PHẦN
THỨ NHẤT
NHỮNG
QUÁN TƯỞNG VỀ TÂN THIÊN NIÊN KỶ
Hôm
nay tôi lại được nhìn thấy một số khuôn mặt quen thuộc
cũ tuy nhiên đây cũng là lần đầu tiên tôi hân hạnh gặp
gỡ đa số qúy vị. Ðiều này cũng chẳng có gì quan trọng
bởi vì đi bất cứ nơi đâu tôi cũng luôn luôn có cảm giác
là được gần gũi những con người giống như chính bản
thân tôi. Hiển nhiên chúng ta đều là những con người trọn
vẹn với ý nghĩa của nó, đặc biệt là khi khuôn mặt chúng
ta rạng rỡ những nụ cười nói lên những cảm tình chân
thật của một con người. Tôi đã nhìn thấy những cảm xúc
chân thành đó trên hầu hết những khuôn mặt của mọi người
và cho tôi được hân hạnh chia xẻ cùng qúy vị. Cảm giác
thân thiện này luôn luôn tràn ngập tâm hồn tôi cùng với
ý thức về tính cách nhất thống của nhân loại. Thái độ
suy nghĩ này theo tôi, rất là quan trọng bởi vì nó giúp ta
nhận ra và chia xẻ những vấn nạn, khổ đau của tha nhân.
Mặc
dù nhìn nhân loại như một tổng thể nhưng ta phải công nhận
rằng không phải là không có những yếu tố làm chia cách
chúng ta chẳng hạn như tín ngưỡng, phong tục tập quán, ngôn
ngữ, và văn hoá. Tuy rằng tính cách đa dạng này có thể
làm cho cuộc sống phong phú thêm nhưng chúng ta cũng đừng
nên quá đặt nặng vào nó vì không khéo sẽ làm tổn thương
đến tính cách thống nhất của con người hoặc để rồi
phải đối đầu với những vấn nạn vô nghĩa.
Hơn
lúc nào hết, thế giới hôm nay đang trên đà gia tăng dân
số và sự tiến bộ trên lãnh vực truyền thông làm cho chúng
ta trở nên gần gũi với nhau, sự sống còn của nhân loại
vì thế phần nào dựa trên mối quan hệ hổ tương giữa những
con người. Ðó là lý do tại sao mà hơn lúc nào hết, bây
giờ chúng ta phải nhìn nhân loại như một thực thể duy nhất.
Những vấn nạn mà chúng ta hiện đang đương đầu đã vượt
ra khỏi tầm vóc của cá nhân hay quốc gia. Chúng ta chỉ có
thể giải quyết nó bằng nỗ lực của tinh thần chia xẻ
trách nhiệm chung.
Thái
độ tinh thần của chúng ta có vẻ như hoàn toàn không đáp
ứng với những nhu cầu khẩn thiết hiện nay. Bởi thế tốt
nhất là chúng ta cần phải nắm vững thực tại để có thể
chuẩn bị cho mình một thái độ tinh thần, nếp sống, sinh
hoạt tương xứng.
NHỮNG
SUY NGHĨ VỀ XÃ HỘI HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI CỦA THẾ
GIỚI
Thưa
Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, Ngài có ưu điểm là đang sống gần
gũi với cả hai giá trị Tây phương lẫn Ðông phương, một
bên được gọi là những xã hội tiện nghi hưởng thụ còn
một bên là những xã hội mang tính bảo thủ truyền thống.
Cả hai hiện đang ở giữa một cuộc khủng hoảng đạo đức
chưa từng thấy. Xin được nghe ý kiến của Ngài về vấn
đề này mà chúng tôi nghĩ là những lời khuyên sẽ mang đến
rất nhiều lợi lạc. Chúng tôi cũng rất muốn biết cảm
tưởng của Ngài về tương lai của thế giới mà chúng ta
đang sống. Tuy nhiên trước tiên, nếu có thể được, xin
Ngài vui lòng phác thảo ra những nét chính về triết
học Phật giáo để chúng tôi dễ dàng trong việc theo dỏi
dòng tư tưởng của Ngài.
Tôi
không bao giờ nghĩ rằng mình là người có khả năng đưa
ra những lời khuyên bảo có thể giúp cho những
ai đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm cho mình một giải
pháp thoát khỏi những khổ đau tinh thần hay bất cứ những
khổ đau nào khác. Ngay chính bản thân tôi, đôi khi cũng cảm
thấy mình hoang mang, băn khoăn, lo lắng kể cả những lúc
chính mình phải trực diện với những xung đột nội tâm.
Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng đây là cơ hội tốt để chúng ta
cùng nhau chia xẻ những quan điểm khác biệt cũng như những
kinh nghiệm cá nhân đa dạng cuả chúng ta.
Tôi
thường có thói quen nhấn mạnh đến tầm quan trọng của
hạnh phúc và sự thành đạt, mà tôi tin rằng đó chính là
cứu cánh của đời người. Thí dụ,ï một người tự chọn
bước vào một cuộc hành trình tâm linh bằng tất cả nỗ
lực phi thường, thách đố mọi khó khăn gian khổ không phải
chỉ với một mục đích đơn giản là để được trở thành
một kẻ tử vì đạo, mà chắc chắn là họ hy vọng tìm kiếm
cho mình một niềm hạnh phúc lâu dài. Ðể đạt được mục
đích này, họ có thể đã không thèm quan tâm tới những phúc
lợi cá nhân trong đời sống hiện tại. Cho nên theo tôi, cách
thức mà chúng ta suy nghĩ rất là quan trọng trong việc tìm
kiếm hạnh phúc. Chính thái độ tinh thần cuả chúng ta mới
là một trong những yếu tố hàng đầu trong việc kiếm tìm
hạnh phúc.
Quán
chiếu và phân tích sự việc một cách có luận lý sẽ giúp
chúng ta phát triển một lối tư duy đúng đắn. Nếu
tâm hồn chúng ta càng rộng mở càng thư giản chừng nào,
chúng ta sẽ càng dễ dàng có một cái nhìn chính xác về sự
vật chừng ấy. Nó cho ta hai lợi điểm. Nếu ta để cho tâm
hồn ta mở ngỏ, trước tiên nó sẽ làm cho ta thanh thản,
thoải mái với chính mình. Và như vậy, một khi tầm nhìn
của chúng ta không còn bị hạn chế, ta sẽ rất dễ dàng
tìm ra cho mình những giải đáp trước những vấn nạn, khó
khăn.
Chúng
ta là những con người sống trên trái đất này cùng với
vô vàn những con người khác, hạnh phúc của chúng ta quan
hệ mật thiết với hạnh phúc của đồng loại. Thật khó
mà tưởng tượng nổi rằng hạnh phúc của cá nhân tách rời,
không lệ thuộc với hạnh phúc của người khác. Cho nên một
điều chắc chắn rằng nếu chúng ta khát khao hạnh phúc cho
chính mình, chúng ta cũng phải quan tâm một cách sâu xa
đến hạnh phúc của toàn thể nhân loại. Ðó là lý do tại
sao tôi thường hay nhấn mạnh đến sự quan trọng của việc
triển khai mộït ý thức trách nhiệm phổ quát cho tương lai.
Trong
tôn giáo của chúng ta, trong những lời nguyện cầu của chúng
ta thường hay nói đến “phúc lợi của toàn thể nhân loại”
hoặc “hạnh phúc của con người”. Thế nhưng khi tôi
nói đến sự cần thiết của một trách nhiệm phổ quát,
nó không phải chỉ đơn thuần là một lý tưởng tôn giáo
mà là một thực tế bao hàm cả hai mặt hành động và dấn
thân tham dự.
Những
thay đổi lớn lao của thời đại đã làm biến đổi khuôn
mặt của thế giới, đặc biệt là trong lãnh vực truyền
thông giữa con người. Hãy lấy Tây Tạng và những dân tộc
quanh vùng Hy Mã Lạp sơn làm thí dụ. Ðã có một thời người
ta có thể sống một cách biệt lập trên những vùng núi non
cao thẳm. Tuy nhiên, tình huống này đã không còn xảy ra trong
một thế giới lắm đổi thay, cho dù ngay cả chúng tôi
muốn sống biệt lập, cắt đứt mọi liên lạc với thế
giới bên ngoài.
Bây
giờ xin mời qúy vị hãy cùng tôi nhìn phớt qua khía cạnh
phát triển kinh tế. Thật khó mà tưởng tượng nổi rằng
trong thời đại hôm nay lại có một quốc gia hay một lục
địa sống hoàn toàn dưới một chế độ chuyên chế. Một
điều rõ ràng rằng, không những các quốc gia đơn thuần
mà ngay cả những châu lục cũng phải sống nương tựa vào
nhau trên bình diện kinh tế.
Rồi
đến lãnh vực trao đổi thông tin và kiến thức, khoảng cách
không gian đã không còn là một chướng ngại, vấn đề truyền
thông chung quanh trái đất này bây giờ chỉ diễn ra trong vòng
nháy mắt. Lúc còn trẻ, Ấn Ðộ và Trung Quốc đối với
tôi quả thật là xa xôi diệu vợi, bởi vì phải tốn cả
tháng trời mới có thể đi đến đó được. Bây giờ thì
chỉ cần vài tiếng đồng hồ là người ta có thể đi từ
Ấn Ðộ đến AÂu Châu hay từ AÂu Châu đi Mỹ quốc. Dĩ nhiên
những cuộc hành trình bằng máy bay này có thể làm cho chúng
ta mệt mỏi nhưng nó khẳng định một điều rằng phía bên
kia trái đất đang nằm ở trong tầm tay với của chúng ta.
Thế giới ngày càng trở nên nhỏ bé và mỗi phần của nó
lại phải nương tựa vào những phần khác. Hãy lấy
thí dụ về lãnh vực môi trường, một quốc gia riêng lẻ,
cho dù là một siêu cường đi nữa cũng không thể nào một
mình tự giải quyết được những vấn nạn lớn lao về môi
trường, như là sự xói mòn tầng ô-dôn chẳng hạn.
Thực
tế hôm nay cho thấy trái đất của chúng ta trở nên nhỏ
bé hơn và tất cả mọi người, tất cả mọi quốc gia đều
phải sống nương tựa chặt chẽ vào nhau. Thế nhưng về mặt
tâm linh, về mặt tinh thần có vẻ như chúng ta chưa được
chuẩn bị để theo kịp với thực tế cho nên đã không hòa
điệu được với khuynh hướng phụ thuộc ngày càng gia tăng.
Từ không gian nhìn xuống trái đất, có ai thấy được những
biên giới chia cắt các quốc gia? Chắc chắn là không! Cũng
thế, nếu ta quán tưởng sâu xa về sự phụ thuộc lẫn nhau
của các hiện tượng trên trái đất, những vấn nạn nhỏ
bé cục bộ của chúng ta sẽ mất đi sức nặng và từ đó
chúng ta sẽ bắt đầu nhìn sự vật trong tính toàn cầu, trong
khái niệm chung của con người muôn thuở.
Trong
ý nghĩa đó, khái niệm về “anh” và “tôi” đã mất đi
tính ưu tiên của nó, và khi ta nhận thức rõ điều này, dòng
tư tưởng sẽ tự động dẫn ta đến một cảm giác sâu xa
hơn về một ý thức trách nhiệm đối với điều thiện phổ
quát. Thế cho nên, ta càng dính dấp vào những chuyện mang
tầm vóc thế giới nói chung, ta càng cảm thấy bình yên hơn,
hạnh phúc hơn trong đời sống cá nhân. Ðiều đó cũng có
nghĩa là nếu ta biết chăm sóc đến tha nhân, quan tâm đến
phúc lợi của người khác chừng nào, ta sẽ bớt dần đi
những thói xấu ganh tỵ, kiêu căng, độc ác chừng ấy. Không
nghi ngờ gì nữa, những thói xấu đó cọng với tinh thần
cạnh tranh ganh đua đã làm cho chúng ta sống không hạnh phúc
trong mỗi ngày qua. Thế nhưng khi ta quan tâm đến phúc lợi
của mọi người như là của chính chúng ta, tự nhiên
ta sẽ cảm thấy một niềm an lạc lớn lao tràn ngập tâm
hồn.
Cách
đây chẳng bao lâu, thế giới này đã bị phân chia thành hai
khối, Ðông và Tây. Sự phân cách này đặt căn bản trên
ý thức hệ chính trị hơn là kinh tế. Một khi mà vũ khí
nguyên tử của phe này nhắm vào phe kia, người ta không thể
nói đến chuyện trợ giúp nhau mà phải nhìn thẳng vào thực
tiễn thế giới trên căn bản của khái niệm “anh” và “tôi”,
của “chúng ta“ và “họ“. Như thế đó, thế giới
đã bị chia cách bởi ý thức hệ và quyền lực. Ðể tự
bảo vệ mình, hai phe sẵn sàng chấp nhận nguy cơ bị tiêu
diệt bởi một trận chiến nguyên tử. Trong những tình huống
như vậy, những suy nghĩ của chúng ta không thể không
bị đóng khung trong ý niệm cái này là của chúng tôi, cái
kia là của họ. Nhưng bây giờ kỷ nguyên đó có thể đã
qua rồi, chúng ta mường tượng đang bước vào một trật
tự thế giới mới.
Mấy
năm trước đây, trong dịp hội kiến với Tổng thống Bush
tôi có phát biểu rằng trật tự thế giới mới sẽ là một
điều rất tuyệt vời nếu được kết hợp với tinh thần
từ bi. Nếu không có từ bi, tôi sợ rằng nó sẽ không thể
thành công. Chúng ta đang bước vào một thời điểm rất thuận
lợi và quan trọng của lịch sử thế giới. Ðây là lúc mà
chúng ta có cơ hội để ngồi lại làm việc cùng nhau cho những
mục tiêu tốt đẹp của nhân loại.
Khi
ta suy nghĩ về một ý thức trách nhiệm chung và có một cái
nhìn về lâu về dài về mọi chuyện, vấn đề kiểm soát
sinh sản trở nên cần thiết. Trên quan điểm của người
con Phật, sự hiện hữu của con người là một điều vô
cùng qúy giá, thế nên, việc ngăn ngừa sinh sản có vẻ như
không được đúng đắn. Tuy nhiên hiện nay chúng ta đang đối
đầu với tình trạng quá tải về dân số mà thế giới có
thể chịu đựng, thế nên khi có sự chọn lựa giữa một
bên là sự sống còn của nhân loại và một bên chỉ là một
số lượng nhỏ của những kẻ sắp ra đời, hiễn nhiên,
chuyện kiểm soát sinh sản là một điều cần thiết. Nhưng
tôi cũng cần phải nhấn mạnh ở đây là, biện phápï kiểm
soát phải mang tính cách bất bạo động.
Những
biến chuyển của tình hình thế giới đã đưa đến việc
tiết giảm, kể cả hủy bỏ các loại vũ khí nguyên tử,
một điều mà ai cũng thấy là rất tuyệt vời. Việc giải
trừ quân bị là một điều cần thiết. Tất cả các loại
vũ khí hiện có nên được tiết giảm từng loại một, từ
các loại vũ khí của chiến tranh quy ước, đến chiến
tranh hóa học cũng như vũ khí nguyên tử. Thực tế cho thấy
việc ngưng sản xuất vũ khí có thể gây nên những vấn nạn
trầm trọng cho nền kinh tế và kỹ nghệ. Tuy nhiên những
khó khăn đó tôi nghĩ là không đáng giá so với phúc lợi
chung của nhân loại, ta nên từ bỏ nó trong khi kiếm tìm một
giải pháp khác để giải quyết vấn đề.
Những
khác biệt về truyền thống tôn giáo cũng là một khía cạnh
quan trọng trong thế giới này và tôi tin chắc rằng đa tôn
giáo là một điều vô cùng cần thiết. Ta không chối cãi
rằng những tôn giáo khác nhau đã đưa ra những quan điểm
siêu hình khác biệt, tuy nhiên một điều rất rõ ràng là
những thông điệp căn bản của các tôn giáo chính đều rất
giống nhau. Với những điều kiện thuận lợi hiện có, ta
hãy học hỏi để có thể làm việc cùng nhau, sống với nhau
trong tinh thần hòa điệu.
Chiến
tranh lạnh đã là sản phẩm của quá khứ, cuộc đối đầu
giữa Ðông và Tây không còn nữa. Tuy nhiên vẫn còn một khoảng
cách không thể lấp bằng trong vấn đề phát triển kinh tế
giữa Bắc và Nam. Sự chênh lệch đáng kể về kinh tế đã
tạo nên những vấn nạn lớn lao cho các quốc gia mở mang.
Trên quan điểm đạo đức, sự cách biệt về mức sống đã
là điều khó chấp nhận, nó lại còn mang thêm những khó
khăn cho các quốc gia phát triển mà hậu quả cụ thể là
sự di dân hàng loạt của các công nhân từ các xứ nghèo
của Phi Châu, Trung Ðông, Viễn Ðông đổ xô đến Pháp, Ðức
để tìm kiếm công ăn việc làm.
Trong
những giải pháp mà người ta có thể hình dung ra để giải
quyết vấn đề như từ chối không cho nhập cảnh, trục xuất
những người di dân đều không bền vững. Hơn thế nữa,
đó không phải là một giải pháp dài hạn. Phương cách hay
hơn hết là làm sao tạo ra được công ăn việc làm tại
những quốc gia nghèo nhằm mục đích khuyến khích và nâng
cao mức sống của người dân địa phương để họ không
còn tìm cách di dân đi nơi khác với hy vọng kiếm tìm một
đời sống tốt đẹp hơn.
Chắc
chắn là một số quốc gia thời hậu Cộng sản hiện đang
phải đối đầu với một số khó khăn lớn lao nhưng tôi
nghĩ là họ có nhiều tiềm năng để thành công về mặt
kinh tế hơn là một số quốc gia khác. Các quốc gia ở vùng
Viễn Ðông, Trung quốc, Ấn độ cũng thế. Vùng đất gặp
nhiều khó khăn nhất, theo tôi là Châu Phi, một lục địa
bao la với những khó khăn chồng chất. Cách đây không bao
lâu tôi có dịp viếng thăm Gabon, nơi mà trước đây nhà bác
học Abert Schweitzer đã từng sinh sống. Abert Schweitzer là một
người Pháp, một con người vĩ đại đã chứng tỏ một tinh
thầnï can đảm phi thường trong việc phục vụ những người
nghèo khổ, những người cần được trợ giúp. Nếu muốn
cái hố ngăn cách giữa Nam và Bắc ngày càng thu hẹp, hơn
ai hết những nỗ lực chính phải đến từ những người
ở phía Nam. Những quốc gia giàu có có thể cống hiến những
trợ giúp nhưng đồng thời dân chúng tại các quốc gia nghèo
hơn cũng phải đứng ra tự gánh vác trách nhiệm cho chính
vận mệnh của họ.
Một
sự kiện bất hạnh và đáng tiếc khác là ngay tại chính
trong lòng các quốc gia phát triển cũng hàm chứa một sự
phân cách lớn lao. Thành phần ưu đãi tuy chỉ chiếm một
tỉ lệ rất nhỏ trong xã hội nhưng lại nắm hết toàn bộ
tài nguyên quốc gia trong khi đại đa số quần chúng còn lại
đều là những kẻ vô sản. Quả là một điều rất đáng
tiếc. Tuy không phải là một chuyên gia về các vấn đề Phi
Châu, nhưng trong chuyến thăm viếng vừa qua, điều đập vào
mắt tôi trước tiên là ở đây đang cần một nhu cầu căn
bản, đó là học vấn, giáo dục. Thật khó mà tưởng
tượng là chỉ nội trong một quốc gia cũng đã bị phân chia
manh mún ra thành từng sắc dân, bộ lạc, nói những ngôn ngữ
khác nhau. Ðiều này tạo ra thêm nhiều vấn nạn mà ngay
cả cá nhân tôi tôi cũng không biết phải giải quyết như
thế nào. Ðối phó với tất cả những vấn đề nan giải
đó, chắc là người ta phải khẩn cầu Trời Phật che chở!
Khi
đề cập đến một số vấn đề quốc tế, tôi thường phát
biểu với thân hữu: “Qúy vị đang sống trong các quốc gia
dân chủ,đang hành xử quyền dân chủ mà ai cũng thấy là
rất tuyệt diệu và cần thiết. Thế nhưng, ngay tại xứ mình
thì quý vị áp dụng nó một cách trân trọng như vậy nhưng
hiếm khi thấy qúy vị đem những nguyên tắc này ra sử dụng
trong các quan hệ quốc tế!”
Một
số các nhà tư duy khoa học nay cho rằng đã đến lúc
không còn nên phân biệt giữa hai phạm trù đối nội và đối
ngoại nữa; chúng ta bây giờ đã là thành viên của một đại
gia đình, tất cả đều bình đẳng như nhau, thế nên những
vấn đề chung của cả thế giới cũng nên được xem như
là những vấn đề “nội bộï” cả. Tôi nghĩ
rằng đây là một cái nhìn rất thoáng và cao quý. Ðem
áp dụng tinh thần này vào thực tiễn, chúng ta sẽ giải quyết
được một số vấn nạn chung.
Bây
giờ hãy nói đến chuyện viện trợ cho các Quốc Gia Thứ
Ba, người ta luôn luôn áp đặt lên đó một số điều kiện
hoặc là một số giới hạn để tìm cách hạn chế nó. Quan
niệm về viện trợ như vậy tự nó đã bị hạn chế vì
chúng ta đã đặt ưu tiên trên chính quyền lợi của quốc
gia mình, vì vậy đã tạo nên những chướng ngại cản trở
cho việc điều hành một cách êm đẹp ngay giữa các quốc
gia với nhau. Những giới hạn này phải nên được hủy bỏ,
thay vào đó là thiện ý chính trị. Mà muốn đạt đến mục
tiêu của thiện ý chính trị,ta không thể không xây dựng
trên căn bản của tình nhân đạo, trên những nguyên tắc
đạo đức vững chắc, đó là lòng vị tha và ước muốn
tạo phúc lợi cho con người, cởi bỏ bớt cho họ những gánh
nặng khổ đau.
Nếu
thiện ý chính trị được đặt nặng trên những nguyên tắc
này, tôi tin chắc rằng nó sẽ là một khí cụ lợi hại.
Nhà chính trị không phải từ trên trời rơi xuống. Họ cũng
không phải sinh ra từ không gian mà là một sản phẩm của
xã hội, như chúng ta vậy. Nếu trong một xã hội mà toàn
thể dân chúng đều chung hưởng một nền đạo đức luân
lý cao qúy tốt đẹp, nhà chính trị được sản sinh ra từ
xã hội này chắc chắn không thể không kính trọng những
giá trị đó. Ngược lại, một xã hội không được xây dựng
trên một nền tảng đạo lý, những thành viên của nó không
hề tôn trọng bất kỳ giá trị đạo đức nào ngay cả cho
chính mình, thì quả là điều phi lý khi họ lại lên tiếng
phê phán những nhà chính khách của mình.
Một
số người thường tự động liên hệ giữa đạo đức cùng
một số nguyên tắc, lòng vị tha chẳng hạn, xem đó là cái
nhìn thế giới dưới chiếc kính màu tôn giáo. Lối suy
luận đó hàm chứa rằng tất cả tín đồ của mọi tôn giáo
đều tuân thủ một số tiêu chuẩn đạo đức, còn những
ai không có tín ngưỡng cho dù có chấp nhận những nguyên
tắc đạo đức này đi nữa họ cũng vẫn là những kẻ vô
dụng, vô tích sự. Thật là một lầm lẫn lớn khi người
ta tin rằng đạo đức chỉ là một phó sản của tôn giáo.
Ta có thể hình dung ra hai loại người có đời sống tinh thần:
loại thứ nhất là những người gắn chặt cuộc đời họ
với niềm tin tôn giáo, trong khi loại thứ hai là những người
được sinh ra bình thường như mọi người, sống với tình
cảm giản đơn như yêu thương người láng giềng, sẵn sàng
giúp đỡ, cư xử tốt với họ. Ðây cũng là loại người
có đời sống tinh thần vậy. Tin theo tôn giáo là một điều
tốt, thế nhưng con người vẫn có quyền sống mà không theo
bất cứ một tín ngưỡng nào. Tuy nhiên nếu không có những
phẩm chất đạo đức căn bản của con người, nếu không
nuôi dưỡng sinh hoạt tâm linh cho đời sống thế tục, cá
nhân sẽ không bao giờ có được một cuộc sống hạnh phúc
và họ rất dễ dàng trở thành một tai họạ cho xã hội.
Bây
giờ chắc sẽ có người hỏi, vậy thì cái gì được xem
là phẩm chất đạo đức căn bản? Tôi có thể trả
lời ngay mà không cần suy nghĩ, đó là sự ân cần chăm sóc
đến kẻ khác, đó là lòng thương yêu trìu mến trong mỗi
con người. Bản chất yêu thương xuất hiện ngay từ những
ngày đầu tiên khi ta hiện hữu trên trái đất này. Hãy nhìn
một bà mẹ chăm sóc đứa con của mình: tình thương yêu qủa
là rất tự nhiên. Nếu không có tình cảm này có lẽ bà mẹ
đã không cho con bú và có lẽ bà ta cũng sẽ không có cả
sữa. Ðứa trẻ cũng thế, nó tìm đến vú mẹ một cách tự
nhiên, rồi được nâng niu với tất cả những ân cần
thương yêu từ người mẹ, nếu không được như thế chắc
là đứa trẻ đã không rúc vào vú mẹ.
Như
vậy đó, tình cảm ân cần thương yêu được biểu hiện
ngay từ thuở đầu đời và đó chính là phần cốt lỏi của
bản chất con người. Không có tôn giáo nào hướng dẫn ta,
không có luật pháp nào bắt buộc ta và cũng không có trường
học nào dạy ta về cái tình yêu thương tự nhiên này. Tình
cảm yêu thương đó đã xuất hiện cùng một lúc với thể
xác ngay từ khi ta mới chào đời. Ðó là một đặc tính bẩm
sinh của con người. Ngay từ ngày đầu tiên, đời sống của
ta đã được đánh dấu bởi tình thương yêu đối với tha
nhân và qủa thật là một điều cần thiết để bảo tồn
cái bản chất tự nhiên đó của nhân loại qua suốt kiếp
người.
Ðó
là lý do tại sao mà tôi thường hay bảo lưu quan điểm của
mình cho rằng bản chất của con người là yêu thương, là
nhân chi sơ tính bổn thiện! Nếu chúng ta sống một cách tử
tế phù hợp với bản chất yêu thương tự nhiên, chắc chắn
ta sẽ gặt hái được rất nhiều lợi lạc, không phải chỉ
riêng cho chính bản thân mình mà cho cả xã hội mà ta đang
sống. Ðối với tôi, cái tình cảm yêu thương trìu mến
này có thể được xem như là một thứ tín ngưỡng phổ
thông. Mọi người đều cần đến nó. Những người có đức
tin cũng như những người không đức tin. Những đức tính
tốt đẹp này chính là nền tảng căn bản của đạo lý.
Nếu
qúy vị đồng ý với những gì mà tôi vừa phát biểu về
lòng thương yêu vị tha này, xin hãy đón nhận nó như là một
phần của qúy vị, càng nhiều càng tốt. Ngược lại, nếu
suy nghĩ theo một hướng khác, tôi e rằng quý vị sẽ
phải sống triền miên trong những nỗi giận dữ. Nhưng
mà chuyện đó đâu có gì quan trọng, mọi người tự do mà!
Xin
cảm ơn toàn thể qúy vị. Ðó là tất cả những gì mà tôi
muốn trình bày hôm nay.