PHẦN
THỨ HAI
TÂM
LINH VÀ CHÍNH TRỊ
TỪ
BI
Thay
mặt toàn thể nhân dân Tây Tạng, tôi xin trân trọng cảm
ơn tất cả qúy vị, những người đã quan tâm sâu xa đến
nền văn hoá và truyền thống của Tây Tạng trên cả hai bình
diện tinh thần lẫn thế tục. Xin cảm ơn một lần nữa về
những gì mà qúy vị đang góp tay để gìn giữ cho những truyền
thống này không bao giờ bị mai một.
Hôm
nay tôi sẽ xin được hầu chuyện cùng qúy vị về vấn đề
bình an tâm hồn. Lý do mà nền văn hóa Tây Tạng có một
tầm mức quan trọng như thế - ít nhất đối với tôi- vì
nền văn hóa của chúng tôi có một tiềm năng lớn lao trong
việc làm tăng tiến sự bình an tâm hồn. Trong một giai đoạn
cực kỳ khó khăn như mọi người đều biết, xảy ra tại
Tây Tạng hồi gần đây, một trong những yếu tố đã giúp
chúng tôi giữ vững niềm tin, không mất hy vọng chính là
nhờ bản sắc đặc biệt của nền văn hoá đó.
Mặc
cho bao thử thách và tình huống khó khăn, nền văn minh này
đã cho phép chúng ta bảo tồn được sự thanh thản và an
bình tâm hồn. Gần đây tôi càng ngày càng có dịp được
tiếp xúc với khá nhiều các nhà khoa học phương Tây, thảo
luận cùng họ về những mối bực dọc, khủng hoảng tâm
thần mà con người hôm nay đang mắc phải cũng như tìm kiếm
những phương thức khả dĩ có thể chữa trị chúng. Họ đã
cật vấn tôi khá lâu về sức mạnh và tình trạng tâm thần
của nhân dân Tây Tạng, và họ đã rất ngạc nhiên khi thấy
mặc dù phải kinh qua những biến cố thương tâm, người Tây
Tạng vẫn giữ được cho mình một trạng thái bình ổn tâm
hồn. Ðiều này đã được đặc biệt ghi nhận ở một số
người phải trải qua một thời gian dài trong các trại tù,
lao động khổ sai của Trung Cộng.
Tôi
xin được chia xẻ cùng qúy vị một trường hợp điễn hình.
Vị phó trú trì của tu viện Namgyal mới lưu vong qua Ấn Ðộ
gần đây, đã bị Trung Cộng bắt bỏ tù từ năm 1959, rồi
sau đó được chuyển vào trại lao động khổ sai, và bị
đày ải trong khoảng mười tám năm trời như thế. Sau khi
đặt chân đến tu viện lưu vong của Ngài tại Ấn Ðộ, chúng
tôi lại có dịp chuyện trò tán gẫu với nhau. Ngài đã kể
lại cho tôi nghe về cuộc đời và những kinh nghiệm sống
mà Ngài đã trải qua. Ngài có nói đến chuyện sau khi bị
rơi vào tay Trung Cộng, Ngài ở vào một trạng thái khá nguy
hiểm đối với một người tu sĩ, đó là khả năng có thể
đánh mất lòng từ đối với những kẻ đã hành hạ tra tấn
Ngài. Ðây là một nhận định rất đáng lưu tâm!
Tôi
thường hay trêu chọc, bảo rằng suốt qua một thời gian dài
gian khổ bị Trung Cộng hành hạ kỹ như thế mà khuôn mặt
của ông ta chẳng hề đổi thay gì cả. Mặc dù ông ấy già
hơn tôi, nhưng tóc lại còn ít bạc hơn tôi nữa -qúy vị
có thể không trông thấy tóc bạc của tôi đâu vì tôi mới
cạo đầu sáng nay! Nhưng điều đáng nói hơn hết là ông
ấy vẫn luôn giữ được trên môi một nụ cười tuyệt diệu.
Theo tôi, tất cả có được đều do nền văn hoá của Tây
Tạng, của Phật giáo.
Cũng
có thể lấy kinh nghiệm khiêm tốn của tôi làm một thí dụ.
Là một tu sĩ Phật giáo, tôi được đào luyện về tu tập,
học hỏi về triết lý và giáo lý Phật giáo, nhưng chẳng
có một chút chuẩn bị nào để đối phó với những
yêu cầu của thời đại tân tiến. Thế mà tôi đã phải
gánh vác những trách nhiệm khá lớn lao. Tôi đã bị mất
tự do ở vào tuổi mười sáu và mất nước lúc lên hăm bốn
tuổi. Tôi đã phải sống kiếp lưu vong trong suốt ba mươi
bốn năm qua, làm thân tỵ nạn tại một xứ sở ngoại quốc.
Trong suốt thời gian này, trong khi đang phục vụ cho cộng đồng
Tây Tạng lưu vong, đất nước chúng tôi vẫn còn đang gánh
chịu biết bao điêu linh và thống khổ. Mặc dù với tất
cả những thảm trạng như thế, tôi vẫn giữ được tâm
hồn mình, bình an, thư thái.
Trong
một vài trường hợp khách du lịch trở về từ Tây Tạng
hoặc các trại tỵ nạn tại Ấn Ðộ thường có một ấn
tượng sai lầm rằng người Tây Tạng hiện đang sống có
vẻ rất hạnh phúc, luôn luôn mĩm cười, có gì là đau khổ
đâu. Nhận định sai lầm này có thể là điều bất lợi
duy nhất cho thái độ tinh thần của chúng tôi.
Làm
thế nào để phát triển sự bình an và thanh thản tâm hồn?
Tôi luôn nghĩ rằng bản tánh của con người là tốt đẹp.
Thực tế mà nói, trong mỗi chúng ta không phải là không có
những tình cảm ganh tỵ, hận thù, tuy nhiên tôi vẫn luôn
tin rằng bản chất đích thực của con người vẫn là lòng
yêu thương trìu mến và nhân ái. Từ ngày mở mắt chào đời
cho đến khi thở hơi cuối cùng, sự hiện hữu của ta gắn
bó chặt chẽ với yêu thương và nồng ấm tình người.
Một thực tế mà mọi người đều biết là trẻ con nếu
được nuôi dưỡng trong một gia đình đầy tình yêu thương
thường có nhiều triển vọng phát triển đầy đủ nhân tính
tốt đẹp, trong khi những đứa trẻ trưởng thành trong một
bầu khí thiếu vắng tình thương, từ bi nhân ái chung cuộc
đều có những thái độ tiêu cực trong đời sống cũng như
tạo nên những căng thẳng bất cứ nơi nào mà họ có mặt.
Sự hiện hữu hay thiếu vắng tình thương yêu, từ ái trong
gia đình gây nên một tác động rất hiển nhiên. Các
y sĩ và nhà khoa học cho biết rằng trạng thái tâm hồn tĩnh
lặng là một yếu tố then chốt cho sức khỏe của con người.
Thêm vào đó, những tuần lễ đầu tiên sau khi chào đời,
những tiếp xúc thể xác giữa đứa bé và người mẹ hay
bất kỳ ai đó, là một yếu tố quan trọng hàng đầu cho
việc đánh thức và phát triển bộ óc của đứa trẻ.
Chúng
ta ai cũng biết rằng những lúc mà tâm trạng mình đang phấn
chấn vui vẻ, có cảm tưởng như cả thế giới đang mĩm cười
với mình, ta sẽ chấp nhận những khó khăn hay tin buồn một
cách dễ dàng hơn là lúc mà tâm hồn ta đang buồn bả, hoang
mang giao động hay bất ổn, lúc đó chỉ cần một biến cố
nhỏ cũng đủ làm cho ta nổ bùng những tình cảm tiêu cực.
Nếu đời sống của chúng ta cứ luôn bị những tình cảm
tiêu cực này chế ngự , chúng ta sẽ không còn ăn ngon miệng,
bị mất ngủ hoặc đau ốm bệnh hoạn mà kết quả là đời
sống của chúng ta sẽ bị thu ngắn lại. Tình trạng thư thái
tâm hồn vì thế rất quan trọng.
Con
người sống trong xã hội phương Tây thường rất chính xác
như một bộ máy, họ thích hoạt động một cách tự nhiên
hơn là do động cơ thúc đẩy. Theo tôi, động cơ thúc đẩy
mới là điều quan trọng, bởi lẽ chúng ta rất khó có thể
phê phán giá trị của một hành động nếu không liên hệ
đến cái gì đang nằm đàng sau hành động đó. Nói cho
cùng, năng lực của đời sống, của hoạt động nhân loại
chính là ý hướng. Nó diễn ra trong tư tưởng của chúng ta,
cũng giống như sự hiện hữu của vô vàn các phẩm vật trên
thế gian này -có cái ích lợi có cái độc hại- mà ta luôn
cố gắng tìm cách thu thập hay loại bỏ; trong thế giới nội
tâm, trong tâm hồn của ta cũng thế, cũng chất chứa đủ
trăm, ngàn loại tư tưởng khác nhau. Có cái rất hữu ích
vì chúng mang đến cho chúng ta hạnh phúc, cho tâm hồn ta thư
thái và thêm sức mạnh. Nhưng có cái gây phiền nhiễu ta,
làm cho ta mất tinh thần, khủng hoảng và thậm chí đẩy ta
đến chỗ tự vẫn.
Tư
tưởng và tình cảm vì thế có thể là tích cực hay tiêu
cực. Cho nên điều trước tiên ta phải nhận chân giá trị
của nó trước khi bồi dưỡng những cái tích cực và loại
bỏ những cái tiêu cực. Bằng cách đó, chúng ta có thể đào
luyện được sự bình an tâm hồn. Mấu chốt của vấn đề
là khả năng phân biệt được những tư tưởng nào có ích
hay không. Phương cách hay nhất là chúng ta không nên để cho
mình bị vướng mắc bởi những tư tưởng, tình cảm đó.
Giản dị nhất là xem chúng như một phần của tổng thể
của ta và không có gì để phải bận tâm với chúng. Những
khi mà chúng ta phải đối đầu với vấn nạn hay hiểm nguy,
tình cảm giận dữ và hận thù có vẻ như che chở ta, cho
ta những nguồn năng lực mới. Tuy nhiên sự chấp trước âm
thầm len lỏi sâu vào tâm hồn ta; và ta chào đón chúng như
một người bạn cố tri thân ái. Chung cuộc, người “bạn
cố tri” này sẽ là kẻ lừa phỉnh ta không thương tiếc.
Trong số những loại tình cảm này, giận dữõ và sợ
hãi chẳng hạn, sẽ nhanh chóng phơi bày bộ mặt thật của
chúng, còn những tình cảm khác như chấp trước sẽ lần
hồi tạo nên những hệ qủa tiêu cực theo với thời gian.
Một khi mà chúng ta biết rõ được bản chất của các thái
độ tiêu cực và nhận diện một cách đúng đắn các hậu
qủa do chúng mang lại, ta sẽ rất dễ dàng cảnh giác chúng.
Từ
đó chúng ta có thể bắt đầu giải trừ chúng đểø
vun xới các tình cảm tốt đẹp -từ bi, hỷ xả và thiện
cảm. Bằng cách này chúng ta có thể trưởng dưỡng những
tình cảm tích cực và làm suy yếu dần những tình cảm tiêu
cực. Ngay cả cho dù chúng vẫn còn tiếp tục xuất hiện cũng
sẽ chỉ là những tình cảm thoáng qua, không lưu lại một
dấu ấn rõ rệt nào trong tâm trí chúng ta. Trong một vài trường
hợp, tốt nhất là ta cứ việc bày tỏ nổi giận dữ hay
hối hận đối với những việc làm trong qúa khứ để loại
trừ những cảm giác này. Tuy nhiên, một cách tổng quát, nên
lưu ý rằng nếu ta cứ để cho sự giận dữ và các tình
cảm tiêu cực khác bộc phát một cách dễ dàng, chúng sẽ
trở thành thói quen và lần hồi biến ta thành một người
nổi nóng khá thường xuyên. Ðó là lý do tại sao mà tôi cho
rằng chúng ta cần phải áp đặt một số biện pháp kỹ luật
để rèn đúc tâm hồn mình. Thứ kỹ luật này không thể
được áp đặt từ bên ngoài; chúng phải được áp đặt
tự bên trong do trí thông minh sẵn có của mỗi người. Bằng
cách này ta sẽ chấp nhận chúng một cách dễ dàng.
Ðể
huấn luyện tâm hồn, thời gian là một yếu tố quan trọng
hàng đầu. Ðừng bao giờ trông chờ việc ta có thể hoàn
toàn chuyển hóa trong một vài phút, hay thậm chí một vài
tuần, khi nghĩ rằng ta đang đón nhận ân sủng từ một
bậc giác ngộ có thể giúp cho ta đạt đến kết qủa một
cách nhanh chóng. Ðó là một thái độ hoàn toàn không thực
tế. Công việc tu tập đòi hỏi thời gian, trong nhiều năm,
có khi nhiều thập kỷ. Thế nhưng nếu chúng ta kiên trì, nắm
vững mục tiêu và mọi phương tiện để đạt đến cứu
cánh, chắc chắn ta sẽ thu hoạch được những tiến bộ theo
thời gian.
Làm
thế nào để chúng ta giảm thiểu dần sự giận dữ và thù
hận? Trong một vài trường hợp, ví dụ như nếu động cơ
thúc đẩy là lòng từ bi, giận dữ có thể là một khía cạnh
tích cực. Thù hận ngược lại, luôn luôn là một tình cảm
tiêu cực. Chúng ta phải đo lường và nhận thức được bản
chất độc hại của những loại tình cảm khốn khổ này
như lòng thù hận chẳng hạn. Như tôi đã từng phát biểu
trước đây, sự hận thù làm cho chúng ta mất đi cả sức
khỏe lẫn bạn bè cũng như nó sẽ làm ung thối cả cuộc
đời ta. Những tình cảm tiêu cực gây nên nhiều vấn nạn
ở mọi cấp độ khác nhau: cá nhân, gia đình, cộng đồng,
quốc gia, cũng như cả quốc tế. Lịch sử nhân loại cho chúng
ta thấy rằng những kẻ gây nên những khổ đau khôn cùng
cho kẻ khác thường bị thúc đẩy bởi nỗi giận dữ
vô bờ và lòng tham lam quá độ. Thái độ như thế đã
được bắt nguồn từ vô minh. Ðiều này không có nghĩa rằng
những người này có tâm địa ác độc, chung quy họ cũng
chỉ là những con người. Tuy nhiên họ đã để cho tâm trí
của mình bị chế ngự và hướng dẫn một cách mù quáng
bởi những tình cảm tiêu cực, biến họ trở thành những
kẻ sát nhân.
Nhìn
vào lịch sử nhân loại một lần nữa ta sẽ thấy rằng tuyệt
đại bộ phận những thành công kiệt xuất đều được thực
hiện bởi những con người có lòng vị tha và tâm hồn bình
ổn. Ða phần những nhạc sĩ tài danh những nhà nghệ sĩ lớn
đều có một cuộc sống nội tâm an bình. Dĩ nhiên không phải
là không có ngoại lệ, tuy nhiên một cách tổng quát mà nói,
nhà nghệ sĩ rung lên những tiếng tơ đồng phát xuất từ
sự tĩnh lặng nội tâm nhằm giải bày những nỗi lòng sâu
kín của mình. Bằng cách đó, nhà nghệ sĩ tạo ra niềm hạnh
phúc và mang đến nguồn cảm hứng cho kẻ khác.
Chúng
ta cũng có thể rút ra một bài học trong thời cận đại qua
tấm gương của Mahatma Gandhi, một nhân vật kiệt xuất có
ý thức kỷ luật tự giác cao. Ông ta sống rất thỏa
mãn hạnh phúc với những nhu cầu tối thiểu. Mặc dù được
đào tạo từ nền giáo dục Tây phương và ý thức được
những đặc quyền đặc lợi của một cuộc sống tiện nghi
vật chất và những cơ may mà nền văn minh đó mang lại, ông
đã chọn lựa sống một cuộc sống tuyệt đối đơn giản
tại Ấn Ðộ, chẳng khác gì một kẻ ăn mày. Ðiều này phản
ánh một tinh thần kỷ luật tự giác và một tâm hồn vị
tha cao quý. Tất cả mọi khía cạnh tích cực mà con người
cố gắng để hoàn tất đều là kết qủa của những tình
cảm tích cực này của tâm hồn.
Kinh
nghiệm của chính bản thân tôi, cũng như của nhiều người
khác, cho ta thấy ở mức độ nào các thái độ tinh thần
tích cực mang lại hạnh phúc cho cá nhân mình và cho người
khác, và ở mức độ nào các thái độ tiêu cực trở nên
tàn hại. Trên căn bản đó mỗi cá nhân cần tự mình nỗ
lực vận dụng những năng lực sẵn có để phát triển tâm
hồn mình.
Con
người sinh sống trong một môi trường xã hội nhất định.
Mặc dù ai cũng công nhận rằng tốt nhất là chúng ta có nhiều
bạn và không có kẻ thù, nhưng rồi mọi người đều có
cả bạn lẫn thù trong cái đám đông đó. Nhưng bạn và thù
thật ra không hiện hữu y như thế. Tình thân hữu và
sự thù địch chỉ là kết qủa của nhiều yếu tố khác
nhau, trong đó yếu tố hàng đầu chính là thái độ tinh thần
của chúng ta. Khi chúng ta mở rộng vòng tay ra với tha nhân
và sẵn sàng cống hiến tình thân hữu và thân ái của ta
đối với họ, lập tức chúng ta đã tạo dựng nên một bầu
khí tốt lành. Ngay cả không nhận thức được điều
này, họ cũng sẽ tiến đến ta bằng một khuôn mặt
rạng rỡ nụ cười -không phải là khuôn mặt căng thẳng
hay nụ cười giả dối mà là sự chân thành cởi mở.
Ngược lại nếu ta chỉ sống bằng những ác niệm, những
tư tưởng tiêu cực, không thèm đếm xỉa đến quyền lợi
và nguyện vọng của tha nhân; hay nói một cách khác, chúng
ta chỉ nghĩ đến cá nhân mình và có khuynh hướng khai thác,
lợi dụng kẻ khác cho những mục tiêu cứu cánh của mình,
tình huống sẽ trở nên tồi tệ. Cuối cùng rồi ngay cả
những người thân cận nhất trong gia đình cũng sẽ lánh xa
ta. Như vậy, vấn đề đã trở nên rõ ràng rằng bạn hay
thù chẳng qua chỉ là sản phẩm của chính thái độ của
chúng ta.
Một
số khác đã suy nghĩ một cách sai lầm rằng tiền bạc
có thể mang đến cho ta bạn bè. Không chắc như vậy
-bởi vì nó đồng thời cũng mang đến kẻ thù! Hãy dừng
lại một chút và suy nghĩ về những người đang chào đón
ta với nụ cười rộng mở trên khuôn mặt: Họ thật sự
là bạn ta hay chỉ là bạn của túi tiền mà ta đang có? Không
thể biết được. Bao lâu mà ta còn tiền, có thể họ sẽ
đến cụng ly sâm banh với ta và mọi chuyện đều diễn ra
một cách tốt đẹp. Thế nhưng khi ta bắt đầu rỗng túi,
bạn bè đều lần lượt biến mất như là một phép lạ.
Bây giờ thì rất khó mà điện thoại cho họ, hoặc có thể
ta lại bị họ cúp máy không chừng. Tiền bạc và của cải
vật chất dĩ nhiên là cần thiết nhưng chúng không phải là
vật thiết thân. Sự giàu có thật sự chỉ được tìm thấy
bên trong của mỗi con người.
Từ
bi, hỷ xả, hy vọng và nhẫn nhục là những tình cảm tốt
đẹp mà tất cả các tôn giáo lớn đều cố gắng phát huy
và củng cố. Bạn không nhất thiết phải là người có tín
ngưỡng -mọi người đều có quyền có tín ngưỡng hay không-
mới có thể làm tăng tiến những thái độ tích cực này
trong tâm hồn mình. Chúng ta nên nhớ rằng các tôn giáo lớn
của thế giới đều chuyên chở chung một thông điệp
và khuyến khích phát triển những đức tính tốt đẹp của
con người. Mặc dù giáo điều của mỗi tôn giáo có thể
khác nhau nhưng tựu trung, thông điệp chính đều giống nhau.
Trên căn bản của mẫu số chung này, thông điệp của thương
yêu và từ bi sẽ được tung ra khắp tận cùng thế giới
nếu tất cả những ai đang bước đi trên hành trình tâm linh
cùng ngồi lại làm việc với nhau trong tinh thần hoà điệu
và tương kính.
Tuy
nhiên nếu những kẻ luôn mạnh miệng cổ võ những phẩm
chất tốt đẹp của con người lại quay ra cải vã chỉ trích
lẫn nhau thì làm sao họ lại có thể rao truyền thông điệp
này đến kẻ khác? Chắc chắn mọi người sẽ nói rằng,
với chút ít mai mỉa: “Coi bọn họ kìa! Khoan dung và tương
kính ở chỗ nào? Ngay cả bọn họ còn chẳng chịu được
nhau thì nói gì ai.” Thế nên nếu chúng ta muốn giúp đỡ
nhân loại một cách thực tiễn, chúng ta phải bắt đầu bằng
việc biến mình thành một tấm gương tốt của lòng tương
kính, sự hoà hợp và tinh thần hợp tác trước mắt nhìn
của thế giới. Nhìn từ xa, những cách biệt có vẻ như rất
lớn lao. Tuy nhiên nếu ta chịu khó tiếp cận với tha nhân
và chia xẻ những kinh nghiệm của họ, chúng ta sẽ biết cách
làm thế nào để hòa điệu với kẻ khác cho dù có những
khác biệt về đức tin, giáo lý; và làm thế nào để cùng
nhau phát triển các khía cạnh tích cực của đời sống nhân
loại. Cho nên việc quan trọng hàng đầu là duy trì mối
quan hệ tốt đẹp, và các phong trào tôn giáo khác biệt cần
nên chia xẻ, giao tiếp cùng nhau. Cho dù tất cả những xung
đột do nguyên nhân bất đồng tín ngưỡng xảy ra tại Bosnia
hay Phi Châu, luôn luôn vẫn có những bước khích lệ hướng
về việc hòa giải. Tuy nhiên cần có những nỗ lực kiên
trì trong hướng đó!
Thưa
Ngài, gần đây chúng tôi có dịp được đọc một bản tài
liệu liên quan đến nỗi thống khổ của Tây Tạng, trong đó
kể cả lời khai của một nhà sư bị tù đày hơn ba mươi
ba năm trời -hai mươi bốn năm trong nhà tù và chín năm
trong các trại lao động khổ sai. Ông ta đã trải qua những
đau đớn bởi những nhục hình tra tấn khó tưởng tượng
nỗi, biến ông trở thành kẻ tàn phế suốt đời. Như thế
bằng cách nào chúng ta có thể đạt được sự bình an tâm
hồn vốn hàm chứa thanh thản và đức hạnh khi chúng ta được
nghe những câu chuyện như thế? Phải chăng bày tỏ nỗi giận
dữ và làm một cái gì đó một cách thực tiễn là những
đáp ứng tương xứng nhất?
Ðiều
quan trọng nhất là ta không thờ ơ lãnh đạm đối với những
chuyện như thế, ta cảm nhận sâu xa tình huống này nhưng
trong một chiều hướng xây dựng hơn, không biết qúy vị
có hiểu điều tôi muốn nói không. Chúng ta không nên để
cho mình bị tràn ngập bởi những cảm thức đến độ tê
cóng. Tôi không chắc là tôi có hiểu rõ câu hỏi của qúy
vị hay không, tuy nhiên nếu vấn đề đặt ra là để duy trìõ
sự an bình nội tâm một cách có hiệu quả khi phải đối
đầu với những tình huống như qúy vị vừa trình bày, điều
này tùy thuộc một phần lớn vào mức độ phát triển tinh
thần của mỗi cá nhân.
Với
những thử thách khủng khiếp mà Ngài và dân tộc Ngài đang
trải qua và tiếp tục chịu đựng, có khi nào Ngài nghĩ đến
thiên nhiên, đến hoa viên cây cảnh? Ngài có quan niệm
rằng chúng là những biểu hiện rõ nét của nền văn minh?
Theo ý kiến của Ngài, cảnh trí có cho ta một thông điệp
nào không? Những hoa viên, cảnh trí có thể giúp ta tìm ra
được sự bình an tâm hồn, giúp ta nhận thức, đưa ta đến
con đường minh triết?
Tôi
tin chắc rằng mỗi khi tinh thần ta bị khủng hoảng, nếu
ta chịu khó bước ra ra bên ngoài ngắm nhìn phong cảnh, thở
hít bầu không khí trong lành và lắng nghe chim chóc ca hót,
tâm hồn chúng ta sẽ tạm thời lắng xuống. Nói cho cùng,
mặc dù với tất cả kiến thức và khả năng, chúng ta vẫn
là một phần tử của thiên nhiên, là một sản phẩm của
thiên nhiên. Tổ tiên của chúng ta hàng ngàn năm trước đã
sống rất gần gũi với thiên nhiên. Hôm nay trong chúng ta vẫn
còn lưu lại những dấu vết của đời sống đó: ngay cả
trong những ngôi nhà tân tiến nhất, chúng ta vẫn thích trang
hoàng đồ đạc trong nhà bằng gỗ và cây kiểng xanh tươi
-cái đó như đã ở trong máu huyết của chúng ta.
Trong
quá khứ, tất cả cuộc sống con người hầu như nương dựa
vào cây cối. Hoa là vật điểm trang, trái cây là thực phẩm,
lá và vỏ cây cho ta áo quần và nơi trú ẩn. Chúng ta lẫn
trốn trên những cành cây để đề phòng thú dữ. Chúng
ta dùng củi để sưởi ấm khi lạnh giá, và khi về già chiếc
gậy nâng đỡ ta trước sức nặng của thời gian, đó cũng
là vũ khí để ta tự bảo vệ mình. Chúng ta đã gắn bó với
cây cối như thế. Bây giờ, trong các văn phòng cực kỳ hiện
đại, chung quanh ta là những máy móc tối tân, những dàn vi
tính với hiệu suất cao, ta dễ dàng quên đi những mối liên
hệ chặt chẽ với thiên nhiên. Cũng là chuyện rất bình thường
khi ta cố gắng cải thiện phẩm chất của đời sống thông
qua những tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Tuy nhiên đồng
thời một điều cũng khá quan trọng là nếu ta biết được
những giới hạn của sự tiến bộ đó và giữ cho mình tỉnh
táo để thấy một sự thực là ta vẫn còn nương tựa vào
thiên nhiên. Nếu môi trường sống của chúng ta bị thay đổi
đến tận gốc rễ, chúng ta sẽ không còn cách gì để tự
bảo vệ chính mình. Ðó là lý do tại sao cả tư duy lẫn hành
động của chúng ta đều nền đi theo con đường Trung Ðạo.
Trong
trí tưởng của người Tây phương, thường có sự mù mờ
giữa sự ức chế tình cảm và sự tìm kiếm an bình nội
tâm. Khi chúng ta ức chế một cái gì đó, chúng ta thường
mang những gì được coi là vấn nạn trong đời sống của
mình đem đi dấu biệt vào một xó xỉnh nào đó và nghĩ rằng
ta có thể quên chúng đi để có thể tiếp tục sống mà khỏi
phải đối diện với chúng. Thưa Ngài, Ngài có suy nghĩ
gì về nghệ thuật ức chế này?
Tôi
nghĩ là tôi đã từng đề cập phớt qua đến vấn nạn này
khi nói rằng, trong một số trường hợp, cụ thể là sự
sợ hãi chẳng hạn, không nhất thiết là một điều xấu
khi bạn cứ cho những tình cảm này bộc phát ra để rồi
loại bỏ chúng. Tuy nhiên điều này không phải là không có
những mối hiểm nguy. Thực vậy, nếu ta thiếu ý thức kỷ
luật tự giác và cứ để mặc cho tất cả mọi loại tình
cảm xâm nhập tâm trí ta tuôn ra một cách tự nhiên, lấy
cớ là ta phải để cho nó bộc phát, chúng ta sẽ đi đến
chỗ quá trớn và không chừng vi phạm cả luật pháp quốc
gia. Trên bình diện xã hội hay cá nhân, chúng ta cần có một
thứ kỷ luật nội tâm để hướng dẫn tư duy của ta theo
một chiều hướng xây dựng. Những tình cảm của con người
thường không có giới hạn, và sức mạnh của những tình
cảm tiêu cực là vô tận.
Tuy
nhiên tôi không nghĩ rằng trong trường hợp như thế chúng
ta có thể gọi đó là ức chế. Ngược lại, đây là vấn
đề có vẻ rất tích cực. Chúng ta học hành và tu tập với
mục đích từng bước loại bỏ sự vô minh. Tu tập nhiều
khi không phải là chuyện dễ dàng. Mỗi khi mệt mỏi ta tưởng
như sẽ không còn thể nào tiếp tục được nữa. Thế nhưng
khi bắt đầu ý thức được những lợi lạc của sự tu tập,
chúng ta sẽ tự thiết định cho mình một thứ kỷ luật và
nỗ lực vươn theo. Bằng học tập, chúng ta mở rộng tầm
kiến thức của mình, nhưng điều đó không có nghĩa là ta
ức chế được vô minh!