh hay
tịch diệt rồi được an lạc.
Cái vui này nó thế nào? Tôi dẫn mỗi câu của bài kệ để
giải thích. Chư hành vô thường: Hành ở đây là hành động,
tức là thân miệng ý hoạt động. Thân miệng ý hành động
thì thành nghiệp. Mọi hoạt động của thân miệng ý đều
thành nghiệp hoặc nghiệp thiện hoặc nghiệp ác. Mọi nghiệp
đều gốc từ thân miệng ý mà ra. Ý nghĩ miệng nói thân
làm. Mọi hành động đó còn mãi mãi hay không. Nó qua rồi
mất, ý nghĩ rồi mất, miệng nói rồi mất, thân hành động
rồi mất. Tất cả những cái đó là chỗ tạo nghiệp mà
thuộc về vô thường. Qua rồi mất qua rồi mất. Nó không
có lâu dài, nên nói: “Thị sanh diệt pháp” tức là pháp
sanh diệt, nó không có bền. Như vậy tất cả cái hạnh trên
thế gian này, mọi hành động mọi tạo tác đều gọi là
vô thường, nó không lâu dài bền bỉ. “Sanh diệt diệt dĩ”,
cái sanh đó mà lặng rồi thì “Tịch diệt vi lạc”. Cái
lặng lẽ chân thật ấy mới là vui. Cái vui này quá sâu kín
cũng gọi là cái vui Niết-bàn. Sau khi cái sanh diệt nó diệt
hết rồi mới tới chỗ tịch diệt.
Nói sanh diệt là nói sanh diệt của ý, khẩu, và thân, nhưng
chủ yếu là ý. Ý là chủ động cho nên ý lặng rồi dù có
nói có làm cũng là tịch diệt. Như vậy sau khi vọng tưởng
lặng hết rồi không còn dấy động nữa, đó là tịch diệt.
Cái tịch diệt đó đi đến chỗ an ổn chân thật của cái
bất sanh bất diệt. Cái bất sanh bất diệt đó là Niết-bàn.
Đó là cái vui cứu kính chân thật ít người hưởng được.
Chúng ta học và tu Phật có cái vui gần, tới cái vui xa. Như
cái vui Tùy hỷ thật là dễ làm không tốn công, chỉ xả
tâm tật đố mình thì được rồi. Tới cái vui tốn công
một chút, tức là của cải mình, mình xả và cái chứa chấp
trong tâm niệm mình xả. Hai cái đó xả được là có cái
vui Hỷ xả. Rồi cái vui thứ ba là Pháp hỷ hay Pháp lạc.
Cái vui đó phải nghiền ngẫm, nghiên cứu có công phu với
đạo lý, chúng ta mới thấy được niềm an vui ở trong đạo
lý. Đến vui Thiền duyệt thì phải có công phu đậm nữa,
phải nhiều năm nhiều tháng công phu tu hành mới được cái
vui Thiền duyệt. Được cái vui Thiền duyệt rồi cuối cùng
mới được cái vui Tịch lạc, tức là tâm lặng lẽ rỗng
rang không còn một niệm dấy lên. Thấy tất cả sự vật
cái gì cũng nên thơ, cái gì cũng đẹp đẽ. Không còn phân
biệt đây là xấu, kia là tốt, đây là hay kia là dở, chỉ
một niệm chân thật. Cho nên trong nhà thiền gọi là: “Xúc
mục tức Bồ-đề”; tức là nhìn cái gì cũng là Bồ-đề,
là giác ngộ hết. Không thấy có cái gì xấu, tất cả đều
là vui, đều là đẹp. Tất cả là một mùa Xuân. Như vậy
nếu chúng ta tới được chỗ vui đó, tức được một mùa
Xuân vĩnh cửu, một mùa Xuân không bao giờ mất.
Tôi dẫn một Thiền sư đời nhà Tống, Thiền sư Phật Nhãn,
một trong ba ông Phật: Phật Quả, Phật Nhãn, Phật Giám. Ba
vị này là Thiền sư nổi tiếng đời Tống. Đây là Ngài
Phật Nhãn hiệu là Thanh Viễn. Ngài có một bài thơ nói về
Xuân như sau:
Xuân nhật xuân sơn lý
Xuân sự tận giai xuân
Xuân quang chiếu xuân thủy
Xuân khí kết xuân vân
Xuân khách xuân tình động
Xuân thi xuân cánh tân
Duy hữu thức xuân nhân
Vạn kiếp nguyên nhất xuân
Tạm dịch:
Ngày xuân xuân trong núi
Việc xuân thảy đều xuân
Hồ xuân ánh xuân chiếu
Khí xuân kết mây xuân
Khách xuân lòng xuân động
Thi xuân xuân càng tươi
Chỉ có người biết xuân
Muôn kiếp một mùa xuân
Tại sao câu nào cũng Xuân hết vậy?
Xuân nhật tức là ngày Xuân, Xuân sơn lý tức là Xuân trong
núi. Ngày Xuân trong núi giống hệt như Xuân hôm nay. Tức là
ngày vui, mà vui ở trong núi.
Xuân sự tận giai Xuân, tức là việc Xuân thảy đều Xuân,
bởi vì thấy cái gì cũng là Xuân hết, đều là đẹp hết.
Nếu trong lòng mình có nhẹ thênh thang không có buồn giận,
hờn, phiền, không dấy niệm phân chia thì cái gì không phải
là Xuân. Thấy ai cũng đẹp dễ thương hết. Sở dĩ chúng
ta không vui được là vì thấy cái này xấu cái kia tốt, thấy
người này dễ thương, người kia dễ ghét. Thấy người dễ
ghét thì hết Xuân, mặt xụ xuống thì làm sao thấy Xuân được.
Còn thấy ai cũng dễ thương, thì gặp ai mình cũng nở nụ
cười, không phải Xuân là gì? Trên mặt mình luôn luôn là
mùa Xuân, cho nên thấy cái gì cũng là Xuân, tất cả đều
là Xuân.
Hồ Xuân ánh Xuân chiếu. Cái hồ thấy nó cũng tươi đẹp,
thấy mặt trời soi sáng dưới đáy hồ cũng tươi đẹp luôn.
Hồ Xuân, rồi ánh nắng mặt trời cũng Xuân cái gì cũng đẹp
hết.
Khí Xuân kết mây Xuân. Nhìn thấy mây nó mơ hồ lưa thưa
ở chung quanh mấy ngôi nhà, cụm vườn tức là những mây
mờ gọi là Xuân khí, thấy cũng đẹp nên thơ. Rồi những
cái đó kết thành những cụm mây. Những cụm mây đó cũng
là mây Xuân luôn. Như vậy nhìn người cũng là Xuân, nhìn
vật cũng là Xuân, nhìn nước cũng là Xuân, nhìn trời cũng
là Xuân. Xuân tất cả. Tại sao ta được Xuân như vậy? Tại
trong lòng chứa đầy một mùa Xuân. Nếu trong lòng chứa đêm
ba mươi, tức tối như mực thì cái gì cũng không Xuân hết,
cái gì cũng đen như mực. Sở dĩ ở ngoài nó đẹp là do trong
lòng mình đẹp.
Khách Xuân Xuân tình động. Tức là khách Xuân rồi khởi tình
Xuân. Như người khách trong mùa Xuân, thấy cảnh đều vui
theo nó, tức tình động theo mùa Xuân.
Xuân thi Xuân cánh tân. Tức là mùa Xuân đã tươi rồi, thi
nhân còn tô điểm cạo gọt, vuốt ve nó làm cho nó tươi đẹp
thêm nữa.
Hai câu chót mới là tối quan trọng.
Duy hữu thức Xuân nhân
Vạn kiếp nguyên nhất Xuân
Như vậy chỉ có người biết Xuân, muôn kiếp một mùa Xuân.
Cảnh Xuân, khách Xuân, tình Xuân v.v... đó là cái bên ngoài.
Chỉ có người biết được Xuân đó, mới vui muôn kiếp Xuân.
Mùa Xuân đó là mùa Xuân Di-lặc cười hoài muôn kiếp, không
bao giờ có vẻ mày sầu mặt héo gì hết. Đó là một mùa
Xuân tươi đẹp, đầy cả một bầu trời, tràn trề cả nhân
thế.
Quí vị có muốn hưởng một mùa Xuân đó hay không? Như vậy
cái cạn đến cái sâu, quí vị từ từ bước. Cạn nhất
là từ từ bỏ tật đố để phát tâm tùy hỷ vui theo tất
cả việc tốt, việc lành của mọi người. Kế đó là cái
vui hỷ xả tức là vui mừng bỏ hết tất cả những cái gì
mình có thể bỏ được. Xả hết từ cái xả của cái bực
bội, cố chấp, buông xả hết. Đó là tập Xuân. Rồi tới
hiểu giáo lý một cách đúng đắn, có niềm vui chân thật,
tu hành tiến tới an ổn, đi đến cuối cùng mọi tâm niệm
đều được an lành tự tại. Không có một chút gì dấy lên
làm biến đổi tất cả sự kiện bên ngoài. Chỉ một tâm
thênh thang trong trẻo thì nhìn đời bằng một mùa Xuân không
đổi thay, không còn di dịch gì nữa hết. Xuân như thế mới
là Xuân Di-lặc. Xuân như vậy mới là Xuân muôn đời muôn
kiếp. Nếu mùa Xuân chỉ có ba tháng hoặc chỉ có mấy ngày
Tết là Xuân thì Xuân đó hữu hạn quá. Ngày nay ráng mà gượng
cười; rồi ngày mai gặp nhau quạu quọ tức tối thì không
còn Xuân đâu. Nên phải cởi bỏ từ từ trong lòng những
chướng ngại cho mùa Xuân muôn kiếp đó. Nếu chúng ta loại
nó ra được thì cuối cùng chúng ta sẽ hưởng được một
mùa Xuân muôn kiếp.
Mong rằng mùa Xuân muôn kiếp sẽ đến với quí vị.
ĐÊM TRỪ TỊCH SANH TỬ SỰ ĐẠI
CUỐI
NĂM CANH THÂN (1980)
Hỏi: Sanh tử sự đại. Vô thường tấn tốc.
Và: Sanh như đắp chăn đông. Tử như cổi áo hạ.
Là Phật tử, xuất gia cũng như tại gia, chúng ta phải sống
như thế nào đối với hai quan niệm trên?
Đáp: Thông thường có hai hạng người tu, hạng người chưa
đạt đạo muốn tiến tu thì lúc nào cũng phải khắc trên
trán bốn chữ “Sanh tử sự đại”. Đó là chủ đích ngài
Thích-ca lúc xuất gia. Khi đi tu là cốt giải quyết vấn đề
sanh tử. Bao nhiêu người từ trước đến giờ đành bó tay
đối với vấn đề sanh tử. Vì thế đức Phật quyết định
giải quyết vấn đề sanh tử, chớ không chấp nhận cách
bó tay đó. Ngài không thể đầu hàng sanh tử mà phải vượt
ra khỏi sanh tử, cho nên Ngài mới xuất gia cầu đạo. Khi
đạt đạo rồi, đó là Ngài thoát ly sanh tử. Thế nên tất
cả người tu sau này khi phát tâm xuất gia hay là quyết chí
tu hành theo đạo Phật để giải thoát thì không ai coi thường
vấn đề sanh tử. Khi chúng ta đi tu là đã quyết định chiến
thắng cho được vấn đề sanh tử, phải thoát ly sanh tử.
Đó là cái chủ yếu. Như vậy chủ yếu chúng ta đi tu là
để thoát ly sanh tử. Cho nên chữ giải thoát nghĩa là không
còn bị sanh tử lôi kéo nữa. Mọi người ai đi tu cũng phải
quan trọng bốn chữ “Sanh tử sự đại” chớ không thể
coi thường. Đó là bước đầu trên con đường tu của chúng
ta.
Nhưng khi đạt đạo thấy rõ mình có cái chân thật bất biến.
Cái đó không bị sanh tử lôi cuốn và nó cũng không lệ thuộc
vào sanh tử. Như vậy sống với cái không sanh tử thì chẳng
qua là tùy duyên. Đủ duyên hợp lại đó là sanh. Thiếu duyên
ly tán đó là tử. Sanh tử là vấn đề của duyên. Đối với
Pháp thân hay Chân tâm, nó không dính dáng gì hết. Vì vậy
trên phương diện sống với Pháp thân, sanh tử như trò chơi
như ảo mộng, như huyễn hóa không gì phải bận tâm. Cho nên
có Thiền sư nói rằng “Đối với sanh tử bất quan hoài”
nghĩa là đối với sanh tử không bận lòng.
Đối với sanh tử không bận lòng ở giai đoạn nào?
Ở giai đoạn đạt đạo? Thấy cái chân thật bất biến của
mình, thì lúc đó đối với sanh tử không còn bận lòng. Còn
chưa thấy cái đó sanh tử là việc lớn. Như vậy chúng ta
thấy hai câu trên đều đúng, đối với người tu. Người
tu mà chưa đạt đạo thì sanh tử là việc lớn. Khi đạt
đạo rồi thấy sanh tử là trò chơi. Cho nên ngài Từ Minh
mới nói “Sanh như đắp chăn đông - Tử như cổi áo hạ”.
Bởi vì chúng ta đã thấy mình có cái không sanh tử, nhưng
vì lợi ích chúng sanh, cần phải có cái sanh để độ họ.
Lúc đó sanh cũng như mùa đông được chiếc chăn đắp lên
che ấm. Có gì mà sợ. Còn khi mình giáo hóa làm Phật sự
mỏi mệt rồi, bỏ cái thân tứ đại này để trở về Pháp
thân thanh tịnh cũng như mùa nực cổi chiếc áo, mát có gì
mà lo. Như vậy trường hợp sanh đối với Ngài cũng như được
đắp chăn trong mùa đông, tử coi như là cổi chiếc áo trong
mùa hạ, không có gì phải bận lòng sợ sệt.
Đó là đối với người đã được Pháp thân vì lợi ích
chúng sanh phải sanh. Khi duyên hết thì tử. Sanh tử đối với
các Ngài không bận lòng. Nhưng đối với chúng ta vấn đề
đầu tiên là sanh tử sự đại. Nếu chúng ta chưa đạt đạo
thì “Sanh tử sự đại” có giá trị. Khi chúng ta sống thuần
thục trong Pháp thân bất sanh bất diệt, thấy sanh tử như
trò chơi, không còn gì phải bận lòng nữa.
Khoảng giữa năm tôi hứng có làm một bài kệ như sau:
Gá thân mộng, dạo cảnh mộng
Mộng tan rồi, cười vỡ mộng
Ghi lời mộng, nhắn khách mộng
Biết được mộng, tỉnh cơn mộng
Lý do làm kệ:
Lúc đó tôi bắt đầu giảng Trung Quán Luận. Trong khi giảng
Trung Quán, chúng tôi hứng thấy rõ cái gì mà chúng tôi muốn
nói. Cho nên một đêm tôi ngồi ngoài trời nhớ lại lời
của Tổ, hứng tôi làm ra bài kệ trên. Nhiều vị không biết,
nói là tôi làm kệ là sắp từ giã. Có người đồn tôi sắp
tịch nên mới để kệ lại. Nhưng sự thật không phải vậy.
Khi dạy Trung Quán, tôi thấy cái lẽ trong đó quá rõ ràng,
cho nên hứng làm ra như vậy. Kệ đó có hai ý:
1- Chúng tôi ước định lại đời sống và ngày cuối cùng
của chúng tôi.
2- Mong mỏi những người sau nhận, hiểu như cái gì tôi đã
hiểu.
Giờ đây tôi đi thẳng vào bài kệ để cho quí vị nhớ.
Đầu tiên chúng tôi nói “ Gá thân mộng, dạo cảnh mộng”.
Quí vị nghĩ thế nào về câu “Gá thân mộng”.
Thân của chúng ta hiện giờ, như tôi thường giảng cho quí
vị nghe, sự sống còn của nó, chúng ta thấy thật là quan
trọng. Nhưng nếu dùng con mắt trí tuệ Bát-nhã mà thấy nó
chẳng qua là một mớ nhân duyên hòa hợp lại thành sự sống.
Sự sống do duyên mà có. Đủ duyên nó còn, thiếu duyên nó
mất. Không có gì là bảo đảm lâu dài hết. Trong tứ đại
chúng ta phần trong gọi là nội tứ đại, phần ngoài gọi
là ngoại tứ đại. Hai cái hỗ tương nhau. Có cái bên trong
mà thiếu cái hỗ tương bên ngoài thì nó không còn. Có cái
bên ngoài mà không có cái bên trong cũng không có. Vì vậy
cuộc sống chúng ta sống hiện nay bằng cách tạm bợ vay mượn,
tứ đại bên ngoài hòa hợp với tứ đại bên trong. Nếu
không có sự vay mượn hòa hợp đó thì sự sống này mất.
Vì vậy sống bằng cách tạm bợ không phải mộng là gì,
không phải huyễn hóa là gì? Cho nên thân hiện giờ của chúng
ta là thân tạm bợ như thân trong giấc mộng, không có gì
lạ. Như vậy đối với sự sống này nếu biết rõ nó
là tạm bợ là huyễn hóa thì tự nhiên chúng ta còn có cái
gì nữa? Chẳng lẽ có thân huyễn hóa tạm bợ này thôi sao?
Cho nên chúng tôi dùng chữ “gá”. Ai “gá”? Thật ra có
cái gì đó nó tựa vào thân tứ đại này. Do nó tựa vào
thân tứ đại này thành ra có cuộc sống. Và cái mà tựa
vào thân tứ đại này không phải là huyễn hóa như tứ đại.
Đó là để nói cho quí vị thấy không phải chỉ có thân
tứ đại này là cứu kính là duy nhất mà nó còn có cái “chủ
nhân ông” tựa vào nó. Nói “chủ nhân ông” đó là khi
nào chúng ta tỉnh giác. Nếu chưa tỉnh giác thì phải nói
danh từ khác tức là “nghiệp thức gá”. Như vậy cái gá
đó là ông chủ chớ không phải là cái tầm thường. Chính
cái thân tứ đại mới là cái tầm thường để cho ông chủ
nương tựa. Khi gá vào thân tứ đại huyễn hóa hay mộng huyễn
này thì cái cảnh mà thân tứ đại tới lui qua lại đó là
cảnh thật hay không? Đó cũng là mộng. Thân tứ đại là
mộng, cảnh của tứ đại tới lui qua lại cũng là mộng,
nên nói rằng “dạo cảnh mộng”. Như Tổ Qui Sơn đã thường
nhắc nhở, Ngài nói rằng: Người xuất gia thì phải coi mình
như khách qua lại trong tam giới. Như vậy tam giới chẳng qua
là một cảnh mộng mà người khách đó thường tới lui qua
lại. Vì vậy người khách đó là người quan trọng, còn cái
cảnh không phải là quan trọng. Ở đây tôi dùng câu dạo
cảnh mộng vì đa số người đời chúng ta mắc kẹt trong
cảnh, thấy cảnh này là thật, thấy cái này là của mình,
thấy cái kia là của mình. Thấy tất cả cái gì cũng là của
mình hết. Nhà của mình, đất của mình, tất cả cái gì
cũng là của mình hết, cho nên được thì mừng mất thì khổ.
Vì vậy mà chúng ta bị ngoại cảnh lôi cuốn, sống trong bất
an, bất ổn. Nếu chúng ta thấy cuộc đời là mộng, ngoại
cảnh là mộng, thân và cảnh đều là mộng thì còn gì là
ràng buộc, còn gì là lo sợ, được mất đối với chúng
ta như trò chơi, không còn gì phải là khổ đau nữa hết.
Đó là tôi diễn tả lại thân này và cảnh này mà chúng ta
đang mang và đang ở. Khi cảnh này và thân này tan rồi thì
thế nào? Đó là câu thứ ba “mộng tan rồi”. Đến câu
thứ tư “cười vỡ mộng” tức là khi thân chúng ta thở
cái khì ra và không hít lại. Một khi trả ra mà không mượn
lại là thân tứ đại sắp hoại. Thở ra mà không hít lại
là phong đại đã hết. Phong đại hết rồi thì hỏa đại
do đó sẽ tan từ từ. Rồi tới thủy đại, địa đại, nó
sẽ tan rã sau. Như vậy một khi thở ra không hít lại thì
thân tứ đại chúng ta không còn hoạt động như trước nữa.
Khi đôi mắt chúng ta nhắm nghiền lại thì cảnh ở ngoài
còn với chúng ta hay không? Vì khi hơi thở đã buông rồi
thì con mắt cũng theo đó nhắm nghiền lại, lúc đó ngoại
cảnh không còn gì với chúng ta nữa. Thân thiếu phong đại
thì thân sắp tan, mắt không còn mở nhìn thấy nữa thì cảnh
đời đối với chúng ta cũng vắng. Cho nên thân và cảnh lúc
đó là mộng đã tan hoại. Nên nói rằng “mộng tan rồi”.
Khi thân và cảnh đi tới chỗ tan hoại đó, đối với người
đời sẽ làm sao? Nào là khóc biệt ly, thương cha, thương
mẹ, thương anh, thương em, thương tất cả người chung quanh.
Coi đó như là một chuyến đi không bao giờ gặp lại. Bao
nhiêu tiếng khóc nức nở để rồi đau khổ vì cảnh biệt
ly. Hoặc giả bản thân người đó họ sẽ khổ đau. Họ khổ
đau vì cái gì? Như ngài Qui Sơn nói: “Tiền lộ mang mang vị
tri hà vãng” nghĩa là đường trước mờ mờ không biết
về đâu. Khi sắp tắt thở nhớ lại mình không có đức hạnh
gì, không biết rồi sẽ ra sao? Đó là cái đau khổ nhất của
con người. Khi sắp ra đi không biết là mình đi đâu? Từ
giã anh em, từ giã cha mẹ. Rồi đây mình sẽ không còn gặp
lại tất cả mọi người, và bản thân mình sẽ ra sao? Đi
đâu? Thật là đau khổ. Như vậy có hai cái khổ: cái khổ
khóc vĩnh biệt và cái khổ không biết thân phận mình ra sao?
Hai cái đó làm cho người sắp ra đi đau khổ tràn trề. Đó
là thân phận những người không biết đạo. Nhưng ở đây
tôi nói thế nào? “Mộng tan rồi, cười vỡ mộng.” Tại
sao chúng ta lại cười vỡ mộng? Bởi vì mình biết đó là
một giấc mộng. Đã biết là một giấc mộng thì khi hết
mộng chúng ta trở về thật. Đang mê hết cơn mê chúng ta
tỉnh. Vì biết đó là một cơn mê. Khi hết mê chúng ta còn
sợ hay không? Khi biết đó là một cơn mê thì cơn mê dù đẹp,
dù xấu, dù khổ, dù vui, chúng ta cũng thấy đó là một cơn
mê. Và hết mê, là tỉnh biết rõ như vậy. Khi tỉnh còn có
cái gì phải sợ nữa đâu. Như vậy cho nên khi chúng ta biết
rõ đây là một cơn mộng, khi mộng tan chúng ta nở một nụ
cười từ biệt mọi người và chúng ta an lành trở về quê
cũ, chớ không có gì sợ sệt hết. Đó là “cười vỡ mộng”.
Chúng ta chỉ còn một nụ cười để trở về quê hương mà
ngàn thuở không bao giờ phai mờ, không bao giờ mất. Chúng
ta từ khi gá thân này, chúng ta mang nó, sống với nó mà thấy
là mộng ảo. Cảnh mà chúng ta đang dạo, đang qua, đang lại
cũng là cảnh mộng ảo. Khi cái mộng ảo đó nó tan đi thì
chúng ta chỉ là một nụ cười để trở về cái chân thật
chớ không có gì lạ. Như vậy đó là cái an ổn lành mạnh
nhất của con người khi thoát khỏi được cơn mê, cơn mộng.
Nói như vậy mà chúng tôi đã được như vậy chưa? Đó là
một vấn đề ước định. Nói như vậy để chúng tôi tự
nhắc rằng chúng tôi phải sống thế nào về cuộc sống này?
Trong khi, sống mang thân này với cảnh này chúng tôi phải
luôn luôn thấy nó là mộng. Và khi thân này sắp hoại chúng
tôi thấy đó là tan cơn mộng, chỉ là một nụ cười để
cười vỡ mộng thôi, không có gì quan trọng hết. Đó là
chúng tôi ước định ngày ra đi phải như vậy, chớ không
phải là cái đang được như vậy. Đó cũng là một chương
trình, một kế hoạch phác họa cho ngày ra đi phải như vậy
đó. Chính cái phác họa đó là một ước định của chúng
tôi nhắc nhở chúng tôi phải cố gắng làm sao khi ra đi được
như vậy chớ không khác hơn. Nếu khác hơn là dở lắm rồi.
Như vậy là phần của tôi, tôi đã định như vậy.
Phần quí vị thì sao? Chúng tôi nói thêm: “Ghi lời mộng,
nhắn khách mộng” bây giờ vì nghĩ rằng chúng ta tự thấy
mình sống trong cõi đời tạm bợ hư ảo nó không có gì thật,
không lẽ mình biết nó hư ảo không thật rồi mình an ổn
vui vẻ để cho người khác chìm lịm trong cơn mộng đó rồi
khóc rồi khổ, đủ thứ đau đớn. Mình đâu có nỡ. Buộc
lòng phải ghi lại ít lời nhắc lại những người khách cũng
đồng hành với mình trong cơn mộng đó. Đó là với một
tấm lòng nghĩ đến người sau thương xót người sau. Muốn
làm sao cho ai cũng được khi ra đi với một nụ cười, chớ
không phải là rơi lệ tràn trề. Rồi “ghi lời mộng”,
tới “nhắn khách mộng” cái gì đây? Tức là “Biết được
mộng, tỉnh cơn mộng”. Nhắn quí vị rằng, nếu một khi
biết rõ sự sống này là mộng thì quí vị tỉnh được cơn
mộng. Đó là chủ yếu làm sao mỗi người chúng ta đều phải
thấy rõ lẽ thật của cuộc đời, chớ đừng có lầm lẫn
trong cơn mê mộng mà mình tưởng nó là thật. Tưởng lầm
nó là thật rồi chìm mãi trong cơn mê. Hết cơn mộng này
đến cơn mộng khác. Chúng ta biết nó là mộng rồi thì chúng
ta có thể tỉnh được cơn mộng. Tỉnh được cơn mộng thì
mọi cái khổ vui trong mộng không còn gì chi phối được chúng
ta hết. Đó là điều thiết yếu trong cuộc sống. Cho nên
tôi có nói với ít người chung quanh rằng sau khi tôi vỡ mộng
rồi thì quí vị khỏi cần họa hình họa tượng gì hết,
chỉ cần biên tám câu đó, tám câu một câu ba chữ, hoặc
bốn câu một câu sáu chữ để lại trên chỗ mà quí vị
nhớ tôi đó. Để chỗ nào đó trên vách cũng được hay nơi
nào cũng được để quí vị đọc tới đọc lui câu đó,
có lợi hơn là họa hình to thờ mà không nhớ tới mấy câu
đó cũng vô ích. Đó là ý nghĩa mà tôi làm bài kệ. Do sự
thấy rõ như vậy nên khi làm bài kệ bắt buộc tôi phải
sống như vậy. Ngày ra đi phải như vậy. Đó là ước định
của tôi, và mong mỏi những người chung quanh và kẻ đi sau
này cũng được như vậy.
Đó là sở nguyện tôi ước mong, chớ không phải là sự thật.
Nên nhớ như vậy. Ước mong đó có thể thật mà cũng có
thể chưa được. Nếu được, đó là cái hài lòng của tôi.
Nếu chưa được là cái tôi chưa hài lòng, chẳng qua là sở
nguyện vậy thôi.
Nói như vậy tôi cần nhắc cho tất cả quí vị biết. Bao
nhiêu năm tôi giảng dạy ở đây quí vị đều thấy mỗi
lần giảng dạy kể cả tôi là người hay giảng quí vị là
người nghe giảng, trong lúc ấy người giảng và người nghe
hình như chúng ta đều là kẻ tỉnh hết. Nhưng mà, sau cơn
giảng rồi thì có lẽ người giảng cũng hay quên, người
nghe lại càng quên hơn nữa. Như vậy, tỉnh, tỉnh rồi mê.
Mà tỉnh thì ít, một tháng chỉ có mấy tiếng đồng hồ,
còn mê thì quá dài. Nếu chúng ta gặp cơn ngủ mê quá mê,
vừa mãn mộng thứ nhất, lúc đó chúng ta vừa hơi tỉnh.
Tỉnh rồi mà chưa có sức ngồi dậy, rửa mặt mày hoặc
đi ra và cũng còn ham ngủ nữa thì sao? Một cơn mộng thứ
hai tiếp nối. Qua cơn mộng thứ hai hơi tỉnh một chút, thì
tiếp tục cơn mộng thứ ba nếu chúng ta còn thấy mỏi mệt,
còn ưng nằm dài thì mộng rồi tới mộng. Như vậy thì mộng
không biết tới lúc nào mới hết. Chỉ khi nào chúng ta biết
đó là mộng, hoặc là mộng vui mộng buồn, sau cơn mộng chúng
ta nhất định trỗi dậy rửa mặt, rửa mày hoạt động bình
thường, ra ngoài thì khả dĩ hết mộng. Còn cứ nằm dài
đó mãi thì càng mộng chớ không thể hết được. Đó là
ý nghĩa mộng.
Bây giờ tới việc tu chúng ta. Nếu chúng ta biết cái dở
là cái dở, điều nào là điều tạo nghiệp khổ cho chúng
ta, chúng ta biết cái này là giả cái kia là thật, cái biết
đó chưa đủ làm cho chúng ta giải thoát, chưa đủ làm cho
chúng ta hết khổ. Biết rồi chúng ta còn phải hành. Cho nên
trong nhà Phật dạy chúng ta học đạo là phải đủ văn tư
tu. Văn là nghe, tư là suy nghĩ, nhận định đúng. Đó là phải,
nhưng còn phải tu nữa. Có tu mới thật sự thoát ly sanh tử,
mới ra khỏi bao nhiêu cái khổ đau. Nếu thiếu cái tu thì
không bao giờ chúng ta thoát ly sanh tử được. Vì vậy cho
nên hiểu rồi phải hành. Cái hành đó mới là thiết yếu.
Như chúng tôi thường nói với quí vị: Cái chủ động trong
cuộc luân hồi, sanh tử là ba nghiệp, cái chủ động của
ba nghiệp là ý nghiệp. Ý nghiệp trong nhà Thiền gọi là vọng
tưởng. Vọng tưởng đó là động cơ chính yếu để đưa
chúng ta vào vòng luân hồi sanh tử. Bây giờ muốn thoát ly
sanh tử không gì hơn là chận đứng hay là dừng lại vọng
tưởng đó. Nói chận nói dừng là một lối nói, đúng ra
chúng ta nhè nhẹ buông nó. Biết rõ bộ mặt nó là không thật,
buông nó rồi nó sẽ hết. Như vậy cái công phu buông
xả đó thấy nó nhẹ đơn giản mà thật là phải kiên trì
bền bỉ lâu dài mới buông hết được, chớ không thể nào
một, hai, năm, mười năm mà được. Cho nên các vị hồi xưa
muốn buông hết nó phải trải qua mấy mươi năm. Người lanh
lợi nhất trong nhà Thiền ở Trung Quốc, là ngài Triệu Châu
mà Ngài còn nói: Ngót ba mươi năm phải buông hết mới thành
một khối. Huống là chúng ta ở đây mới nhấp nhem mấy năm
trời, buông sơ sịa, bảo hết làm sao mà hết được. Cho
nên cái đó là phải công phu dai dẳng, phải nỗ lực bền
chí mới có thể thực hiện được công trình đó. Như vậy
chúng tôi nói rằng người quyết chí tu đạt đến kết quả
viên mãn thì phải khẳng định lập trường của mình và
phải quyết chí không bao giờ lay chuyển trước mọi hoàn
cảnh nhất là trong hoàn cảnh thuộc về tình cảm. Cái
đó làm cho mình rất khổ đau. Ở đây tôi chỉ đề cập
đến tình cảm của người xuất gia. Người xuất gia trước
nhất thấy tình cảm gia đình là nặng nhất. Tình cảm gia
đình là cái làm chúng ta rối ren, lo sợ; thương cha, thương
mẹ, thương anh, thương em. Bao nhiêu cái đó làm chúng ta bận
bịu làm chúng ta khó xử. Nếu chúng ta không có thái độ
dứt khoát không can đảm như đức Phật thì khó mà giải
quyết nổi. Quí vị thấy đức Phật khi ra đi tu, lúc chưa
thành đạo thì Ngài về thăm nhà được bao nhiêu lần? Một
phen đi bao giờ thành đạo mới trở về. Đó là hình ảnh
con người dứt khoát làm được việc mới thôi, không có
thái độ chần chờ nửa tới nửa lui. Nói đi tu mà ít bữa
nhớ nhà. Nói đi tu mà lo ở nhà có cơm ăn không, có áo mặc
không? Làm như vậy thì không làm sao thực hiện được cái
bản nguyện của mình. Vì vậy chúng tôi nhắc lại Ngài là
cái đích để chúng ta nhắm, như một vị giáo chủ. Vì Ngài
một khi cất bước ra đi, nguyện không trở lại nếu không
đạt đạo. Khi Ngài trở về thăm vua cha, độ tất cả người
thân quyến là sau khi đã đạt đạo. Nhờ thái độ khẳng
định đó mà Ngài thành công.
Giờ đây tôi dẫn một Thiền sư Trung Hoa, Thiền sư Lương
Giới, Tổ của tông Tào Động, khi đi tu Ngài có viết mấy
lá thư cho cha mẹ. Đọc thư Ngài ta mới thấy ý chí người
xưa.
Lá thư thứ nhất tôi dịch từ bản chữ Hán:
“Được nghe, chư Phật ra đời đều do cha mẹ mà có thân,
muôn loài sanh trưởng thảy nhờ trời đất che chở. Cho nên,
không có cha mẹ thì chẳng sanh, không có trời đất thì chẳng
trưởng, thảy nhờ ân dưỡng dục, đều thọ đức chở che.
Song mà, tất cả hàm thức, vạn tượng hình nghi đều thuộc
vô thường chưa lìa sanh diệt. Tuy ơn bú xú nặng nề, công
nuôi dưỡng sâu thẳm, nếu đem của cải thế gian phụng dưỡng
trọn khó đáp đền, dùng máu thịt dâng hiến cũng không được
bền chắc. Trong Hiếu kinh nói: “Dù một ngày giết đôi ba
con vật để cung hiến cha mẹ vẫn là bất hiếu. Vì sẽ lôi
nhau vào vòng trầm luân chịu muôn kiếp luân hồi.” Muốn
đền ơn sâu dầy của cha mẹ đâu bằng công đức xuất gia.
Vì sẽ cắt đứt dòng sông ái sanh tử, vượt qua khỏi biển
khổ, đáp ơn cha mẹ ngàn đời, đền công từ thân muôn kiếp,
bốn ơn ba cõi thảy đều đền đáp. Kinh nói: “Một đứa
con xuất gia chín họ đều sanh lên cõi trời.” Con thệ bỏ
thân mạng đời này, chẳng trở về nhà, đem căn trần muôn
kiếp chóng tỏ sáng Bát-nhã.
Cúi mong cha mẹ mở lòng hỉ xả, ý chớ trông mong, học theo
gương Phụ vương Tịnh Phạn và Thánh mẫu Ma-da. Hẹn đến
sau kia sẽ gặp nhau trong hội Phật, còn hiện nay cam chịu
lìa nhau. Con chẳng phải quên ơn dưỡng dục, chỉ vì: “Thời
giờ chẳng đợi người.” Cho nên nói “Thân này chẳng thẳng
đời này độ, lại đợi đời nào độ thân này”.
Xin cha mẹ lòng chớ nhớ mong.”
Tụng rằng:
Vị liễu tâm nguyện độ số xuân
Phiên ta tịnh thế mạn thuân tuần
Cơ nhân đắc đạo không môn lý
Độc ngã yêm lưu tại thế trần
Cẩn cụ xích thơ từ quyến ái
Nguyện minh đại pháp báo từ thân
Bất tu sái lệ tần tương tức
Thí tợ đương sơ vô ngã thân
Dịch:
Chưa rõ nguồn tâm quá mấy năm
Thương nhau mê mải luống trì trầm
Cửa không đã lắm người đắc đạo
Riêng ta trì trệ ở trong trần
Xin viết lá thư từ cha mẹ
Nguyện thông đại pháp đáp từ thân
Không nên rơi lệ thường thương nhớ
Xem tợ buổi đầu con không thân
Như vậy lá thư này quí vị thấy Ngài cố tình nhắc cho cha
mẹ đừng có buồn, đừng có khóc, mà coi như buổi đầu
không có Ngài, không có thân Ngài. Đó là lá thư thứ nhất
từ cha mẹ.
Lá thư thứ hai: “Con từ lìa cha mẹ chống tích trượng dạo
phương Nam, tháng ngày trôi qua tính đã mười năm, trên đường
con đã trải qua muôn dặm.
Cúi mong mẹ đem hết tâm ý hướng về Phật pháp, đừng ôm
ấp tình ly biệt, chớ đứng tựa cửa trông con. Mọi việc
trong nhà tùy thời sắp đặt, việc nhiều thì phiền não thêm
nhiều. Phần A Huynh thì nên tận tâm hiếu thuận, học đòi
gương Vương Tường nằm giá, còn Tiểu đệ thì hết sức
bắt chước theo Mạnh Tông khóc măng. Phàm người ở đời
phải biết tu thân hiếu đễ mới hợp lòng trời. Kẻ làm
tăng trong cửa không thì mộ đạo tham thiền để đáp ơn
cha mẹ.
Ngày nay hai đường xa cách muôn sông ngàn núi, mượn giấy
mực viết vài hàng để bày tỏ tấc dạ.”
Tụng rằng:
Bất cầu danh lợi bất cầu Nhu
Nguyện nhạo không môn xả tục đồ
Phiền não tận thời sầu hỏa diệt
Ân tình đoạn xứ ái hà khô
Lục căn giới định hương phong dẫn
Nhất niệm vô sanh huệ lực phù
Vị báo bắc đường hưu trướng vọng
Thí như tử liễu thí như vô
Dịch:
Chẳng cầu danh lợi chẳng cầu Nho
Ưa thích cửa không bỏ thế đồ
Phiền não hết rồi lửa sầu tắt
Ân tình dứt bặt, sông ái khô
Sáu căn giới định gió thơm cuốn
Một niệm vô sanh sức huệ phò
Xin nhắc mẹ già thôi đứng ngóng
Ví như đã chết, ví như không
Đây là lời thư của Ngài.
Bây giờ đến lá thư của bà mẹ gởi cho Ngài:
“Mẹ cùng con đời trước có nhân duyên mới kết thành tình
mẹ con. Kể từ ôm thai trong lòng, sớm chiều cầu thần khấn
Phật nguyện sanh được con trai. Thai bào đủ tháng mạng sống
như chỉ mành, sanh con được toại nguyện quí như châu bảo.
Không nề sự hôi hám của phẩn uế, chẳng ngại sự bú xú
nhọc nhằn. Con vừa thành người dắt đến trường lo học
tập. Hoặc khi con đi chơi về trễ, mẹ đứng tựa cửa trông
mong.
Con viết thư về quyết xin xuất gia. Cha đã mất, mẹ già,
anh yếu, em nghèo nàn, mẹ trông cậy vào ai? Con có ý bỏ mẹ,
chớ mẹ nào có tâm quên con. Từ khi con cất bước tha phương,
ngày đêm mẹ thường rơi lệ! Khổ thay! Khổ thay!
Nay con lại thệ chẳng về quê, mẹ cũng tùy chí nguyện của
con. Mẹ không dám mong con như Vương Tường nằm giá, Đinh
Lan khắc cây, chỉ mong con như Tôn-giả Mục-liên độ mẹ
thoát khỏi trầm luân tiến lên Phật quả. Nếu mẹ không
như vậy e phải có tội. Con cần phải giải quyết cho xong.”
Người mẹ trả lời cho con như vậy, quí vị thấy tình cha
mẹ đối với người đi tu, là kẻ quên ơn bội nghĩa không
biết gì tới cha mẹ. Khi đi tu chúng ta đặt trọng trách chúng
ta là làm sao đạt đạo để giải quyết vấn đề sanh tử
cho mình và cho cha mẹ, cho những người chung quanh, cho tất
cả chúng sanh. Chớ không phải vì muốn bỏ cha mẹ để tìm
chỗ an ổn vui chơi qua ngày hết tháng. Cái cương quyết của
chúng ta không phải là cái ý bất hiếu bỏ cha mẹ phiêu bạt
để tìm chỗ an ổn cho chính mình. Chính vì quyết chí muốn
cứu mình, cứu cha mẹ và cứu tất cả chúng sanh cho nên chúng
ta mới đi tu. Vì vậy khi thực hiện bản hoài cao cả đó
chúng ta không thể nào chần chờ nửa tiến nửa lùi, nay thì
quả quyết ngày mai thì yếu đuối. Nếu như vậy thì chúng
ta không thể nào tiến xa được. Cho nên phải gan dạ ngay
từ buổi đầu. Biết rằng việc làm đó là bất hiếu với
hiện tại nhưng có thể đó là cái cứu cha mẹ và mọi người
ở ngày mai. Cho nên quí vị thấy ngài Động Sơn nhờ lòng
cương quyết, nhất định thành đạo. Ngài ngộ đạo rồi
làm trụ trì ngót ba mươi năm có vị thần Thổ địa muốn
gặp Ngài mà không biết làm sao gặp. Một hôm Ngài đi xuống
nhà bếp, Ngài thấy những người trong nhà trù làm đổ bún,
đổ gạo, đổ cơm ở ngoài lang lệ, Ngài mới rầy. Ngài
nói: “Của đàn-na thí chủ không nên hủy hoại.” Ngài mới
vừa nói như vậy thì thấy ông Thần quì ở trước mặt Ngài.
Ngài hỏi: Ông là ai? - Tôi là thần Thổ địa, ba mươi
năm rồi tìm yết kiến Ngài mà không gặp. Hôm nay tôi mới
thấy Ngài.
Cái ý chí cương quyết đó mới làm được việc như vậy.
Ngài là vị Tổ trong Tông Tào Động mãi cho đến bây giờ.
Nếu người xưa mà chần chờ hay là yếu đuối thì không
bao giờ có cái đạo hạnh để bây giờ chúng ta bắt chước
theo. Cho nên chính vì vậy mà tôi mong rằng tất cả những
người dù xuất gia hay là cư sĩ chẳng hạn, nếu chúng ta
quyết chí tu thì phải có lập trường hết sức là vững
chắc. Vì việc làm này không phải là việc làm tầm thường
đơn giản, chính là một việc làm cả một đời mình, phải
làm sao đạt được. Muốn đạt được cái đó phải hết
sức công phu khó nhọc bền chí lâu dài. Nếu không bền vững,
thì chúng ta đang làm đang tiến, có chuyện gì bận bịu của
gia đình chúng ta bị lùi. Như vậy sự tu không tiến được.
Mà không tiến được chẳng những không cứu được mình,
huống nữa là cứu được ai. Cho nên sự tu hành chánh yếu
là để làm sao thoát ly sanh tử. Muốn thoát ly sanh tử phải
bền chí dai dẳng mới làm được việc đó. Tôi đã dẫn
ngài Động Sơn qua những lá thư của Ngài viết về cho mẹ
và thư trả lời của bà mẹ cho quí vị thấy rõ. Người
mẹ như bà thân của ngài Động Sơn rất là hiếm. Thương
con tràn trề nhưng sợ ngăn ý chí xuất gia của con thì mẹ
có tội, cho nên mẹ không dám ngăn cản. Nhưng bà mẹ hy vọng
rằng một đời này con ráng làm cho xong. Không phải dặn con
đi ít bữa về thăm mẹ mà nói rằng mẹ không dám ngăn cản
con mà mong một đời này con giải quyết cho xong. Lời nói
đó chính là một sức mạnh để cho người con phải nỗ lực
làm sao đạt được mới thôi. Vì vậy ngài Động Sơn đã
làm tròn bổn phận của Ngài đối với sự tu hành cũng như
đối với tất cả những người trong gia đình. Ngài quyết
rằng Ngài phải đạt đạo để đền ơn cha mẹ, đền ơn
tất cả. Do đó tất cả chúng ta khi đã phát tâm học đạo
thì mọi người ai cũng như ai đều phải lo cố gắng nỗ
lực và quyết chí không tu với tánh cách lưng chừng được.
Gần đây tôi thấy người phát tâm xuất gia không phải ít,
mà người giữ được cái chí xuất gia thì không được nhiều.
Nghĩa là sao? Phát tâm xuất gia thì đông, mà giữ được ý
chí xuất gia thì quá ít. Nghĩa là đi chùa vào chùa tu thì
tu, nhưng mà việc nhà cũng không buông được. Như vậy thì
có tinh thần phát tâm xuất gia nếu không phát tâm thì làm
sao cạo đầu ở chùa được. Nhưng cái chí người xuất gia
thì phải đạt đạo, làm một việc cho đến chỗ viên mãn
mới thôi thì ít quá, rất là ít. Vì vậy mong rằng tất cả
những vị đã được cái phúc dầy sâu, nếu bây giờ mới
xuất gia học đạo thì quí vị nên nhớ ý chí của người
xuất gia, phải làm được cái việc của mình đã nguyện
làm. Đừng nói rằng tôi tu để có phước tiếp tục đời
sau tu nữa. Ngài Động Sơn đã nói: “Thân này chẳng thẳng
đời này độ, lại đợi đời nào độ thân này.” (Ngay
thân này thì phải đời này giải quyết cho xong chớ đừng
để đời nào độ nó.) Nay được thân này rồi thì ngay đời
này giải quyết cho xong nó đi, đừng có đợi đời khác,
đời khác nữa. Cái lối đợi đời khác là lối ỷ lại
ngu si, để rồi tu một cách lơ mơ chớ không đi tới nơi
tới chốn. Cho nên người xuất gia dù cho thời nào, nếu chúng
ta nỗ lực thì đều có lợi ích như nhau hết. Đừng nói
mình đây ở đời mạt pháp cố gắng cũng không tới đâu.
Đừng nghĩ như vậy. Dù cho thời chánh pháp, thời tượng
pháp, thời mạt pháp, nếu chúng ta nỗ lực, đều có kết
quả tốt như nhau. Chỉ vì chúng ta không cố gắng cho
nên rồi không giống như thời trước. Những bài thơ này
là một sự cảnh tỉnh lớn lao cho tất cả chúng ta. Tôi nhắc
lại những câu kết luận hai bài kệ của ngài Động Sơn.
Bài kệ trước Ngài nói rằng: (hai câu chót)
Bất tu sái lệ tần tương ức
Thí tợ đương sơ vô ngã thân.
Tạm dịch:
Không nên rơi lệ thường thương nhớ
Xem tợ buổi đầu con không thân.
Bài kệ sau:
Vị báo bắc đường hưu trướng vọng
Thí như tử liễu thí như vô.
Tạm dịch:
Xin nhắc mẹ già thôi đứng ngóng
Ví như đã chết ví như không.
Trong mấy lời đó thấy đầy đủ ý chí của con người khẳng
định: Xin thưa với cha mẹ coi con như đã chết, coi như không
có con. Có thái độ dứt khoát như vậy mới mong làm tròn
được nhiệm vụ của mình. Quí vị nên thấy, khi mình đã
xuất gia đối với gia đình thì như mình đã chết. Có coi
mình đã chết thì mới sống được, chớ còn thấy như mình
còn sống như ở nhà thì không phải tinh thần người xuất
gia. Đó là điều mà tôi thấy hết sức quan trọng đối với
chúng ta. Còn như câu Ngài nói:
“Phiền não tận thời sầu hỏa diệt. Ân tình đoạn xứ
ái hà khô”. Dịch: Phiền não hết rồi lửa sầu tắt. Ân
tình dứt bặt sông ái khô.”
Nghĩa là khi nào mà chúng ta hết phiền não thì lúc đó lửa
sầu mới dẹp tắt. Khi nào ân tình bặt rồi thì sông ái
mới khô. Như vậy, chúng ta thấy người đi tu, nếu để tình
cảm gia đình nó ràng buộc không cắt nổi, thì sông ái không
biết chừng nào mới khô được, nó cứ tràn đầy. Sông ái
tràn đầy thì nó cuốn chúng ta trôi, không lúc nào dừng nổi.
Đó là tôi nói tinh thần của ngài Động Sơn.
Còn tinh thần của người mẹ, tôi chỉ cần nhắc câu chót:
“Nếu mẹ không như vậy e phải có tội. Con cần phải giải
quyết cho xong.” Thật là bà mẹ biết dạy con. Còn cứ như:
Sao con đi lâu quá không về, hoặc giả làm cái gì ngon nhắn
về đãi. Cứ như vậy hoài thì đi tu một trăm năm cũng chẳng
được cái gì. Như vậy chúng ta thấy rằng người đi tu có
hai điều kiện hệ trọng. Điều kiện thứ nhất là tinh thần
dứt khoát của mình. Điều kiện thứ hai là sự giúp đỡ
của cha mẹ bằng cách hiểu đạo khuyên con. Có nhiều người
thương con mà không hiểu đạo, thương con cho xuất gia mà
không dạy nó ý chí xuất gia. Cần làm sao cho con xuất gia
rồi cũng tập cho có ý chí xuất gia nữa. Cái đó mới là
cái cao cả của người cha người mẹ. Thiếu cái đó cũng
làm cho người xuất gia hơi khó khăn giải quyết. Cho nên bà
chỉ nói rằng mẹ không mong con như Vương Tường nằm giá,
Đinh Lan khắc cây mà chỉ mong con như Tôn giả Mục-liên độ
mẹ thoát khỏi trầm luân tiến lên Phật quả. Mong con tu hành
đắc đạo rồi độ mẹ, đó là điều mẹ mong mỏi chớ
không mong gì khác hơn. Điều đó rất quan trọng cho tinh thần
người xuất gia.
Tôi nghĩ rằng năm nay quí Phật tử học tương đối kỹ rồi.
Đã học đạo kỹ mà thiếu ý chí thực hành thì cái đó
chưa đưa chúng ta đến giải thoát sanh tử. Vì vậy năm nay
tôi đặt nặng là muốn tất cả quí vị ai ai cũng đều lập
chí vững trên đường đạo. Nếu là người tại gia khi biết
đạo rồi chúng ta cũng nỗ lực dùng mọi phương tiện để
sống hợp với đạo. Còn người xuất gia thì làm sao phải
ứng dụng cái hiểu của chúng ta cho đúng và tự chúng ta
gỡ hết những cái ràng buộc của chính mình. Gỡ cho hết
những cái ràng buộc do bản ngã và ràng buộc do tình lưu
luyến của gia đình để chúng ta mạnh dạn tiến tu. Làm sao
cho đời tu chúng ta xứng đáng là của người xuất gia,
không hổ thẹn khi mình nhắm mắt, tiếc một đời không đi
tới đâu. Ngày nào mình còn tu thì xứng đáng là người xuất
gia, đến khi nhắm mắt chỉ là một nụ cười: Một nụ cười
từ biệt mọi người chớ không phải là một tiếng khóc
nức nở hay là một hơi thở dài lo sợ. Chúng ta phải cười
khi chúng ta tắt thở. Đó là cái mà chúng tôi mong mỏi nhất.
Mong mỏi cho tôi và cho tất cả quí vị, ai rồi cũng được
như vậy. Có như thế sự tu hành của ta mới có ý nghĩa.
Quí vị đã nhận thấy rằng cuộc đời là ảo mộng. Đã
là ảo mộng thì còn gì là quan trọng nữa mà cứ để cái
mộng lôi cuốn mình rồi phải chìm trong mê muội mãi. Chúng
ta phải gan dạ, phải mạnh dạn để vượt qua cái mộng.
Đó mới là cái thiết yếu. Cái gá thân mộng có một sự
tích tôi sẽ kể cho quí vị nghe để biết cái hay của người
xưa. Như trường hợp một Thiền sư không nói tên, chỉ do
một hành động mà thành danh gọi là “Đả Táo Đọa” tức
là một Thiền sư đập bể ông táo rơi xuống đất. Ngài
tu ở vùng núi Xuân Sơn bên Trung Hoa với một số đồ chúng.
Một hôm Ngài dẫn chúng đi dạo trong núi. Khi đến gần thung
lũng thấy có một cái miếu thờ gì Ngài không biết, nhưng
thấy dân chúng làm thịt bò, trâu, heo, gà dâng cúng liên miên,
tế tự liên miên. Hỏi thì dân chúng nói rằng vị thần Táo
ở miếu đó linh lắm cho nên họ cúng để cầu xin cái này
cái nọ. Nghe nói như vậy rồi, Ngài cầm gậy vô trong miếu,
Ngài thấy trên chỗ bàn thờ có để một tượng ông Táo.
Ngài lấy cây gậy gõ gõ vào tượng đó nói rằng: “Đây
là do gạch đất hợp thành, linh từ đâu lại, thánh từ chỗ
nào có.” Nói xong, Ngài đập xuống một cái, tượng ông
Táo lảo đảo bể ra rồi rơi xuống đất. Khoảng một vài
tiếng đồng hồ sau, Ngài đi ngoài đường, gặp một
vị áo xanh đội mũ xanh quì trước Ngài. Ngài hỏi: Ông là
ai? - Con là thần Táo trong miếu đến để tạ ơn Hòa thượng.
Ngài nói: “Ta đã làm gì mà ngươi tạ ơn?”
- Nhờ ơn Hòa thượng nói lý vô sanh mà con ngộ được. Nhờ
đó con sanh lên cõi trời, buông được cái thân bị đọa
đày trong bao nhiêu đời ở tại cái miếu này.
Nói xong ông đảnh lễ rồi biến mất.
Ông thị giả thấy vậy mới thưa:
- “Bạch Hòa thượng, con đã hầu Hòa thượng lâu quá mà
Hòa thượng không nói lý vô sanh cho con nghe. Ông thần Táo
này có phước gì mà Hòa thượng mới nói có một câu ông
ngộ?”
- Ta chỉ nói một câu đó, rồi Ngài lập lại cho ông thị
giả nghe và hỏi: Ông hội không?
- Dạ con không hiểu.
Ngài nói: Bể rồi! Bể rồi! Rơi rồi! Rơi rồi! Ông thị
giả liền ngộ.
Như vậy để quí vị hiểu cái chỗ chúng tôi dùng chữ gá.
Thân Táo gá vào đất gạch mà phải ở đó bao nhiêu năm.
Còn chúng ta gá vào cái gì? Gá vào đất nước gió lửa này.
Gá rồi bám đó cho là mình. Có đau khổ chưa? Bám vào mình
rồi thì giành hơn giành thua, chấp phải chấp quấy. Bao nhiêu
tội nghiệp cũng do cái mình gá đó tạo ra hết. Nếu bây
giờ mình nhớ thân này là cái mình gá, không có gì là quan
trọng hết, biết như vậy là biết được lý vô sanh. Biết
được thân này là giả tạm như tôi đã nói là mộng. Mà
mộng thì có gì thật đâu? Trong khi mộng, sanh cũng mộng,
tử cũng mộng thì có gì thật không. Sanh không thật sanh,
tử không thật tử. Mà sanh không thật sanh, đó là vô sanh.
Nhận được như vậy thì lý vô sanh hiện tiền. Ngay thân
này, nhận ra được lẽ thật thì thấy đạo. Thấy đạo
thì thoát ly sanh tử. Còn nếu chúng ta cứ bám vào thân này
cho là thật, là quí cái khổ vui của nó, chúng ta cũng đều
quan trọng, cái hơn thua của nó cũng đều cho là quí, tức
nhiên đời mình bị nó chi phối. Nó chi phối cuộc đời hiện
tại, chi phối cả lúc thọ thân khác, chớ không bao giờ hết
được. Cho nên ngay thân này mà chúng ta thức tỉnh, biết
được nó là mộng thì tự nhiên chúng ta có thể lần lần
thoát ly được nó, không bị nó cuốn lôi nữa. Vì vậy ông
thần Táo chỉ nhờ nghe câu: “Đây là ngói gạch hợp thành
linh từ đâu đến, thánh từ đâu có?” Nghe câu đó, ông
giựt mình thức tỉnh liền buông được cái gạch ngói, và
được sanh lên cõi trời.
Còn chúng ta, khi biết rõ được thân này là do đất nước
gió lửa hợp thành, không phải thật mình thì sao? Coi như
nhẹ nhàng biết mấy, nhưng mà không chịu buông, cứ bám vào
đó hơn thua phải quấy đủ thứ hết. Nhiều khi ban đêm những
tối không mưa tôi ngồi ở ngoài, đuổi muỗi cắn, tôi rờ
thấy xương, thấy thịt, thấy một hồi tôi tức cười quá.
Cái thân thật không ra gì. Mình gá vào nó cực quá. Cái này
là cái mình gá, gá từng khúc từng mảnh. Như vậy đó mà
cứ cho là mình, rồi bao nhiêu cái dở theo đó phát sanh đủ
thứ cái dở, đồ hôi thúi, dơ dáy, bẩn thỉu, kể ra không
thể hết. Vậy mà cứ hài lòng, động đến nó có bao nhiêu
thứ phản đối chống trả mãnh liệt.
Như vậy quí vị thấy chúng ta chỉ cần thức tỉnh được
thân này của chúng ta tạm gá mượn lấy đó làm chiếc bè
qua sông, chớ đừng nghĩ nó là thật, cứ lo bồi bổ tô điểm
đủ thứ mà chìm ngay dưới biển không qua sông được.
Đó là điều tôi nhắc cho tất cả quí vị kể cả Tăng Ni
và cư sĩ. Nếu chúng ta thức tỉnh được điều đó thì chuyện
thoát ly sanh tử không khó. Còn nếu chúng ta mê hoài thì không
biết chừng nào ra khỏi bể sanh tử. Cho nên chủ yếu của
Phật nói lý vô ngã là như vậy. Thấy rõ cái này không phải
thật ngã thì tự nhiên mình thoát ly sanh tử. Nếu thấy thật
ngã thì ngàn đời không bao giờ ra khỏi sanh tử, dù quí vị
tu hạnh gì rồi cũng thế.
Đó là một lẽ thật. Vậy thì năm cũ sắp tàn qua năm mới,
chúng tôi mong rằng quí vị tại gia nỗ lực làm đúng với
tinh thần học hiểu của mình. Còn xuất gia ráng lập chí
đúng với tinh thần người xuất gia, để rồi chúng ta chuẩn
bị cho năm mới, cương quyết tiến tới mục đích mình đã
định. Đừng để năm qua rồi lại năm qua, buông xuôi thì
rất đáng tiếc cho đời tu của mình.
Mong quí vị chuẩn bị cho năm tới đẹp đẽ hơn, mạnh
mẽ hơn, cứng cỏi hơn và đạt được sở nguyện của mình,
chớ đừng để lôi thôi nữa.
Đó là mong ước của tôi.
XUÂN
TINH TẤN
Tất cả chúng ta, mọi người tin Phật đều tin đức Di-lặc
là một vị Bồ-tát hiện giờ còn ở trên cung trời Đâu-suất
. Khi đủ duyên thì Ngài sẽ xuống cõi Ta-bà. Khi đó Ngài
ngồi dưới cội cây Long Hoa mà thành Phật hiệu là Di-lặc.
Hội thuyết pháp đó gọi là hội Long Hoa. Khi nãy lạy Phật
chúng ta có câu: Nam-mô Long Hoa Giáo Chủ tức là giáo chủ
ở Long Hoa. Long Hoa là tên cây như cây Bồ-đề của Phật
Thích-ca ngồi vậy. Như vậy đức Phật Di-lặc chừng nào
mới ra đời. Đó là câu hỏi mà Phật tử thắc mắc, vì
thỉnh thoảng nghe người ta đồn đại hoặc ở nơi này có
đức Phật Di-lặc hiện thân, ở nơi kia có đức Di-lặc hóa
thân hoặc là sẽ ra đời làm Phật v.v... Những