NHÂN
QUYỀN
VÀ
BẤT BẠO ÐỘNG
Hôm
nay chúng ta nói chuyện về nhân quyềnvà bất bạo động.
Cá nhân tôi thành thật mà nói không xem việc thực hành bất
bạo động là một hành động duy nhất để chống lại bạo
động. Ðối với tôi, bất bạo động chỉ xứng đáng được
coi là chủ nghĩa hoà bình bất bạo động khi nó được xây
dựng trên lòng nhân ái và vị tha. Vấn đề nhân quyền cũng
thế.
Xa
lìa khổ đau và an hưởng hạnh phúc là nỗi khát vọng chung
của tất cả mọi con người. Khi kinh nghiệm bản thân cho
ta những khả năng để hiểu được rằng ta không cô đơn
trong ước vọng xa lánh khổ đau và được sống hạnh phúc,
lúc đó ta sẽ có đủ năng lực để phát triển lòng từ
bi, tức là ước nguyện được thấy mọi người giải thoát
khỏi đau khổ. Ðồng thời ta cũng sẽ học được ý nghĩa
của thương yêu, tức là ước nguyện được thấy mọi người
tìm được hạnh phúc. Những khái niệm căn bản này có thể
tạo cho ta mối quan tâm và chú trọng đặc biệt hơn về nhân
quyền. Thế cho nên tôi nghĩ rằng tôn trọng nhân quyền và
thực thi bất bạo động có mối liên hệ mật thiết với
yêu thương và từ bi.
Theo
thiển ý của tôi, phẩm chất của lòng vị tha này là cơ
bản. Không những nó cần thiết cho việc thiết lập mối
quan hệ tốt đẹp giữa các tôn giáo trên thế giới, mà còn
ươm đầy cuộc sống đời thường của ta với an lạc và
hạnh phúc. Thế nên thảo luận về những chủ đề này, tôi
nghĩ là mình có thể bắt đầu bằng cách nói về lòng
yêu thương.
Xin
được trở lại với đề tài ban đầu. Không cần biết đến
chủng tộc, học vấn, tôn giáo, mức sống của chúng ta như
thế nào, chúng ta đều bình đẳng khi mới sinh ra -chúng ta
đều là những con người và đều có chung ước vọng bẩm
sinh là xa lánh khổ đau và tìm kiếm hạnh phúc. Hơn thế nữa,
con người đều có quyền được sinh ra để sống hạnh phúc
và giải phóng khỏi mọi khổ đau. Tuy nhiên trong thực tế,
mặc dù mọi người đều chia xẻ ước vọng này một cách
đồng đều, bản chất của xã hội cho thấy có người lại
được hưởng nhiều lợi quyền hơn kẻ khác và thông thường
kẻ nghèo thường hay bị thiệt thòi, lợi dụng. Dù đứng
trên quan điểm đạo đức hay thực dụng, đây là một sai
lầm lớn lao. Thực tế cho thấy trong bất kỳ xã hội nào
hễ càng bất công bao nhiêu thì càng có nhiều người khốn
khó bấy nhiêu, những vấn nạn xã hội sẽ có cơ bùng
nổ và xã hội đó chắc chắn sẽ ngày càng bệnh hoạn hơn.
Ðể
bắt đầu, điều quan trọng là bạn phải thấu hiểu được
rằng hạnh phúc của chính cá nhân bạn liên quan đến người
khác biết chừng nào. Con người tự bản chất là một sinh
vật xã hội và hạnh phúc của mỗi chúng ta đều tùy thuộc
vào kẻ khác. Trong một xã hội mà phúc lợi của mọi người
đều được đảm bảo và một bối cảnh tốt đẹp được
xây đắp, dĩ nhiên sự lương hảo của mỗi cá nhân cũng
sẽ được triển khai. Không bao giờ có chuyện hạnh phúc
của mỗi cá nhân hoàn toàn độc lập với kẻ khác; thế
nên nếu chúng ta đảm bảo được phúc lợi cho tha nhân, có
nghĩa là cùng một lúc chúng ta đang bắt tay tạo dựng nên
những hoàn cảnh tốt đẹp cho phúc lợi của chính cá nhân
mình.
Mỗi
cá nhân thường cảm thấy mình hạnh phúc nhất, thư giản
nhất khi họ có thể chia xẻ được niềm hạnh phúc và sự
tin cậy với kẻ khác, đó là bản tánh chung của con người.
Chúng ta cần sự nâng đỡ của đồng loại và mong muốn có
nhiều bạn bè. Mỗi khi chúng ta có dịp được cười đùa
với nhau, ta vui hưởng niềm sảng khoái chung. Cá nhân tôi
luôn luôn thích thú mỗi lần gặp bạn bè cho dù họ có mang
lại lợi ích cho tôi hay không. Thực tế cho thấy cười chính
là liều thuốc bổ, mang lại cho ta niềm thư giản một cách
tự nhiên.
Tuy
nhiên nếu chúng ta chỉ chú trọng đến mình, chỉ nghĩ đến
cá nhân mình, đến phúc lợi của riêng mình, luôn bác khước,
khai thác, và lợi dụng kẻ khác, với cung cách cư xử đó
ta tự cắt lìa mình với thế giới bên ngoài và điều đó
sẽ làm cho chúng ta mất hạnh phúc. Như vậy, một điều hiển
nhiên là càng quan tâm đến tha nhân, lo lắng cho phúc lợi
của họ bao nhiêu, ta sẽ càng có thêm nhiều bạn bè và cảm
thấy được đối xử ân cần, nồng hậu bấy nhiêu.
Trong
số những bạn bè của ta không phải là không có những người
chỉ đến với ta do tiền bạc và địa vị mà ta có, họ
không phải là những bằng hữu chân thực mà thật ra là bạn
của túi tiền, thế lực của ta. Một điều chắc chắn là
bao lâu mà ta còn tiền bạc và thế lực họ sẽ còn quanh
quẩn bên cạnh ta, thế nhưng một lúc nào đó khi ta rơi vào
tình trạng suy sụp, họ sẽ biến mất như một chiếc cầu
vồng, chứng tỏ rằng họ không phải là những người bạn
trung thành, đáng tin cậy. Ðến khi ta cần họ, chạy đi kiếm
hoặc tìm cách gọi điện thoại cho họ, những kẻ được
gọi là bạn bè này bỗng dưng biến mất tiêu không biết
ở phương trời nào! May mắn lắm nếu được họ trả lời
điện thoại thì cũng chỉ là những lời ngắn gọn, nhát
gừng!
Ðể
có được bạn bè chân thực và được họ thật tình thương
mến, ta cũng phải thương mến và bày tỏ mối thiện cảm
của ta đối với họ. Trong trường hợp này, ta sẽ có được
vô số bằng hữu chân tình.
Nếu
chúng ta bày tỏ lòng nhân ái đối với tha nhân, đặc biệt
chiếu cố đến những kẻ bất hạnh cũng như những người
mà quyền sống không được tôn trọng, chính ta sẽ tạo dựng
cho mình nền tảng của hạnh phúc và thái độ sống đúng
đắn có giá trị.
Hãy
lấy trường hợp của cá nhân tôi, những kinh nghiệm bản
thân mà tôi đã trải qua làm một thí dụ. Tôi là một
người dân mất nước, và đáng buồn hơn, dân tộc tôi đang
phải sống trong cảnh thống khổ. Tây Tạng đang bị tàn phá.
Tôi đang phải đối diện với những trạng huống kinh khủng
cũng như đã từng kinh qua những kinh nghiệm bi thảm. Tuy nhiên
xin cảm ơn bằng hữu và những tấm lòng ưu ái mà họ dành
cho tôi, nhờ đó tôi vẫn có thể tiếp tục cuộc sống bình
thường.
Tôi
nghĩ rằng bất bạo động có nhiều cấp độ khác nhau. Ngay
cả được che dấu bởi động lực đen tối và một tâm hồn
đạo đức giả, gian dối và ác độc, một người vẫn có
thể nói ra được những lời dịu ngọt, dễ thương cũng
như biểu lộ những cử chỉ thân thiện, như biếu tặng quà
cáp chẳng hạn. Hành động này chỉ bất bạo động ở ngoài
mặt; trong thực tế đây là một hành động đầy ác tâm.
Trái lại, do sự thúc đẩy bởi ý hướng muốn giúp đỡ
tha nhân, hoặc vạch cho người khác thấy những lỗi lầm
của họ, có thể ta có những ngôn ngữ hoặc hành động xem
ra cộc cằn thô lỗ, nhưng tận trong thâm tâm, đó là một
hành vi bất bạo động.
Thế
cho nên chính động cơ thúc đẩy ở đàng sau mới quyết định
tính cách bạo động hay bất bạo động của một hành động.
Thái độ bất bạo động được thúc đẩy bởi thiện ý
dù được thể hiện ra hành động hay bằng lời nói cũng
đều mang lại lợi ích. Thế nhưng khuyến khích, thúc
đẩy tinh thần bất bạo động và hành động bất bạo động
cũng chưa đủ để loại trừ bạo động. Trên tất cả,
ta phải khích lệ mọi người tự mình nuôi dưỡng lòng
thương yêu và trìu mến đối với tha nhân.
Trong
thời đại này quả là một điều cần thiết để tạo dựng
nên một bầu khí hoà điệu và đoàn kết hơn giữa các tôn
giáo khác nhau trên thế giới. Ðã có quá nhiều yêu tố làm
phân cách xã hội chúng ta: giàu nghèo, khuynh hướng chính trị,
v.v... Tôn giáo vì thế có mặt để giúp con người học cách
biết tự chế hơn, làm tiết giảm tinh thần chấp trước
và đối kháng cũng như giúp đỡ họ tìm kiếm sự an
bình. Thế nên nếu tôn giáo trở thành một cái cớ để
gây thêm chấp trước, hận thù,hoặc tranh dành bè phái thì
quả là một thảm trạng đáng buồn.
Dĩ
nhiên mỗi tôn giáo đều có những bản sắc đặc biệt riêng.
Trên bình diện siêu hình có thể còn có những khác biệt
lớn lao hơn giữa các tôn giáo. Tựu trung tôn giáo có
thể được phân ra làm hai nhóm chính: Một số tôn giáo gắn
chặt vào niềm tin về một đấng Thượng Ðế Sáng Tạo và
phần còn lại thì không tin như thế. Ðứng trên quan điểm
triết học, đây là một sự khác biệt lớn lao. Tuy nhiên,
tất cả các tôn giáo chính đều đồng ý với nhau về sự
quan trọng của lòng thương yêu, nhẫn nhục và khoan thứ.
Mặc dù mỗi tôn giáo có thể trình bày bản chất xác thực
của tình thương yêu đó một cách khác nhau, tất cả
đều khẳng định sự cần thiết của tình thương yêu và
nhân ái, tất cả đều khuyên dạy tín đồ của mình nuôi
dưỡng những tình cảm tốt đẹp này bằng nhiều cách khác
nhau. Như thế đã có một căn bản tương đồng rất có ý
nghĩa giữa các tôn giáo trên thế giới.
Thực
tế cho thấy một trong những cỗi nguồn chính của sự hoà
điệu giữa các tôn giáo là tính cách phổ quát của những
lời dạy về tình thương yêu; chúng ta càng sớm nhận
ra mục đích của tình thương yêu đó và bản chất qúy giá
của nó chừng nào, ta sẽ càng cảm thấy kính trọng hơn các
tôn giáo khác chừng nấy.
Trong
cuộc sống hàng ngày, hạnh phúc tùy thuộc lớn lao vào trạng
thái tâm hồn của chúng ta. Những ngày mà tâm hồn ta thư
thái yên tĩnh sẽ là những ngày rất hạnh phúc. Trái
lại những ngày ta mất đi niềm thanh thản, ta sẽ cảm thấy
bất hạnh. Ðiều đó thật quá rõ ràng.
Bây
giờ vấn đề đặt ra là mục tiêu của đời sống là gì?
Tôi luôn cho rằng đó là hạnh phúc. Tại sao? Bởi vì ngay
cả những người đang chấp nhận một cuộc sống tu hành,
cũng không ngoài mục đích đi tìm kiếm hạnh phúc. Họ coi
tôn giáo như là phương cách tốt nhất để đạt đến hạnh
phúc cho nên đã chọn lựa theo đuổi một hành trình tâm linh
như thế . Cũng vậy, một người chấp nhận làm việc trong
địa hạt kinh tế (hay bất cứ lãnh vực nào khác) bởi vì
họ nghĩ rằng đó là cách thế tốt đẹp nhất, hữu hiệu
nhất để hoàn tất đời mình.
Cho
dù ta không thể biết chắc chắn những gì xảy ra trong tương
lai, hầu như mọi người đều tin rằng mọi chuyện rồi sẽ
trở nên tốt đẹp hơn. Mặc cho bao nhiêu vấn nạn mà ta phải
đương đầu trong suốt cuộc đời, ta vẫn tiếp tục hy vọng
rằng mọi việc sẽ êm xuôi trong tương lai. Cái ngày mà chúng
ta ngưng hy vọng, chúng ta có nguy cơ rơi vào trạng
thái tuyệt vọng hoặc đi đến chỗ tự vẫn. Ðó là lý do
tại sao tôi cho rằng sự kiếm tìm hạnh phúc đã mang lại
ý nghĩa cho đời người.
Có
người quan niệm hạnh phúc trong tầm phụ thuộc của vật
chất hay những yếu tố bên ngoài; chẳng hạn như xem giàu
có và quyền lực là những chỉ dấu của hạnh phúc.
Quả thật sống trong tiện nghi vật chất, được kề cận
bên cạnh bạn bè và gia đình, vui thú với tiếng tăm danh
vọng và những cuộc đàm luận hay ho, đều là những
yếu tố góp phần tạo nên hạnh phúc cho ta. Tuy nhiên
nếu xem những yếu tố này là gốc rễ chính của hạnh phúc,
thì tất cả những ai đang thụ hưởng giàu sang, danh vọng,
được bao quanh bởi một bầu khí dễ chịu phải là người
đang sống hạnh phúc. Thực tế không phải là như thế! Ðiều
này cho thấy mặc dù những điều kiện thuận lợi này có
thể góp phần tạo nên hạnh phúc cho ta, chúng không phải
là những nguyên nhân cơ bản, không thể không có.
Ta
không cần biết đến chuyện con người đang hưởng thụ những
tiện nghi vật chất đầy đủ hay không, nếu tâm hồn họ
an bình, thư giản và cảm thấy hài lòng với chính mình, họ
là những người đang sống trong hạnh phúc; và ngược lại.
Như thế, một điều rất rõ ràng sự an bình nội tâm là
cỗi nguồn của hạnh phúc. Chúng ta có thể nhận thấy điều
này trong cuộc sống đời thường. Có những ngày tâm hồn
chúng ta cảm thấy thư thái, hạnh phúc, cho dù bất chợt gặp
phải khó khăn hay trở thành nạn nhân của một chuyện rủi
ro, ta vẫn chấp nhận chúng một cách dễ dàng không mảy may
khó chịu. Thế nhưng trong những ngày mà tâm hồn ta buồn
lo, xao động, dù chỉ một chuyện không đáng kể xảy ra cũng
gây nên những khủng hoảng lớn khiến ta vô cùng bực bội.
Một
cách tổng quát, thoạt nhìn vào các xã hội phát triển Tây
phương với tất cả những tiện nghi của đời sống hiện
đại được cung ứng mà kết quả tạo nên một cuộc sống
tuyệt vời về mọi mặt. Thế nhưng nếu bạn có thì giờ
để đàm luận riêng tư với những cư dân của các xã
hội này, bạn sẽ thấy tâm hồn của họ bị ô nhiễm bởi
những tư tưởng hoài nghi, nhận thức sai lầm, những âu lo,
ganh ghét và tranh chấp tị hiềm.
Như
vậy làm thế nào để chúng ta có thể phục hồi được sự
an lạc của cái tâm mình? Bằng ma túy hay rượu chè chăng?
Chắc chắn là không rồi! Còn nếu mang chuyện này đi than
phiền với một vị y sĩ, như chúng ta thường làm đối với
những bệnh hoạn thể chất: “Bác sĩ à, tôi đang lâm bệnh
tinh thần, xin bác sĩ tìm cách chữa trị cho tôi!” Chắc
chắn là vị bác sĩ sẽ trả lời bằng cách lắc đầu,
cho biết là ông ta sẽ không làm gì được và chỉ cho ta đi
chỗ khác. Một cách tóm tắt, hạnh phúc là cái mà chúng ta
chỉ có thể tạo dựng lên từ chính bên trong nội tâm mình.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chúng ta thực hiện
được việc này? Ðâu là con đường tốt nhất để
đạt đến hạnh phúc?
Ðể
trả lời những câu hỏi này xin hãy lấy những kinh nghiệm
của cá nhân tôi làm một thí dụ. Một số đông bạn bè
và bản thân tôi đều đi đến một kết luận chung: Chúng
ta càng phát triển tình thương yêu, trìu mến đến tha nhân,
lòng khao khát phụng sự họ bao nhiêu, ta càng cảm thấy tâm
hồn của mình an lạc bấy nhiêu. Khi chúng ta có ý nguyện
giúp đỡ tha nhân, những thái độ cư xử của ta đối với
họ sẽ tích cực hơn. Khi tâm ta không còn ganh tỵ, ta sẽ
thấy không cần thiết phải dấu diếm họ bất cứ chuyện
gì. Với sự hiện diện của họ, chúng ta cảm thấy là mình
sẽ bớt dè dặt và tâm hồn cởi mở hơn. Ngược lại, trong
quan hệ đối xử với kẻ khác nếu thâm tâm ta luôn nuôi
dưỡng những ý tưởng độc hại của ganh tỵ và dối trá,
tự nhiên là chúng ta sẽ bị ngăn cách và cô lập, chúng ta
sẽ luôn luôn là kẻ đứng ở ngoại biên của mọi vấn đề.
Khi
chúng ta có ý hướng giúp đỡ tha nhân, mối quan hệ giữa
ta với họ sẽ trở nên thoải mái dễ dàng hơn. Ngược lại,
chúng ta sẽ vẫn luôn nhút nhát, lưỡng lự và ở trong trạng
thái cảnh giác cao độ mỗi khi tiếp cận tha nhân. Khi tâm
ta muốn giúp đỡ kẻ khác, ta sẽ bớt đi nỗi sợ hãi và
lo âu. Khi tâm ta mang ý hướng tốt đẹp, ta sẽ cảm thấy
tự tin và mạnh mẽ hơn. Bằng cách này, chúng ta sẽ học
để nhận ra được lòng nhân ái qúy giá như thế nào, có
giá trị đối với ta ra sao. Và bây giờ, vấn đề là làm
thế nào để phát khởi lòng nhân ái?
Tất
cả mọi người -ở trong bất kỳ tình huống nào- đều
có khả năng tự nhiên phát khởi lòng từ bi ở trong tâm mình.
Từ ngày chúng ta cất tiếng khóc chào đời, uống bầu sữa
mẹ, lòng từ bi này đã bắt đầu lớn dậy ở trong ta. Ðây
chính là biểu trưng của tình thương yêu, trìu mến. Nếu
đứa trẻ cảm thấy không gần gũi với người mẹ, nó sẽ
không chịu bú sữa; cũng thế nếu người mẹ không có tình
yêu thương trìu mến vô bờ đối với đứa con, bầu sữa
của bà sẽ cạn nguồn. Tôi cho rằng những hành động của
buổi đầu đời này đã thiết định nên nền tảng của
toàn bộ cuộc sống chúng ta.
Mọi
người cũng đồng ý rằng một đứa trẻ được trưởng
thành trong một bầu khí gia đình đầy ắp thươgn yêu,
trìu mến nó sẽ có cơ may tự cảm thấy mãn nguyện,
học hành giỏi dang và có một cuộc sống hạnh phúc; trong
khi đó một đứa trẻ mà tuổi ấu thơ thiếu tình thương
mến luôn xao lảng trong chuyện học hành. Bởi vì chúng thiếu
những hổ trợ tình cảm cần thiết trong tuổi trưởng thành,
tất cả đều có khuynh hướng tạo nên những vấn nạn rắc
rối trong suốt cuộc đời.
Ðến
giây phút cuối của cuộc đời, trước giờ lâm tử, kẻ
sắp chết phải bỏ lại tất cả những người yêu dấu nhất.
Thế nhưng y sẽ rất sung sướng nếu có một người bạn
thân kề cận bên cạnh dù y biết rằng điều đó không mang
lại một mục đích gì cả. Bởi lẽ đó, tôi cho rằng từ
lúc sinh ra cho đến lúc nhắm mắt, trong suốt cuộc đời ta,
nhu cầu cho và nhận tình cảm thương yêu trìu mến là nhu
cầu căn bản của con người.
Ta
biết rằng tình trạng tâm hồn của chúng ta có thể ảnh
hưởng đến sức khỏe thể chất và chức năng của các tế
bào cấu thành thể xác của chúng ta. Cụ thể như khi tâm
hồn chúng ta thư giản, thoải mái, hệ thống tuần hoàn sẽ
họat động một cách bình thường; các bộ phận sẽ làm
việc tốt đẹp và khó bị lão hoá. Ngược lại, nếu chúng
ta sống trong lo âu phiền muộn, giận dữ , sự căng thẳng
tâm lý này sẽ tác động lên các hệ thống điều hòa cơ
thể mà kết quả là chúng ta sẽ bị bệnh cao huyết áp.
Cơ thể của những người này cũng mau chóng già cỗi. Một
tâm hồn khủng hoảng chẳng giúp ích gì cho sức khoẻ
của thể xác, trong khi đó một tâm hồn thư giản sẽ trợ
lực cho cơ thể một cách toàn hảo.
Một
khi đã nhận thức được những lợi điểm của lòng nhân
ái, chúng ta cũng nên tìm cách để tu dưỡng nó. Ðồng thời
nếu ta nhìn thấy được sự độc hại gây ra bởi những
tình cảm đối nghịch với lòng nhân ái, chẳng hạn như giận
dữ, ganh tỵ và đặc biệt là lòng hận thù, ta cũng phải
tìm cách loại bỏ và ngăn ngừa không để chúng trở thành
một phần trong bản tánh của ta.
Con
người thường yêu bạn ghét thù. Thế nhưng kẻ thùlà gì?
Phải chăng kẻ thù là người tìm mọi cách để hảm hại
ta, thể xác, tài sản, gia đình, bằng hữu ta, nói tóm lại
là những gì mang đến cho ta hạnh phúc? Chúng ta
có thể coi tài sản, danh vọng, bạn bè, thân quyến của ta,
v.v... là nguồn gốc thường tình của hạnh phúc, và như vậy
bất cứ ai làm thiệt hại những gốc nguồn này, thói thường
được coi là kẻ thù.
Nhưng
ta cũng đã biết rằng gốc nguồn chính của hạnh phúc là
sự an bình nội tâm. Những ai đã tu tập để phát triển
được sự an bình này, những ai đã có một vài kinh nghiệm
tu chứng sẽ không dễ dàng bị phiền nhiễu bởi loại kẻ
thù thông thường này. Tuy nhiên, hận thù, ác tâm, và ganh
tỵ sẽ huỷ diệt ngay lập tức trạng thái yên tĩnh tâm hồn
này. Kẻ thù đích thực của ta, như vậy không ai khác hơn
là ác tâm. Kẻ thù ngoại tại có thể là kẻ thù thực sự
của ta ở một giai đoạn nhất định, nhưng một điều mà
ai cũng có thể thấy, trong một tương lai nào đó thay vì hảm
hại ta có thể họ lại quay trở thành những người bạn
giúp đỡ ta. Thế nhưng những kẻ thù nội tại vẫn luôn
luôn là những kẻ thù -suốt từ đầu, giữa chừng, cho đến
cuối; nó không bao giờ mang đến lợi ích gì cho ta cả. Bởi
thế thật là một điều hoàn toàn vô lý và đầy mâu thuẫn
khi một đằng thì ta chạy đi tìm hạnh phúc, còn đằng khác
thì ta mở cửa cho lòngï đố kỵ và độc ác vào trú
ngụ trong tâm ta, những tên thủ phạm chính đang tìm cách
diệt trừ hạnh phúc của ta.
Làm
thế nào để chúng ta có thể tiêu diệt được kẻ thù này,
tức là cái mà ta gọi là hận thù? Phương thuốc đánh thẳng
vào sự thù ghét là lòng nhẫn nhục, là sự thực hành hạnh
nhẫn nhục. Những lúc mà chúng ta cảm thấy bất ổn,
bị giày vò bởi những khổ đau tinh thần là lúc mà ta thường
sinh ra phản ứng thù ghét. Như vậy muốn thoát khỏi tâm trạng
thù ghét chúng ta phải sống và cư xử như thế nào đó để
không còn mang lấy những khổ đau tinh thần. Chúng ta phải
làm tất cả mọi chuyện có thể được để xa lìa khổ đau;
khổ đau phải được ngăn ngừa. Thế cho nên một điều rất
quan trọng là việc chuyển hóa hoàn cảnh, tốt hay xấu, thành
một cơ hội để cải thiện chúng. Khi một điều bất hạnh
xảy đến với ta mà ta không ngờ tới, như bệnh hoạn chẳng
hạn, nếu chúng ta chỉ biết nghĩ đến mình, nỗi khó khăn
sẽ trở nên to lớn bội phần và chúng ta coi đây là chuyện
có vẻ như hoàn toàn bất công đối với ta. Thế nhưng nếu
chúng ta nghĩ đến tha nhân, đến những vấn nạn của họ,
dù chỉ trong một khoảnh khắc, chúng ta sẽ thấy rằng tình
huống của mình không có gì là đặc biệt.
Ý
niệm về cái gì cấu thành vấn nạn là một ý niệm hoàn
toàn tương đối. Trong nỗi khó khăn ta vẫn có thể tìm thấy
những khía cạnh tích cực. Cùng một lúc, một cảnh huống
nào đó có thể được xem là bi đát quá sức chịu đựng
của con người nhưng cũng có thể được xem là mang đến
nhiều phúc lợi. Tất cả đều tùy thuộc vào cách nhìn vấn
đề của chúng ta. Nhưng cho dù trường hợp nào đi nữa, ta
phải xem rằng mọi chuyện không bắt đầu có vẻ như vượt
khỏi sức chịu đựng của ta. Khi đối đầu với vấn nạn,
nếu ta nhìn chúng qúa gần, ta sẽ không thấy gì cả và chúng
sẽ xuất hiện không đúng nguyên vẹn như thực tế; điều
này khiến chúng trở thành có vẻ như khó chịu đựng nổi
đối với ta. Tuy nhiên nếu chúng ta chịu khó lùi lại, chúng
ta sẽ có khả năng thẩm định chúng và rồi vấn nạn
sẽ không còn trầm trọng như ta tưởng.
Ðể
có thể hiểu thấu đáo những hậu quả tai hại của việc
từ khước tha nhân cũng như những phúc lợi do lòngï quan
tâm đến người khác mang lại, điều tốt nhất là ta phải
biết dừng lại và quán chiếu trong từng giây phút theo cách
thức sau đây. Chúng ta hãy bước ra khỏi cái tôi của mình,
đóng vai một quan sát viên ngoại cuộc hay, thí dụ như, là
một thành phần thứ ba đối với một nhóm người đang có
nhu cầu cần giúp đỡ; trong một thí dụ khác, quán chiếu
đến cái tôi thường nhật, cái tôi thông thường đó -như
một người nào khác, một người hoàn toàn vị kỷ, chỉ
biết nghĩ đến mình mà chẳng quan tâm đến ai khác.
Trong khi tự quán sát mình như vậy ta sẽ lần hồi thấy một
cách rõ ràng hơn những tai hại của thói vị kỷ và tâm ta
sẽ tự động hướng về những người đang có nhu cầu cần
giúp đỡ lúc nào không hay.
Nếu
thực tập suy nghĩ theo cách này, ta sẽ tự động bắt đầu
hiểu biết hơn về những hệ quả tiêu cực của thói quen
chỉ biết nghĩ đến mình cũng như những phúc lợi của việc
quan tâm đến kẻ khác. Nó sẽ giúp ta giảm thiểu được
mãnh lực lôi cuốn của chấp trước và thù ghét để từ
đó phát triển tình thương yêu và lòng quan tâm đến tha nhân.
Hãy cảm tạ phương pháp tu tập này, sự chuyển hóa sẽ dần
dần diễn biến trong ta. Tuy nhiên chúng ta phải cẩn thận
-đừng bao giờ mong chờ sự chuyển biến sẽ xảy ra trong
nháy mắt, như khi ta dang tay bật một ngọn đèn! Hãy luôn
nhớ rằng, điều quan trọng là ta cần phải có thời gian
để có thể tu tập một cách chậm rãi và tiệm tiến.
Tôi
tin rằng đi theo con đường này để phát triển tình thương
yêu và lòng từ bi cũng như tiết giảm giận dữ, đố kỵ
là một hoạt động tâm linh phổ quát không cần phải đòi
hỏi vào bất cứ niềm tin tôn giáo nào. Ðối với tôi, quả
là điều lầm lẫn khi tin rằng lòng nhân ái là sản phẩm
đặc quyền của tôn giáo vì như thế sẽ có người không
thèm đếm xỉa đến nó nếu họ không thích thú đến khía
cạnh tâm linh. Mọi người đều có quyền có tín ngưỡng
hay không có tín ngưỡng, thế nhưng bao lâu mà chúng ta vẫn
còn tìm kiếm hạnh phúc và tiếp tục sống trong xã hội này,
tình thương yêu và trìu mến là điều không thể thiếu.
Ðể
kết luận, tôi xin được nói rằng gốc rễ căn bản của
việc tôn trọng nhân quyền và bất bạo động là lòng yêu
thương , nhân ái đối với tha nhân.
Phải
chăng bạo động là một vấn đề thuộc về con người? Là
bản năng, bản tánh? Lúc nào thì một người được quyền
bạo động -trong trường hợp nào thì được coi là sức mạnh?
Dĩ
nhiên bạo động là một phần của bản tánh con người, thế
nhưng bản tánh này có nhiều mặt khác nhau và tôi không tin
rằng bạo động là một trong những lãnh vực quan trọng đáng
kể. Lúc mới sinh ra hầu như ta u mê trước mọi chuyện, nhưng
rồi theo năm tháng nhờ được học tập ta bớt dần ngu dốt.
Như vậy là ta đã thay đổi tình huống ban đầu. Cũng thế,
ta được sinh ra với các thói xấu như thù ghét, hung hăng
gây hấn, nhưng do tập luyện ta vẫn có thể và phải thay
đổi được chúng.
Câu
hỏi của qúy vị đặt ra là trong trường hợp nào sự bạo
động được biện minh. Tôi nghĩ rằng điều quan trọng đầu
tiên là ta cần phải phân biệt được sự giận dữ và thù
hận. Có thể có lúc giận dữ mang khía cạnh tích cực, hữu
ích trong trường hợp nó mang lại một đáp ứng nhanh chóng.
Tuy nhiên nói chung tôi cho rằng giận dữ là một dấu hiệu
của sự yếu đuối; lòng khoan thứ mới là dấu hiệu của
sức mạnh.
Thế
nào là tha thứ?
Lòng
tha thứ? Ðây là một tình cảm qúy báu, quan trọng vô
cùng! Tuy nhiên điều này không có nghĩa là bạn nhắm mắt
lại và quên đi những điều xấu ác mà người ta gây ra cho
bạn; bạn phải ghi nhớ chúng. Thế nhưng do thương yêu
và kính trọng tha nhân cũng như các lý do khác đã ngăn cản
bản không trả đủa lại những hành vi xấu ác đó. Ðây
mới là điều quan trọng.
Thưa
Ngài, trẻ em Tây Tạng hiện nay vẫn còn tiếp tục theo đuổi
việc học tập giáo lý Phật giáo hay không?
Có
những người vẫn tiếp tục theo đuổi nhưng có người không.
Tất cả đều tùy thuộc lớn lao vào khung cảnh gia đình mà
chúng sinh sống.
Ngài
có nghĩ rằng ở một mức độ nào đó thì một người Cơ
Ðốc cũng giống như một người Phật tử mà thôi?
Vâng,
có thể như thế. Có rất nhiều điều mà những người Phật
tử có thể học hỏi từ những kinh nghiệm của các
anh chị em Cơ Ðốc giáo. Gần đây trong một dịp viếng thăm
một tu viện Thiên chúa giáo, tôi khám phá một điều là những
tu sĩ ở đây có rất nhiều điểm tương đồng với Phật
tử Tây Tạng. Một vài khía cạnh như sống nghèo khổ và
tri túc chẳng hạn, tôi nghĩ rằng những tu sĩ này còn tỏ
ra hơn hẵn các tăng sĩ Tây Tạng chúng tôi, một số có thể
đang có một đời sống khá tiện nghi. Nếu những tăng
sĩ Tây Tạng có thể học hỏi được một vài điều từ
các tu sĩ Cơ Ðốc, những người Cơ Ðốc giáo cũng có thể
học được từ những người bạn Tây Tạng về kỹ thuật
phát triển lòng từ, tình thương yêu, công phu nhất-điểm
thiền định, cũng như để cải thiện lòng vị tha. Về những
lãnh vực vừa nói, cũng chẳng có gì khó khăn khi vay mượn
những kỹ thuật đặc biệt này của Phật giáo, như một
số những người bạn Cơ Ðốc của chúng tôi đang làm.
Khi các tôn giáo khác biệt cùng ngồi lại với nhau, sẽ có
rất nhiều điều người ta có thể học hỏi lẫn nhau.
Ngài
có nghĩ rằng chủ trương bất bạo động của Ngài có thể
dẫn đến sự diệt chủng nhân dân Tây Tạng?
Bất
bạo động về lâu về dài vẫn là phương pháp đấu tranh
tốt nhất, sâu sắc nhất. Cụ thể là do lựa chọn đường
lối này mà càng ngày chính nghĩa của TâyTạng càng được
đông đảo nhân dân Trung quốc ủng hộ.
Thưa
Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, Ngài có những lời khuyên nào cho giới
cư sĩ để họ có thể tiến bộ trong tu tập nhằm phát triển
lòng từ và nhân ái?
Ðiều
trước tiên là ta phải nhận thức được khả năng vô lượng
ở trong ta. Trong Phật giáo chúng tôi gọi đó là Phật tánh
hiện hữu trong mỗi cá nhân. Nhưng cho dù không bước vào
lãnh vực này, đã là con người, chúng ta đều có một số
tình cảm nhất định, chẳng hạn như lòng quyết tâm hoặc
trí thông minh; sự kết hợp của hai yếu tố này sẽtạo
nên những cống hiến đáng kể. Ðiều quan trọng là
chúng ta nên liên kết trí thông minh của mình với thiện ý.
Không có trí thông minh chúng ta không thể hoàn tất bất cứ
việc gì. Không có thiện ý chúng ta sẽ không biết được
việc hành xử trí thông minh của mình sẽ mang lại xây dựng
hay hủy diệt. Ðó là lý do tại sao điều quan trọng nhất
là chúng ta cần phải có thiện tâm, và đừng quên rằng những
phẩm chất này là một phần trong bản tánh cơ bản của con
người.