VỀ
TƯƠNG LAI
CỦA
MỘT ÐẤT NƯỚC TÂY TẠNG TỰ DO
Thưa
Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, trong một bài diễn văn vào năm 1988,
Ngài đã lên tiếng từ bỏ yêu sách đòi hỏi độc lập cho
Tây Tạng nhằm mục đích mở rộng cánh cửa đối thoại
với Trung Cộng. Có phải theo đường lối suy nghĩ của Ngài,
đây là một sự từ bỏ hoàn toàn?
Như
tôi đã từng phát biểu trước đây, Tây Tạng đang đối
diện với hiểm họa bị diệt chủng. Thế nên chúng tôi phải
làm bất cứ điều gì có thể được để cứu vớt đất
nước được kế thừa một nền văn hoá thuần nhất này.
Thực tế chính trị là sẽ không ai trở về để đuổi
kẻ xâm lăng Trung quốc ra khỏi nước. Thái độ thực tiễn
duy nhất là tìm cách giải quyết trực tiếp vấn đề với
chính quyền Trung quốc. Sức mạnh của chúng tôi là công lý
và sự thật. Chúng tôi không có gì để phải che dấu; chúng
tôi có mọi quyền, và đủ sức chịu đựng ngoan cường để
có thể gặp gỡ người anh em, chị em Trung Quốc và nói chuyện
thẳng với họ.
Cuối
năm 1978, nhà nước Trung Quốc ngõ ý rằng họ muốn thiết
lập mối dây liên lạc với tôi. Tôi đã đáp ứng lập tức
và gởi ngay một phái viên cá nhân, một người em của tôi
có khả năng nói tiếng Trung Hoa lưu loát, đến gặp họ. Ông
ta đã được Ðặng Tiểu Bình tiếp kiến. Cuộc gặp gỡ
đã kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ và Ðặng Tiểu Bình
cho hay là hai bên có thể thảo luận mọi vấn đề ngoại
trừ chuyện độc lập hoàn toàn cho Tây Tạng, tuy nhiên đây
cũng là một đề nghị rất đáng được quan tâm.
Từ
đó cho đến nay, trong vòng mười bốn năm qua, toàn bộ những
tiếp cận của chúng tôi đã được dựa trên căn bản của
điều kiện này. Ðó là lý do tại sao tôi đã không đòi hỏi
sự độc lập toàn vẹn của Tây Tạng. Nhưng điều này không
có nghĩa là chúng tôi không có quyền đòi hỏi độc lập.
Thế giới đều biết rằng Tây Tạng là một quốc gia đang
bị xâm chiếm. Tôi thường cho rằng đường lối mà tôi đang
theo đuổi là con đường Trung Ðạo. Tuy nhiên tôi cũng đã
tuyên bố rất rõ ràng trong một dự thảo được công bố
tại Strasbourg rằng quyền quyết định tối hậu thuộc về
nhân dân Tây Tạng. Một số người Tây Tạng đã chỉ trích
kịch liệt dự thảo này, thậm chí có người đã bảo thẳng
vào mặt tôi : “Ông, vị Ðạt Lai Lạt Ma đời thứ mười
bốn, đã bán rẽ quyền sống của nhân dân Tây Tạng!” Thế
nhưng, tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải đối diện vấn đề
một cách thẳng thắn. Tây Tạng là một quốc gia bị bao quanh
bởi đất liền, muốn đến được biển phải trông cậy
vào quốc gia láng giềng. Với tình huống như hiện nay, tốt
hơn, và thực tế hơn là ta nên cố gắng đi đến một giải
pháp như thế nào đó với Trung Quốc.
Một
phần của lãnh thổ Tây Tạng đã được tái phân bố vào
một số tỉnh của Trung Quốc. Ngài nghĩ như thế nào về
vấn đề biên giới của một Tây Tạng tự trị?
Biên
giới giữa Tây Tạng và Trung Quốc đã được vẽ ra một
cách rõ ràng vào thế kỷ thứ bảy. Bây giờ thì Trung Quốc
đang cố gắng sử dụng đủ mọi luận chứng lịch sử liên
hệ đến thế kỷ thứ mười ba, thế kỷ thứ bảy... để
biện minh cho việc làm của họ. Giả dụ như nếu tôi chấp
nhận điều kiện tiên quyết mà ông Ðặng Tiểu Bình
nêu ra, tôi nghĩ là tôi có đủ mọi quyền để thảo luận
tiếp những vấn đề còn lại. Thế nên tôi đã bảo họ
rằng nếu chính phủ Trung Quốc đã công nhận sự hiệ n hữu
của đủ mọi loại mệnh danh là khu vực, vùng và ngay cả
quận huyện mà Trung Quốc đã từng gọi đó là các khu vực,
vùng, quận huyện của sắc tộc thiểu số Tây Tạng, thì
tại sao không gộp chung chúng lại với nhau thành một thực
thể duy nhất? Như vậy có phải là đơn giản và dễ dàng
cho việc gìn giữ, bảo tồn nền văn hóa và bản sắc của
Tây Tạng hay không? Vào thế kỷ thứ tám, dưới triều
đại của quốc vương Trisong Detsen và quốc vương Tri
Ralpachen, biên giới giữa Trung Quốc và Tây Tạng đã được
phân ranh ghi dấu rõ ràng từ tỉnh Vân Nam của Trung Quốc
cho đến tỉnh Amdo của Tây Tạng ở phía Bắc. Có những ghi
dấu được khắc trên các trụ bia, trên đá. Cụ thể ở
tỉnh Vân Nam thì được khắc trên đá. Những ghi dấu này
đã xác định biên giới thực sự giữa Trung Quốc và Tây
Tạng, và đó không phải là điều chúng tôi dựng đứng lên
mà là thực tế lịch sử.
Những
chế độ độc tài chuyên chế nói chung, và Cộng sản nói
riêng, bất hạnh thay, thường có khuynh hướng xuyên tạc lịch
sử bằng cách viết lại lịch sử. Tôi đã nhận thấy điều
này rất rõ trong thời gian lưu trú khoảng sáu tháng tại Trung
Quốc từ năm 1954 đến 1955. Trong dịp này, tôi đã có cơ
hội thăm viếng Mãn Châu, mà Trung Quốc gọi là Tumbe, và các
khu vực trong vùng Hreang và Hắc Long Giang. Tại đây, trong một
viện bảo tàng kỷ niệm vụ tàn sát của Nhật Bản, tôi
đã thấy họ giải thích rằng Nhật Bản chỉ đầu hàng sau
khi quân đội Sô Viết đánh tan lực lượng chủ lực
của Nhật Bản, quân đội Quang -tuong, tại Mãn Châu. Thời
gian này tôi đang ở thủ đô Lhasa và hầu như đã biết hết
tất cả mọi chuyện thực sự xảy ra lúc đó -mà thực tế
là, Nhật Bản chỉ đầu hàng sau khi hai quả bom nguyên tử
rơi xuống Trường Kỳ và Quảng Ðảo, sau đó thì Nga Sô mới
tuyên chiến với Nhật Bản. Trung Cộng đã vẽ ra chuyện là
Nhật Bản chỉ đầu hàng sau khi lực lượng chủ lực tinh
nhuệ của họ hoàn toàn bị Hồng quân tiêu diệt tại Mãn
Châu. Ðó là một thí dụ cụ thể về chuyện xuyên tạc lịch
sử.
Ngài
cũng thường tuyên bố rằng có ý muốn đạt đến một sự
tổng hợp giữa Phật giáo và Mác-xít. Thưa Ngài, chủ nghĩa
Mác-xít có gì hấp dẫn đối với Ngài?
Trong
số các lý thuyết kinh tế hiện đại, hệ thống kinh tế
Mác-xít được xây dựng trên căn bản của những nguyên tắc
đạo đức, trong khi chủ nghĩa tư bản chỉ thuần tuý quan
tâm đến vấn đề lợi nhuận. Chủ nghĩa Mác-xít đặt
trọng tâm vào việc phân bố tài sản một cách đồng đều
và bình đẳng trong việc sử dụng các phương tiện sản xuất.
Ðồng thời chủ nghĩa này cũng lưu tâm đến số phận của
giới lao động -tức là đại đa số quần chúng- cũng như
của những người thuộc đáy tầng xã hội, đang cần được
giúp đỡ, chủ nghĩa Mác-xít cũng chú ý đến những nạn
nhân của thiểu số bị bóc lột. Bỡi những lý do trên, hệ
thống kinh tế này có vẻ như công bằng và có sức thu hút
đối với tôi. Gần đây tôi cũng đã được đọc một bài
viết trên báo chí trong đó Ðức Giáo Hoàng cũng đã vạch
ra một vài khía cạnh tích cực của chủ nghĩa Mác-xít.
Qua
sự sụp đổ của một số chế độ cộng sản, trước tiên
tôi cho rằng các quốc gia như Liên Bang Sô Viết cũ, hoặc
Trung Hoa, thậm chí cả Việt Nam không phải là những quốc
gia theo chủ nghĩa Mác thật sự, bởi lẽ họ chỉ quan tâm
đến quyền lợi hẹp hòi của quốc gia mình hơn là quyền
lợi của Lao Ðộng Quốc Tế; đó là lý do tại sao luôn luôn
có những tranh chấp giữa họ với nhau, cụ thể như
giữa Trung Quốc và Nga Sô hoặc giữa Trung Quốc và Việt Nam.
Nếu những chế độ này thật sự được xây dựng trên căn
bản những nguyên lý của chủ nghĩa Mác, những sự xung đột
đó sẽ chẳng bao giờ xảy ra.
Tôi
nghĩ rằng điểm sai lầm chủ yếu của các chế độ cộng
sản là họ quá đặt nặng vào việc thủ tiêu giai cấp chủ
nhân, chủ trương đấu tranh giai cấp, và điều này đã khuyến
khích con người giảm thiểu lòng từ, tăng trưởng thù hận.
Cho dù mục tiêu cơ bản của họ có thể là lý tưởng phục
vụ đa số quần chúng, thế nhưng khi họ cố gắng thực hiện
điều đó, tất cả mọi năng lực của họ đã bị chệch
hướng và biến thành những hoạt động phá hoại. Một khi
cuộc cách mạng đã hoàn tất, giai cấp chủ nhân đã bị
tiêu diệt thì rồi cũng chẳng còn gì sót lại cho dân chúng;
đến lúc này cả nước trở nên nghèo đói và bất hạnh
thay điều này làm người ta tưởng rằng mục tiêu cơ bản
của người cộng sản là bần cùng hoá nhân dân. Một
cách tóm tắt, điểm tiêu cực chính của các chế độ này
là được xây dựng trên căn bản hận thù, không có chút
gì từ ái.
Sự
sụp đổ của chế độ này tại Sô Viết cũ theo tôi không
phải là sự thất bại của chủ nghĩa Mác mà là sự thất
bại của chế độ độc tài toàn trị. Bởi lẽ này, tôi
vẫn tự xem mình như là một người nửa Phật giáo, nửa
Mác-xít.
Ngài
đã lên tiếng kêu gọi cho hồi hương tất cả những người
Trung quốc đang sinh sống tại Tây Tạng. Như thế, một nước
Tây Tạng dân chủ, cởi mở trong tương lai có chỗ đứng
nào cho những người này không?
Tôi
nghĩ là chúng ta cần nên phân biệt những nhóm người Trung
Quốc khác nhau hiện đang sinh sống tại Tây Tạng. Có những
người đã đến định cư tại đây từ năm 1949; tiếp
theo là những người tự động hoặc được đưa đến theo
kế hoạch của nhà nước Trung Quốc; và cuối cùng là những
người tìm đến Tây Tạng, thường là do ý nguyện cá nhân
của họ, kể từ khi cái được gọi là “chính sách kinh
tế tự do” ra đời. Chúng ta cũng cần nên phân biệt những
người Trung Quốc biết nói tiếng Tây Tạng và kính trọng
nền văn hoá Tây Tạng -bởi vì nói cho cùng, tín ngưỡng Phật
giáo không xa lạ gì đối với họ- và những người chạy
đến Tây Tạng với mục đích chính là làm giàu chứ không
phải tìm kiếm nguồn mạch tâm linh phong phú tại đây. Như
thế, đối với những người kính ngưỡng đời sống tinh
thần của Tây Tạng, sự hiện diện của họ là điều hữu
ích. Nếu thành phần này không đông đảo tôi nghĩ là không
có lý do gì để không thể làm việc với nhau và tìm ra một
giải pháp cho họ tiếp tục sinh sống tại Tây Tạng. Thế
nhưng đối với tất cả những người cho rằng người Tây
Tạng là lạc hậu, dã man, dơ dáy và hôi hám (người Tây
Tạng chúng tôi cũng cho là người Tàu hôi hám như vậy, vì
họ ăn quá nhiều tỏi), thì tốt hơn hết là họ nên hồi
hương. Tại sao họ phải sống ở những nơi dơ dáy làm gì?
CUỘC
ÐẤU TRANH CHO TỰ DO
Thưa
Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, trong cuộc đấu tranh nhằm giải phóng
Tây Tạng, có phải là Ngài tuyệt đối chống lại phương
thức bạo động, hoặc ít ra theo Ngài bất bạo động là
con đường tốt nhất để đạt đến mục tiêu tối hậu?
Vâng,
tôi tuyệt đối chống lại phương thức bạo động. Những
năm trở lại đây, trong nhiều dịp người ta hỏi tôi rằng
tôi sẽ làm gì nếu một số người Tây Tạng vì tuyệt vọng
có thể trở thành bạo động, tôi luôn luôn trả lời rằng
nếu trường hợp như vậy xảy ra, tôi sẽ không còn một
lựa chọn nào khác hơn là từ chức và đứng qua một bên.
Tôi có lý do để tin tưởng vào đường lối bất bạo động;
và đó không phải là một niềm tin mù quáng. Trước tiên
tôi tin rằng bản tánh của con người là thiện lương và
từ ái. Thế nên vì lợi ích của chính chúng ta, phải
khuyến khích bản tánh này, và tạo cơ hội cho nó phát triển,
nẩy nở trong mỗi con người. Ngược lại, nếu chúng ta đi
vào con đường bạo động thì chẳng khác gì chúng ta đã
làm che lấp mặt tích cực của bản tánh con người, ngăn
cản không cho nó phát triển.
Ðệ
Nhất Thế Chiến chấm dứt với sự thảm bại của Ðức
Quốc, sự thảm bại này đã gây nên những hội chứng bi
thảm cho người dân Ðức, và đó chính là những hạt giống
ươm mầm cho trận Ðệ Nhị Thế Chiến. Trong bất cứ tình
huống nào, một khi bạo động thắng thế, người ta sẽ không
còn kiểm soát được tình cảm. Ðây là một điều rất nguy
hiểm và chắc chắn là nó sẽ dẫn đến những thảm kịch.
Ðó chính là những gì đang xảy ra tại Bosnia hiện
nay. Phương thức bạo động chỉ tạo ra thêm những vấn nạn
mới.
Trong
trường hợp của chúng tôi, điều quan trọng nhất là những
người Tây Tạng và những anh chị em Trung Quốc trên thực
tế luôn luôn vẫn là những người láng giềng thân hữu và
tình cảm đó cần phải được duy trì. Thế cho nên giải
pháp duy nhất cho Tây Tạng tương lai là học cách sống hoà
thuận với những người láng giềng của mình. Giải pháp
đó phải được xây dựng trên căn bản quyền lợi hổ tương
của hai nước. Do lựa chọn con đường bất bạo động, những
người Trung Quốc trong cũng như ngoài nước đã tỏ ra thiện
cảm và quan tâm đến lý tưởng đấu tranh của chúng tôi;
nhiều người đã thẳng thắn phát biểu rằng họ rất tán
trợ đường lối tranh đấu đó.
Như
vậy thì Ngài cũng không chấp nhận cả việc cầm vũ khí
chống lại Hitler?
Tôi
không chắc. Chúng ta cần phải đi vào chi tiết. Vào thời
điểm mà chủ nghĩa Quốc xã bám rễ và bắt đầu phát huy
sức mạnh, uy thế, nếu tôi ở vào thời điểm bấy giờ
tôi sẽ vận dụng mọi nỗ lực cá nhân của mình để tìm
cách ngăn chặn.
Cách
đây không bao lâu, lúc còn ở Ba Lan tôi có dịp thăm viếng
trại tập trung Auschwitz, nơi mà hàng ngàn người dân vô tội
đã bị Ðức quốc xã thủ tiêu. Tôi dừng lại trong giây
lát trước phòng hơi ngạt và khi nhìn thấy cái lò thiêu xác,
tôi đã không dấu được nỗi ngậm ngùi. Càng đau buồn hơn
khi tôi đứng trước cả một núi giày và tóc của nạn nhân.
Trong cái đống giày đó tôi nhìn thấy một đôi giày nhỏ,
một đôi giày đã bị thủng được vá lại, chắc là của
một đứa bé nghèo. Tôi tự hỏi mình tại sao họ lại nỡ
tâm tàn sát những người dân vô tội này? Tại sao? Hãy
tưởng tượng rằng trong thời điểm này, một bên là
một nhúm nhỏ lính mật vụ xung phong SS Ðức canh gác, còn
một bên là một khối lượng đông đảo những người Do
Thái, Pháp, Ba Lan đang bị cầm tù. Giả dụ rằng nếu lúc
đó ta có đủ điều kiện trong tay, chỉ cần loại trừ vài
người lính SS này, thì hàng ngàn người sẽ được giải
phóng, tự do, phải không? Nếu lúc đó tôi có vũ khí
trên tay, và tôi biết chắc chuyện như vậy sẽ xảy ra...
Tôi phải làm sao đây, thật là khó nói. Mà thôi, đó chỉ
là chuyện giả tưởng, cũng chẳng có ích lợi gì để nhắc
lại. Tuy nhiên tôi tin rằng nếu bạn ở trong hoàn cảnh đó,
chắc là bạn cũng sẽ đứng về phía với tôi.
Thưa
Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, có thể có nguy cơ những thông điệp
mà Ngài muốn rao truyền đến chúng tôi đã bị làm sai lạc
đi bởi các hệ thống truyền thông bao quanh Ngài?
Tôi
không nghĩ thế. Dĩ nhiên cũng có lúc một số câu, lời nói
của tôi đã bị xuyên tạc, thế nhưng nói chung phía truyền
thông đã dành cho tôi mọi sự thiện cảm và những đáp ứng
của họ rất tích cực.
Tôi
rất ngưỡng mộ tinh thần nghề nghiệp của giới báo chí
và tôn trọng quyền được chỏ mũi của họ vào công việc
của người khác, bởi vì tôi nghĩ rằng họ làm như thế
không ngoài mục đích phơi bày ra những vụ xấu xa tai tiếng
và ngăn ngừa sự nhũng nhiễu lạm quyền. Có nhiều người
rất thông minh và sở trường trong nghệ thuật dấu diếm
các việc làm bất chính. Bạn có thể tìm thấy điều này
trong giới chính khách cũng như thương gia và thỉnh thoảng
ngay cả trong địa hạt tôn giáo, hoặc trong giới giáo sư
đại học không chừng, ai mà biết được! Ðây là kết quả
của sự thiếu vắng ý thức kỹ luật, đạo đức của một
số người có một vị trí quan trọng trong xã hội. Giới
truyền thông báo chí rất tinh tường nhạy bén, có nghĩa là
họ có khả năng khám phá ra những tình huống như vậy, và
tôi nghĩ đây là một khía cạnh khá tích cực, bởi vì
nếu một người được coi là lương thiện, tất cả mọi
biểu hiện của họ cần phải nên trung thực. Nếu có
sự sai khác nào giữa hai khía cạnh này, cá nhân đó không
thể là người đáng tin cậy, họ chỉ tìm đủ mọi cách
để dối gạt kẻ khác. Thế nên tôi tin rằng giới báo chí
truyền thông đã hoạt động rất tích cực trên mặt phơi
bày sự thực này.
Ngài
có nghĩ rằng chính phủ Pháp rất đạo đức giả khi đã
không tiếp đón Ngài một cách chính thức, cũng như đã không
đối đầu một cách thẳng thắn rõ ràng với Trung Cộng về
vấn đề Tây Tạng?
Tôi
không nghĩ là người ta nên lên án một chính phủ vì những
việc như thế. Hãy lấy người Tây Tạng của chúng tôi làm
một thí dụ: Họ muốn rất nhiều, thế nhưng một số người
khác đang gánh vác trách nhiệm như chúng tôi, phải dựa
vào rất nhiều yếu tố để xem xét cân nhắc một vấn đề.
Một chính phủ cũng thế, những hành động của họ đều
phải dựa trên tình huống thực tại. Tôi không thể cáo buộc
một quốc gia trên căn bản cá nhân, thế nhưng tôi lên án
nền chính trị quốc tế một cách tổng quát: Có một cái
gì đó rất trục trặc trong đường lối, chính sách toàn
cầu.
Những
người mang tinh thần thực tiễn chính trị luôn luôn cho rằng
không có chỗ đứng cho yếu tố đạo đức trong chính trị.
Ðây là một quan niệm hoàn toàn sai lầm, bởi vì như một
hệ quả, một số các quốc gia nhược tiểu sẽ phải gánh
chịu những khổ nạn mà trong đó, những thành phần yếu
kém, bất hạnh nhất sẽ gánh chịu nhiều đau khổ nhất.
Cuối cùng với những chính sách như thế, các đại cường
về lâu về dài cũng không tránh khỏi bị công kích từ mọi
phía.
Tôi
xin được cống hiến cùng qúy vị một kinh nghiệm cá nhân.
Vài năm trước đây tôi có dịp viếng thăm Mạc Tư Khoa, ngay
sau cuộc cách mạng Tháng Tám. Sau đó khi rời AÂu Châu trở
lại Ấn Ðộ, tôi gặp một viên chức người Phi Châu cùng
đi chung một chuyến bay. Khi dừng lại ở Tân Ðề Li, chúng
tôi đã chuyện trò tán gẫu với nhau trong giây lát, và tôi
đã chia xẻ những cảm nghĩ của tôi với ông ta về những
biến cố vừa xảy ra tại Mạc Tư Khoa. Tôi cho biết rằng
mình đã rất hài lòng khi chứng kiến tình huống hiện nay
giữa hai siêu cường nguyên tử đã thay đổi, ít nhất là
trong một thời gian tới con người sẽ không còn lo sợ bởi
hiểm họa của một cuộc chiến tranh nguyên tử. Tôi nghĩ
là ông ta cùng chia xẻ những cảm nghĩ như thế. Nhưng thực
tế khác hẵn với điều tôi chờ đợi.
Vị
quan chức Phi Châu này giải thích với tôi rằng, trước và
trong thời gian Chiến Tranh Lạnh, các quốc gia của Thế Giới
Thứ Ba còn có chỗ đứng để vận động, gây ảnh hưởng
và có thể biết được những cái mà họ trông chờ thu hoạch
được. Nay thì những tụ điểm liên hệ đã biến mất
nhường chỗ cho một giai đoạn cực kỳ bất ổn mà họ phải
đương đầu. Tự nhiên tôi cảm thấy một mối thiện cảm
sâu xa đối với ông ta. Tôi luận ra rằng, tất cả đều
giống nhau, khối độc tài Ðông Âu tự gọi mình là “những-người-yêu-hòa-bình”
nhưng trong thực tế đã sử dụng phần lớn ngân sách của
họ cho việc chế tạo vũ khí, và khi làm như thế họ đã
hy sinh phúc lợi của dân tộc họ. Các quốc gia Tây phương,
dĩ nhiên không phải là không có sai lầm, nhưng may mắn được
sống dưới chế độ dân chủ mà óc sáng tạo của con người
có cơ hội và điều kiện phát triển một cách toàn diện,
đã đưa đến những phát kiến quan trọng trong các lãnh
vực kinh tế, giáo dục, khoa học. Dĩ nhiên chúng ta cũng đã
chứng kiến những tiến bộ khoa học lớn lao của Liên Bang
Sô Viết cũ, nhưng những thành tựu của họ thường liên
hệ với những hoạt động quân sự.
Thực
tế cho thấy thế giới bây giờ đã trở nên an toàn hơn.
Tuy nhiên đối với các quốc gia Thế Giới Thứ Ba, có phải
hình ảnh của Tây phương, cụ thể là Mỹ là hình ảnh biểu
trưng của những gì được gọi là dân chủ, tự do, của
phẩm giá con người? Không, không hoàn toàn như thế. Tại
sao? Tại vì họ bị chế ngự bởi tinh thần chính trị
chỉ biết phục vụ cho lợi ích của chính mình, nền
chính trị của những nhà chính khách chuyên nghiệp. Nếu những
nguyên tắc đạo lý được tôn trọng trong chính sách đối
ngoại, sẽ không bao giờ có những vấn nạn như thế xảy
ra. Ðây là điều sai lầm lớn lao cần phải được sửa chữa.
Tôi thường phát biểu với các người bạn Hoa Kỳ rằng:
Bây giờ thì quý vị đã là một siêu cường duy nhất, sự
thay đổi tùy thuộc ở qúy vị; qúy vị nên quay về
với những nguyên tắc của các nhà chính khách vĩ đại trong
lịch sử Hoa Kỳ như Jefferson hoặc Lincoln, những người biết
tôn trọng những giá trị của tự do và dân chủ, cũng như
đã chiến đấu để bảo vệ những giá trị đó.
Ðể
kết luận, một chính khách có cần thiết được hướng dẫn
bởi lòng từ bi?
Vâng.
Tôi nghĩ như thế. Nhưng phải là lòng từ bi thông minh, được
soi sáng bởi trí tuệ.