6.
Đức Di-lặc Và Ý Nghĩa Sáu Đứa Bé(Xuân Đinh Tỵ-1977)
7.
Con Người Hạnh Phúc - Đức hỉ xả (Xuân Mậu Ngọ-1978)
8.
Hòn Ngọc Họ Hòa (Tất niên 1979)
9.
Một Mùa Xuân Hạnh Phúc.
10.
Cái Gì Rồi Cũng Đến, Đến Rồi Qua, Qua Rồi Mất.
ĐỨC DI-LẶC VÀ Ý NGHĨA SÁU ĐỨA BÉ
XUÂN
ĐINH TỴ 1977
Trước hết tôi nói về danh hiệu của Ngài, kế đến sẽ
nói đến ý nghĩa sáu đứa bé chọc phá Ngài.
Mỗi mùa Xuân đến, mọi người đều in thiệp chúc Tết nhau.
Trong nhà chùa nói chung, nhất là Phật giáo Bắc tông, hầu
hết đều chúc nhau một mùa Xuân Di-lặc hay là một mùa Xuân
hạnh phúc quanh năm. Như vậy đức Phật có liên hệ
gì đến mùa Xuân, mà chúng ta cầu chúc một mùa Xuân Di-lặc.
Có nhiều người đã nghiên cứu lịch sử, họ cho rằng ngày
mùng một Tết là ngày đản sanh của đức Di-lặc. Tôi chưa
biết đó là ngày đản sanh của một hóa thân nào hay là hóa
thân của tiền kiếp bao xa. Chúng tôi chỉ biết rằng ngày
mùng một tháng giêng là ngày vía đức PHẬT DI-LẶC.
Tại sao chúng tôi chỉ cần biết bao nhiêu đó, mà không cần
coi ngày đản sanh này phát xuất từ đâu? Bởi vì lịch sử
của Bồ-tát ứng thân vô lượng, làm sao chúng ta căn cứ
một bề, lấy đó làm tiêu chuẩn. Cho nên chúng tôi thấy
rằng dù có thiếu cũng không sao. Nó không đem lại kết quả
như ý, vì lẽ đó cho nên chúng tôi không thiết tha xem có
phải là đản sanh ở Ấn Độ hay ở Trung Hoa. Chúng tôi chỉ
biết một điều thật là quan trọng trên danh nghĩa Di-lặc
mà chúng ta thường tụng thường nguyện.
Khi nãy chúng ta đã tụng lên rằng: Nam-mô Long Hoa giáo chủ
đương lai hạ sanh Di-lặc Tôn Phật. Đó là chúng ta thể theo
lời huyền ký của đức Bổn sư Thích-ca Mâu-ni. Ngài đã
huyền ký rằng sau này Bồ-tát Di-lặc sanh lên cung trời Đâu-suất.
Khi mãn công hạnh trên đó sẽ đến thế giới Ta-bà này thuyết
giảng. Bao giờ tuổi thọ con người chỉ còn mười tuổi
là chót. Con người khi đó ăn hiền ở lành tức là trải
qua một cuộc biến động về những tai nạn gươm đao v.v...
chết chỉ còn một số trên non trên núi. Những người đó
mới thấy rằng do mình ăn ở hiền lành nên bây giờ mới
sống sót. Họ mới phát tâm tu hành, gìn giữ thập thiện.
Tuổi thọ những người ấy tăng lên cho đến bốn mươi tám
ngàn tuổi, chừng đó đức Phật Di-lặc ra đời. Quí vị
thấy theo lời huyền ký đó thì bao lâu nữa Ngài mới ra đời?
Có lẽ chúng ta sanh đi tử lại chừng một trăm một ngàn
lần, biết gặp được Ngài hay chưa? Vậy mà hiện tại có
lắm người vỗ ngực xưng rằng ta là Di-lặc. Như vậy họ
xưng đó là mạo danh, lợi dụng lời huyền ký ở trong kinh
để làm cho người ta lầm tưởng. Sự thật người học Phật
chân chánh nghe nói đức Phật Di-lặc ra đời thì cứ
nhớ hiện giờ là thời kỳ giảm của chúng ta, vì chúng ta
làm ác nhiều. Đối với thập ác đa số đều thực hiện,
vì đa số làm ác nên tuổi thọ càng ngày càng giảm. Cứ
một trăm năm giảm một tuổi, giảm cho đến mười tuổi
là bao nhiêu năm? Bây giờ chúng ta đang ở giai đoạn từ sáu
mươi đến tám mươi tuổi thọ, tạm nói là sáu mươi tuổi
đi. Trăm năm giảm một tuổi, thì chừng nào đến mười tuổi.
Rồi từ mười tuổi tăng lên bốn mươi tám ngàn tuổi, thì
còn bao lâu nữa. Như vậy thời gian Ngài ra đời còn xa lắm.
Tôi đã từng nói mỗi đức Phật ra đời không làm việc
trùng lập nhau. Cho đến bao giờ giáo lý của đức Phật
Thích-ca Mâu-ni, danh từ Tam Bảo không còn biết tới nữa thì,
mới có một đức Phật khác ra đời là đức Phật
Di-lặc. Hiện nay người ta còn nhớ vanh vách danh từ Tam Bảo,
còn thờ Phật đầy chùa, Tăng Ni còn đầy đường, làm sao
nói giáo lý Phật hết được? Các ngài đâu có làm việc
trùng lập với nhau. Đó là chúng tôi nói phóng ra về ý nghĩa
ngày Xuân.
Tại sao chúng ta gọi đức Di-lặc là Long Hoa giáo chủ? Bởi
vì đức Phật Thích-ca gọi là Ta-bà giáo chủ, vị giáo chủ
trong cõi Ta-bà này. Còn đức Phật Di-lặc sẽ thành đạo
dưới cội cây Long Hoa trong thời đó, cho nên gọi là Long
Hoa giáo chủ. Ngài là đức Phật sẽ thành trong tương
lai, và tương lai đó bao xa khó mà tính hết thời gian được.
Nhưng chúng ta tin rằng tương lai sẽ có đức Phật ra
đời. Nếu đức Phật ra đời, đó là một diễm phúc cho
chúng sanh, là một cây đuốc sáng cho nhân loại. Vì vậy cho
nên khi nghĩ đến đức Phật ra đời là chúng ta cảm
thấy cả một nguồn hạnh phúc an lành.
Đối với tất cả chúng ta ngày mùng một Tết là ngày đầu
của một năm, ngày mở màn cho năm tới. Mà năm tới với
người Phật tử thì tràn trề hứa hẹn. Hứa hẹn cái gì?
- Hứa hẹn mình sẽ thành Phật. Đó là hứa hẹn rất cao
siêu rất quí báu. Tất cả chúng ta hứa hẹn rằng ngày mai
sẽ thành Phật chắc chắn như vậy. Cho nên ngày mùng một
Tết này là ngày vía đức Phật Di-lặc, cũng là ngày
hứa hẹn hạnh phúc cho chúng sanh. Hạnh phúc bằng cách giải
thoát nạn khổ đau, ra khỏi vòng luân hồi, chớ không phải
hạnh phúc trong ngũ dục tầm thường của nhân gian. Thế nên
mỗi năm đến ngày mùng một Tết, toàn thể Tăng Ni cùng chư
Phật tử đến chùa lễ Phật gọi là ngày đầu năm, nhưng
thật tình là ngày vía đức Phật Di-lặc, ngày vía của
vị Phật sẽ thành. Đức Phật Di-lặc là hình ảnh ở bên
ngoài mà cũng là sự hứa hẹn ở nội tâm chúng ta. Chúng
ta nhớ đến đức Phật sẽ thành ở ngày mai thì, chúng ta
cũng nhớ luôn mai kia chúng ta sẽ thành Phật. Vì vậy cho nên
ngày mùng một Tết không chỉ lạy đức Phật với lòng
thành kính mà thôi, chúng ta còn mong rằng ngày mai chúng ta
cũng sẽ thành Phật như Ngài. Thế nên mọi người Phật tử
chúng ta cầu chúc cho nhau một mùa Xuân Di-lặc tức là một
mùa Xuân hứa hẹn sẽ thành Phật. Chính cho bản thân mình,
chớ không phải chỉ có mùa Xuân của đức Di-lặc ở bên
ngoài. Đó là ý nghĩa thâm sâu của ngày vía đức Phật Di-lặc
vào ngày mùng một Tết. Tất cả chúng ta nhớ đến ngày vía
đức Phật Di-lặc tức là nhớ đến cái hy vọng tươi đẹp
của ngày mai, chớ không phải chúng ta chỉ nhớ đức Phật
Di-lặc mà quên hẳn nơi mình. Đó là tôi nói ý nghĩa Long
Hoa giáo chủ đương lai hạ sanh.
Bây giờ chúng ta đi vào ý nghĩa hình tượng của Ngài. Chắc
rằng chúng ta ai cũng từng thấy hình tượng đức Di-lặc
ở các ngôi chùa. Có khi người ta thờ Ngài với vẻ mập
mạp; cười toe toét. Có chỗ khác cũng thờ hình tượng như
vậy mà có sáu đứa nhỏ. Đứa thì chọc ngón tay vô rún,
đứa thì móc lỗ mũi, đứa thì móc miệng, đứa thì dùi
lỗ tai v.v... mà Ngài cứ cười hề hề không phiền, hoặc
bị chướng ngại gì hết.
Tại sao như vậy? Hình ảnh đó nói lên cái gì? Đó là điều
thiết yếu, chúng ta nên chú tâm vào chỗ đó. Chắc rằng
quí vị không quên khi học kinh Lăng Nghiêm lúc mười phương
chư Phật dị khẩu đồng âm tuyên bố cho ngài A-nan và đại
chúng nghe: “Khiến ông phải luân hồi sanh tử, chính là sáu
căn của ông, chớ không phải vật gì khác... khiến ông chóng
chớng Vô thượng Bồ-đề, cũng chính là sáu căn của ông,
chớ không phải vật gì khác.” Như vậy cội gốc sanh tử
cũng là sáu căn của chúng ta: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý. Cội gốc Bồ-đề Niết-bàn cũng là sáu căn của chúng
ta. Như vậy con đường để trở về giác ngộ hay là con đường
sanh tử luân hồi có một hay là hai? Sanh tử luân hồi cũng
đi con đường đó mà Bồ-đề Niết-bàn cũng đi con đường
đó, nhưng mà có khác nhau. Một người thì đi theo chiều thuận
của nó gọi là thuận lưu, một người đi theo chiều nghịch,
cũng trên con đường đó mà đi ngược trở về gọi là nghịch
lưu. Đi theo chiều thuận đó là sanh tử luân hồi. Đi theo
chiều nghịch đó là giải thoát sanh tử. Như vậy thì không
có hai đường. Ví dụ chúng ta về Sài Gòn, cũng đi trên đường
Vũng Tàu - Sài Gòn. Sài Gòn - Vũng Tàu cũng đi đường đó
thôi. Nhưng nói về Sài Gòn là đi trở về, nói đi Vũng Tàu
là đi trở ngược ra. Chỉ khác một người đi trở ra, một
người đi trở vô thôi. Khác nhau ở chỗ đó. Đường thì
một mà hai người đi nghịch hoặc thuận chiều, kết quả
sẽ có hai ngả khác nhau, và hai địa điểm khác nhau. Cũng
như vậy, nơi sáu căn của chúng ta nếu ta thuận chiều với
nó, đó là chúng ta đi trong luân hồi sanh tử. Chúng ta đi
ngược chiều với nó là chúng ta trở về Niết-bàn, Bồ-đề,
giải thoát v.v... Như vậy để thấy rõ trên con đường tu,
tuy nói nó rất nhiều, nhưng sự tu căn bản chỉ đừng cho
sáu căn chạy theo sáu trần bên ngoài. Nếu sáu căn đi theo
sáu trần gọi là thuận lưu, đi theo chiều luân hồi. Nếu
sáu căn không chạy theo sáu trần, không nhiễm, không dính,
không mắc, đó là người trở về Bồ-đề Niết-bàn không
đâu xa lạ. Đức Phật Di-lặc là một vị Phật sẽ thành
ở ngày mai do Ngài tu cái gì? Chính cái hình ảnh là câu trả
lời cụ thể nhất. Mỗi đứa bé soi lỗ tai móc lỗ mũi của
Ngài mà Ngài vẫn cười không tỏ vẻ bực dọc, không tỏ
vẻ chướng ngại buồn bã. Vì vậy Ngài sẽ thành Phật chắc
chắn.
Còn chúng ta thì sao? Có ai móc lỗ tai thì thế nào? Nếu ai
móc lỗ tai mình thì không đánh cũng đá, không đập thì la.
Phải vậy không? Móc lỗ mũi mình cũng thế. Như vậy đối
sáu căn của chúng ta, có ai động tới thì không chịu nổi.
Chỗ không chịu nổi đó làm chướng ngại chúng ta. Sáu đứa
bé đó theo danh từ chuyên môn gọi là lục tặc, tức là sáu
đứa cướp. Nó phá phách. Nhưng thật tình nó có phá mình
hay không? Nếu bị móc lỗ tai mà mình không cảm thấy khó
chịu lại thấy đã ngứa thêm thì không bị chướng ngại.
Hiện tại chúng ta có thể nói gần như một trăm phần trăm
đều bị chướng ngại bởi những lời nói bên ngoài. Những
lời chửi mắng dèm pha, nguyền rủa, tất cả những cái đó
tới lỗ tai mình, mà mình coi như gió thổi lá dương hay gió
thổi cành liễu bên ngoài thì, nó có gì là xấu xa hay không.
Nếu mình thấy đó là lời nói thù hằn, mỉa mai sâu độc,
hiểm ác v.v... thì lúc đó mình làm sao? Tùy tâm niệm mình
mà bực bội tức tối, vì những lời nói như vậy. Mình ghi
nhận nó vào với những tâm niệm hận thù, đen tối thì,
nó sẽ thành những thứ thuốc độc làm cho tan hoang của báu
nhà mình. Còn nếu mình nghe nó mà mình chỉ dang ra một cách
dễ dàng cho nó nương theo gió đi đâu thì đi, đừng vướng
mắc ở mình, tự nhiên mình an lành tự tại. Vì vậy cho nên,
chúng ta tu là phải tu ngay tại sáu căn của mình. Tai nghe những
tiếng khen chê hoặc là chửi bới hoặc là đề cao v.v... mình
cũng xem thường, vì tiếng nói không thật. Chính bản thân
mình còn không thật, huống là tiếng nói bên ngoài. Tâm không
động đó là mình đã thắng đứa bé móc lỗ tai mình rồi.
Con mắt mình thấy có đẹp có xấu, thấy tất cả hình ảnh
phía trước, dù hình ảnh nào mình cũng dửng dưng không lay
động không dính mắc. Như vậy bao nhiêu hình ảnh dàn trải
tràn trề trước mắt mình, mình cũng vẫn an lành tự tại.
Ngược lại mình thấy một hình ảnh, mình liền cho đó là
đẹp
đó là xấu. Rồi cái đẹp mình sợ nó mất đi. Nếu nó xấu
thì sanh tâm bực tức. Như vậy một hình ảnh nào hiện tới
với mình đều là hình ảnh của phiền não hết. Không có
hình ảnh nào gọi là an vui là tự tại, mà đều là chớa
đầy tính chất phiền não.
Sự thật những hình ảnh đó có phải là phiền não hay không?
Phiền não là tự ai? Như vậy phiền não gốc tự nơi mình.
Mình thấy nó mà mình không luyến nó, không bê tha theo nó,
mình không ghét bỏ nó, thì nó vẫn là nó. Có lỗi lầm gì
đâu? Lỗi lầm là chính lòng luyến ái của mình. Tại chính
lòng sân hận của mình chớ không phải hình ảnh có lỗi
lầm. Khi mình chớa chấp sân hận, chớa chấp luyến ái, thì
đó là cái đã cướp mất của báu nhà mình rồi. Con mắt
đem những hình ảnh vào để cướp mất của báu nhà mình?
Đó là cái chướng của đứa bé móc mắt. Còn nếu ngược
lại mình không mắc kẹt, hình ảnh là hình ảnh, mình vẫn
an nhiên thì, đứa bé ấy có làm gì thì làm, mình vẫn an
ổn. Lỗ mũi cũng thế. Lỗ mũi mình ngửi mùi hôi, mùi thơm,
đừng mắc kẹt tất cả những mùi thế tục. Coi như luồng
khói vừa qua mũi rồi mất, không có gì hết, không có gì
là thật thì, có gì làm cho mình nhiễm. Ngược lại, tại
chúng ta si mê, cho nên mùi thơm đến thì thích, mùi hôi đến
thì bực. Do đó tự mình đem giặc vào cướp của báu nhà
mình, rồi tự làm thành chướng ngại. Nếu mình ngửi mùi
hôi thơm vẫn coi như khói như gió hay là như tất cả các
mùi bên ngoài, không có gì thật hết. Tự nhiên trong lòng
mình được tự tại. Tôi có thể đơn cử vài ba cơ quan như
mắt tai mũi lưỡi. Đó là bốn cái hằng tiếp xúc với những
hoàn cảnh thuận tiện làm cho mình ưa, những hoàn cảnh trái
ngược làm cho mình giận. Tác dụng do bốn thứ này gây ra,
phải diệt cho hết. Như lưỡi chúng ta nếm những vị cay,
đắng, mặn, ngọt. Tất cả cái đó, cái nào nó hợp với
lưỡi thì chúng ta thích, cái nào không hợp với lưỡi thì
chúng ta không thích. Vì vậy mà chúng ta khổ từ năm này sang
năm khác. Mỗi khi lên mâm cơm, thấy những món gì mình cảm
nghĩ là hợp với lưỡi của mình thì bữa đó mình vui, những
món gì mình cảm nhận trái với lưỡi của mình thì mình
bực. Rồi vui và bực đó làm mình phải chướng. Do đó mà
phải chạy tìm kiếm, do đó mà phải sanh ra lời nói xấu
ác làm cho những người chung quanh không vui. Vì lẽ đó chúng
ta tập bao giờ lưỡi mình đối với vị, vị nào cũng không
cần phải quí trọng nó. Cốt làm sao cho mình được an ổn
tu hành là quí. Còn tất cả cái ngon cái dở chẳng qua là
tạm của cái lưỡi mà thôi. Như vậy chúng ta thắng được
các thứ đó, tức là đã thắng cái miệng của chúng ta rồi.
Tuy nói sáu căn chớ thật tình có năm căn là tối quan trọng,
tức là mắt tai mũi lưỡi thân, năm cửa đón tiếp bên ngoài.
Còn ý là cái phụ họa trong năm căn ấy. Mỗi khi năm căn
tiếp xúc với năm trần thì ý theo đó mà phụ họa để thương
ghét buồn giận. Vì vậy, ngay năm căn kia mà chúng ta đón
nhận đúng pháp thì cái căn thứ sáu (ý căn) không còn làm
trở ngại nữa. Sở dĩ chúng ta nói rằng sáu căn đó là lục
tặc, sáu tướng cướp vì căn cứ trên phần ô nhiễm của
chúng ta. Khi sáu căn đó tiếp xúc với sáu trần thì chúng
ta mắc kẹt, chúng ta nhiễm theo nên gọi là sáu đứa cướp,
bởi vì kho báu nhà mình bị sáu chú đó cướp đi. Cướp
bằng cách nào? Ví dụ lỗ tai mình nghe tiếng rồi mình phân
biệt tiếng khen tiếng chê, sanh buồn sanh mừng. Và như vậy
mình có bị mất chưa? Khi có buồn có mừng là bị mất của.
Nó lén ăn cướp hồi nào, nó mang ra đường nào? Giờ đây,
chúng ta vui sướng lên khi nghe tiếng khen, bực bội, giận
trong lòng khi nghe tiếng chê, như vậy gọi là chúng ta mất
của. Của đó giặc mang đi và lấy hồi nào? Quí vị nhớ
coi. Nói suông thì khó mà biết dấu vết của giặc. Nếu không
biết dấu vết của giặc, thì không biết của mình để đâu
luôn. Vậy cần biết của mình ở đâu và dấu vết giặc
mang đi đường nào, mới có thể giữ của được.
Quí vị nên nhớ khi lỗ tai nghe người khen người chê mà
mình vui hoặc mình bực tức, lúc đó gọi là mất của. Vậy
thì bọn giặc nó lén vô hồi nào và kho tàng của cải mình
ở đâu? Nó lấy bằng cách nào và mang đi bằng đường nào?
Nhớ kỹ thử coi. Nó lấy bằng cách nào? Nó mang ra đường
nào? Nó đem để đâu? Đó chỉ là một hình ảnh tượng trưng
thôi. Chớ sự thật nó không mang đi đâu. Nếu nó mang đi
thì mình hết rồi, mai mốt mình có giữ thì cũng không còn
của đâu mà giữ. Nên nhớ như vậy đó. Nhưng chúng ta lại
quen nghe thí dụ rồi mắc kẹt trên thí dụ. Mình nghĩ khi
có lấy tức là có mang đi. Nhưng không ngờ nếu thật tình
nó mang đi thì ngày mai ngày mốt đóng cửa sáu chú bé đó
lại thì, dù có giữ cũng là giữ cái kho không. Phải vậy
không? Đâu còn của cải gì, đã hết rồi. Vì vậy cho nên
phải biết rõ ràng là tuy nói nó cướp của mình, nhưng mà
nó không cướp gì hết. Chỉ do tiếp xúc bên ngoài, chấp
nhận qua năm căn của mình rồi tâm mình xao xuyến hoặc buồn
hoặc giận. Đó là những đám mây đen nổi dậy che lấp mặt
trời trí tuệ mình rồi. Những đám mây đen nổi dậy che
lấp mặt trời trí tuệ mình, đó gọi là đã cướp. Khi nào
mình nghe những tiếng khen chê mà trong lòng không xao động,
những đám mây đen không nổi dậy, mặt trời trí tuệ của
chúng ta vẫn sáng rực không bị mờ, không bị tối, như vậy
là chúng ta giữ được tinh thần trí tuệ. Khi mà chúng ta
có trí tuệ tức là mình giàu, nếu mình lúc nào bị cướp
thì lúc đó là mất trí tuệ, cũng như lúc nào thấy trong
tay không có tiền gọi là nghèo. Khi nào có sẵn tiền mới
gọi là giàu. Chúng ta cũng vậy, lúc nào trí tuệ chúng ta
hằng sáng tỏ, lúc đó gọi là chúng ta giàu. Còn nếu phút
giây nào đó trí tuệ bị mờ tối không còn phát hiện nữa
gọi là mất của báu, ta nghèo đi. Cái nghèo đó là cái nghèo
tạm thời, phải vậy không? Nhưng cũng có thể là nghèo vĩnh
viễn. Tạm thời với ai và vĩnh viễn với ai? Nếu chúng ta
giờ phút này bị nó khuất nó che đi, chúng ta mất cái trí
tuệ, nhưng rồi chúng ta có dẹp tan những đám mây đó, để
cho mặt trời trí tuệ sáng trở lại. Người biết dẹp những
đám mây đen cho mặt trời sáng trở lại gọi đó là người
nghèo tạm thời. Còn những người cứ nuôi dưỡng những
đám mây đen đó, hết đám này tới đám khác, cứ luôn luôn
như thế thì, dù có mặt trời trí tuệ mà cả đời họ vẫn
sống trong đen tối. Như vậy đời này đen tối, đời sau
đen tối, và cứ tiếp nối như thế mãi thì, tự nhiên họ
nghèo vĩnh viễn không bao giờ hết nghèo. Vì vậy cho nên đối
với người biết tu và không biết tu là ở tại chỗ đó.
Dù chúng ta cũng bị cướp của báu, chúng ta cũng bị mây
đen che lấp mặt trời trí tuệ, nhưng chúng ta tin rằng chỉ
có che trong một phút một giây, rồi chúng ta sáng lại. Chớ
chúng ta không tối mãi như bao nhiêu người bị tối đó.
Vì vậy ý nghĩa Đương lai hạ sanh của đức Phật Di-lặc
là một ý nghĩa hứa hẹn nơi lòng của chúng ta, chúng ta sẽ
sáng ra ở ngày mai hay là ở những phút sau này, chớ không
tối mãi. Cái hứa hẹn đó phải là cái hứa hẹn thật sự
chớ không phải hứa hẹn suông hứa hẹn rỗng. Có người
cũng hứa hẹn, hứa hẹn bằng miệng suông. Nghĩa là sao? Thấy
họ cũng có hình thức người tu, đi chùa lễ Phật, nhưng
mà cứ chất chớa bao nhiêu phiền não ở trong tâm. Tai nghe
tiếng thì dồn vô, mũi ngửi mùi thì dồn vô. Cứ như vậy
mà dồn hết những cái nghịch vào trong lòng mình. Cả ngày
cứ sống với cái xao xuyến lo buồn, lo kiếm những món ngon,
lo chứa những mùi thơm, lo chứa những mùi hôi, lo chứa những
hình tướng đẹp v.v... Như vậy những cái lo đó làm cho mất
đi mặt trời trí tuệ sáng ngời của họ rồi. Cho nên họ
phải chịu khổ đen tối. Còn chúng ta biết tu khi có cái gì
làm chúng ta bị che khuất một phút, một giây thì hối hận,
ăn năn cố làm cho tan đám mây mờ đó. Và nguyện làm sao
đừng đem nó vô nữa, để cho mặt trời trí tuệ không bị
che khuất lấp phút giây nào hết. Như vậy đó cái hứa hẹn
thật. Hứa hẹn thật đó là hứa hẹn của người biết tu,
chớ không phải hứa hẹn của người hứa suông, nói tu thành
Phật, nhưng tự họ không biết huân tập không biết sửa
chữa.
Chúng tôi thấy rằng chính chỗ thiết yếu đó là cái chỗ
mà đức Phật Di-lặc được gọi là con người hạnh phúc
của ngày mai, cũng là con người hạnh phúc của hiện tại.
Chúng ta thấy rằng con người hạnh phúc là con người mập
mạp vui tươi. Mình nhìn đức Phật Di-lặc lúc nào cũng
mập mạp cũng vui tươi cho nên người ta tượng trưng Ngài
là con người hạnh phúc của ngày mai. Cái mập mạp vui tươi
đó là do cái gì? Nhờ trong lòng không có những đám mây đen
che lấp mặt trời trí tuệ, vì vậy mà sáu đứa kia dù có
móc tai, móc mũi v.v... mà Ngài vẫn thấy như không. Còn chúng
ta bởi thấy cái đó là cái chướng, cho nên trán chúng ta
nhăn lại, mày cau mắt đỏ lên, mặt chúng ta thì méo v.v...
Cứ như vậy mà tạo ra bao nhiêu xấu xa. Nhìn vào gương thấy
gương mặt mình là gương mặt đau khổ. Cái khổ đó chính
vì lòng mình không cam chịu sáu đứa giặc nó phá phách. Nếu
nó phá phách mà mình không để cho nó làm chướng thì, cái
phá đó không trở thành phá nữa, mà đó là cợt vui với
nhau. Còn nếu chúng ta thấy là phá thì lúc đó chúng
ta tự nhiên sanh ra bực dọc, sanh ra khó chịu. Vì vậy người
tu không ai chẳng có sáu đứa giặc, sáu đứa cướp đó.
Người nào cũng sẵn như vậy, nhưng nó thành giặc hay là
bạn thân của mình là chính tại mình. Nếu khi nó cợt phá
mình mà mình biết cho nó là trò chơi ảo mộng không nghĩa
lý gì thì, mình cho nó là một cuộc đùa chơi. Còn nếu nó
cợt phá mà mình cho nó là sự trêu ghẹo thật sự thì mình
bực tức lên. Đó là cái khổ đau của mình. Thế nên biết
tu nơi sáu căn rồi tự nhiên mình biết được an lành tự
tại. Dù chưa thành Phật, hiện đời ta cũng hạnh phúc tràn
trề. Ngày nào tháng nào cũng đều là ngày tháng vui tươi,
năm nào cũng là năm đẹp đẽ. Vì vậy mà chúng ta hay chúc
nhau một mùa Xuân viên miễn.
Đó là mùa Xuân Di-lặc, mùa Xuân mà trong lòng không phiền
muộn lo âu nào. Như vậy mới gọi là mùa Xuân hạnh phúc.
Còn có lo âu, có phiền muộn thì chưa phải là hạnh phúc.
Cho nên nhớ đến đức Phật Di-lặc, nhớ đến sáu đứa
bé móc tai, móc mũi của Ngài, chúng ta nên hằng giờ hằng
phút kiểm điểm lại mình, thử xem giặc nó cướp của mình
hay không. Nếu chúng ta ở mọi trường hợp, đi đứng nằm
ngồi, tiếp duyên đối cảnh, chúng ta đều sống đúng với
tinh thần của đức Phật Di-lặc là không để cho sáu đứa
giặc cướp của mình. Được như thế, tôi tin rằng dù quí
vị tu không muốn được an vui, tự nhiên cũng được an vui,
quí vị không đòi thành Phật, tự nhiên rồi cũng thành Phật.
Còn chúng ta khao khát nguyện cầu thành Phật mà cứ nuôi dưỡng
sáu đứa giặc đó, nó luôn cướp của mình hằng ngày thì,
dù cho cầu mấy đi nữa, cái quả Phật cũng còn xa lơ xa lắc,
đối với mình phải không?
Vì vậy cái tu thiết yếu là chỗ biết trở về của mình.
Mà trở về mình, chính là đừng có để cho sáu căn dẫn
giặc vô, gọi là nghịch lưu. Nghịch lưu tức là trở về
với tánh giác. Còn nếu luôn bị sáu căn dẫn giặc về cướp
mất của mình thì gọi đó là thuận lưu, tức là đi theo
chiều sanh tử.
Do đó, hôm nay nhân ngày vía đức Phật Di-lặc và cũng
là ngày Tết Nguyên Đán tôi cầu chúc cho tất cả quí vị
tăng ni, cư sĩ nam nữ đều trở về nguồn giác của mình.
Nói gọn hơn là nguyện cầu cho tất cả quí vị kể từ ngày
mùng một Tết này cho đến trọn năm và cho đến suốt đời
đều luôn luôn là “Bối trần hiệp giác”.
Đó là ý nghĩa trở về nguồn giác của chúng ta.
CON NGƯỜI HẠNH PHÚC, ĐỨC HỶ XẢ
XUÂN
MẬU NGỌ 1978
Con người hạnh phúc, có thân khỏe tâm an. Muốn được thân
tâm đều khỏe thì chúng ta phải làm sao?
Sở dĩ chúng ta hay áo não sầu bi là tại cái gì? Tại trong
lòng chúng ta có những điều không vui, bất như ý. Phải vậy
không? Có điều không vui, bất như ý cho nên mặt mày chúng
ta sầu thảm. Nếu có gặp ai muốn cười chơi để tỏ xã
giao một chút thì cười ra sao? - Nửa cười nửa mếu. Cái
cười đó chưa phải là thật cười. Đức Phật Di-lặc cười
một cách hỉ hả không có cái gì gượng gạo hết. Còn chúng
ta xã giao nhiều khi cười gượng gạo. Cái cười đó không
phải là thật vui vẻ trong lòng. Vì vậy chúng ta phải làm
sao trong lòng thật vui vẻ, gặp ai mình cũng cười, lúc nào
mình cũng cười. Thấy trời mây đất nước mình cũng cười
được. Thấy tất cả cảnh, cảnh nào cũng vui tươi. Không
có gì bận tâm rối loạn trong lòng hết. Được như vậy
chúng ta mới là hạnh phúc, dù buổi sáng chúng ta có vài củ
khoai. Tâm hồn an vui, dù ở cảnh nào cũng an vui. Nếu tâm
hồn chúng ta bực bội rối loạn, ray rứt, thì ở cảnh nào
chúng ta cũng sầu bi hết. Vì vậy nên mỗi năm, ngày đầu
Xuân, chúng ta cần đến lễ đức Di-lặc. Lễ đức Di-lặc
không phải là lễ suông để Ngài ban phước cho mình, nhưng
lạy Ngài với cả tâm hồn hướng về Ngài và học theo cái
hạnh của Ngài. Làm sao chúng ta, mỗi năm và cả đời sống
vui tươi và hạnh phúc như Ngài vậy. Chúng ta đừng để sống
trong sầu não bi thảm như vậy hoài. Chúng ta phải vui tươi,
mà muốn vui tươi thì điều kiện thiết yếu là phải
thế nào? Tôi nhắc lại phải làm sao để tâm hồn chúng ta
được vui tươi. Sở dĩ đức Di-lặc vui tươi vì Ngài tu hạnh
Hỷ Xả.
Hỷ là vui. Xả là buông hết. Cái gì, ai động đến Ngài,
Ngài cũng buông hết. Ngài cười chớ không giận. Còn mình?
Ai nói với mình một câu gì trái lỗ tai, thấy mặt người
đó mình có vui được không? Nếu có vui là vui gượng không
thật vui. Do đó muốn vui trọn vẹn, đầy đủ thì chúng ta
phải buông hết trong lòng. Lúc nào chúng ta cũng sống dường
như ngây thơ, như đứa bé vậy. Đừng sống với nhiều nếp
nhăn, mặt ủ rũ, mắt chớp lia lịa, không tỉnh táo sáng
suốt. Cái sống đó không vui. Trong cuộc sống như vậy, chúng
ta sẽ chết lần chết mòn do lửa phiền não thiêu đốt. Cho
nên con người quí ở cuộc sống hạnh phúc. Muốn sống hạnh
phúc phải có thân khỏe tâm an. Tâm an thân khỏe là điều
thiết yếu. Muốn như vậy là phải tu theo hạnh hỷ xả của
đức Di-lặc.
Như vậy quí vị thấy, khi Ngài thị hiện ở Trung Quốc, chỉ
làm thân ông Hòa thượng mập mang cái đãy to, cho nên được
gọi là Bố đại Hòa thượng (Bố là vải, đại là cái đãy,
tức là cái túi vải to). Ngài không có của tiền gì hết.
Ngài đi ra chợ, ai cho gì đều bỏ vô túi, rồi lại xóm con
nít móc túi ra có gì chia cho chúng nó ăn. Thầy trò ăn chơi,
vui vẻ với nhau như vậy thôi. Hạnh Ngài là gặp ai Ngài cũng
vui vẻ chớ không có niệm bi thảm như kẻ khác. Khi Ngài sắp
tịch Ngài để lại một bài kệ. Nhờ vậy sau này mới biết
là đức Di-lặc hóa sanh chớ không phải người thường. Cho
nên trong chùa hay thờ Ngài bằng tượng một ông Hòa thượng
mập mạp mang cái túi to.
Nói đến đức hỷ xả thì quí vị nên nhớ thật kỹ. Tôi
lập lại ý nghĩa hỷ xả một chút.
Hỷ là vui, xả là buông. Buông mà vui chớ không phải buông
mà bị bắt buộc.
Thí dụ mình không ưa, ghét người nào đó. Nhưng vì một
người thân mình thương họ, bảo ráng vui với họ. Nên vì
tình người này mà mình vui với người kia. Cái vui đó là
cái vui gượng gạo, chớ không phải thật sự là vui. Bây
giờ trong lòng phải không có cái buồn phiền, tức tối bực
bội gì hết, chỉ một niềm vui an ổn, gặp ai mình cũng vui.
Đó mới thật là vui. Muốn được vậy, chúng ta phải hỷ
để mà xả, tức là vui để mà buông.
Ở đời, chúng ta sống trên thế gian này, cũng như đám trẻ
con đông năm, bảy chục đứa chạy loạn. Chạy một hồi,
thế nào cũng va đầu, chạm trán với nhau. Đứa thì u đầu,
đứa thì chảy máu, trặc chân, nhưng rồi thôi, bỏ qua vui
vẻ với nhau. Nếu cố chấp, khi đụng mình, mình giận cả
năm, cả đời, như vậy không bao giờ vui được. Một người
đụng mình giận, ôm ấp mối giận đó, hai người đụng
mình rồi tới trăm người, ngàn người đụng mình, thì cái
giận chừng bao nhiêu? Cái khối giận chừng bao to? Quí vị
tưởng tượng bằng cái chùa này chưa? Như vậy, nếu chúng
ta cứ cố chấp cái hờn, những cái buồn do người khác gây
cho chúng ta, mà thế gian này chúng ta sống với mấy chục
triệu người, chớ đâu phải với một người, thì khối
buồn phiền đó biết bao to? Trong mấy chục triệu người,
chắc gì được một triệu người thương mình. Trong đó cao
lắm là vài trăm người thương mình thôi, còn bao nhiêu người
kia thì xa lạ. Nếu những người xa lạ đó, họ có ở không
phải đối với mình một vài điều gì đó, rồi mình cứ
ôm ấp thì chắc rằng mình không bao giờ vui được. Cả một
đời từ thuở bé cho tới già năm, sáu mươi tuổi, mỗi năm
ít nhất cũng đụng nhau vài chục lần. Con số đó cộng lại
tới già thì chừng bao nhiêu? Bao nhiêu lần giận hờn, mỗi
lần giận hờn đều giữ, như vậy theo danh từ chuyên môn,
trong A-lại-da thức hay Tàng thức của mình chứa toàn là giận.
Trong kho chứa toàn là giận và thù, thì chừng nhắm mắt sẽ
ra sao? Tức là thù giận nó dẫn mình đi. Trở lại gặp thù
giận nữa. Đời này hận thù, đời sau hận thù, thù hận
tiếp nối, thì cuộc đời toàn là khổ đau với khổ đau
thôi. Cho nên muốn được an vui thì phải tập hỷ xả. Cái
gì qua rồi tha thứ cho nhau, sống vui vẻ. Bảo tha thứ thì
dễ quá, nhưng làm sao tha thứ đây? Cứ nghĩ người đó hơn
mình người đó ăn hiếp mình khinh mình v.v... thì không thể
nào tha thứ được.
Bây giờ, muốn biết vì lý do gì chúng ta hỷ xả cho nhau được,
đó là điều cần yếu nhất. Muốn tha thứ được, phải
có phương pháp, có đường lối, chớ không phải nói suông
được.
Trong nhà Phật dạy rằng, muốn được hỷ xả chúng ta phải
có từ bi. Có thương thì mới có tha thứ. Người đó làm
tức mình, khổ mình mà mình không giận họ tại vì mình thương
họ. Khi mình thương, chuyện lớn cũng biến thành nhỏ. Khi
mình ghét, chuyện nhỏ cũng biến thành lớn. Do đó muốn xả
phải biết thương người. Biết thương họ thì mới tha thứ
họ được. Nếu không biết thương thì không bao giờ tha thứ.
Có từ bi thì có hỷ xả, có lòng thương thì mới có tha thứ
được. Khi chúng ta không có lòng thương mà nói tha thứ thì
không có tha thứ chân thật.
Hiện giờ làm sao có lòng thương? Nói lòng thương suông không
vậy được không? Thường nói tôi thương tất cả, khi tất
cả người đó không chửi tôi, chớ họ chửi tôi là tôi
hết thương họ. Phải vậy không? Làm sao khi họ chửi mình
mà mình vẫn thương họ được, cái đó mới là khó. Nghĩ
rằng tôi thương tất cả, khi gặp tôi, tất cả vui vẻ giúp
đỡ thì tôi thương họ. Còn nếu họ gặp tôi, họ làm khó
làm dễ, gặp tôi họ kiếm chuyện này chuyện kia, họ chửi
bới họ nhục mạ làm sao tôi thương họ được. Muốn thương
được thì phải có phương pháp nữa. Như vậy muốn hỷ xả
thì phải có tình thương. Bảo hỷ xả suông thì không bao
giờ hỷ xả được, phải có lòng thương mới hỷ xả được.
Quí vị thấy rõ như ban ngày rồi. Giờ đây muốn có lòng
thương, làm sao mới có chứ? Không thể nói tôi thương hết
là thương được. Vì vậy muốn có lòng thương tất cả,
tức là từ bi thì phải có trí tuệ. Đó là đầu mối. Muốn
có từ bi thì phải có trí tuệ. Nhờ có trí tuệ rồi mới
có lòng thương rộng rãi, tức là từ bi mới hỷ xả cho nhau
được. Tóm lại cái manh mối ban đầu là trí tuệ, kế đó
là từ bi, sau cùng là hỷ xả. Hỷ xả là kết quả của trí
tuệ và từ bi. Nó không phải là cái có sẵn tự nó. Nó có
từ bi, soi sáng nhờ trí tuệ. Như quí vị thấy rõ người
dưng kẻ lạ làm khổ mình một chút, mình giận cả đời,
còn con ruột mình làm khổ mình, mình giận chừng bao lâu?
Giận một lát thôi, phải vậy không? Rõ ràng mình tha thứ
cho nó vì mình thương nó. Nếu không thương thì không bao giờ
tha thứ cho nó được. Vì vậy cho nên từ bi là thực tế
đi với hỷ xả. Vậy muốn có từ bi thì chúng ta phải tập
có trí tuệ mới có từ bi được. Có trí tuệ rồi phải
làm thế nào để có từ bi?
Trước hết tôi đề ra cái đầu tiên của trí tuệ là chúng
ta phải quán xét cuộc đời là vô thường để chúng ta có
lòng thương nhau. Nhưng quán xét vô thường là quán cái nào?
Quán sự nghiệp, quán của cải, quán cây cối, quán đất
nước là vô thường rồi mình có lòng từ bi hay là quán cái
gì? Ở đây muốn có từ bi chúng ta tập quán bằng cách này:
Quán thẳng vào con người. Bởi vì đức Phật ngày xưa, Ngài
thấy rõ con người ai sanh ra đây rồi cũng đi đến già đến
bệnh rồi chết. Bây giờ chúng ta cũng quán về cái lẽ đó,
nhưng quán khác hơn. Chúng ta quán ai sanh ra đây đều là người
bị kêu án tử hình hết. Quán mạnh như vậy đó. Tôi và
quí vị đều có án tử hình hết, phải vậy không? Mà bản
án đó không định ngày xử. Có thể lát nữa đây, hoặc
mai, hoặc hai, ba mươi năm nữa xử cũng được, hoặc lâu
hơn nữa bốn năm mươi năm. Bản án đó không định ngày
xử. Quí vị thử tưởng tượng nếu có một người nào hoặc
hai, ba người bị kêu án tử hình thì ngày họ còn sống đó,
họ có giành giựt, có tranh nhau hơn thua từ lời nói hay không?
Hay là chỉ một bề nghĩ ngày mai ngày mốt gì đó mình bị
tử hình bằng súng bằng gươm. Cứ nhớ bao nhiêu đó thôi,
nhớ cái án tử hình thì có thể tha thứ cho nhau những cái
nho nhỏ được hết.
Như vậy chúng ta muốn thương nhau chúng ta nên nhớ rằng:
Chúng ta sanh ra, ai nấy đều mang cái án tử hình rồi. Nói
ra quí vị hơi sợ, chớ thật tình nếu không có án tử hình
thì làm sao có ngày chết. Nếu có sanh thì phải có tử, nếu
có tử thì bản án sẵn rồi. Biết mình sanh ra là phải có
tử. Chẳng phải mình mang bản án tử hình hay sao? Nhưng cái
tử ấy hoặc gần hoặc xa, nghĩa là dài năm, sáu mươi năm,
ba, bốn mươi năm ngắn nữa hai, ba mươi năm, ngắn nữa thì
mười mấy năm. Có sanh tự nhiên phải có tử. Chắc chắn
như vậy. Chúng ta hằng nhớ rằng, mọi người ai ai cũng mang
sẵn bản án tử hình, ngày xử không nhất định, mà không
nhất định lại càng sợ hơn nữa. Phải vậy không?
Nếu biết mười năm, hai mươi năm xử thì khả dĩ còn lo
giành giựt để dành được mười năm, hai mươi năm. Biết
đâu mình đang thở đang sống đây, lát nữa ngã ra chết.
Như vậy án tử hình đó xử không có ngày nhất định. Mà
không có ngày nhất định thì lúc nào cũng hồi hộp như anh
đao phủ lúc nào cũng ở bên cạnh. Nhớ hình ảnh đó, ai
có chửi thì chửi, mai mốt chết rồi thì còn đâu hơn thua.
Cái chết đang kề cận, hơn thua làm gì. Cái đáng lo nhất
là làm sao cho khỏi chết. Giả sử có người cãi lanh nói
giỏi hơn thiên hạ, nhưng người đó cãi để khỏi chết
được không? Họ cũng không khỏi vậy. Hơn thua rồi cũng
phải chết, hơn thua làm gì? Chi bằng chúng ta tha thứ nhau.
Ai cũng đang ở cảnh khổ đang mang bản án tử hình, nên thương
nhau, đùm bọc nhau, sống vui với nhau, làm khổ nhau chi nữa.
Phải vậy không? Mình là người sắp chết đây làm khổ nhau
làm gì? Chúng ta vì nghĩ đến cảnh khổ mà thương yêu đùm
bọc nhau, nhờ nhớ tới cái khổ mà khởi lòng thương xót.
Vì cái án tử hình đó không kể người giàu kẻ nghèo, người
có quyền thế, kẻ không quyền thế. Có người nào đáng
giận đâu, dù có ai hơn mình bao nhiêu đi nữa, ngày mai rồi
cũng bị bản án tử hình, không thể nào thoát khỏi, vì án
tử hình đó bình đẳng cho tất cả mọi người.
Nghĩ tới tất cả chúng ta đều sẽ chết, không ai thoát được,
vậy ngày nào chúng ta còn sống nên đùm bọc nhau, thương
yêu nhau để cùng hòa vui mà sống. Còn hay hơn nữa là vui
hòa cùng tiến tu để phá cái bản án đó. Như vậy chúng
ta biết mọi người ai cũng có bản án tử hình. Nhưng người
biết đạo lý thì còn có cái cửa để xin xỏ thoát khỏi
tử hình. Nghĩ đến cửa đó, chắc rằng năm nào tháng nào
ngày nào chúng ta cũng chỉ lo làm sao giải quyết được bản
án tử hình hơn là chuyện chửi bới hơn thua. Phải vậy không?
Giả sử có ai chửi bới hơn thua với mình, mình nghĩ rằng
mai mốt họ cũng chết, có gì mà hơn thua. Cái bận tâm nhất
của chúng ta là bản án tử hình. Bản án chưa giải quyết
có bị chửi chúng ta cũng làm thinh, chuyện kia mới là chuyện
lớn.
Quí vị nghĩ chúng ta đã bị án tử hình mà có người dạy
chúng ta một lối để khiếu nại, hoặc là cách thoát khỏi
bản án tử hình đó, chỉ phương pháp rành rẽ thì chúng
ta phải làm gì? Có phải ngồi đó giành từng miếng ăn ở
trong khám, hay là tranh nhau từng lời nói trong khi huynh đệ
đụng chạm nhau. Hay là tâm tâm niệm niệm lúc nào cũng tìm
cách phá cái án tử hình. Người bị án tử hình mà được
người chỉ dạy để được thoát khỏi án đó lại không
chịu làm, cứ lo hơn thua phải quấy với nhau, quí vị nghĩ
người đó là sao? Kẻ khờ khạo hay người khôn ngoan. Nếu
nói theo thế gian thì người đó là người ngu. Cái quan trọng
thiết yếu mà mình ngó lơ, còn cái tầm thường mà mình cố
chấp, không phải ngu là gì?
Biết rằng mình có phương pháp thoát khỏi bản án tử hình,
tức nhiên chúng ta phải cố gắng làm sao đem hết khả năng
của mình lo giải quyết bản án. Đó là điều trên hết.
Cho nên cái tu để thoát khỏi sanh tử là điều hết sức
cần đối với người biết đạo. Nếu chưa khỏi sanh tử
thì ít ra chúng ta cũng tha thứ cho nhau, vì tất cả chúng ta
đều đau khổ như nhau, đều là người mang án tử hình hết.
Đã bình đẳng mang án tử hình thì nên thương yêu nhau giúp
đỡ nhau. Ngày nào còn sống trên thế gian này là ngày an ổn,
đừng làm khổ cho nhau thêm nữa. Như vậy mới là người
có lòng từ bi. Từ bi có là do chúng ta biết chúng ta cùng
đau khổ như nhau. Do nghĩ đến cái đau khổ chung, mới thương
xót nhau. Đó là điểm thứ nhất.
Điểm thứ hai là chúng ta phải dùng trí tuệ xét cho thật
cẩn thận về con người. Tôi thí dụ cho quí vị thấy, có
người nào đó cuồng loạn lên, những cái gì của nhà người
ta, đồ đạc của người, mới vô mượn mang ra tới sân là
nói cái này của tôi. Mượn người ta thấy rõ ràng mà cái
gì cũng nói của tôi hết, thì lúc đó quí vị kết luận
người đó là người khôn hay người khờ. Chắc ai cũng nói
đó là chú cuồng si. Chú điên cuồng nên đồ của người
ta mà nói là đồ của mình, nói lộn lạo không đúng sự
thật. Hiện nay quí vị có thấy mình là kẻ cuồng si hay không?
Tôi hỏi kỹ lại tất cả quí vị: Thân quí vị đây là thật
hay là giả? Mình như vầy mà nói giả thì không ai bằng lòng
hết, phải vậy không? Thân này nói giả thì trăm người như
một không thể chấp nhận được. Như vậy mà trong kinh Phật
nói thân này là giả. Quí vị thấy đức Phật nói thiếu
sự thật phải vậy không? Tôi hỏi tất cả quí vị: Chúng
ta đang thật sống đây, chúng ta đang sống hay đang vay mượn.
Nếu thật tình mình sống, thì cái gì cũng của mình hết,
cần gì phải vay mượn bên ngoài. Nếu có vay mượn bên ngoài
thì không phải thật mình đang sống, mà mình đang mượn:
mượn cái ở ngoài để sống. Trong nhà Phật nói thân này
là do gốc tứ đại: đất, nước, gió, lửa kết hợp mà
thành. Tứ lúc ra khỏi bào thai mẹ rồi thì có một cuộc
sống. Mà cuộc sống đó là cuộc sống vay mượn chớ không
phải thật là mình. Tại sao vậy?
Như quí vị thấy từ đứa bé cho đến người lớn, ai cũng
như ai, cái lỗ mũi có lúc nào nghỉ không? Vậy cái lỗ mũi
đang làm gì đây? Có nhiều người nghĩ mình đang sống trong
cái này cái kia mà quên mình đang mượn hơi ở ngoài, đem
vô rồi trả nó ra. Tự mình không có hơi, mượn ở ngoài
hít vô rồi trả ra, trả ra rồi hít vô. Làm cả ngày như
vậy. Cái hít vô thở ra đó là sự sống chớ gì? Mà sự
sống đó do vay mượn mà có. Khi hơi ở ngoài chúng gọi là
không khí của trời đất, hít vô lỗ mũi rồi, liền nói
là hơi của tôi. Như vậy rõ ràng chúng ta là kẻ cuồng si,
vì ở ngoài cho là của trời đất, mà vừa vô mũi là nói
của tôi. Khi thở khí trả ra cũng nói là của tôi nữa. Ra
tới ngoài rồi thành của ai? Là của đất trời. Vậy cái
gì là của mình?
Quí vị thấy trăm người như trăm người đều nói mình đang
sống, nhưng không ngờ mình đang vay mượn. Cứ mượn trả
mượn trả. Có giờ phút nào không vay mượn đâu. Đó là
nói lỗ mũi mượn không khí, mượn gió. Đến cái miệng mượn
cái gì? Như từ sáng tới giờ hơi khô cổ thì làm sao? Xin
một tách nước. Khi còn ở ngoài nói là nước trà hoặc nước
lạnh, hay nước gì đó. Khi vô khỏi cổ rồi nói của ai.
Ắt nói của tôi. Như vậy, ở ngoài là nói của trời đất,
của cái này của cái nọ. Vừa vô khỏi cổ thì nói của
tôi. Tối chiều cho nó ra, thành của ai? Mượn vô ở miệng,
xuống thân trả ra, chỉ đi có một đường quanh, như vậy
mà cũng nói là của tôi. Cái gì đem vô là của tôi. Mượn
hơi gió, mượn nước, rồi tới mượn đất, lửa nữa. Tức
là ăn uống cái có chất bột để nuôi dưỡng phần thân,
cái có chất nóng nuôi dưỡng phần lửa. Mình mượn tất
cả những cái đó, mượn rồi trả, mượn rồi trả. Nếu
một phút giây nào không mượn thì phút giây đó còn sống
hay không? Nếu thật là mình thì cần gì phải mượn. Thật
là tôi rồi cần gì mượn bên ngoài. Nếu mượn bên ngoài
thì không phải là tôi rồi.
Như quí vị thấy, mình thật hay giả? Nói giả thì ngán quá
không dám nói. Nhưng chân lý nó là như vậy. Không lúc nào
mình chịu nói mình giả. Quí vị thấy con người có những
cái chấp lạ, cái chấp si mê. Mình không bao giờ chịu thấy
lẽ thật. Một cái thật một trăm phần trăm, mà nghe qua mình
sẽ nổi giận liền. Thí dụ: Như sáng dậy mắc chuyện này
chuyện nọ, lại có khách, chưa kịp súc miệng rửa mặt gì
hết. Khách tới buộc lòng nói chuyện với người. Khi đó
vô tình hơi bay vô lỗ mũi người khách. Nếu người đó thật
thà ngay thẳng họ sẽ nói: Chà chị nói sao hơi hôi quá. Nghe
nói như vậy là mình giận liền. Quí vị nghĩ xem cái đó
là cái gì? Tại sao sự thật một trăm phần trăm, mình cũng
biết nó mà người ta nói hôi mình lại giận người ta là
sao? Như vậy có phải là kẻ luôn luôn chạy trốn sự thật.
Phải vậy không? Không dám thấy sự thật, không dám nghe sự
thật. Người không dám nghe sự thật thì người đó là người
gì? Phải chăng là kẻ cuồng si. Lúc nào cũng nói tôi tìm
chân lý, tôi tìm sự thật mà sự thật tới thì chạy trốn
nó. Cái thật hiện tiền mà lúc nào chúng ta cũng trốn chạy
nó. Ngay thân này quí vị thấy rõ là thân vay mượn. Chính
nó vay mượn mà lúc nào chúng ta cũng nói là thân thật. Bởi
nói của mình thân mình thật cho nên mình quan trọng nó. Bởi
quan trọng nó, nên cái gì để nuôi dưỡng nó, cái gì khen
ngợi nó mình đều quan trọng theo. Bởi mình quan trọng thân
này là thật, lỡ ai nói động nó một chút là mình giận
lên. Thân tôi là trọng, món đồ tôi dùng là quí, cho nên
ai đụng chạm đến nó, chê nó làm nó hư thì tôi nổi tức
lên. Sở dĩ chúng ta buồn thương giận ghét đủ thứ hết,
là tại ta thấy thân thật, nên thấy cái khen cái chê cũng
thật luôn. Phải vậy không? Nếu ta thấy thân này là giả,
tạm bợ, thì cái khen chê đối với thân này quan trọng không?
Nếu biết nó giả, có khen chê cũng bằng thừa, mà có chê
nó cũng không đáng kể.
Như vậy chúng ta thấy, nếu dùng trí tuệ thấy thân này rõ
ràng là vay mượn, giả dối thì chúng ta không còn quan trọng
khen chê đối với thân này nữa. Khi sự khen chê không còn
quan trọng nữa, chúng ta sẽ tha thứ những gì đụng chạm
đến chúng ta dễ ợt. Hỷ xả không còn khó khăn nữa. Giờ
đây chúng ta biết thân này là giả cho nên sự khen chê thân
này chúng ta coi nó là như thường. Nếu ai chấp thân này là
thật, ta thấy người đó rất đáng thương. Mình tỉnh mà
thấy người mê thì mình phải thương. Cũng như mình tỉnh,
thấy người điên thì thương vì họ không biết lẽ thật
như mình. Vì vậy nên tha thứ những cái lầm của họ sai
lầm sái quấy. Giả sử có người điên họ chửi mình, mình
có giận họ không? Có ôm lòng giận năm, bảy năm không? Có
bị họ đánh hai, ba bạt tai, mình chạy không giận họ. Vì
sao chúng ta không giận? Vì chúng ta nghĩ họ là kẻ điên.
Họ đã điên thì mình phải thương họ, đâu nỡ giận họ.
Mình biết thân là giả, họ chấp thân là thật, nếu họ
lỡ xúc phạm đến chúng ta, chúng ta sẵn sàng tha thứ. Vì
sao? Vì ta biết họ si mê. Người si mê là người đáng thương
không đáng giận. Nghĩ như vậy chúng ta thương được tất
cả. Bị ai đụng chạm, chúng ta chỉ thương mà không giận.
Đó là cái thứ hai.
Quí vị thấy hai điểm then chốt để chúng ta có lòng từ
bi là do trí tuệ quán chiếu tất cả là vô thường. Chúng
ta là những người mang án tử hình sớm muộn gì rồi ai cũng
chết. Nghĩ đến cái chết thì chúng ta không nỡ làm khổ
thêm cho nhau, mà lúc nào cũng đùm bọc nhau, thương yêu giúp
đỡ nhau cho bớt khổ. Đó là điểm thứ nhất do lòng từ
bi mà ra. Điểm thứ hai nghĩ thân này là giả tạm. Đã là
giả tạm, vay mượn, thì đối với cái thân giả tạm đó
có hơn có thua, có khen, có chê chỉ là chuyện thường. Không
có gì phải buồn phải giận, chúng ta có thể tha thứ, có
thể hỷ xả hết, không có gì quan trọng nữa. Muốn có lòng
từ bi, chúng ta phải có trí tuệ là vậy. Tôi dẫn trong kinh
A-hàm để quí vị nhận rõ hơn.
Ngày xưa, khi đức Phật Thích-ca đắc đạo rồi, một hôm
Ngài đi hoằng hóa chỗ ngoại đạo. Khi Ngài đi khất
thực, có một người Bà-la-môn ghét Ngài, tới trước mặt
Ngài phỉ báng mạ nhục nói nhiều lời nặng nề. Đức Phật
vẫn tỉnh bơ không chối cãi. Nói một hồi người Bà-la-môn
hỏi: “Cù-đàm có nghe không?”
Phật nói: Ta nghe.
Hỏi: Tôi nói như vậy sao ông không trả lời?
Đức Phật nói: Giả sử ở nhà ngươi có một buổi lễ mời
bà con thân quyến tới. Sau khi dự lễ xong họ ra về, ngươi
đem quà bánh tặng cho họ. Khi tặng những người đó không
nhận thì quà bánh về ai?
Người đó nói: Về tôi.
Phật nói: Cũng vậy, ngươi mắng chửi ta mà ta không nhận,
có dính dáng gì đến ta đâu?
Như vậy tại sao? –Vì Ngài biết thân này là giả, ngôn ngữ
khen chê có gì quan trọng đâu mà hơn thua.
Một lần nữa đức Phật đi khất thực ở một vùng khác.
Có một ông Bà-la-môn còn quá hơn ông trên. Đức Phật đi
trước, ông đi theo sau chửi hoài. Phật cũng từ từ đi. Đến
lúc tới ngã ba đường, Phật trải tọa cụ ngồi đàng hoàng,
ông chạy lại trước mặt hỏi: “Cù-đàm thua tôi chưa?”
Đức Phật thong thả đáp bằng bốn câu kệ:
Kẻ hơn thì thêm oán
Người thua ngủ chẳng yên
Hơn thua hai đều xả
Ấy được an ổn ngủ
Quí vị hơn người ta thì người ta oán mình, còn nghĩ mình
thua thì trằn trọc ngủ không yên. Một bên thêm oán, một
bên ngủ không yên. Chỉ có một cái, hơn thua hai bên đều
bỏ hết, thì người đó ngủ khò không gì bận tâm hết.
Như vậy hơn thua cả hai đều xả thì người đó an ổn nhất
trên trần gian. Đó là người hạnh phúc. Người cần ăn thì
ăn cần ngủ thì ngủ, không có bận bịu ưu tư gì hết. Người
đó mới an ổn. Quí vị thấy đức Phật đối với cảnh
người ta khinh bỉ hạ nhục mà Ngài vẫn tự tại không rối
rắm không bực bội. Tại sao? Tại Ngài đã giác ngộ rồi.
Vì Ngài rủ lòng thương mà hỷ xả, đầy đủ lòng từ bi
nên Ngài hỷ xả không khó khăn gì hết. Chúng ta thấy rõ
thực hiện được cái hạnh hỷ xả cho tới cùng tột là
do trước có trí tuệ, kế đó có lòng từ bi, rồi sau đạt
được hỷ xả cùng tột. Nếu mình không có trí tuệ, thiếu
từ bi thì hỷ xả không bao giờ có. Nghe là chấp liền. Quí
vị thấy ở thế gian này người ta sống hăng say là do sự
hơn thua. Người ngồi trong sòng bạc ngồi hoài không biết
mỏi lưng là sao? Tại nghĩ hơn thua. Vì nghĩ ăn thua đó mà
ngồi ngoài không biết mỏi. Chúng ta đi xem đá bóng. Hai bên
đá nhau mình xem mỏi mắt không biết chán cũng tại nghĩ ăn
thua, muốn biết kết quả ăn thua. Vì chờ xem ăn thua đó mà
người ta say mê trong cuộc sống. Càng say thì càng giành giựt
để được ăn thua. Còn người nào biết ăn thua không có
gì quan trọng, thì người đó không có bận bịu giành giựt
gì hết. Người đó vẫn bình tĩnh điềm đạm trước mọi
cảnh không có gì nóng bỏng lo sợ. Vì nghĩ được mất hơn
thua mà lòng chúng ta lúc nào cũng hồi hộp lo âu. Nếu hơn
thua không còn thì mọi vấn đề không còn quan trọng nữa,
lo âu hồi hộp hết liền. Như vậy cuộc khổ của tất cả
chúng sanh gốc từ tranh hơn tranh thua. Chính vì tranh hơn tranh
thua chúng ta mới cố chấp để rồi hại nhau thù địch v.v...
Nếu chúng ta coi thường cái hơn thua thì chúng ta là người
an ổn nhất và chúng ta hỷ xả hết. Đối với người khác
không có buồn không có giận, không có oán gì, đó là cái
gốc tự biết mình không phải là thật. Biết mình cùng mọi
người ở trong cảnh khổ, cho nên chúng ta thương nhau và tha
thứ cho nhau. Thương nhau tha thứ cho nhau gốc từ trí. Biết
mình đồng khổ, biết mình không thật cho nên chúng ta mới
làm được điều đó.
Như vậy phải thấy rõ rằng trí tuệ đi đâu, thì có từ
bi theo đó. Có từ bi mới hỷ xả được. Sở dĩ đức Di-lặc,
Ngài hạnh phúc vui cười hoài là vì Ngài có trí tuệ, đầy
đủ từ bi, hỷ xả nên mới vui vẻ như vậy. Ngày nay là
ngày đầu năm, tôi nhắc lại cho quí vị nhớ. Một năm hạnh
phúc của chúng ta là sao? Là phải có trí tuệ, thấy được
lẽ thật để thương yêu nhau và đùm bọc nhau. Tóm lại,
muốn đầy đủ hạnh phúc, chúng ta phải thương yêu nhau.
Muốn thương yêu nhau chúng ta phải sáng suốt, có trí tuệ.
Như vậy khả dĩ chúng ta sẽ hưởng đầy đủ một năm hạnh
phúc. Còn chúng ta câu mâu hơn thiệt, thì trong năm này chúng
ta chưa chắc có bao nhiêu lần vui mà có thể buồn nhiều,
vì thế gian lúc nào cũng là lúc đụng chạm. Kẻ chạm ít
người chạm nhiều. Có đụng chạm thì phải có đau có rát.
Cho nên chúng ta phải biết rõ làm sao trong cuộc đời chúng
ta lúc nào cũng được an ổn vui tươi. Đó là khôn ngoan của
mình. Chính cái an ổn vui tươi đó là tự mình cứu mình hết
khổ mà cũng là làm cho những người xung quanh hết khổ nữa.
Nếu ở trong gia đình mà quí vị vui vẻ, an ổn thì những
người xung quanh cũng vui theo. Còn nếu quí vị bực la hoài
thì những người xung quanh cũng rối đầu luôn. Như vậy chính
mình đã khổ rồi làm khổ lây cho những người chung quanh
mình nữa. Người tu theo đạo Phật là tự lợi, lợi tha là
tự cứu và cứu người. Vậy chúng ta phải nỗ lực làm sao
một năm cho mình được vui tươi hạnh phúc, để rồi cái
vui tươi đó lan đến người thân và những người chung quanh
chúng ta. Đó là điều lợi mình lợi người.
Vậy tôi mong rằng năm mới cầu nguyện Tam Bảo gia hộ cho
quí vị một năm đầy đủ hạnh phúc như tôi nói nãy giờ.
Đó là lời cầu chúc của chúng tôi. Quí vị cố gắng thực
hiện cho được cái đó là quí vị đã tu theo Phật.
NAM-MÔ
BỔN SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT.
HÒN NGỌC HỌ HÒA
TẤT
NIÊN 1979
Năm nay, trước hết tôi xin kể một câu chuyện thế gian.
Thuở xưa ở Trung Hoa đời nhà Sở, trên ngọn Kinh Sơn có
một người tìm ngọc tên là Biện Hòa. Anh vô núi tìm ngọc,
tìm được một hòn ngọc bích. Anh đem về dâng lên cho vua
Sở. Vua Sở lúc đó là Sở Lệ Vương. Vua Sở mới đưa cho
thợ ngọc xem. Họ trả lời đó là đá chớ không phải ngọc.
Vua Sở nổi giận bắt chàng họ Hòa chặt một chân, bảo
là khi quân nói dối. Bị chặt một chân, chàng ta mang ngọc
về. Thời gian sau Sở Lệ Vương thăng hà. Sở Võ Vương lên
ngôi, chàng họ Hòa còn một chân, nhưng cũng mang ngọc tới
dâng. Sở Võ Vương bảo thợ ngọc xem. Họ trả lời bảo
đó là đá chớ không phải ngọc. Vua nổi giận bắt chàng
họ Hòa chặt một chân nữa. Bị chặt hết hai chân chàng
họ Hòa mang hòn ngọc trở về. Sau Sở Võ Vương tới Sở
Văn Vương lên ngôi. Chàng họ Hòa không còn chân đem dâng
ngọc nữa. Anh chàng đành ôm hòn ngọc ở Kinh Sơn mà khóc.
Khóc năm, bảy ngày đêm máu ra nước mắt. Sở Văn Vương
nghe vậy cảm động cho người tới hỏi và đòi y về triều.
Vua Sở hỏi: Tại sao mà ngươi khóc lắm vậy? Có phải vì
chặt chân mà ngươi khóc hay chăng? Ông ấy trả lời: -Không
phải đau khổ vì bị chặt hai chân mà tôi khóc. Tôi khóc
đây vì ngọc mà nói là đá. Khóc vì nói thật mà cho là nói
dối.
Vua Sở Văn Vương bảo thợ ngọc xét lại cho kỹ tìm xem cẩn
thận coi phải thật là ngọc hay không? Rốt cuộc đó là ngọc
bích rất đẹp. Từ đó về sau mới đặt tên là “Ngọc
Bích họ Hòa”.
Qua câu chuyện đó quí vị thấy cái gì?
Thiện chí của chàng họ Hòa đưa đến kết quả cụt hai
chân. Chàng đau khổ không phải vì cụt hai chân. Đau khổ
vì ngọc mà nói là đá. Đau khổ vì nói thật mà cho là nói
dối. Quí vị nghĩ sao về tâm trạng của chàng họ Hòa. Hòn
ngọc bích của chàng họ Hòa có quí thật hay không? Nếu theo
thế gian thì hòn ngọc ấy rất là quí. Nhưng giả sử có
người có hòn ngọc quí hơn đem đi tặng thì quí vị nghĩ
sao? Người đó có thể lên ngọn Kinh Sơn mà khóc hay không?
Tôi nhắc lại như trường hợp trong kinh Pháp Hoa, ngài Bồ-tát
Thường Bất Khinh đi tới đâu cũng bái bái nói: “Tôi không
dám khinh các ngài, các ngài đều sẽ thành Phật.” Như vậy
phải chăng Thường Bất Khinh Bồ-tát đã tặng cho chúng ta
một hòn ngọc. Khi đó có kẻ thì rầy la có kẻ vác đá chọi
chẳng hạn. Nhưng dù muốn dù không hòn ngọc ấy cũng được
trở về với mọi người. Đó là tôi nói đại khái nhắc
ở trong kinh.
Bây giờ chúng ta thực tế mà nhìn. Giả sử nếu có người
tặng cho quí vị một hòn ngọc quí bằng trăm ngàn lần hòn
ngọc ở Kinh Sơn, quí vị có ưng nhận hay không? Nếu ưng
nhận quí vị có chịu giữ hay không? Hay là quí vị nhận
rồi mà không chịu giữ, quăng lang lệ ở ngoài đường. Như
vậy người tặng ngọc có buồn không? Chúng ta thử tưởng
tượng một việc tầm thường: Ngọc mà mắt của người
không chuyên môn, hoặc chuyên môn mà không đúng mức, còn
cho là đá. Khi một người biết quả tang là ngọc mà cứ
bị coi là đá hoài thì người đó có đau khổ hay không? Nói
thật mà cứ bị nói là dối thì có đau khổ hay không? Đau
khổ chặt chân vẫn chưa đau khổ bằng ngọc mà cho là đá,
chưa đau khổ bằng nói thật mà cho là nói dối.
Đó là chuyện xưa mà cũng là tình trạng hiện giờ. Có người
tặng cho quí vị những hòn ngọc mà tôi tin rằng những hòn
ngọc này quí bằng trăm ngàn lần hòn ngọc Kinh Sơn của họ
Hòa. Thế mà có nhiều người xem thường nó hoặc không chấp
nhận, hoặc chấp nhận rồi cũng bỏ rơi không gìn giữ. Quí
vị có tội nghiệp cho người tặng ngọc đó không? Bây giờ
hòn ngọc đó ở đâu và ai tặng cho quí vị? Quí vị có tâm
trạng như hai ông vua Sở trước hay không? Mỗi người có
hòn ngọc mà không biết giữ. Bây giờ tôi nói thêm giá trị
của hòn ngọc. Hòn ngọc bích có quí chăng chỉ là lóng lánh
đẹp đẽ trong việc trang sức thôi. Còn có hòn ngọc quí
không biết bao nhiêu lần. Hòn ngọc đó làm cho ta an lành tự
tại. Có người tặng ngọc tặng một trăm một ngàn người,
trăm ngàn người có ngọc mà ngọc tặng không mất. Vậy hòn
ngọc của họ chắc nó quí hơn nhiều. Hòn ngọc này nó chẳng
những làm cho quí vị no ấm an lành tự tại và bảo đảm
cho quí vị kiếp kiếp đời đời không bao giờ mất, không
bao giờ khổ. Đó là hòn ngọc tối quí hay là quí tối thượng.
Đó là hòn ngọc trong kinh Pháp Hoa, hạt minh châu ở trong búi
tóc của nhà vua, tặng cho người thắng trận sau khi trở về
hoặc là của người bạn thân tặng cho người bạn cũ đang
lang thang, cột trong chéo áo chẳng hạn.
Đức Phật đã nói rất nhiều về hòn ngọc đó. Hôm nay là
ngày cuối năm, tôi nói trong việc tặng ngọc của họ Hòa
để quí vị thấy tâm trạng của người tặng ngọc. Bây
giờ cũng có người tặng ngọc cho quí vị, quí vị nhớ ráng
nhận mà giữ cho người tặng khỏi tủi khỏi buồn mới thật
là không hoài công và cũng không phụ lòng người sẵn sàng
tặng cho mình.
Hạt minh châu như thế nào? Tôi sẽ dẫn các Thiền sư để
chỉ cho quí vị hạt minh châu có sẵn nơi quí vị. Có một
vị tăng đến hỏi Thiền sư Thạch Cựu: Thế nào là hạt
châu trong tay Địa Tạng? (Đức Địa Tạng một tay cầm tích
trượng, một tay cầm hạt minh châu.) Thiền sư Thạch Cựu
trả lời: Trong tay ông lại có chăng? Ông tăng thưa: Con chẳng
hội (con chẳng hiểu). Nghĩa là con chẳng biết có hay không?
Thiền sư Thạch Cựu nói: Chớ dối đại chúng. Như vậy xác
nhận cái gì? Quả tang trong tay ông có hòn ngọc mà ông không
biết có hay không? Nếu ông nói không có là ông nói dối đại
chúng. Kế đó Ngài làm bài kệ:
Bất thức tự gia bảo
Tùy tha nhận ngoại trần
Nhật trung đào ảnh chất
Cảnh lý thất đầu nhân
Tạm dịch:
Báu nhà mình chẳng biết
Theo người nhận ngoại trần
Giữa trưa chạy trốn bóng
Người nhìn gương mất đầu
Bất thức tự gia bảo: nghĩa là không biết được của báu
chính nhà mình.
Tùy tha nhận ngoại trần: tức là theo kẻ khác mà đi nhận
bụi bặm bên ngoài. Của báu nhà thì bỏ quên.
Nhật trung đào ảnh chất: Chẳng khác nào như người ở giữa
trưa mà chạy trốn bóng. Chạy ngoài nắng trốn bóng, chạy
đến bao giờ khỏi bóng.
Cảnh lý thất đầu nhân: Nhìn vô gương thấy cái đầu mình,
mặt mình trong gương, quên mất đầu thật mình ở bên ngoài.
Xoay gương lại không thấy đầu kêu lên tôi mất đầu rồi.
Đó là hình ảnh của chàng Diễn- nhã-đạt-đa trong kinh Lăng
Nghiêm. Quí vị thấy chúng ta có giống như chàng ấy hay không?
Mỗi người có sẵn hạt minh châu ở trong tay, không chịu
nhận mà chạy đi nhận những cái gì loanh quanh tầm phào bên
ngoài. Những người như vậy chẳng khác nào tự chối mình
không có hạt minh châu. Họ giống như người trốn bóng chạy
ngoài trời lúc trưa nắng hay là người nhìn gương xoay gương
lại cho mình là không có đầu. Đó là cái cuồng vọng. Đó
là hình ảnh mà Thiền sư nhắc cho chúng ta biết mỗi người
có hòn ngọc như vậy.
Sau đây là câu chuyện của đức Phật: Một hôm năm vị Thiên
vương đến hỏi đạo đức Thế Tôn. Ngài để hạt châu
ở giữa, năm vị đứng năm góc. Ngài hỏi hạt châu này màu
gì? Mỗi vị nói mỗi màu khác nhau. Ông ở phương đông thấy
phản ánh màu trắng, nói màu trắng. Ông ở phương tây thấy
phản ánh màu đỏ, nói hạt châu màu đỏ. Cả năm ông nói
năm màu khác nhau hết. Thế Tôn cất hạt châu đưa tay lên
hỏi: Hạt châu này màu gì? Mấy vị Thiên vương thưa: Trong
tay Phật không có châu chỗ nào có màu? Đức Phật quở: -
Tại sao các ông mê điên đảo lắm vậy? Ta đem thế châu
chỉ cho liền nói có màu xanh vàng đỏ trắng. Ta đem chân
châu chỉ cho thảy đều không biết. Tại sao Phật đưa tay
không lại nói là chân châu, hạt châu thậät? Quí vị có
thấy hạt châu đó không? Ai thấy? Vậy mà năm vị Thiên vương
đều ngộ đạo thấy hạt châu hết. Quí vị thấy hay không?
Như vậy quí vị có thấy thời thấy chớ tôi không giải
thích. Đó là chỉ châu cho quí vị.
Một câu chuyện khác cũng nói về châu. Có vị tăng hỏi Thiền
sư Pháp Đăng: Đầu sào trăm trượng làm sao tiến bước?
Thiền sư Pháp Đăng đáp: Câm.
Ngài Út Sơn Chủ khán câu đó do một vị Hóa Sĩ ở Lô Sơn
dạy. Ngài khán câu đó như câu thoại đầu trải qua ba năm.
Một hôm Ngài cởi ngựa đi qua cầu ván, bất thần con ngựa
đạp nhằm chỗ mục lọt chân xuống dưới. Ngài té nhào
xuống ngựa. Bỗng nhiên Ngài đại ngộ bèn làm bài tụng:
Ngã hữu minh châu nhất khỏa
Cữu bị trần lao quan tỏa
Kim triêu trần tận quang sanh
Chiếu phá sơn hà vạn đóa
Tạm dịch:
Ta có một viên minh châu
Đã lâu bị bụi vùi sâu
Hôm nay bụi sạch sáng sanh
Soi thấu núi sông vạn cảnh
Như vậy Ngài lượm được hạt châu ở đâu? Quí vị thấy
chỉ cần khán câu đó bất thần thấy hạt châu của mình.
Nghĩa là mình có viên minh châu lâu rồi chôn vùi dưới bụi,
cho nên hôm nay bất thần bụi tan ánh sáng phát hiện. Nó sáng
chiếu khắp sơn hà đại địa. Đó là diệu dụng của hạt
minh châu. Như vậy quí vị thấy nó quí vô cùng vô tận.
Tôi đã nói về hạt minh châu, bây giờ nói qua danh từ hơi
khác hơn không còn là hạt minh châu. Tên nó khác mà thể không
khác. Đây là Thiền sư Thọ ở Hưng Giáo. Một hôm ở trong
hội Quốc sư Đức Thiều, Ngài bửa củi. Khi củi Ngài bửa
tét ra liền ngộ đạo và làm bài kệ:
Phóc lạc phi tha vật
Tung hoành bất thị trần
Sơn hà cập đại địa
Toàn lộ Pháp vương thân
Tạm dịch:
Bửa tét không vật khác
Dọc ngang chẳng phải trần
Núi sông và quả đất
Toàn bày thân pháp vương
Bửa củi tét ra thì bày thân Pháp vương chớ không ở đâu
xa lạ. Như vậy người tu thiền ngộ đạo không phải ở
trong giờ phút yên lặng mà ngộ đạo. Có thể trong lúc đi
đường bất chợt gặp cái gì đó cũng có thể ngộ được.
Trong khi làm công tác bửa củi tét ra mình cũng ngộ đạo.
Đó là tinh thần Thiền Tông thấy đạo bất cứ lúc nào.
Lúc Ngài bửa củi Ngài có tu hành không? Cũng như ngài Úc
Sơn Chủ lúc cởi ngựa có tu hay không? Nếu không tu tại sao
bất thần Ngài ngộ đạo. Như vậy để thấy người xưa,
đi đứng nằm ngồi, bất cứ một hoạt động nào của các
Ngài cũng không bỏ quên tâm niệm tu hành của các Ngài. Chính
ôm ấp như vậy, mài dũa như vậy nên mới có cơ phát hiện
ra. Còn chúng ta, đi thì lo nói chuyện thế gian, bửa củi thì
nói gì cho vui để quên mệt. Vì vậy mà chúng ta không thấy
đạo ở chỗ đó.
Bây giờ không nói chuyện châu, mà chuyện khác thâm thúy hơn.
Thiền sư Thạch Thê, cháu ngài Nam Tuyền gọi Nam Tuyền bằng
Sư ông. Một hôm, chú thị giả mời Ngài đi tắm.
Ngài bảo: Đã chẳng rửa bụi cũng chẳng rửa bợn tắm làm
gì? (Vì trong bài kệ tắm Phật có câu: Nước không có rửa
bụi không có rửa bợn.)
Chú thị giả thưa: Hòa thượng đi trước con đem xà phòng
đến sau.
Sư cười.
Như vậy chú thị giả lạc đề nên Ngài cười phải vậy
không?
Một hôm Ngài hỏi chú thị giả: Đi đâu?
Thị giả thưa: Con lên trai đường.
Sư bảo: Ta đâu không biết người lên trai đường.
Thị giả thưa: Trừ ngoài việc này, riêng nói cái gì?
Sư bảo: Ta chỉ hỏi việc bổn phận của ngươi.
Chú thị giả thưa: Nếu hỏi việc bổn phận, con thật là
đi lên trai đường.
Sư bảo: Quả thật là thị giả của ta.
Quí vị thấy chú thị giả ăn nói gì mà lệch lạc vậy.
Mời Ngài đi tắm, Ngài bảo: Nước không phải rửa bụi cũng
không phải rửa bợn, tắm làm gì? Thị giả không trả lời
câu đó mà nói: Hòa thượng đi trước con đem xà phòng theo
sau.
Sao lạ vậy?
Đoạn sau thấy ông thị giả bưng bát lên trai đường, Ngài
hỏi đi đâu? Ông thị giả thưa: Con đi lên trai đường. Ngài
nói ta đã biết ông đi lên trai đường, chính Ngài muốn hỏi
cái gì đó.
Thị giả thưa: Ngoài việc đi lên trai đường, Hòa thượng
bảo con nói cái gì bây giờ?
Ngài đáp: Ta hỏi việc bổn phận của ngươi.
Khi nghe, ông thị giả thưa: Nếu Hòa thượng hỏi việc bổn
phận của con thì quả thật là con đi lên trai đường. Ngài
liền khen ông mới thật là thị giả của ta.
Quí vị thấy ông thị giả đó đáng là thị giả chưa?
Tôi nhắc thêm một Thiền sư nữa. Ngài Bổn Nhân ở huyện
Bạch Thủy, đệ tử của ngài Động Sơn. Một hôm Ngài thượng
đường nói với chúng: Trong con mắt dính cát chẳng được,
trong lỗ tai dính nước chẳng được.
Một hôm vị Tăng bước ra hỏi: Tại sao trong con mắt dính
cát chẳng được?
Ngài đáp: Hợp chân không sánh.
Tăng hỏi: Tại sao trong lỗ tai dính nước chẳng được?
Ngài đáp: Trắng sạch không nhơ.
Quí vị thấy trả lời sao mà lệch lạc vậy?
Trong con mắt dính cát không được, điều đó ai cũng nhận
rõ. Trong lỗ tai dính nước không được, đó cũng chẳng khó
hiểu.
Nhưng tại sao con mắt dính cát không được? Ngài đáp: Hợp
chân không sánh. Tức là hợp với cái chân không có gì so
sánh cả.
Hỏi: Tại sao lỗ tai dính nước không được?
Ngài đáp: Trắng sạch không nhơ.
Như vậy, Ngài nói chuyện gì? Ngài có chỉ hạt châu cho quí
vị hay không? Ngài nói có giống đức Phật đưa tay lên cho
năm vị Thiên vương đó chăng?
Đó là lối diễn tả khác mà cùng một nghĩa.
Đó là đạo vị thâm thúy mà người đọc hơi đau đầu.
Không biết đức Phật nói cái gì? Thiền sư nói cái gì? Chẳng
lẽ mỗi cái tôi giải thích hết, không hay.
Bây giờ tôi kể chuyện một bà ni. Bà Viên Ấn đến tham
vấn Thiền sư Chân Diễn ở Trúc Am.
Thiền sư hỏi bà Ni: Thế Tôn đưa cành hoa, ngài Ca-diếp cười
chúm chím, là cười cái gì?
Quí vị thử trả lời thế bà Ni ấy thử coi.
Bà Ni này hét một tiếng. Hét một tiếng thôi không trả lời
câu nào nữa hết.
Thiền sư bảo: Tiếng hét này rơi vào chỗ nào?
Bà Ni thưa: Chẳng cần nghĩ đến. Tức chẳng cần nghe đến
nó rơi vào chỗ nào?
Thiền sư dựng phất tử hỏi: Cái này là gì?
Bà Ni thưa: Chẳng được vọng thông tin tức. Tức là không
được dối thông tin tức.
Thiền sư hỏi: Vừa rồi Sơn tăng nói gì?
Bà Ni thưa: Lời trước đâu còn.
Thiền sư bảo: Sơn tăng tuổi già.
Bà Ni thưa: Tuổi già thì được, liền lễ bái.
Quí vị thấy trả lời có lạc đề không?
Đưa cây phất tử lên hỏi cái này là cái gì? Mà nói không
được dối thông tin tức.
Bà Ni đó ở đời nhà Thanh niên hiệu Khương Hi. Bà gần chúng
ta nhất ở Trung Hoa. Trả lời như vậy, quí vị thấy bà Ni
ấy ra sao? Tiếc rằng câu chuyện này kể cho quí vị nghe hơi
đau lỗ tai, nhưng tôi cứ kể vì muốn hiến châu cho quí vị.
Đây là câu chuyện Thiền sư Huyền Thiết Dung, Ngài thượng
đường nói chuyện với đại chúng. Ngài đăng pháp tòa chúng
nhóm họp đầy đủ thì Ngài bước xuống tòa. Ông trị sự
tức quá chạy lại nắm đứng Ngài lại hỏi: “Tại sao không
dạy một lời liền bước xuống tòa.” Ngài trả lời: “Sơn
tăng sáng ăn hai chén cháo nguội trong bụng có chút bất an,
đợi đi cầu một chút, hãy vì các ông nói.”
Chúng ngơ ngác không biết gì. Ngài về phương trượng không
ra nữa.
Tại sao kỳ vậy? Quí vị thấy câu chuyện này có lạ không?
Như vậy Ngài làm cái gì? Ngài có nói pháp cho chúng ta nghe
chưa? Thật tình Ngài có đau bụng hay không? Đó là một câu
chuyện đặc biệt.
Một hôm khác Ngài cũng thượng đường nói: Sơn tăng hôm
qua đi thọ trai trong xóm, nhai nhằm một hạt cát hắc quang,
cho đến sáng nay răng vẫn còn đau không thể cùng chư huynh
đệ nói vàng nói trắng. Nói xong Ngài bước xuống tòa và
trở về phương trượng luôn.
Sao lạ vậy. Như vậy Ngài có thuyết pháp câu nào chưa?
Một hôm nọ, Ngài hỏi một vị tăng: Người xưa nói: Ăn
cháo xong rửa bát đi là thế nào? (Đó là Ngài dẫn câu ngài
Triệu Châu hỏi Thiền khách: Ăn cháo chưa? Thiền khách đáp:
Ăn cháo rồi. Ngài Triệu Châu bảo: Rửa bát đi. Vị Thiền
khách liền ngộ đạo.)
Quí vị nên lắng nghe vị tăng trả lời: Khi hôm trong mộng
có người hỏi con câu này, vì lúc đó con mê ngủ nên không
đáp cho y.
Sư bèn thôi, và gật đầu.
Ông Tăng có lạc đề hay không? Quí vị thấy câu chuyện này
có hơi lý thú và là lạ. Tôi không giải thích mỗi người
tự hiểu.
Qua một Thiền sư khác, Thiền sư Quảng Thanh. Đầu mùa Xuân
năm Canh Thân đời Khương Hi tức là đời nhà Thanh, Ngài mang
bệnh ba tháng trời. Hôm nọ đệ tử là Viên Tịnh dẫn chúng
vào phương trượng để hỏi thăm và cầu thầy chỉ dạy.
Sư bảo: Sơn tăng xưa nay không dính mê ngộ. Bị bệnh kiết
ba tháng khiến thân gầy bày xương. Nếu người hiểu đạo
như thế bảo đảm siêu Phật vượt Tổ. Nói xong Ngài nằm
nghiêng bên mặt mà tịch.
Như vậy Ngài dạy cái gì? Ngài dạy làm sao? Tôi nhắc lại
câu chuyện tổ Hoàng Bá mà tôi đã kể năm nào. Dưới Mã
Tổ có tám mươi ba Thiện tri thức nhưng chỉ có ngài Qui Tông
là ỉa chảy đầy đất. Ở trong nhà Thiền có những câu
chuyện tương tợ như vậy.
Ngài Quảng Thanh nói Ngài bị bệnh kiết ba tháng. Bây giờ
sạch hết thân gầy bày xương. Nếu người nào hiểu được
việc đó, thì siêu Phật vượt Tổ.
Như vậy Ngài dạy chúng ta cái gì?
Đó là câu chuyện kết thúc buổi nói chuyện của tôi. Khi
đọc qua câu chuyện đó chúng ta cảm thấy như Ngài tả bệnh
trạng của Ngài. Bệnh hoành hành làm cho Ngài đi tiêu chảy,
không còn gì trong bụng hết. Ốm gầy còn da bọc xương. Có
phải vậy không?
Thiền sư nói nửa thật nửa hư. Mượn bệnh của mình để
chỉ cái khác. Thật tình nếu chúng ta là người biết tu Thiền
hay là tu theo đạo Phật, chỉ có một chuyện là uống thuốc
xổ thôi, là chúng ta hết bệnh. Chúng ta tích lũy cái độc
đã nhiều năm, chất độc chứa lâu quá rồi thành ra sanh
chứng bá bệnh. Bây giờ muốn hết chỉ còn phương thuốc
là xổ. Xổ sạch rồi là chúng ta lành bệnh. Đó là phương
pháp duy nhất, mà khổ nỗi thiên hạ ở đây không chịu xổ
hết. Đã tích độc rồi mà muốn tích thêm hoài, ngày nào
cũng thêm mà không chịu xổ. Quí vị xem có phải vậy không?
Đi ra ngoài chợ nghe người ta nói câu gì bất như ý về nhà
nằm thở ra thở vô rồi tức. Như vậy là biết xổ chưa?
Những cái gì hay, những cái gì dở năm trên năm dưới gì
đó, nếu rảnh ngồi lại thì ôn nó trong đầu. Ôn tới ôn
lui hoặc cười hoặc tức. Chúng ta tích lũy những thứ đó
từ ngàn đời mà không chịu xổ. Do không chịu xổ, rồi
gầy xanh mét. Hơn nữa, còn biến ra đủ thứ bệnh trạng.
Rồi cứ kêu tôi đau quá, tôi khổ quá không ai cứu dùm. Khi
đó Phật bảo xổ không chịu xổ. Đó là bệnh không thể
cứu được, nếu không chịu xổ. Phải vậy không?
Thành thử cuối năm tôi nhắc lại câu chuyện của chúng ta.
Không có gì hơn là cuối năm chúng ta xổ hết cái gì trọn
năm chúng ta dồn vô làm cho mình bận bịu làm cho mình khó
khăn khổ sở. Hôm nay là ngày cuối năm, quí vị nên xổ hết
để rồi sang năm tới chúng ta sạch bong như Ngài, chỉ còn
thân gầy bụng trống. Không thì cứ ấm ách trong bụng và
chúng ta sẽ đau khổ dài dài không biết đến bao giờ hết.
Như tôi đã nói, chúng ta đã có sẵn viên ngọc quí trong tay,
quí vô giá không gì bì được, mà lại vùi nó trong bụi.
Bây giờ muốn cho viên ngọc nó bày ra thì phải phủi cho sạch
bụi. Bụi sạch thì viên ngọc mới bày.
Ở đây chúng ta xổ hết cái độc đó thì tức nhiên trắng
sạch, cái chân thật cũng hiện ra.
Tu là biết buông tất cả những gì đã nắm. Nếu càng tích
lũy thì càng khổ đau. Cho nên người biết tu chỉ cần xả
hết cái tích lũy đó, thì an lành tự tại.
Thiền sư không muốn nói danh từ chuyên môn đó, mà nói là
tiêu chảy. Bao nhiêu phiền não tích lũy mà mình xổ được
ra rồi thì sẽ nhẹ nhàng. Khi chúng ta sạch hết trần lao
thì viên ngọc phát ánh sáng. Hết phiền não là Bồ-đề hiện
ra. Đó là chủ yếu của sự tu hành.
Tất cả chúng ta cùng tu, nguyện một đời đi tới chỗ an
lành tự tại. Nói theo đây là nắm được hòn ngọc của
mình, lúc nào cũng sẵn sàng trong tay. Lau nó sạch, không còn
để dính tí bụi bặm nào, thì tất cả diệu dụng của nó
sẽ hiện tiền. Đó là việc thiết yếu của người tu. Nếu
được như vậy rồi thì bao nhiêu đau khổ sẽ theo đó mà
hết. Cũng như kẻ nghèo, đói khát lang thang mà được của
quí rồi thì sẽ hết nghèo mà trở thành sang cả. Bao nhiêu
cái đau khổ của chúng ta theo cái xả đó, tức là theo cái
lau sạch tất cả phiền não trần lao đó mà chúng ta sẽ được
an lành tự tại. Đó là đường lối tu đơn giản để tiến
đến chỗ giải thoát.
Như vậy mong rằng sang năm tới tất cả chúng ta đều xổ
hết những cái cũ để tâm hồn trong trắng hầu hưởng một
mùa Xuân Di-lặc hoàn toàn.
MỘT MÙA XUÂN HẠNH PHÚC
Hôm nay là ngày Tết Nguyên Đán, cũng là ngày vía đức Phật
Di-lặc. Chúng ta là hàng Phật tử xuất gia và tại gia không
quên được ngày quan trọng này. Đứng về mặt dân tộc ngày
lễ Nguyên Đán là ngày tối quan trọng của dân chúng. Đứng
về Phật pháp, ngày vía đức Phật Di-lặc là ngày rất thiết
yếu với người xuất gia. Bởi vì bao nhiêu người tu hành
chúng ta đều có một nguyện vọng là tương lai phải đạt
đến kết quả viên mãn giác ngộ. Đó là quan niệm chung của
toàn thể người xuất gia cũng như hy vọng của người tại
gia. Ngày vía đức Phật Di-lặc đúng là ngày mùng một Tết,
tức là ngày bước vào năm mới, ngày bắt đầu của năm
sắp đến. Có thể nói thời gian tương lai thời gian hy vọng
của tất cả chúng ta. Hy vọng chúng ta là hy vọng gì? Hy vọng
chúng ta là hy vọng đạt đạo, kết quả viên mãn công phu
tu hành của mình. Nên nhớ đến ngày vía đức Phật Di-lặc,
tức là nhớ đến cái gì hứa hẹn, ở ngày mai của chúng
ta. Ngày mai đối với chúng ta không phải là những ngày nguyện
suông, những cầu mong hão huyền, mà chính là chúng ta phải
làm thế nào cũng được thọ ký như đức Phật Di-lặc. Ngài
sẽ giáng trần thành Phật trong hội Long Hoa. Cho nên, tới
ngày đầu năm, ở chùa cũng như hàng Phật tử với nhau thường
hay chúc Xuân bằng những lời chúc tụng: Chúc quí thầy quí
cô được hưởng một mùa XUÂN DI-LẶC. Chúc hưởng một mùa
Xuân Di-lặc là ý nghĩa gì? Hoặc giả, có những thiệp chúc
Xuân ở nhà chùa chúc rằng: Chúc cho quí vị được hưởng
một mùa “Xuân bất diệt” hoặc chúc cho quí vị hưởng
được một mùa “Xuân miên viễn”. Lời chúc tụng đó là
để nhắc nhở nhau trong đầu năm. Hôm nay, lời chúc tụng
đó được giải thích từng phần để nói chuyện ngày đầu
năm, cũng là ngày vía đức Phật Di-lặc.
Trước hết là chúc một mùa XUÂN DI-LẶC. Trong chùa này chúng
ta không có thờ tượng Ngài. Trong các chùa xưa chắc rằng
hầu hết tăng ni cũng như Phật tử đều có thấy tượng
Ngài. Tượng này có nhiều hình ảnh lắm, nhưng cái hình ảnh
chúng ta dễ nhận nhất là cái miệng và gương mặt Ngài.
Miệng Ngài cười, gương mặt Ngài vui vẻ. Lúc nào nhìn lên
tượng Ngài cũng thấy cười. Có bao giờ thấy tượng Ngài
buồn hay không? Đức Di-lặc là vui cười. Như vậy chúc một
mùa Xuân Di-lặc là chúc một mùa Xuân vui cười, một mùa
Xuân hạnh phúc. Mà hạnh phúc là gì? Là an vui. Mỗi gia đình
hay một người nào, trọn ngày, trọn tháng, trọn năm đều
được an vui, gọi đó là gia đình hạnh phúc. Bất an và không
vui gọi đó là hạnh phúc được không?
Tôi nói mùa Xuân gần tức là mùa Xuân hạnh phúc. Như vậy
ta chúc nhau được mùa Xuân hạnh phúc đó là nghĩa gần dễ
thấy. Nhưng làm sao được hạnh phúc, tức là chúng ta phải
được an vui. Mà làm sao được an? An và vui cái gì? An là
tâm không lo không buồn không sợ hãi. Nếu chúng ta muốn được
an, thì niệm vui buồn sợ hãi chúng ta phải dẹp qua một bên.
Chúng ta không lo buồn sợ hãi thì tự nhiên tâm chúng ta an.
Làm sao được vui? Sở dĩ chúng ta không vui là tại sao? Tại
chúng ta giận hờn bực tức. Nếu trong gia đình có ai làm
mình giận hờn bực tức thì mặt chúng ta vui hay quạu? Cho
nên khi nào vui là không có giận, khi nào giận thì không có
vui. Chúng ta sở dĩ không được an vui là vì trong lòng chúng
ta lo sợ buồn rầu nên không an. Chúng ta bực tức giận hờn
nên không vui. Chúng ta muốn được an vui chỉ có cách là không
lo buồn tự nhiên tâm an. Không giận hờn bực tức thì tâm
chúng ta vui. Muốn hưởng một mùa Xuân Di-lặc với tánh cách
cạn gần là một mùa Xuân hạnh phúc thì, chúng ta gạt ra
ngoài cái buồn hờn, giận tự nhiên chúng ta hưởng được
một mùa Xuân Di-lặc. Nếu không