PHỤNG
SỰ NHÂN LOẠI
Thưa
Ðức Ðạt Lai Lạt Ma,Ngài là một đứa trẻ ngoại lệ. Những
thiếu nhi quan tâm đến tương lai của thế giới vừa mới
đứng ra thành lập một hiệp hội. Ngài có muốn trao truyền
một thông điệp nào cho chúng không?
Tương
lai trải dài trước mắt chúng ta quả thật là rất quan trọng.
Thiếu nhi là người chịu trách nhiệm trực tiếp với tương
lai. Trên căn bản nhận định rằng bản chất con người vốn
tốt đẹp, tình cảm yêu thương, tâm địa lương hão của
trẻ thơ được phát xuất một cách tự nhiên. Lúc còn bé,
đứa trẻ thường không có nhận thức phân biệt giữa một
con người này và một con người khác; chẳng hạn như đối
với chúng, nụ cười cuả người đối diện quan trọng hơn
là chủng tộc, quốc tịch, văn hóa của họ. Tôi yêu mến
cái giá trị tốt đẹp của thái độ như thế, nó mang lại
cho tôi biết bao hy vọng khi nhìn về tương lai.
Tuy
nhiên ta không thể không quan tâm đến một vài phương diện
khác của vấn đề. Trẻ con nói chung đều có một tâm hồn
nồng hậu, nhân ái; thế nhưng trong một số lãnh vực cuả
nền giáo dục mà chúng tiếp thu phần nào đã làm gia tăng
sự cách biệt giữa chúng với nhau, tạo nên khoảng cách giữa
đứa trẻ này và những đứa trẻ khác. Theo tôi, điều
quan trọng là bản chất tốt đẹp của thiếu nhi cần phải
được nuôi dưỡng. Ðiều này có nghĩa là giáo dục phải
được hoà điệu nhịp nhàng cùng với bản chất nhân ái
sẵn có của trẻ thơ. Thế nên yếu tố quan trọng nhất là
chúng cần phải được nuôi dưỡng trong một bầu khí đầy
yêu thương, trìu mến. Một cách lý tưởng mà nói thì những
phẩm chất của con người cần phải được triển khai cùng
với lòng nhân ái, thế nhưng nếu cần phải chọn lựa giữa
một bên là những phẩm chất quan trọng chung và bên kia là
lòng nhân ái, tôi thường phát biểu rằng tôi sẵn sàng lựa
chọn lòng nhân ái.
Những
vốn liếng về thông minh và học vấn mà con người tích lũy
được dù quan trọng đến thế nào đi nữa cũng chưa đủ
để xây đắp tương lai. Tâm hồn của chúng ta cần phải
được ươm đầy lòng vị tha thông qua việc học tập những
giá trị căn bản của nhân loại, tình yêu đối với tha nhân
là một thí dụ.
Hãy
để cho lòng nhân ái thẩm thấu vào tâm hồn của mỗi con
người và giữ cho tâm hồn của chúng ta luôn ở trong trạng
thái tích cực, sinh động. Chúng ta hãy làm phong phú thêm óc
thông minh của mình bằng những phẩm chất tốt đẹp này
và biết vận dụng một cách khéo léo tất cả những gì mà
chúng ta tiếp thu được từ giáo dục để xây dựng cho mình
một cuộc sống thỏa mãn và hạnh phúc.
Ngài
có thể giải thích cho chúng tôi biết tại sao trong xã hội
Tây phương, cha mẹ và con cái thường là không thuận thảo
với nhau ?
Ðiều
này tôi quả tình không biết. Có quá nhiều yếu tố, điều
kiện gây nên những xung đột trong đời sống gia đình, chẳng
hạn như thói quen, tập quán hoặc là những khuôn mẫu mà
chúng ta đặt để buộc con cái phải tuân theo. Dĩ nhiên quả
là điều đáng buồn nếu ta phải chứng kiến sự thiếu vắng
tình thương giữa cha mẹ và con cái. Theo tôi chúng ta
khó có thể quy trách cho bất cứ yếu tố nào trong chuyện
xung đột này. Nguyên nhân thì rất nhiều, thế nên khi
tìm cách giải quyết vấn đề ta phải nhìn chúng một
cách toàn diện.
Thưa
Ngài, những quan điểm của Tây phương về chính trị, kinh
tế có vẻ như rất thành công trong thập niên 60, nhưng đã
không còn thích hợp trong thập niên 90. Nó không còn làm cho
người ta hài lòng nữa. Theo Ngài, làm thế nào để cải
thiện tình huống này?
Từ
thuở bé đến giờ, tôi rất yêu thích bộ môn khoa học kỹ
thuật. Một số người cho rằng sự phát triển của bộ môn
này tự nó không phải là điều hoàn toàn đáng mong ước,
nhưng theo thiển ý của tôi, không được đúng lắm trong trường
hợp này. Tất cả đều tùy thuộc vào thái độ của chính
chúng ta. Khoa học kỹ thuật chỉ là phương tiện, công cụ.
Nó thực hiện những gì mà chúng ta đòi hỏi, tốt hay xấu
hoàn toàn do chính chúng ta làm chủ, quyết định. Như vậy
mọi chuyện đềy tùy thuộc vào động cơ thúc đẩy và phương
cách mà chúng ta sử dụng chúng. Tôi nghĩ rằng trong thời
đại này tất cả chúng ta đang chứng kiến sự bùng nỗ lớn
lao của kiến thức, tuy nhiên do quá chú trọng đến kiến
thức, chúng ta đã không quan tâm mấy đến sự phát triển
lòng nhân đức, vị tha, bác ái.
Nói
như thế, tôi nghĩ rằng mọi việc bây giờ đã có vẻ trở
nên sáng tỏ hơn. Con người hẵn nhiên không phải là sản
phẩm của máy móc, thế nên khát vọng đạt đến hạnh phúc
chân thật không thể nào hoàn toàn nương tựa vào những cảnh
huống bên ngoài. Dĩ nhiên chúng ta cũng cần phải có một
cuộc sống vật chất tối thiểu, nhưng đó không phải là
cỗi nguồn của hạnh phúc. Chúng ta phải tự nỗ lực tìm
kiếm ngay chính trong bản thân cuả mỗi chúng ta những nguyên
nhân của hạnh phúc và thỏa mãn. Chúng phải được phát
triển ngay bên trong của mỗi con người. Theo tôi, vấn đề
này rất là rõ ràng.
Mặc
dù điều này có vẻ như rất khó giải thích, tuy nhiên tôi
cũng xin cố gắng để diễn tả điều mà tôi vừa khẳng
định. Trước tiên, chúng ta phải nhận thức được rằng
hạnh phúc chỉ có thể tìm thấy được trong tâm hồn của
chính mình. Những ai nghĩ rằng chỉ có khoa học kỹ thuật
là có khả năng giải quyết mọi vấn đề, và với sự tiến
bộ trên lãnh vực vật chất, mọi mục tiêu đều có thể
đạt tới được, theo tôi đều là những người có quan điểm
cực đoan. Chúng ta cần phải nhận thức được những giới
hạn của lối tiếp cận như thế. Và một khi chúng ta bắt
đầu bằng cách ý thức được những giới hạn này, chúng
ta sẽ không bao giờ bị xúc động khi phải đối diện
với những chướng ngại bên ngoài.
Theo
tôi, mỗi khi phải đối diện với những nỗi khó khăn, tốt
nhất là chúng ta chớ vội đi sâu vào vấn đề, thay vì nên
lùi lại, nhìn ngắm chúng với một tâm hồn rộng mở, đặt
chúng vào trong mộr bức tranh toàn cảnh lớn hơn. Bằng cách
này tôi tin rằng chúng ta sẽ rất dễ dàng tìm ra những giải
pháp. Cụ thể hơn như khi chúng ta phải đối đầu với những
vấn đề nghiêm trọng, nếu ta không đứng tách ra ngoài để
nhìn vấn đề và tìm cách đối phó, chúng ta sẽ không nhìn
thấy gì cả, những khó khăn sẽ trở nên nặng nề và chúng
ta sẽ rơi vào trạng huống tiêu cực hơn. Ngược lại, nếu
chúng ta quan sát chúng từ xa, tiếp cận chúng với một thái
độ rộng mở, khảo sát vấn nạn từ mỗi góc cạnh, chúng
ta sẽ dễ dàng nhìn thấy được những trạng huống tích
cực của vấn đề.
Tôi
nghĩ rằng quả là điều quan trọng nếu chúng ta biết
tổng hợp trí óc thông minh tự nhiên sẵn có của mình cùng
với lòng can đảm để có thể phát triển lòng tự tin trong
mỗi chúng ta. Kinh nghiệm cá nhân cho tôi biết thái độ này
rất ích lợi cho sự bình an của tâm hồn.
Thưa
Ngài, bằng những phương sách nào, các chính khách có thể
mang lại cho quần chúng hạnh phúc hơn?
Theo
tôi vấn đề này không phải chỉ đặt ra cho giới chính khách
mà thôi. Nó liên hệ đến tất cả mọi giới: giáo viên,
nhà khoa học, lý thuyết gia chính trị, chuyên gia tâm lý, nói
chung là tất cả những ai đang hoạt động trên các lãnh vực
khoa học về tâm trí, tinh thần. Một cách cụ thể, tất cả
mọi người đều phải tự tìm kiếm cho mình những phương
cách để mang lại sự bình an tâm hồn. Y khoa càng ngày càng
khám phá thêm những mối liên hệ mật thiết giữa sự thanh
thản tâm hồn và sức khỏe thể xác. Những nghiên cứu như
thế đáng được đẩy mạnh thêm.
Bên
cạnh đó, theo tôi lãnh vực truyền thông cũng đóng một vai
trò khá quan trọng trong chuyện này. Ngành truyền thông của
chúng ta hiện đang ở vào thời đại tân tiến, cho nên tôi
tin chắc chúng có thể đảm nhiệm được công việc
như những nhà giáo dục nhằm kích thích tâm hồn của con
người. Những ký giả vì thế cũng mang một sứ mệnh quan
trọng.
Nhân
đây tôi cũng xin được bày tỏ đôi điều về vấn đề
này. Tôi nghĩ là ngành truyền thông đại chúng hiện đang
quá chú trọng đến việc khai thác các khía cạnh tiêu cực
trong đời sống xã hội; điều này đã tạo cho công luận
có một ấn tượng tiêu cực về bản chất của nhân loại
nói chung. Thông thường, một khi bạn mang một ấn tượng
như thế, bạn sẽ rất dễ dàng sinh ra chán nản, và thực
tế cho thấy là người ta mất đi niềm hy vọng để sống.
Nhân
loại -mặc dù được coi như một đại gia đình- đã phải
gánh chịu khổ đau bởi rất nhiều vấn nạn.Thế nhưng cho
dù con người phải đối diện với vô vàn những khó khăn
như thế, ta vẫn có khả năng chuyển hóa chúng. Chúng ta có
thể cải thiện hoàn cảnh sống bởi vì thiện tâm và
lòng nhân ái là một phần của bản chất con người. Nếu
chúng ta biết phối hợp trí óc thông minh của mình với sự
thúc đẩy của lòng nhân ái, chúng ta có khả năng thay đổi
cuộc sống của chúng ta và qua đó, chuyển hóa xã hội. Tôi
nghĩ rằng đây là điểm căn bản.
Ðiều
này giải thích tại sao tôi luôn quan niệm rằng khi cần phải
đối phó với những vấn đề liên quan đến con người, điều
tốt nhất là ta nên cân nhắc kỹ lưỡng. Tất cả những
trạng huống tiêu cực của nhân loại dĩ nhiên không phải
là không quan trọng, nó cho báo chí những tin hay. Tuy nhiên
đồng thời ta cũng đừng nên bỏ qua khía cạnh tích cực
của đời sống vốn được xây dựng trên bản chất tốt
đẹp và trí tuệ của con người.
Gần
đây tại một số quốc gia đã có những cuộc thảo luận
liên quan đến vai trò của truyền thông đại chúng. Những
gì cần phải được tường thuật? Tường thuật như thế
nào? Những phần nào liên quan đến đời tư của con người
mà truyền thông không được đụng tới? Tôi cũng có một
vài thiển ý liên quan đến những vấn đề này, đặc biệt
là những lãnh vực mà các nhà lãnh đạo thường quan tâm.
Trong thời gian qua thực tế cho thấy là đã có một số các
khuôn mặt lãnh đạo lạm dụng chức quyền, họ không hề
tuân thủ một chút nào về nguyên tắc đạo đức hoặc ý
thức kỹ luật tự giác. Ðối với những trường hợp như
vậy, tôi nghĩ rằng ngành truyền thông có quyền kiểm chứng
và phơi bày cho công luận biết những tệ trạng như thế,
đó là lý do tại sao tôi ủng hộ những hoạt động của
họ và đánh giá cao khả năng điều tra tìm tòi của người
ký giả, có thể chỏ mũi vào bất cứ nơi nào.
Một
con người lương thiện không thể có sự mâu thuẫn nào giữa
dáng vẽ bên ngoài và đời sống nội tâm của họ. Tôi nghĩ
rằng ngành truyền thông cần cho công luận thấy một vài
khuôn mặt nổi tiếng đã khéo léo che dấu con người thật
của họ bằng một mả ngoài rất lịch sự, dễ thương. Trong
những trường hợp như thế, tốt hơn là ta đành phải chấp
nhận chuyện xâm phạm đời tư cá nhân, tuy nhiên, xin đừng
quên rằng mục đích chung cùng của chúng ta là phụng sự
nhân loại trong ý hướng cải thiện xã hội. Ðiều này không
cho phép ta làm việc cẩu thả, sai lầm hoặc bị lôi kéo bởi
những động cơ tiêu cực. Tôi quan niệm rằng nếu chúng ta
không chịu phơi bày ra những mặt xấu xa của xã hội chẳng
hạn như ma túy, sát nhân, sách nhiễu tình dục, khai thác trẻ
con... ngày qua ngày, những người lương thiện sẽ vẫn còn
tiếp tục hứng chịu những đau khổ gây ra bởi những tệ
nạn này. Nếu chúng ta biết giải thích mọi việc một cách
sáng tỏ, công luận từ đó sẽ quan tâm đến vấn đề và
tìm ra những phương thức làm giảm thiểu khổ đau.
Tôi
cũng nhận thấy rằng khi người ta nói về luân lý, đạo
đức người ta thường liên hệ những phẩm chất này với
những ý niệm tôn giáo. Theo tôi, một việc khá quan trọng
là ta cần nên tách rời giữa hai ý niệm đạo đức và tôn
giáo. Tôn giáo dĩ nhiên giúp ta củng cố, trợ lực và phát
triển đạo đức; thế nhưng khi ta nói đến những khái niệm
như lòng vị tha, tình huynh đệ chúng ta nên nhận thức rằng
những tiêu chuẩn đạo đức này tự nó hiện hữu, độc
lập đối với mọi tôn giáo, bởi vì những tình cảm
này được hình thành do bản chất tự nhiên của con người
-tình nhân ái và lòng thương yêu.
Thưa
Ngài, quan niệm của Ngài như thế nào về việc kiểm soát
sinh sản và Ngài có ý kiến gì về việc phá thai?
Ðể
trả lời cho câu hỏi này tôi thường giải thích theo quan
điểm của người Phật tử vốn quan niệm rằng đời sống
của tất cả mọi loài chúng sanh, kể cả côn trùng sâu bọ
và đặc biệt là con người, đều rất qúy giá. Nếu nhìn
vấn đề như thế thì tất cả mọi hình thứckiểm soát
sinh sản đều cần phải được ngăn cấm. Tuy nhiên những
sinh mạng qúy giá đó nay đã đạt đến một số lượng đáng
kể, thế nên chúng ta không thể không khẩn thiết kêu gọi
mọi người phải quan tâm đến vấn đề hạn chế sinh sản
một cách nghiêm túc, vì đó là phương cách duy nhất để
hạn chế tình trạngï gia tăng dân số. Như tôi đã từng
đề cập, khi mà tài nguyên của trái đất đang khô kiệt
dần, tôi chấp nhận chuyện hạn chế sinh sản một cách bất
bạo động.
Còn
phá thai là một chuyện khác, đó là một hành động sát nhân.
Truyền thống Giới Luật Phật giáo chỉ rõ rằng ta không
được giết hại con người, cho dù đó là một bào thai. Tuy
nhiên không phải là không có những trường hợp ngoại lệ
mà ta phải xem xét, chẳng hạn như đó là nguồn gốc gây
nên sự khổ đau trầm trọng cho một thành viên trong gia đình,
ví dụ một bà mẹ mang thai có nguy cơ tử vong lúc lâm bồn
hoặc những người có thể sinh ra quái thai.
Thưa
Ngài, làm thế nào để giúp đỡ những người mang những
khổ đau thể xác lớn lao, những người không đủ sức khoẻ
để có thể theo đuổi con đường dẫn đến giác ngộ?
Có
nhiều loại bệnh hoạn về thể chất khác nhau. Những loại
tạo ra những ảnh hưởng trầm trọng đến tâm trí của bệnh
nhân thì quả thật là rất đáng thương và bi đát; thế nhưng
có những loại chỉ gây nên những đau đớn về thể xác,
như là các bệnh kinh niên, bán thân bất toại hoặc tạo ra
những biến chứng trầm trọng, nhưng tâm trí người bệnh
vẫn tỉnh táo và như vậy họ có thể dự phần vào các sinh
hoạt tâm linh ở một mức độ nào đó. Sự học hỏi Giáo
Pháp không phải là một hoạt động về lãnh vực thể chất
mà đòi hỏi sự vận dụng tâm trí và một thái độ tâm
linh cần thiết. Những ai đang đau đớn có thể được
hướng dẫn để quán tưởng về các đề mục tham thiền
như tình yêu thương, lòng can đảm, về đức tin cũng
như tinh thần từ bi, nhân ái; những việc này sẽ tạo
cho họ thêm tin tưởng cũng như làm cho đời sống của họ
trở nên có ý nghĩa và giá trị hơn. Tuy nhiên sự hướng
dẫn phải được thực hiện một cách khéo léo.
Thưa
Ngài, ta có thể làm được gì khi một người biết mình đang
bị bệnh AIDS hoặc một căn bệnh bất trị khác?
Một
lần nữa, theo tôi những phản ứng của một người trước
loại bệnh hoạn như thế đều tùy thuộc vào mức độ tham
dự vào những sinh hoạt tâm linh của họ. Tôi không biết
phải nói như thế nào đối với những kẻ vô thần hoặc
không có một niềm tin tôn giáo cụ thể nào. Tuy nhiên điều
tôi muốn trình bày ở đây là dù thế nào đi nữa, chúng
ta không nên bỏ rơi hoặc gạt họ ra bên lề xã hội và như
thế ta có thể làm giảm thiểu được sự khổ đau gây nên
bởi cảm giác bị hất hủi, tuyệt vọng, không được che
chở nơi họ. Chúng ta phải cho người bệnh thấy là họ không
bao giờ bị gạt ra ngoài. Ðó là trách nhiệm lớn lao của
xã hội.
Nếu
một người không còn một mảy may hy vọng nào sống sót -ví
dụ như đang ở trong trạng thái hôn mê chẳng hạn- có phải
là điều quan trọng nếu ta kéo dài sự sống của họ một
cách giả tạo? Chúng ta có tạo nghiệp hay không khi phải
chấm dứt sự sống không ngoài mục đích ngăn chặn
những đau đớn không cần thiết khác?
Chúng
ta hãy nhìn vấn nạn này trên quan điểm của người bệnh.
Tâm trí của họ có còn tỉnh táo, lý trí của họ có đủ
khả năng để suy luận hay không? Nếu còn đủ, một điều
rất quan trọng là ta phải để cho họ sống, dù chỉ trong
một ngày hay một buổi để may ra họ có thể có cơ hội
phát triển trạng thái đức hạnh về mặt tâm linh như lòng
từ bi và hỷ xả chẳng hạn. Trong trường hợp bệnh nhân
đang ở trong trạng thái hôn mê bất tỉnh, tâm trí không còn
hoạt động nữa, ta cần nên xem xét một số yếu tố khác,
chẳng hạn như ý muốn của những người thân trong gia đình
cũng như quyết định ai sẽ là người trách nhiệm đứng
ra chấm dứt sự sống. Như vậy quả tình vấn đề không
phải là đơn giản, ta không thể có câu trả lời trên căn
bản những lời khuyên thông thường.
Tuy
nhiên quan trọng hơn cả là chúng ta cần phải xem xét động
cơ đàng sau mỗi hành động. Ðạo Phật dạy chúng ta không
nên huỷ diệt sự sống của bất kỳ sinh vật nào. Nếu một
người đang đau đớn, họ phải chấp nhận hoàn cảnh khổ
đau đó để thanh lọc nó. Tuy nhiên qủa là một lầm lẫn
lớn nếu ta không thèm đếm xỉa đến nỗi khổ đau của
người khác, xem đó là nghiệp qủa mà họ phải gánh chịu
và ta không thể làm gì được. Mỗi chúng ta đã và đang tích
lũy một nghiệp qủa riêng. Nó đã được thu nhận, và tiềm
ẩn trong mỗi con người. Tương lai vì thế nằm ở trong tay
của chính chúng ta chứ không ai khác. Những khó khăn trở
ngại, những bệnh tật, khiếm khuyết... là kết qủa của
những tác hành mà chúng ta phạm phải trong quá khứ, rất
khó mà trốn chạy được. Ðối diện với bệnh hoạn và
khổ đau người ta thường tìm đủ mọi cách để tránh né
chúng, cố làm vơi bớt đi những gánh nặng khó khăn; và cho
dù ngay cả khi trực nhận thấy rằng ta không đủ lực để
chữa trị hay làm khuây khoả, ta phải nên nhớ rằng tất
cả những vấn nạn này đều là kết quả của những tác
hành mà ta đã gây ra trong quá khứ.
Làm
thế nào để giúp đỡ một người đang ở trong trạng thái
hôn mê ?
Nếu
đó là một người có tín ngưỡng, ta nên giúp họ theo quy
cách tôn giáo mà họ đang tu tập. Cá nhân tôi không thể đưa
ra một giải đáp chắc chắn nào trước cả. Riêng đối với
quan điểm của một Phật tử,tôi nghĩ là con người nên biết
cách chuẩn bị cho mình trước khi sự việc bi đát xảy ra
bởi vì một khi đã rơi vào trạng thái hôn mê, quả thật
là hơi muộn màng khi nói đến chuyện tâm linh.
Làm
thế nào để một người có thể thoát khỏi tình trạng nghiện
rượu?
Theo
tôi, tốt nhất là ta nên tìm kiếm lời khuyên từ những bác
sĩ chuyên môn. Tạm thời hãy để qua một bên bất cứ những
niềm tin tôn giáo của người đó, điều dễ dàng nhất là
ta cứ nhìn vào và nhận thức được những tổn hại gây
ra do việc rượu chè quá độ cả trên hai bình diện tinh thần
lẫn thể xác, để hiểu được rằng do nghiện ngập ta đã
bị người đời xa lánh, cô lập. Một khi đã có một cái
nhìn rõ ràng về mặt bất lợi của việc nghiện rượu và
phát triển được lòng quyết tâm từ bỏ nghiện ngập, tôi
tin chắc là bạn có thể thay đổi được đời mình.
Tuy nhiên nếu bạn không đủ ý chí và nghị lực để có
được một thái độ tích cực, tốt nhất là hãy nên đến
các trung tâm y khoa chuyên chữa trị về cai rượu hầu như
bây giờ đều có mặt khắp nơi.
Khi
một người Tây Tạng giết một con trâu để nuôi sống gia
đình, có phải họ đã gây ra một ác nghiệp? Hoặc khi
một cận vệ phải giết kẻ khác để bảo vệ sinh mạng
của Ngài? Chúng ta giải thích như thế nào về những
trường hợp trên?
Dĩ
nhiên đó đều là những hành động bất thiện. Tuy nhiên
nghiệp tác động vào mỗi hành động của chúng ta dựa trên
nhiều yếu tố, chẳng hạn như ý hướng thúc đẩy hành động,
sự hành động và những ý tưởng theo sau hành động đó.
Thưa
Ngài, những gì được xem như là những thái độ tình dục
không đúng đắn? Ngài nghĩ như thế nào về đồng tình luyến
ái?
Tùy
thuộc vào các yếu tố như cơ quan sinh dục, thời gian và
không gian mà một số hành động được coi như là không đúng
đắn chẳng hạn như giao cấu không đúng chỗ trên bộ phận
của cơ thể hoặc xảy ra không hợp thời hợp chốn. Ðây
là những hành động mà người Phật tử xem là vô luân về
mặt tình dục. Miệng và hậu môn dĩ nhiên không được coi
là những bộ phận sinh dục, sử dụng các bộ phận này trong
việc giao cấu, dù nam hay nữ đều được coi như là vô luân
trong tình dục. Ngay cả thủ dâm cũng thế.
Giao
cấu vào ban ngày cũng được coi như là vô luân, ngay cả việc
giao cấu với người bạn tình mà họ đang tuân thủ một
số nguyên tắc đạo đức, hạnh nguyện dù chỉ là tạm thời,
chẳng hạn như từ khước ham muốn tình dục, sống độc
thân... Bắt buộc người khác phải giao cấu với mình cũng
được liệt vào loại liên hệ tình dục không đúng thời,
đúng lúc.
Giao
cấu không đúng chỗ nếu được xảy ra tại những nơi như
chùa chiền, chỗ thờ phượng, hoặc bất cứ nơi nào mà một
trong những người bạn tình cảm thấy không thoải mái. Một
hành động tình dục được coi là đúng đắn khi đôi vợ
chồng sử dụng các bộ phận chức năng sinh dục trong việc
giao cấu, không có một ngoại lệ nào khác. Làm tình với
gái điếm do chính mì nh trả tiền mà không phải là một
người thứ ba nào khác, ngược lại không được xem như
là hành vi không đúng đắn. Tất cả những thí dụ vừa nói
nêu ra một số khái niệm thế nào là đúng và không đúng
đắn trong thái độ tình dục theo quan điểm đạo đức của
Phật giáo.
Ðồng
tình luyến ái, bất luận là giữa người nam hay người nữ,
đều được xem là những liên hệ tình dục không đúng đắn.
Xin được nhắc lại một lần nữa rằng những gì được
coi là không đúng đắn nếu sử dụng các bộ phận không
xứng hợp trong chuyện giao hợp. Vấn đề này như thế có
lẽ đã sáng tỏ?
Thưa
Ngài, Phật giáo giải thích như thế nào về vấn đề ý thức
đối với các sinh vật bé nhỏ như côn trùng hay vi trùng chẳng
hạn? Phải chăng tất cả các loài hữu tình đều có ý thức?
Còn cây cỏ, đất đá thì sao, chúng có vẻ như là những
vật vô tình? Phải chăng cây cỏ cũng có Phật tánh?
Tôi
đã từng thảo luận vấn đề này với các nhà khoa học.
Không nhiều thì ít, chúng tôi đã đồng ý với nhau trên quan
điểm rằng mọi vật có thể tự mình chuyển động được
-đặc tính mà cây cối không có- đều có ý thức, linh hồn.
Dĩ nhiên rễ cây cũng chuyển động khi chúng phát triển, tuy
nhiên đây không phải là chuyển động tự nó mà chỉ được
xảy ra khi cây cối tăng trưởng. Vì thế ta không thể gọi
cây cối là “chúng sanh”, tức là có linh hồn. Tuy nhiên
ta có thể kết luận rằng một tế bào vi tế nhất, tế bào
amíp chẳng hạn, vẫn được coi như là một sinh vật vì nó
có khả năng tự chuyển động.
Một
khi đã không xem các loại rau cỏ là sinh vật, ta không thể
xem chúng là có Phật tánh. Ðối với một số loài cây
ăn thịt, tôi không có khả năng phán đoán khả năng giăng
bẩy bắt mồi của chúng là do chúng có ý thức hay chỉ là
kết quả của một phản ứng thuần túy hóa học. Vấn đề
này xin được mở rộng để thảo luận. Tuy nhiên trong một
số trường hợp, người ta không thể không đặt vấn đề.
Ðóa hoa này chẳng hạn, được xem như là loài vô tình -tức
là không có linh hồn- hay là một chúng sanh? Chúng ta thỉnh
thoảng được phép nêu lên nghi vấn bởi vì trong một số
kinh sách Phật giáo đã từng đề cập đến các loài chúng
sanh có thể được xuất hiện dưới dạng thể của loài
vô tình hay cây cối,v.v... Bởi lẽ đó, chúng ta cũng không
thể khẳng định dứt khoát rằng một đóa hoa có phải là
sinh vật hay không, vì lẽ chúng ta không thể biết được
một chúng sanh đang hoá hiện ra dưới hình thức như thế.
Phật
giáo quan tâm mạnh mẽ đến việc bảo vệ thiên nhiên, cây
cỏ, không phải vì chúng là loài hữu tình, là những tạo
vật có thể đánh động lòng từ bi thương xót nơi chúng
ta mà bởi vì thiên nhiên tự nó chính là môi trường sống,
cũng như bảo vệ sự sống còn của muôn loài sinh vật. Nếu
một thành phố bị hỏa thiêu thành tro bụi, có phải là một
số lượng rất lớn những mái ấm gia đình của con người
đã bị hủy diệt? Cũng thế, sự tàn phá thiên nhiên cũng
chẳng khác gì hơn, bởi vì một số lượng lớn loài vật
sẽ bị mất đi nguồn thực phẩm, chỗ cư trú, tức là mất
đi khả năng sinh tồn.
Ðối
với các loài vi khuẩn, theo kinh sách Phật giáo, cơ thể của
chúng ta chứa một số lượng đáng kể. Người ta ước tính
ra là có thể có hơn 80,000 loại như thế, đây là một con
số khá lớn. Ở vào chiều kích nào, trình độ tiến
hoá nào những vi sinh vật này có thể được coi như là những
chúng sanh? Tôi không thể nói thêm được điều gì ngoại
trừ cho rằng các sinh vật bé nhỏ, súc vậr -nếu chúng ta
quan niệm chúng là súc vật hẵn nhiên là chúng phải có một
số hình thức sinh hoạt của loài hữu tình- vì thế chúng
ta có thể xem chúng là có linh hồn.
Thưa
Ngài, xin Ngài giải thích cho chúng tôi khái niệm về cộng
nghiệp, ví dụ nghiệp lực của một quốc gia như Cam Bốt,
Tây Tạng? Cộng nghiệp của các quốc gia này đã được biểu
hiện như thế nào?
Chúng
ta có thể nhận thức được thế nào là cộng nghiệp của
một quốc gia. Thế nhưng cho dù các nghiệp quả được tích
lũy của một cá nhân và chung một nhóm người có thể được
phát tác đồng lúc, điều này không nhất thiết là tất cả
nghiệp lực của họ đều được gây ra bởi cùng một thời
điểm giống nhau. Tôi không tin rằng tất cả những nguyên
nhân của cộng nghiệp được tạo ra cùng một lúc mà đó
là kết quả của từng cá nhân gây ra ở những thời điểm
khác nhau. Lực của những tác hành này cộng thêm với những
yếu tố khác đã tạo nên cộng nghiệp mà qua đó một nhóm
người hay cả một quốc gia phải hứng chịu.
Có
một số tội phạm chiến tranh tại các quốc gia Âu Châu,
cụ thể là Ðông Âu và một vài quốc gia khác tại Á
Châu, như Cam Bốt, Việt Nam chưa hề bao giờ bị truy tố hoặc
ngay cả trong vài trường hợp nhận được sự khoan hồng
trước khi bị mang ra xét xử. Ngài nghĩ như thế nào về chuyện
này?
Thật
quả là điều hổ thẹn khi nhìn thấy một số quốc gia vừa
mới được giải thoát khỏi ách chuyên chế độc tài hồi
gần đây lại quay ra oán hờn và trả thù trả oán lẫn nhau
trong khi lẽ ra người ta nên chấp nhận và tha thứ cho nhau.
Ðối với các quốc gia vừa mới được hưởng tự do dân
chủ, đây không phải là thời điểm để rửa hờn và thanh
thỏa chuyện cũ. Trái lại đây chính là lúc cần tập trung
nỗ lực để xây dựng quốc gia, tái tạo xã hội. Tôi vẫn
luôn nêu lên những cảm nghĩ này mỗi khi có dịp thăm viếng
các quốc gia đó. Riêng tại Trung quốc, mặc dù nền kinh tế
đã được giải phóng nhưng họ vẫn theo đuổi một chế
độ chính trị độc tài áp bức. Tình trạng vi phạm nhân
quyền xảy r a khắp nơi, đặc biệt là tại các khu vực của
sắc dân thiểu số, cụ thể là Tây Tạng, trên thực
tế là một quốc gia đang bị họ chiếm đóng.
Tôi
rất mực hoan hỷ và khâm phục các hoạt động cao quý
của những tổ chức như Hội Ân Xá Quốc Tế (Amnesty
International) đã làm việc với tinh thần cực kỳ thành khẩn,
rất có hiệu quả và nhiệt tình trong lãnh vực bảo vệ quyền
làm người.
Thưa
Ngài, Ngài đã từng nói đến việc tài giảm vũ khí cần
đi đôi với việc giải trừ quân bị ngay chính trong tâm hồn
của mỗi con người. Chúng tôi rất muốn được biết thêm
làm thế nào đểø giải trừ quân bị ngay chính trong tâm
hồn của mỗi người trong khi chúng ta hàng ngày đã phải
đối mặt với kẻ thù, và hận thù thì ngự trị khắp nơi.
Trong cuốn sách The Ways of the Heart, Ngài có gợi ý về việc
thành lập một quân lực quốc tế cho tương lai. Như vậy
tổ chức này theo Ngài, sẽ hoạt động như thế nào trong
khi Ngài là người chủ trương bất bạo động? Ðội quân
này có được võ trang hay không?
Mọi
người đều biết rất rõ rằng khả năng giết chóc lẫn
nhau giữa con người vẫn còn tồn tại khi nào mà vũ khí vẫn
còn vung lên giữa các quốc gia hay đơn giản hơn ngay trong
nội bộ của chính mỗi quốc gia. Dù bất cứ trường hợp
nào đi nữa chúng ta cũng cần phải làm một cái gì đó để
chận đứng tệ trạng buôn lậu vũ khí bởi vì tình huống
ngày càng trở nên kinh khủng và vô trách nhiệm. Hãy suy nghĩ
một cách nghiêm chỉnh đến các vấn nạn về quân bị và
vũ trang: Nếu nhìn vấn đề một cách thấu đáo ta thấy rằng
các học viện quân sự là nguyên nhân chính gây nên tình trạng
đổ vỡ hủy diệt và mối kinh hoàng ngự trị trên trái đất
này bắt nguồn từ vũ khí. Thế nên mối hiểm họa xung đột
vẫn luôn luôn có cơ may xảy ra khi mà các trung tâm quân sự
vẫn còn hiện hữu, dù là ở phe này hay phe kia.
Ðó
là lý do giải thích tại sao việc giải trừ quân bị là điều
cần thiết, dĩ nhiên cần được tiến hành từ từ từng
bước một. Ðầu tiên nên bắt đầu bằng việc giải giới
vũ khí nguyên tử, tiếp theo là loại bỏ các loại vũ khí
hóa học, sinh học và cuối cùng là các loại vũ khí của
chiến tranh quy ước. Trước hết ta cần phải có sự
đảm bảo quốc tế để theo dõi tiến trình này, kể cả
kiểm soát việc buôn bán vũ khí, lãnh vực mà không thiếu
gì những kẻ vô lương tâm đang hoạt động. Ðể giám sát
việc giải trừ quân bị, có thể là chúng ta cần có một
cơ quan pháp lý, hình thức giống như cảnh sát quốc tế.
Tổ chức Liên Hiệp Quốc gần đây đã tham dự khá nhiều
vào các hoạt động quân sự giải phóng, chúng ta cũng cần
một lực lượng như thế trong phạm vi khu vực hay toàn cầu
để giám sát công tác hoàn toàn giải trừ quân bị một quốc
gia. Lực lượng hỗn hợp này trong ý tưởng của tôi chẳng
khác gì lực lượng kiểm soát hoà bình của Liên Hiệp Quốc.
Với cung cách này mỗi chúng ta có thể sẽ trở thành một
vị Bồ Tát, và dĩ nhiên, lực lượng này không cần phải
trang bị vũ khí! Tuy thế tôi nghĩ rằng đây là một vấn
đề rất khó khăn.
Có
thể một số người đã không hiểu ý nghĩa của việc giải
trừ quân bị ngay chính trong tâm hồn của mỗi con người.
Theo tôi, kẻ thù tồi tệ nhất cuả chúng ta là sự thù hận.
Ðó cũng chính là kẻ thù của sự an bình tâm hồn, của tình
thân hữu và hoà điệu giữa con người, là ba yếu tố then
chốt trong việc triển khai tích cực nhằm xây dựng một thế
giới tốt đẹp. Hận thù phải được tiết giảm để cho
từ bi và thiện cảm lên ngôi. Ðó chính là khái niệm về
giải trừ quân bị trong tâm hồn mà tôi đã từng đề cập.
Thưa
Ngài, xin Ngài nêu bật những đặc điểm của nhân loại?
Dĩ
nhiên đây là câu hỏi liên quan trực tiếp đến thực tại
của thế giới hiện tượng vốn có nhiều mức độ khác
nhau. Ở mức độ cao nhất, chúng ta không thể nào tìm ra được
sự hiện hữu tuyệt đối của cái mà ta gọi là thực tại.
Tuy
nhiên thông thường mà nói, tôi luôn cho rằng thực tính của
nhân loại chính là lòng nhân ái. Giáo dục và kiến thức
đồng thời cũng mang lại những phẩm chất tốt đẹp khác,
thế nhưng nếu ta muốn trở thành một con người đúng nghĩa
cũng như mang lại ý nghĩa thoả đáng cho sự hiện hữu của
mình, ta cần phải có thiện tâm.
Cái
gì nối kết Pháp với hạnh phúc? Phải chăng là cảm thụ?
Khi
nói đến hạnh phúc ta nói đến hai trạng thái khác nhau: thứ
nhất, hạnh phúc được hiểu như là một cảm giác hài lòng
thỏa mãn, một thứ kinh nghiệm dễ chịu; mặt khác, hạnh
phúc còn là những gì mang lại cho tâm hồn ta những hân hoan
sâu lắng hơn. Khi bạn tưởng đến Pháp và đi vào thực hành,
bạn được xem như là đang tích lũy công đức, bởi vì tất
cả mọi loại hạnh phúc và thỏa mãn đều là kết qủa trực
tiếp hay gián tiếp của các tác hành tích cực, tốt đẹp.
Tôi có cần phải khẳng định thêm một lần nữa rằng tham
dự vào các hoạt động tinh thần lành mạnh là con đường
ngắn nhất dẫn đến an lạc, thanh thản tâm hồn? Bình an,
thanh thản tâm hồn có thể không nhất thiết được cảm
nhận như là một cảm giác đặc biệt, thế nhưng nó xúc
tác trên cảm xúc thể chất tạo ra niềm vui, hạnh phúc. Thanh
bình và an lạc của Niết Bàn không tạo ra một thực trạng
thuộc về thế giới cảm xúc mà là một trạng thái hoàn
toàn giải thoát khỏi khổ đau cùng những mối dây ràng buộc
ta vào vòng luẩn quẩn của sinh tử luân hồi. Từ cái nhìn
này, đây chính là trạng thái hạnh phúc vĩnh cữu. Phật qủa
vì thế cũng đồng nghĩa với cực lạc, tuyệt đối hạnh
phúc. Nếu qúy vị muốn đi một bước xa hơn và hỏi
tôi: Như vậy cái gì là bản chất của cái gọi là cực lạc
này ?, tôi bắt buộc phải trả lời rằng đây là điều không
thể thấu đáo, không thể nghĩ bàn, hoàn toàn vượt ra ngoài
khả năng tinh thần của chúng ta.
Làm
thế nào để có thể phát triển được sự can đảm tinh
thần? Phải chăng đây là một thuộc tính tích cực?
Không
còn nghi ngờ gì nữa, can đảm là một thái độ tích cực
và cần thiết. Nếu bạn thiếu can đảm, hãy luôn luôn tự
nhắc nhở mình: “Tôi sẽ can đảm, Tôi sẽ can đảm,” vàphải
kiên trì suy nghĩ như thế mãi.
Lòng
can đảm có thể được phát triển bằng cách nào? Trước
tiên bạn phải có khả năng nhận biết mỗi loại tình cảm
để có thể cô lập những loại thường gây kích động và
phiền nhiễu đến tâm hồn của mình. Bạn biết được loại
tình cảm tiêu cực này, thường là những loại tình cảm
vụn vặt không quan trọng -không hợp lý, không chính đáng,
làm cho tâm hồn của bạn phản ứng một cách bối rối, kích
động. Trong khi đó các loại tình cảm khác như lòng từ bi,
tình thương, nhân ái là những tình cảm căn bản lành mạnh
và tích cực. Nếu luôn suy nghĩ đến chúng sẽ làm bạn tăng
trưởng lòng can đảm và sức mạnh đạo đức; và khi bạn
quán tưởng sâu xa đến bản chất bất toại của chu
kỳ cuộc sống, nó sẽ dấy lên trong lòng bạn những tình
cảm đột biến thay đổi sâu xa, tạo nên một nhu cầu khẩn
thiết phải tự giải phóng cho chính mình ra khỏi những hệ
lụy đó.
Xu
hướng mạnh mẽ này mà mục tiêu chính là nhằm giải thoát
mình ra khỏi vòng sinh tử luân hồi, chính là điều mà tôi
cho là trạng thái tích cực của tâm hồn -không nhất thiết
là bạn phải đạt đến 100%- bởi vì nó được bắt nguồn
từ một tiến trình tư duy lành mạnh cũng như những lý luận
đã được thực chứng bởi kinh nghiệm. Cũng như khi ta phân
chia việc tu tập Ðại thừa ra làm hai phạm vi: pháp, cũng
còn được gọi là phương tiện thiện xảo, và trí huệ-
tôi nghĩ là chúng ta có thể đồng hoá những phẩm chất này
với pháp và xem trí thông minh như là trí huệ. Chắc chắn
là pháp tương ứng với những khía cạnh tích cực của phản
ứng và trí huệ chính là sự biểu hiện trí thông minh của
chúng ta.
Bây
giờ nói đến chuyện làm thế nào để phát triển lòng can
đảm, đây qủa là một vấn đề khó nuốt! Tuy nhiên thực
ra, tôi tin một cách chắc chắn rằng toàn bộ cuốn Nhập
bồ đề hành kinh (Bhodicharyavatara) của Bồ Tát Tịch
Thiên (Shantideva), ngay từ những dòng đầu tiên của chương
nhất cho đến đoạn cuối của chương mười và phần kết
luận đều nêu lên chủ đề về con đường đưa đến tỉnh
thức cũng như phương thức tu dưỡng lòng can đảm và quyết
tâm. Tuy nhiên tùy theo căn cơ, tâm tính và trình độ thông
minh khác nhau của mỗi cá nhân, có người có thể ưa thích
giá trị của kỹ thuật được đưa ra trong cuốn sách này
nhưng cũng có người lại chọn một đường lối khác hơn.
Tôi
hoàn toàn tâm đắc với câu nói sau đây của Geshe Potawa: “Vòng
luân hồi sinh tử không có điểm khởi đầu cũng như nguồn
gốc cho nên nó không thể tự chấm dứt. Ta không thể so sánh
nó như một trái cây trên cành, cho dù không ai chăm sóc vẫn
lớn lên, chín tới và rơi rụng khi bắt đầu thối rửa.”
Thế cho nên một khi bạn cảm thấy chán ngán cái vòng luẩn
quẩn của tử sinh và có ý hướng muốn tìm cách phá vỡ
nó để thoát ra, thật là sai lầm khi khoanh tay ngồi chờ sự
giải thoát tìm đến với bạn. Thời gian tự nó không thể
mang đến sự chấm dứt của vòng sinh tử. Bạn phải là người
chủ động từ đầu; bạn phải khởi đi một cách có ý thức
từ bước đầu tiên nhằm đảo ngược tiến trình của vòng
luân hồi sinh tử. Khoanh tay ngồi chờ dòng sinh tử tự
chấm dứt chỉ là hy vọng hảo huyền, nếu không nói là biểu
hiện của một cuộc sống vô nghĩa.
Thưa
Ngài, vô chấp và vô phân biệt khác biệt nhau như thế nào?
Hoàn
toàn khác nhau. Vô phân biệt bao hàm một thái độ hoàn toàn
xả bỏ trước đối tượng, trong khi vô chấp vẫn còn mang
một vài vướng mắc, dính líu.
Ðể
làm sáng tỏ vấn đề, ta nên hiểu thế nào là chấp trước.
Có hai loại chấp trước: Loại thứ nhất được gây ra do
trạng thái tâm hồn bị quấy đục bởi dục vọng hoặc các
yếu tố tâm linh tiêu cực khác và do đó cần phải được
loại bỏ. Loại thứ hai là sự lôi cuốn bởi các đối tượng
của lòng từ bi -sự lôi cuốn này không phải là kết quả
của những tình cảm hay tư tưởng tiêu cực- do đó cần
phải được đào sâu và củng cố.
Khi
chúng ta thực tập thiền định về tánh không, chúng ta làm
công việc giải trừ những kiến thức sai lầm về hiện tượng
và sự vật, những kiến thức sai lầm đã làm cho chúng ta
tin chắc rằng mọi vật đều bền vững và hiện hữu một
cách độc lập. Thật là điều quan trọng để sửa chữa
những kiến giải sai lầm này, tuy nhiên trong nỗ lực nhằm
nâng cao tiềm năng của những phẩm chất lành mạnh và tích
cực cũng như loại bỏ các xu hướng tiêu cực, độc hại
trong mỗi chúng ta, quả là điều khó khăn khi giữ cho ý thức
của ta luôn luôn tỉnh táo để có thể phân biệt được
cái nào nên trau dồi cái nào nên loại bỏ. Những tính năng
phân biệt của chúng ta như thế vẫn còn nguyên vẹn.
Cũng
cùng một tâm cảnh như thế, vị Bồ tát phải nhổ đến
tận gốc rễ và loại bỏ hoàn toàn tính kiêu căng tự phụ.
Một vị Bồ tát khiêm nhường phải tự hạ mình trước mọi
loài chúng sanh, đây là điều hoàn toàn tự nhiên. Ðiều này
chẳng mảy may cản trở cái năng lực phi thường và
lòng dũng cảm tuyệt vời của Bồ tát trong tâm nguyện
giải thoát mọi loài chúng sanh ra khỏi khổ nạn. Tâm
đại từ bi này, vốn đã không còn bị vướng mắc bởi mọi
hình thức chấp trước tiêu cực, là một thí dụ chứng tỏ
cho thấy thái độ dính líu tích cực ở một mức độ quan
trọng lớn lao hơn cho phúc lợi của kẻ khác thay vì cho hạnh
phúc của riêng cá nhân mình.
Một
người biết sử dụng trí thông minh của mình song song với
việc thực hành tu dưỡng tinh thần, tức là nếu cần thiết,
sử dụng cả pháp cùng với những tính năng sáng tạo của
tâm thần, họ sẽ học được cách khám phá ra những sắc
thái vi tế giữa một bên chỉ biết chăm sóc đến bản ngả
của mình, một hình thức của chấp trước, và bên kia là
những tình cảm cao thượng biết cống hiến đời mình cho
hạnh phúc tha nhân. Chỉ có sự hoà hợp duy nhất giữa
pháp và trí huệ mới có thể đưa ta đến sự phát triển
các tính năng vững chắc của nhận thức phân biệt. Thế
cho nên tôi thường phát biểu rằng khi nói đến bản ngã
tức là cũng đồng thời nói đến một ý thức tự giác vững
mạnh. Một trong những hình thức biểu hiện của ngã tức
là không quan tâm đến kẻ khác, không thèm đếm xỉa đến
hạnh phúc của tha nhân và đi xa hơn nữa là khai thác mọi
cơ hội nhằm mang đến lợi nhuận cho cá nhân mình, miễn
sao cho mình vui thích là đủ! Thái độ tinh thần này dứt
khoát là rất tiêu cực, cần phải loại trừ.
Ngược
lại, một khía cạnh khác của ngã có thể được xem như
là sự biểu hiện của niềm tự tin lớn lao, loại niềm tin
khiến chúng ta có thể nói một cách mạnh dạn rằng: “Tôi
có thể làm được việc này, việc kia. Tôi có khả năng mang
lại những điều tốt đẹp cho mọi người. Tôi có thể đạt
đến hoàn toàn giác ngộ để cứu độ chúng sanh.”
Loại tình cảm này chắc chắn là không thể bị loại bỏ
mà ngược lại cần phải được phát triển và củng cố.
Như thế, những tiến bộ trên hành trình tu tập sẽ giúp
cho tâm hồn ta ngày càng thư giản, tỉnh lặng cùng một lúc
với trạng thái hoàn toàn tỉnh thức, sáng suốt biểu hiện
khả năng quán chiếu nội tâm và tập trung trí tuệ cao độ.
Thưa
Ngài, có gì khác biệt giữa giận dữ và hận thù?
Cá
nhân tôi phân biệt hai thứ tình cảm loạn động này như
sau. Hận thù phát sinh ra do nỗi oán hận người mà động
cơ thúc đẩy chắc chắn không bao giờ phát xuất từ lòng
từ bi. Tình cảm này vì thế phải được hoàn toàn loại
bỏ. Giận dữ mặt khác chỉ là hệ quả của một phản ứng
tình cảm cấp thời,mà theo kinh điển, vẫn có thể được
sử dụng trong hành trình tu chứng. Giận dữ trong một vài
trường hợp có thể được coi như là sự biểu lộ của
lòng từ bi chẳng hạn như được sử dụng như là một chất
xúc tác hay là một sức thúc đẩy cần thiết trước một
hành động khẩn cấp.
Xin
Ngài định nghĩa về khái niệm thế nào là có một kẻ thù?
Khi
bạn “đỏ mặt” lên vì giận dữ một người nào đó,
hãy hỏi cái tâm trạng nóng giận của bạn lúc đó kẻ thù
là cái gì? Trong cuốn Nhập bồ đề hành kinh của Shantideva
(Bhodicharyavatara), chương nói về lòng khoan dung và nhẫn nhục
đã có một định nghĩa rất rõ về kẻ thù, tức là người
trực tiếp hăm dọa đến đời sống của ta, của bạn bè
quyến thuộc, của tất cả những gì là tài sản, sở hữu
của ta, v.v... Bạn của những kẻ thù ta cũng được xem như
là kẻ thù. Tuy nhiên với phương pháp tu tập chuyển
hoá tư tưởng (Tây Tạng gọi là lodjong), một người có thể
thiết lập được mối tương quan bình đẳng không phân biệt
giữa mình và người khác, và do đó đi đến nhận thức rằng
không có gì được gọi là thù hay bạn. Ðây không phải là
sự phủ nhận sự hiện hữu của khái niệm bạn thù: Thù
vẫn là thù, bạn vẫn là bạn. Tuy nhiên phương pháp tu tập
này chỉ cho ta thấy rằng ta không có lý do gì để phải giận
dữ bất cứ ai được coi như là kẻ thù của ta, cũng như
không nên vướng mắc vào một lối đối xử đặc biệt nào
đối với những người được ta coi như là bạn bè, quyến
thuộc. Nhìn ở góc cạnh này, hắn ta là kẻ thù của tôi
vì hắn đã gây nên những thiệt hại cho tôi, nhưng nhìn ở
một góc cạnh khác, tôi có thể xem y như một người bạn
vì y đã cho tôi cơ hội thực tập nhẫn nhục và phát triển
lòng khoan dung. Với quan điểm này ta không còn xem y như là
kẻ thù địch, mà ngược lại rất hữu ích, hữu dụng đối
với ta.
Dựa
trên những giáo lý Phật giáo, làm thế nào để chúng ta học
hỏi được những kinh nghiệm về các hành vi bạo động,
như chiến tranh chẳng hạn?
Ðiều
quan trọng nhất là tránh chuyện sát sanh. Ý tưởng cho rằng
một người có thể được quyền tước đi mạng sống của
kẻ khác phải được hoàn toàn tẩy sạch trong tâm trí của
mọi người.