THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
MỤC LỤC 
Tuyển Tập Vu Lan
.
CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI PHẬT PHÁP.
(Con xin gởi về cha mẹ và thầy trọn lòng tôn kính và yêu thương vô bờ)
 Nhuận-Bảo

I. Nhân-duyên với đạo Phật.

Đời sống tinh thần trong gia đình hai bên nội ngoại của tôi, cũng giống như đa phần những người lương khác sống lâu đời trên mảnh đất Việt-nam  thân yêu này, là lúc nào cũng ý thức về bản sắc dân tộc mình, đi đôi với việc gìn giữ các mỹ tục xưa nay theo truyền thống và phong hóa của người Á-Đông. Các tập tục đẹp đẽ ấy được lưu truyền và thầm giữ từ đời này sang đời khác một cách bất thành văn. Tính nhân bản đặc thù ấy thấm đượm vào tận tim óc, máu thịt trong sinh hoạt thường ngày của cả tộc họ, trong đó những vấn đề cơ bản như bài học đạo đức làm người, việc thờ phượng tổ tiên, các lễ nghi quan, hôn, tang, tế thì luôn luôn được mọi người xem trọng. Cuộc sống văn hóa theo truyền thống tập tục, song hành khắn khít với bài học đạo đức làm người, cũng là chỗ dựa tâm linh của cha ông nhiều đời chúng tôi, có thể được mô tả đại khái là như thế. Nhưng riêng trong cái tiểu gia đình của cha mẹ tôi, thì mẹ tôi lại là người theo Phật. 

Mẹ tôi qui-y Phật từ thuở trung niên. Hay nói một cách chính xác hơn, từ nhỏ cho đến nhiều năm sau khi lập gia đình, bà vẫn là người lương, theo đạo truyền thống thờ cúng Tổ-tiên như mọi người trong tộc họ hai bên nội ngoại của bà. Cho đến một lúc, khi đứa con trai độc nhất của bà vừa tròn mười tám tuổi gặp cơn bệnh ngặt nghèo khó bề qua khỏi, bà đã xuống tóc và phát tâm qui y Tam-Bảo để nguyện cầu cho đứa con của mình được sống sót. Có lẽ lòng thành kính đối với Phật, Trời cũng như đức tin mạnh mẽ của bà đã được ơn trên đền đáp, con bà đã được lành bệnh, nên cũng từ đó bà giữ giới, tu Phật tại gia, mỗi tháng trai kỳ thanh tịnh hai hoặc bốn ngày cho đến tận bây giờ. 

Bà thường đến chùa Hương-Quang, ngôi chùa của các Ni-sư ở làng bên cũng gần nhà, để chiêm-bái, cúng dường cũng như làm việc công quả trong những dịp nhà chùa có giỗ chạp, lễ tết, hoặc những ngày rằm và mồng một hàng tháng. Sau này đến tuổi về già, nhất là từ tuổi bảy, tám mươi trở đi, do lưng bị còng, sức khỏe lại yếu, nên ít đi chùa hơn. Tuy nhiên, để bù lại việc không thường xuyên đi lễ chùa bái Phật, thì đều đặn cứ mỗi tối trước khi đi ngủ, bà thường tự ôm một chiếc chiếu nhỏ đến trải trước bàn thờ có treo bức tranh Phật Bà Quan-Âm, đốt hương, rồi ngồi ngay ngắn, chấp tay thành kính trì niệm danh hiệu Ngài. Trong suốt hơn hai mươi năm qua cho đến tận cái tuổi đại thọ chín mươi lẻ hai bây giờ, dù là đêm đông lạnh lẽo hay đêm hè oi bức, bà vẫn luôn tinh tấn, cần mẫn, không hề bỏ sót một buổi trì niệm nào. 

Trong nhóm bằng hữu và bà con thân tộc hai bên của gia-đình, bà được tiếng khen là hiền lành, ít nói và giỏi nhẫn nhịn. Từ khi năm, bảy tuổi vừa có chút ít hiểu biết cho tới bây giờ, rõ-ràng trong đời mình, tôi chưa hề thấy bà cạnh tranh hơn thua, phải trái hay lớn tiếng với ai bao giờ. Chị em tôi đôi khi cũng cảm thấy ấm ức giùm cho sự nhẫn nhục quá đáng của bà, thì bà thường nhỏ nhẹ nói với chúng tôi một câu nằm lòng, gần như gắn chặt suốt cuộc đời mình: “Một sự nhịn, chín sự lành mà, các con!”. 

Cho nên, những khi nghĩ  tưởng về mẹ mình, tôi có cảm giác rằng, mọi việc xảy ra trên đời này hình như chẳng có gì có thể làm vướng bận hay khuấy động được tâm bà, ngoại trừ những lúc cha con chúng tôi ốm đau, hoặc những người thân của hai bên nội ngoại gặp việc chẳng lành hay bệnh hoạn. 

Theo lời bà nội tôi kể lại, hai năm sau khi cha tôi cưới mẹ tôi, thì bà sanh chị tôi. Thế rồi đằng đẵng một thời gian dài sau đó, hai năm, rồi ba năm, rồi sáu, bảy năm liên tiếp, mẹ tôi không thấy có triệu chứng gì là có thể sinh nở nữa, mặc dù sức khỏe bà vẫn bình thường, không ốm đau gì cả. 

Ngày xưa, trong những năm đầu thập kỷ bốn mươi của thế kỷ hai mươi, việc không sanh được cho gia đình một đứa con trai là điều ray rứt, khổ tâm, và đầy thiệt thòi cho người đàn bà. Đặc biệt hơn nữa là đối với những người làm vợ, làm dâu trong những gia tộc còn nặng đầu óc lễ giáo xưa cũ, mà trong đó, tục lệ trọng nam khinh nữ chưa thật sự được loại bỏ ra khỏi đời sống gia đình và xã hội. Trường hợp của mẹ tôi cũng không ngoại lệ. Thật ra, sự ray rứt, khổ tâm ấy cũng không phải chỉ riêng bà gánh chịu, mà cả cha tôi cũng canh cánh một nỗi niềm khi mà cái quan niệm “bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” của những thế hệ trước vẫn còn ăn sâu, đè nặng trong tâm khảm của mọi người ở thời ấy. 

Cha tôi tuy là con thứ hai trong số sáu anh em trai, nhưng lại là người được ông tôi yêu quí và tin tưởng, cho tập ấm Viên-tử, theo phẩm vị của ông tôi lúc còn sống. Việc không có con trai để “nối dõi tông đường”, theo ý nghĩ chung của mọi người ở thời điểm ấy, cũng là một đại tội đối với Ông Bà, Tổ-tiên, nên làm sao cha tôi không ưu sầu cho được. Nhất là trong hoàn cảnh của cha tôi, ông đang gánh vác một trách nhiệm tinh thần khá nặng nề đối với ông cha mình là làm sao cho ông bà Tổ tiên không bị dứt tuyệt hương khói và cháu con hưng thịnh, trường tồn. 

Tuy nhiên vì thương yêu mẹ tôi, không muốn để bà phải riêng chịu thiệt thòi và sầu muộn, nên ông cứ khất dần với những bậc trưởng thượng, hết năm này đến năm khác mà không chịu cưới thiếp hay tự bức phá "đi tìm con trai" như số đông những người đàn ông khác có cùng hoàn cảnh như ông thuở bấy giờ. Ông tin chắc sự thành kính nguyện cầu của mình đối với trời đất sẽ được đền đáp, cũng như tin vào phép lạ của thời gian. 

Trong khi ấy, theo như lời bà nội và dì tôi về sau này kể lại, thì mẹ tôi lúc nào cũng không quên cầu Trời khấn Phật cho bà một đứa con trai để thỗ lòng mong ước của mọi người. 

Mẹ tôi là một phụ nữ hiền lành, không ngại gian khó, suốt đời tận tuỵ hy sinh cho gia đình. Tuy bà được sinh ra trong một môi trường mà hai bên nội ngoại đều là giòng dõi quan quí, nhưng vì ông cha sống thanh bạch, nên từ nhỏ bà đã biết chịu khó, chịu khổ, chăm lo làm lụng, không ngại vất vả. Đến khi về với cha tôi, bà thật sự trở thành người mẹ hiền, người vợ đảm đang lo cuộc mưu sinh cho cả gia đình, trong giai đoạn mà một phần đất nước phải chịu khó khăn chung, từ những năm cuối thập kỷ ba mươi trở về sau. 

Hàng ngày trên những con đường từ các phiên chợ huyện, xa hàng chục cây số phải đi bộ dưới sức nặng của đôi quang gánh hàng xén đè trĩu hai vai, có lúc phải vừa đi vừa chạy dưới cái nóng cháy da của những buổi trưa nắng rát. Cứ mỗi lần đi ngang qua một cây cao bóng cả nào, mẹ tôi cũng rảo bước rồi đặt gánh xuống, cuối đầu chấp tay hướng vào cõi mông lung xa thẳm nào đó mà bà tin tưởng có sự linh thiêng, thành kính khấn nguyện để xin một đứa con trai. 

Bây giờ, tuổi tôi cũng đã vượt quá một hoa giáp, ngồi viết những giòng chữ này, nhớ lại các nhơn duyên cũ có dính dấp tới tôi, mà bà và dì ngày xưa đã kể về cha mẹ mình, lòng tôi không khỏi xuyến xao, trĩu nặng và càng thấy thương xót cho ông bà cụ thân sinh của mình nhiều hơn. Giá như hồi xa xăm ấy ông bà cụ biết được rằng, đứa con trai cầu tự mà ông bà đã hết lòng mong ước cũng như đặt niềm tin sau này có thể làm rạng rỡ tông đường, là tôi bây giờ đây, thì  không biết hai cụ sẽ phải buồn rầu, thất vọng đến chừng nào ! Bỡi số phần tôi không có được cái phước báo như ông bà đã mong mỏi, thì làm sao tôi có thể thỗ mãn được ước nguyện của hai Người!

Miền Trung quê tôi núi biển giáp liền, lắm sông nhiều suối. Mỗi khi mẹ tôi đi ngang qua núi, đèo, sông, suối, qua những chỗ có đình chùa, miếu mạo, thậm chí đi ngang qua một cái lò nung gạch đã hoang phế nhiều năm, hoặc chỗ nào mà bà tự cho là có chút thiêng liêng theo ý nghĩ đơn giản của bà, thì bà cũng đều chấp tay thành kính cầu xin những kẻ khuất mày khuất mặt phù hộ cho bà được như nguyện. Chẳng biết có phải tôi đã từ những chỗ mông mờ ấy chui ra hay không, mà, mặc dù lúc nhỏ chưa từng được nghe ai nói với tôi những điều ước nguyện của mẹ mình, nhưng khi có chút trí khôn, vừa biết cắp sách đến trường làng để ê, a, tôi thường có cái cảm giác lan man, mơ hồ lẫn lộn như đã từng thân quen với những chốn nửa như gần gũi, nửa như xa xăm ấy, mỗi khi có dịp đi ngang qua. 

Thế rồi ước nguyện của cha mẹ tôi cuối cùng cũng thành hiện thực. Đến cuối năm thứ tám sau khi sanh chị tôi, mẹ tôi hoài thai. Và khi chị tôi được tròn chín tuổi thì mẹ tôi sanh tôi. Nỗi vui mừng của mọi người trong tộc họ, nhất là của cha mẹ tôi, có lẽ không sao kể xiết. 

**

Cha tôi là một người có cá tính mạnh mẽ, có phong thái của một người lãnh đạo, nhưng không tham gia nhiều các công tác xã hội. Tuy nhiên, những ai thường gần gũi ông cụ, chỉ cần nhìn ông điều hành việc nhà và các việc trong tộc họ, trong tánh-cách ngay thẳng, công tâm, thương yêu, che chở và ít sai sót, thì không ai không cảm mến và kính phục. 

Dưới con mắt của riêng tôi, trong niềm yêu thương, tôn trọng và vô vàn kính phục cha mình, thì mỗi cử chỉ, đi đứng, nói năng trong ông luôn có một cái gì vừa oai-nghi lại vừa nho nhã, vừa nghiêm-nghị lại vừa hiền từ cũng như trọn đủ đức khoan dung, nhân hậu và đầy trí tuệ. 

Có thể nói rằng từ khi tôi có chút trí khôn cho đến tận cái ngày ông cụ vĩnh viễn rời bỏ chúng tôi để về với ông bà trên trước, không lúc nào tôi không được cha mình dạy dỗ. Có lẽ do cha mẹ tôi ít con, vả lại tôi là đứa con trai độc nhất, là báu vật của gia đình chăng, nên hồi tôi còn nhỏ, lúc nào ông cũng âm thầm, kín đáo để mắt tới tôi. Mọi cử chỉ, nói năng, hành động của tôi khó bề qua mắt được ông cụ. 

Thuở nhỏ, từ sáu bảy tuổi trở đi, có thể nói không ngày nào tôi không bị đòn. Cái roi bằng tre cật được ông cụ vót tròn vo, nhỏ xíu dài cả thước, mỗi khi ông vung lên dứ doạ nghe vun vút đến rợn người. Ông thường gọp năm bảy chuyện sai trái của tôi để xử tôi một lần. Mỗi lần như thế, mông tôi khó bề tránh khỏi vài ba lằn roi vì mấy cái quất kêu đen đét nhớ đời của ông. Và sau mỗi lần bị đòn, tôi thường được cha mình an ủi (vì trận đòn vừa rồi) đồng thời cũng không quên khuyến khích tôi hãy biết tránh những lầm lỗi tương tự, không nên để xảy ra như thế nữa. 

Tôi nhớ một lần, có vài người bạn của cha mình tới thăm. Ông cụ bảo tôi nấu nước để ông pha trà. Hồi ấy, nấu nước phải nhóm lửa than trong lò, quạt cho hừng lửa rồi mới bắt cái ấm đất đã đổ nước lên để nấu. Ở cái tuổi mười một, mười hai, ham chơi còn hơn cả ăn uống, nên vì nôn nóng để đi chơi, tôi đặt cái ấm nước lên bếp lò một cách cẩu thả, không ngay thẳng, khiến ấm bị nghiêng sang một bên. Đến lúc sôi, nước trào ra lò làm tắt lửa. Đợi mấy ông khách ra về hết (dĩ nhiên khách chẳng được uống trà, vì không có nước sôi) cha tôi gọi tôi vào nhà, dẫn đến trước cái bếp lò, chỉ cho tôi tận mắt thấy sự cố ấm bị bắt nghiêng, nước trào, lửa tắt. Vừa chỉ cho tôi nhìn thấy xong, ÔÂng đá cái lò, khiến than tro tung toé, khói bốc mịt mù, lò và ấm đều bể nát ra từng mảnh. Liền đó, tôi bị một trận đòn nên thân. Đến buổi chiều, sau khi dùng cơm xong, ông cụ gọi tôi vào bên bàn, bắt ngồi đối diện, vừa đặt câu hỏi cho tôi vì sao tôi đã bị đòn ban sáng, vừa giải thích để cho tôi hiểu rằng, lúc còn nhỏ đặt cái ấm méo, cũng là làm việc méo nhỏ, mà không biết sửa chữa ngay thì khi lớn lên dễ làm việc méo lớn, ắc nguy hại đến thân mình, ảnh hưởng xấu tới gia đình, những người thân yêu và tộc họ. 

Tôi còn nhớ rành rọt những lời nghiêm khắc của cha mình : "Bây giờ con sai phạm nhỏ, cha còn có thể dạy dỗ uốn nắn được con, để mai sau trở nên người ngay thẳng, tốt đẹp, có ích cho tự thân, gia đình và xã hội. Bằng nếu cha không la rầy, uốn nắn con, hay nhắm mắt bỏ qua những việc làm méo nhỏ của con bây giờ, thì mai kia lớn lên, theo thói quen sẵn có, ắc con sẽ không từ bỏ những việc làm méo lớn hơn. Đến lúc ấy, cha không còn đủ quyền hạn để có thể dạy dỗ con được nữa, mà quyền giáo dục sẽ thuộc về xã hội. Nghĩa là khi ấy, pháp luật sẵn sàng can thiệp và ngăn chận những việc làm méo lớn đó của con, lao tù sẽ rộng mở để chờ đón con, sự giáo dục của xã hội nghiêm khắùc gấp ngàn lần bây giờ sẽ trói buộc con, khiến thân con không còn được tự do, tâm con không còn được tự chủ, cuộc đời con sẽ không biết phải đi về đâu, sẽ phải ra sao nữa ! Đến chừng ấy, chẳng phải chỉ riêng bản thân con chịu khổ nhục đã đành mà còn làm nhục lụy, khổ lây đến những người thân thiết, ruột thịt, máu mủ của mình, trong đó có hai mái đầu bạc này". 

Những hình ảnh và lời dạy thống thiết ấy của cha tôi, tôi cảm nhận rất rõ.  Tuy mặt ngoài thể hiện sự nghiêm khắc nhưng bên trong lại chứa đựng vô vàn tình yêu thương và đầy trách nhiệm của một người cha đã suốt đời hy sinh, lo lắng cho tương lai đứa con yêu dấu của mình. Mặc dù sự việc đã qua rồi hàng nửa thế kỷ, ấy thế mà mỗi khi nghĩ tưởng tới cha mình, tôi cứ ngỡ hình bóng ấy, lời khuyên kia vẫn như đang chập chờn trước mắt, văng vẳng bên tai.

Về sau này, khi tôi sắp sửa có đứa con đầu lòng, ông cụ lại càng tỏ ra ái ngại giùm cho tôi nhiều hơn. Nghĩa là ông lo không biết rồi đây tôi sẽ phải dạy dỗ con cái của tôi như thế nào. Những lúc thấy tôi vừa rảnh việc, ông cụ liền bắt tôi ngồi hàng giờ nghe ông thuyết, rồi vặn hỏi và đặt ra đủ mọi tình huống trong đối xử, không ngoài mục đích kiểm tra kiến thức làm cha của tôi tới đâu, đồng thời chỉ bảo thêm cho tôi kinh nghiệm để biết cách dạy dỗ những đứa cháu nội tương lai của ông cụ nên người. 

Cha tôi rất chú trọng việc xây dựng một gia đình đạo đức, nề nếp và lễ giáo, Với ông, đó là việc làm đầu tiên và cuối cùng của một đôi nam nữ yêu thương nhau, chấp nhận sống chung với nhau để cùng xây dựng một mái ấm gia đình, thực hiện nhiệm vụ cao đẹp là vun đắp cho những đứa con tương lai của mình thành người tốt cho gia đình và xã hội. Với quan niệm của ông, thì đó cũng là đóng góp thiết thực để xây dựng một cộng đồng xã hội tốt đẹp. 

Ôâng thường bảo, việc dạy dỗ con cái nên người chẳng những là bổn phận thiêng liêng phải gánh vác của người ông người cha trong gia đình, mà còn nên coi đó là trách nhiệm phải được hoàn thành một cách tốt đẹp, là món nợ ơn nghĩa tinh thần mà người đời sau phải trả đối với tiền nhân của mình. 

Việc con cái có được dạy dỗ nên người hay không, sẽ ảnh hưởng rất lớn tới hạnh phúc của gia đình ấy, cũng như sự hưng suy, vinh nhục của một giòng họ ấy. Một gia đình dù cao sang, quyền quí mà nếu con cái ngỗ nghịch, hư hỏng thì gia đình ấy ắc không thể nào có được hạnh phúc thực sự, giòng họ ấy sớm muộn cũng phải suy vi, lụn bại là điều khó tránh khỏi, không bằng một gia đình nề nếp, lễ giáo, tuy cuộc sống thanh bần nhưng lại có được những đứa con cháu hiếu thảo, đức hạnh. 

Một gia đình giàu có, sang sướng mà con cái hư hỏng, thì sự giàu sang kia cũng chỉ là cái bề mặt phù phiếm che đậy một sự suy tàn trong sớm tối của gia đình ấy, chẳng khác lớp sơn son thếp vàng bên ngoài những cây gỗ ruỗng mục từ lâu. 

Đời ông cha tạo dựng được sự nghiệp để dành lại cho con cháu mình mai sau là một điều đang quí, đáng trân trọng. Tuy nhiên, phải biết một điều là, nếu chỉ để lại của cải, tài sản, danh vọng, địa vị cho con cháu mà không biết quan tâm, lo lắng đến trí dục và đức dục của bọn trẻ, không biết đồng thời dạy cho chúng bài học căn bản đạo đức làm người, cũng là cách gián tiếp đào tạo những con người có nhân cách, có trí đức đủ sức để bảo vệ thành quả của sự nghiệp mình, thì chẳng khác việc xây dựng lâu đài trên mặt cát. Đó là chưa đề cập tới cái lý nhân quả ẩn áo tiềm tàng trong suốt quá trình tạo dựng sự nghiệp trước kia; nghĩa là, sự nghiệp trong quá khứ của ông cha đã được hoán đổi bằng tài đức, mồ hôi, nước mắt và đạo lý công bằng hay bằng con đường bất chính, bất công, phi đạo đức, lại là hai lẽ khác nhau trởi vực. 

Cha tôi rất coi trọng việc tạo phúc đức cho đời sau, cũng là cái lý nhân quả trong triết giáo làm người của Khổng-Mạnh. Ông thường bảo, các bậc thánh nhân ngày xưa có dạy rằng, "Tích kim dĩ dị tử tôn, tử tôn vị tất năng thủ. Tích thư dĩ dị tử tôn, tử tôn vị tất năng độc. Bất như tích âm đức ư minh minh chi trung, dĩ vi tử tôn trường cửu chi kế - Nghĩa là, để vàng lại cho con cháu, con cháu chưa chắc đã giữ được. Để sách vở lại cho con cháu, con cháu chưa chắc đã đọc được. Sao bằng để lại bằng cách tích chứa âm đức, tuy trong chốn mịt mờ không ai hay biết, nhưng đó lại là cái kế lâu dài cho con cháu thừa hưởng vậy". 

Ông cụ thường thi thiết dặn dò tôi, rằng, việc giáo dục con cái là bổn phận đặc trách của người cha, người ông, người anh cả trong gia đình chứ không phải là ai khác, trừ trường hợp ông cha mất sớm.

Ông dạy dỗ con cái rất nghiêm, không bao giờ tỏ thái độ ôm ấp, suồng sả hay nựng nịu, cưng chìu con cái bao giờ. 

Bây giờ nhìn thấy những đứa con trai, con rể của tôi ôm ấp, chìu chuộng các đứa cháu nội, cháu ngoại của mình thì tôi cảm thấy không bằng lòng, cũng như thường kín đáo la rầy chúng, đồng thời kể cho chúng nghe về nghiêm phép trong việc dạy dỗ con cái của ông cha mình ngày trước. 

Tôi thường bảo chúng rằng, ngày xưa, từ lúc tôi còn bé cho tới khi ông cụ qua đời, chưa một lần ông ẵm bồng hay ôm ấp, hôn hít tôi bao giờ; cũng như nếu bất chợt thấy tôi nũng nịu vòi vĩnh mẹ mình thì ông cụ liền cho roi vào mông tôi không thương tiếc, đồng thời không ngại ngần gì mà không la rầy cả mẹ tôi vì sự nuông chìu đó. Mặc dù tôi chỉ mới ở tuổi mười mà lúc nào ông cụ cũng coi tôi như một người đã trưởng thành, có đầy đủ các tố chất của một đứa con trai đúng nghĩa và đương nhiên là phải ngồi trực diện trước ông cụ bất cứ lúc nào ông cụ cần, để được nghe dặn dò, chỉ bảo việc này việc nọ.

Tôi còn nhớ như in, hồi những năm còn nhỏ, khoảng năm, sáu tuổi, vào những chặn đầu hôm hay rạng sáng, trong khi tôi đang ngủ say, thường hay bất chợt giật mình tỉnh giấc vì có vật gì cứng nhám châm ran rát vào mặt, vào má mình. Những lúc như thế, dưới ngọn đèn dầu lờ mờ, tôi thấy cha tôi đang ngồi ghé bên giường, gương mặt nghiêm nghị với đôi mắt sáng quắt nhìn tôi không chớp. Aùnh mắt ấy như lướt trải lên toàn thân tôi, khiến tôi sợ hãi nhắm mắt, rồi làm bộ ngủ tiếp, nhưng cũng he hé mắt đủ để nhìn xem động tịnh, thì thấy ông rón rén đứng lên và ra khỏi phòng tôi.

Đến sau này lớn lên, mỗi lần cạo râu xong, tôi thường hay nhắm mắt lại, đưa tay xoa nhẹ vào má vào cằm của mình, tưởng tượng bóng hình thân thương của ông cụ ngày xưa nhẹ nhàng hôn len lén lên má, lên mặt tôi mỗi khi tôi đang say ngủ. Ông không muốn để cho đứa con trai độc nhất của mình biết rằng mình đã yêu thương nó đến ngần nào. Ông sợ nó hư hỏng, khó dạy dỗ khi nó biết cha mẹ thương yêu, chìu chuộng nó. Những lúc như thế, tôi thường âm thầm đưa tay gạt nhẹ những giọt nước ấm lặng lẽ tuông trào trên hai má, với một tâm lòng vô vàn thương kính, tri ân, cảm thông và tiếc nuối đối với người cha tuyệt vời của mình trong phép dạy con. 

Ông thường dặn dò tôi : "Cổ nhân đã dạy : -Tử bất giáo phụ chi quá - Con cái hư hỏng (do không được dạy dỗ chu đáo) ấy là lỗi ở người cha. 

Cha ví như trời, mẹ ví như đất. Đất ươm mầm và nuôi cây sống, nhưng trời mới là người che chở, uốn nắn để cây được xanh tươi, ngay thẳng, có ích cho đời" . 
Có những lúc Ông tâm sự với tôi, mà tôi biết rõ rằng đó cũng là cách ông ngầm gián tiếp nhắn nhủ, khuyến khích đứa con trai mình tiếp tục thực hiện ý nguyện của ông cha mình ngày trước. Ông thường bảo với tôi rằng, trong đời ông, lúc nào ông cũng có một niềm vui to lớn bên cạnh một nỗi lo không nhỏ. Vui là luôn được đụng tới sách vở, cũng là tiếp xúc với trí tuệ và kinh nghiệm quí báu của cổ nhân, để cuộc sống tinh thần thêm giàu có và thăng hoa. Lo là nỗi lo canh cánh bên lòng, tức trách nhiệm tiếp bước ông cha trong sự nghiệp giáo dục bọn hậu nhân thân thương nên người. Nỗi lo ấy là làm sao cho bọn con trẻ cảm nhận được cuộc đời này không phải giản đơn, phàm tình, nhạt nhẽo trong tánh cách vị kỷ, cá nhân của bản ngã, mà cần khám phá cuộc đời này chứa đựng nhiều ý nghĩa thiêng liêng hơn, ý vị hơn, đáng sống hơn, khiến chúng biết tự tạo cho mình một niềm hạnh phúc riêng trong cái vui chung bên cạnh, bằng sự hòa hợp, gắn bó thiết thân cùng gia đình, họ hàng và đồng loại. 

Cái nghĩa "nên người" của ông rất giản dị, đó là thành nhân, là làm một con người đúng nghĩa con người, như tính cách của nó được mệnh danh, chứ không là gì khác. Con cái được "nên người", theo ông, tuỳ hoàn cảnh từng mỗi gia đình, dù chỉ là một công nhân hay một nông dân thực thụ chân lấm tay bùn, cũng phải là một người con hiếu đễ, người anh em thuận thảo, người chồng mẫu mực, người cha hiền hết lòng nuôi dạy con cái; ngoài xã hội, người ấy phải là một công dân lương thiện trong chức nghiệp của mình. Với ông, con cháu mà được như thế là ông mãn nguyện lắm rồi. 

Ông thường dặn dò tôi không biết bao nhiêu lần trong đời mình: "Phải biết dạy dỗ con cái bằng cái lòng yêu thương to lớn, quên mình như của trời đất yêu thương vạn vật, nghĩa là lúc nào cũng phải chan hoà, thấm đượm và không thiên vị. Khi dạy dỗ, đừng sợ nó ghét mình hay không thương mình, mà đạo làm cha chỉ sợ một điều nó hư hỏng mà thôi. Một khi đã làm hết sức trong khả năng, bổn phận, tình yêu thương và đạo đức làm cha của mình mà nó ghét bỏ mình, thì đó là lỗi của nó. Còn không hiểu bổn phận làm cha, không biết cách dạy dỗ con cái nên người, là lỗi ở người lớn vậy. 

Thật ra, nếu con cái được dạy dỗ nên người, trở thành con tốt trong gia đình, thành người dân tốt của xã hội thì với đức tính như thế, làm sao nó có thể ghét bỏ cha mẹ nó cho được. Mà dẫu con cái có ghét mình, nhưng mà nó được nên người thì đạo làm cha dù có phải nhắm mắt cũng thỗ nguyện rồi. Tuy nhiên, một con người được gọi là con tốt trong gia đình, công dân tốt ngoài xã hội thì có lý đâu lại ghét bỏ cha mẹ nó. Đâu có lẽ nào? Làm gì có đạo lý ấy xảy ra bao giờ?" 

Đằng sau cái vẻ nghiêm khắc trong việc dạy dỗ con cái, ông không muốn để con cái biết mình yêu thương nó, thường dấu kín mọi nhọc nhằn của thân tâm cùng nỗi lo lắng vì trách nhiệm tinh thần đối với ông cha mình.

Vẫn biết cha tôi dạy dỗ con cái khó khăn, nghiêm khắc là như thế ấy. Và cũng có thể rất nhiều người trong chúng ta ngày nay có những suy nghĩ khác, thoáng hơn, tự do hơn, hợp với thời đại này hơn, không tán thành phong cách dạy dỗ con cái như vậy. Tuy nhiên, với tôi, giả như có kiếp sau và phải làm người lại lần nữa, thì tôi cũng không mong ước gì hơn là cũng được làm con dưới một mái ấm gia đình, trong tính cách yêu thương và sự giáo dục nghiêm cần đầy trách nhiệm của một người cha, người mẹ như cha mẹ mình ở đời này mà thôi. 

Trước ngày ông cụ mất, tuổi tác tuy xấp xỉ chín mươi (mất lúc tám mươi tám tuổi) sức khỏe có kém, mắt mờ tai yếu nhưng từ cái bộ dạng đi đứng, nói năng, cho đến cung cách hành xử mọi việc từ trong gia đình đến ngoài thân tộc đều không ra ngoài phép-tắc, lễ giáo gia đình, tinh-thần hoàn toàn minh mẫn cho đến lúc vĩnh biệt những người thân yêu. 

Cha tôi chịu ảnh-hưởng sâu-sắc của Triết-giáo Khổng-Mạnh, am tường Hán-Nôm, thông thạo Pháp, Việt và viết chữ Quốc-ngữ đẹp không chê chỗ nào được. Các con tôi nhiều đứa học cũng khá cao, thường cứ cho là chữ tôi viết đẹp, mà chúng đâu biết rằng hồi tôi học lớp Đệ-Nhất của bậc Trung-học Đệ nhị cấp, với các nhãn vở học tập, tôi đều phải nhờ cha mình viết hộ. 

Cha tôi lúc nào cũng hành-xử không ra ngoài khuôn khổ hai chữ Cang-Thường của Khổng-giáo và không có chút gì dính dấp tới đạo Phật cả. 

Tôi thường nghĩ, có lẽ vì chúng tôi có được một người cha mẫu mực theo phong hóa của người Á-Đông, một người mẹ quá hiền từ, được sống trong một gia-đình gần như quá phép tắc, lễ-giáo mà ba chị em chúng tôi (đứa em gái do mẹ tôi sanh ra lúc tôi được mười một tuổi) khi đến tuổi trưởng thành, ra đời, đều dễ thích-nghi và tùy-thuận mà hoà nhập vào cuộc sống, hưởng nhiều phúc đức vô-hình do cha mẹ, ông bà, tổ tiên trên trước để lại hơn là bỡi tự chính năng lực cày bừa của mình. 

Riêng bản thân tôi, có lẽ nhờ những phước lành kia hội tụ đủ duyên để dẫn dắt tôi đến với Phật đạo, nên mới khiến một người lương được sinh ra trong một gia đình mà nhiều đời chịu ảnh hưởng sâu đậm triết giáo làm người của Khổng-Mạnh, lại từng bước đi vào con đường tâm linh khác với truyền thống của ông cha, như mẹ tôi đã vì tôi mà mạnh dạn rẽ tách trước đó. Cho đến về sau này, các phước duyên ấy vẫn cứ tuần tự đến với tôi một cách tự nhiên đến không ngờ. 

Sở dĩ chúng tôi có hơi dài dòng một chút trong chỗ riêng tư, là muốn nhân đây nói lên lòng biết ơn sâu thẳm và tình yêu thương vô bờ đối với cha mẹ tôi, những người đã cho tôi xác thân và cuộc sống này, đã nuôi dưỡng và dày công dạy dỗ tôi, để tôi từng bước cảm nhận được thế nào là sự nghiệp thiêng liêng của việc làm người. Lại nữa, cũng nhân đây tôi muốn gởi gắm đôi điều suy nghĩ có phần hơi chủ quan một chút về tầm quan trọng của việc giáo dục con cái, những thành viên quan yếu vừa trực tiếp góp phần xây dựng một gia đình hạnh phúc, một cuộc sống chung mang nhiều ý vị và thiêng liêng trong cõi đời này, vừa hổ trợ đắc lực cho việc tu hành dẫn đến thăng hoa thoát tục cho ông bà, cha mẹ thân yêu của chúng, là những Phật tử đang tu học tại gia. Và theo tôi, còn hơn thế nữa, sự giáo dục ấy được coi như là nền tảng của văn hoá làm người, để con em chúng ta mượn đó làm cái vốn tinh thần mà dễ dàng bước tiếp thêm một bước nữa vào con đường từ bi, trí tuệ của đạo Phật. 

Thiết nghĩ, với những người cư sĩ như chúng ta, không ai là không muốn thuận duyên để có được cuộc sống hạnh phúc dưới một mái ấm gia đình, cũng là chỗ dựa an ổn, thiết thân và vững chắc, hầu có thể cùng một lúc hoàn thành hai nhiệm vụ trọng yếu của người tu Phật tại gia là làm sao để vừa được tốt đời, lại vừa đẹp đạo. Một cư-sĩ thực hiện được vuông tròn cùng lúc hai điều đó, theo tôi, cũng có nghĩa là người ấy đã thành công được một bước trong tu tập, tức tự thể nhập cả lý lẫn sự ngay trong đời này. Sự nghiệp giải thoát tử sanh ở phía trước của người ấy sẽ không còn là vấn đề quá nan giải nữa. 

Để có được một gia đình tương đối hạnh phúc, trong đó mọi người đối xử chân thật và hết lòng với nhau, biết tôn trọng lẫn nhau, sống có tôn ty trật tự, biết yêu thương, che chở, đùm bọc nhau, nhất là trong những gia đình Việt-nam còn giữ truyền thống xưa cũ, cùng sống chung hai ba thế hệ, thì việc làm trước tiên của những bậc trưởng thượng là cần xây dựng cho con cháu mình có được một nền tảng vững chắc về đạo đức của việc làm người. Đó cũng là trách nhiệm nặng nề của các bậc phụ huynh, những bậc làm cha mẹ mà lúc nào cũng phải thật sự là chỗ dựa tinh thần, là tấm gương sáng về đạo đức để chúng nhìn vào đó mà tự soi rọi bản thân chúng. Một khi bọn con trẻ đã hết lòng yêu kính, tôn trọng và đặt trọn niềm tin vào những bậc trưởng thượng trong gia đình, những người đang dạy dỗ, dẫn dắt chúng thực hiện bài học làm người đúng nghĩa con người, thì tình thương và đạo đức của những bậc bề trên kia sẽ dễ dàng cảm hoá chúng, khiến chúng từng bước đi vào con đường đạo học một cách âm thầm và vững chắc mà tự chúng cũng không hề hay biết. 

Làm được điều ấy, có nghĩa là những cư-sĩ như chúng ta đã trả được một chút ơn nghĩa sâu xa trong nhiều đời nhơn quả ở quá khứ đối với những người thân yêu của mình. Còn trong thực tế thực tế trước mắt là đã hoàn thành được trọng trách vun đắp cái tâm đạo đức của con cháu các đời sau mà ông cha nhiều đời của mình đã kỳ vọng, cũng như dùng thân giáo để dẫn dắt chúng đi vào con đường đạo học, là một cách trả ơn ba đời chư Phật. Đó chẳng phải là những việc làm tự lợi và lợi tha to lớn trong đời hay sao? Còn gì ý nghĩa hơn khi những cư sĩ như chúng ta trở thành người đầu đàn diù dắt chính con cháu thiết thân trong gia đình mình cùng nhứt tâm qui hướng về với Phật đạo? 

Sở dĩ tôi đề cập hơi nhiều về việc giáo dục con cái, vì thường ngày đã tận mắt chứng kiến không biết bao nhiêu là chuyện đau buồn, tan vỡ xảy ra cho không ít gia đình, chỉ vì con cái của họ bị hư hỏng. Từ chỗ con cái hư hỏng mà đã có không biết bao nhiêu gia đình đáng lẽ phải được sống yên ổn, hạnh phúc trong tình thân yêu, ruột thịt, thì lại phải tan đàn xẻ nghé, mỗi người đi mỗi nơi, con cái nheo nhóc, bơ vơ, không người dạy dỗ. Hậu quả của những cuộc đổ vỡ ấy đem lại bất hạnh cho những đứa trẻ đáng thương kia, khiến chúng khó bề trở thành người tốt bằng lúc có đầy đủ trọn vẹn tình yêu thương và trách nhiệm của cả cha lẫn mẹ trong một gia đình nề nếp, ấm êm, hạnh phúc. 

Không ai lại không muốn có một gia đình hạnh phúc, nhưng có thể vì lệch lạc trong quan niệm thế nào là hạnh phúc đã khiến không biết bao gia đình phải đỗ vỡ. Lại nữa, không hiếm người tự bản thân họ cũng bị khiếm khuyết trong qúa trình được giáo dục về trí đức, nên không thấy được thế nào là sự quan trọng của việc đào tạo trí dục và đức dục cho bọn trẻ, mới nghĩ một cách giản đơn và máy móc rằng chỉ cần cơm ăn, áo mặc, sinh hoạt vật chất sung mãn là đủ điều kiện để tạo dựng hạnh phúc cho con cái và gia đình. Từ chỗ suy nghĩ lệch lạc ấy, họ chỉ biết chú tâm vào việc đầu tư và tích lũy lợi ích vật chất, mà quên mất phần quan trọng không thể thiếu để vun đắp cuộc sống tinh thần cho chính bản thân họ và cho lũ trẻ được thêm nhiều ý nghĩa hơn, là số vốn khả dĩ về văn hoá và đạo đức làm người. Điều ấy có khác gì người ta chỉ biết nhào nặn ra những hình tượng trông cho đẹp mắt, mà bên trong thì chẳng có chút linh hồn, hay nói chính xác hơn là vẫn có, nhưng mà là linh hồn chứa đựng những mầm móng đen tối và tội lỗi, chực chờ để tự huỷ hoại và huỷ hoại người khác. 

Lại cũng có không hiếm người chỉ biết lo cho con cái tấn thân trên đường học vấn (trí dục) mà quên mất bổn phận phải dạy cho chúng học bài học cơ bản đạo đức làm người (đức dục). 

Nếu không phải như vậy thì tại sao mới hôm qua đây (21/08/07) báo chí đăng tải một luật-sư trẻ, mới ngoài ba mươi tuổ lẻ, là người có học vị cao, làm việc trong ngành bảo vệ pháp luật, lại phạm tội tham lam, chiếm đoạt, lừa đảo, bị kết án hình sự đến những hai mươi tám năm tù. Hay một Bác-sĩ, đương nhiên cũng là người học cao, lại đi lừa gạt tiền bạc một Bác-sĩ khác cũng là bạn mình, để phải ra hầu toà nhận tội trong sự khinh bỉ, chê trách của mọi người. 

Tại sao những người có học vị và chức nghiệp cao trong xã hội như thế mà lại hành động thiếu đạo đức như vậy? Vì những người ấy chỉ biết học văn hoá, chỉ được đào tạo chuyên môn nghề nghiệp mà quên mất phần giáo dục đạo đức và rèn luyện bản thân. Đó là một sự thật đau lòng của tất cả chúng ta. 

Và thường ngày nhan nhản trên mặt báo đã đăng tải không biết bao nhiêu là vụ việc đầy nước mắt trong tính cách tương tự. Những bậc phụ huynh có hay không có liên quan tới những tội phạm trẻ, có học thức cao như vừa bị xử phạt ở trên, sẽ nghĩ gì về nguyên nhân sâu xa của những hành vi phạm tội kia của con cháu mình? 

Những ai nếu thật sự biết lo lắng cho tương lai hạnh phúc của đàn con trẻ ắc không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước những thông tin như vừa kể, mà không quan tâm, suy nghĩ thấu đáo về mặt giá trị thiết thực của bài học đạo đức làm người. 

Cũng có thể có người quan tâm đó, nhưng lại không biết cách dạy dỗ chúng, bỡi tự thân những người ấy, vì một lý do nào đó, một hoàn cảnh nào đó cũng chưa từng được học bài học đạo đức làm người. Thế thì biết phải làm sao đây? Một câu hỏi được đặt ra và xin dành sự trả lời cho những ai cảm thấy có chút trách nhiệm liên quan tới mình. 

Nếu không cho rằng vơ đũa cả nắm, thì có thể nói, thời đại chúng ta đang sống là thời huy hoàng, cực thịnh của nền vật chất văn minh, nhưng ngược lại cũng là thời suy đồi của các giá trị đạo đức, một điều quá rõ ràng mà những ai có chút quan tâm tới tương lai của bọn con trẻ sẽ không khỏi phải giật mình lo lắng, ưu tư. Mà văn minh vật chất bao giờ cũng đối nghịch với cái "văn tại trung", là sự thăng hoa của tâm hồn, cũng là văn minh của tính nhân bản, đạo đức. Cho nên, văn minh vật chất càng phát triển thì những giá trị đạo đức, tinh thần càng xuống dốc, đó là điều không ai có thể phủ nhận. 

Bỡi vậy để bảo vệ những giá trị đạo đức cơ bản còn sót lại trong cuộc chiến không ngang sức với một nền văn minh vật chất hùng mạnh đã và đang tấn công, sẵn sàng tiêu diệt các giá trị tinh thần của loài người, những người cư sĩ như chúng ta hãy nên là tấm gương sáng cho con cháu lấy đó làm lá chắn để tự bảo vệ. Theo tôi, nhìn thấy đàn con cháu phía sau lưng đang từng ngày đối mặt với một sự xâm hại tàn khốc vào các giá trị đạo đức và tâm hồn của chúng, thì không gì hơn, những tấm gương đạo đức sáng ngời của ông cha chúng sẽ là thành luỹ cuối cùng để chúng có thể nương đó mà tự bảo vệ cuộc sống tinh thần, để không bị hỏng chân, cuốn trôi theo giòng thác của những gì được gọi là phi nhân bản. 

Một cuộc sống đạm bạc, biết đủ, quên mình và hết lòng vì mọi người; một tình yêu thương bao la và đối xử công bằng chẳng những với người thân yêu trong gia đình mà còn nhân rộng ra ngoài xã hội, chẳng những chỉ biết yêu thương đồng loại mà còn bao dung cho cả chúng sanh các loài, thì đó chẳng phải là tấm gương nhân ái sáng ngời trong thời đại trước mắt ư? Nếu tánh bình đẳng ấy được thể hiện một cách rõ ràng bằng lòng vị tha và quên mình, khiến mọi người ai ai cũng thấy, cũng biết thì dù không cần nói ra, tự nó vẫn có thể cảm hoá được lòng người. Con cháu trong gia đình chúng ta sẽ thấy ở đó trước tiên là sự quên thân của cha mẹ chúng, rồi dần dần chúng sẽ khám phá ra thế nào là cái lòng yêu ghét, thiện ác, nắm buông của cha mẹ chúng không còn nữa, để rồi một thời gian sau, bước tới một bước nữa là khám phá ở cha mẹ chúng cái tâm bình thường trống rỗng, vượt quá phàm tình, cũng là ngay đó chúng tự khám phá cái tâm thiên phú vốn sẵn thiện lành mà trời đã ban cho loài người. Một khi chúng đã tin tưởng vào chúng ta rồi thì đến lúc ấy mình sẽ tuỳ duyên dẫn dắt chúng thâm nhập đạo từ bi bằng nhiều con đường khác nhau, dưới nhiều hình thức khác nhau, theo phước phần và trí tuệ của từng đứa trẻ.

Thiết nghĩ, một khi chúng ta trang trải một cách bình đẳng tình yêu thương, lẫn thể hiện sự cần mẫn và tinh tấn tu hành, thì đó cũng là thân giáo để con cháu trong gia đình soi rọi và học tập. Những việc làm tốt đẹp ấy của chúng ta sẽ dần dần cảm hoá và khơi dậy ngọn lửa tâm linh trong lòng con trẻ, khiến chúng hoan hỉ tự nguyện đến với Phật đạo hồi nào không hay, hơn là chúng ta ngồi hàng giờ thuyết pháp cho chúng nghe trong tâm trạng miễn cưỡng, bực bội, bất tín của chúng. Thân giáo có khác nào gần mực thì đen gần đèn thì sáng đâu! 

Lại nữa, ở thời nào cũng vậy, đã nhứt tâm tu hành thì ai lại không muốn được tấn tu, ai lại không muốn được công thành viên mãn? 

Theo thiển ý và kinh nghiệm của tự thân, tôi thấy, những cư sĩ tại gia như chúng ta nếu muốn tăng tấn trong tu học, ngoài việc tự nổ lực bản thân trên con đường cầu đạo thì rất cần có được một sự hổ trợ đắc lực và chân tình, trong một không khí bình ổn, an lạc dưới mái ấm gia đình, để an tâm lo việc tu hành. Muốn được như thế, trước hết họ cần có một sự thuận duyên hơn là một nghịch duyên, nghĩa là họ được mọi người trong gia đình ủng hộ tích cực, từ vật chất đến tinh thần. Nếu con cháu trong gia đình biết đồng tâm hợp sức, hết lòng vun đắp cho sự nghiệp tu hành của ông cha chúng, thì đó chẳng những là trợ duyên không nhỏ được dành cho kẻ tu hành mà còn là thiện duyên, kết phúc sẵn dành cho con cháu họ ở mai sau nữa. Chỉ một việc làm hợp đạo mà trọn vẹn lợi lạc cả hai đường, cha mẹ được con cái trả ơn cũng là phương tiện trợ duyên đắc lực cho việc tu hành, con cái được hưởng phúc điền nhờ sự quan tâm giáo dục và dẫn dắt tâm linh của cha mẹ trước đó. Một gia đình như thế, há chẳng phải là một gia đình hạnh phúc và lý tưởng trong đời mạt pháp này ư? 

 Một cư sĩ cần món trợ duyên là sự hết lòng yêu thương, chăm sóc của những người trong gia đình, cũng là sự thuận duyên trên bước đường tu học. Bằng nếu ngược lại, người cư sĩ  đang cùng sống trong gia đình mà có đứa con trái nết, ăn nói thiếu giáo dục, chẳng những không biết thương tưởng, giúp đỡ mà còn thường hay chê bai, phỉ báng sự tu hành của ông cha mình, thì đó chẳng phải là sự nghịch duyên ư cho cả hai phía ư? 

Đành rằng thuận duyên hay nghịch duyên đều không ra ngoài cái lẽ thường tình của trả vay nhơn quả, nhưng thuận vẫn luôn dễ chịu hơn nghịch vậy. 

Thuở còn ở tuổi học trò, tôi chẳng biết gì về đạo Phật. Vì ngoài sách vở ở trường ra, tôi thường chỉ biết đọc sách hiện có ở nhà lúc ấy. Đó là những sách vở của cha tôi bằng song ngữ Hán-Việt như Aáu-học Quỳnh-lâm, Minh-tâm Bửu-giám, Đại-học, Luận-ngữ, Trung-dung, Mạnh-tử, Trang-tử, Lão-tử, Hiếu kinh, Nhị Thập tứ hiếu vv… cùng các tập nguyệt san Khổng học được xuất bản hằng tháng vào thời ấy. Ngoài những quyển sách trên còn có các tuồng hát bội, như Hộ-Sanh, Lưu-Bình Dương-Lễ (Nam triều nghĩa hữu) ….vv mà hầu hết các tuồng tích cũng đều có chung một tiếng nói là đề cao quan niệm Chính danh, tôn vinh Tam cương, Ngũ thường của Nho-giáo cũng như về lý nhơn quả. Sau khi lập gia đình, cha tôi còn khuyên tôi nên đọc thêm về Lão, Trang như Đạo-Đức kinh, Nam-Hoa kinh. 

Tôi chịu ảnh hưởng sâu nặng trong tính cách giáo dục của gia đình cũng như quan niệm sống của cha tôi. Lúc tôi chỉ mới tuổi mười, mà mỗi khi cùng ngồi bên cha để được nghe dạy bảo, cha tôi thường nhắn nhủ đứa con trai độc nhất của mình, nửa như thiết tha kỳ vọng, nửa như mệnh lệnh bắt buộc: 

 "-Với người đàn ông, lúc nào con cũng phải hành xử cho ra trượng-phu”  họăc “hãy noi theo gương ông này hoặc như ông nọ vv…" như trong các cổ thư của Khổng-giáo. Trong tôi lúc ấy chẳng có một chút gì dính dấp tới đạo Phật cả. 
Hết bậc Tiểu học, tôi theo học tại trường Trung-học Bồ-đề, một trường Tư -thục của Giáo-hội Phật-giáo tỉnh nhà. 

Trong hai năm liên tiếp của lớp Đệ Lục và Đệ Ngũ hồi đó, lớp học của chúng tôi có hai tu sinh Phật-giáo theo học chương trình Phổ-thông, và tôi đã kết bạn rất thân-thiết với một trong hai tu-sinh này. 

Cứ mỗi buổi trưa, trước khi vào học lớp chiều, tôi thường ôm cặp sách vào cái liêu nhỏ của chú bạn tu sinh thân-thiết, khổ người cao gầy, hiền lành và ít nói kia để cùng ôn bài, hoặc cùng nhau làm toán cho đến khi có kẻng vào lớp. Có hôm tôi nằm ngủ luôn trên cái chõng tre của chú cho đến xế chiều, nếu buổi chiều không có tiết học. 

Sự nghiêm túc trong từng cử chỉ, đi đứng, học hành của chú tu sinh kia rất hợp với tính cách giáo dục của gia đình mà tôi đã được thừa hưởng từ cha mình, đã khiến cho hai chúng tôi dễ có sự gần gũi, thân mật và cảm thông nhau. 

Sau hai năm bên nhau cùng học tập, tôi chuyển sang học ở một trường khác. Thế là hai chúng tôi, từ ấy mỗi người mỗi ngả. Rồi biền biệt hơn ba mươi năm sau mới một lần gặp lại. Chú tu sinh, người bạn học thân thiết của tôi ngày nào, giờ nầy chính là Thầy Bổn-sư kính mến của tôi, tôi đã quì dưới chân Bảo-tọa của Thế-tôn mà qui-y với Thầy khi vừa gặp lại. 

Cũng trong thời-gian ngắn ngủi của hai năm Trung-học ấy, tôi thường để ý đến một tu sinh khác, tuy cùng trường nhưng khác lớp, mà hồi đó dù không cùng nhau trò chuyện, nhưng cái dáng người nhỏ con, khuôn mặt tròn trĩnh, ánh mắt sáng trong, nước da trắng hồng thật đẹp, nhất là nét mặt luôn luôn hồn nhiên, an-ổn đến kỳ lạ, làm tôi khó mà quên chú tu sinh nầy được. 

Và cũng biền-biệt hơn ba mươi năm trời xa cách, chú tu sinh cùng học một trường ngày nào, giờ đây chính là vị Pháp-sư kính mến mà tôi đang thọ giáo, ngay khi vừa gặp lại. 

Nhiều khi nghĩ đến những cuộc gặp gỡ lạ lùng trong đời mà tưởng chừng như ngẩu nhiên này, tôi chỉ biết tủm tỉm một mình mà không nói nên lời. Với tôi, với các thầy của mình, rõ ràng là chúng tôi đã có duyên phận thầy trò tự bao đời bao kiếp với nhau rồi.

Lúc mười tám tuổi, tôi bị một trận đau khốc liệt, nằm bệnh viện đến gần cả tháng trời. Sau khi sức khỏe hồi phục, đi lại được trong nhà, tôi có cảm giác  mẹ tôi sao lạ quá, dường như có sự thay đổi lớn ở nơi bà.

  Cứ tới bữa cơm, bà không ngồi ăn chung với cha con chúng tôi như trước khi tôi đau, mà ngồi riêng dùng cơm một mình trên cái phản kê bốn tấm ván gõ mun rộng mênh mông so với khổ người gầy héo của bà. Lại một điều lạ nữa, là chỉ trong thời gian gần đây thôi, trên đầu bà lúc nào cũng có một cái khăn lụa đen trùm kín, mặc dù là ban ngày và trời không lạnh lắm. 

   Tánh nũng-nịu, nghịch-ngợm vì luôn được mẹ cưng chìu nổi dậy trong tôi. Tôi đến gần chỗ mẹ mình ngồi và ôm lấy cổ bà nựng nịu, đồng thời kéo từ từ cái khăn lụa đen ra khỏi đầu bà. 

   Trên đầu mẹ tôi trước đây tóc đen nhánh, dài mượt mà quá gối, được bó thành một cục to tròn gọn ghẽ sau ót, là niềm hãnh diện của mẹ tôi, mà không một phụ nữ nào vào thời ấy lại không ao ước. Aáy thế mà giờ đây đầu bà trọc trơn, chẳng còn một sợi tóc nào. Tôi sờ lên đầu mẹ mình, những chân tóc vừa mới mọc châm gai gai, nhám nhám trong lòng bàn tay tôi. 

Tôi hỏi mẹ : - Sao má lại cạo đầu vậy ?

Bà hồn nhiên, nét mặt không một chút rung động, cầm bàn tay tôi, vừa vuốt ve, hôn hít vừa trả lời : - Con đau nặng má lo quá, nên má cầu nguyện Phật-Bà Quan-Âm cho con bớt bệnh, má cạo đầu và ăn chay một tháng. 

Nghe mẹ nói mà hai chân tôi như khuỵ xuống, nước mắt tuông trào. 

Một tình thương bao la như trời cao, biển rộng, thể hiện qua câu nói thật đơn-giản và hồn nhiên của một người mẹ chất phát, bình dị. 

- Ôi Quan-Âm ! Quan-Âm !  Mẹ chính là Quan-Âm của riêng con. 

Tim tôi se thắt lại. Tôi ôm chầm lấy mẹ mình, thản thốt, rên rỉ, không nói nên lời.  Tôi cứ để mặc cho nước mắt tuông trào và cứ thế tuông trào trên vai mẹ. Tôi ôm chặt mẹ mình mà lòng tràn ngập cảm thương, một tình thương cảm và biết ơn với muôn vàn ân sâu nghĩa nặng, mà đối với tôi, trời cao đất dày cũng khó thể sánh bằng. 

Và cũng kể từ hôm về chùa xuống tóc, mẹ tôi qui y Tam-Bảo, tu Phật tại gia. Còn tôi, mặc dù đau chưa khỏi hẵn, vẫn cố gắng cùng mẹ ăn chay đến hết tháng khấn ấy và cũng từ đó liên tục trai kỳ hàng tháng suốt mấy chục năm qua. 

Kể từ dạo ấy, cứ đến rằm, mồng một của tháng ta, tôi cùng mẹ ăn chay một tháng hai kỳ. Ở chốn quê mùa thôn dã, ăn chay tuy chỉ có rau luộc với muối đậu, nhưng mỗi tháng được hai lần cùng ngồi ăn chay riêng với mẹ, tôi thấy mình như lớn hẵn lên, và bữa cơm ngon lành làm sao. Mỗi bát cơm như đong đầy, như chan chứa tình yêu thương của mẹ hiền. Tôi và từng miếng cơm vào miệng mà như nuốt từng giọt ngọt của ân sâu dưỡng dục, nghĩa nặng sanh thành. 

   Tôi thật tình ăn chay một tháng hai lần, suốt trong mấy chục năm qua, kể từ dạo ấy, cũng chỉ vì nghĩ đến cái tình thương bao la của cha mẹ, ăn chay để tưởng nhớ đến công ơn cha mẹ, như để lúc nào mình cũng ở bên cạnh cha mẹ, chứ không hề nghĩ gì khác như với những người tu theo đạo Phật, ăn chay là để cầu giải thoát hay có phước đức gì gì  đó. 

Với các con mình, khi chúng vừa có chút trí khôn, sau một vài lần kể lại cho chúng nghe việc tôi bị bệnh lúc năm mười tám tuổi, việc bà nội của chúng đã cạo đầu qui y Phật và ăn chay để cầu nguyện cho tôi ra sao, sau đó tôi dạy các con mình nên ăn chay mỗi tháng hai lần để tưởng nhớ đến công ơn trời biển của ông bà nội, thì các con tôi đã vui lòng và tình nguyện làm theo. 

Những năm tháng xa nhà, lo cuộc mưu-sinh để nuôi sống đàn con, trong những ngày rằm, mồng một tháng ta, tôi và cả nhà đều ăn chay. Lệ ấy giữ mãi cho đến tận bây giờ. Mỗi khi cầm bát cơm chay lên miệng, vẫn như có mẹ hiền trước mặt, đang mỉm cười thân thương nhìn đàn con cháu, và như đang cùng ăn chay với mọi người trong gia đình mình vậy. 

Cuộc đời đưa đẩy, quá tuổi bốn mươi, có đôi vợ chồng một người bạn hồi cùng học ở bậc Trung-học thường đến rủ chúng tôi đi chùa. Ngôi chùa cũng gần nhà, các Thầy cùng người quê kiểng, gặp những lúc rảnh việc, đến một hai lần rồi quen với câu kinh, tiếng mõ; đến vài lần rồi nhiều lần, rồi lại thường đến. Mỗi lần đến chùa tâm lòng tôi cảm thấy lâng lâng, nhẹ nhõm như vừa bất nhiên trút được một gánh nặng vô hình nào đó, những nỗi âu lo, phiền muộn trong cuộc sống thường ngày bất chợt như tan biến vào hư vô, tâm hồn như trầm lắng, thanh thản, yên bình và thật dễ chịu. 

Với tôi, thật tình mà nói, đến chùa lúc ấy chỉ để đến cho có bạn, có bè, đến để được dịp tán gẫu, để hòa mình vào cảnh trí yên-bình, tịch mịch cho nhẹ nhàng thân tâm sau những tháng ngày nắng mưa, tất bật vì cuộc sống của cả đàn con mà thôi. Lúc ấy, tôi chưa hề có ý nghĩ như bao người khác, là đến chùa để tu hành, hoặc cầu Trời, khấn Phật việc này việc nọ, như cầu phúc cầu lộc, hay nói một cách cao sâu hơn là để được giải thoát sanh tử, luân-hồi, giải thoát trói buộc gì gì đó như các bạn mình thường nói. Những điều ấy đối với tôi thật xa xăm vời vợi, chưa hề nghĩ đến. 

   Tôi thường đến chùa mỗi khi có bạn bè rủ rê, trong những ngày chùa có cúng cấp, để trước được cúng dường, và sau đó là được ăn những bữa cơm chay của nhà chùa, với rất nhiều món ngon vì lạ miệng, cũng như được một buổi chuyện trò thân mật với các bạn mà ngày thường thì ai cũng bận-bịu trong việc mưu sinh, ít khi được gặp. 

Một hôm, trong bữa giỗ Tổ Nguyên-Thiều tại một ngôi chùa ở thành phố, tôi nghe loáng thoáng có một Thầy nói đến tên của chú tu-sinh, bạn cùng học với tôi hai năm ở bậc Trung-học thuở nào. 

Ba mươi năm xa cách bạn hiền, nhớ tới thời cắp sách đến trường, làm sao tâm lòng tôi không nôn nao rộn rã. 

Sau buổi giỗ Tổ, tôi lần theo dấu hỏi phăng, được một Thầy cho biết chú tu-sinh bạn học với tôi ngày nào, hiện đang tu trong một cái cốc lá ở một tùng lâm hẻo lánh ngoài huyện Long-Thành . 

Thế là mấy hôm sau, tôi thu xếp việc nhà việc cữa, rồi cùng vợ chở nhau trên xe gắn máy tìm đến thăm bạn học cũ. 

Trên đường đi, vợ tôi cứ thắc mắc hỏi tôi, chẳng biết Thầy có còn nhớ mình không mà đến thăm. Hơn ba mươi năm, cái khoảng thời-gian không dài lắm so với trăm năm của một đời người, nhưng cát bụi phong-trần cũng rất có thể làm cho hình dung và cả  tâm hồn con người thay đổi đi nhiều mà khó nhận ra nhau lắm chứ. Nhưng việc nhận ra hay chẳng nhận ra nhau nào có nghĩa gì đâu, có đáng gì để ta phải bận tâm tới. Hễ nhớ bạn thì cứ đến thăm là thõa nguyện rồi. 

Việc mà tôi cần phải quan-tâm là khó khăn trước mắt: đường thì xa, lại đi lần đầu, chỉ biết chỗ ở của bạn một cách loáng thoáng, mơ-hồ, phải hỏi thăm từng chặn đường, từng cây số. Mò mẫm hết gần nửa ngày trời, cuối cùng cũng đi tới đích. 

Vừa mới đến nơi, thoạt trông thấy nhau, lần đầu tiên gặp lại sau hơn ba mươi năm xa cách, ấy thế mà Thầy đã gọi cả tên lẫn họ mà mừng chào, khiến lòng tôi xiết bao cảm động. 

Sau khi ra giếng múc nước rửa mặt mày, tay chân xong, chúng tôi đến cùng Thầy, ngồi quanh chiếc bàn đá nhỏ kê dưới giàng hoa, cạnh mấy gốc điều, uống trà, tâm sự. Đôi bạn học thân thiết ngày xưa, kẻ tăng, người tục cùng nhau hàn huyên ấm áp cả lòng, quên mất thời gian. 

Cơm trộn khoai lang, gặp hồi bụng đói; móng nào cũng lạ miệng, vừa ăn vừa trò chuyện, ngon thật là ngon. 

Bỡi là chuyến đi đầu tiên, nên ấm lạnh chuyện đời, chuyện đạo, việc xưa việc nay tuy chưa thỗ, song bóng ác đã ném về tây, mà đường về thì xa nên lại vội vàng từ giã bạn hiền, hẹn gặp lại một ngày sớm nhất. 

Trên đường về, tâm lòng tôi cứ phảng phất mãi về hình bóng của người bạn hiền cao gầy ít nói thuở nào, về cái cốc lá tẻo teo xiu vẹo, về bữa cơm trộn khoai bốc khói, về đĩa rau lang luộc, chấm với nước muối ớt có giằm thêm mấy trái điều tươi mới hái từ trên cây xuống, tuy đơn sơ đạm bạc là thế, nhưng sao tâm lòng mình lại thấy ấm-áp, thân quen, hồn-nhiên, thanh-tịnh quá. 

Rồi lại miên-man về chính thân phận mình, đến những người ruột thịt sống bên cạnh, đến những người thân và không thân, đến cuộc sống hỗn độn, mịt mù, bất định và dẫy đầy phi lý, trong thực tại, trước mắt. 

Tại sao con người ta lại cứ phải đua chen, giành giật nhau cho cái ăn, cái mặc, cái ở, cho cái lợi-danh hão huyền có không, không có suốt đời cho đến chết thế kia? 

Mà thật ra, dù ai có may mắn nhiều trong cuộc đời, được tất cả mọi thứ từ danh đến lợi, nhưng đã chắc mấy ai có được những khoảnh khắc thanh-tịnh, an-ổn của tâm hồn, có được những bữa cơm ngon miệng và thấm thía mãi như bữa cơm trộn khoai lang, với tương rau thanh-đạm, đơn-giản kia đâu. Người ta sao lại cứ tự làm khổ thân, nhọc trí, phải bương bả, quay cuồng như thế kia, khiến mình cũng phải quay theo, quay đến tối tăm mặt mũi, mà tự mình nhìn lại, nào có được gì đâu? 

Không biết người ta phải tất bật lo toan suốt đời để tậu cho được thật nhiều nhà cao cữa rộng để làm chi, tích chứa thật nhiều vàng bạc để làm chi khi chỉ có một cái bụng để ăn, chỉ có hai lá phổi để thở hít khí trời bảo dưỡng cho cái thân chỉ năm bảy chục ký lô, trong khoảng đời khoảnh khắc không quá trăm năm so với cái to lớn vô cùng vô tận của không gian và thời gian trên đầu, dưới chân, sau lưng, trước mắt? 

Tại sao người ta lại cứ tự dày vò, đày đoạ thân tâm mình để bắt nó lúc nào cũng phải lo nghĩ, suy tư, tìm mưu nầy kế nọ để tạo dựng gia sản, tích tập tư tài?  Tạo lập được rồi lại cứ phải lo toan, hao tâm tổn trí để gìn giữ, sợ kẻo bị mất đi. Cái vòng tròn lẩn quẩn của đau khổ, lo toan vì tư dục luôn luôn khép kín. 

Nhưng rồi có ai giữ mãi mà không để mất những của cải quí-giá ấy được chăng?  Một mai tử thần gõ cữa, mà đó lại là điều chắc chắn, hiển nhiên không ai có thể tránh khỏi, thử hỏi lúc ấy có đem được gì theo chăng, hay là cũng phải đành lòng mà buông tay, nhắm mắt, trong khổ đau, nuối tiếc, ấm-ức, tức-tưởi với bao nhiêu nghiệp tội vì nó mà làm, để cùng mang theo với. 

Thế là sau năm bảy lần lên xuống thăm nhau, cái cốc tranh đơn sơ, giản-dị, bữa cơm khách rau tương thanh-đạm cùng với cái lòng rổng-rang, thanh-tịnh của Thầy, đã làm mềm lòng kẻ giang hồ, lữ khách, chán ngán những bước ngao du trên con đường vô định, đang muốn tìm về nơi cắt rốn chôn nhau. 

Thế là vào một ngày mồng tám tháng tư, ngày Đãn-sanh của bậc Đạo-sư Vô-thượng, ngày tôi vừa tròn năm mươi tuổi, vợ chồng tôi cùng một lúc phát tâm Qui-y Tam-bảo, làm cư-sĩ tu Phật tại gia. 

Trước Bảo-tọa của đấng Vô-thượng tôn, chúng tôi nhận Thầy H. người tu-sinh bạn học thời niên thiếu ở bậc Phổ-thông Trung-học thuở nào, làm Bổn-sư cõi thế, dìu dắt chúng tôi những bước đi đầu tiên trên con đường tìm Phật. 

II. Những bước đầu tiên 

Sau nửa năm qui-y Tam-Bảo, làm cư-sĩ tu Phật tại gia, một hôm tôi xuống cốc tìm Thầy, cầu Thầy chỉ dạy Phật pháp: “Đâu là con đường dẫn đến thoát khổ?”
Sau khi lắng nghe tôi trình bày tâm tư và ý nguyện, Thầy nghiêm-nghị bảo tôi một câu vắn-tắt: “Muốn cầu đạo Vô-thượng, trước hết phải trường trai, diệt dục. Nếu anh trường trai được, thời-gian sau xuống lại, ta bàn tiếp”. 

Tôi ra về mà lòng nặng trĩu. Bỡi vì từ khi qui-y với Thầy, Thầy đã phương-tiện chỉ dạy cho tôi nhiều điều hay, điều lạ, biết cái khổ của luân-hồi sanh tử, biết lẽ vô-thường giả tạm của cuộc đời; biết thế nào là mười hai nhân-duyên kết buộc, lưu-chuyển không ngưng dứt trong một vòng tròn luôn luôn khép kín; biết  thế nào là gieo nhân gặt quả, thiện-ác trả vay. 

Tuy-nhiên, lòng hâm-mộ Phật-pháp ngày một tăng trưởng trong tôi. Tôi không muốn dừng lại ở chỗ tu-hành để hưởng phước báo. Bỡi tôi nghĩ, trên thế-gian này, tất-cả các ông vua, bà chúa, các Tổng-thống, Thủ-tướng… những người đứng đầu trăm họ, ngồi trên hàng ức vạn triệu người, lợi-danh tuy trùm thiên-hạ, không ai là không ước ao có chỗ được như  họ, nhưng tự thân những người này thì chưa chắc đã bằng lòng với những gì họ đang có, chưa chắc chính họ cảm thấy hạnh phúc thật sự, hay tự thỗ mãn được cái tâm tham vô tận của mình. Đó là chưa nói đến việc lớn tử sanh thì không thể tự mình giải quyết được. 

Hạnh phúc sao được khi mà mọi vật có hình tướng đều không nằm ngoài lẽ vô-thường: có đó rồi không đó, còn đó rồi mất đó. Hơn nữa, điều này lại xảy ra ngay trên chính bản thân nhỏ bé của con người, nghĩa là một sinh vật có lý trí và thật sự yếu ớt kia cũng không nằm ngoài cái lẽ vô thường, tức có sanh ắc phải có tử, một lần mang tay không đến ắc cũng phải một lần đem tay không ra đi. Đó là chơn lý bất biến trong trời đất này . 

Nhờ tự rọi soi, chiêm-nghiệm và nhận thức được cái giả tạm, mất tự do vì tự thân buộc ràng với nhơn quả luân hồi, nên nay tôi lại muốn cầu đạo giải-thoát sanh tử, cái đích tối hậu của người tu Phật mà tôi được biết qua tham khảo kinh sách, điển tịch, cũng như một chút ảo ảnh tự do mơ hồ, xa xăm nào đó còn sót lại, thỉnh thoảng xuất hiện, phảng phất trong tôi. 

Thế nhưng Thầy bảo, muốn cầu đạo Vô-thượng Bồ-đề thì trước hết phải nên trường trai. Mà tôi cũng tự biết rất rõ rằng, trường trai thì phải đi đôi với sự diệt ba độc “Tham-Sân-Si” của tự thân, như lời Thầy từng giảng dạy. 

Trong khi đó, cái thân tâm tham đắm mọi sắc tướng thế-gian thì sờ-sờ trước mũi, luôn luôn tồn-tại trong tôi. Cái ngon thì lúc nào cũng muốn ăn, muốn nhai, muốn nuốt cho thật thõa mãn vị giác, miệng lưỡi của mình.  Lại đâu phải trường trai là chỉ có việc khắc-phục mỗi cái ăn, cái uống thôi đâu, mà còn phải biết tiết-chế nhiều thứ khác mà tự thân mình luôn luôn tham luyến. Tôi cũng tự biết, một người tu-hành chơn-chánh, dù tại gia hay xuất gia, một khi hành trì Phật pháp, trước tiên phải tự-thành, nghĩa là không được tự dối mình. Thế nên khi thực-hành nghiêm túc việc trường-trai, cũng như nỗ-lực diệt ba độc của tự thân thì coi như  phải tiết chế tất-cả mọi thứ trên đời. 

Bỡi vì khi chúng ta nói suông ngoài miệng ba tiếng “Tham-Sân-Si” thì thấy dễ, chẳng có gì to tác lắm, chứ suy ra cho cùng, chỉ mỗi một chữ “Tham” mà phải thực-hành, tiết-chế nó ở cả sáu căn mắt, mũi, tai, miệng, thân, ý thì phải nỗ lực điều-phục thân tâm gian-khổ biết là chừng nào. Mà chế cái “Tham” ở từng căn một thì cũng không biết bao-nhiêu là thứ mà mình cần phải điều phục, diệt-trừ, loại bỏ, xa lìa. 

Chẳng hạn tham của ý thì vô-số, như tham danh, tham lợi, ghét thương, độc ác, ganh tị, hiềm khích…Tham của miệng thì lúc nào cũng muốn ăn cho ngon, uống cho sướng, giết hại bao nhiêu sanh vật để thõa mãn cho cái miệng, cái lưỡi  của mình.  Còn "nói" thì lúc nào cũng muốn nói cho thõa-thích, sướng miệng, mặc sức nương cái tâm đang lẫy lừng mà động môi, động lưỡi :  nói hành, nói ác, nói hai lưỡi, nói thọc gậy cho người thù hiềm nhau, rủa sả, chửi bới, độc mồm, độc miệng…..Tham của mũi thì thích mùi thơm-tho, quyến rủ, mê-mẩn tâm hồn, kích thích nhục cảm. Tham của tai thì thích nghe những âm-điệu du-dương, ngọt ngào, hoặc những lời tâng bốc, nịnh hót, dối trá sáo rỗng, mặc dù biết chẳng ích lợi gì cho tự thân, nhưng ai cũng thích được nghe như thế. 

Sau một thời gian suy-tư, cân nhắc thiệt hơn, tôi tự cảm nhận rằng những cái mà mình tham đắm, yêu thích để bắt tự thân phải đấu-tranh, giành giật, được rồi thì thụ-hưởng, ôm-ấp, chấp-thủ lên chúng, nhưng tất-cả những cái được ấy  cũng chẳng đem lại cho mình một thứ hạnh-phúc nào bền vững, lâu dài, chân-thật cả. Vì ngay chính cái thân mà mình đang đeo mang, tự nó cũng đã có giới hạn ngắn ngủi và vô thường rồi.  Tất cả đều có đó rồi không đó, hiện đó rồi biến đó, nếu không khéo lo liệu trước, đến lúc sức tàn, lực tận, bốn món thành tro, thì biết nương vào đâu, gá vào đâu để có thể tránh nạn dầu sôi, lửa bỏng đây!

 Nhiều lúc tôi miên man tự trách mình, sao hồi cha mẹ mới sanh ra mình, vừa có chút ít trí khôn, thân tâm còn sáng trong như tờ giấy trắng, sao chẳng biết tự lo tìm đường mà tu học, để đến giờ này đã quá nửa đời người, sự ràng buộc với trần lao, nhân thế đã quá dày, quá chặt, đến lúc chán chê ê-ẩm rồi mới nghĩ đến chuyện tu-hành, không biết tu có còn kịp nữa chăng? 

Suy đi nghĩ lại, thân tâm co kéo, dằn xuống, vặt lên, lợi hại, khổ vui nên chọn đường nào, để rồi cuối cùng tôi đi đến một quyết-định trọng-đại cho chính cuộc đời mình. Tôi tự động viên mình rằng, sự giác-ngộ để giải-thoát đâu có thể tính bằng thời gian mà sao mình lại nghĩ  là tu kịp, hay tu không kịp. Đã quyết chí tu thì một đời cũng tu mà một ngày, một giờ cũng tu. Thành hay bại trong tu tập là do ý chí của con người có quyết tâm buông bỏ được cái mồi nhử của trần lao, có tự thoát được chỗ đen tối vô minh trói buộc hay không mới là điều tối quan-yếu. 

Lại vừa gặp duyên lành, mấy đứa con thấy sức khỏe tôi yếu, không muốn cho tôi tiếp tục làm việc nữa, mà đề nghị tôi nghỉ ngơi, tịnh-dưỡng ở nhà để chỉ chuyên lo một việc tu-học mà thôi. 

Tôi như người sắp chết đuối vớ được phao. Tôi thầm nghĩ, từ lâu nay mình chỉ khắc-khoải, âu-lo có mỗi một việc sinh sống của gia đình. Nay các con đã lớn khôn, tự tạo được kế sống, mình được rảnh tay, không còn phải mang tiếng chịu lời là vô trách nhiệm với con cái, như miệng lưỡi thế-gian thường đàm-tiếu. Nay con cái thương mình, lo cho mình như thế, thì còn gì quí bằng. 

Thế là tôi mạnh dạn hứa với các con tôi, mặc dù chẳng ai bắt buộc : “ Ba hứa với các con, với cả nhà rằng, Ba sẽ nỗ lực buông bỏ trần lao tham luyến, quyết chí tu hành để khỏi phụ từ tấm lòng cho đến cơm ăn, áo mặc, thuốc men mọi thứ mà các con lo cho Ba trong những ngày xế bóng”. 

Các con tôi cũng vui vẻ, thầm ghi nhận những lời chân thật xuất phát tự trái tim của cha mình. 

Thế là tôi vui mừng không sao kể xiết, tức khắc lo thu xếp công việc của gia-đình đâu vào đấy, rồi ngay đó thực-hành trường trai, mà trước mắt là để di-dưỡng thân tâm cho an-ổn . 

Một thời gian sau, tôi xuống cốc thăm Thầy Bổn-sư và thưa : 

“Con đã trường trai hơn nửa năm, muốn đến cầu học Phật-pháp nơi Thầy, nhưng con thường hay đau yếu, nhất là bệnh huyết áp không ổn định, lên xuống trong ngày một cách thất thường, nên trước mắt dù ham tu học nhưng vì sức khỏe kém nên chưa thể đi xa nhà được. Nay có Thầy T. cũng là chỗ bạn học quen biết cùng Thầy và con hồi thời còn học Phổ-thông Trung học, nay mới vừa gặp lại. Con muốn đến cầu pháp với Thầy ấy, Thầy thấy thế nào ?”

Thầy Bổn-sư hoan-hỷ : “Thầy T. cũng là chỗ quen biết từ lâu, lại có nhân-duyên với nhau từ trước, một thiện-tri-thức trong đời này, anh có thể đến đó cầu pháp. Tôi rất yên tâm và tán-thán việc làm nầy”. 

Thế là từ đó hàng tuần, cứ tới chủ-nhật tôi ra chùa gặp Thầy T. (Pháp-sư mà tôi đang theo Ngài tu học) , cùng Thầy đàm-đạo, trình bày cho Thầy nghe ý hướng tu học của mình và cầu Thầy chỉ dạy đạo lý giải-thoát.

Thầy hỏi tôi ở nhà có tụng kinh gì không ?  Tôi thưa, mới đây hàng đêm có tụng kinh Di-Đà, thỉnh-thoảng tụng kinh Phổ-môn, vì theo các bạn đi chùa, nghe tụng các kinh trên, thấy ý kinh từ-bi, phước-đức nên về nhà thường đêm vẫn tụng, cho thân tâm có được một chỗ dựa an-lành. Nghe xong Thầy không nói gì. 

Mỗi khi ra chùa để gặp Thầy, tôi thường đem theo một cuộn giấy nhỏ bề ngang chừng sáu hoặc bảy phân mà cả một tuần hoặc mười ngày qua đã viết vào đó những câu hỏi mà mình thắc mắc hoặc chưa hiểu đối với Phật pháp để nhờ Thầy giải đáp. Cuộn "sớ" có khi dài tới ba bốn thước, được viết bằng chữ li ti, chứa cả trăm câu hỏi. 

Tôi hỏi tới đâu đều được Thầy trả lời thông suốt tới đó; không câu hỏi nào mà Thầy không trả lời được, cũng như tất cả mọi câu đáp của Thầy đều làm cho tôi hài lòng, đều thỗ mãn cái trí ham hiểu biết của tôi. 

     Một hôm, khi biết tôi trường trai được quá một năm rồi, Thầy bảo tôi về nhà trì-tụng kinh Kim-Cang. 

    Nghe thầy dạy trì tụng kinh Kim-Cang, tôi toát mồ-hôi hột. 

Bỡi vì trước đây tôi thường nghe những anh em bạn cùng đi chùa nói chuyện với nhau, nào là tụng kinh Kim-Cang cây úa lá vàng, ma kêu quỉ khóc, có khi phải bị điên-điên, khùng khùng, vì  nói kinh này phá ma, phá chấp gì gì đó. 

Thật ra danh từ “Phá-Chấp” dùng trong nhà Phật, lúc ấy tôi cũng chẳng rõ ý nghĩa là gì.  Chỉ có điều nghe nói ma kêu, quỉ khóc, cây úa lá vàng là tôi đã nổi da gà, ớn lạnh toàn thân, tóc gáy dựng ngược rồi. 

Tuy nhiên, Thầy là người từ tốn, ít nói, nên khi nghe Thầy nghiêm nghị bảo như vậy, tôi cũng nín im, chẳng dám hỏi đi, hỏi lại. 

Tôi về nhà suy nghĩ mất hai ba hôm, cân nhắc thiệt hơn, cũng không ngoài mục đích tự xác định quyết tâm của mình và đặt hết sự tin tưởng vào Thầy. 

Tôi đắn đo tự hỏi và cũng tự trả lời, rằng không biết có thiệt là trì-tụng kinh Kim-Cang thì có ma kêu quỉ khóc, cây úa lá vàng, hay điên điên, khùng khùng chăng?  Chẳng lẽ một việc tai hại lớn như vậy mà Thầy lại bảo mình làm hay sao? Kinh Kim-Cang là lời của đức Phật truyền dạy, nghe nói là kinh khai mở trí huệ gì gì đó, thì làm sao có chuyện trì tụng lời của Ngài mà phát điên phát khùng được?  Thật không có lẽ nào ! Thật không có lẽ nào ! 

Thế là tâm ý đã quyết, sáng hôm sau, tôi lấy quyển kinh Nhật-tụng trong đó có bộ Kim-Cang kinh, thả mình trên võng xem trước chứ chưa nghĩ gì đến chuyện tụng niệm cả. 

Tuy vốn liếng chữ nghĩa cũng khá, nhưng kinh lại dùng toàn Hán-Việt, nên xem đôi ba lần cũng chưa hiểu gì lắm. 

Hôm sau tôi ra hiệu sách Vạn-Hạnh tìm mua được cuốn Kim-Cang kinh chú-dịch của Hoà-Thượng  Huệ-Hưng, đem về vừa so từng chữ, từng câu, vừa tự dịch ra Quốc-ngữ; dịch xong mỗi câu, mỗi phần lại xem phần dịch-giảng của Ngài Huệ-Hưng, đối chiếu với phần dịch của mình, coi có ăn khớp ý-tứ không. Cứ như thế trong hơn năm ngày liền, đều-đặn sáng ra bắt đầu làm việc dịch thuật, đến gần mười một giờ khuya mới đi ngủ. Phần dịch Hán-Việt ra Quốc-ngữ theo nghĩa của từng chữ, từng câu, từng phần, ý tứ đã tạm ổn.  Sau đó là phần việc phải xem đi, xem lại rà soát thật kỹ-lưỡng bản dịch của chính tôi, đối chiếu lại với toàn văn bản dịch của Ngài Huệ-Hưng, xem có chỗ nào còn chênh-lệch, sai biệt về ý-tứ nhiều không. Một tuần sau nữa, công việc tuy có khó khăn buổi đầu, nhưng rồi cũng hoàn tất, đâu vào đấy cả. Đến lúc này, tôi bắt đầu tụng kinh Kim-Cang do tôi dịch ra Quốc ngữ. 

Tôi tụng thật chậm rãi, để vừa lắng nghe chính âm thanh của miệng mình, vừa để hiểu được ý kinh. 

Thường thường tôi tụng kinh vào ban đêm. Đợi sau khi mọi người trong nhà đều đi ngủ cả, cảnh trí hoàn toàn yên ắng, thanh tịnh rồi thì tôi mới đem kinh ra tụng. 

Trong những ngày đầu, tôi tụng kinh mà cả thân lẫn tâm đều không an-ổn chút nào, vì cứ bị ám ảnh những câu nói gở của bạn bè vừa nói ở trên. 

Cứ tụng chừng mươi, mười lăm phút, tôi lại cảm thấy sờ sợ, ngai ngái sau ót, lành lạnh sau lưng, nên lấy hết can đãm len-lén quay đầu, liếc mắt qua hai bên coi thử có con ma mặt xanh, con quỉ nanh đỏ, mũi to, sừng nhọn, hung tợn dữ dằn nào hiện ra đứng bên cạnh mình hay không, như trong ý của mình đã mơ hồ tưởng tượng. Nhiều lúc thân tâm, mắt miệng dồn hết vào trong kinh nên quên tất cả; đến đoạn sang trang hoặc có một tiếng động bất chợt nào đó làm tôi giật mình, nhớ nghĩ đến chuyện ma kêu, quỉ khóc tự nhiên sau gáy, sống lưng cảm thấy lành-lạnh, lại phải lấy hết can-đãm, thử quay đầu nhìn ra phía sau. Hú vía, thật chẳng có chi. 

Hôm đầu tiên trước khi bắt đầu tụng kinh Kim-Cang, tôi ra cái sân nhỏ có trồng mấy chậu hoa trước mặt nhà, xem xét thật kỹ lưỡng các bụi hoa. Chậu nào, cây nào có lá vàng hay úa héo là tôi âm-thầm cắt bỏ hết, chỉ để lại toàn thứ xanh um, tươi tốt. Sau một tháng tụng kinh, ngày nào tôi cũng ra quan-sát cẩn-thận, thấy chẳng có cây nào, chậu hoa nào, cành lá nào vì mình tụng kinh Kim-Cang mà nó úa, hay vàng cả, cũng như chẳng thấy có con ma nào khóc, con quỉ nào hờn trong lúc tôi tụng. Thế là tôi an tâm trì tụng không còn chút gì lo sợ nữa. 
Tôi tụng kinh mỗi ngày một lần vào buổi tối, trọn bộ kinh, gồm đủ ba mươi hai phẩm. Trong những ngày đầu, tôi  tụng theo phần chữ Quốc-ngữ mà tôi đã tự dịch nghĩa để thật hiểu ý kinh. Rồi những tháng sau đó, tôi tụng kinh theo âm Hán-Việt để chính tâm mình được hòa lặng vào kinh. Còn ban ngày thì tôi chuyên-chú đọc đi, đọc lại từng câu, từng phần để tìm hiểu thật sâu sát ý tứ xa gần của các câu văn trong kinh, không khác trước đây mình đi học ở nhà trường môn giảng-văn, chỉ có điều là ở kinh-văn Kim-cang, ý nghĩa sâu xa, cao vợi, khó tin, khó hiểu hơn gấp nhiều lần. 

Mới đó mà đã ba bốn tháng thấm-thoát trôi qua.  Một hôm tôi ra chùa thưa với Thầy: 

Con tụng kinh Kim-Cang mà chẳng hiểu Phật nói gì cả. Phật vừa nói có đó chợt lại nói không đó, mới nói phải đó rồi lại phủ-nhận, nói không phải. Con thì chẳng hiểu một chút gì, thế mà Ngài Tu-Bồ-Đề ở trong kinh nịnh Phật quá đỗi, nào là Ngài rơi lệ khóc lóc quá bi thương, nào là khen Phật nói pháp thậm-thâm vi diệu, hy-hữu chưa từng có. Thật con chẳng biết phải hiểu ra làm sao đây !” 

Thầy nghe xong chỉ nhỏ nhẹ bảo, cứ về nhà tụng tiếp, ngoài ra chẳng nói thêm gì. 

Thế là tôi lại về nhà vừa tụng kinh, vừa nghiên-cứu, nghiền-ngẫm ý kinh, nhưng rồi ngày lại qua ngày tự cảm thấy việc tụng niệm chẳng đi đến đâu cả, vì ý kinh thâm sâu cao viễn, khó tin khó hiểu quá. 

Nhiều lúc ngồi một mình bâng-khuâng tự nghĩ, mình đã thưa với Thầy rất rõ ràng, rằng mình cần cầu đạo Vô-thượng của Phật để mai kia giải-thoát cái khổ của sanh-tử, cái nhàm-chán, vô vị và đầy phiền não của thế-gian, thế mà Thầy giấu mình, không chịu nói ra, không chịu chỉ dạy ngay cho mình cái pháp đó, lại bắt mình trì tụng kinh Kim-Cang.  Mà kinh này thì Phật nói khó hiểu, khó tin quá, sâu xa, diệu vợi, hoàn toàn khác hẵn với các kinh như Di-Đà, Phổ-Môn, chỉ vừa đọc tới là rõ nghĩa ngay. 

Trong tôi thoáng chút buồn phiền, chán nản. Thế là từ đó móng khởi cái ý định muốn đánh bạo ra chùa “chất-vấn” Thầy, vì sao mình rất tha-thiết muốn cầu đạo giải thoát của Phật mà Thầy giấu không chịu giảng dạy ngay cho, lại bắt tụng kinh Kim-Cang làm gì. Hay là Thầy chê mình căn-trí kém cõi, không thể hiểu nổi các pháp của Thầy nên không dạy, hoặc là thầy biết mình vô duyên, bạc phước, không đủ trí tuệ để học pháp ấy nên thầy không dạy chăng? 

Một hôm tôi ra chùa định chất vấn Thầy. Thế nhưng khi đến nơi gặp được Thầy, nhìn ánh mắt hiền-từ và quá đỗi chân-thật, nét mặt hồn-nhiên, thanh-thản, bình dị đến lạ lùng, cùng cái phong thái buông bỏ, an-ổn, thanh-thoát tiềm-ẩn trong Thầy, tôi không thể nào mở miệng ra được. Lúc ấy tôi tự ăn năn sám hối như người vừa suýt phạm phải một tội lỗi nào đó. Thế là sau khi cùng Thầy uống trà, đàm đạo, tôi lại vui vẻ ra về trì tụng tiếp bộ kinh Kim-cang mà không còn nghĩ gì đến việc “chất-vấn” Thầy nữa. 

Sau đó chừng vài tháng, một đêm khi ngồi ngay ngắn, nghiêm chỉnh trước bàn thờ Phật, như thường lệ trước khi tụng kinh, tôi vừa gióng chuông lên ba tiếng, không biết tại sao tâm-tư tôi bất nhiên thổn thức, nước mắt lã chã tuông trào. Tôi khóc nức nở mà không biết vì sao mình khóc. Tôi cố ghìm cơn khóc nhưng không sao ghìm được. Tôi lại gióng chuông dài tràng, cốt cho thân tâm cùng lắng vào tiếng chuông để hoạ may có thể bớt khóc chăng, nhưng cũng không thể được. Tôi vẫn nức nở, thổn thức, nhưng quyết không bỏ cuộc, cứ tiếp tục tụng kinh một cách tức tửi trong nước mắt chan-hòa và những cái nấc ấm ức không biết từ đâu đến. Tôi nhìn vào trong để tìm hiểu chính mình. Vô ích, cái khóc tức tửi của một người già trên năm mươi tuổi mà tự mình lại không biết vì sao?  Thật lạ quá !

Thế là mọi cố gắng và quyết tâm của tôi trong lúc này đều thất bại. Chỉ tụng đọc được vài ba trang, tôi đành bỏ cuộc. Bỡi tâm-nguyện và ý chí của mình có thừa, không nản lòng, không chùn bước, nhưng nước mắt cứ ràn rụa và những cái nấc thổn thức không biết từ đâu đến, làm cho tôi không sao thấy chữ được, và cũng không thể nào mở miệng tiếp tục trì tụng được. Tôi thành kính dập đầu lạy Phật ba lạy rồi đi rửa mặt, xong uống cạn một tách trà nóng lớn, rồi ngồi trầm ngâm suy-nghĩ tìm hiểu nguyên do cái khóc vừa rồi từ đâu đến. 

Tôi hoang mang tự nghĩ, thôi đúng rồi, hay là đã có lúc mình nghĩ rằng ngài Tu-Bồ-Đề nịnh Phật, nên Ngài ấy bắt phạt mình chăng? Bỡi vì đọc kinh mình chẳng hiểu Phật nói gì cả, thế mà ngài Tu-Bồ-Đề lại khen Phật như thế này, thế nọ, lại còn khóc lóc, thổn-thức nữa chứ.  Nay thì chắc-chắn vì mình nghĩ  xấu, nói xấu ngài Tu-Bồ-Đề nên Ngài bắt tội mình rồi, không còn sai chạy đâu nữa. 
Tôi lo sợ, ngay đó toàn thân sởn ốc, nổi da gà, dựng tóc gáy.  Nhưng rồi tôi lại trầm tư suy nghĩ, nửa tin, nửa ngờ về chính cái ý-nghĩ và sự phỏng đoán của mình.

Cả ngày hôm sau tôi điềm-tĩnh trở lại, tự nhủ đến tối nay phải quyết-chí tụng kinh một cách cẩn-thận, cũng như dò xét sự việc một cách kỹ-lưỡng, nhất là lắng xem nếu có phải khóc thì cái khóc thổn thức kia bắt đầu xuất phát từ chỗ nào để kịp thời ngăn chận nó. 

Thế nhưng dù chuẩn-bị tâm tư rất kỹ-lưỡng, cái thổn-thức bất chợt đến với tôi không có xuất-xứ, mà lần này còn lẹ làng, nhanh-chóng hơn lần trước nữa. 

Sau ba đêm liền bỏ cuộc như thế, tôi lo sợ quá, vội vàng ra chùa trình Thầy sự việc và xin được sám-hối về ý nghĩ và những lời nói bất kính của tôi trước đây, rằng ngài Tu-Bồ-Đề nịnh Phật, nên mới bị Ngài bắt tội và hành-hạ tôi chăng?
Bình tĩnh lắng nghe tôi trình bày xong mọi sự, Thầy nghiêm nghị bảo tôi rằng: 
- "Ngài Tu-Bồ-Đề là bậc Đại từ, Đại-Bi, Đại Trí-Huệ, đâu có để tâm đến những chuyện như vậy. Chỉ có điều khi tụng kinh Kim-cang, anh phải dồn hết thân-khẩu-ý vào kinh, đừng vọng tưởng việc này việc nọ". 

Nghe lời Thầy, tôi yên tâm ra về và hành trì tiếp. Quả nhiên, ngay đêm ấy và tất cả những đêm về sau cho tới bây giờ đây, việc trì tụng kinh Kim-Cang của tôi bình-thường,  chẳng có gì rắc rối xảy ra như ba đêm ngày xưa ấy. 

Thì ra khi tụng kinh, nhất là những bộ kinh Đại-thừa, Tối-thượng-thừa như Kim-Cang, trong đó Phật tỏ bày cùng tột yếu lý Đạo, chỉ thẳng, tác động trực tiếp vào điểm yếu nhất, mong manh nhất của tâm thức, cũng là khai mở trực giác để người hành trì ngay đó trực ngộ bổn tánh, thì người trì kinh phải biết dọn dẹp hết sạch những rác rười (vọng tưởng, vọng niệm) có thể làm chướng ngại cho việc thâm nhập tánh sáng của các pháp âm kia. Khi tụng kinh Kim-cang, tâm thể của người trì tụng có thật sự bình lặng, rổng rang, thanh tịnh thì ánh sáng của pháp âm mới có thể tuông chảy, dẫn nhập, soi sáng, đánh thức trực giác đang ngủ quên để liền ngay đó có thể trực ngộ Phật tánh. 

Cho nên, nếu khi trì tụng mà hành giả không dồn hết thân-khẩu-ý vào kinh, cũng có nghĩa là thường khởi vọng tưởng lăng-xăng, để tâm thức chạy nhảy bất định, thì dễ xảy ra tình-trạng như trên, rồi quay lại đổ thừa tụng kinh Kim-Cang dễ làm điên-khùng hay khiến ma kêu quỉ khóc như nhiều người thường nói hoặc thường mắc phải. Cho nên ở chỗ này, nếu không có Thầy trực tiếp dẫn dắt thì người hành trì thường tỏ ra ái ngại, sợ sệt hay chán nản mà bỏ lỡ giữa chừng thì thật là uổng phí công sức một đời tu. Tôi thường hay nhắc nhở các bạn đạo thân thiết của mình rằng, sở dĩ rất cần phải có thầy đắc pháp trực tiếp dẫn dắt, cũng là để ngừa trước những tình huống tương tự có thể xảy ra như trường hợp của tôi mắc phải ở trên. 

Thí như những ngày đầu tôi tụng kinh Kim-Cang mà tâm không yên, đầu óc cứ vẩn vơ với những ý tưởng tự kết dệt, hoặc sợ sệt như là sẽ có ma kêu, quỉ khóc, hoặc có yêu quái mặt mày dữ tợn rình rập bên cạnh thì còn tâm ý đâu để có thể hoà lắng vào kinh, còn đâu tâm thể rổng rang thanh tịnh để có thể dễ dàng đón nhận ánh sáng pháp âm xua tan vô minh, soi sáng bổn tánh.

Đó là sự thật mà tôi đã kinh qua, không hề giả dối, gạt gẫm ai cả. 

Sở dĩ Phật thuyết Kim-Cang kinh là do Ngài Huệ-Mạng Tu-Bồ-Đề khải thỉnh.  Trong kinh, Phật nói cùng tột yếu-lý Đại-thừa, Tối-thượng-thừa, chỉ thẳng tâm người để ngay đó những hành giả được gọi là vào bậc trung thượng, có căn cơ trí tuệ và duyên phước đầy đủ có thể nương phương tiện hy hữu, tối thắng này mà tự mở, bày, tỏ và vào tri-kiến Phật, (Khai-Thị-Ngộ-Nhập Phật tri-kiến)  cũng tức là tự ngộ nhập bản thể chân thật của Phật tâm, cũng là sáng tỏ Phật tánh của từng mỗi chúng sanh vậy. 

Qua trải nghiệm của tự thân chúng tôi, thì hành giả nào hành trì pháp này cần tự xem xét mình có đủ căn-cơ phước đức để trì kinh không, có ham thích tu hành để cứu cánh lìa tử sanh phiền não đến độ tán thân, mất mạng mà chẳng hề sợ sệt hay hối tiếc không, có đủ nghị lực để buông thân (dũ bỏ trần lao tham luyến) một cách dứt khoát không, cũng như có được duyên lành gặp bậc Thiện-tri-thức khuyên tu pháp này và trực tiếp dẫn dắt mình hay không? 

Theo chúng tôi nghĩ, nếu hội tụ được các duyên lành như thế, chúng tôi ước mong và tha thiết khuyên các bạn đừng ngần ngại gì mà không quay đầu lại, chí tâm hành-trì kinh Kim-cang, ắc không sớm thì muộn, ngay trong đời này, Bát-nhã trí hiển hiện, thật tướng vạn pháp phô bàøy, tự tại đến đi, không lầm nhơn quả. Đó là điều chắc chắn, tôi không dám nói ngoa. 

Một năm ròng-rã trôi qua, ngày nào tôi cũng trì kinh, không bỏ sót một đêm nào. 

Một hôm trong khi ra chùa nói chuyện với Thầy, tôi đề cập đến các Thiền-ngữ cũng là những Công-án Thiền của chư Tổ Thiền-Tông, được kết tập trong các quyển sách Thiền như “Thiền-sư Trung-Hoa, Vô môn quan,  Đường về hố thẳm, Tam Tổ thật-lục vv… và tôi có ý định muốn được tham-học một Công-án Thiền nào đó của chư Tổ, chẳng hạn như câu trước khi cha mẹ chưa sanh thì mình là gì, mà tôi cho là hay hay. 

 Thầy nói được. Thế là tôi về nhà tự chế lại ý nghĩa của câu hỏi trên thành hai câu thơ cho dễ tham, dễ thuộc : 

Trước khi cha mẹ chưa sinh
Bổn lai diện mục của mình ra sao ? ”

Với câu thoại đầu của Công-án Thiền này, trừ khi mỗi tối hành-trì Kim-Cang thì không kể, toàn bộ thời giờ còn lại trong ngày, dù bất cứ lúc nào, đi đứng, nằm ngồi, uống ăn, ngủ nghỉ, làm việc lặt vặt trong gia-đình tôi đều tự hỏi mãi trong đầu, hỏi đến chừng đi ngủ cũng hỏi, mãi đến khi ngủ thiếp mới thôi. 

Trong thời-gian này, những thành-viên trong gia-đình đều thấy tôi có những biểu hiện khác lạ, ít nói năng, ít giao-thiệp, bỏ đâu ngồi đấy một chỗ;  ai nói với mình cũng chẳng biết họ nói gì ,hỏi gì,  nhiều khi nói hoài bên tai mà tôi không hay, không biết; đôi lúc người nhà phải kéo tai tôi mà nói, chừng ấy định-thần tôi mới tỉnh mê mà suy-nghĩ trở lại một chặp mới biết đường trả lời. 

Bỡi vì trong thời gian ấy, tuy vẫn có đi đứng, nằm ngồi nhưng trước mắt tôi là cái hố sâu thẳm, đen ngòm mà ngày ngày, giờ giờ tôi đang cố tình đào bới để làm cho ra lẽ, cho phá bể cái nghi quyện thành một khối của câu hỏi kia.

Cứ thế mà tôi tự dò tìm bằng cách tự hỏi đến quên ăn, và ăn chẳng biết ngon; đôi lúc cầm đũa và cơm vào miệng mà cứ và vào cằm, vào mũi đổ tháo lung tung. Bỡi vì trước mắt, mặc dù mở thao láo, nhưng thật tình chẳng thấy gì ngoài bóng dáng của câu hỏi được nhồi vón lâu ngày thành như một khối đen, lúc ẩn lúc hiện, lúc xa lúc gần, đồng như cái mịt mờ sâu thẳm vô biên của tâm thức. Còn mọi vật trước mắt giống như một lớp gương mờ, tất cả đều như rỗng hoát, xuyên suốt. 

Và cũng từ đấy, mỗi khi ngồi trước bàn thờ Phật trì tụng kinh Kim-Cang, yếu lý Phật dạy trong kinh đã tỏ lộ dần, đã sáng dần từng ngày, từng ngày một. 

Mỗi khi ngồi trước bàn thờ trì tụng, thân tâm tôi như hư không và cũng chính như đang ở ngay trong đạo tràng nghe pháp âm mà chẳng tự còn thấy chính mình có thân nữa, mà thân khắp hư không, tai mắt cũng thế, cùng khắp hư không, không đâu không có tai mắt, còn mọi sắc tướng thấy được trước mắt đều như huyễn, như hóa, xuyên suốt, bao trùm. 

Những gì Phật thuyết trong kinh mà trước đây tôi không làm sao hiểu được thì giờ này chẳng có chi là khó tin, khó hiểu cả. Tất thảy những gì Phật thuyết đều là chân lý, là sự thật như chính nó-là. Tất thảy đều chỉ một nó, cái tuyệt đối mà chính mình ngay đó đang-là, nói chẳng thể tới. 

*

Theo sự hiểu biết cạn cợt của mình thì tôi cho rằng toàn bộ bổn kinh Kim-Cang là một đại Công-án Thiền. Hay nói chính xác hơn, đó là một chuỗi dài các Công-án, được mắc xích nhau một cách liền lạc, tuần tự và thông suốt từ đầu đến cuối, để cấu thành bổn kinh. 

Tại sao lại gọi đó là những công án Thiền? Vì đa phần những lời đáp, mà cũng là phương tiện khai mở tuệ nhãn được đức Phật dùng trong đây đều là ngôn ngữ xuất sanh từ cảnh giới giải thoát, vượt quá hạn lượng thấy, nghe, hay, biết của tri thức phàm tình. Muốn khai mở nó, cũng là thâm nhập cảnh giới mà đức Phật muốn mượn ngôn ngữ vượt thoát trong kinh để dẫn dắt, thì hành giả rất cần phải nhờ tới trực giác của tự tâm để có thể (đủ điều kiện) tiếp nhận pháp âm ấy, cũng là nương mượn, hoà đồng "một" ánh sáng pháp âm để soi sáng bổn tâm, khám phá tự tánh, chứ tình tưởng, tri thức, giác quan, nghĩ nghị của con người thì không thể với tới, hoàn toàn không có chỗ dính dấp tới nó. 

Cho nên, nếu cần phải nói một lời chính xác mà không sợ mắc tội với chư Phật thì kinh này gần như chỉ dành cho những người căn cơ trí tuệ vào hàng Trung-Thượng, phước đức sâu dày, có duyên lớn với Đại thừa chánh pháp. Những người như thế hành trì kinh này ắc thuận lợi hơn, dễ thâu đạt kết quả hơn là những người ở vào hàng Trung, Hạ, ưa thích các pháp Tiểu thừa.  Điều này cũng đã được chính đức Phật lường trước, nên Ngài mới từ bi, ân cần dặn dò trong kinh như một lời cảnh giác cho từng mỗi căn cơ. 

Trong kinh, Phật có dạy rằng, chỉ vì phát khởi cho hàng Đại thừa, phát khởi cho hàng Tối thượng thừa nên Ngài mới thuyết kinh này……Kinh này nghĩa lý sâu xa không thể nghĩ bàn, nên công đức cũng vô lượng, vô biên, mà sự quả báo cũng không thể suy lường nổi. 

Cho nên, với những người căn trí thấp, ít phước đức, ham thích các pháp Tiểu thừa, một khi nghe kinh này thì thân tâm thường cảm thấy bức rức, nóng nảy, khó chịu, cũng như khó tin, khó hiểu, rồi sanh ra hồ nghi, hủy báng thậm chí bị điên cuồng. Đó là chỗ quả báo không thể nghĩ bàn vậy. 

Trong kinh Pháp-Bửu đàn, đức Lục-Tổ Đại-sư cũng đã từng nhiều lần khuyến khích thời nhân, đại ý, những người căn cơ trí tuệ phước đức sâu dày, nên nhứt tâm hành trì kinh Kim-Cang, ắc dễ thấy tánh. 

Cho nên, muốn thâm nhập vào cốt tuỷ của những lời dạy trong kinh này, cũng là hoà làm một vào ánh sáng của pháp âm, làm một pháp giới tánh mà những lời kia được tạm mượn làm phương tiện để ám chỉ, thì cũng chỉ có một cách là ngay ấy tự tâm người thính pháp, phải tự dọn dẹp không còn một tạp niệm cấu uế nào, chỉ còn lại một tâm thể rổng rang, một trực giác bẩm sinh mạnh mẽ, để hốt nhiên "đang-là" đồng một ánh sáng pháp âm. Chợt "đang là một" tới chỗ mà đức Phật muốn trỏ về, thì ngay đó mọi việc đều thông suốt, một phần công đức tu hành trong đời cũng được tạm gọi là bước đầu thành tựu. Nỗi cực nhọc của đức Phật trong suốt bốn mươi chín năm thị hiện cõi này để giảng pháp thuở nào, đã được người ấy đền đáp và trả ơn bằng sự bùng vỡ lớp vỏ bọc vô minh để hoà "một" pháp giới tánh, cũng là bộ mặt thật tự do đầu tiên và cuối cùng hiển lộ. 

Bằng nếu dùng tình tưởng, tri thức, quan năng của thế trí để biện biệt, lý giải, hay để hiểu biết ngôn ngữ giải thoát của đức Phật trong kinh, thì đó là việc làm không tưởng, chẳng khác gãi ngứa ngoài giày, hay nói đúng hơn, việc làm ấy cũng chỉ là sự giải ngộ kinh điển về mặt hữu tướng theo ngôn ngữ trói buộc nhị nguyên mà thôi. Đối với ý chỉ của đức Phật muốn trỏ về, thì chỗ này tới đó còn xa thăm thẳm. Hễ đã trực nhận thì ngay đó là thiệt-ta, là pháp giới tuyệt đối chứ chẳng là gì khác. Bằng chẳng phải như thế thì cũng có nghĩa là chưa phải thiệt-ta, còn đối mặt nhơn quả hai đường, còn đến đi không tự chủ. 

Với những người căn trí vào hàng bậc Trung có thể phải hành trì và nghiên cứu suốt toàn bộ kinh liên tục trong nhiều năm, để có thể lần lần thâm nhập yếu lý chứa đựng trong đó. Còn người phước duyên căn trí vào hàng bậc thượng, có thể không cần phải nghiên cứu tất cả các mắc xích ấy mà chỉ cần mượn phương tiện tối thắng của chư Tổ là áp dụng pháp tham công án, để đập bể nát được một mắ