1.
Xuân Trong Cửa Thiền.
2.
Đêm Trừ Tịch Năm Giáp Dần-1974.
3.
Đức Di-Lặc Qua Hình Ảnh Và Ý Nghĩa Ngày Vía Của Ngài.
4.
Hạt Chuỗi Mộng Ngày Qua Mất, Nghiệp Thiện Ác Còn (Tất
Niên Ất Mão-1975)
5.
Mùa Xuân Di-lặc (Xuân Bính Thìn-1976)
XUÂN
TRONG CỬA THIỀN
Bốn mùa thay đổi muôn vật chuyển xoay, theo quan niệm người
đời thì mỗi lần Đông tàn Xuân đến trong lòng rộn rã
lo mừng Xuân đón Xuân. Rồi bao nhiêu tục lệ từ xưa truyền
lại, nào là đưa ông táo, thiệp chúc Xuân, dựng nêu, rước
ông bà, chúc Tết, lì xì v.v... Bước vào cửa Thiền, xem thử
các tăng sĩ có quan niệm gì về ngày Xuân? Đây chúng ta hãy
nghe Sơ tổ phái Trúc Lâm Yên Tử, Điều Ngự Giác Hoàng, nói
về Xuân:
Niên thiếu hà tằng liễu sắc không
Nhất Xuân tâm sự bách hoa trung
Như kim khám phá Đông hoàng diện
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng
Dịch:
Thuở bé chưa từng rõ sắc không
Xuân về hoa nở rộn trong lòng
Chúa Xuân nay bị ta khám phá
Chiếu trải giường Thiền ngắm cánh hồng.
Lúc còn thiếu niên ở trong ngôi vị sang cả của một ông
Hoàng, chưa thấm nhuần mùi đạo lý, mỗi lần Xuân về trăm
hoa đua nở trong vườn ngự, làm sao Ngài không lòa mắt trước
những màu sắc lung linh, không bâng khuâng qua những làn hương
ngào ngạt. Sắc hương hương sắc quyện cả tâm hồn của
ông Hoàng trẻ tuổi. Thế rồi bao nhiêu tâm sự đều gởi
gắm vào trăm hoa.
Nhưng khi tìm thấy được đạo, cổi bỏ mọi danh vọng tài
sắc ở thế gian, cạo tóc mặc áo nhuộm, Ngài bước chân
vào cửa Thiền. Gia công tu tập Ngài đã khám phá được chân
lý của vũ trụ, thấy được mặt thật xưa nay của chính
mình. Bây giờ Ngài không còn bị sắc hương lôi cuốn, tâm
hồn lóng trong tự tại, ngồi lặng lẽ trên giường Thiền
nhìn chúng nở tàn một cách an nhiên. Từ đây hoa nở hoa tàn
không còn là một hình ảnh khiến tâm hồn người tăng sĩ
phải vui buồn theo nó. Dòng thời gian cuồn cuộn trôi, hiện
tượng trong không gian luôn luôn chuyển mình sanh diệt, song
dưới con mắt một Thiền sư đạt đạo vẫn thấy có một
cái gì hiện hữu thoát ngoài luật sanh diệt của thời gian
không?
Chúng ta hãy nghe lời nhắn nhủ của Thiền sư Giác Hải, một
Thiền sư ở đời Lý, cũng nói về Xuân:
Xuân lai hoa điệp thiện tri thì
Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ
Hoa điệp bản lai giai thị huyễn
Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì
Dịch:
Xuân về hoa bướm gặp nhau đây
Hoa bướm phải cần hợp lúc này
Hoa bướm xưa nay đều là huyễn
Giữ tâm bền chặt bướm hoa thây
Con người và muôn vật đều bị cuốn phăng theo dòng thời
gian bất tận. Sự chết sống sanh diệt của người và vật
đều ứng hợp theo thời tiết. Hoa nở, bướm lượn tìm hương
đều lệ thuộc hẳn vào mùa Xuân. Nếu chúng ta cứ bám víu
vào bản thân vào ngoại cảnh thì ôi thôi! Dòng luân hồi
sanh tử lôi cuốn chúng ta không biết đến đâu cho cùng.
Chúng ta phải gan dạ nhìn thẳng vào lẽ thật của bản thân
của ngoại cảnh, mới thấy chúng là tướng trạng tạm bợ
vô thường, là giả hình bởi nhân duyên chung hợp. Quả thật
là huyễn hóa không có một tí gì chắc thật. Chỉ chân tâm
của chính mình, mới là cái chân thật bất sanh bất diệt,
mà lâu nay chúng ta đã lững quên. Giờ đây, chúng ta phải
quả quyết sống thật với nó, không một phút giây nào lơi
lỏng. Ấy là chúng ta đặt chân trên đường giải thoát,
cổi bỏ sợi dây sanh tử luân hồi. Đây là lời nhắn nhủ
của Thiền sư Giác Hải bảo chúng ta phải “hướng tâm trì”.
Lại một hình ảnh xinh đẹp lạ thường của một mùa Xuân
bất tận, do Thiền sư Chân Không đáp lời hỏi của một
thiền khách:
Xuân đến Xuân đi ngỡ Xuân hết
Hoa nở hoa tàn chỉ là Xuân.
Nhìn thời gian sanh diệt, con người mãi lo âu và tiếc nuối.
Thấy Xuân đến lại nghĩ đến Xuân đi, rồi e sợ sẽ bơ
vơ không còn tìm thấy mùa Xuân đâu nữa. Tâm trạng khát
khao lo sợ ấy dồn dập nung nấu con người. Khiến họ khô
héo chết mòn và hơ hải phập phồng cho một ngày mai. Ngày
mai họ không còn biết nó ra sao mời mịt tối tăm. Nhưng với
Thiền sư, hôm nay và ngày mai đều là vô nghĩa, chúng chỉ
là những chiếc áo cũ mới thay đổi trên một thân người.
Nhưng đứa bé khi mặc một chiếc áo cũ thì xịu mặt xuống,
được quàng chiếc áo mới thì hí hửng lên. Đấy là chúng
quên mình mà chỉ nhớ chiếc áo. Nếu khi chúng chỉ một bề
vui buồn theo chiếc áo. Với người lớn ắt không như thế,
vì tự biết đời mình đã đổi thay biết bao nhiêu lần chiếc
áo. Khi thấy được lẽ thật, người ta sẽ không còn bận
rộn trong hình tướng giả dối ấy nữa. Vì thế Thiền sư
Chân Không đã kết luận cho chúng ta thấy bằng câu: “Hoa
nở hoa tàn chỉ là Xuân.” Ấy là cái đạo miên viễn vậy.
Bước sang những Thiền sư Trung Hoa, xem quan niệm các Ngài
có gì khác lạ. Đây chúng ta hãy nghe Thiền sư Cao Phong Diệu
ngâm nga bốn câu thơ, trước đại chúng trong ngày Tết Nguyên
Đán:
Bách niên nan ngộ tuế triều Xuân
Xá nữ sơ trang việt dạng tân
Duy hữu Đông thôn vương đại tả
Y tiền mãn diện thị ai trần
Dịch:
Trăm năm khó gặp một ngày Xuân
Trang điểm cô em vui vẻ mừng
Chỉ một làng Đông riêng chị ả
Như xưa trên mặt phủ bụi hồng
Mùa Xuân là mùa khí hậu ôn hòa ấm áp. Mỗi lần Xuân về
trên ngàn cây muôn cỏ đều khoác vào mình một chiếc áo
mới. Sự điểm trang của cảnh vật nhịp nhàng với sự điểm
trang của con người. Những đứa bé gái nào là áo tím quần
hồng, lược cài trâm giắt, lũ lượt kéo đi thăm viếng chúc
tụng nhau. Thật là một cảnh nhộn nhịp xinh tươi của một
ngày Xuân.
Nhưng trong khi con người và vạn vật đang phô diễn sắc hương,
đang tưng bừng chúc tụng, thì bên làng Đông một chị nàng
đứng tuổi, vẫn trang nghiêm như tượng nữ thần, vẫn im
lìm như hình thạch nữ để mặc cho sương pha bụi phủ, không
hề vướng chút đổi thay. Gương mặt của cô ta vẫn bình
thản an nhiên như tự thuở nào.
Đây là một xảo thuật của Thiền sư khéo trình bày cho
chúng ta thấy, bên hình ảnh biến ảo đổi thay, lại có một
cái thâm trầm bất sanh bất diệt.
Đến Thiền sư Tiếu Ẩn Hân, chúng ta sẽ thấy một hình
ảnh sáng rỡ ẩn trong hiện tượng mịt mù, diệu lý bất
sanh bất diệt nằm gọn trong cảnh vật sôi động sanh diệt.
Hãy nghe Ngài ngâm bài kệ này trong dịp Xuân về:
Kim cang chánh thể lộ đường đường
Vạn tượng sum la bát-nhã quang
Dẫn khứ lai cơ siêu đương niệm
Vô âm dương điạ lý toàn chương
Mộc kê báo hiểu đề thâm hạng
Thạch nữ nghinh Xuân xuất động phòng
Cộng hỷ long hồ đa đoan khí
Thiền phong thời tống ngự lê hương
Dịch:
Kim cang chánh thể hiện rỡ ràng
Cảnh vật muôn vàn bát-nhã quang
Bặt lối lại qua đương niệm thoát
Âm dương đất trống lý toàn bày
Gáy sáng gà cây trong nẻo vắng
Mừng Xuân gái đá ra động phòng
Đáy hồ rồng vẫy vui vô hạn
Đưa tiễn gió Xuân một lò trầm
Trong muôn ngàn cảnh vật đã chứa sẵn thể Kim Cang Bát-nhã
rực rỡ, chỉ cần dứt sạch mối manh lại qua sanh diệt thì
chánh niệm hiện tiền vượt ngoài mọi đối đãi. Chính chỗ
âm dương chưa phân kia, là chân lý hiện bày.
Đẹp đẽ thay trên cảnh tượng ồn náo biến động đã ngầm
chứa một cái bất động, như gà gỗ gáy sáng, gái đá mừng
Xuân. Rồng nhả hơi trên mặt hồ trong lặng để cùng tiếp
đón một mùa Xuân. Lò trầm phun khói quyện theo mây gió làm
cuộc tiễn đưa người khách Xuân vừa đến cửa.
Thật là ảo ảnh lồng trong chân thường, chân thường hiện
bày trong ảo ảnh. Khiến chúng ta không còn lầm lẫn tìm kiếm
chân lý ngoài sự vật vô thường, không lầm bỏ vọng tưởng
mà lấy chân như. Đó là quan niệm chân chánh của Thiền sư
nhìn vào cuộc đời vậy.
ĐÊM
TRỪ TỊCH
NĂM
GIÁP DẦN 1974
Tổng kết lại, chúng ta sống ở thời chiến tranh, mà hôm
nay đến ngày Tất niên lại được sum họp ngồi tại Thiền
đường ấm cúng này, nói chuyện đạo. Thật là hi hữu.
Có lẽ đây cũng là một sự gia hộ của Tam Bảo, khiến chúng
ta được sống trong cảnh an lành không lo sợ. Hoàn cảnh xã
hội không làm chúng ta phải buồn rầu đau khổ. Nhất là
Tăng Ni đã có thiện duyên chung ở tại Thiền viện để tu
học thì thực là quí báu. Còn quí Phật tử nam nữ cũng vậy,
tôi thấy rằng lý đáng ngày ba mươi quí vị phải ở tại
nhà để rước ông bà, đoàn tụ với gia đình. Quí vị mến
đạo cho đến nỗi phải hy sinh cái vui riêng của gia đình
mà đến đoàn tụ ở trong đại gia đình Phật pháp như thế
này, thật là hi hữu. Tinh thần đó càng đáng được khích
lệ. Cho nên chúng tôi thấy rằng con đường hướng dẫn chỉ
dạy đó là do Tam Bảo gia hộ khiến cho Phật pháp được
miên viễn. Nếu chúng tôi làm được việc gì gọi là hợp
thời và giúp cho quí vị đường lối tu hành thì những cái
đó đều là sự gia hộ của Tam Bảo hết.
Tôi thường nói với Tăng Ni câu này: Chúng ta chỉ không lo
cố gắng, chớ chúng ta thật tình cố gắng tu hành, nhất
là đem hết tâm tư phục vụ Phật pháp thì Tam Bảo không
bao giờ bỏ quên chúng ta. Điều đó tôi tin tưởng và quả
quyết như vậy. Mà chính vì điều đó nên tôi nói rằng,
hiện giờ chúng ta đang ngồi nói chuyện đây Tam Bảo cũng
có mặt với chúng ta, Long thiên hộ pháp không bao giờ bỏ
chúng ta. Điều đó có lẽ quí vị cũng phải tin phần nào
qua kinh nghiệm của tôi. Trong Thanh qui chúng tôi có để câu:
“Tăng Ni trong Thiền viện nếu hết gạo thì phải thay phiên
nhau xuống núi để xin về, đi trong vòng ba ngày, nếu hết
nữa thì đến người khác.” Vì sao tôi để câu đó? - Vì
tôi chủ trương rằng từ ngày tôi lập Thiền viện là tôi
dứt khoát không cho Tăng Ni đi đưa đám ma và không đi dự
những buổi cúng kính của Phật tử tổ chức ở nhà.
Có một số Tăng Ni nói với chúng tôi rằng: “Trong thời
này mà không đi cúng thì Tăng Ni sẽ nhịn đói.” Đã nghe
nói như vậy mà tôi thì quả quyết sẽ cách mạng điều đó.
Vì đã giải quyết như vậy, cho nên tôi mới ghi câu đó trong
Thanh qui Thiền viện. Không cho đi cúng lẽ dĩ nhiên thì người
ta không cúng, nguời ta không cúng thì nhịn đói chớ gì? Nếu
đến giờ phút chót mà hết gạo thì phải thay phiên nhau đi
xin. Nhưng suốt thời gian qua, chúng tôi chưa thấy lúc nào
ở trong kho hết gạo. Nếu không phải Tam Bảo gia hộ thì
làm sao được như vậy. Chẳng phải do Tam Bảo gia hộ, do
nhiệt tình của Phật tử thì làm sao mà có.
Vì lẽ đó, tôi tin rằng sức gia hộ của Tam Bảo rất mạnh,
và lòng thành tín của Phật tử rất tốt. Cho nên chỉ lo
cho Tăng Ni chúng ta thiếu đức, thiếu hạnh không cố gắng
tu hành chớ đừng lo Phật tử bỏ sót chúng ta. Đó là điều
tôi thường nói, thường nhắc trong giới Tăng Ni.
Bây giờ để thấy rõ rằng hôm nay là ngày cuối năm, chúng
ta ai nấy nên trình bày điều thấy được, những biến động
tâm tư của chính mình. Những biến động đó so lại thời
quá khứ thì có thể có tiến triển, nhưng đem bì với các
bậc thiện trí thức của quá khứ, thí dụ như Sư tổ hay
các vị Thiền sư thuở trước thì mình vẫn phải hổ thẹn
vì mình chưa được bao nhiêu.
Căn cứ trên thời gian chúng ta phân biệt mùa Đông, mùa Xuân,
nên bây giờ chúng ta mới có lễ Tất niên, uống trà trừ
tịch. Theo thời gian phân định là thế tục đế, chớ không
phải là chân đế. Hôm nay tôi đem việc thế tục đế để
nói thế tục đế, nhưng cũng là đạo lý để rồi cùng khuyên
nhắc cho tất cả quí vị thấy được ý nghĩa ngày cuối
năm của chúng ta nó quan trọng như thế nào. Tôi xin nhắc
lại câu chuyện hôm rồi tôi có thuật lại ở Linh Quang cho
quí vị nghe. Một buổi sáng sau giờ ngồi thiền, tôi xả
thiền xoa bóp xong, ngồi lại một tí cho thật hết hơi nóng.
Khi ấy chú thị giả lên dọn dẹp, tôi vén mùng ra hỏi chú:
- Ngày hôm qua đâu rồi?
Chú nhìn tôi không trả lời. Tôi nói tiếp:
- Tôi không muốn sống ngày nay, tôi muốn sống trở lại ngày
hôm qua. Chú đem ngày hôm qua cho tôi.
Chú thị giả cũng làm thinh không trả lời được câu hỏi
đó.
Một lát sau, tôi muốn dễ dàng cho chú một chút, tôi nói
rằng:
- Hôm nay chú dọn chén này đũa này, coi như chú dọn chén
mới đũa mới. Nếu bây giờ tôi đòi chú đưa chén đũa cũ
ngày hôm qua, thì chú phải làm sao?
Chú nói:
- Thì con sẽ đi đổi lại cái ngày hôm qua cho Thầy.
Tôi nói tiếp:
- Như vậy tại sao tôi không muốn sống ngày nay, tôi đòi
ngày hôm qua mà chú không đổi lại cho tôi?
Chú thị giả nói:
- Ngày hôm qua là giả là mộng không thật.
Tôi tiếp: Nếu ngày hôm qua là mộng, ngày nay tôi bắt đầu
sống đây, đây cũng là mộng nữa hay sao? Ngày hôm qua là
mộng, ngày nay là mộng, ngày mai cũng là mộng nữa sao? Như
vậy suốt đời chỉ là mộng phải vậy không?
Chúng ta cứ lần bằng xâu chuỗi mộng. Một ngày qua kẽ tay
rồi mất, một ngày khác qua rồi mất, mất, mất... cho tới
cùng hết một xâu chuỗi. Như vậy cả cuộc đời của con
người toàn là xâu chuỗi mộng không có gì khác hơn.
Hôm nay là ngày cuối năm, ngày mai là ngày đầu năm mới.
Nếu chúng ta cứ cho là ngày đầu năm đó sẽ diễn tả bằng
một năm mà chúng ta không bằng lòng, không vui, không ưng sống
với năm đó, sống trở lùi với năm cũ thì có được không?
Chắc rằng không ai trở lùi lại được. Cái quá khứ đã
qua, qua mất rồi, thì cái hiện tại sắp đến đây, đến
rồi cũng mất. Như vậy ba thời đều mất. Đã mất thì nó
không thật. Nếu ta kiểm điểm lại kỹ từ thủy chí
chung, thì đó là một dòng thời gian hư ảo không thật. Bởi
không thật nên chúng ta thấy nó là mộng huyễn, qua rồi không
tìm lại được. Thế mà chúng ta cứ lăn xả người vào cái
hư giả đó tưởng nó là thật. Cả một cuộc đời tạo
cái này cái kia không dừng. Rồi tới phút chót, ngày mà hơi
thở dứt đi chúng ta sẽ ra sao? Kiểm điểm lại mình, nhớ
cuộc đời năm mươi tuổi, sáu mươi tuổi, bảy mươi tuổi
đã qua. Đó là cái gì? Thực là một chuỗi mộng. Thực vậy,
dòng thời gian là một xâu chuỗi mộng, không có cái gì hết.
Mà kiếp sống chúng ta lại là một kiếp sống qui định bởi
thời gian theo số năm sáu mươi, bảy mươi v.v... Như vậy
rõ ràng thời gian không thật, nó là hư giả. Thời gian không
thật thì con người chúng ta có thật hay không? Cũng không
thật luôn. Nhớ năm ngoái tóc tôi bạc ít, năm nay tóc tôi
đã bạc nhiều, răng tôi năm ngoái lung lay ít, năm nay lung
lay thêm. Cứ như vậy, khi thời gian trôi thì bản thân chúng
ta cũng bị tiêu mòn theo đó. Nếu căn cứ vào hiện tại,
từ con người cho đến sự vật chung quanh mình đều
theo dòng thời gian mà biến đổi, sanh diệt từ phút, từ
giây, từ sát-na, không dừng lại ở đâu hết. Chúng ta thấy
rõ ràng là dòng thời gian hư ảo. Nó đã chi phối hết cả
cuộc sống hiện tại của chúng ta, từ thân mình cho đến
ngoại cảnh. Không có cái gì không bị chi phối. Khi dòng thời
gian đã hư ảo thì kiếp sống của con người cũng hư ảo,
sự vật chung quanh cũng là hư ảo. Như vậy có thể kết thúc
là: Chúng ta lần bằng những xâu chuỗi mộng, những hạt
chuỗi mộng. Từng tháng từng năm, chúng ta mặc chiếc áo
mộng đan dệt bằng những sợi tơ mộng. Chung quanh chúng ta
toàn là mộng, mà không hay. Chúng ta lỡ sống như vậy rồi
mà lại đua nhau giành giật danh lợi tài sắc. Rồi trong cái
mộng đó, tạo không biết bao nhiêu đau khổ huyết lệ của
chúng sanh. Đó là vì chúng ta không biết cuộc đời là ảo
mộng. Nếu hôm nay chúng ta thấy rằng chúng ta sống trong một
chuỗi mộng, mặc với những chiếc áo mộng thì còn gì mà
đắm mê tham luyến cảnh mộng ấy nữa. Thân mình và ngoại
cảnh là không gian, ba thời quá khứ hiện tại vị lai là
thời gian. Tất cả là một dòng mộng có gì đâu thật là
mình. Lâu rồi chúng ta cứ mê lầm tưởng là thật, rồi tính
thời gian để định số tuổi, hãnh diện sống dài ngắn
v.v... Lượm lặt những sự vật vô thường ở chung quanh,
cho đó là sự việc của mình. Kiểm điểm lại chỉ là lần
chuỗi mộng mặc áo mộng mà thôi. Đó là chỗ thấy của
chúng tôi.
Nhưng mà nếu tất cả thời gian là mộng, không gian là mộng,
thì rồi chúng ta chìm luôn trong mộng đó hay sao? Hay còn một
cái gì nữa? Nếu chúng ta cứ thấy thời gian trôi qua là mộng,
cuộc sống mình sự vật chung quanh mình cũng là mộng, thì
lúc đó chúng ta sẽ đi mãi trong cái sanh diệt hư ảo mộng
huyễn rồi tuyệt vọng sao? Nhưng nhờ phúc duyên lành, chúng
ta được đức Phật chỉ cho trong cái mộng ấy có cái không
phải là mộng. Mà cái đó là cái hiện giờ chúng ta đang
trở về đang theo dõi nó và tìm thấy nó, để sống với
nó. Như vậy trong cái mộng chúng ta còn thấy cái không phải
mộng. Thời gian không gian đều là mộng. Cái không phải là
mộng đó đối với toàn thể mộng này nó có giá trị biết
là bao! Vì vậy khi chúng ta thấy đang bị cái hư ảo huyễn
mộng chi phối thì đồng thời cũng nhận thấy chúng ta còn
có cái không phải hư ảo, không phải huyễn mộng luôn có
mặt với chúng ta. Điều đó rất đáng mừng! Mừng cho mình,
nhưng khi mừng cho mình chừng nào lại thương cho những người
đang lao mình trong mộng ấy rồi tạo nghiệp ác, gây khổ
đau. Thật đó là những người đáng cho chúng ta thương
xót.
Vì vậy cho nên khi chúng ta nhớ đến mình biết kiếp người
là ảo mộng, tìm thấy một cái gì nó thoát ra ngoài vòng
ảo mộng đó, chúng ta nương tựa nó, trở về nó để được
an lành. Chúng ta càng thương xót thấm thía đối với những
người đang lao mình trong mộng mà tự họ không thức tỉnh.
Chính cái nhìn đó mà một Thiền sư Việt Nam đã diễn đạt
tâm tư bằng những câu thơ, để cho bao nhiêu nhà văn nhà
thơ Việt Nam nhắc lại mãi không quên. Thiền sư Mãn Giác
đã nói:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
Dịch:
Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mặt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Chớ bảo Xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua, sân trước một cành mai
Hai câu đầu thạât tình diễn tả Xuân đến Xuân đi, là
dòng thời gian. Hai câu kế nói bách hoa lạc, bách hoa khai là
những sự vật hiện có trong không gian này. Như vậy thời
gian và không gian là một dòng sinh diệt ảo mộng. Khi thời
gian không gian trôi theo dòng ảo mộng đó thì con người mình
như thế nào? Tức là liền thấy chính mình nhìn thời gian
trôi và tưởng như mình không mắc kẹt ở trong ấy. Đâu
ngờ ngó lên đầu mái tóc đã bạc phơ. Như vậy thời gian
trôi đi, không gian biến đổi thì, chính mình theo đó mà đổi
thật là bi đát, nếu cuộc đời chỉ có ngang chừng ấy thôi.
Nhưng mà không bi đát lắm với đôi mắt của Thiền sư vì
“Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận. Đình tiền tạc dạ nhất
chi mai.” Đừng bảo rằng mùa Xuân hết thì hoa rụng hết.
Đêm qua là đêm mùa Đông vẫn còn có một cành mai nở trắng
ở trước sân chùa mình. Rõ ràng trong cái tàn hoại ảo mộng
còn có một cái gì thầm kín đẹp đẽ trường tồn mãi.
Đó là một cành mai. Một cành mai của Thiền sư Mãn Giác
tức là cái gì Phật đã nói trong kinh Lăng Nghiêm, đó là
“Chân Tâm” hay là Như Lai Tạng tánh của chúng ta. Hoặc
ở chỗ khác trong kinh Pháp Hoa, đức Phật dụ là “Hòn ngọc
quí” đang buộc trong chéo áo.
Như vậy đối với người tu, nhất là khi chúng ta hiểu được
chút ít về Thiền. Nếu chúng ta sống với tâm niệm Thiền
thì mới thấy rằng trong cái sanh diệt ảo mộng, còn có cái
không sanh diệt lẫn trong ấy. Thế nên lòng mình được an
ổn, tự tại và vui vẻ. Chỉ thấy được một tí, một khía
cạnh nhỏ xíu nào của cái đó, chúng ta cũng cảm thấy có
hứng khởi, một niềm vui vẻ để xóa được nỗi đau buồn,
những cái tối tăm thời quá khứ. Thấy được một tí thôi
mà chúng ta cũng có một niềm an lạc rồi, huống nữa là
toàn thể bản tâm ấy. Nếu chúng ta thực hiện nó toàn vẹn
thì đẹp biết chừng nào. Vì vậy chúng tôi tin rằng với
sự cố gắng mãnh liệt của tất cả chúng ta ai nấy rồi
đều có một ngày sẽ vỗ tay cười, cười quên thôi như
Hòa thượng Thủy Lạo. Sau khi bị một đạp của Mã Tổ vào
hông, Ngài cười cho đến mãn đời không thôi. Do đó cái
vui trong đạo, trong cuộc đời đen tối ảo mộng đó mà mình
tìm được cái gì nó thoát ra ngoài, chẳng khác nào ở trong
đêm tối mà mình thấy hay nắm một ngọn đèn sáng, thật
còn gì vui sướng cho bằng. Cho nên đó là nguồn vui vô tận
đối với người hiểu đạo, học đạo. Cái vui đó không
phải để rồi hưởng riêng mà phải ban rải cho mọi người
cùng vui với chúng ta. Đó là tâm niệm triền miên của người
tu hành. Nhưng muốn hưởng được mùi thơm hoa mai, cành mai
của ngài Mãn Giác nói, có dễ dàng cho chúng ta hay không, hay
phải chịu cay đắng nhọc nhằn lắm mới hưởng được.
Tôi xin nhắc lại bài kệ của Tổ Hoàng Bá, Ngài đã bảo:
Chúng ta muốn ngửi mùi hoa mai đó phải làm sao? Ngài nói:
Trần lao quýnh thoát sự phi thường
Hệ bả thằng đầu tổ nhất trường
Nhược bất nhất phiên hàn triệt cốt
Tranh đắc mai hoa phốc tỷ hương
Dịch:
Thoát trần việc ấy rất phi thường
Nắm chặt đầu dây giữ lập trường
Nếu chẳng một phen xương thấm lạnh
Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương
Thật tình, khi chúng ta muốn ra khỏi vòng ảo mộng ấy, dĩ
nhiên chúng ta là kẻ phi thường. Tại sao? Vì mọi người
đang lao mình trong mộng mà không biết là mộng, rồi chìm
đắm, rồi say sưa, rồi tạo nghiệp khổ cho nhau. Đó là người
sống trong vô minh trong mờ tối. Bây giờ chúng ta đã thấy
được đó là vòng vô minh, đen tối muốn thoát ra khỏi nó,
thì đối với những người kia chúng ta chẳng “phi thường”
là gì? Bởi muốn làm kẻ phi thường, chúng ta phải làm sao?
Phải nắm vững đầu mối dây, đừng bao giờ cho nó lay chuyển
lập trường của mình từ thủy chí chung. Nói từ thủy chí
chung thì xa quá, tôi muốn nói lập trường của Tăng Ni hay
Phật tử, kể từ khi chúng ta có được cái duyên biết đạo
vị của Phật, kể từ đó cho đến bao giờ chúng ta đạt
đạo mới thôi. Lập trường đó không bao giờ lay, nghĩa là
nắm vững. Tôi tin rằng với lập trường đó ai nấy cũng
đều ngửi được mùi thơm của hoa mai. Thế nên Ngài nói
nắm vững lập trường để sau này dù gặp những cái khó
khăn, khổ não, nhọc nhằn những chướng gì chúng ta cũng
đều qua hết. Có qua như vậy ta mới đi đến chỗ đẹp đẽ
an lành đúng theo sở nguyện. Tức là ngửi được mùi thơm
của hoa mai. Để diễn tả cái đen tối, cái khổ đau, cái
chịu đựng cay đắng đó, Ngài mới nói rằng: Nếu không
phải bị sương tuyết lạnh thấu xương thì làm sao có ngày
ngửi được mùi thơm của hoa mai. Hình ảnh hoa mai và tuyết
sương mượn ở bên ngoài, nói lên sự cay đắng khó khăn
của người tu. Do sự cay đắng khó khăn đó mà chúng ta đi
đến chỗ tột cùng, nếu giữ lập trường không lay chuyển.
Sau khi qua cái cay đắng tột cùng rồi, chúng ta sẽ được
cái an lành vô thượng, đó là ngửi mùi thơm của hoa mai.
Thành ra hoa mai của Tổ Hoàng Bá nói cũng là hoa mai của Thiền
sư Mãn Giác. Hai vị đó đều mượn hình ảnh mùa đông đen
tối để chỉ cho chúng ta rằng còn có một cành hoa mai thơm
ngát mũi cuối mùa Đông. Với một cố gắng phi thường thì
chắc chắn rồi ai cũng hưởng được hương vị nó. Phải
gan dạ chịu qua một mùa Đông lạnh buốt mới có thể ngửi
được mùi thơm của hoa mai. Vì vậy tôi có thể kết thúc
câu chuyện rằng, nếu tất cả mọi người chúng ta ai nấy
đều có thiện chí quyết tiến lên không mắc kẹt trong cuộc
đời ảo mộng nữa, thì chúng ta phải gan dạ chịu đựng,
bởi vì chúng ta đi ngược dòng sanh tử. Dòng sanh tử giống
như một dòng nước lũ quá mạnh. Người nào không gan dạ
không vững bền thì sẽ bị nó cuốn phăng đi. Vì vậy mỗi
người phải gan dạ, vững vàng để vượt lên, đừng để
cuốn đi. Như thế chúng ta mới có thể ra khỏi dòng nước
lũ đó. Đó là chỗ thiết yếu mà mọi người chúng ta, xuất
gia cũng như tại gia, muốn đi ngược dòng đời ảo mộng
của thời gian, không gian đều phải cố gắng.
Tóm lại, tôi đã kết thúc bằng một đáp số rõ ràng cho
quí vị thấy cuộc đời tu hành của chúng ta là phải như
vậy.
ĐỨC DI-LẶC QUA HÌNH ẢNH VÀ Ý NGHĨA
NGÀY
VÍA CỦA NGÀI
Trong chùa tất cả những hình thức thờ phụng cũng như mọi
nghi lễ đều có ý nghĩa rõ ràng, nhưng vì lâu rồi chúng
ta nặng về phần tín ngưỡng, nên không xét kỹ ý nghĩa.
Vì vậy đi chùa rất lâu thờ Phật quá nhiều; mà tự mình
không biết ông Phật đó là thế nào? Tại sao ngày đó mình
phải lễ Ngài?
Hôm nay nhân ngày đầu năm, đúng là ngày vía của đức Phật
Di-lặc, và lúc này chúng ta lễ Phật gọi là lễ vía đức
Di-lặc. Chúng ta phải biết ý nghĩa ngày vía của Ngài thì
việc lễ của chúng ta mới có giá trị thật. Vì sợ quí
Phật tử không hiểu lẽ đó, cũng như chư tăng trong chùa,
nhiều khi không có thời giờ nghiên cứu rõ ràng, cho nên hôm
nay sẵn đây tôi nói ý nghĩa về đức Phật Di-lặc để quí
vị tìm hiểu, coi như lời chúc Tết đầu năm của tôi.
Nói về đức Phật Di-lặc chắc rằng đại đa số quí vị
đều nhớ đến hình tượng của một ông Phật ngồi phạch
ngực, mập, bụng to và miệng cười toe toét. Có khi quí vị
thấy bên cạnh Ngài có 6 đứa con nít, đứa thì móc lỗ tai,
đứa thì móc miệng, đứa thì thọc lét v.v... Những hình
tượng đó như là một trò đùa. Mình không biết tại sao
lại có chuyện đùa ở trong chùa như vậy. Đó là ý nghĩa
chúng ta cần phải biết. Nói đến đức Di-lặc chúng tôi
phải khảo lịch sử từ Ấn Độ sang Trung Hoa để quí vị
khỏi lầm lẫn. Nhiều tà thuyết bây giờ dựng đức Phật
Di-lặc làm chỗ tiêu chuẩn để họ lôi cuốn Phật tử. Đức
Phật Di-lặc là tên dịch của thuở xưa. Sau này có dịch
ra nhiều tên khác nhưng vì chúng ta đã quen kêu là đức Phật
Di-lặc.
Chữ Di-lặc là phiên âm tiếng Phạn, Tàu dịch là Từ Thị
(Thị là họ, Từ là từ bi). Có thuyết nói rằng khi bà mẹ
của Ngài mang thai Ngài, khởi lòng thương không nỡ giết hại
chúng sanh và không ăn thịt cá được cho nên nói là “Từ”.
Vì Ngài sanh nơi bà mẹ đó cho nên gọi là Từ Thị. Nhưng
có thuyết lại nói khác hơn. Vì thuở xưa Ngài tu về từ
bi tam-muội cho nên sau này có tên là Từ Thị. Nhưng tên Ngài
là A-dật-đa cũng là tiếng Phạn dịch âm. Dịch theo chữ
Tàu là Vô Nan Thắng (Vô là không, Nan là khó) tức là không
có thể nào hơn được. Đối với Ngài về trí tuệ và hạnh
tu ít người hơn được, nên có tên Vô Nan Thắng. Đó là
nói về đức Phật theo thói quen của chúng ta. Nếu nói theo
kinh thì gọi là Bồ-tát Di-lặc. Hồi đức Phật còn tại
thế, Bồ-tát Di-lặc là một người có lịch sử sanh ở miền
Nam Thiên Trúc, ở trong dòng Bà-la-môn. Sau gặp Phật, Ngài
xuất gia, tu theo hạnh Bồ-tát. Đó là hình ảnh thật có lịch
sử rõ ràng ở Nam Thiên Trúc.
Khảo nhiều kinh, trước hết tôi dẫn kinh A-hàm. Trường A-hàm
có nói thế này: Đức Phật dạy rằng sau này ở cõi Ta-bà,
tâm con người càng ngày càng ác, mười nghiệp thiện họ
bỏ qua mà luôn tạo nhiều nghiệp ác. Cho đến bao giờ họ
quí mười nghiệp ác cũng như thuở xưa quí trọng mười nghiệp
thiện và tuổi thọ chúng sanh giảm xuống đến cuối cùng
còn mười tuổi thì đức Phật Di-lặc ra đời. Khi nghiệp
ác nhiều thì tuổi thọ theo đó mà giảm. Bao giờ tuổi thọ
con người chỉ còn mười tuổi, cũng như bây giờ tuổi thọ
chúng ta coi là một trăm tuổi vậy, thì lúc đó thế giới
sẽ có những tai nạn đao binh. Đao binh ở đây không phải
là người ta giết chết nhau, mà chính những lá cây cỏ cũng
có thể biến thành gươm bén. Chúng ta bị chặt bị cắt mà
chết. Qua tai nạn đao binh đó tới tai nạn tật dịch tức
là đau ốm bệnh dịch. Vì vậy đại đa số dân chúng trên
thế giới này chết mòn chỉ còn sót lại một ít người
tu hành ẩn trên núi trên non. Họ còn sống thừa lại. Khi
họ sống qua cái thời gian chết đó rồi, họ tìm thấy bà
con dòng họ của họ chết hết, chỉ còn sót lại lưa thưa
vài người, lúc đó, họ mới biết rằng từ hồi đó tới
giờ dòng họ mình làm điều ác, bây giờ mới bị quả báo
chết như vậy. Cho nên họ nỗ lực tu mười điều thiện
lại. Khi bắt đầu tu mười điều lành thì tuổi thọ họ
tăng, cứ một trăm năm thì tăng lên một tuổi. Đến bao giờ
tuổi thọ lên đến sáu mươi bốn ngàn tuổi, lúc đó dân
chúng đông đảo thuần hậu, làm lành thì Phật ra đời ở
dưới cội cây Long Hoa gọi là hội Long Hoa. Như vậy quí vị
tưởng tượng bây giờ chúng ta đang ở cái mức tám mươi
tuổi thọ mà cứ một trăm năm giảm xuống một tuổi, giảm
tới còn mười tuổi, rồi tăng lên cho đến sáu mươi bốn
ngàn tuổi, thì thời gian từ đây cho tới đó còn bao xa? Theo
sách Phật thì khi Phật Thích-ca nhập diệt thì đức Di-lặc
cũng nhập Niết-bàn. Ngài sanh lên cung trời Đâu-suất ở
trong nội điện sống bốn ngàn tuổi. Sau đó Ngài mới sanh
trong thế giới Ta-bà, thành đạo dưới cội cây Long Hoa giáo
hóa chúng sanh kế tiếp đức Phật Thích-ca. Vậy tưởng chừng
bao lâu Phật Di-lặc ra đời? Vậy mà có một số người nghe
trong kinh nói đức Phật Di-lặc ra đời nghe nói hội Long Hoa,
rồi họ bịa ra ít bữa đức Phật Di-lặc ra đời, vài bữa
hội Long Hoa đến v.v... Đó là những tà thuyết để lừa
bịp những Phật tử học mà không hiểu Phật pháp, lại có
người tự xưng là Phật Di-lặc hoặc tự cổ động rằng
mình sẽ chờ đón đức Phật Di-lặc. Quí vị xét, nếu chúng
ta tin đức Phật Di-lặc chỉ còn một phen bổ xứ lên cung
trời Đâu-suất, sau này hạ sanh ở thế giới Ta-bà thành
Phật, nếu tin lời Phật Thích-ca nói trong kinh thì chúng ta
phải tin luôn thời gian đã định ngày Phật ra đời. Chúng
ta tin đức Phật Di-lặc, có hội Long Hoa mà quên thời gian
đó. Rồi cứ hờ hững, cứ nghe ai nói đức Phật Di-lặc
ra đời thì vội vàng chạy tới đảnh lễ mong cầu v.v...
Đó là cái sai lầm quá lớn để những tà thuyết lợi dụng
danh từ Phật giáo tuyên truyền mê tín dị đoan. Người Phật
tử chân chánh phải hiểu rõ điều đó. Đó là tôi khảo
về lịch sử từ những bộ kinh gọi là Di-lặc thượng sanh,
Di-lặc hạ sanh và Di-lặc bản nguyện. Những kinh đó đều
do đức Phật Thích-ca nói ra. Coi kỹ những bộ kinh đó rồi,
chúng ta biết rõ lịch sử đức Di-lặc, vậy đừng nghe lời
của một số người bàn tán, dựng lên những điều sai lầm.
Đó là chúng tôi nói về đức Phật Di-lặc ở Ấn Độ.
Bây giờ nói tới đức Phật Di-lặc ở Trung Hoa. Đức Di-lặc
sang Trung Hoa hồi lúc nào? Thật ra nếu căn cứ theo hình tượng
chúng ta thờ thì không có hình tượng của đức Bồ-tát ở
Ấn Độ, mà là hình tượng đức Di-lặc ở Trung Hoa. Đó
là một ông già bụng phệ lùn mập, như vậy là đức Di-lặc
ở Trung Hoa chớ không phải ở Ấn Độ. Di-lặc ở Trung Hoa
ra đời lúc nào? Điều đó chúng ta phải khảo lại. Có nhiều
thuyết nói đức Di-lặc hiện giờ đang ở trên cung trời
Đâu-suất. Ngài chưa tới thời kỳ giáo hóa chúng sanh ở
thế giới này. Nhưng với tinh thần người hiểu Phật giáo
Đại thừa thì Bồ-tát có báo thân, ứng thân và nhất là
hóa thân. Tùy căn cơ chúng sanh mà các ngài ứng hóa vô lượng
thân không thể lường được. Cho nên sử Trung Hoa có kể
mà tôi nhớ đại khái có hai hóa thân của Bồ-tát Di-lặc.
Một hóa thân gọi là Ngài Tăng Can ở gần chùa Quốc Thanh
đời nhà Tùy, tức là ở khoảng thế kỷ thứ sáu. Nói rằng
Ngài có một cái am gần chùa Quốc Thanh và đi thuyết giáo
nơi này nơi nọ. Có lắm lúc Ngài cỡi cọp về, chúng trong
chùa thấy hoảng kinh. Khi đến khi đi không ai lường được.
Có lần Ngài ôm về một đứa bé gởi trong chùa đặt tên
là Thập Đắc. Thỉnh thoảng có một ông ăn mặc rách rưới
ở trong núi lạnh đi ra, tuyết phủ đầy mình gọi là Hàn
Sơn. Hàn Sơn và Thập Đắc được coi như là hai người ăn
mày trong chùa. Các ngài là hai vị hóa ra ăn mặc rách rưới
ngủ ngoài hành lang. Tới bữa ăn thì đợi chúng ăn xong hết,
còn những thừa cặn gì đó ngài trút lại dùng. Có khi các
ngài còn lượm cơm dưới sàn nước, rửa lại mà ăn. Chúng
trong chùa coi các ngài như hai kẻ ăn mày không kém, nhưng mà
có cái lạ là nhiều khi hai ngài hứng làm thơ. Những bài
thơ của các ngài không ai hiểu gì hết. Một hôm bất chợt,
sau một bữa trưa chúng tăng nghỉ hết, hai ngài trèo lên cổ
của ngài Văn-thù và ngài Phổ Hiền ngồi. Một ông tăng ở
dưới tăng xá thình lình đi lên, thấy như vậy ngạc nhiên
quá mới chạy đi báo cho ông trụ trì hay. Ông trụ trì lôi
hai ông xuống rầy quở đủ thứ hết. Hai vị đó là bạn
thân của ngài Tăng Can. Ngài Tăng Can tịch rồi. Một hôm ông
chủ huyện có bệnh nan y, ông nằm chiêm bao thấy ngài Tăng
Can tự xưng là đức Di-Lặc bảo ông đến đảnh lễ Bồ-tát
Văn-thù, Phổ Hiền và chỉ cho ông một phương thuốc uống
hết bệnh. Muốn đảnh lễ hai vị đó thì vào chùa Quốc
Thanh hỏi tên Hàn Sơn, Thập Đắc vì đó là Bồ-tát
Văn-thù và Phổ Hiền. Ông huyện đó theo lời chỉ tìm thuốc
uống lành bệnh, mới tìm đến chùa Quốc Thanh để gặp hai
vị Hàn Sơn, Thập Đắc. Khi đó ông trụ trì thấy ông huyện
tới hỏi hai chú ăn mày trong chùa thì ông ngại quá không
muốn kêu. Nhưng ông huyện cho biết ông mong mỏi gặp hai vị
đó. Buộc lòng ông trụ trì mời hai vị ra. Hai vị nắm tay
đi ra. Vừa thấy hai vị ông huyện quì mọp xuống lạy. Hai
vị mới cười và nói: “Cái lão Tăng Can bày đặt làm cho
ta phải bại lộ rồi.” Hai Ngài, cõng nhau chạy tuốt vô
rừng mất. Do đó mới biết hai vị là hiện thân của Văn-thù,
Phổ Hiền, còn ngài Tăng Can là hiện thân của đức Di-lặc.
Nhưng biết thì chuyện đã rồi, không ai ngờ để đảnh lễ
các ngài được hết.
Một vị khác vào thế kỷ thứ mười đời Ngũ đại ở Trung
Hoa gọi là Bố Đại Hòa thượng. Vị đó gần gũi chúng ta
nhất, tức là ông già quảy cái đãy to tướng, mặt tròn,
miệng cười, bụng phệ, áo phạch ngực. Ngài Bố Đại Hòa
thượng lúc nào cũng quảy một túi lớn, đi trong nhân gian
gặp chỗ nào có cái gì, Ngài xin bỏ vô đãy. Đến chỗ có
con nít đông, Ngài ngồi xuống phân chia cho chúng nó, vui chơi
với chúng nó. Cho nên người ta thấy miệng Ngài lúc nào cũng
cười vui vẻ thích thú. Đó là hình ảnh đức Di-lặc, một
vị Hòa thượng bụng lớn, mập, miệng cười toe toét.
Tại sao gọi ngài Bố Đại Hòa thượng là Di-lặc?
Nói rằng Ngài đi xin như vậy có nhiều chuyện xảy ra cho
Ngài lạ lắm. Trong sử có nói đủ, ở đây tôi chỉ lược
vài điểm thiết yếu cho quí vị biết mà thôi. Ngài đi xin
và sống một thời gian như vậy ở tỉnh Minh Châu. Tại đó
Ngài lang thang nơi này nơi nọ. Thời đó là thời Thiền Tông
còn thạnh hành ở Trung Hoa. Một hôm Hòa thượng Thảo Đường
gặp Ngài hỏi: “Đại ý Phật pháp thế nào?” Đang quảy
bị trên vai Ngài liền để xuống. Vị Hòa thượng hỏi thêm:
“Chỉ có thế thôi hay có con đường tiến lên?” Ngài mang
cái bị để lên vai và đi. Đó là câu trả lời của Ngài.
Trong lịch sử Thiền tông, cũng câu hỏi đó, Tổ Lâm Tế
Nghĩa Huyền đem ra hỏi Tổ Hoàng Bá liền bị ăn gậy. Ở
đây ngài Bố Đại Hòa thượng đối với câu hỏi đó, Ngài
chỉ buông cái bị xuống đất. Hỏi có con đường tiến lên
nữa không, Ngài mang bị lên vai đi tuốt. Những hình ảnh
đó là thế nào? Như vậy mà người ta vẫn chưa biết thế
nào, tung tích ra sao? Nhưng một hôm Ngài sắp thị tịch, mới
trở về chùa. Ngồi bên bàn thạch Ngài làm một bài kệ rồi
tịch. Bài kệ đó như thế này:
Di-lặc chân Di-lặc
Phân thân thiên bách ức
Thời thời thị thời nhân
Thời nhân tự bất thức
Ngài nói rằng: Di-lặc thật Di-lặc. Phân thân trong muôn ức.
Thường thường chỉ dạy người đời. Người đời tự không
biết. Nhờ bài kệ đó mà người ta mới biết Bố Đại Hòa
thượng là hóa thân của đức Di-lặc. Vì vậy muốn vẽ hình
đức Di-lặc người ta liền vẽ hình Bố Đại Hòa thượng.
Đó là đức Di-lặc ở Trung Hoa. Bây giờ chúng ta thờ phượng
là thờ hình ảnh đức Phật đó. Chớ đức Bồ-tát Di-lặc
ở Ấn Độ thì mình không biết. Còn đức Di-lặc ở cung
trời Đâu-suất lại càng không biết hơn nữa. Chúng ta chỉ
biết Di-lặc hóa thân ở Trung Hoa với một hình tượng là
Bố Đại Hòa thượng. Đó là phần khảo về lịch sử.
Đây mới nói về ý nghĩa đức Phật Di-lặc, ngày vía mùng
một Tết. Ngày vía này là ngày vía gì của đức Di-lặc.
Ở Ấn Độ thì không biết ngày nào, ở Trung Hoa hóa thân
hai, ba đời, cũng không biết ngày nào. Nói ở cung trời Đâu-suất
lại càng không biết hơn nữa.
Như vậy ngày vía này là ngày vía gì?
Chúng ta đừng nghĩ rằng phải đợi có ngày sanh ngày tịch
mới gọi là ngày vía. Đây là ý nghĩa thâm sâu trong nhà Thiền.
Các Tổ đã khéo léo chọn ngày mùng một Tết làm ngày vía
đức Phật Di-lặc. Chúng ta lạy Ngài với câu: Long Hoa Giáo
Chủ đương lai hạ sanh Di-lặc Tôn Phật. Chư Tổ thấy thế
gian xem ngày mùng một Tết là ngày định đoạt của suốt
một năm. Ngày này mọi người dè dặt từng lời nói, dè
dặt từng hành động, dè dặt từng tên người đến thăm
mình, dè dặt đủ thứ chuyện. Như vậy ngày mùng một Tết
là ngày đầy đủ ý nghĩa của tương lai mình. Trong nhà chùa
ngày mùng một Tết có ý nghĩa gì? Các Tổ lấy ngày mùng
một Tết làm ngày vía đức Phật Di-lặc cũng là ngày tương
lai rực rỡ, ngày tương lai sẽ thành Phật. Sáng mồng một
chúng ta lạy Phật, lạy vía đức Di-lặc, là đặt hết cả
niềm hy vọng vào tương lai, hy vọng chúng ta sẽ thành Phật.
Không hy vọng giàu có sang trọng gì mà chỉ hy vọng sẽ thành
Phật. Đó là ý nghĩa sâu đậm nhất của ngày mùng một Tết
để chúng ta lễ đức Phật Di-lặc.
Ý nghĩa thứ hai là hình ảnh vui cười của đức Di-lặc.
Đó là hình ảnh hạnh phúc. Vì vậy có chỗ thay vì để danh
từ Di-lặc lại để một con người hạnh phúc.
Tại sao là con người hạnh phúc? Tới đây tôi bước sang
giai đoạn sâu của Thiền tông.
Hỏi: Thế nào là đại ý Phật pháp?
- Ngài quăng cái bị xuống mà không trả lời gì hết.
Hỏi: Có con đường tiến lên không?
- Ngài quảy bị lên vai mà đi.
Đại ý Phật pháp không có gì lạ. Nói thẳng e quí vị phiền,
mà không nói e cho rằng giấu giếm.
Đại ý Phật pháp chỉ có một chữ xả là được. Chấp
tức là chấp mình chấp người nhân, ngã, Phật pháp, quyền
thế, danh vọng v.v... Như vậy cái mà buông tất cả đó là
đại ý Phật pháp. Nói như vậy đó e quí vị khó hiểu.
Tôi nói câu chuyện hơi bình dân một chút mà không kém quan
trọng. Tổ Hoàng Bá thấy Tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền, một vị
Thiền sư cao nhất trong nhà Thiền, giữa quãng đời Đường.
Ngài dạy rằng, chỉ cần có một hạnh bố thí là đầy đủ
tất cả. Bố thí là cho món này món kia, tức xả hay buông
bỏ. Chỉ có một hạnh xả là đầy đủ tất cả. Nói về
hạnh tu Sư thúc, Sư bá mình, Ngài phê bình rằng: Trong hàng
đệ tử của Mã Tổ, trên tám mươi vị Thiện tri thức, nhưng
mà khi nói đến người tiêu chảy, hay nói quê mùa hơn một
chút là nếu nói đến con người ỉa chảy, thì chỉ có Hòa
thượng Qui Tông là con người ỉa chảy đầy đất. Nói đến
ỉa chảy quí vị đừng nghĩ theo lối quê mùa của mình, đó
là xả tất cả. Chỉ có Hòa thượng Qui Tông là con người
xả được tất cả. Con người xả là con người đáng quí
hơn hết.
Như vậy quí vị thấy rõ ràng xả là một pháp khiến cho
người đạt đến viên mãn trong đạo, nếu nói theo Thiền
tông. Vì vậy sau khi Ngài buông cái túi xuống rồi, hỏi còn
có gì nữa không thì, Ngài quảy túi lên vai. Tới đó đừng
tưởng rằng hết rồi, mình tưởng không còn gì nữa. Chính
buông hết rồi, mình mới được một quảy lên vai tự tại.
Cho nên nhà chùa có câu “Bỏ tất cả là được tất cả”.
Nhưng nói bỏ tất cả để được tất cả thì mình còn tham
quá. Bây giờ chỉ cần bỏ tất cả vậy là đủ rồi. Chính
cái hạnh xả đó là chỗ rất sâu và đưa chúng ta tới chỗ
cao siêu của người giải thoát. Vì vậy trong nhà Thiền tông
nói ta không có một pháp dạy người mà chỉ tùy phương tiện
nhổ đinh tháo chốt thôi. Nhổ đinh tháo chốt là xả, là
phá chấp. Xả được là xong việc.
Đến đây tôi đi sang giáo lý để quí vị dễ thấy dễ tu
hơn. Nói đến xả là nói đến hạnh phúc cho nên quí vị
nghe danh từ thường dùng nhất là Hỷ Xả. Hai cái đó cái
nào là nhân cái nào là quả. Có thể nói hỷ là nhân, xả
là quả, cũng có thể nói ngược lại xả là nhân hỷ là
quả. Tại sao vậy? Như hằng ngày có vị nào làm phật lòng
mình một chút khiến mình bực bội. Khi bực bội thì không
vui. Giờ đây người đó xin lỗi mình, mình liền vui vẻ mới
tha được. Còn giận thì không tha được. Trường hợp hỷ
là nhân, xả là quả. Vui vẻ mà tha thứ cho họ, như vậy
mới là ổn. Giận không thể tha thứ được. Trường hợp
đó hỷ là nhân. Bởi vì mình vui nên mình mới xả, mới được
cái quả xả. Nhưng ở đây nói con người hạnh phúc đó phần
lớn xả là nhân hỷ là quả. Bởi vì chúng ta có xả được
chúng ta mới vui. Nếu chúng ta không xả được thì chúng ta
không bao giờ vui được. Tôi nói một việc hết sức là tầm
thường, như trong gia đình quí đạo hữu, người chồng làm
phật ý người vợ, trong lúc phật ý thấy nhau có vui không?
Không nói chuyện nhau, không nhìn mặt nhau. Bao giờ xả được
thì lúc đó mới vui vẻ nói chuyện được. Như vậy trường
hợp đó do xả mà được vui. Nếu không xả thì không vui.
Đó là thí dụ nhỏ, tôi thí dụ rộng hơn. Trường hợp chúng
ta đối với người ngoài đời hay bè bạn, nếu họ có hành
động hiếp mình hoặc có lời nói cao hơn mình. Lúc đó mình
làm sao? Mình về mình có an ổn được không? Không vui đó
là tại sao? Tại nhớ ông đó nói gác mình, hoặc ăn hiếp
mình, ông ỷ mạnh hiếp yếu. Khi nghĩ như vậy thì về nhà
ngủ không được, lăn lộn hoài nằm không yên. Muốn được
ngủ yên phải làm sao? Nếu mình còn nghĩ rằng người ta ăn
hiếp mình, người ta gác mình. Lúc đó mình có cảm thấy
vui vẻ hạnh phúc hay không? Chắc không bao giờ có hạnh phúc
được hết. Lúc đó mình sống ở trong phiền não ở trong
tam độc chứ không có hạnh phúc. Bây giờ người nào mà
bỏ được cái đó thật là hạnh phúc. Vì vậy hồi đức
Phật còn tại thế, một hôm Ngài đi khất thực ở vùng Bà-la-môn,
vị lãnh tụ Bà-la-môn nổi tức đi theo Ngài. Ngài đi trước
ông đi theo sau mắng. Ông mắng bao nhiêu mắng Ngài cứ chậm
rãi đi. Đi tới ngã tư đường Ngài trải tọa cụ ngồi.
Ông chạy tới trước mặt hỏi: “Ngài thua tôi chưa?” Ngài
liền đáp bằng một bài kệ:
Người hơn thì thêm oán
Kẻ thua ngủ không yên
Hơn thua hai đều xả
Ấy được an ổn ngủ
Hơn người thì người tức nên oán. Mà người ta oán mình
có vui hay không? Thua người về ngủ không được nằm lăn
qua trở lại hoài. Như vậy cả hai đều là cội gốc của
đau khổ, của phiền não. Thành ra cái hơn cái thua hai cái
bỏ phăng đi thì người đó được an ổn ngủ. Tối đến
thì nằm xuôi cẳng ngủ khò, không lo không tính, không phiền
muộn gì hết.
Đó là người hạnh phúc. Hạnh phúc từ đâu mà có? Từ cái
xả mà có, chứ chúng ta cứ ôm ấp phiền não trong lòng hoài
thì làm sao mà hạnh phúc được. Quí vị nhớ, nếu trong gia
đình chúng ta không xả được cứ giận vợ giận con hoài
thì cũng không vui. Ra ngoài xã hội cứ nhớ người này ăn
hiếp mình, người kia nói gác mình, người nọ khinh mình,
gì gì đó, người ôm trong lòng cả bụng như vậy thì người
đó lúc nào cũng đau khổ, lúc nào cũng là phiền não hết.
Chỉ người nào nghĩ nói gác mình như gió thổi ngoài tai,
rồi ngủ khò không thèm nhớ, thì đó là hạnh phúc chớ gì.
Người nào mà trong nhà cũng như ở ngoài gặp cái gì phật
ý, xem đó như là lỡ lầm của người không gì quan trọng
hết, không có gì phải phiền muộn, người được như vậy
mới là con người hạnh phúc.
Đầu năm, chúng ta quen chúc cho nhau, một năm đầy hạnh phúc.
Chúc hạnh phúc mà cứ phiền giận hoài thì làm sao mà hạnh
phúc được. Như vậy chỉ là một cái chúc suông.
Ở đây tôi không chúc gì cho quí vị hết mà chỉ khuyên:
“Năm nay tập tiêu chảy kha khá một chút” chừng nào quí
vị tiêu chảy được như ngài Qui Tông lúc đó quí vị sẽ
tràn trề hạnh phúc.
Đó là tôi chỉ nói hạnh phúc nho nhỏ của thế gian. Còn
nếu nói đến hạnh phúc cao siêu hơn nữa, tức là đạt đến
cứu kính giải thoát thì trong kinh cũng dạy chúng ta đừng
chấp cảnh, chấp người, đừng chấp tâm, đừng chấp pháp.
Nếu chúng ta buông hết những cái chấp đó thì Niết-bàn
hiện tại, vĩnh viễn hạnh phúc. Không chấp tức là xả.
Xả được mới thật là vĩnh viễn hạnh phúc. Vì vậy nói
tới đức Di-lặc là nói tới hạnh hỷ xả nên người Trung
Hoa tượng trưng Ngài bằng hình ảnh ngài Bố Đại Hòa thượng,
một hình ảnh vui vẻ tươi cười lúc nào cũng sẵn sàng hỷ
xả.
Vậy năm nay quí vị lễ đức Phật Di-lặc là nhớ đến hạnh
hỷ xả của Ngài, nhớ đến cái miệng vui cười hạnh phúc
của Ngài. Nếu quí vị sống được cái hạnh phúc đó thì
quí vị chẳng những hạnh phúc ở hiện tại mà hạnh phúc
vĩnh viễn của người vào Niết-bàn.
Đó là ý nghĩa đức Di-lặc mà hôm nay chúng tôi nói.
NAM-MÔ
BỔN SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT
HẠT CHUỖI MỘNG, NGÀY QUA MẤT
NGHIỆP
THIỆN ÁC CÒN
TẤT
NIÊN ẤT MÃO 1975
Chúng tôi thường nói với quí vị mỗi một ngày qua là lần
đi một hạt chuỗi, rồi ngày khác tới là lần đi một hạt
chuỗi. Như vậy hôm nay là cuối năm Ất Mão. Chúng ta đã
lần được bao nhiêu hạt chuỗi rồi? Tức là lần hết ba
trăm năm mươi mấy hạt. Vì tháng thiếu nên không đủ ba
trăm sáu mươi mà chỉ có ba trăm năm mươi mấy hạt chuỗi.
Quí vị thấy mấy hạt chuỗi lần qua rồi, nó còn hay không?
Tất cả quí vị nhớ ôn lại xem, từ đầu năm chúng ta đón
Giao thừa, lễ Phật ngày mồng một Tết. Giờ đây đón giao
thừa nữa, như ba trăm năm mươi mấy ngày qua kiểm điểm
lại đối với chúng ta nó còn hay không? Tất cả những ai
muốn ôn lại thì chỉ còn nhớ mang máng ở trong ký ức của
mình, chứ thực tế thì không còn, chỉ thấy hiện giờ. Mà
bao nhiêu ngày qua rồi mất như vậy, tất cả qua rồi mất
hay còn cái gì?
Tuy nhiên ngày qua chúng ta tìm lại không được, chẳng khác
những hạt chuỗi mộng chúng ta lần qua rồi mất không còn
tìm lại được hạt nào. Nhưng mà trong ba trăm năm mươi mấy
ngày qua chúng ta đã gây những hận thù; đã vay nợ tiền
bạc của những kẻ khác. Đến ngày chót của một năm và
ngày mai sang năm mới, những oán thù đó, tiền bạc của cải
ta vay mượn đó có phải trả hay không? Tuy mấy trăm ngày
qua chúng ta tìm lại không được, nhưng những cái gì chúng
ta đã tạo, hoặc là vay mượn tiền bạc của cải hoặc là
gây oán thù với kẻ này người nọ, sang năm những cái đó
có mất chưa? Hay là người ta sẽ đem hận khác trả lại
cho mình. Như vậy chúng ta thấy nếu một năm qua, ngày tháng
trôi qua nó không dừng lại, nhưng những cái vay mượn, cái
hận thù, chúng ta đã gây thì năm mới khó mà mất. Hoặc
ngược lại, nếu một năm qua chúng ta đã cho người vay mượn
hoặc chúng ta gieo công đức với những người chung quanh,
sang năm tới, những người đó có trả hay là quên ân đức
chúng ta đã gieo? Chắc chắn không quên. Như vậy quí vị thấy
mỗi ngày qua rồi mất, nhưng nghiệp chúng ta đã tạo hoặc
thiện hoặc ác chưa mất hẳn. Đó là nhìn ngay hiện tại
thực tế cuộc sống sanh diệt của chúng ta. Thời gian trôi
qua không dừng, nhưng việc thiện ác gây ra rồi cũng khó mà
mất.
Người Phật tử tu hành trên phương diện sơ cơ, chúng ta
phải nghĩ đến ngày qua không tìm lại được những việc
lành việc dữ ngày đó không mất. Dù có trải qua mười năm,
hai mươi, ba mươi năm rồi năm bảy mươi năm đến ngày chúng
ta ra đi, tức là cái phút chót bỏ thân tiền ấm sang thân
trung ấm tới thân hậu ấm, nghiệp thiện ác hãy còn. Nếu
kiểm điểm lại năm sáu mươi năm đã sống, thời gian năm
sáu mươi năm đã trôi qua không tìm lại được. Cũng như
hôm nay đến giao thừa, nhìn lại ba trăm năm mươi mấy ngày
trôi qua chúng ta không vớt lại được ngày nào hết. Khi chúng
ta sắp hấp hối bỏ thân này để sang thân khác, giờ phút
ấy cũng như đêm giao thừa này, tất cả cái gì trong một
đời chúng ta đã sống năm bảy mươi năm đã mất, nhưng
việc thiện ác chúng ta không phải là tiêu hẳn. Vào giờ
phút ra đi chúng ta không tìm được thời gian đã sống qua,
những việc đã tạo nếu là việc dữ sẽ hướng dẫn chúng
ta sang cuộc đời khác chịu đau khổ.
Vì chúng sanh đương gây tạo nên Phật luôn nhắc nhở và
khuyên chúng ta thức tỉnh tạo những việc lành. Dù đời
này có khổ mà biết gây nghiệp lành thì đời sau được
an vui. Đó là phương hướng của người còn đi trong luân
hồi.
Chúng ta còn đi trong luân hồi thì nên chọn con đường luân
hồi thiện tức là đi lên chớ đừng chọn luân hồi ác để
rồi phải đi xuống. Cũng như hiện tại chúng ta phải dời
chỗ ở, nên dời chỗ có tiện nghi, có đầy đủ phương
tiện sanh sống dễ dàng, chớ không nên tìm chỗ khổ đau
phải đói rét v.v... Đó là chúng ta khôn ngoan biết lựa, sắp
đặt cho một cuộc sống hiện tại và cuộc sống của tương
lai. Bằng không, chúng ta cứ mù mù mịt mịt không biết thiện
không biết ác. Rồi cứ như vậy qua ngày, tạo không biết
bao nhiêu tội lỗi, đến ngày cuối cùng phải mang nghiệp
đen tối, chịu đọa trong cõi hắc ám. Đó là những người
thật đáng thương, chịu đau khổ không biết đến đời nào
ra khỏi.
Chúng tôi đã nói theo chiều sanh diệt cho quí vị thấy. Chúng
ta còn ở trong luân hồi thì chúng ta nên chọn con đường
đi sáng sủa an lành hơn, thời gian qua là không trở lại.
Tuy vậy nghiệp đã tạo thì không bao giờ mất. Cho nên trong
kinh Nhân Quả Phật nói:
Giả sử bá thiên kiếp
Sở tác nghiệp bất vong
Nhân duyên hội ngộ thời
Quả báo hoàn tự thọ
Nghĩa là: Giả sử mình tạo nghiệp trải qua trăm ngàn kiếp
đi nữa, nghiệp báo cũng không mất. Nghiệp đó tức là nghiệp
lành, nghiệp dữ đã gây. Khi duyên hội ngộ tức là gặp
nhân duyên đến rồi thì phải gánh chịu quả báo chớ không
chạy trốn đâu được. Nếu chúng ta biết rõ nghiệp báo
rồi, chúng ta tạo được nghiệp lành thì an hưởng vui, những
cái tự tại. Bằng chúng ta tạo nghiệp dữ, đó là gốc đau
khổ, bị lôi cuốn trong vòng khổ đau mãi mãi. Đó là giai
đoạn đầu của việc tu hành.
Đến đây chúng ta tiến lên một bước nữa. Chúng ta đã
tự biết mỗi ngày qua là một hạt chuỗi mộng lần qua kẽ
tay rồi không còn nữa. Cứ mỗi ngày qua rồi, thì mất. Như
vậy kết thúc của cuộc đời chẳng qua là một giấc mộng
dài. Không có gì hết. Nếu tính những ngày mộng nhỏ, rồi
nhiều ngày mộng ngắn kết lại thành một mộng dài, gọi
là tháng, rồi mười hai tháng, thành mộng dài hơn là một
năm. Ba mươi hoặc năm bảy mươi năm kết thúc lại thành
một trường đại mộng. Tức là mộng dài của một cuộc
đời. Trong một kiếp mộng như vậy, nếu chúng ta không thức
tỉnh biết nó là mộng, cứ tưởng là thật, chạy theo nghiệp
tạo khổ đời đời không hết.
Đó là cái mê lầm của chúng ta. Vì vậy cho nên đức Phật
lúc nào cũng nhắc bảo chúng ta phải biết rõ cuộc sống
không thật, thời gian không thật. Mỗi một ngày qua rồi mất,
không ai kéo lại được, giữ lại được. Nói một cách gần
hơn hết là một tích tắc đồng hồ đi qua rồi không trở
lại. Thời gian trôi vùn vụt không dừng. Cuộc sống của
chúng ta thì cứ tiến tới, tiến thẳng tới chỗ cuối cùng
là chết. Không ai dừng được, không người nào có thể duy
trì kiếp sống khi duyên đã mãn. Mỗi một cuộc sống là
thôi thúc mình đến cái chết. Quí vị mỗi sáng thức dậy,
thử tìm lại cái ngày hôm qua của mình xem nó ở đâu? Những
cái gì qua rồi không thể tìm được, rõ ràng thời gian qua
không tìm lại được nữa. Chúng ta còn mắc kẹt trong thời
gian thì chúng ta phải quí tiếc thời gian. Chúng ta cần nỗ
lực làm cái gì lợi ích cho mình cho chúng sanh để khỏi mất
thì giờ vô ích. Đó là khi chúng ta còn cuộc trong thời gian.
Nếu chúng ta có cái nhìn thấu đáo rõ ràng biết thời gian
huyễn hóa, như tôi nói là những hạt chuỗi mộng hay là những
hạt chuỗi nước thì chúng ta cũng ngay nơi thời gian huyễn
hóa đó tìm cho được cái lẽ chân thật, cái không còn sanh
diệt, không còn mắc kẹt, không còn bị lôi cuốn trong dòng
sanh diệt của thời gian... Như vậy chúng ta mới là người
thoát ra khỏi vòng sanh tử. Bằng không như vậy thì chúng
ta bị cuốn trôi mãi trong dòng thời gian. Vì vậy nên trong
nhà Phật, có khi đức Phật chú trọng thời gian vô cùng.
Ngài nhắc chúng ta lúc nào cũng phải quí tiếc thời gian.
Có khi Ngài nói thời gian là cái vô nghĩa, thời gian không
có thật. Tùy chỗ mà Ngài đánh giá thời gian. Nếu tính theo
chiều sanh diệt thì thời gian rất là quí báu, lợi dụng
thời gian để chúng ta tạo tất cả phước lành. Còn đứng
về chiều vô sanh, thì thời gian biến thành vô nghĩa. Nó không
có giá trị gì. Vì chính thời gian là những hạt chuỗi mộng
như tôi thường kể cho quí vị nghe về bà công chúa đòi
xâu chuỗi nước. Chúng ta đừng dại khờ như bà công chúa
đó nữa là cứ đòi cho được xâu chuỗi nước để đeo
vô cổ. Nhưng tới bao giờ mới xâu được xâu chuỗi nước.
Nếu bà đứng trước những hạt nước lóng lánh, bà đưa
tay ra nắm, thì nắm được chừng mấy hạt? Vừa nắm nó
nó đã lòn dưới kẽ tay rồi rơi mất. Như vậy những hạt
nước kia, nó lóng lánh đẹp thật. Nhưng ở xa mà nhìn thì
nó đẹp, bằng khi nắm nó ở tay rồi, thì nó lòn qua kẽ
tay và biến mất. Càng nắm bắt, chỉ mỏi mệt, nhọc nhằn
thôi chứ không nắm được cái gì.
Nếu chúng ta cứ dại khờ chạy theo thời gian mong mỏi nắm
bắt những cái gì mà ta cho là hạnh phúc bằng những pháp
sanh diệt ở thế gian, thì những hạnh phúc đó luồn qua kẽ
tay cũng như là giấc mộng hay là những hạt sương, những
cái bóng vậy thôi. Không có gì thật.
Bà công chúa sau khi nắm bắt những hạt nước lóng lánh đó
mà không được hạt nào hết mới chán chê rồi xin với vua
cha một xâu chuỗi thật. Bà được vua cha cho một xâu chuỗi
kim cương. Và từ đó về sau bà công chúa không còn mơ xâu
chuỗi nước nữa, vì bà quàng xâu chuỗi kim cương đời đời.
Chúng ta cũng như vậy. Trước khi chúng ta biết hạnh phúc
của nhân gian là cái sanh diệt là cái ảo ảnh, chúng ta cố
nắm bắt nó thì nó luồn qua kẽ tay không bao giờ còn ở
với chúng ta phút giây nào. Biết được như vậy, thấy rõ
như vậy, chúng ta mới trở lại tìm cái chân thật mà đức
Phật đã chỉ dạy. Tìm được cái mặt chân thật đó rồi,
tức là chúng ta được xâu chuỗi kim cương, chúng ta mang mãi
mãi bên mình mà không bao giờ tan nát. Từ cái giả chúng ta
chuyển sang cái thật, từ cái sanh diệt bước vào cõi vô
sanh. Như vậy đó mới là người biết tỉnh giác. Tỉnh giác
được cái giả không còn mê lầm nữa. Người biết được
cái thật sống trở về với nó, đó là người tu theo đạo
giác ngộ.
Chúng ta giác ngộ cái gì?
- Giác ngộ cái giả lâu nay tưởng là thật. Nhận ra cái thật
mà lâu nay bị bỏ quên. Cái thật lâu nay mình bị bỏ quên,
rồi đi tìm kiếm. Trong khi mình bỏ quên cái thật chấp cái
giả cho nó là thật là mê. Biết được cái giả gọi đó
là giác. Người hiểu đạo Phật rồi rất là đơn giản,
không có cái gì cầu kỳ huyền bí xa lạ hết, mà chỉ thấy
rõ ngay nơi mình cái nào giả cái nào thật. Cái giả mà lâu
nay mình lầm, mình chấp nhận nó là mình, là ta đó, giờ
đây mình thấy nó là hư giả. Đó là chúng ta đã giác ngộ.
Giác ngộ được phần thứ nhất. Qua cái giả đó chúng ta
tìm được cái thật, nó đương ẩn náu trong cái giả. Đó
là chúng ta đã giác ngộ qua giai đoạn thứ hai. Chúng ta tiến
thẳng vào con đường giác ngộ viên mãn không có sai lạc.
Tất cả người thế gian đều đi tìm cái mê lầm. Mê lầm
cho cái giả làm thật. Chính chúng ta cũng là nạn nhân đó.
Tất cả quí vị kể cả tôi nữa, có thấy cái giả làm thật
hay không? Tại sao thấy cái giả làm thật? Như thân tứ đại
chúng ta đang mang đây là thật hay giả? Có ai động tới nó
mình có ưng hay không? Bình thường lúc tỉnh táo thì thấy
tứ đại này là giả hợp, không có thật. Vì nếu thật thì
còn hoài như một khối kim cương, mới gọi là thật. Nay còn
mai mất, trong phút giây là tan nát, cái đó cũng như là bọt
nước chứ gì? Vì thế biết nó là giả. Lúc bình tĩnh nghe
Phật dạy biết nó là giả, nhưng mà có ai thoi một thoi thì
thấy giả hay thậät? Lúc đó lại thấy thật. Tại sao nó
là thật?
Như vậy là sao? Tại sao mình biết nó giả khi mình bình tĩnh?
Để thấy rõ rằng khi chúng ta bình tĩnh thì trí tuệ sáng
suốt thấy nó hư giả. Khi bị cái gì phản ứng mạnh làm
cho nó đau đớn thì lúc đó cái bình tĩnh mất đi, trí tuệ
không còn nữa, bản ngã si mê phát hiện ra, rồi cái giả
tướng mình thấy nó là thật. Bởi thấy thật nên mới ăn
thua tranh giành với người ta rồi tạo nghiệp. Cho nên ta theo
đạo Phật là phải giữ bình tĩnh. Có bình tĩnh mới sáng
suốt, mà có sáng suốt mới khỏi lầm. Khỏi lầm cái giả
làm thật. Thiếu bình tĩnh thì bị mê lầm. Đó là điều
căn bản. Khi chúng ta nghe Phật dạy, nghe quí Thầy giảng thì
coi như tỉnh hết rồi, coi như mình là thánh nhân rồi, nhưng
đụng việc với thế gian thì mình là phàm phu hẳn. Đó là
chúng ta chỉ bình tĩnh được khi vô sự, khi có sự là mê.
Đó là điểm tôi nhấn mạnh nhất hôm nay.
Chúng ta phải làm sao khi hữu sự coi như vô sự. Đó là cái
thiết yếu. Đó mới là cái sức mạnh của người tu hành.
Khi vắng vẻ lặng lẽ thì chúng ta tỉnh táo, thấy cái nào
giả cái nào thật rành rẽ, nhưng khi đụng việc, trí tuệ
đó mất đi, chúng ta lại nổi sân lên rồi chấp cái giả
thành thật. Ngài Vĩnh Gia nói: “Giả sử vòng lửa quay trên
đỉnh, định tuệ vẫn tròn sáng không mất.”
Như vậy mới thật là tỉnh ngộ. Còn mình tỉnh khi lặng
lẽ vắng vẻ, khi ồn náo thì mình mê. Cái đó chưa phải
là thật tỉnh. Tất cả chúng ta ai cũng có thể biết được
hết.
Một là thiếu sự hướng dẫn của thầy của bạn.
Hai là thiếu ý chí cương quyết mãnh liệt để nỗ lực tu
hành.
Do đó không giác nổi rồi ở mãi trong mê.
Rất tiếc rằng có nhiều người cả đời chưa bao giờ biết
được cái thân này là hư giả, họ chỉ biết nó là thật,
cho nên khi nói nó là giả họ không tin. Đó là vì họ thiếu
sự hướng dẫn của thầy bạn, cho nên họ mê. Có người
được thầy bạn hướng dẫn, vì thiếu ý chí mãnh liệt
nên khi nghe thì tỉnh, khi hết nghe thì mê. Vậy chúng ta nhất
là hiện nay, phải quả quyết và can đảm ngay trong khi chúng
ta biết cái đó là giả, cái kia là thật. Quả quyết rằng
cái này là giả không bao giờ mê nó. Cái kia là thật đừng
bao giờ bỏ nó. Đừng mê cái giả và đừng bỏ cái thật
để hằng sống và cố gắng sống mỗi ngày mỗi huân, mỗi
ngày tập, lâu ngày mới thuần thục, tự nhiên chúng ta cũng
như ngài Vĩnh Gia khi Ngài nói: Dù có vòng lửa xoay trên đầu,
định tuệ Ngài cũng không mất. Cho nên chỗ quan trọng mà
chúng ta phải thấy là tâm chúng ta dễ xao xuyến lúc ồn náo.
Bây giờ mình phải nỗ lực thêm, làm sao khi xao xuyến mà
chúng ta vẫn cười.
Ví dụ cụ thể là khi xưa mới tập ngồi thiền nhất là
khoảng tám chín giờ tối. Có những cái loa ở dưới vọng
lên núi các bài hát, các bài ca lảnh lót, lúc đó thiền tâm
bị phân tán. Chúng ta nỗ lực hướng dẫn nó, nỗ lực kềm
hãm nó, lần lần sẽ làm chủ nó. Đến lúc nào đó, tiếng
ca hát không còn đủ hấp dẫn như xưa nữa. Thấy không? Kết
quả rõ ràng như thế, chứng minh rằng nếu cái gì chúng ta
nỗ lực cố gắng thì sẽ vượt qua, không còn bị lệ thuộc
nữa. Mình tưởng rằng mình ngồi thiền trong chỗ yên thì
được yên, khi có động chạy theo tiếng động, rồi mình
cảm thấy tiếng động sẽ lôi mình đi, không bao giờ mình
thắng nó. Đừng tưởng như vậy. Mình phải tin tưởng quả
quyết rằng khi động chúng ta vẫn làm chủ được. Ngày nay
làm chủ một phần, ngày mai làm chủ một phần, nhiều ngày
như vậy, rồi ngày nào đó tất cả tiếng động đều vô
nghĩa đối với chúng ta. Đó là lẽ chân thật chớ không
phải tôi bịa đặt. Tất cả chúng ta nếu cố gắng như vậy
thì tất cả tiếng động sẽ vô nghĩa khi chúng ta làm chủ
hoàn toàn. Tôi nói ví dụ nhỏ, ngoài ra những việc lớn cũng
như vậy.
Giả sử chúng ta ở trong cảnh ngộ nào khắt khe mấy hay là
ồn náo mấy đi nữa, miễn tâm hồn chúng ta làm chủ được,
tôi tin rằng ai cũng tu được hết. Hồi chúng ta rảnh rang
thì chúng ta ngồi thiền, lúc chúng ta bận rộn hoặc cuốc
cỏ hoặc trồng rau chúng ta cũng tu được như vậy chúng ta
thấy lúc nào mình cũng tu được, lúc đó thấy mình vui vẻ
không thiệt thòi gì hết. Bằng cho rằng ngồi thiền mới
tu được; cuốc rẫy không tu được thì sẽ thấy thiệt thòi.
Bởi vì có ngày không ngồi thiền được giờ nào, như vậy
ngày đó không tu sao? Cuốc rẫy mà tu được thì không thiệt
thòi tí nào hết. Thay vì ngày xưa ngồi một ngày ba tiếng
đồng hồ, bây giờ cuốc rẫy sáu tiếng tu luôn, thì mình
lời được thêm ba tiếng nữa. Phải vậy không? Như vậy
mình có thiệt thòi chút gì đâu. Đó là cái mà chúng ta hiện
nay phải tập nỗ lực như vậy. Làm sao trong cái tu của chúng
ta không vì hoàn cảnh mà nó chướng ngại. Đó là cái thiết
yếu.
Tuy nhiên lúc đầu phải chấp nhận rằng, mình đang ngồi
trong yên mà có tiếng động thì thế nào cũng bị xao xuyến.
Trong khi xao xuyến đó chúng ta nỗ lực mỗi ngày, nỗ lực
càng ngày càng lâu, tiếng động sẽ vô nghĩa với chúng ta.
Đến chừng đó chúng ta mới tự tại trước tất cả tiếng
động. Như vậy chúng ta đừng có thối chuyển vì có tiếng
động mà tu không được. Chúng ta phải nghĩ ai trong chúng
ta cũng sẽ được thử thách của những tiếng động. Nhờ
tiếng động mà sau đó không bị chướng. Đó là điều cần
phải nỗ lực. Nếu nỗ lực được như vậy rồi thì sau
quí vị sẽ cười, nhớ hồi xưa tiếng động là cái chướng
của mình, bây giờ có tiếng động mình ngồi cũng hay. Như
vậy mình không thấy buồn thấy sợ thấy nản gì hết.
Đó là tôi nhắc rõ chỗ thiết yếu của người tu.
Tất cả chúng ta rõ đâu là mê. Mê cái gì? Như khi nãy tôi
đã nói một lần: Mê là lầm nhận cái giả làm thật. Mê
là vì chúng ta chạy theo cái giả mà quên cái thật. Ngay nơi
bản thân chúng ta, chúng ta cứ chấp vọng tưởng làm tâm
mình, chấp tứ đại làm thân mình rồi cứ tưởng cả ngày
cả tháng cả năm. Suốt đời cứ chạy theo vọng tưởng,
theo thân tứ đại, lo bảo bọc bồi dưỡng cho nó đủ
thứ hết để rồi nó hoại.
Giả sử quí vị có trồng hai cái cây, cây chuối chẳng hạn.
Khi quí vị trồng nó trổ bông có trái, cho kết quả như ý
của quí vị thì quí vị mới săn sóc. Nếu khi trồng mà nó
èo uột, hư gãy, biết rằng không thể nào cứu được, thì
quí vị làm sao? Thôi thì bỏ liều cho nó gãy nó mục. Không
thể giữ được thì phải bỏ liều. Nhưng cái thân quí vị
có bỏ được không? Ai cũng biết không giữ được mà không
dám buông nó. Phải vậy không? Biết cái không bao giờ giữ
được mà bao giờ cũng cố giữ. Thở thoi thóp sắp tắt thở
mà cũng nói còn nước thì còn tát. Không bao giờ bỏ được.
Như vậy để thấy rõ rằng chúng ta bám vào nó, cho đến
phút cuối cùng cũng còn bám. Bám vào mà không có tí nào bảo
đảm hết mà vẫn bám. Không phải tôi bảo quí vị cố tình
bỏ nó, nhưng mà chúng ta mang nó như là mang bè qua sông. Nhớ
chúng ta nuôi thân này là kẻ đeo bè qua sông. Giữa sông nó
có hư có đứt dây, thì chúng ta ràng nó lại, khi tới bờ
thì bỏ lên bờ. Khi tới bờ chúng ta không thấy nó quan trọng
nữa. Chúng ta thấy nó là giả, nhưng cần nó đưa đến chỗ
giác ngộ viên mãn nên chúng ta phải nương nó. Khi chúng ta
nương nó thì phải biết rõ nó là cái không giữ được,
biết rõ ràng như vậy, đừng bao giờ quên. Không thì cứ
nhớ nó là thật không thể mất. Thân nhân của chúng ta cũng
thế. Quí vị nào độ năm mươi tuổi trở lên kiểm điểm
lại coi còn được mấy vị. Ông cố còn không? Ông nội bà
nội còn không? Ba má chưa chắc là còn. Phải vậy không? Như
vậy biết lớp người trước đã tan hoại, mình cũng đang
tan hoại. Tại sao khi đó cứ cho thân này là thật, cái không
giữ được, biết rồi nó sẽ tan hoại, mà mình cứ cho là
thật, cố bảo vệ, gìn giữ, tạo bao nhiêu cũng vì nó. Đó
là cái lầm lớn lao của chúng ta. Cho nên người tỉnh giác
biết rõ thân này là hư giả nhân duyên hòa hợp không thật,
kể cả cái vọng tưởng điên cuồng của mình.
Quí vị suy nghĩ điều này, suy nghĩ việc nọ. Cái suy nghĩ
đó là ai suy nghĩ? Mình suy nghĩ phải vậy không? Tôi đặt
câu hỏi: Thí dụ quí vị đang suy nghĩ điều thiện, nghĩ
giúp người này người kia, cho rằng cái suy nghĩ thiện này
là mình. Một lát có ai chọc tức, mình muốn hại người
đó, thì cái suy nghĩ ác là ai? Nếu cái suy nghĩ thiện là
mình, vậy cái suy nghĩ ác là ai? Rồi một lát suy nghĩ thấy
người kia gương mặt dễ ghét quá. Gặp người khác thấy
gương mặt dễ thương. Vậy thấy dễ thương dễ ghét là
ai thấy. Nếu nghĩ thương là mình, nghĩ ghét là ai? Vậy mình
có bốn năm thứ mình sao? Cái nào cũng mình thì cái nào là
mình thật?
Quí vị nhìn rõ ràng mỗi một niệm sanh diệt, sanh diệt vô
thường, từng đợt từng đợt như dòng nước chảy. Nó không
có thật. Mới niệm thương đây rồi đến niệm ghét, niệm
buồn niệm giận xen lẫn nhau. Cái dòng sanh diệt chập chồng
với nhau không thật. Mình chấp đó là tâm mình thật. Chấp
cái thân tứ đại hư giả là thật, chấp cái tâm sanh diệt
từng đợt, từng đợt là thật. Như vậy chấp cái sanh diệt
hư giả là mình thì sẽ đi trong con đường nào? Bám vào cái
sanh diệt thì phải đi trong sanh diệt. Sanh diệt tức là mê.
Mê thì dĩ nhiên mình phải đi trong luân hồi không chối cãi
gì được hết. Nếu chúng ta cứ lầm chấp vọng tưởng,
cho đó là mình, chấp thân tứ đại này là mình thì suốt
đời suốt kiếp không biết bao nhiêu a-tăng-kỳ kiếp mình
mới thoát khỏi luân hồi. Chỉ bao giờ mình biết quả quyết
rằng cái vọng tưởng đó là hư giả không thật thì chừng
đó mình mới tìm cái chân thật. Như khi nãy tôi kể chuyện
bà công chúa nắm bắt những hạt nước. Nắm bắt nó luồn
qua kẽ tay không được hạt nào hết, chừng đó bà mới biết
những hạt nước không thể nắm được. Bà không còn ham
mê những hạt nước nữa, mới đòi nhà vua cho xâu chuỗi
kim cương. Chừng quàng xâu chuỗi kim cương vào cổ mới chắc
là xâu chuỗi thật. Còn bao nhiêu hạt nước lấp lánh mà
mình bám vào đó đều là hư giả.
Cũng như vậy, khi nào chúng ta thấy rõ thân hư giả này là
không thật, vọng tưởng hư giả không thật, biết rõ nó
không thật rồi thì bước qua giai đoạn thứ hai. Tức là
tìm cái chân thật trong cái hư giả đó. Được cái thật
trong cái hư giả đó rồi chúng ta mới thấy mình từ trước
đến giờ là kẻ ngu si. Mình lầm cái giả là cái thật, rồi
bỏ quên cái thật. Cho nên trong kinh Phật nói: “Chúng ta có
hòn ngọc báu cột trong chéo áo mà quên.” Quên hòn ngọc
trong chéo áo rồi đi ăn xin, đi đầu làng xó chợ, sống vất
vưởng qua ngày lấy đó làm đủ làm dư. Không biết mình
có hòn ngọc quí để lấy ra xài. Kẻ có của báu bỏ quên
chịu nghèo khổ là kẻ tỉnh hay mê? Đó là kẻ mê. Chúng
ta cũng vậy. Biết được cái thân hư giả này rồi, chúng
ta mới tìm được cái chân thật của chúng ta. Đó là tỉnh.
Còn bằng chúng ta bỏ quên cái chân thật đó, chấp nhận
cái thân hư giả này là mình, đó là kẻ mê. Vì vậy đức
Phật nói rằng: Chúng ta là kẻ si mê. Nếu trong đời chúng
ta tự biết rõ cái giả không mê lầm nữa, và tìm ra cái
thật, như vậy mới thật là con người cầu đạo giải thoát.
Cũng như lời của ngài Vĩnh Gia Huyền Giác nói:
“Cùng Thích tử, khẩu xưng bần, Thật thị thân bần đạo
bất bần.” Người dòng họ Thích là kẻ bần cùng luôn luôn
tự nhận mình là bần đạo. Như vậy mà có thật là bần
hay không? Thật sự thân tuy bần nhi đạo bất bần. Thân bần
thật nhưng đạo không bần. Tại sao thân này bần? - Là vì
mặc áo vá. Còn tại sao không bần? - Vì mình có chứa hạt
châu vô giá. - Vô giá trân. Như vậy tại sao chúng ta
nghèo? - Vì chúng ta là kẻ ăn mày mặc áo vá. Cho nên luôn
luôn xưng là bần đạo. Tuy bên ngoài chúng ta nghèo, mà bên
trong tìm được hạt châu vô giá. Hạt châu vô giá dùng hoài
không hết. Đó mới đúng là người cầu đạo. Biết rõ mình
có một của quí vô giá cho nên không chạy theo hư giả, để
tìm cái của báu chân thật. Tìm được của báu chân thật,
mới là người giác ngộ, người cầu đạo chân chánh. Chúng
ta cứ chạy theo cái bên ngoài hoài thì không bao giờ tìm thấy
được cái kho báu nơi mình. Đó là chỗ thiết yếu của chúng
ta trong khi tu hành.
Vậy ai đã phát tâm tu hành theo đạo Phật nên nhớ rõ ràng
Phật là giác. Tu theo Phật là đi trên con đường giác ngộ
của Phật. Tu theo đạo Phật mà không giác được gì hết
thì không phải tu theo đạo Phật. Cũng như tôi nói đi về
Sài Gòn, tức nhiên mình đi trên con đường về Sài Gòn. Đã
đi trên con đường về Sài Gòn mà không tiến được cây
số nào hết, thì cái đó gọi là đi về Sài Gòn không? Tức
gọi là ngồi, hoặc là ở một chỗ, hoặc là đi con đường
khác. Chớ thật tình mình đi trên con đường về Sài Gòn
thì mỗi một giờ, mỗi một ngày đã tiến đi rồi. Ngày
nào ngày nào cũng có tiến trên con đường đó không dừng.
Cũng vậy, chúng ta theo đạo giác ngộ thì ngày nào năm nào
chúng ta phải có giác mới được. Nếu chúng ta không giác
thì không phải tu theo đạo Phật. Như vậy quí vị cảm thấy
mình có giác hay không? Thật sự quí vị có giác chớ sao không
giác. Tại vì mình quen tưởng giác ngộ như lúc đức Phật
thành đạo, phải có được tam minh lục thông. Tưởng mình
không có tam minh lục thông gì hết thì không gọi là giác,
chớ sự thật không phải. Ngày xưa quí vị chưa tu, quí vị
có bao giờ nghĩ thân này là giả đâu? Bao giờ cũng cho thân
này là t