“Hoà
giải không phải là thoả hiệp với mê vọng và sự tàn ác,
trái lại, hoà giải là chống đối thường trực với mọi
hình thức mê vọng và tàn tác, nhưng với tâm đại bi và
cái nhìn siêu việt phe phái”.
…
Ơi con người thế kỷ ở trong tôi
Đã
cất xong ngôi mộ cạnh hồn đồi
Mà
thiên đàng hiển hiện ngự trên ngôi
Cho
nên tôi khóc, tôi khóc hoài không thôi…
(Quách Thoại)
Cách
đây gần 50 năm, bằng những lời thơ thống thiết của một
người có khả năng thấu thị, Quách Thoại, một trong những
gương mặt nổi tiếng của thi ca Việt Nam hiện đại đã
nói lên được phần nào số phận hết sức ‘kỳ lạ’
của con người, một giống loài mà bản chất hạnh phúc luôn
tồn tại, như ‘thiên đàng hiển hiện ngự trên ngôi’,
nhưng không hiểu vì sao lại chối từ hạnh phúc để đi xây
cho mình một ‘ngôi mộ cạnh hồn đồi’. Và vì thế, nhà
thơ đã khóc, và tiếng khóc bi thiết ấy vẫn còn vang vọng
cho đến tận ngày nay…
Thế
kỷ mà nhà thơ Quách Thoại sống với thế kỷ của chúng
ta hôm nay có thể khác nhau về nhiều phương diện: chính trị,
kinh tế, xã hội, khoa học, kỹ thuật… nhưng trong phạm vi
của một đời người, chúng ta có thể chứng kiến biết
bao nhiêu thay đổi; tốt có, xấu có – đang diễn ra ở khắp
mọi ngõ ngách của thế giới trong từng giây phút. Đặc biệt
những thay đổi trên phương diện khoa học kỹ thuật và nền
văn minh vật chất đã và đang làm đảo lộn cuộc sống của
biết bao người.
Nhưng
bên cạnh những sự thay đổi lớn lao đó, có một điều
gần như không bao giờ thay đổi, đó là tình trạng bạo lực
mà con người vừa là chủ thể tạo ra vừa là nạn nhân của
chính hành động đó. Nếu có sự thay đổi thì chỉ là sự
thay đổi từ hình thái bạo lực này sang hình thái bạo lực
khác, hoặc thay đổi theo từng phạm vi, tính chất, mức độ…
chứ về bản chất, bạo lực không bao giờ thay đổi, và
mỉa mai thay nó luôn gắn liền với ‘bước tiến lịch sử’.
Không ai có thể tính toán một cách chính xác cái gọi là
nền ‘văn minh hiện đại’ được xây dựng từ bao nhiêu
yếu tố bạo lực, nhưng chắc chắn rằng, nếu có thể số
lượng hoá được thì các yếu tố bạo lực này chiếm một
tỉ lệ không phải là ít. Chỉ tính riêng những yếu tố
bạo lực đã được ‘vật chất hoá’ thành những kho vũ
khí khổng lồ của nhân loại thì đủ biết bạo lực có
một vai trò như thế nào trong đời sống lịch sử con người.
Hiểu
theo nghĩa rộng, bạo lực không chỉ đơn thuần diễn ra trên
bình diện xã hội, trong mối tương quan giữa con người với
con người mà bạo lực còn xảy ra giữa con người với thiên
nhiên, cũng kể đến bạo lực xảy ra giữa con người với
chình mình (có thể xem tự tử là một trong nhiều hình thái
bạo lực). Và không chỉ có súng nổ, bom rơi, máu chảy thì
mới có bạo lực mà bạo lực cũng có thể tiềm ẩn và phát
sinh ngay từ bên trong thế giới tư tưởng, khi một ý tưởng
bất tịnh vừa mới phát sinh hoặc từ trong sâu thẳm của
thế giới tiềm thức, vô thức. Bạo lực, theo một số quan
niệm, là một phần tất yếu thuộc về ‘bản chất tối
tăm’ của con người. Và cái ‘bản chất tối tăm’ này
có thể được nguỵ trang dưới nhiều hình thức và mỹ từ
khác nhau, tuy có vẻ ‘văn minh’ nhưng không thể che giấu
được ‘bản chất bạo lực’ của nó.
Có
lẽ hơn bất cứ một bình diện nào khác, bình diện chính
trị quốc tế đã thực sự trở thành một sân khấu lớn
của các quốc gia mà trong đó bạo lực là một ‘trò chơi’
rất thường được các quốc gia chấp vai một cách tự nguyện
hoặc không tự nguyện. Bạo lực là một thứ triết lý quốc
phòng khá phổ biến trên thế giới hiện nay, theo đó ‘Muốn
có hoà bình phải chuẩn bị chiến tranh’ (!!), điều đó
đã nói lên tất cả: hoà bình không phải là sự tái lập
các giá trị nhân đạo và các lý tưởng đạo đức của
con người mà nó chỉ có ý nghĩa đơn thuần là sự im tắt
tiếng súng ở trong khoảng thời gian giữa hai cuộc chiến.
Một nền hoà bình thật sự có giá trị vĩnh cửu và được
đặt trên một nền tảng đạo đức vững chắc vẫn còn
là một lý tưởng xa vời trong một thế giới mà bạo lực
đang là một dòng chảy chủ đạo.
Văn
hoá hoà giải: một phương thức ‘đối trị’ với nền
văn hoá bạo lực
Theo
một logic thông thường, để đối trị với nền văn hoá
bạo lực đang phổ biến khắp nơi trên thế giới, không có
con đường nào khác hơn là xây dựng và phát triển một nền
VĂN HOÁ HOÀ GIẢI ở tất cả các cấp độ và bình diện
khác nhau, không chỉ ở bề rộng mà còn ở chiều sâu của
nền văn hoá này. Như lời Phật đã dạy: “Oán không diệt
được oán, chỉ có tình thương mới diệt được oán mà
thôi”. Bạo lực không bao giờ có thể dập tắt được bạo
lực một cách hoàn toàn và triệt để mà chỉ có một sự
hoà giải sâu sắc đặt trên căn bản của hiểu biết và
từ bi mới có thể đi đến chấm dứt hoàn toàn bạo lực
và thiết lập một nền hoà bình vĩnh cửu.
Hiểu
theo tinh thần Phật giáo, “hoà giải không phải là thoả
hiệp với mê vọng và sự tàn ác, trái lại, hoà giải là
chống đối thường trực với mọi hình thức mê vọng và
tàn ác nhưng với tâm đại bi và cái nhìn siêu việt phe phái”
(Thiền sư Thích Nhất Hạnh – Trái tim mặt trời). Hoà giải,
hiểu theo đúng ý nghĩa cao quý của từ này, không phải là
một chiến thuật đối phó có tính chất tạm thời hoặc
là dấu hiệu hèn yếu của một người ‘không có lập trường’
mà thực chất, nó thể hiện được một cái nhìn sâu sắc
‘trùng trùng duyên khởi’ về con người, cuộc đời, thế
giới, một cái nhìn siêu việt được tất cả mọi quan điểm,
lập trường, “ôm trọn được cả thực tại nhân loại
trong lòng như một gà mẹ ấp ủ tất cả những con gà con
của mình dưới hai cánh xoè rộng” (Thích Nhất Hạnh).
Hiểu
theo nghĩa rộng, VĂN HOÁ HOÀ GIẢI là một cấu trúc lớn được
xây dựng trên ba cột trụ chính hoặc ba phương thức hoà
giải chủ yếu như sau:
1.
Hoài giải giữa cá nhân với chính bản thân mình:
Đây
chính là phương thức hoà giải có tính chất cơ bản nhất,
làm nền tảng vững chắc cho các phương thức hoà giải còn
lại. Nếu chiến tranh bắt đầu từ sự xung đột, mâu thuẫn
và khủng hoảng ngay từ bên trong tâm thức của con người
thì sự chấm dứt chiến tranh và tái lập hoà bình cũng phải
bắt đầu ngay từ bên trong tâm thức. Rõ ràng một nền hoà
bình bền vững chỉ có thể đạt được trên căn bản của
sự hoà giải đích thực giữa con người với con người,
và sự hoà giải đích thực này không thể không gắn liền
với sự hoà giải ở chính bên trong từng cá nhân. Đó cũng
chính là ý nghĩa của câu: “Tâm bình thế giới bình”. Con
đường tu tập và chuyển hoá của các tôn giáo, đặc biệt
là của đạo Phật, hiểu theo một ý nghĩa nhất định, cũng
chính là con đường hoà giải có tính chất tâm linh sâu sắc.
2.
Hoà giải giữa con người với con người:
Tất
nhiên sẽ là ảo tưởng và thơ ngây khi cho rằng có thể loại
bỏ ra khỏi đời sống nhân loại tất cả các mâu thuẫn
và xung đột. Có trường phái triết học cho rằng mâu thuẫn
và xung đột là nguồn gốc, động lực của quá trình phát
triển lịch sử, nhưng cũng sẽ là bi thảm nếu cho rằng tất
cả mọi mâu thuẫn, xung đột của con người chỉ có thể
giải quyết được bằng bạo lực. Một tôn giáo chân chính
không thể là một tôn giáo chủ trương bạo lực hoặc tạo
ra những điều kiện để cho bạo lực phát sinh mà một tôn
giáo chân chính phải luôn đề cao tinh thần và ý thức hoà
giải, nhất là trong một môi trường luôn nảy sinh ra những
tình thế có tính chất cực đoan như hiện nay. Với ý nghĩa
này, Phật giáo là một nhân tố quan trọng, một chất xúc
tác làm khởi động và thúc đẩy tiến trình hoà giải giữa
con người với con người.
3.
Hoà giải giữa con người với thiên nhiên:
Cùng
với sự phát triển không ngừng của nền văn minh vật chất,
trong đó có ‘chủ nghĩa tiêu thụ’, thiên nhiên đang ngày
càng trở nên xa lạ và thù địch với con người. Chưa ai
biết được sự khủng hoảng môi trường hiện nay sẽ dẫn
loài người đi đến đâu, nhưng nếu không đưa ra và áp dụng
các giải pháp hữu hiệu để giải quyết thì chắc chắn
hậu quả sẽ rất là thảm khốc, đe doạ ngay chính sự tồn
vong của loài người. Và dù áp dụng bất cứ giải pháp nào
đi nữa, từ chính trị, pháp luật, giáo dục cho đến khoa
học, kỹ thuật, kinh tế thì tất cả đều phải xuất phát
từ một sự hoà giải sâu sắc giữa con người với thiên
nhiên. Con người không nên chỉ ‘chinh phục’, ‘khai thác’
thiên nhiên mà còn phải biết chăm sóc, hoà giải với thiên
nhiên, hiểu được và cảm thông được với thiên nhiên,
bà mẹ vĩ đại nhất của con người.
Từ-Bi-Hỷ-Xả;
Bốn cột trụ chính để xây dựng nền văn hoá hoà giải
Để
giải quyết những mâu thuẫn có tính chất cơ bản nói trên
của loài người, chúng ta nên hiểu những giải pháp phiến
diện, từng phần như chính trị, kinh tế, tuy quan trọng nhưng
không thể giải quyết vấn đề một cách triệt để. Những
giải pháp cục bộ là cần thiết và không thể thiếu nhưng
chúng ta phải được bổ sung bằng những giải pháp văn hoá
và tôn giáo, đặc biệt là tôn giáo. Không một tôn giáo chân
chính nào mà lại không trực tiếp hay gián tiếp đề cao tinh
thần hoà giải theo đúng ý nghĩa sâu sắc nhất của từ này.
Đặc biệt trong Phật giáo, có thể nói TỪ-BI-HỶ-XẢ là
bốn cột trụ chính để xây dựng trên đó một toà nhà hoà
giải thật vững chắc, và chữ BI trong Phật giáo cũng gắn
liền với chữ TRÍ, hai điều kiện tối cần yếu, bổ sung
cho nhau để đi vào toà nhà pháp vân và xây dựng một nền
văn hoá hoà giải cho con người.
Văn
hoá hoà giải không thể chỉ là sản phẩm của một ý thức
hệ duy nhất và có tính chất độc tôn. Văn hoá hoà giải
chỉ có thể được hình thành từ sự tôn trọng lẫn nhau
giữa các truyền thống, các nền văn minh, văn hoá khác nhau,
dầu đó là những nền văn minh, văn hoá đã từng mâu thuẫn
và xung đột với nhau trong suốt chiều dài lịch sử.
Tất
nhiên, trong một thế giới vẫn còn đầy dẫy hận thù và
bạo động như thế giới ngày nay, việc đề xướng và tạo
điều kiện cho các yếu tố và hạt giống của nền văn hoá
hòa giải để nó có thể nẩy mầm và phát triển tươi tốt
không hề là một việc dễ dàng. Nhưng để giải quyết những
vấn đề nan giải nói trên, không thể có con đường nào
khác ngoài CON ĐƯỜNG HOÀ GIẢI như đã trình bày sơ lược
ở trên. Có lẽ đó cũng là một trong những THÁCH ĐỐ VĂN
HOÁ lớn nhất được đặt ra trước nước ngoài, trong đó
có dân tộc Việt Nam chúng ta.
Trần
Trung Phượng
TC.
Văn hóa Phật giáo
29.07.2006
13:49