THỰC
TẠI VÀ ẢO ẢNH
Xin
Ngài cho biết ý niệm về thời gian trong Phật giáo?
Xin
lỗi, tôi hiểu lầm sự chuyển ngữ Tây Tạng của câu hỏi;
trong ngôn ngữ của chúng tôi hai tiếng “ma qủy” và “thời
gian” phát âm từa tựa nhau, và thế là tôi đang sắp sửa
chuẩn bị nói chuyện cùng qúy vị về vấn đề ma qủy theo
quan điểm Phật giáo!
Giáo
lý của Phật giáo đã đưa ra nhiều luận điểm về thời
gian. Trường phái Kinh Lượng Bộ (Sautantrika,) còn được gọi
là “Kinh Thủ” khẳng định rằng tất cả mọi thể tướng
và sự kiện chỉ hiện hữu ngay trong khoảnh khắc hiện tại.
Ðối với trường phái này, quá khứ và tương lai không gì
khác hơn là những khái niệm, những cấu trúc tinh thần đơn
giản. Còn đối với Trung Quán - Quy Mậu Biện Chứng phái,
Hệ Quả Biện Chứng phái của Trung Ðạo thì giải thích thời
gian theo tính cách tương đối, xem đó như là một thực thể
trừu tượng dùng để mô tả sự tiếp nối của một sự
kiện hay một hiện tượng do tâm khai triển ra trên căn bản
của sự gán đặt. Quan điểm triết học này như thế đã
mô tả thời gian như là một khái niệm trừu tượng mà chức
năng của nó tùy thuộc vào tính tương tục của hiện tượng.
Từ quan điểm này, việc cố gắng giải thích thời gian như
là một thực thể độc lập, không tùy thuộc vào một hữu
thể nào là không có cơ sở chứng minh. Như vậy một điều
khá rõ ràng rằng thời gian là một thể tướng tương đối
và không thể ở trong tình trạng độc lập; Tôi thường hay
nêu thí dụ về những đối thể ngoại giới có thể được
dễ dàng nhận ra khi đặt chúng trong bối cảnh quá khứ hay
tương lai, thế nhưng đối với khoảnh khắc hiện tại thì
có vẻ như khó mà nhận thức được chúng. Chúng ta có thể
chia thời gian thành từng thế kỷ, thập niên, năm, tháng,
ngày, giờ, phút, giây. Thế nhưng giây lại cũng có thể được
chia ra thành nhiều phần nhỏ hơn, một phần triệu giây chẳng
hạn, và như vậy ta có thể đánh mất đi sự nắm bắt ý
niệm về quảng thời gian hiện tại một cách dễ dàng!
Ý
thức cũng thế, nó không có quá khứ và tương lai mà chỉ
biết đến những khoảnh khắc hiện tại; đó là sự tương
tục của một khoảnh khắc hiện tại này được biến thành
một khoảnh khắc hiện tại khác, trong khi đó với những
đối thể ngoại giới, hiện tại biến mất nhường chỗ
cho các ý niệm về quá khứ và tương lai. Tuy nhiên nếu theo
đuổi luận lý này xa hơn sẽ dẫn ta đến chỗ phi lý, bởi
vì để mở cánh cửa vào quá khứ hay tương lai ta lại cần
một cái khung bản lề, trong trường hợp này, tức là hiện
tại, mà ta đã mất hết dấu vết của nó khi chia nhỏ ra
thành từng phần triệu giây...
Nếu
ý thức không có điểm khởi đầu cũng như chung cuộc, và
nếu nó vô thường, phải chăng nó cũng bị lão hoá như một
ngôi nhà cũ, đổi thay trong từng khoảnh khắc? Và nếu
như nó không có sắc tướng, màu sắc, mùi vị, làm thế
nào nó lại có thể biến đổi được?
Trước
tiên, chúng ta cố gắng đồng ý cùng nhau trên khái niệm còn
mơ hồ về ý thức, về tâm. Ta chỉ mới có một tri kiến
rất thô thiển và hạn hẹp về ý thức. Tham vọng muốn hoàn
hảo hóa tri kiến này thông qua quá trình nghiên cứu phân tích
đưa ta đến sự khám phá về nguồn linh quang trong suốt và
nhận biết được bản thể của ý thức. Một vấn đề cực
kỳ quan trọng là phải biết cách làm thế nào để nhận
ra đối tượng mà ta đang phân tích, trong trường hợp này
tức là bản thể của ý thức. Một khi chúng ta nhận biết
được bản thể của ý thức mà đặc tính chính là vô hình
và vô ngại, chúng ta có thể dùng nó để đối chiếu với
các đối thể ngoại giới và một loại thể tướng thứ
ba, những khái niệm trừu tượng, như ý niệm về thời gian
và thay đổi vốn không mang cùng bản thể của ý thức cũng
như không phải là những vật thể. Ghi nhớ kỹ ba hạng mục
này -những vật thể, tâm, và những ý niệm trừu tượng-
ta có thể nhận diện được ý thức bằng cách so sánh nó
với hai loại thể tướng khác. Một khi chúng ta có một tri
kiến rõ ràng về bản thể của nó, không những ta sẽ có
được một kinh nghiệm rất tỉnh thức về tiến trình đổi
thay xuất hiện ngay chính trong lòng ý thức mà còn có khả
năng hiểu được bằng cách nào ý thức và kinh nghiệm về
ý thức hoàn toàn tùy thuộc vào khoảnh khắc trước nó. Chỉ
có khoảnh khắc ý thức trước nó mới có thể dẫn đến
khoảnh khắc ý thức tiếp theo -ngoài ra không có gì khác có
thể có được tính năng đó.
Tôi
nghĩ là chúng ta không thể bàn về sự tương tục của ý
thức khi chỉ thuần túy dựa trên khái niệm về niên đại
học. Khái niệm về niên đại học mà qua đó là sự lão
hoá chỉ có ý nghĩa đối với thế giới vật chất, chẳng
hạn như thể xác con người. Trên mức độ của các ý thức
cá biệt chẳng hạn như các tính năng cảm giác, ta có thể
dùng từ “lão hoá” này để liên hệ đến bình diện
sinh lý, tức là xác thân con người; trong trường hợp những
ý thức cảm giác, sự lão hoá phần lớn tiến triển đồng
bộ với điều kiện sinh lý hoá của từng cá nhân. Cả hai
sự tiến triển này không mang tính độc lập. Thế nên ta
chỉ có thể nói đến “sự lão hoá của ý thức cảm giác”
nếu ta liên hệ sự khẳng định này với tiến trình sinh
học, sinh lý học, tức là những việc không thể áp dụng
được đối với tâm thức.
Một
điều quan trọng đối với tôi là hãy quán chiếu trên bản
thể của ý thức, phân biệt được các loại ý thức khác
nhau cùng bản thể của chúng. Kinh điển Phật giáo quan niệm
rằng những tưởng uẩn về cảm thụ, chẳng hạn như nhãn
thức, là trực tiếp chứ không phải nhận thức; nhãn thức
thâu nhận trực tiếp sắc tướng mà không hề phân biệt
rằng nó xấu hay tốt, thích hay là không thích. Sự phân
biệt xảy ra ở mức độ nhận thức, bao gồm một tiến trình
lý giải phức tạp hơn là một cảm thụ đơn thuần.
Theo
tất cả những điều mà người ta quan tâm về tâm thức,
thế giới của nhận thức tư tưởng, ta có thể phân biệt
chúng ra nhiều mức độ vi tế khác nhau, từ thô lậu cho đến
cực kỳ vi tế, đều được dẫn chứng bằng các tư liệu
cụ thể trong hệ thống mật tông. Não bộ, các đường dây
thần kinh, các khớp thần kinh, v.v... đều có quan hệ với
ý thức, và điều này đã mở ra một địa bàn rộng lớn
để cho ta nghiên cứu khi liên hệ chúng với những gì mà
ngôn ngữ mật tông gọi là khí lực (Tây Tạng: lung; Phạn
ngữ: prana).
Nghiên
cứu về bản chất đúng đắn của mối liên hệ giữa não
bộ, ý thức, và khí lực là một vấn đề khá thích thú.
Khi tất cả mọi chức năng của não bộ ngưng hoạt động
và tất cả mọi điều kiện sinh lý biến mất, hình như tiến
trình của ý thức vẫn còn tiếp tục hiện hữu dưới một
dạng nào đó. Ðiều này đã được quan sát qua kinh nghiệm
của một số vị lạt ma đã chứng đắc mà xác thân của
họ, mặc dù đã được xác nhận lâm sàng là chết, vẫn
giữ được vẻ tươi nhuận không hề bị thối rửa sau nhiều
ngày hoặc nhiều tuần. Ở giai đoạn này, quan điểm Phật
giáo cho rằng cá nhân đó chưa hoàn toàn chết hẵn mà đang
tiếp tục diễn tiến qua một tiến trình lâm tử và đang
ở trong tình trạng của ý thức vi tế. Tôi nghĩ là các nhà
khoa học nên có một lý giải hợp lý cho những trường hợp
như thế khi thể xác không bị thối rửa mặc dù tất cả
mọi chức năng của não bộ và thân xác đã ngưng hoạt động.
Kinh
sách cũng đã nêu ra những trường hợp của các hành giả
tu thiền đã học được cách khai mở những khả năng siêu
nhiên để có thể dùng tâm của mình tạo nên những vật
thể hay những nguyên tố của tứ đại như gió, lửa, không
phải chỉ riêng mình họ mà các người khác cũng có thể
nhận biết được. Ngoài ra cũng có một số loại đối thể
khác do tâm tạo chỉ riêng hành giả mới nhận biết mà thôi.
Như vậy, nếu đã có một kết quả - vật thể do tâm tạo
ra- tức là phải có nhân và duyên cùng chung bản thể. Tôi
cũng tự hỏi là phải chăng những đối thể này chỉ
hiện hữu trong khi hành giả đang thiền định, và chấm dứt
ngay sau giai đoạn hành thiền. Tôi cũng không thể biết được
nguyên liệu vật chất của vật thể do tâm tạo này thuộc
loại gì. Ðó là một câu hỏi mà tôi xin được nêu lên cùng
cộng đồng tăng lữ: Có thể nào ý thức lại biến thành
nguyên liệu vật chất của các vật thể? Mật tông,
cụ thể là phái Guyasamaja, có nói đến ảo thân do nguyên
liệu vật chất cấu thành, hàm ý rằng đó là khí lực thuộc
dạng vi tế mà họ xem như là một phần của thế giới vật
chất. Có thể nói là tôi rất hoang mang trước vấn nạn
này.
Ảo
giác đã được bắt đầu như thế nào?
Cũng
giống như sự tương tục của tâm không có điểm bắt đầu,
thì vô minh cũng thế. Bởi vì nếu nó có điểm khởi đầu,
ta phải tìm ra được ngay từ bên trong một trạng thái
của ý thức xảy ra trước vô minh và khác với chính nó -trong
một tâm thức giác ngộ- tức là một cái nhân tạo nên
cái quả là vô minh này. Ðiều đó không hợp lý một chút
nào cả.
Thưa
Ngài, có hay không một cái nhân đầu tiên cho tất cả mọi
nguyên nhân?
Tuyệt
đối không. Một cách tổng quát, nhân không có gốc nguồn
và bởi lẽ đó, quả cũng thế. Tuy nhiên ta cũng có thể nói
rằng, trong một khung cảnh rất đặc biệt nào đó, một số
trường hợp nhân và quả có điểm khởi đầu. Khi ta thiết
định rằng sự tương tục của tâm không có điểm khởi
đầu, lại muốn tìm cho ra một điểm khởi đầu của nhân
thì hiển nhiên là một chuyện rất mâu thuẩn! Như bạn biết,
luận lý của Phật giáo khá chặt chẽ. Ngay từ khi chấp nhận
rằng tâm không có điểm khởi đầu, ta có thể khẳng định
một cách hợp lý và quả quyết rằng nhân và quả cũng thế.
Sự
nhận thức của con người về thế giới bên ngoài chắc chắn
là khác xa với những tạo vật khác, như côn trùng chẳng
hạn. Như vậy có hay không một thế giới hiện hữu một
cách độc lập đối với những nhận thức khác biệt này?
Còn một vị Phật thì nhận thức điều gì về thế giới?
Phải chăng thế giới được nhận biết hoàn toàn tùy
thuộc vào các dạng ý thức khác nhau, hay là nó chỉ được
hiện hữu qua các kinh nghiệm cảm thụ?
Ðây
là một vấn đề khá phức tạp. Chúng tôi sẽ cố gắng trả
lời câu hỏi này trên quan điểm nhận thức của con người
bằng cách dùng thí dụ về một đối thể. Mỗi người đều
có một nhận thức mà trong thực tế cho thấy là không được
hoàn chỉnh lắm, bởi vì đương sự không thể nhìn thấy
đối thể từ mọi góc cạnh; súc vật cũng gặp những hạn
chế như vậy. Thế nhưng ta vẫn có thể xác nhận là ta đã
nhận thấy đối thể. Một điều khá quan trọng cũng cần
nên ghi nhớ là nhận thức của ta về thế giới hiện tượng
thường bị ảnh hưởng bởi kiến chấp sai lầm về thực
tướng của hiện hữu.
Còn
về nhận thức của một vị Phật thì quả thật là không
biết phải nói như thế nào. Tuy nhiên một điều chắc chắn
là: Nhận thức của một vị Phật về thế giới hoàn toàn
không bị vướng mắc bởi bất cứ phóng chiếu nào mà thế
nhân mắc phải -không bị ràng buộc bởi tâm nắm bắt về
thế giới, về thể tướng, và tất cả mọi sự việc, bởi
vì nó được hiện hữu một cách độc lập và tự do đối
với cái tâm đang nhận biết nó. Việc nghĩ đến một đối
thể của nhận thức độc lập đối với tâm đang nhận thức
nó sẽ đưa ta đến một vấn đề là chúng ta nên chấp nhận
hay không một thực tại ngoại giới tách biệt đối với
tâm. Ðề tài này đã được đào sâu trong học thuyết Phật
giáo. Hình như không có chuyện sự hiện hữu của một đối
thể đặc biệt nào đó lại cần phải được đi kèm theo
một nhận thức về nó. Lấy một thí dụ cụ thể, ta hãy
tưởng tượng rằng trong phòng này không có ai cả và cuốn
sách này đang nằm ở trên bàn. Như vậy cuốn sách này vẫn
hiện hữu ở đây cho dù không có ai nhìn thấy nó.
Dĩ
nhiên chúng ta cũng có thể thảo luận về rất nhiều hiện
tượng mà ta khó có thể tìm hiểu ngọn ngành cũng như không
có được một hiểu biết rõ ràng về chúng. Tuy nhiên thật
khó mà đi đến một khẳng định chặt chẽ rằng một thể
tướng lại có thể hiện hữu một cách hoàn toàn độc lập,
không lệ thuộc vào nhận thức và tâm. Một quan điểm như
thế, theo tôi, thật khó mà bảo vệ. Trên quan điểm Phật
giáo, không có một thể tướng nào hiện hữu mà không thể
được nhận biết bởi tâm của một vị Phật. Hãy để qua
một bên cái tâm toàn tri toàn giác của Ðấng Giác Ngộ, một
phạm trù có thể nói là bấy khả tư nghị, ta hãy lấy một
trường hợp cụ thể là trước cùng một sự kiện hay hiện
tượng, thế nhưng có người có thể hoàn toàn không hiểu
gì cả, người khác thì hiểu một cách lờ mờ, nhưng đối
với người thứ ba thì lại rất rõ ràng, hiển nhiên. Thí
dụ này là một hình dung rõ nét về ý tưởng cho rằng một
thế giới ngoại tại hoàn toàn độc lập với nhận thức
hoặc tâm thức là điều không thể xảy ra.
Tôi
xin được kể một câu chuyện về hai tăng sinh đang sống
tại Tây Tạng. Một người nói với người kia rằng y có
một câu hỏi liên quan đến bản chất triết học muốn nêu
lên: “Phải chăng cái cột của ngôi chùa này là một cấu
trúc của tâm? Nếu không có ai ở trong phòng này, cái cột
có tiếp tục còn là một sự gán đặt của ý thức?
Tôi luôn luôn hoài nghi về đề mục này.” Người tăng sinh
thứ hai trả lời rằng anh ta đã nêu lên một vấn đề tương
đối khó khăn, thế nhưng ta có thể suy nghĩ rằng nếu cái
cột là một cấu trúc do tâm tạo, cái ý thức định danh
không nhất thiết là phải luôn gắn liền với vật được
định danh, bởi vì cái cột vẫn luôn luôn là cái cột. Cũng
tương tự như thế, những ai đang nghiên cứu, học tập những
kinh sách đó đều được gọi là tăng sinh. Tuy nhiên họ không
cần thiết phải tối ngày ngồi kế bên những cuốn kinh này
để tiếp tục được gọi bằng danh hiệu như thế; cho dù
là họ đang ngủ, đang ăn, đang thiền hành, nhãn hiệu “tăng
sinh” vẫn gắn chặt với họ.
Nếu
ta kiến tánh, ta có còn nhận thức về nhị nguyên tính? Nói
một cách khác, làm thế nào mà một cái tâm bất nhị nhận
thức được sự hiện hữu của nhị nguyên đối đải, cụ
thể là giữa những người đang mang gánh nặng khổ đau?
Nhị
nguyên tính có thể được hiểu qua nhiều mức độ khác nhau:
Nhị nguyên tính về chủ thể và đối thể, nhị nguyên tính
về phân biệt, và nhị nguyên tính về các sắc tướng ước
lệ, tức là về thế giới tương đối. Tâm của một vị
Phật đã hoàn toàn không còn vướng mắc vào các nhận thức
hình tượng, thế nên cũng không còn bị ràng buộc vào các
phóng chiếu nhị nguyên. Mặc dù nó cũng không còn bị vướng
mắc bởi ý thức phân biệt giữa chủ thể và đối thể,
nhận thức của một vị Phật về thế giới ước lệ này
không phải là hoàn toàn biến mất. Bao lâu mà một vị Phật
còn an trú trong mức độ nhị nguyên, tách biệt thế giới
hiện tượng của sắc tướng với tánh không chân thật của
nó, ngài vẫn sẽ có những nhận thức và kinh nghiệm của
thế giới tương đối. Tuy nhiên vì đây là tuệ giác của
Phật nên nó vẫn hoàn toàn khác biệt với nhận thức thông
thường của con người chúng ta. Nhận thức thông thường
của chúng ta về các thể tướng và sự kiện như là
những hữu thể độc lập, xem chúng như đang sở hữu một
chân thân và tự tánh. Mặc dù một vị Phật đã không còn
vướng mắc vào sự vô minh cơ bản này, tâm toàn tri toàn
giác của Ngài dĩ nhiên vẫn hiểu được tâm của một con
người bình thường vốn bị che lấp bởi các ảo ảnh, xem
thể tướng của hiện tượng cùng các sắc tướng mà họ
nhận thức đều là thực tại.
Thế
giới ước lệ có thể được phân ra làm hai loại -nhiễm
và bất nhiễm- và có thể được lý giải bởi nhiều cách
khác nhau. Chúng ta có thể khẳng định rằng bất cứ loại
hình kinh nghiệm nào bị tập nhiễm bởi tập quán bản năng
của vô minh và bởi sự nắm bắt thực tại như là một thực
thể tự thân và độc lập đều được coi như là bị tập
nhiễm, hay ô nhiễm. Ðây là cách thức thông thường mà con
người nhận thức hầu hết các thể tướng của thế giới
ước lệ. Trái lại, những nét đặc biệt của một vị Phật,
cụ thể như tám mươi tướng chính và phụ của Ngài, được
gọi là thể tướng bất nhiễm bởi vì đây là những đặc
tính thuần khiết của tâm giác ngộ, nhất tri kiến. Chúng
được xem là thuần khiết bởi vì ngay từ căn nguyên chúng
cũng đã không hề bị tập nhiễm. Khi một thân tướng biểu
kiến của một vị Phật xuất hiện trong cõi người, ta không
thể tìm ra ở Ngài một dấu vết bất tịnh nào mà ta thường
thấy do nhận thức thông thường của con người, ảnh hưởng
bởi kiến chấp vô minh về sự hiện hữu tự thân và độc
lập của sự vật, sự kiện, sẽ tiếp tục phóng chiếu kiến
chấp sai lầm này lên những phẩm chất thực sự của một
vị Phật.
Về
vấn đề những tri kiến của con người thế gian, những sản
phẩm đơn thuần của một cái tâm bị che mờ, có thể xuất
hiện ở chư Phật hay không, tôi xin trả lời ngay là không:
một Ðấng Giác Ngộ biết rằng con người bị ảnh hưởng
bởi tà kiến, tuy nhiên bản thân Ngài không bao giờ mang những
nhận thức lầm lạc đó. Ðối với câu hỏi, “Một vị
Phật có thể còn thể nghiệm khổ đau hay không?”, tôi
xin được trả lời thêm một lần nữa là không, bởi vì
đạt thành Phật quả tức là giải phóng ra khỏi mọi khổ
đau, chấm dứt mọi khổ đau; tuy nhiên điều này không có
nghĩa là một vị Phật không có khả năng nhận thức khổ
đau. Ngài đã thực chứng được tâm đại từ bi và luôn
luôn thương xót cho nỗi khổ đau của mọi loài chúng sinh.
Ðể kết luận, chúng ta cần phải biết phân biệt giữa tri
kiến về tri kiến của một vị Phật và kinh nghiệm cá nhân
của chúng ta.
Bằng
cách nào chư Phật có thể hiện hữu khi họ đã loại bỏ
hoàn toàn mọi nhân duyên dẫn đến luân hồi sinh tử và niết
bàn? Có thể nào tất cả họ đều là một và hoàn toàn
giống nhau?
Trường
phái triết học Kỳ-Na giáo cho rằng những ô nhiễm tâm linh
chiếm lĩnh bản tánh của tâm và cho đến khi nào sự tương
tục của tâm chưa chấm dứt, những dấu ấn này vẫn tiếp
tục tồn tại. Phật giáo đã đưa ra một giải đáp cho vấn
đề này, cho rằng bản tánh chân thật của tâm không hề
mang vết nhơ, thói xấu; những loạn động liên quan đến
những tập nhiễm do hoàn cảnh ngoại lai có thể tạo nên
những đau buồn, phiền não. Một khi đã thực chứng Phật
quả, cá thể của một con người vẫn tiếp tục hiện hữu;
trong trường hợp này ta gọi là cá thể đồng nhất tính
của một vị Phật.
Tuy
nhiên Kinh điển Phật giáo nhấn mạnh một sự kiện rằng
tất cả chư Phật đều “đồng vị cảnh” trong cảnh giới
của tánh không. Ðiều này có thể được hiểu qua ý niệm
về sự bình đẳng, chẳng hạn như bình đẳng trong phẩm
chất của tâm, bình đẳng tánh trí, v.v... Tất cả chư Phật
đều ngang hàng và tương đương trong tận hư không biến pháp
giới. Trong phối cảnh chung của chư Phật, tất cả đều
có cùng những năng lực giúp đỡ mọi loài chúng sinh. Tuy
nhiên đối với hai vị Phật lịch sử, Ca Diếp và Thích Ca
Mâu Ni, trong phối cảnh của con người bình thường với những
nghiệp lực khác nhau, chúng ta có những mối liên hệ nghiệp
quả gần gũi với Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni hơn là Phật
Ca Diếp, sống xa cách chúng ta hằng bao nhiêu kỷ nguyên.
Nhĩ
thức có chú ý đến khoảng im lặng giữa nhận thức về
hai âm thanh?
Có
thể. Bởi vì ta có thể nhận ra được sự vắng mặt của
âm thanh. Tuy nhiên cái gì là tánh nghe thực sự? Phải chăng
có một nhĩ thức thực sự nhận biết sự im lặng?
Ngài
có thể cho chúng tôi biết sự khác nhau giữa thực chứng
tánh không và bản lai diện mục?
Tánh
không được mô tả trong Hiển giáo và Mật giáo hoàn toàn
không giống với bản tánh của tâm. Trong bối cảnh của mật
tông, bản tánh của tâm có vẻ như hoàn toàn khác xa với
tánh không của tâm. Các học giả Tây Tạng đã bất đồng
ý kiến trên hai quan điểm khác biệt. Về tánh không, một
trường phái cho rằng cả Hiễn giáo lẫn Mật giáo đều có
quan điểm giống nhau. Lập trường này phát xuất từ
sự đánh giá cao về tánh không khách quan, tức là tánh không
của một đối thể. Trường phái thứ hai xác minh sự hiện
hữu của những khác biệt trong kinh nghiệm chủ quan về tánh
không. Một sự thật cho thấy là từ quan điểm của nhận
thức chủ quan về tánh không, khi ta đối đầu với sự nhận
biết về bản tánh của tâm, Mật giáo khác biệt sâu xa với
truyền thống của Hiễn giáo.
Có
thể nào cho rằng Phật an trụ trong trạng thái thường hằng
bất biến của Phật quả trong khi mọi sự đều luôn luôn
biến chuyển, đổi thay?
Một
cách tổng quát, khi nói đến Phật quả, ta nói đến Pháp
thân, tức là thân uyên nguyên của một vị Phật. Một
trong vô số những khía cạnh khác là thân tướng biểu
kiến của ngài, tức là Hóa thân. Phật quả mang cả hai tính
chất thường và vô thường; nó là những hệ quả của một
sự gắn bó với con đường tâm linh, tương quan với một
tiến trình của tịnh hoá và viên mãn. Bạn quan niệm như
thế nào về “thường?” Ðôi khi người ta dùng sự bất
tử đánh giá Phật quả. Ta cũng gọi đó là thường. Hãy
để ý đến những tác hành của một vị Phật: không ngưng
nghỉ và có mặt khắp nơi. Một vị Phật hành động một
cách tự phát, không một mảy may gián đoạn hay ngừng nghỉ.
Trên bình diện này ta có thể xem Phật quả là thường hằng.
Nguồn linh quang trong suốt của tâm, hay ý thức uyên nguyên
(Tạng ngữ: rigpa), đôi khi cũng còn được gọi là nguồn
thanh quang tự phát (lhundrup). Sự biểu thị này mô tả
Phật quả mang tính chất không cỗi nguồn, vô thủy. Mặc
dù tập nhiễm và loạn động có thể tác động lên tâm,
thế nhưng yếu tánh của tâm vẫn luôn luôn thuần khiết.
Ðiều này cũng bao hàm rằng đã không có một sự khác biệt
rốt ráo nào giữa luân hồi sinh tử và niết bàn.
Ðạo
sư Jigmed Tenpe Nyima cho rằng Phật quả -trong tình trạng vô
thuỷ- nên nó làvô sinh và vô cấu. Tuy nhiên nói như vậy
không có nghĩa rằng nó không phải là sản phẩm của nhân
duyên; chỉ nhấn mạnh cho ta thấy tính chất tương tục của
nó là bất biến và vô sinh. Từ quan điểm này, ta có thể
nói rằng nó thường hằng và không bao giờ bị gián đoạn,
cho dù ở trong bất cứ trạng thái nào.
Ngài
vừa cho rằng chân lý rốt ráo vượt ra ngoài tầm tri thức.
Nếu tri thức không thể nắm bắt được nó thì cái gì có
thể làm được việc này? Làm thế nào để có thể nhận
ra nó?
Ðiều
trước tiên, chúng ta hãy làm sáng tỏ ý nghĩa của hai tiếng
“tri thức”. Ngài Tịch Thiên trong Nhập Bồ Ðề Hành Kinh
cho rằng chân lý rốt ráo không hề là đối tượng của tri
thức. “Chân lý rốt ráo” ở đây có nghĩa là tánh không,
và “tri thức” tức là nhị nguyên đối đải. Một số
đoạn trong tác phẩm Nhập Trung Luận (Madhyamakavatara) của
ngài Nguyệt Xứng (Chandrakirti), khi nói về sự đình chỉ của
ý thức trong trạng thái Phật quả, cũng có những luận điểm
tương tự với sự khẳng định này. Thế nên chúng ta phải
biết phân biệt giữa tri thức như là một tình trạng thô
lậu của ý thức và một thể dạng vi tế hơn. Tri thức,
tiếng Tây Tạng là lo, chủ yếu nhằm liên hệ đến một
số loại ý thức. Lời khẳng định còn mang một ý nghĩa
rộng hơn; khi nói rằng chân lý rốt ráo không phải là một
đối thể của tri thức, chúng ta không nên tưởng tượng
rằng chân lý rốt ráo không thể bị nắm bắt bởi một thể
dạng nào đó của tri thức, mà muốn liên hệ đến ý thức
nhị nguyên đối đãi-tức ý thức phân biệt. Một cách chính
xác hơn, tôi muốn nói thêm rằng, chân lý rốt ráo không thể
được nhận thức một cách trực tiếp bởi ý thức nhị
nguyên, bởi lẽ ý thức phân biệt vốn hoạt động trên căn
bản của hình ảnh và khái niệm.
Sau
đây là một thí dụ khác có thể giúp qúy vị hiểu thêm
về lời phát biểu của Ngài Tịch Thiên: Lạt ma Kunu Rinpoche
thường có thói quen trích dẫn những câu nói của Ðại sư
Pandit Rong Zompa thuộc Ninh Mã phái, khẳng định rằng trong
trạng thái Phật quả không hề có sự hiện hữu của ý thức,
trí tuệ, cũng như kiến thức siêu việt. Thế nhưng cũng một
vị Ðại sư khác của Ninh Mã Phái, ngài Longchenpa lại có
một quan điểm hoàn toàn trái ngược. Thế nên trường phái
này đã chia rẽ nhau trên hai quan điểm bất đồng liên hệ
đến sự hiện hữu của ý thức và trí tuệ trong Phật quả.
Trong một tác phẩm của mình, Ðạo sư Jigmed Tenpe Nyima đã
trích dẫn một câu nói của Terton Kepo thuộc truyền thống
Ðại Du Già, cho rằng tâm (Tạng ngữ: sem) hiệnhữu ngay cả
trong trạng thái Phật quả. Như vậy tâm, từ quan điểm cho
rằng nó tách biệt với ý thức uyên nguyên (Tạng ngữ: rigpa),
có hiện hữu trong trạng thái giác ngộ hay không? Ðây là
một vấn nạn mà chúng ta hiện nay cần nên lưu tâm đến.
Mặt khác, tâm -được hiểu theo khái niệm thông thường như
là sự bao gồm tất cả các loại ý thức và tri thức- chắc
chắn hiện hữu trong trạng thái Phật quả. Thế nên
điều quan trọng là ta cần phải lưu ý về ý nghĩa của những
từ được dùng tùy thuộc vào ngữ cảnh của nó.
Hãy
lấy thí dụ về từ rigpa chẳng hạn, Phạn ngữ gọi là vidya,
tức là minh, nhưng đồng thời nó cũng có thể có những ý
nghĩa khác nhau, đôi khi được hiểu một cách tổng quát như
là ý thức, một từ ngữ bao gồm chung các trạng thái của
ý thức, biểu kiến cũng như không biểu kiến; có lúc ý nghĩa
của nó chân xác và chuyên biệt hơn khi chỉ về tình trạng
uyên nguyên của ý thức. Trong câu hỏi của qúy vị, rigpa
được hiểu như là tri giác hay là minh, được dùng trong ý
nghĩa của tuệ giác vốn đối nghịch với trạng thái vô
minh của tâm. Và bởi vì vô minh, trong một khía cạnh nào
đó, cũng là một khía cạnh của ý thức -một cách nhìn,
cách hiểu vấn đề- thế nên ta dễ dàng khẳng định rằng
nó cũng là một thể dạng của rigpa, hãy lưu ý đến sự
tương phản đối nghịch giữa tuệ giác của ý thức uyên
nguyên với tâm vô minh.
Những
điều trong Trung Quán nói về ý nghĩa của ngôn từ thật chính
xác biết bao! Họ khẳng định rằng ta phải cảnh giác không
nên lúc nào cũng bám víu vào ý nghĩa của văn tự, bởi vì
nó luôn luôn liên hệ chặt chẽ với ý hướng của người
sử dụng, ý hướng này hoàn toàn tùy thuộc vào vị thế
và khung cảnh mà nó muốn liên hệ. Ðó là lý do tại sao rigpa
không nhất thiết luôn luôn phải mang cùng một ý nghĩa, nhưng
tùy thuộc vào người sử dụng, ngữ cảnh và thời điểm
mà nó được dùng. Chúng ta không nên quá mù quáng chú trọng
vào văn mà quên nghĩa!
Trở
lại câu hỏi của qúy vị, một điều quan trọng khác là
ta cũng cần nên hiểu rõ ý nghĩa của từ “rốt ráo”. Trong
tác phẩm “Nhận thức rõ về Trung Ðạo từ Biên Kiến”
(Uta Namche) Ngài Di Lặc sử dụng từ này theo ba cách khác nhau:
ý nghĩa rốt ráo nhằm liên hệ đến tánh không; mục tiêu
rốt ráo tức là niết bàn, và những phương tiện rốt ráo
tức là Ðạo. Trong một bối cảnh khác, nó có thể được
hiểu theo một cách khác. Rốt ráo, trong câu hỏi của quý
vị, liên hệ đến những gì cần phải được loại trừ.
Khi ta khẳng định rằng mọi hiện tượng đều không có hiện
hữu rốt ráo, ta đang nghĩ đến tính cách chủ quan, tình trạng
độc lập của chúng do sự nắm bắt bởi vô minh. Rốt ráo
cũng có thể được dùng trong khung cảnh làm thế nào để
ta có thể nắm bắt trí tuệ, tức là tuệ giác thực chứng
tánh không. Chúng ta cũng thỉnh thoảng cho rằng đạt đến
tri kiến không tánh tức là đạt đến tâm rốt ráo.
Thưa
Ngài, ý niệm về tánh không có thể đưa con người đến
tâm trạng sợ hãi bị rơi vào nỗi cô đơn, một cảm giác
hoàn toàn bị cô lập. Chẳng còn gì nữa cả -không còn đối
thể, không có ai để bám víu, không có ai để yêu thương.
Làm thế nào để ta có thể loại trừ được nỗi sợ hãi
này và đi đến sự thực chứng về tánh không?
Tôi
nghĩ là bạn còn đang mơ hồ chưa phân biệt được giữa
tánh không với hư không và hư vô. Tôi khuyên bạn nên tìm
hiểu ý nghĩa của tánh không trong khung cảnh duyên sinh của
mọi hiện tượng. Thông thường ta nương tựa nặng nề vào
nguyên lý duyên sinh để hiểu biết về tánh không. Tại sao
ta lại không thể đảo ngược thủ tục này? Bởi vì nếu
các hiện tượng, sự kiện không có sự hiện hữu tự thân,
ta gọi chúng là rỗng không. Nếu như sự hiện hữu của chúng
hình thành do các điều kiện nhân duyên, ta gọi chúng là duyên
sinh. Mặc dù thực chứng tánh không trong khung cảnh duyên sinh
được biết là rất khó khăn, chắc chắn là bạn sẽ phải
tìm cách vượt qua nỗi sợ hãi bằng cách đặc biệt chú
ý đến khía cạnh này.
Lấy
trường hợp những người tu tập thiền định theo lối linh
ảnh du già (hay bổn tôn du già); một trong những nét đặc
biệt của phái này là đạt đến sự tan biến của mọi thể
tướng vào tánh không, và một điều xảy ra là, ở mức độ
đại định này chúng ta có thể cảm thấy bị cô lập bởi
vì lúc đó mọi sắc tướng đã biến mất hoàn toàn, thể
nhập vào tình trạng hư không, rất gần giống với hư vô.
Tôi không biết chắc là nỗi sợ hãi mà bạn vừa đề cập
đến đã xuất hiện như là kết quả của những quán tưởng
của linh ảnh du già, khi mọi sắc tướng đã tan biến vào
thể không, hay là cảm thức cô lập này bắt nguồn từ những
thiền quán về tánh không, sự trống rỗng của hiện
hữu tự thân. Hiểu rõ sự khác biệt giữa hai vấn đề này
là một điều cực kỳ quan trọng, từ đó mới có thể xác
định được một cách rõ ràng nguồn gốc nỗi sợ hãi của
bạn. Nếu nỗi sợ hãi này xuất hiện trong khi bạn đang thiền
quán về tánh không, có thể bạn sẽ rơi vào một trong hai
loại sau đây: thứ nhất, bạn cảm thấy như bị kích động,
giống như trải qua một đột biến bất ngờ. Nỗi hoảng
kinh này là hoàn toàn tự nhiên và dễ hiểu, nếu không nói
là đúng như ta mong đợi. Tại sao? Bởi lẽ trước đó, khi
kinh nghiệm này chưa xảy ra, tất cả những khái niệm của
bạn về mọi thể tướng hiện hữu đều vững chắc, cứng
rắn; xem chúng như là những hiện hữu độc lập, tự thân.
Một nhận thức đúng đắn về tánh không sẽ giúp bạn loại
bỏ được nỗi sợ hãi này một cách tự nhiên. Nếu như
trường hợp vừa nói không xảy ra, bạn sẽ rơi vào loại
sợ hãi thứ hai liên hệ tới tà kiến sai lầm của chủ nghĩa
hư vô, của cảm giác cho rằng không có gì hiện hữu, không
có gì đáng phải quan tâm.
Thưa
Ngài, làm thế nào và tại sao chúng ta lại có thể tiếp tục
sống ngày này qua ngày khác trong một thế giới không có gì
hiện hữu thực sự, ngay cả mục tiêu mà ta vươn tới là
Phật quả cũng không hiện hữu? Tại sao chúng ta lại phải
bận tâm đến chuyện đi theo con đường tu tập, và nói cho
cùng, cuộc sống có ý nghĩa gì?
Trong
chuyến thăm viếng Anh Quốc vừa rồi, sau những buổi nói
chuyện và thuyết pháp tại đây, một số người cũng đã
nêu lên một câu hỏi tương tự: “Nếu như mọi thể tướng
và sự kiện đều không hiện hữu hoặc không có bản sắc
tự tánh, một điều hiễn nhiên là ta không có lý do gì để
bàn về bản sắc cả. Như vậy vấn đề đặt ra là ta phải
làm gì để tạo nó ra một cách chắc chắn?”
Nghe
qua điều này tôi nhận ra rằng vị này chắc đã suy nghĩ
về vấn nạn này rất sâu sắc, bởi vì nó phản ánh điểm
then chốt nhất trong triết học Trung Quán. Khi trường phái
này dùng cụm từ như “cái tên đơn giản” hay là “sự
định danh đơn giản,” từ “đơn giản” được dùng ở
đây không mang ý nghĩa chối từ thực tại của thể tướng
hay sự hiện hữu của nó bị tách ra khỏi cái tên gọi. Ðồng
thời nó cũng không hề mang ý nghĩa rằng chẳng có gì hiện
hữu ngoài cái tên gọi hay là sự định danh. Khi ta nói đến
một cái tên đơn giản, một sự gán đặt đơn giản hay là
một sự định danh đơn giản không có nghĩa là ta phủ nhận
những đối thể ngoại giới. Bởi vì một thể tướng là
một sản phẩm của nhân duyên, nó phải hiện hữu. Khi nói
đến tánh không của một thể tướng tức là ta hình dung
ra cái bản tánh rốt ráo của nó; bởi thế nó cũng phải
hiện hữu nếu như ta có được những tri kiến về thực
tại rốt ráo của thể tướng này. Ngược lại nếu ta chỉ
chạy đi tìm cái vật ám chỉ thực sự ẩn dấu đằng sau
từ ngữ, tức là cái khái niệm, ta sẽ chẳng tìm thấy được
gì cả. Sẽ chẳng bao giờ tìm ra được đối thể mà bạn
tìm kiếm. Thế cho nên, sự hiện hữu của nó chỉ có thể
được hình dung ra ở mức độ hiện tượng, tương đối
và ước lệ; không bao giờ ở tình trạng rốt ráo hay
tuyệt đối.
Nếu
chúng ta khẳng định rằng mọi thể tướng đều chẳng có
gì khác hơn là những cấu trúc do tâm tạo, dưới dạng của
những định danh đơn giản -những giả danh-, điều này không
bao hàm ý nghĩa rằng mọi vật mà tâm có thể tạo ra đều
biến thành thực tại, bởi vì nói như thế tức là ta lại
rơi vào kiến chấp của chủ nghĩa tương đối cực đoan,
khác biệt khá xa với triết học Trung Quán. Ta phải loại
bỏ bất cứ sự xác nhận cực đoan nào cho rằng mọi thứ
do tâm tạo đều có một thực tại khách quan. Ðồng thời
cũng không nên đi đến kết luận rằng tâm không tạo ra gì
cả. Dĩ nhiên có một mối quan hệ nào đó giữa thể tướng
và tâm, thế nhưng do sản phẩm của tâm không tương ứng
với thực tại đúng đắn của thể tướng, điều này đã
tạo nên những ảo giác và sắc tướng sai lầm. Và rồi
đến lượt tâm -hay nói rõ hơn, ý thức- khi tạo ra những
phóng chiếu sai lầm như thế cũng đi vào con đường sai lầm
nốt, vì đã không phù hợp với thực tại.
Bây
giờ ta hãy lấy một thí dụ cụ thể. Hãy nhìn cuốn sách
trước mặt tôi. Ðây là nước Pháp vốn có một loại bánh
mì nổi tiếng gọi là baguette; nếu bạn đứng từ xa nhìn
vào cuốn sách này và tưởng tượng rằng đó là một cái
bánh mì baguette, cho dù lòng tin của bạn có mạnh mẽ đến
cách mấy đi nữa cũng chẳng làm thay đổi được gì -bạn
không thể biến bản thể của cuốn sách thành bánh mì. Bạn
không bao giờ có thể thay đổi được thực tại của cuốn
sách. Nếu bạn cứ khăng khăng cho rằng bạn chỉ thấy cái
bánh mì baguette, điều này được gọi là ảo ảnh của một
tiến trình hình tượng hoá, một hình ảnh giả tưởng do
tâm tạo chẳng có mảy may dính líu gì với cơ sở thực tế.
Tuy nhiên trong trường hợp này, nhận thức của người trông
thấy cuốn sách là có cơ sở vững chắc, bởi vì nó tương
ứng với thực tại. Có một sự tương ứng giữa đối thể
trước mặt tôi và cái tánh biết do ý thức tạo nên. Bây
giờ chúng ta đang đối diện với hai loại nhận thức, tất
cả đều thuộc phạm trù sắc tướng. Cái thứ nhất nắm
bắt sắc tướng của cái bánh mì baguette, cái kia là cuốn
sách. Một cái đã bị biến đổi, sai lạc, cái kia thì có
giá trị, đúng đắn. Tuy nhiên nếu ta hỏi đến một người
thứ ba để nhờ họ xác minh vật thể đang nằm trên bàn
là cái gì, người này có thể dẹp bỏ tất cả mối nghi
hoặc và loại trừ sự hiểu lầm, vô hiệu hóa cái nhận
thức cho rằng đó là bánh mì nhằm khẳng định cái nhận
thức sách, bằng cách đi thẳng đến cái bàn, sờ vào đối
thể và tuyên bố rằng: “Ðây không phải là bánh mì, đây
là cuốn sách.” Nhận thức này không thể bị vô hiệu hoá,
nó vẫn luôn có giá trị trong khung cảnh của sự thật ước
lệ: tâm nhận biết có sự hiện diện của cuốn sách ở
đằng kia, trên cái bàn. Một sự nhận thức như thế dĩ nhiên
không phải là hệ quả của một cung cách suy nghĩ triết học
rốt ráo và đó là lý do tại sao ta không thể vô hiệu hoá
thực tại tương đối của nó thông qua sự phân tích rốt
ráo. Tuy nhiên cái nhận thức cho rằng đó là bánh mì thì
rất dễ dàng bị phủ nhận và vô hiệu hoá bởi nhận thức
đúng đắn về cuốn sách.
Ðây
là một thí dụ khác: Trường phái Duy Thức học xác định
rằng sự hiện hữu cơ bản của tàng thức là nền tảng
của tất cả mọi tri kiến của con người. Bởi vì nó không
phải là một bản thể ước lệ, một sự phân tích rốt
ráo về cái thức này có thể vô hiệu hoá sự khẳng định
đó. Như thế, một quan điểm triết học rốt ráo về thực
tại có thể bị bác bỏ bằng một sự phân tích mang tính
triết học về bản tánh uyên nguyên của thực tại đó.
Trở
lại vấn đề cuốn sách trên cái bàn, người ta có thể xác
minh sự hiện hữu của nó bằng một tiêu chuẩn khách quan
có giá trị một cách ước lệ, một nhận thức mà không
thể nào bị vô hiệu hoá bởi một kinh nghiệm có giá trị
ước lệ khác hay là bằng sự phân tích rốt ráo. Tuy nhiên
nếu ta muốn tìm hiểu một cách chính xác cuốn sách là cái
gì -phải chăng đó là tập hợp của những trang sách, phải
chăng mỗi trang sách cũng là cuốn sách, v.v...- ta sẽ đi đến
kết luận là cuối cùng cái khái niệm nguyên thủy về cuốn
sách cũng biến mất. Nếu cứ tiếp tục phân tích mổ xẻ
cuốn sách ra thành từng phần, từng trang, hình dáng, màu sắc,
cho đến các thành tố cơ bản nhất của nó -nguyên tử và
phân tử, v.v...- khái niệm ban đầu của một cuốn sách bằng
xương bằng thịt sẽ không còn hiện hữu. Ta sẽ đi đến
một điểm là tạo ra thêm một từ ngữ mới, có thể tạm
gọi là “bất khả tầm” về một cuốn sách như ta đã
từng được biết. Thế nhưng một điều chắc chắn là cuốn
sách đã hiện hữu. Chúng ta không thể phủ nhận thực tại
này cho dù sự phân tích rốt ráo về những gì cấu thành
sự vật trung thực được ám chỉ, núp bóng đằng sau danh
từ “cuốn sách” không mang lại một cái gì cả, và do đó
ta không thể định vị hoá được nó. Như thế, kết
luận được rút ra từ những dẫn giải vừa rồi là, cuốn
sách hiện hữu -cho dù ngay cả việc ta chứng minh là không
thể tìm ra một cuốn sách như thế ngay từ khi bắt đầu
một cuộc tìm kiếm rốt ráo- tuy nhiên hiện hữu này chỉ
là giả danh, ước lệ, và tương đối.
Ta
chỉ có thể phân biệt được sự hiện hữu và hiện hữu
tự thân qua từng mức độ thực chứng, và tuệ giác của
chúng ta về tánh không tăng trưởng với thời gian. Càng tiến
bộ bao nhiêu về tuệ giác và sự thực chứng trực tiếp,
chúng ta càng có khả năng hơn để phân biệt giữa cái gì
là hiện hữu tự thân và cái gì không phải. Ðó là cốt
tuỷ của vấn đề. Ở một thời điểm, hiện tượng có
thể xuất hiện trước mắt ta có vẻ như vững chãi, rắn
chắc, như là chúng đã mang sắc tướng của một thực tại
khách quan; thế nhưng điều này lại mâu thuẫn trực tiếp
với một thực tại khác, đó là sự vắng mặt của một
hiện hữu độc lập. Tuệ giác về tánh không của ta càng
viên mãn, ta sẽ càng có khả năng đạt đến việc phủ nhận
sự hiện hữu tự thân, mà những hệ quả của sự phủ định
này sẽ đưa ta đến một tình trạng được gọi là điều
kiện hoá giản đơn, và ở mức độ tri kiến này, chỉ qua
sắc tướng đơn thuần của một vật thể là một điều
kiện đủ để ta nhận ra ngay tánh không của bản thể của
sự vật, sự trực nhận tánh không này mang theo cùng với
nó niềm tin vững chãi hơn vào sự hiện hữu hiển nhiên của
đối thể.
Tôi
quan niệm rằng mức độ của thực tại này chỉ có thể
được xác định bằng thực chứng, sau khi ta đã thành công
bác bỏ sự hiện hữu độc lập, tự thân của mọi thể
tướng. Tôi chưa chứng đắc đến trình độ này nên rất
khó để nói về nó. Không có một phương pháp nào khác hơn
là quán chiếu và thiền định về tánh không sẽ đưa ta đến
sự thực chứng này, trình độ thực chứng nhìn thấy thực
tại đúng như là thực tại. Bằng con đường này mà thực
tại được tri kiến: ở mức độ của cái tên đơn giản,
sự định danh đơn giản, và sự vắng mặt của một hiện
hữu tự thân, độc lập, hoàn toàn tự do. Ðây là tất cả
những gì được triết thuyết Phật giáo Trung Quán chấp nhận.
Ðể
kết luận, khi ta phân biệt giữa ta và người khác, giữa
sinh tử luân hồi và niết bàn, giữa những phân cực mà ta
thiết định nên, ta đang nhận thức chúng y như là chúng đã
thuộc về một loại hiện hữu khách quan, độc lập có thể
được mô tả như là sự ám chỉ trung thực của những danh
từ “ngã” “tha nhân”, “luân hồi”, “niết bàn,”
v.v... Tính cách nhị nguyên của những phân cực này cho thấy
một điều là chúng ta đã gán cho hiện tượng một sự hiện
hữu độc lập và tự thân, sự hiện hữu mà ngay chính bản
thân nó cũng đã là đối tượng đầu tiên bị bác bỏ khi
ta thiền định về tánh không.
Ngài
vừa phát biểu rằng tâm của con người không thể tự khảo
sát chính nó, giống như một lưỡi gươm không thể tự cắt
mình. Thế nhưng kinh nghiệm cho thấy tâm có thể khảo sát
một đối thể ngoại giới dễ dàng cũng như nó có thể nắm
bắt chính nó. Tâm có thể tìm cách để hiểu chính mình,
hiểu phẩm chất và bản tánh của mình. Chẳng hạn như tâm
của ta quán sát được rằng nó không phải là vật chất,
nó được phú cho có ý thức và mục đích của nó là mưu
cầu nhận thức vàhiểu biết cũng giống như mắt để
nhìn và tay để sờ mó. Ðem so sánh sự tương đồng giữa
tâm và lưỡi gươm là không đúng đắn vì lưỡi gươm là
một vật thể khái niệm, tự nó không có chức năng. Thế
nhưng, tay có thể sờ chính nó và như thế có thể tự nắm
bắt sắc tướng của chính nó. Ngài quan niệm như thế nào
về vấn đề này?
Dĩ
nhiên chúng ta có thể thiền định về tâm tịch tĩnh bằng
cách dùng tâm như là một đối thể của chỉ quán. Tâm cũng
nhận ra được bản thể của chính mình. Thế nhưng chúng
ta hiện đang đối diện với nhiều loại tâm khác nhau. Tính
năng tự tri của tâm là một chuyện khác nữa, tuy nhiên một
sự phân loại ý thức hầu như đã được các trường phái
triết học Phật giáo nghiên cứu một cách thấu đáo. Khi
đại sư Yeshe Nyingpo đưa ra lời bình phẩm về chương chín
của tác phẩm Nhập Bồ Ðề Hành Kinh, đã hoàn toàn bác bỏ
khái niệm về tính năng tự tri, svasamvedana, yếu tính khác
biệt đã trở nên rõ ràng. Những người ủng hộ sự hiện
hữu của svasamvedana chia tâm ra thành hai phạm trù chính; một
cái tâm chỉ nhắm vào các đối thể ngoại giới, còn cái
kia có tính năng tự tri mang tính chất tổng giác và bất nhị,
không có khả năng nhận biết bất cứ thực tại ngoại giới
nào. Tác phẩm của ngài Thánh Thiên (Shantideva) cũng phủ nhận
tính năng này tuy nhiên không loại trừ khả năng là tâm có
thể nhận biết cái tâm khác hoặc chính bản tánh của nó.
Như vậy, qua những điều đã được trình bày, nếu bạn
chấp nhận có một cái tính năng tổng giác của tâm,
sau khi quán sát kỹ lưỡng vấn đề bạn sẽ thấy đây chỉ
là một loại tâm đặc biệt có khả năng nhận biết chính
nó. Ðó là lý do tại sao chúng ta không thể chứng minh một
cách chặt chẽ rằng một cái tâm như thế có một chức năng
nào đó.
Phải
chăng tâm là một bộ phận nội quan của cơ thể? Như thế
phải chăng nó cần phải có thể xác để hiện hữu?
Các ý niệm về hư không tạng và phổ thân có thể được
xem tương tự như một cái thân thứ ba của Phật, Pháp thân?
Theo
tôi nghĩ trước tiên chúng ta cần phải biết phân biệt
giữa các mức độ thô thiển và vi tế của thân. Cái
phần vi tế nhất của thân không bao giờ có thể được tách
rời ra khỏi tâm. Cũng giống như tâm, nó là vô thủy và vô
chung. Chính cái thân này sẽ đạt thành Phật quả. Những
ý thức thô thiển chỉ liên hệ với mức độ thô thiển
của thể xác và chúng sẽ không còn hiện hữu khi thể xác
bị hoại diệt; đó là điều mà ta nói rằng tâm của con
người ngưng hiện hữu cùng với thể xác con người mà nó
nương trú. Chúng tùy thuộc vào nhau. Tuy nhiên, tâm thức con
người chỉ có thể hiện hữu nhờ nương tựa vào một cái
gì đó có cùng thể tánh với nó; điểm nương tựa này chính
là nguồn linh quang trong suốt cơ bản của tâm. Cái tâm cực
vi tế này không cần phải tùy thuộc vào các điều kiện
nhân duyên sinh lý của thể xác để hiện hữu. Ðây là lý
do giải thích tại sao ta có thể hình dung ra một trạng thái
mà tâm vi tế có thể hiện hữu tách biệt với thể xác thô
lậu của con người chúng ta. Cái ý thức vi tế này bao gồm
một phần không thể tách rời, đó là khí lực vi tế, mà
chính nó là một thể dạng của thân vi tế.
Ngài
vừa cho rằng một cá nhân phải thanh lọc hết tất cả các
uẩn cấu tạo nên thân, và tâm mới có thể loại trừ được
khổ đau. Phải chăng điều này có nghĩa là ta cũng phải làm
tan biến đi khái niệm về sắc thân của chúng ta và của
người khác?
Trên
quan điểm cá nhân, sự thanh lọc năm uẩn đưa đến sự chấm
dứt vòng luân hồi sinh tử. Tuy nhiên trên quan điểm tổng
quát, vòng luân hồi sinh tử không có điểm kết thúc.
Mười sáu hạng mục của tánh không chỉ rõ rằng tánh không
của vòng luân hồi là vô thủy lẫn vô chung. Trên phương
diện này có lẽ ta không cần phải lo lắng là thế giới
này có đi đến ngày tận thế hay không. Tất cả mọi người
đều có Phật tánh, tức là nguồn linh quang trong suốt của
tâm. Vấn đề đặt ra là với tiềm năng như thế, mỗi chúng
ta có thể thực chứng được sự giác ngộ hoàn toàn hay không.
Tất cả chúng ta đều có tiềm năng này, thế nhưng chúng
sanh thì vô biên, vô số lượng, ta không thể nào quan niệm
được một thời điểm kết thúc dứt khoát của vòng luân
hồi sinh tử cho toàn bộ chúng sanh.
Ngài
cũng vừa cho biết rằng bản tánh uyên nguyên của tâm là
ánh sáng và thuần khiết. Tại sao trong suốt cuộc đời mình,
không lúc nào ta có thể tự động nhận biết được nó?
Ðồng
thời chúng ta cũng không thể thực chứng được nó, phải
không? Theo sự lý giải cuả Tân Trường Phái Truyền Thừa,
cho rằng bản tánh của tâm, nguồn linh quang trong suốt vi tế,
sẽ không xuất hiện và thực hiện chức năng ở những mức
độ thô lậu của tâm như cảm thụ và tiến trình của ý
thức phân biệt đang còn hoạt động. Nó có đó nhưng trong
trạng thái tiềm ẩn. Trong Ðại Viên Mãn (Dzogchen), có một
kỹ thuật đặc biệt có thể giúp ta nhận ra được rigpa,
ý thức uyên nguyên, mà không cần phải làm tan biến đi những
trạng thái thô lậu của tâm. Giống như dầu có thể
xuyên suốt qua toàn thể hột mè, yếu tánh của nguồn linh
quang trong suốt có thể xuyên suốt từng sự thực chứng của
tâm. Ðó là lý do tại sao ta có thể thực chứng về tri kiến
của ý thức uyên nguyên này -nguồn linh quang trong suốt, yếu
tánh của tâm- cho dù các cảm thụ và tiến trình tâm thức
chưa hoàn toàn ngưng nghỉ. Tuy nhiên cho dù bất cứ trường
hợp nào đi nữa, ta chỉ có thể nhận ra nó qua trình độ
tu chứng của một kinh nghiệm tâm linh. Ta không thể nhận
ra nó bằng mắt thường hay đưa ra một lời giải thích, một
sự miêu tả chính xác bằng ngôn ngữ thế tục.
Tại
sao chúng ta lại không thể nhận ra bản tánh một cách tự
động? Một lý do giản dị là vì nó cực kỳ vi tế. Bạn
đã biết rằng tánh không là bản tánh rốt ráo của tâm,
tuy nhiên chỉ qua thiền quán và thực chứng bạn mới có thể
có khả năng nhận biết nó. Còn nếu chúng ta đi xa hơn nữa
và nêu lên nghi vấn rằng tại sao ta lại không thể nhận
ra những điểm vi tế này một cách tự động, tôi chỉ có
thể trả lời rằng đây là điều hoàn toàn tự nhiên, sự
việc là như thế.
Phải
chăng luật tiến hoá đã bị phủ nhận khi cho rằng sau kiếp
người ta có thể tái sanh thành súc vật?
Luật
tiến hoá phải được hiểu trong khung cảnh của sự tiến
hoá vật lý. Khi ám chỉ rằng con người có thể trở thành
súc vật trong những kiếp kế tiếp, điều này không hề liên
quan gì đến sự tiến hoá vật lý nhưng mà liên hệ đến
một khía cạnh khác biệt, tức là vấn đề ý thức và khả
năng của nó có thể xuất hiện dưới những dạng thức khác
của đời sống.
Nếu
có những người bị đầu thai vào một loài thấp kém hơn,
chúng có thể tác tạo nên đủ nghiệp tốt để có thể tái
sanh trở lại làm người?
Tổng
quát mà nói, điều đó rất khó, tuy nhiên trong một số tình
huống nào đó có thể là các nghiệp lực tiềm ẩn tích lũy
từ những kiếp trước lại tác động tạo điều kiện thuận
lợi cho một kiếp tái sanh tốt lành hơn. Ðể cho điều này
có thể xảy ra dĩ nhiên chúng ta phải gieo trồng nghiệp tốt
vào dòng sinh thức của chúng ta trước khi bị rơi vào một
cảnh giới thấp hơn lúc tái sanh.
Sự
may rủi có chiếm một vị trí nào không trong bối cảnh Phật
giáo, hay tất cả mọi việc đều hoàn toàn tùy thuộc vào
luật duyên sinh của hiện tượng và ý niệm về nghiệp lực?
Câu
trả lời tổng quát của tôi cho vấn đề này là tất cả
đều tùy thuộc vào nghiệp lực. Hãy nhìn vào kinh nghiệm
sống hàng ngày của chúng ta và để ý đến những lúc chúng
ta buột miệng thốt lên: “Ồ, hôm nay tôi thật là may mắn!”
hoặc “Thật là cái ngày xui xẻo!” Tuy dùng những câu nói
như thế nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta đã liên hệ những kinh
nghiệm trải qua trong đời sống hàng ngày này với ý niệm
về nghiệp lực. Có rất nhiều yếu tố khác nhau tạo thành
nhân duyên của một tác hành mà ta phải lưu tâm đến, đồng
thời ta cũng phải biết phân biệt giữa nhân và những duyên
sinh. Dĩ nhiên đây không phải là điều dễ dàng đối với
chúng ta cho dù là ở mức độ hời hợt nhất. Có không
biết bao nhiêu yếu tố cấu thành sự kiện được gọi là
những điều kiện gián tiếp. Khi ta nói một cách mơ hồ rằng
sự việc xảy ra do may rủi là bởi vì ta không thấy rõ nguyên
do. Vấn nạn là ở chỗ đó: những nguyên do thường là không
rõ ràng một chút nào cả.
Nếu
chúng ta đặt mình trong khung cảnh của định luật nghiệp
quả, tôi xin được lý giải như sau: Khi những sự kiện xảy
ra đến một mức độ gây cho ta cảm giác khoan khoái hay khó
chịu, đó chính là lúc mà nghiệp lực biểu hiện một cách
rõ ràng. Nếu bạn phủ nhận sự can dự của nghiệp lực,
bạn có thể thiết định rằng sự tương tục của thân xác
bạn -thông qua sự tiếp nối dòng dõi của cha mẹ, ông bà,
và tất cả tổ tiên cuả mình- cuối cùng đưa bạn trở về
lại nguồn gốc của vũ trụ này. Thế nhưng hệ thống Mật
thừa Thời Luân (Kalachakra) mô tả thể nền ban sơ của thế
giới vật chất của vũ trụ này là một khoảng chân không
của những phân tử còn sót lại của một vũ trụ đã bị
hoại diệt trước đó trước khi một vũ trụ khác được
cấu thành. Tất cả mọi vật thể đều được cô đặc lại
thành những phân tử này và đó là yếu tố vật chất cấu
thành mọi thể hình biểu kiến trong vũ trụ. Sự tiếp diễn
của tiến trình này không thể gán cho nghiệp lực; đó
chỉ là một sự tiến hoá tự nhiên. Mặc dù tất cả phân
tử chân không đều có cùng một bản thể giống nhau, những
phản ứng đa dạng xảy ra giữa chúng đã tạo nên những
vật hữu tình cụ thể như thể xác con người và những vật
vô tình như đá sỏi chẳng hạn.
Cũng
đừng nên quên rằng mọi loài chúng sanh và môi trường đều
gắn bó chặt chẽ với nhau. Mối quan hệ này mang bản chất
nghiệp quả. Tuy nhiên tôi không nghĩ rằng chúng ta có thể
lý giải sự tiếp diễn của tiến trình tiến hoá cấu
thành vũ trụ là do tác động của nghiệp lực. Chúng ta không
thể cho rằng chính nghiệp lực đã hoạt hóa tiến trình này
cũng như không thể gán cho đó là quyền năng của chư Phật.
Hơn thế nữa, ta phải nói như thế nào trước sự kiện tất
cả mọi thể tướng đã không có sự hiện hữu tự thân?
Tánh không này dĩ nhiên không phải là một sản phẩm của
nghiệp quả và ngay cả những cảm thức vui mừng, buồn phiền
của con người cũng thế. Ngoài ra vô số những khả năng
và tiềm năng khác của các cấu trúc hoá học cũng không thể
gán cho là do ảnh hưởng của nghiệp lực, mà thật ra chỉ
là những định luật tự nhiên. Như vậy thì ở cấp độ
nào nghiệp lực bắt đầu đóng một vai trò tích cực, và
ở mức nào ta xem đó chỉ là định luật tự nhiên? Có thể
nói đây là một phạm trù khá thích thú cho công cuộc khảo
cứu nhằm tìm hiểu ngay ở điểm nào thì luật tự nhiên
nhường chỗ cho ảnh hưởng của nghiệp quả xen vào.
Hãy nhìn vào cánh hoa uất kim hương trước mặt tôi: sự kiện
mà nó hiện hữu ở đây ngay tại phút giây này, không nghi
ngờ gì nữa, tôi cho rằng có quan hệ tới ảnh hưởng của
nghiệp lực. Tuy nhiên nghiệp lực không dính dấp gì tới
số lượng nước cần phải tưới và ánh mặt trời cần
thiết để cho cánh hoa tăng trưởng; tất cả những điều
này được xem như thuộc về cơ cấu hóa học của cành
hoa, không liên hệ gì đến nghiệp lực.
Và
như thế, ta có thể lý giải sự may mắn hay may rủi ở những
mức độ khác nhau.
Ngài
vừa đưa ra thí dụ về cánh hoa, cho rằng những phản ứng
hoá học của chúng chẳng liên hệ gì tới nghiệp lực, thế
nhưng sự hiện hữu của cánh hoa uất kim hương này có thể
là một hệ quả của nghiệp lực. Xin Ngài vui lòng giải
thích rõ về điểm này.
Một
cánh hoa có thể được tăng trưởng do kết quả của những
phản ứng hóa học; đây là định luật tự nhiên. Tại sao
quả lại do nhân tác thành? Mối liên hệ giữa nguyên nhân
và kết quả như thế nào? Ðây là một nguyên lý tự
nhiên mà nghiệp lực không đóng một vai trò gì cả. Chỉ
là luật nhân quả. Ðịnh nghiệp chỉ có thể phát huy tác
dụng trong phạm trù của luật nhân quả, hay nói khác hơn,
nó chỉ là một phần của luật nhân quả. Luật nhân
quả bao trùm một phạm vi rộng lớn hơn là định nghiệp,
vốn nằm trong luật nhân quả. Thế nên ta không thể gán toàn
bộ luật nhân quả cho định nghiệp.
Cụ
thể hơn ta hãy nhìn một cái cây với hàng ngàn ngọn lá có
sắc thái màu vàng khác nhau. Khi mùa thu đến, chúng được
chuyển qua những sắc thái màu đỏ. Cái gì đã làm cho những
ngọn lá này có màu vàng đậm hơn là những ngọn lá khác?
Tại sao có những ngọn lá lại mang màu đỏ thẩm hơn?
Rồi đến khi lá rơi, tại sao có lá lại bay đi khá xa, có
lá lại rơi ngay ở kế thân cây, và tất cả đã không rời
khỏi thân cây cùng một lúc? Tôi đã không thấy được
bằng cách nào nghiệp lực có thể tạo nên những điều kiện
tác hành đặc biệt liên hệ đến tiến trình tự nhiên này.
Bằng cách nào nghiệp lực lại có thể làm cho vài ngọn lá
rơi vương vải về phía đông, trong khi những ngọn lá khác
lại rơi về phía nam? Thế nhưng những vi sinh vật sống trên
những ngọn lá này và rơi cùng với chúng đều là những
đối tượng của định nghiệp; một cách cụ thể, tôi cho
rằng nghiệp quả đã dự phần vào sự kiện là chúng đang
mất chỗ trú ẩn. Tuy nhiên thành thật mà nói tôi đã không
có một ý niệm dứt khoát nào về chủ đề này. Nhưng cho
dù bất cứ trường hợp nào đi nữa, một điều cho ta thấy
rõ ràng rằng luật nhân quả là một định luật tự nhiên
, không phải là sản phẩm của một ông Phật nào hay là do
cầu nguyện, kể cả do nghiệp lực. Chỉ đơn thuần là một
định luật tự nhiên.
Tất
cả những định luật khác, như tiến trình nghiệp quả chẳng
hạn, đều có thể hoạt động trên cơ sở này. Mối tác
động hổ tương giữa nhân và quả chỉ có thể xảy ra khi
luật tự nhiên của nhân quả là nền tảng cho sự tác động
hổ tương này; và như thế, những sự kiện này làm sản
sinh ra những sự kiện khác, rồi đến lượt chúng lại làm
sản sinh ra những sự kiện khác nữa, và cứ tiếp tục như
thế mãi. Sự tác động hổ tương giữa những thực thể
khác biệt đồng thời cũng có thể làm phát sinh ra những
tiến trình mới, thiên hình vạn trạng. Một sự hiểu biết
sâu sắc, chi tiết về các định luật khác nhau đang chi phối
thế giới hiện tượng có thể giúp ta nhận thức rằng gieo
một cái nhân nào đó thì gặt một kết quả tương ứng,
rằng cái này sẽ dẫn đến cái kia. Ta không thể nào lý giải
định nghiệp mà không chấp nhận rằng có một định luật
tự nhiên chi phối lên các định luật khác. Nếu có người
hỏi tôi rằng tại sao thiện hành dẫn đến thiện quả và
ác nhân sinh ác báo, tôi chỉ có thể trả lời rằng: “Chuyện
nó phải xảy ra như thế. Ðó là điều hoàn toàn tự nhiên.”
Ta không có một giải thích thuần lý cho vấn đề này./.