MỘT
CẢM QUAN CHUNG
CHO
CÁC TÔN GIÁO KHÁC BIỆT
ÐỨC
ÐẠT LAI LẠT MA THĂM VIẾNG
TU
VIỆN DÒNG KÍN GRANDE CHARTREUSE
Khi
bạn mô tả cuộc thăm viếng tu viện dòng kín Grande Chartreuse
của tôi trên báo chí, tôi hy vọng là bạn sẽ nhấn mạnh
đến tầm quan trọng mà tôi luôn hết lòng gắn bó, đó là
việc xây dựng và bảo tồn tinh thần hoà đồng giữa các
tôn giáo. Tôi vẫn luôn tin tưởng rằng những truyền thống
tâm linh lớn nhất đều chia xẻ một thông điệp chung về
lòng thương yêu, từ bi và tha thứ. Chúng cũng có tiềm
năng phục vụ nhân loại và góp phần vào việc tiết giảm
bầu khí căng thẳng và xung đột giữa con người. Tôi tin
tưởng rằng từ những mẫu số chung này người ta có thể
tạo nên một chỗ dựa vững chắc để qua đó xây dựng mối
cảm thông hoà điệu giữa các tôn giáo và hệ thống hoá
một thông điệp chung: thực hành tín ngưỡng trong mục tiêu
làm gia tăng ưu điểm cá nhân góp phần vào việc chuyển hóa
và cải thiện đời sống con người.
Trong
suốt bao nhiêu năm, mỗi lần có dịp gặp gỡ các hành giả
đang tu tập -tôi muốn nhấn mạnh đến chữ này- tôi cảm
nhận rằng, do công hạnh tu tập cùng với tầm hiểu biết
sâu rộng về những giá trị lớn lao của tôn giáo mà họ
đang tu học, họ rất dễ dàng thông hiểu những giá trị
của các tôn giáo khác; và do đó họ cũng có khả năng tự
nhiên trong việc tạo nên mối cảm thông và hòa điệu. Giống
như tôi, chắc hẵn bạn cũng đã biết rằng trong quá khứ
đã có biết bao nhiêu tấn thảm kịch xảy ra trên trái đất
này nhân danh tôn giáo, và kể cả ngay trong thời đại bây
giờ như những gì đã xảy ra tại Châu Phi, Bosnia. Cho dù đã
có những sự kiện bi thảm như thế, tôi nghĩ rằng tinh thần
hợp tác tôn giáo đang ngày một cải thiện. Sống theo tôn
giáo mà mình chọn lựa cũng chẳng khác gì khả năng chúng
ta có thể ăn được trong khi đói, đó là một quyền căn
bản của con người mà tôi luôn lên tiếng biện hộ. Chúng
ta ăn uống những thực phẩm bổ dưỡng để mang lại sức
khỏe cho cơ thể, thế nên thực phẩm càng đa dạng chừng
nào thì càng tốt chừng nấy! Ðiều này cũng được áp dụng
cho tôn giáo, tức là thức ăn tinh thần của con người. Do
căn cơ trí tuệ và tâm tính của mỗi cá nhân, người ta có
thể lựa chọn cho mình một tôn giáo thích ứng. Mỗi tôn
giáo đều có những tinh túy, phẩm chất riêng biệt, và tiềm
lực vô song của nó, và đây là điều thật tuyệt diệu.
Thế nên trên một quan điểm phóng khoáng, tất cả mọi tôn
giáo đều có những điểm chung, và trên căn bản này chúng
ta có thể ngồi lại làm việc với nhau.
Khi
nghe đồn rằng trong vùng này có những vị tu sĩ và nữ tu
sống biệt lập trong tu viện, những người đã cống hiến
trọn vẹn đời mình cho niềm tin tôn giáo, tôi rất ao ước
được gặp gỡ họ. Ngay từ khi mới đặt chân vào mảnh
sân của tu viện, tôi đã bị choáng ngợp bởi bầu không
khí tỉnh lặng và cảnh trí tươi đẹp của nơi này, tất
cả như toát ra những luồng sóng an bình và tâm linh mạnh
mẽ. Lúc này ở đây cũng khá lạnh! Tôi đã chia xẻ những
suy nghĩ của tôi cùng với những vị tu sĩ mà tôi gặp gỡ,
đặc biệt liên hệ đến những điểm tương đồng giữa
kinh nghiệm tâm linh và đời sống suy niệm của từng truyền
thống. Trong khi trao đổi với vị tu viện trưởng, tôi đã
khám phá ra rằng chương trình cầu nguyện chặt chẽ hàng
ngày của những vị tu sĩ này, những người chấp nhận đời
sống khổ hạnh, có nhiều điểm rất tương đồng với sự
tu tập của các tăng sĩ và nữ tu Phật giáo.
Ðiều
đáng ngạc nhiên là những điểm tương đồng này đã hiện
hữu và đã không bắt nguồn từ những trao đổi lẽ ra đã
có từ lâu. Chúng ta đã bị cách chia hơn một thiên niên kỷ,
thế nhưng hình như vẫn có những ảnh hưởng siêu nhiên,
hay nói một cách khác, một cảm quan chung đã được chia xẻ
giữa hai truyền thống. Tất cả đã cho tôi cảm giác
rằng mình đã nhận được một kinh nghiệm rất kỳ diệu,
rất phi thường và điều này đã tạo nên một tác động
mạnh mẽ trong tâm trí tôi.
TÔN
GIÁO
VÌ
HẠNH PHÚC CỦA CON NGƯỜI
Hiện
có đến khoảng năm tỷ người đang sống trên quả đất
này, trong đó tôi nghĩ rằng họ có thể được phân chia thành
ba thành phần chính. Trước tiên, khoảng một phần ba trong
số này có đức tin tôn giáo, và đang theo đuổi một hành
trình tâm linh; như một đối cực, một phần ba khác phủ
nhận tôn giáo như là một thứ độc dược tinh thần và không
làm gì khác hơn ngoài việc miệt thị nó; và cuối cùng một
phần ba còn lại gồm những người vô thưởng vô phạt, không
theo và cũng không chống tôn giáo.
Nhân
loại, bao gồm cả ba thành phần trên, nói chung đều có một
ước vọng giống nhau là xa lánh khổ đau và kiếm tìm hạnh
phúc. Trên phương diện này họ chẳng có gì khác biệt nhau
-con người ai cũng nỗ lực hết sức mình tìm mọi cách để
gặt hái thành đạt và hạnh phúc cũng như chạy trốn khổ
đau. Bây giờ chúng ta hãy thử làm một sự so sánh giữa một
bên là những người chấp nhận tôn giáo, có đức tin vào
một cuộc sống tâm linh và một bên là những kẻ đã chống
lại một cách triệt để. Chúng ta có thể ngạc nhiên
tự hỏi giữa họ ai là người được hạnh phúc, có tâm
hồn thoải mái hơn -những người có tín ngưỡng hay là những
người chống đối lại? Phải đợi đến khi con người trực
diện với những tình huống khó khăn, sự khác biệt sẽ xuất
hiện ngay như một bằng chứng. Những người không tín ngưỡng
sẽ cảm thấy tâm hồn họ lập tức bị rơi vào tình trạng
giận dữ, buồn bực bởi vì họ không có gì để chống đỡ
lại những cảnh huống khó khăn đó. Thế nhưng đối với
những người được hổ trợ tinh thần bởi niềm tin tôn
giáo sẽ cảm thấy niềm tin của mình được củng cố thêm,
tạo cho họ phương tiện tốt hơn để có thể đương đầu
với vấn nạn một cách trầm tỉnh.
Nếu
bạn so sánh giữa người giàu và người nghèo, hình như những
người không có một đồng xu dính túi thường là những người
ít phải lo nghĩ hơn. Còn người giàu, có kẻ thì biết cách
sử dụng tài sản, sự giàu có của mình một cách thông minh,
nhưng có kẻ không, và tuỳ theo mức độ, điều mà ta dễ
nhận thấy là họ bị chìm ngập trong những lo âu bối rối
thường xuyên, bị giày vò xâu xé giữa hy vọng và nghi vấn,
cho dù bên ngoài họ có vẻ như rất thành công trong mọi chuyện.
Một điều chắc chắn rằng cuộc sống tâm linh, tôn giáo
quả rất là lợi lạc, hữu ích cho con người mỗi khi phải
trực diện với những nỗi khó khăn vượt ra khỏi năng lực
bình thường của cá nhân trong cuộc sống hàng ngày. Tôi thường
bảo một số thân hữu rằng nếu quả thật những người
chối bỏ các truyền thống tâm linh có một cuộc sống cực
kỳ hạnh phúc thì chúng ta cũng nên từ bỏ tôn giáo đi cho
rồi, bởi vì chúng ta tu tập không ngoài mục đích tìm
kiếm hạnh phúc và an lạc.
Các
tôn giáo lớn trên thế giới được liệt vào trong hai truyền
thống chính. Một số tin vào một Ðấng Sáng Tạo, một số
khác đặt trọng tâm vào sự chuyển hoá tâm linh. Nếu ta có
thể chuyển hoá và điều ngự được tâm mình, tức là ta
đạt đến tình trạng được gọi là niết-bàn. Ngược lại,
nếu ta không thể kiểm soát được nó, ta sẽ là những kẻ
nô lệ cho chính tâm mình, và sẽ mãi đắm chìm trong luân
hồi sinh tử. Ðó là hai sự khác biệt lớn lao. Tôi tin rằng
tất cả mọi người đều có những khát vọng khác nhau, thế
nên đa tôn giáo quả thật là điều rất tốt và rất đáng
tán dươ ng.
Phật
giáo, Kỳ-Na giáo (Jain), một bộ phận của trường phái triết
học Số luận (Samkhya), truyền thống Ấn giáo, đều là những
truyền thống không tin tưởng vào một Ðấng Sáng Tạo. Thái
độ bất bạo động, không làm hại kẻ khác, và quan điểm
về duyên khởi là hai phạm trù chính nêu bật bản sắc đặc
biệt của Phật giáo.
Nhưng
thế nào gọi là bất bạo động? Có thể nói một cách dễ
hiểu rằng đó là thái độ không những không chấp nhận
bạo động mà còn thực hiện những điều tốt đẹp cho kẻ
khác. Nếu không thể làm được như vậy thì ít nhất ta phải
tuyệt đối tránh làm những việc gây thiệt hại cho kẻ khác.
Làm
thế nào để thực hành bất bạo động, và làm thế nào
để đạt đến hạnh phúc, điều mà tất cả chúng ta đang
tìm kiếm? Những mục tiêu này đều tùy thuộc vào một số
nguyên nhân và điều kiện, sự cần thiết của khả năng
kiểm soát, huấn luyện, và chuyển hoá tâm thức, tất cả
sẽ đưa ta đến tình trạng an lạc và hạnh phúc; ngược
lại nếu ta không đủ khả năng để thực hiện sự chuyển
hóa này, ta sẽ rơi vào vòng đau khổ triền miên. Chúng ta
phải hành động theo một cung cách nào đó để cho những
khát vọng của ta, cũng là khát vọng chung của mọi con người
-theo đuổi hạnh phúc và xa lánh khổ đau- sẽ không trái nghịch
với hậu quả gây ra bởi những hành động của chính mình.
Dĩ nhiên là chúng ta phải tận dụng mọi nguồn hổ trợ để
đạt đến mục tiêu này.
Khi
chúng ta tìm cách diễn đạt cho một người sơ cơ về cấu
trúc của con đường dẫn đến giác ngộ, ta thường nói đến
ngũ đạo và thập địa (tiếng Phạn: bhumi). Và như thế,
cứ lần hồi, tinh tấn tiến bước trên con đường tu tập
này sẽ đưa ta đến tình trạng nhất thiết trí của Phật
quả. Ta đồng thời cũng thường đề cập đến tam thân (kaya):
Ðó là Pháp thân (Dharmakaya), Báo thân (Sambhogakaya), và Hóa
thân (Nirmanakaya). Hai loại thân sau -Báo thân và Hóa thân- xuất
hiện từ hư không của tri kiến của Pháp thân, một mặt
bằng tuyệt đối, được biểu hiện bởi hình tượng của
một vị Cổ Phật, Ðức Tổng Thể Phật (Samanta-bhadra), mà
màu xanh là dấu hiệu tượng trưng cho tính chất bất biến
của Ngài. Chúng ta tắm gội trong ánh sáng của Ngài. Tổng
Thể Phật còn được biểu hiệu dưới một dạng nữ thân
khác là Phật Mẫu Samantabhadri. Tổng Thể Phật tượng trưng
cho tình trạng nguyên thủy liên quan đến đại hoan hỷ, trong
khi Samantabhadri tượng trưng cho tình trạng tinh khiết nguyên
thủy.
Khi
chúng ta nói về Ngài Tổng Thể Phật hay Phật Mẫu Samantabhadri,
chúng ta không xem các Ngài như là những đấng thượng đế
sáng tạo. Chính từ hư không của tri kiến và sự chứng ngộ
của các Ngài mà vòng luân hồi sinh tử và niết-bàn đã được
tuyên
xưng và xuất hiện.
Dĩ
nhiên quả là điều quan trọng khi ta biết được những giai
đoạn tiến triển khác nhau của tiến trình tâm linh, nhưng
đồng thời chúng ta cũng cần phải biết sống như thế nào
trong cuộc sống đời thường. Những vị đại sư của Cam-đan
phái (Kadampa) đã nói rằng, nhiều người trông có vẻ giống
như những hành giả đang tu tập nghiêm chỉnh chánh Pháp khi
bao tử của họ căng đầy và được ngồi thoải mái dưới
nắng ấm mặt trời, nhưng rồi họ hoàn toàn đánh mất dáng
vẽ này, trở nên giận dữ và cãi lộn lẫn nhau, một khi
họ bị bực mình trước những tình huống khó khăn. Ðó là
điều mà chúng ta cần phải tránh. Bởi vậy, điều quan trọng
là ta phải thực hành giáo lý của Chánh Pháp hằng ngày, ngày
này qua ngày khác.
Những
đức hạnh chủ yếu nào ta cần phải trau dồi , tu dưỡng
trong cuộc sống thường nhật? Trước tiên, đó là lòng nhân
ái, từ tâm, kiên nhẫn, và khoan dung; đồng thời cũng phải
biết tri túc, thỏa mãn với cuộc sống khiêm tốn, đơn giản
-đó là những điểm được chia xẻ bởi tất cả mọi tôn
giáo.
Ðặc
biệt, Phật giáo có giúp được cho chúng ta phương cách nào
để đạt đến mục tiêu thỏa mãn và an lạc? Ðể giải
thích điều này, thiết tưởng chúng ta cần phải nên biết
đến luật nhân quả, nghiệp báo, để hiểu rằng tình trạng
bất toại ý được bắt nguồn từ vòng luân hồi sinh tử,
cũng như để biết cách làm thế nào để ta có thể chuyển
hoá hạnh phúc và nhận lấy những khổ đau của tha nhân làm
của mình. Hận thù và ác tâm là những mối nguy cơ lớn nhất
cho hoà bình và hạnh phúc. Ðể có thể ngăn ngừa hận thù
và giận dữ có cơ hội mọc rễ trong ta, trước tiên ta phải
tìm cách loại bỏ cho được lòng bất mãn,bởi vì đó chính
là cội rễ của hận thù và ác tâm. Ðể có thể thực hiện
được việc này, ta phải làm cho tâm của mình trở nên thanh
thản, rộng mở và thư giản. Bởi vì một khi ngọn lửa thù
hận đã bùng cháy lên với tất cả sức mạnh của nó, ta
khó mà tìm ra phương thuốc để chữa trị. Cho nên điều
quan trọng là ta phải phòng ngừa, ngăn cản những gì có thể
làm cho lòng hận thù phát khởi.
Sự
thù nghịch, gây hấn và hận thù là những sản phẩm chính
của lòng bất mãn, và để ngăn ngừa cái tình cảm bất toại
ý này phát sinh, chúng ta phải giữ cho tâm mình ở trong trạng
thái hoàn toàn thanh thản, rộng mở, và bao dung, cũng như luôn
luôn thoải mái với chính mình. Trái lại, nếu tâm ta chật
hẹp, khép kín thì cho dù chỉ một sự kiện nhỏ xảy ra cũng
sẽ làm cho ta bực bội, bất mãn và cảm thấy mình bị thương
tổn, bất toại ý mà hậu qủa sẽ dẫn ta đến giận dữ
và oán thù. Thế nên điều quan trọng là ta phải luôn giữ
cho tâm mình ở trong trạng thái quân bình, rộng mở, và thanh
thản. Hạnh phúc của chúng ta luôn gắn chặt với hạnh phúc
của kẻ khác. Nó tuỳ thuộc sâu xa vào tất cả những người
sống quanh ta. Thế nên chúng ta phải luôn ý thức điều này
để mỗi khi cảm thấy hạnh phúc, thỏa mãn chúng ta phải
nhận ra rằng mình đang mang một món nợ ân nghĩa đối với
lòng nhân ái của tất cả mọi người.
Trong
đời sống này có thể là chúng ta sẽ có kẻ thù, những
người có ý muốn hoặc đang thật sự hảm hại ta. Tuy nhiên
yếu tính căn bản của Phật giáo, đặc biệt Phật giáo Ðại
thừa, là lòng nhân ái, từ bi và bồ đề tâm, tâm thức của
giác ngộ. Thế nên nếu sự giận dữ và thù hận phát khởi
trong ta, sức mạnh của lòng từ và tinh thần giác ngộ của
ta phải có đủ năng lực để chống lại chúng. Bởi vậy
nhẫn là một đức tính cần thiết mà mỗi người Phật tử
cần phải có. Không có hạnh nhẫn nhục không thể thực hành
được Bồ Tát Ðạo. Nếu chúng ta chịu khó suy nghĩ về điều
này, thì vấn đề chính yếu là làm thế nào để cho
nhẫn nhục được thực hiện và phát triển trong cuộc sống
đời thường? Nhẫn nhục cần sự có mặt của kẻ thù -một
điều rất rõ ràng là chúng ta không cần phải thực hành
nhẫn nhục đối với Ðức Phật, vị tôn sư, hay người bạn
tinh thần của mình. Ngược lại, nhẫn nhục chỉ có thể
được thực hiện đối với những kẻ muốn hảm hại ta,
những kẻ mà ta gọi là “kẻ thù”, qua đó nhẫn nhục mới
thực sự được nuôi dưỡng và phát triển. Chính kẻ thù
đã giúp ta một cơ hội duy nhất để thực hành hạnh nhẫn
nhục và qua đó phát triển được tất cả những phẩm chất
qúy giá của Bồ Tát Ðạo. Như vậy thay vì xem kẻ thù như
là một cái gì đó rất khó ưa, ta ngược lại phải đối
xử với họ bằng lòng kính trọng và sự biết ơn, bởi vì
họ đã cho ta cơ hội duy nhất này để thực hành Bồ Tát
Ðạo.
Một
khi đã chứng tỏ được lòng nhân ái và vị tha của mình,
ta đồng thời cũng sẽ trở nên can đảm và vững tâm trước
mọi chuyện; thế nên những ngày đi qua trong đời ta sẽ thắm
đượm với hạnh phúc, thanh thản và thỏa mãn. Mặc dù cá
nhân tôi không có nhiều kinh nghiệm trên lãnh vực này,
tôi vẫn luôn cố gắng thực hiện những điều nhẫn nhục
nhỏ nhất có thể có được.
Chúng
ta sẽ không bao giờ ngưng tiến bộ và nhận thức rằng nếu
ta thực hiện được điều này ngày này qua ngày khác, tháng
này qua tháng nọ, năm này đến năm kia, đời này sang đời
khác ta sẽ đạt đến nỗi hạnh phúc vô bờ.
Theo
Ngài, Phật Pháp có thể giúp ích được gì cho Tây Phương?
Trong
xã hội Tây phương, nói chung những anh chị em huynh đệ của
tôi, những tu sĩ hay nữ tu Cơ Ðốc giáo, hoặc là những tín
đồ đang tu tập, Phật giáo có thể mang lại cho họ những
trợ giúp cần thiết để phát triển thêm tình yêu thương,
từ ái, được coi như là những phẩm chất cốt lõi của
bất kỳ tôn giáo nào. Ðồng thời nó cũng giúp phần nào
trong vấn đề cải thiện thiền tập.
Thưa
Ngài, làm thế nào để đời sống tâm linh và thế tục có
thể hoà điệu cùng nhau?
Khi
nói đến những sinh hoạt thế tục, chúng ta thường đề
cập đến tám vấn đề quan tâm chính yếu của người đời:
đó là những ý tưởng liên quan đến tầm mức quan trọng
mà chúng ta thường gắn bó với niềm vui và đau khổ, sự
được thua thành bại, tăm tiếng và vô danh, việc được
ca tụng hay bị chỉ trích. Tám mối quan tâm này có những
mức độ khác nhau mà tuỳ theo trường hợp có thể hoàn toàn
trở nên tiêu cực, trung hoà, hay rất mực tích cực. Trong
những trường hợp cực đoan nhất, tâm của người đời
nặng về đời sống thế tục thường bị tràn ngập bởi
những tình cảm hận thù, hoặc tham vọng muốn chiếm hữu
mọi thứ về cho mình cho dù phải gây tổn hại hay dối lừa
kẻ khác. Trong trường hợp như thế dĩ nhiên nó đã đi quá
xa đối với những đòi hỏi về tâm linh. Ngược lại
trong những trường hợp mà những hoạt động thế tục
được thúc đẩy bởi những tình cảm cao qúy, chẳng hạn
như những người có ý hướng muốn tham gia vào việc
điều hành kinh tế cho một quốc gia, hay khu vực nào đó mà
động cơ chính là lòng nhân ái hoặc vì quan tâm đến phúc
lợi của kẻ khác, thì vấn đề hoà điệu giữa đời
sống tâm linh và thếù tục quả là một vấn đề rất đơn
giản.