PHẦN
THỨ BA
BẤT
BẠO ÐỘNG:
MỘT
TẤM GƯƠNG ÐỂ NOI THEO
Tôi
chỉ là một tăng sĩ Phật giáo bình thường, và nếu như
có thể được quyền sống theo những sở thích của mình
có lẽ tôi đã lựa chọn cuộc đời ẩn cư tại một vùng
núi non cô tịch nào đó như một con nai bị trọng thương.
Thế nhưng, như một an bài, tôi được phong tước hiệu Ðạt
Lai Lạt Ma cùng với những bổn phận phải làm, và rồi nhân
dân Tây Tạng đã đặt tất cả niềm hy vọng lớn lao của
họ vào tôi. Phải chăng đây là nghiệp lực hay là kết quả
của những nguyện cầu của tôi trong quá khứ?
Dù
trường hợp nào đi nữa, là một người dân Tây Tạng, lẽ
tự nhiên tôi cảm thấy quan tâm đối với tất cả mọi chuyện
có liên quan đến quê hương mình, một đất nước hiện đang
trải qua một giai đoạn cực kỳ khó khăn trong lịch sử.
Trên bốn mươi năm qua, Tây Tạng đã phải gánh chịu những
đau thương cùng cực. Bạn là người đang có diễm phúc được
biểu lộ mối quan tâm của mình đối với lịch sử, văn
hoá của quốc gia mình cũng như có thể thụ hưởng chúng
trong một bầu khí hoàn toàn tự do. Không có chuyện như vậy
ở Tây Tạng. Thế cho nên hiện nay tôi đang phải gánh vác
một trách nhiệm tinh thần lớn lao, không phải chỉ đối
với nhân dân Tây Tạng, mà đồng thời còn là nghĩa vụ giải
bày một cách sáng tỏ cho những ai quan tâm đến vấn đề
Tây Tạng, bất cứ lúc nào tôi có dịp gặp gỡ họ, về
thực trạng hiện tại cũng như nêu bật những hoạt động
mà chúng tôi đang thực hiện nhằm giải quyết vấn nạn này.
Xã
hội cổ của Tây Tạng không hẵn là một xã hội hoàn chỉnh.
Ðó là một xã hội nông nghiệp và chăn nuôi dựa trên căn
bản của chế độ nông nô. Tuy nhiên nếu ta so sánh với các
xã hội đương thời như tại Trung Quốc và Ấn Ðộ, nó không
đến nổi quá khắc nghiệt mà ngược lại có phần từ ái
hơn. Tôi tin rằng một số các nền văn minh tối cổ, như
người da đỏ bản xứ tại Mỹ chẳng hạn, cũng bày tỏ
lòng tôn kính đối với đất đai, thiên nhiên, cây cối. Trong
văn hóa Tây Tạng, mối liên hệ giữa chúng tôi với thiên
nhiên, kể cả loài vật rất là an lạc. Chúng tôi sống rất
hòa điệu với thiên nhiên. Khi Tây Tạng tiếp xúc với Phật
giáo, xã hội này nói chung đã được thẩm thấu thêm tinh
thần từ bi và cởi mở hơn. Ðó là một xã hội trong đó
con người cảm thấy mình được sống một cách thoải mái,
một xã hội mà cho mãi tận đến hôm nay vẫn còn nuôi dưỡng
được những nguồn mạch truyền thống phong phú có khả năng
xoa dịu những nỗi thống khổ tinh thần của số đông người.
Hơn thế nữa, xã hội này chắc chắn là có đủ tư cách
để phát biểu về những vấn nạn hiện nay, đặc biệt là
trên các lãnh vực môi sinh và bạo động. Ðể kết luận,
xin được nói rằng việc bảo tồn nền văn hóa và truyền
thống Tây Tạng không chỉ đơn thuần là trách nhiệm của
thiểu số một vài ngàn người Tây Tạng mà đó là mốiquan
tâm chung của cả toàn thế giới.
TÂY
TẠNG GIỮA HAI GIÒNG NƯỚC: KHÁNG CHIẾN VÀ BẤT BẠO ÐỘNG
Thưa
Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, đa phần người Tây phương thường
hiểu về Phật giáo qua nguyên lý của sự tái sanh, tuy nhiên
chúng tôi không phải lúc nào là cũng rành rẽ về vấn đề
này. Xin Ngài vui lòng giải thích thêm cho chúng tôi biết tái
sanh gồm những yếu tố gì?
Có
rất nhiều tôn giáo và truyền thống tâm linh trên thế giới
này mà tạm thời ta có thể phân chia thành hai nhóm chính:
một số thì tin vào chuyện tái sanh, tức là tin có những
đời sống được kế tiếp nhau; số còn lại thì không. Ðối
với nhóm thứ nhất, người ta tin chắc rằng sắc uẩn -tức
là toàn thể xác thân con người- chỉ hạn định trong một
kiếp sống và là chủ nhân của kiếp sống đó. Còn cái cá
thể, cái ngã hay là giòng sinh thức thì được luân lưu từ
đời sống này qua đời sống khác.
Khi
chúng ta nói đến giòng sinh thức, một câu hỏi đặt ra, như
vậy thức là cái gì? Thức không phải là một thực thể
đơn giản và thống nhất. Thức có nhiều mức độ khác nhau:
thô thiển, vi tế và cực kỳ vi tế. Dạng thô thiển của
thức liên hệ với những sinh hoạt của thể xác, sắc uẩn,
của đời sống hàng ngày; cũng giống như sự phân nhiệm
trong não bộ đảm bảo rằng mọi bộ phận đều hoạt động
theo đúng chức năng của mình. Có thể nói đây là dạng dễ
thấy và dễ hiểu nhất, nó đồng thời cũng tan biến cùng
với xác thân khi ta chết.
Tuy
nhiên còn có một dạng thức vi tế hơn không cần đến sự
trợ lực của vật chất hay bất kỳ mối liên hệ vật
chất nào với thể xác con người. Ðây là dạng thức
mà chúng tôi tin rằng vẫn còn tiếp tục hiện hữu sau khi
thể xác ngưng hoạt động, nghĩa là sau khi ta chết. Nếu chúng
ta cố gắng tìm hiểu nguồn gốc của dạng thức vi tế này,
bởi vì dĩ nhiên nó không thể tự dưng xuất hiện, mà phải
có nguyên nhân mang cùng bản chất như chính nó- tức là cái
khoảnh khắc trước khi dạng thức này xuất hiện. Nếu chúng
ta muốn đi trở ngược lại để tìm tận cỗi nguồn nguyên
uỷ của cái khoảnh khắc của dạng thức này, tôi e rằng
chúng ta không thể làm được, vì như vậy chúng ta đã dựa
trên tiền đề rằng cái thức này đã được sinh ra ở một
thời điểm nhất định hoặc là sản phẩm cuả một cái
gì đó thuộc loại vô tình. Thế cho nên khi nói về thức,
chúng ta cho rằng nó không có điểm khởi đầu. Một khoảnh
khắc của ý thức được sinh ra không bởi một nguyên nhân
nào khác hơn giống như chính nó: tức là một khoảnh khắc
ý thức khác, mà không thể là từ loài vô tình nào.
Ðiều này cắt nghĩa cho chúng ta hiểu về nguyên lý tái sanh
trong Phật giáo.
Một
vị Ðạt Lai Lạt Ma theo truyền thống được coi như là sự
tái sanh của vị tiền nhiệm đã mất. Nếu theo đúng nguyên
tắc này, có thể nào trong tương lai chúng ta có một vị Ðạt
Lai Lạt Ma thay vì nam giới mà là một phụ nữ hoặc không
phải là người Tây Tạng?
Vâng,
đây là điều mà ta có thể hình dung được; cả hai đều
có thể xảy ra. Vị Ðạt Lai Lạt Ma thứ tư, Yonten Gyatso,
là một người Mông Cổ. Lần đầu tiên trong lịch sử
Tây Tạng, đã có một nghi thức, nếu không nói là nghi lễ
công quyền, công nhận sự tái sanh của một vị lạt ma quá
cố là ngài Ðệ Nhất Karmapa Rinpoche, một vị lạt ma vĩ đại
của Tây Tạng. Cũng cùng một thời gian đó, một giòng tái
sanh truyền thừa của một bậc thánh lưu vĩ đại cũng
được bắt đầu, mà một người phụ nữ có tên là Samding
Dorje Pamo, đã được liên tục tái sanh suốt qua lịch sử
Tây Tạng. Bà được công nhận là người đã đạt đến
một trình độ tu chứng tâm linh vượt bực, và đồng thời
cũng là người chiếm một ngôi vị quan trọng trong hệ thống
đẳng cấp tinh thần của Phật giáo Tây Tạng.
Thế
nên, nếu phong trào nữ quyền tiếp tục được phát triển,
một ngày nào đó ta sẽ có một vị Ðạt Lai Lạt Ma phụ
nữ! Không có trở ngại nào trên mặt lý thuyết.
Ngài
đã từng công khai tuyên bố là sẽ từ bỏ phương thức chỉ
định người thừa kế. Tại sao, và ngài sẽ thay thế nó
bằng cái gì ?
Kể
từ lúc bắt đầu cuộc đấu tranh giải phóng Tây Tạng, đã
có một vài nguồn tin cố gắng tung ra để xuyên tạc việc
làm của chúng tôi. Những nguồn tin này đã nỗ lực phổ
biến cho mọi người tin rằng cuộc tranh đấu của chúng tôi
không có mục đích nào khác hơn là phục hồi lại một hệ
thống quyền lực lỗi thời. Ðây là điều không đúng sự
thực. Dù chỉ mới bỏ xứ đi tỵ nạn từ năm 1959, nhưng
đến năm 1962 chúng tôi đã bắt đầu cho tiến hành thủ tục
dân chủ hóa xã hội Tây Tạng. Một uỷ ban soạn thảo hiến
pháp cho Tây Tạng tương lai đã được thành lập và tôi đã
cho thêm vào bản Hiến pháp này một điều khoản nói rõ rằng,
với sự chấp thuận của đa số hai phần ba, quốc hội có
quyền dẹp bỏ văn phòng Ðạt Lai Lạt Ma. Năm 1969 tôi đã
ra một tuyên bố chính thức nêu rõ văn phòng Ðạt Lai Lạt
Ma và sự tồn tại của nó hoàn toàn tùy thuộc vào ý nguyện
của nhân dân Tây Tạng. Trong một bản dự thảo liên quan
đến tương lai của Tây Tạng, tôi cũng đã bày tỏ một cách
rõ rằng tôi sẽ không đảm nhiệm một vai trò chính trị
nào trong quốc gia Tây Tạng tương lai mà nó sẽ là một chính
phủ dân chủ do dân chúng bầu lên. Nếu thể chế Ðạt Lai
Lạt Ma không còn phù hợp trong tương lai, nó sẽ không có
lý do để hiện hữu.
Ngài
thường hay tuyên bố rằng Phật giáo, giống như Cơ Ðốc,
Do thái giáo, Hồi giáo là một trong những tôn giáo lớn của
thế giới. Nhưng có lúc Ngài lại cho rằng Phật giáo không
phải là một tôn giáo. Xin Ngài vui lòng làm sáng tỏ điều
mâu thuẫn này.
Trước
tiên, nếu chúng ta y cứ vào những định nghĩa trong một số
từ điển nói rằng tôn giáo chủ yếu bao hàm niềm tin vào
một đấng Thượng Ðế Sáng Tạo, và như vậy ta có thể
kết luận rằng Phật giáo không phải là một tôn giáo. Ðây
là lý do tại sao mà một số các học giả, nhà khoa học đồng
thời cũng coi Phật giáo như là một khoa học về tâm
trí.
Tuy
nhiên nếu chúng ta định nghĩa tôn giáo như là một phương
thức tu tập tâm linh thông qua cầu nguyện và thiền định
tìm kiếm một hệ quả cho đời sau, cái mà chúng tôi gọi
là niết bàn chẳng hạn, thì trong trường hợp này ta có thể
xem Phật giáo là một tôn giáo. Hơn thế nữa, nó đồng thời
vừa là một tôn giáo, một triết học, và là một khoa học.
Tôi
cũng xin được thêm rằng mối liên hệ giữa những tôn giáo
này đặt căn bản hầu như hoàn toàn vào đức tin, dành ít
chỗ đứng cho lý trí; trong khi đó những người theo chủ
nghĩa duy vật thực tiễn nhất thì lại rất giáo điều khó
khăn. Phật giáo, tôi nghĩ rằng, đứng đâu đó giữa hai thái
cực này. Từ quan điểm của những người duy vật bảo thủ,
Phật giáo là một tôn giáo thế nên không có chỗ đứng trong
hệ thống tư tưởng của họ. Từ quan điểm của những tôn
giáo đặt nền tảng căn bản thuần vào đức tin, Phật giáo
không được coi là một tôn giáo mà là một loại chủ nghĩa
phiếm thần, hay là một khoa học tâm trí. Vì những lý do
này mà Phật giáo có cơ hội đứng ra một bên, đâu đó ở
quảng giữa và có thể nhờ đó mà trở thành một chiếc
cầu nối liền giữa hai khuynh hướng cực đoan.
Mặc
dù có sự cách biệt văn hoá lớn lao, càng ngày càng có nhiều
người Tây phương khao khát đời sống tâm linh đã quay tìm
về với Phật giáo thay vì Cơ Ðốc giáo. Ngài có thể giải
thích hiện tượng này không?
Tôi
không nghĩ là chúng ta không nên đi đến một kết luận quá
nhanh chóng như thế bởi vì các quốc gia Tây phương chủ yếu
vẫn ở trong vòng ảnh hưởng của Cơ Ðốc giáo và sẽ tiếp
tục như thế. Hãy nhìn vào Tây Tạng, tuy là một quốc gia
Phật giáo, tuy nhiên hàng thế kỷ qua các tôn giáo ngoài Phật
giáo cũng đồng thời có mặt, Hồi giáo chẳng hạn, và kể
từ đầu thế kỷ này cũng bắt đầu có một số Cơ Ðốc
giáo. Thế nên tôi nghĩ là trong số hàng triệu người Tây
phương, nếu có một số ít người bị thu hút bởi tư tưởng
Phật giáo thì cũng là chuyện rất bình thường.
Ngược
lại, người Tây Tạng có thể có được những lợi lạc
nào mang lại từ phía Cơ Ðốc?
Dĩ
nhiên! Qua những điều mà tôi hiểu biết về Cơ Ðốc, thì
đã có một số lượng rất phong phú của những truyền thống
tuyệt vời trong tôn giáo này. Tôi cũng đã có dịp gặp gỡ
rất nhiều vị tu sĩ, nữ tu Cơ Ðốc giáo, những người đã
gây một ấn tượng sâu xa đối với tôi qua việc họ đã
gánh vác những trách nhiệm lớn lao trên các lãnh vực giáo
dục và y tế -trong ý hướng phụng sự nhân loại trên khắp
toàn thế giới. Một khía cạnh tích cực khác của truyền
thống Cơ Ðốc giáo đó là việc đào tạo chủng sinh được
kéo dài trong một thời gian khá lâu và rất nghiêm nhặt, như
vậy người chủng sinh đã có đủ thời gian để cần nhắc
kỹ lưỡng trước khi được thụ phong linh mục. Trong khi đó
về phía Phật giáo, nhiều khi có rất nhiều tăng sĩ được
thụ giới đàn trước khi họ có những suy nghĩ về vấn đề
này.
Giáo
hội Thiên chúa giáo La Mã, thông qua Ðức Giáo hoàng, đã phát
biểu một quan điểm khá bảo thủ về một số vấn đề
xã hội, đặc biệt là lãnh vực tính dục. Thí dụ như Giáo
hội lên án phá thai hoặc sử dụng “áo mưa“ để ngăn
ngừa bệnh AIDS. Quan điểm của Ngài như thế nào về những
vấn đề này ?
Về
vấn đề phá thai, Phật giáo quan niệm rằng sinh mạng của
tất cả mọi con người đều rất qúy giá. Trên quan điểm
này, Phật giáo không tán thành việc hạn chế sinh sản. Tuy
nhiên với đà gia tăng dân số hiện nay và các nguồn tài
nguyên thiên nhiên rất có giới hạn, vấn đề đặt ra hiện
nay là: năm tỷ người đang sống trên trái đất này có hoàn
toàn được hạnh phúc hay không? Hố sâu ngăn cách về mức
sống giữa các quốc gia miền Bắc và miền Nam không những
mang tính cách bất công trên mặt đạo đức mà đồng thời
cả trên mặt thực tiễn. Ðây chính là nguồn gốc của các
vấn nạn và những khổ đau triền miên mà ta không thể không
nghĩ tới một cách nghiêm chỉnh. Thế nhưng, theo các chuyên
gia, nếu mức sống của các quốc gia phía Nam được nâng
lên ngang tầm với các quốc gia phía Bắc, những tài nguyên
của thế giới sẽ bị cạn nguồn. Sự khảo sát này đã
được dựa trên những dữ kiện khoa học. Thế nên ta đi
đến một kết luận khá hiển nhiên là phải giới hạn bớt
những người sắp sinh ra đời.
Trở
lại vấn đề phá thai: Một cách tổng quát, phá thai có nghĩa
là giết người, cho nên đây là một hành động tiêu cực.
Tuy nhiên không phải là không có những trường hợp ngoại
lệ, thí dụ như đó là một quái thai hay sinh mạng của người
mẹ ở trong tình trạng hiểm nguy -nhưng xin nhớ cho rằng đây
chỉ là những biệt lệ. Thế nên quan điểm chung của Phật
giáo và ngay cả chính bản thân tôi cũng luôn cổ võ cho những
biện pháp bất bạo động trong việc kiểm soát sinh sản.
Tôi cũng từng khuyến khích rằng, những phương cách tốt
nhất của lối kiểm soát sinh sản bất bạo động là nên
có thêm nhiều tu sĩ và nữ tu!
Một
trong những vấn đề tranh luận chính đang chia rẽ Giáo hội
Thiên chúa giáo là vấn đề đời sống độc thân của tu
sĩ, nhưng các tăng sĩ của truyền thống Phật giáo Tây Tạng
cũng sống độc thân. Theo ý kiến của Ngài, phải chăng độc
thân là điều cần yếu cho cuộc sống tu sĩ?
Trong
rất nhiều tôn giáo và truyền thống tâm linh, độc thân được
coi như là một yếu tố khá quan trọng. Nhưng dĩ nhiên đây
hoàn toàn chỉ là vấn đề chọn lựa của cá nhân và mọi
người đều có quyền tự do tuân theo hay không.
Phật
giáo nhận thức rằng nguyên nhân chính gây nên khổ đau là
lòng tham ái, mê đắm, những yếu tố tinh thần luôn quấy
nhiễu và làm rối rắm tâm ta. Trong số những yếu tố tinh
thần tiêu cực này, những cái được coi như năng động và
độc hại nhất là thù ghét và chấp trước. Hậu quả độc
hại của lòng oán ghét và hận thù là điều quá hiển nhiên
đối với mọi người. Thế nhưng chấp trước và tham ái
thường được phát triển cùng với sự phản ứng của lòng
thù ghét. Một trong những mục tiêu chính của việc tu dưỡng
tâm linh là tìm ra những phương thuốc nhằm chế ngự những
yếu tố quấy nhiễu tâm hồn, tức là thù ghét và chấp trước.
Có rất nhiều hình thức chấp trước, trong đó những loại
liên hệ với những kinh nghiệm của ngũ quan thường là nguyên
nhân gây nên những khổ đau lớn lao nhất cho con người mà
hiển nhiên nhất là chấp trước vào khoái lạc tình dục.
Ðó là lý do tại sao Phật giáo ca ngợi những đức hạnh
của trinh tiết và sự tiết dục, cũng như không chấp
nhận bất cứ hình thức liên hệ tình dục không đúng
đắn nào.
ÐANG
VÀ SẼ MÃI MÃI
LÀ
NGƯỜI TÂY TẠNG
Thưa
Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, Ngài đã từng lên án Trung Cộng tìm
đủ mọi cách để huỷ diệt nền văn hoá Tây Tạng. Họ
đã thực hiện điều đó như thế nào và theo ý kiến của
Ngài liệu họ có đạt được mục tiêu đó hay không?
Kể
từ khi xâm chiếm Tây Tạng, bốn mươi năm trước đây, cho
đến nay Trung Cộng đã sử dụng đủ mọi phương thức ở
trong nhiều thời điểm khác nhau. Trong những năm giữa thập
niên năm mươi, họ đã cho hủy diệt hầu hết các tu viện
chùa chiền, loại trừ các thành phần trí thức, cư sĩ trung
kiên, cũng như tăng sĩ bằng cách bỏ tù, tập trung lao động
cải tạo kể cả hành quyết họ trước công chúng. Rồi đến
thời Cách Mạng Văn Hóa; mà tôi nghĩ là mọi người đều
biết rõ những việc mà họ đã làm. Cuối cùng là cả một
chiến dịch tuyên truyền bôi nhọ cho rằng văn hóa của Tây
Tạng là lạc hậu, đen tối, ác độc và vô giá trị, tất
cả những gì thuộc về Tây Tạng đều là thứ vô dụng,
chẳng có gì để phải quan tâm. Tôi nghĩ là bây giờ họ
không còn sử dụng các phương sách này nữa.
Kể
từ giữa thập niên tám mươi, Trung Cộng đã bắt đầu đổi
giọng và chính thức tuyên bố rằng văn hóa Tây Tạng là
một nền văn hoá cổ truyền, có giá trị lớn, cần phải
được bảo tồn, đó là phương thức mà họ đang sử dụng
hiện nay. Họ cũng đã cho dựng lên những bảng khẩu hiệu
bằng tiếng Tây Tạng dọc theo đường phố và ngay cả
ra lệnh cho người Trung quốc sinh sống tại đây học tập
ngôn ngữ Tây Tạng. Tuy nhiên đây chỉ là bề mặt, trong
thực tế họ ra sức tăng cường ảnh hưởng của Trung quốc
cụ thể qua học vấn và thi cử, những kiến thức liên
quan đến Trung quốc mới là trọng tâm. Cũng xin được lưu
ý rằng giảng khoá liên quan đến truyền thống Tây Tạng
rất là nghiêm túc và đòi hỏi thời gian học tập, có khi
kéo dài cả hai, ba chục năm để hoàn tất. Bây giờ ở Tây
Tạng hầu như không còn nơi nào người ta có thể theo đuổi
những lớp học như thế từ lúc khởi đầu cho đến khi hoàn
tất. May ra chỉ còn ở những vùng thật xa xôi hẻo lánh,
nơi mà nhà cầm quyền Trung Cộng chưa với tay đến được.
Kết quả là, trình độ học vấn truyền thống tại Tây Tạng
đang xuống đến mức thấp nhất, đó là lý do khiến hàng
ngàn người trẻ Tây Tạng đã không còn một chọn lựa nào
khác hơn là tìm đến Ấn Ðộ để theo đuổi việc học tập
nghiên cứu tại các tu viện lưu vong.
Như
vậy, mặc cho những tuyên truyền mà mọi người đều biết,
thực tế là đang có một nỗ lực đầy tính toán nhằm thủ
tiêu nền văn hoá của chúng tôi. Cho dù có chủ mưu hay không,
sự xâm lăng của thực dân Trung Cộng là nguyên nhân chính
gây nên nạn diệt chủng nền văn hoá Tây Tạng.
Tôi
xin nêu ra một dẫn chứng cụ thể. Một người Tây Tạng
đang sống tại Ấn Ðộ, gần đây đã có dịp trở về Tây
Tạng để thăm viếng cha mẹ. Khi dạo quanh khu phố cổ của
thủ đô Lhasa, khu vực chung quanh ngôi tự viện trung ương,
nơi sinh sống của đa số người Tây Tạng, điều làm cho
anh ta ngạc nhiên nhất là hầu như mọi người ở đây đều
ăn mặc giống như người Trung Quốc và đều nói tiếng Trung
quốc. Bất chợt anh ta cố ý la lớn lên bằng tiếng
Tây Tạng và khi thấy mọi người có vẻ chú ý, anh ta tiến
đến họ và hỏi lý do tại sao họ lại nói tiếng Trung quốc.
Mọi người đều cho biết rằng nếu không sử dụng ngôn
ngữ Trung quốc, họ sẽ bị trừng phạt,và hơn thế nữa
việc nói tiếng Trung quốc làm cho họ cảm thấy được bình
đẳng ngang với kẻ thống trị.
Thưa
Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, Ngài có cảm tưởng thế nào đối
với những kẻ đang gây ra thống khổ cho nhân dân Tây Tạng?
Dĩ
nhiên đôi lúc tôi cũng cảm thấy khó chịu, tuy nhiên là một
người đang thực hành giáo lý nhà Phật, do quán chiếu, mình
có thể có nhiều lý do để nhìn một cách sâu sắc hơn
đối với những kẻ đang gây nên những vấn nạn, khổ đau
cho kẻ khác. Chúng ta có nhiều lý do để quan tâm đến những
kẻ đang xâm lăng gây hấn hơn là nạn nhân của họ.
Tại sao như thế ? Bởi vì người đang gây ra những vấn
nạn hiện nay tức là đang tạo tác ra một tiến trình nghiệp
lực mà rồi chắc chắn họ sẽ thọ lãnh quả báo xấu ác
trong tương lai; trong khi đó nạn nhân chỉ là người đang
nhận chịu khổ đau do hậu quả của những hành động tiêu
cực trong quá khứ. Thế cho nên đối với nạn nhân, qủa
báo nay đã chấm dứt. Nếu suy nghĩ theo cách này, tôi có thể
phát triển được lòng từ của mình đối với những người
này.
Thưa
Ngài, sự khác nhau trong lối sống của người Tây Tạng lưu
vong và những người còn ở lại trong nước phải chăng là
một nguy cơ khi đã tạo ra một khoảng cách văn hoá giữa
hai nhóm người này?
Không,
Tôi không nghĩ rằng đó là một vấn nạn. Ngay cả những
người Tây Tạng tại Ấn Ðộ cũng đã có những đời sống
khác nhau, những kiến thức khác nhau do việc tiếp thu những
thông tin từ thế giới bên ngoài. Sự khác biệt là điều
rất hiển nhiên. Mặc dù sống đời tỵ nạn, nói chung là
chúng tôi hoàn toàn thụ hưởng một cuộc sống tự do. Tuy
nhiên chúng tôi chỉ có 130,000 người, trong khi trong nước
có đến 6 triệu người. Ðó là lý do mà tôi luôn nói rằng
họ mới là những người lãnh đạo, những người chủ
của tôi. Họ là một tập thể đông đảo, trong khi chúng
tôi chỉ là một bộ phận nhỏ của cái phương trình này.
Một cách tóm tắt, tôi không thấy bất cứ vấn nạn nào
trong tương lai. Dĩ nhiên có thể là một ngày nào đó
được trở về Tây Tạng, một số người sẽ cảm thấy
khó khăn trong việc thích nghi vời đời sống ở đây và thích
sống ở ngoại quốc, tuy nhiên đó không phải là một vấn
nạn.
Trên
bình diện cá nhân, Ngài cảm thấy liên hệ chặt chẽ với
những gì được mang lại từ thế giới Tây phương?
Ngay
từ thuở thiếu thời tôi đã luôn bị quyến rũ bởi những
tiến bộ vật chất và thành tựu của nền khoa học kỹ thuật
phương Tây. Ðiều đập vào mắt tôi trước tiên là tinh thần
ham học hỏi của người Tây phương. Chẳng hạn như bất
cứ lúc nào tôi nói chuyện về Phật giáo, tất cả quý vị
đều đem giấy bút ra để ghi chép hoặc mở máy thu băng.
Người Tây Tạng, Trung Hoa và Ấn Ðộ thì không như thế,
tôi để ý rằng họ có thể lắng nghe tôi một cách thành
kính, nhưng chẳng có ai bận tâm ghi chép. Họ ngồi đó
một cách yên lặng, có vẻ như đã biết hết tất cả những
điều tôi nói!
Tôi
cũng luôn luôn thán phục thái độ làm việc khoa học trung
thực trên lãnh vực nghiên cứu trong đó tinh thần vô tư,
đầu óc rộng mở, kể cả hoài nghi đã đóng một vai trò
rất quan trọng. Phật giáo cũng có một đường lối tiếp
cận như thế, đặc biệt là trong truyền thống Ðại
Thừa, mà nguyên tắc căn bản là không chấp nhận bất cứ
tín điều nào một cách mù quáng. Mọi việc phải được
kinh qua kinh nghiệm và thực chứng. Cho đến khi nào mọi việc
sáng tỏ và có tính thuyết phục ta mới nên chấp nhận chúng.
Ðây là những gì mà tôi nghĩ là mặt tích cực của
phương Tây.
Thế
nhưng nếu qúy vị hỏi tôi thế còn mặt tiêu cực là gì...
Ðiều tôi nói ra có thể là không hoàn toàn đúng hẵn đối
với các người bạn Tây phương, nhưng thỉnh thoảng tôi để
ý là qúy vị thiếu tinh thần kiên nhẫn. Tất cả quý
vị đều quen với đời sống máy móc tự động và thường
là hoàn tất mọi việc một các dễ dàng. Thế nên qúy vị
dễ sinh ra tật hư là vậy. Tuy nhiên điều này cũng đã không
hề ngăn cản được rằng kiên nhẫn vẫn là một cái gì
đó rất hữu ích cho đời sống con người. Trong xã hội Tây
phương người ta thường có thói quen khi phê phán một cái
gì đó thường hay quên đi tính cách tương đối của sự
việc. Bạn không thể kết luận một vật là hoàn toàn một
trăm phần trăm đen hay một trăm phần trăm trắng, một trăm
phần trăm tốt hay một trăm phần trăm xấu. Mọi việc không
bao giờ giản đơn như thế: chúng có mặt tích cực đồng
thời cũng có mặt tiêu cực. Thế nên theo tôi một thái độ
được coi là thực tế và hợp lý khi nhìn sự việc là, nếu
mặt tích cực trội hơn ta xem chúng là tốt và ngược lại.
Rút
tỉa kinh nghiệm, từ chỗ đứng hôm nay, Ngài nhìn về Tây
Tạng trước năm 1950 như thế nào?
Dĩ
nhiên là có một số mặt hạn chế và lạc hậu nhưng không
phải là không có những khía cạnh tích cực. Một số người
có thói quen mô tả xã hội cổ của Tây Tạng như là một
thứ Shangri-la, tức là thiên đường hạ giới, dĩ nhiên đây
là chuyện phóng đại. Một số khác thì xem đó chẳng khác
gì địa ngục trần gian, cũng là chuyện phóng đại nốt.
Càng
có dịp gặp gỡ những con người và những nền văn hoá khác
biệt trên thế giới tôi lại càng nhận ra Tây Tạng có một
nền văn minh tối cổ, phong phú và gạn lọc biết chừng nào,
nền văn hoá đó đã góp phần vào việc bảo tồn sự an bình
tâm hồn của con người, và như thế đó là khía cạnh khá
tích cực. Có thể là vì nền văn hoá Tây Tạng được
xây dựng trên căn bản những giáo lý của Ðức Phật, vốn
trưởng dưỡng mối liên hệ hòa điệu và an bình giữa con
người và môi trường sống. Mặc dù người Tây Tạng không
hoàn toàn ăn chay trường, nhưng họ đã làm đủ mọi cách
để bảo vệ muông thú , chim chóc, cá tôm. Thời xưa luật
lệ của chính phủ còn cấm cả việc săn bắn, đánh cá,
bẩy chim. Chỉ có một số người Gurkhas, gốc Népal là được
miễn trừ không bị chi phối bởi luật lệ Tây Tạng, có
nghĩa là họ có thể đánh cá và săn bắn, còn người
Tây Tạng , đặc biệt là vùng trung du, đã bị cấm chỉ,
và tôi cho rằng đó là một biện pháp rất tốt. Ở vào thời
điểm mà chúng tôi chưa hề bao giờ biết đến những khái
niệm về “môi sinh”, “sinh thái”, nhưng chúng tôi đã
cho áp dụng những biện pháp này một cách tự động.
Ngay
cả nhìn về mặt hệ thống xã hội, tuy lỗi thời và phong
kiến, nhưng nếu ta so sánh với Ấn Ðộ và Trung Quốc
cùng trong thời điểm này, nó không những ít khắc nghiệt
mà lại có phần nhân ái hơn. Cụ thể như Trung Quốc
trong thời gian này tục lệ bó chân phụ nữ hoặc thiến một
số người thành hoạn quan rất khá phổ biến, trong khi đó
những việc như thế không hề được diễn ra tại Tây Tạng.