THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
.
VÔ TỰ THỊ CHÂN KINH
Diệu Trân
Gió Đông xuất bản tháng 4-2005
Mục Lục 
Phần I – Từng Bước Quán Tâm

Đến Chùa Lạy Phật
Tam Bộ Nhất Bái 
Sujata 
Đồi Gió 
Trúc Tím Hoa Vàng
Tảo Nghiệp 
Vô Tự Thị Chân Kinh 
Nắng trên sông Neranjara 
Mưa Núi 
Đường Lên Yên Tử
Giòng Hợp Tấu Bất Tận 
Quang Minh Chiếu Thập Phương 
Tầm Sư Học Đạo 
Truyền Tâm Ấn 
Luân Hồi 
Trói Buộc Từ Đâu? 
Mây Trên Đỉnh Núi 
Tự Hữu Thần Tiên Thái 
Thiếp Trả Nợ Chàng 
Lên Rừng Lượm Hái 

Phần II – Bài Viết Về Tuệ Ca

Tiếng Sư Tử Hống
Hương Trầm Lỡ Cuộc Say 
Tóc Trắng Nhện Tơ Lòa 
Khuất Thân Cho Trọn 
Chim Trời Xếp Cánh 
Núi Rừng Hợp Tấu 
Luống Cải Chân Đồi 
Lá Xa Mùa 
Chiêm Bao Hạc Trắng. 

Phần III  Tuệ Ca, Tiếng Sư Tử Hống Giữa Rừng Già Vô Minh MP-3
Thơ: TS. Thích Tuệ Sỹ - Nhạc: Trần Quan Long - Hòa âm: Nguyên Đương

01 Hạ Sơn Sơn Nam
02 Khung Trời Cũ Kim Ngân
03 Tống Biệt Hành Ngọc Nga
04 Trúc và Nhện Yến Xuân
05 Một Bóng Trăng Gầy Sơn Nam
06 Tôi Vẫn Đợi Sơn Nam
07 Bài Ca Cuối Cùng Sơn Nam
08 Hạ Sơn nhạc hòa tấu
09 Khung Trời Cũ nhạc hòa tấu
10 Tống Biệt Hành nhạc hòa tấu
11 Trúc và Nhện nhạc hòa tấu
12 Một Bóng Trăng Gầy nhạc hòa tấu
13 Tôi Vẫn Đợi nhạc hòa tấu
14 Bài Ca Cuối Cùng nhạc hòa tấu
Trúc Biếc Hoa Vàng, Thơ Diệu Trân

 Phần I – Từng Bước Quán Tâm


ĐẾN CHÙA LẠY PHẬT

Ai đến chùa cũng vào lạy Phật, trừ người hảo tâm đưa giùm người khác đến cửa chùa, rồi đi. Không người nào lạy Phật mà không lâm râm khấn vái. Tôi đoan chắc những lời khấn vái đều là những điều thiện, lành, không cầu phước cầu lộc cho mình thì cầu cho chồng cho con, cho họ hàng thân thuộc, bằng hữu xa gần; người có tâm lượng rộng rãi hơn thì cầu cho quốc thái dân an, thiên hạ thái bình …… Người lạy Phật bận rộn cầu xin nên trong lúc cầu, ai cũng cúi rạp xuống mà tỏ lòng kính ngưỡng. Tự suy nghĩ như thế, tôi mới dám kết luận rằng, khi người Phật tử đến chùa lạy Phật, ít ai ngước mắt lên CHIÊM NGƯỠNG TÔN NHAN ĐỨC PHẬT, MẮT KHÔNG TẠM RỜI (như một câu trong Kinh A Di Đà.)

Là Phật tử sơ cơ nên khi chợt nghiệm ra như thế, tôi sửng sốt và có cảm tưởng  mình chưa từng nhìn rõ tôn nhan Đức Thế Tôn mà chỉ biết qua Kinh là Ngài có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Biết như thế thì cũng như không biết vì 32 tướng tốt đó thế nào, 80 vẻ đẹp ra sao? Những lời tả đó không giúp cho Phật tử “thấy” được Phật hơn là sự chăm chú chiêm ngưỡng tôn tượng. Tất nhiên, tượng cũng chẳng chứng thực được tôn nhan Phật nhưng qua hình tướng chúng ta còn có thể “thấy” Phật. Nghĩ thế, tôi dọ dẫm, tự kiểm chứng. 

Lần đến chùa sau đó, thay vì quỳ rạp lạy Phật, tôi chắp tay, lắng tâm thanh tịnh rồi từ từ nhìn lên chánh điện. Tôi chăm chú ngắm tượng Đức Thích Ca Mâu Ni tọa trên tòa sen. Mắt tôi chạm vào đôi mắt Ngài trước nhất. Lạ thay, tôi phảng phất thấy nụ cười từ ái nơi đuôi hai con mắt nhìn xuống. Nụ cười bằng mắt tỏa ra bát ngát bao dung và thương xót. Đôi mắt đang nhìn xuống thế gian mà biểu lộ cả tấm lòng Ngài. Chính đôi mắt đó đã chứng kiến bốn nỗi khổ Sinh, Lão, Bệnh, Tử của thế gian khi đi dạo ngoài bốn cửa thành. Những cảnh khổ đó không phải chỉ riêng đôi mắt Thái Tử Tất Đạt Đa thấy, mà hàng tỷ tỷ đôi mắt nhân gian đã thấy; nhưng nhân gian thấy chỉ để mà thấy, thấy rồi lại tiếp tục ngụp lặn trong biển khổ. Chỉ có vị Thái tử con vua Tịnh Phạn thành Ca Tỳ La Vệ là băn khoăn ray rứt vì biển khổ triền miên này. 

Từ đôi mắt thấy cảnh thương đau, đôi tai Ngài đã lắng nghe bao lời rên siết. Tất cả những tôn tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mà tôi từng được nhìn thấy, tuy nét mặt, có khác đôi chút (có lẽ tùy tâm trạng nghệ nhân khi đúc tượng) nhưng hai tai Phật đều được thực hiện như nhau. Đó là vành tai lớn và dài, biểu tượng lòng từ bi lắng nghe hết thảy thống khổ của nhân gian. Sự thật nhĩ căn của Phật có như thế hay không, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng chính là lòng Từ Bi và Trí Tuệ tuyệt luân của Ngài. Lòng từ bi đã thúc đẩy Thái tử từ bỏ cung vàng điện ngọc trở thành sa-môn Gotama, quyết đi tìm con đường giải thoát khỏi trói buộc của khổ đau. Với trí tuệ và kiên cường, sau sáu năm khổ hạnh, sa-môn Gotama đã tìm ra tên cai ngục cái nhà tù khổng lồ từng triền miên giam hãm, trói chặt nhân loại trầm luân trong thống khổ. Tên cai ngục đó là Vô Minh. Vì vô minh mà chúng sanh cho Vô Thường là Thường, Khổ là Lạc, Vô Ngã là Ngã, Không là Tịnh. Đó là đầu mối của mọi khổ đau.

Tìm ra được sự thật đó, sa-môn Gotama lập tức thoát xác! Bao giây trói vô hình chằng chịt bấy lâu như đều đứt tung ra! Bao phiền não như vừa bật rễ, trốc gốc, ào ạt lăn trôi, mất hút. Chỉ còn vầng thái dương rực rỡ, khai sinh Đạo Cả cứu độ chúng sanh. 

Và đó là lúc nụ cười mầu nhiệm nở trên môi sa-môn Gotama khi Ngài đạt Giác Ngộ, thành Phật; nụ cười ban vui, cứu khổ, nụ cười an ủi, chở che được tạc lại trên hầu hết tôn tượng Ngài. Chỉ cần tĩnh lặng chiêm ngưỡng nụ cười ấy, ta sẽ cảm ngay được lạc thọ của giòng suối trong vắt, ngọt lịm đang từ triền non cao chảy xuống miền đồng bằng nắng cháy. Nhìn kỹ thêm, hình như ẩn sau nụ cười đầy thương yêu, là lời dạy: “Ta là Phật đã thành; các con là Phật sẽ thành”. Lời dạy này cốt nhắc nhở chúng sanh phản quang tự kỷ, phải biết nhìn lại mình, phải biết gạn lọc sỏi đá cho hạt minh châu vốn sẵn có, sớm được hiển lộ. 

Từ khi tự chuyển “Đến chùa lạy Phật” thành “Đến chùa ngắm Phật”, tôi có được bao nhiêu là an vui hồi nào không hay. Này nhé, vừa tới trước cổng chùa, tôi đã dặn lòng “Không cầu xin gì cả, chỉ ngắm Phật thôi”; thế là tâm mong cầu, hờn giận biến mất. Tôi đã “XẢ” được tâm thế gian bên ngoài. Sau đó, quỳ trước Phật đài với lòng nhẹ tênh, với tâm thanh tịnh, tôi thấy được ánh điện quang Từ Bi của Phật hiển lộ rõ hơn trên mắt, trên môi Ngài, trên suốt con đường Trung Đạo Ngài đã đi, thể hiện qua chính bản thân Đức Phật, dũng mãnh mà lặng thầm, uy nghi mà điềm đạm, trí tuệ mà đơn sơ, nhẹ nhàng mà quyết liệt ……. Bằng đời sống của chính mình, Đức Phật đã dung hòa, đã hóa giải mọi trạng thái đối nghịch của thế gian để từ đó, Ngài dẫn dắt chúng sanh tìm dần về con đường Giác Ngộ. 

“Đến chùa ngắm Phật” còn vô tình giúp tôi cơ duyên liễu nghĩa được nhiều bài pháp mà trước đây càng nghe tôi càng mù tối, vì rõ ràng nghe thế, mà sao không phải thế? Tri và Hành nếu chẳng đi đôi được với nhau thì Tri đó chẳng phải tri, mà Hành kia cũng chẳng phải hành! 

Tới đây tôi mới thấm thía câu Phật dạy: “49 năm qua, ta chưa nói lời nào”.

Đóa sen đưa lên. 

Nụ cười Ca Diếp.

Đã là bài pháp vô ngôn mà bất tận. 

Tôi cứ tiếp tục cách “lạy Phật” của mình như thế. Nghĩa là, dù đến chùa nào tôi cũng lạy Phật bằng cách “Ngắm Phật” mà thôi. Chính vì chỉ ngắm Phật tôi mới khám phá ra rằng, cũng vẫn là tượng Phật Thích Ca với những nét tiêu biểu đặc thù nhưng thật ra không hề có tượng nào giống tượng nào cả, cho dù tôn tượng đó có cùng một xuất xứ. Tôi không cho là lạ vì ngoài nét tinh xảo khác nhau của mỗi nghệ nhân khi đúc tượng, còn tâm ý của Đức Thế Tôn trao cho người đúc tượng nữa. Chẳng phải ai cũng đúc tượng Phật được đâu! Tại sao có những tác phẩm nghệ thuật qua nhiều ngàn năm vẫn là vô giá? Vì đó là những tác phẩm CÓ HỒN. Với những tác phẩm này, chúng ta chỉ có thể cảm nhận mà không thể dùng bất cứ loại ngôn từ nào để giải thích hay diễn đạt được. Tượng Phật, tự thể đã mang ý nghĩa thiêng liêng, người đúc tượng Phật nếu còn biết đặt cả lòng thành kính trên việc làm này thì khi hoàn thành, bức tượng không thể chỉ là sự kết hợp của đất đá vôi vữa. Bức tượng sẽ mang những bài thuyết pháp của Đức Thế Tôn, những bài pháp ẩn trong ánh mắt từ bi, qua môi cười độ lượng, trên vầng trán trí tuệ, nơi dáng ngồi kiết già vững chãi an nhiên, nơi vòng tay nhân ái muốn ôm hết muôn loài mà cứu độ …… 

Tôi vô cùng xúc động khi khám phá ra điều đó. Nhờ thế, mỗi khi ngắm Phật tôi lại có cảm tưởng như đang được nghe bài pháp mới. Và niềm vui bất tận khi thầm lặng theo dõi bước chân Phật đã vô tình XẢ cho tôi mọi mong cầu ước muốn vị kỷ của nhân gian. 

Ngay cả khi phải nhận những oan trái, vạ lây mà nhân thế vô tình hay cố ý ném vào, tôi cũng chỉ thấy đôi mắt Phật, nụ cười Phật bảo rằng “Hãy chọn sự im lặng của người Phật tử. Đó là sự im lặng của giòng sông”.

Tháng Hai 2005


TAM BỘ NHẤT BÁI

Người bạn đạo nói với tôi rằng, đọc sách về gương tu học của người xưa, lòng chỉ biết ngưỡng phục chứ theo thì làm sao theo nổi. Tôi nói bạn cho một thí dụ thì bạn bảo “Tam bộ nhất bái.”

Chiều hôm đó, bạn ghé tôi để mượn một cuốn sách. Tôi cũng có chút thì giờ nên pha bình trà và chúng tôi ra vườn sau, ngồi trong lều trúc, cùng trao đổi về “Tam bộ nhất bái”, là hạnh nguyện của Đại lão Hòa Thượng Hư Vân năm ngài 43 tuổi, muốn báo đáp công ơn sanh thành của cha mẹ.

Hòa Thượng Hư Vân sanh tại tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa, năm 1840. Từ thuở ấu thơ ngài đã tỏ ý chí xuất trần nên dù bao nhiêu cản trở ngài vẫn quyết một lòng lặn lội tìm thầy học đạo. Ngài từng tu khổ hạnh “Tam thường bất túc”, ngày chỉ ăn một chén cơm nhỏ và ai cho gì thêm cũng không nhận, y áo chỉ có hai bộ đổi thay dù đông hàn giá lạnh hay hè rực lửa nồng. Miệt mài nhiều năm chẳng thấy được gương tâm, ngài quyết dốc lòng tận lực thêm nữa, bèn rời nơi thị tứ, tìm vào hang động rừng sâu, ăn đọt lá, uống nước suối, màn trời chiếu đất, y áo rách rưới tả tơi chẳng đủ che thân ngài vẫn chẳng màng. Vậy mà lạ thay, sức khỏe của ngài mỗi ngày mỗi thêm tráng kiện, tâm nhẹ như mây, bước nhanh như gió, tai nghe tiếng từ xa, mắt thấy vật nhiều dặm. Nhận ra sự đổi thay nơi công lực, ngài rời hang động, vân du đây đó để tự kiểm chứng. Trên bước đường du hóa, tình cờ ngài gặp một đạo sư. Thấy diện mạo cổ quái của ngài, vị đạo sư hỏi ngài tu theo môn phái gì? Ngài thành thật trả lời là ngài theo gương người xưa, “ép xác tìm tâm” tự tu tự chứng. Vị đạo sỹ bèn nói: “Vậy là ngài chỉ học theo cách tu thân thôi, còn người xưa tu tâm ra sao, ngài có biết hay không? Tu thân cách này, bất quá chỉ giải thoát mình chứ chẳng cứu được ai. Nếu phát Bồ Đề Tâm theo lời Phật dạy thì tuy tu đạo xuất thế gian mà phải không rời thế gian pháp mới là con đường Trung Đạo.” Nghe thế, ngài giật mình, tỉnh ngộ, từ đấy đem sở học bôn ba hoằng pháp. 

Suốt cuộc đời 120 năm, không lúc nào ngài ngưng nghỉ Phật sự, đi tới đâu cũng tu sửa chùa chiền đổ nát vì chiến tranh, thiết lập đạo tràng, dìu dắt tứ chúng. Ngài đã đạt thành 10 hạnh nghiệp lớn lao mà Tam Bộ Nhất Bái nằm trong Hạnh Hiếu Thảo.

Khi đọc lên bốn chữ Tam Bộ Nhất Bái, ai cũng có thể hiểu là “Đi ba bước, lạy một lạy” nhưng hình dung ra bốn chữ này thì thật khó tưởng tượng là đi thế nào, lạy thế nào; đi đâu và lạy ai? Hạnh nguyện của ngài quả là điều ngoài sức con người. Với bối cảnh chiến tranh, loạn lạc thời xưa, đường xá gập ghềnh, núi đồi ngăn trở, thú dữ khắp nơi, khí hậu nghiệt ngã …..một vị tăng đơn độc, lặng lẽ, cứ bước ba bước lại quỳ xuống, thành tâm lạy một lạy suốt non ba ngàn dặm gian nan, quả thật là không ai theo nổi. Nhưng khi khởi tâm nguyện, có lẽ ngài chỉ tự nghĩ rằng, ơn cha mẹ như trời biển, làm con chẳng đền đáp được mảy may; Nay, cha mẹ không còn, muốn báo đền hãy tận dụng hết tâm hết lực mà thôi. Tâm lực ấy, nếu không thực hành thì biết thế nào mới là hết tâm hết lực. Với ý nghĩ đó, ngài tự nguyện sẽ khởi đi từ hướng đông núi Phổ Đà tới hướng bắc núi Ngũ Đài, đường thiên lý hiểm trở gian nan đó dài non ba ngàn dặm!!!!!. 

Trong lều trúc bình yên, giữa khu vườn chan hòa nắng ấm, người bạn đạo của tôi rơi nước mắt khi chúng tôi nói tới đoạn ngài suýt tử vong bên bờ sông Hoàng Hà vào mùa đông tuyết rơi ngập lối. Khi ngài quỳ lạy đến nơi này thì trời đổ bão tuyết; chung quanh hoang vắng, không nhà cửa, không bóng người, chỉ thấy một chòi lá ven sông. Ngài vào đó trốn tuyết nhưng chòi lá trống trải, bốn bề gió thốc. Tuyết tiếp tục rơi ba ngày ba đêm. Đói, lạnh đã đưa ngài dần vào hôn mê …..Giữa ranh giới của sự sống và cõi chết, ngài bỗng lờ mờ thấy dáng dấp một người hành khất bước vào chòi. Người ấy cởi bớt y phục của mình mà đắp cho ngài, lại lấy trong túi vải một nắm gạo rang, nhóm lửa, nấu cháo rồi đỡ ngài dậy. Ngài được người hành khất đó cứu sống, không phải chỉ một lần mà hầu như suốt chặng đường gian truân, khi nào gặp hiểm nguy cùng cực thì người ấy lại tình cờ có mặt. Suốt thời gian thực hành hạnh nguyện, chỉ trừ khi qua sông, lội suối hoặc bão giông không thể cất bước, ngoài ra, ngài không hề ngưng nghỉ, chỉ Nhất Tâm bước ba bước, quỳ xuống lạy một lạy. Cuối cùng, sau ba năm ròng rã, ngài cũng tới được chùa Hiển Thông trên núi Ngũ Đài. Nơi đây, ngài muốn tìm tung tích người hành khất ân nhân để tạ ơn thì một lão- sư, khi nghe xong câu chuyện đã điềm đạm bảo ngài rằng: “Chính là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đó. Bồ Tát thường hiện thân hành khất trợ duyên cho người cầu đạo.” Nghe thế, Hòa Thượng Hư Vân sụp xuống, lạy khắp mười phương tạ ơn vị Bồ Tát xuất thế gian mà không rời thế gian pháp. 

Nắng trong vườn thơm hương hoa bưởi, nắng gió ngạt ngào quyện bát ngát cõi tâm hương. Giới, Định, Huệ là đây; Giải Thoát, Giải Thoát Tri Kiến cũng là đây. Ôn lại truyện xưa, chúng tôi cùng quán chiếu để hiểu rằng noi gương xưa không phải là noi theo đúng hình thức mới là theo, mà phải hiểu cốt lõi, tinh túy của sự việc, của hành động. Đại lão Hòa thượng Hư Vân dạy chúng ta những gì qua hạnh nguyện phi thường mà ngài đã đạt? Ngài dạy chúng ta sự quyết tâm. Phàm làm gì cũng phải quyết tâm. Quyết tâm là hùng lực đưa tới thành công vì nếu không quyết tâm thì chỉ một trở ngại nhỏ cũng đủ khiến tâm lung lay, thối chuyển; Khi tâm lung lay, thối chuyển rồi thì sự thành công sẽ ở ngoài tầm tay. 

Với hoàn cảnh xã hội khác xưa, với tâm lực yếu kém, chúng ta chẳng thể vượt ba ngàn dặm, ba bước lạy một lạy mới là tu, mà phải tỉnh thức biết rằng trong sinh hoạt hàng ngày, nếu ta cố gắng bớt một phần tập khí là thêm một phần sáng suốt; bớt mười phần phiền não sẽ chứng một phần Bồ Đề. Luôn tâm niệm như thế thì đi, đứng là tu; ăn, ngủ cũng là tu; làm việc, nghỉ ngơi cũng là tu; trong tu viện hay ngoài xã hội cũng là tu …….

Biết thế, nhưng tâm chúng sanh thường quen dễ dãi với mình mà vô tình để sự buông lung lấn át. Sau buổi uống trà ngoài lều trúc với bạn, chính tôi đã bị sự lười mỏi lấn át lúc nào không hay. Khi nhận ra thì tâm đã vẩn đục bao phiền não. Tôi cố gắng ngồi thiền nhiều thời hơn nhưng càng ngồi, phiền não càng bủa vây trùng điệp!. Biết là đang bị thử thách, một buổi, sau khi ngồi yên trong bóng đêm từ 12giờ đến 3giờ sáng, tôi đứng dậy, tấm gội sạch sẽ rồi niệm Đức Quan Thế Âm. Không biết tôi niệm hồng danh Ngài bao lâu thì bỗng một ý nghĩ lóe sáng. “Nếu định lực yếu kém, hãy dùng hình thức bên ngoài trợ lực; hình thức nào gần nhất với thân, hình thức nào ta có thể nhìn thấy, nhận thấy từng phút, từng giây mới có thể liên tục nhắc nhở ta tinh tấn.”. Ý nghĩ đó vừa thoáng qua, tôi cảm thấy như vừa nhấc khỏi vai một gánh nặng ngàn cân!. Tôi quỳ ngay xuống, Đảnh lễ Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát đã soi sáng cho tôi. Hình thức bên ngoài nào gần nhất với thân ta mà dễ thấy, dễ nhận hơn là mái tóc? Không phút chần chờ, tôi biết rất rõ trong buổi sáng hôm nay tôi phải làm gì. Tôi chuẩn bị những thứ cần thiết. Địa chỉ một tu viện sư nữ, một tấm áo tràng, một bộ dao cạo tóc. Tôi phải tìm đến một ni sư, xin được chứng minh trước Tam Bảo, lòng sám hối và quyết tâm tinh tấn tu học. Tôi sẽ xuống tóc hôm nay, như là một hình thức tự nhắc nhở, chứ không phải xuống tóc xuất gia. Tôi biết mình chưa đủ cơ duyên lớn đó.

Trong lúc ngồi chờ bình minh, bỗng nhiên, câu chuyện trao đổi với bạn đạo ngoài lều trúc về hạnh nguyện “Tam Bộ Nhất Bái” của Đại Lão Hòa Thượng Hư Vân trở thành đậm nét. Trước đây, đã đôi lần tôi có ý nghĩ xuống tóc mà chưa “dám” làm vì chưa đủ quyết tâm. Khi quyết tâm, mọi sự sẽ hạnh thông.

Trên đường tới gặp ni-sư, tôi mong liên lạc được với bạn để cùng chia xẻ, nhưng bạn vắng nhà. Không sao, hôm nào gặp, tôi sẽ tặng bạn vài sợi tóc và nói với bạn rằng, hạnh phúc này của tôi cũng từ bài học Nhất Tâm khi Hòa Thượng Hư Vân thực hành “Tam Bộ Nhất Bái” đấy. Vậy đừng thất vọng, đừng lo sợ rằng nhìn gương người xưa, lòng ngưỡng phục mà không theo nổi. Nói như vậy là chúng ta đã bị chấp vào hình tướng, vào văn tự, vì gương đó là đuốc sáng, ta phải tùy hoàn cảnh và nhu cầu mà chọn đường đi. Bên cạnh đó, ta còn một niềm tin là khi vấp ngã, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát sẽ hiện thân nâng đỡ; không nhất thiết thị hiện dưới thân hành khất, mà có thể là lời an ủi của bạn đồng môn, là sự khuyến khích của giảng sư, là âm thanh tiếng chuông tỉnh thức giữa đạo tràng thanh tịnh…v…v… Hiểu như thế chính là ta đang học từ những bài học ngàn vàng. 

Lần tới gặp nhau, tôi cũng sẽ đưa lại bạn chiếc lược đồi mồi rất đẹp bạn mua tặng tôi hôm trước.

Vì nay tôi không còn dùng đến nữa. 

  2 tháng Ba năm 2005

(22 tháng Giêng năm Ất Dậu) 


SUJATA

Sujata, tiếng Pali được tạm dịch là Tu Già Đa, tên một cô bé nhà giầu ở thôn Uruvela, gần Gaya, cách thủ phủ Patna của tỉnh Bihar 80 dặm về hướng đông nam Ấn Độ. Trong quốc gia mênh mông và phức tạp đó, thôn làng Uruvela quá nhỏ bé, sẽ chẳng ai cần biết đến, nếu nơi đó không có giòng sông Ni Liên Thuyền mà Đức Phật từng xuống tắm, không có khu rừng mà Đức Phật từng trú ngụ, không có cây bồ đề mà Đức Phật thường ngồi thiền định và sau cùng, tìm ra Đạo Lớn. Tất cả đều đã trở thành Linh Địa, với lòng ngưỡng kính của Phật tử muôn phương hướng về.

Nhưng còn Sujata? Có mấy ai nhắc tới cô bé đã dâng bát sữa cứu mạng Đấng Thế Tôn khi Ngài còn là sa-môn Gotama? Vì tu khổ hạnh lâu ngày, sa-môn Gotama quá đuối sức đã ngất xỉu bên bờ sông. Dưới ánh nắng chói chang và sức nóng như thiêu đốt, Sujata mặc sari mầu hồng, bưng một mâm đầy thực phẩm tinh sạch vào rừng để cúng thần linh. Tới bờ sông thì cô bé chợt nhìn thấy một vị sa-môn gầy yếu, nằm lả trên nền đất. Cô bé biết ngay đây là một nhà tu khổ hạnh bị kiệt sức. Cô bèn vội vã rót sữa rồi quỳ xuống, từ từ đổ từng giọt sữa cho sa-môn. Khi bát sữa cạn, cô bé hồi hộp chờ đợi phản ứng của sa-môn. Quả thật, sữa đã như thần dược với người kiệt sức vì chỉ một lát thì vị sa-môn mở mắt. Cô bé vội dâng bát sữa thứ hai. Ngài nhận lấy, chậm rãi uống cạn và không bao lâu, Ngài có thể tự ngồi dậy, nói lời cám ơn cô bé và cho cô biết Ngài là ai. 

Sujata! Sao âm thanh ngắn ngủi, xa lạ đó cứ mãi luẩn quẩn tâm tôi? Nếu ngày rằm đó, Sujata không đi bằng đường bờ sông để  vào rừng cúng thần linh? Hoặc đi bằng đường ấy mà không nhìn thấy sa-môn Gotama? Hoặc thấy Ngài, nhưng đã quá trễ? 

Những “nếu”, những “hoặc” đó mà xẩy ra thì nhân loại đã không được có Phật Thích Ca, không được có Đạo Cả để nương theo!  Chao ơi! Sự bất hạnh đó khủng khiếp quá! lớn lao quá! 

Nhưng cô bé Sujata đã tới kịp và đã lập tức làm ngay những gì cô biết là phải làm. Khi hai bàn tay nhỏ nâng bát sữa, kê miệng vị sa-môn và dịu dàng đổ vào, cô không hề biết là cô đang góp phần vào một biến cố trọng đại của nhân loại, một phước báu vượt trên mọi phước báu vô lượng vô biên của cả muôn người muôn loài thâu gồm lại! Mà cô cần biết chi điều đó! Cô chỉ cần nhìn thấy vị sa-môn kiệt sức kia hồi tỉnh lại. Chỉ thế thôi! Và Ngài đã không phụ lòng cô. Ngài đã tỉnh lại để hàng ngày cô được cúng dường Ngài một nắm cơm muối mè cho tới khi Ngài thành đạo.

Ơn cứu mạng lớn lắm chứ! Vậy mà chúng ta không thấy Đức Phật đặc biệt ưu ái Sujata. Sau khi thành đạt, Ngài lưu lại Uruvela một tuần trăng để dạy đạo cho đám trẻ trong thôn, trong đó có Sujata. Ngài coi tất cả như nhau, từ những trẻ con nhà giầu mặc gấm lụa tới những trẻ nghèo chỉ có mảnh vải rách che thân, đều đến ngồi trên nền cỏ, xúm xít quanh ngài. 

Và Sujata, có công cứu mạng một vị Phật thì phước đức nhường bao! nhưng cô bé chẳng hề thấy mình khác những đứa trẻ trong làng. Trái lại, được có chút học thức, cô hiểu về lễ nghi và thường hết sức cung kính Phật để đám trẻ noi theo. 

Kẻ cúng dường, người nhận lãnh đều an nhiên tự tại. 

Gần một năm, sau khi Đức Phật rời thôn Uruvela để bắt đầu hoằng pháp, Sujata chỉ còn được gặp Ngài một lần khi Ngài trở lại thăm bọn trẻ. Cũng thời gian đó, tăng đoàn của đạo sĩ Kassapa - giáo phái thờ Thần Lửa - đang tu học đông đảo ở khu rừng bên kia sông. Đức Phật đã đàm đạo với đạo sĩ Kassapa và thuyết phục được ba anh em đạo sĩ đem cả tăng đoàn gần 900 trăm người về tu học Đạo Giác Ngộ.

Đó là lần cuối cùng Sujata được diện kiến Đức Phật, cùng với bọn trẻ trong làng!. 

Cô bé có một tâm lành như vậy, sao không nương theo Đạo Cả Đức Phật vừa mở ra mà tìm đường giải thoát? Suốt dặm trường hoằng pháp, Đức Phật đã độ cho biết bao người từ vua, quan, trưởng giả đến cùng khổ, nghèo hèn, sao Ngài không độ cho người đã cứu mạng mình? Ngay cả đến mười năm sau, khi Đức Phật trở lại thôn Uruvela như lời hứa với Svastika - chú bé chăn trâu thường cúng dường cỏ tươi để Ngài trải làm tọa cụ khi ngồi thiền dưới gốc cây bồ đề - để tiếp nhận chú vào tăng đoàn của Ngài, mà không nhắc đến cô thí chủ nhỏ bé năm xưa? 

Đem tâm thế gian mà luận sự nhiệm mầu thì những dấu hỏi ấy sẽ chẳng có lời giải đáp ổn thỏa. 

Hãy thử gột rửa thân tâm. 

Hãy lắng mọi giao động xôn xao.

Hãy tĩnh lặng thiền định. 

Hãy ươm trong tâm mình một mầm sen. 

Hãy khai giòng Cam Lộ cho đóa sen hé nở.

Hãy lấy lửa bản thể đốt lên Tâm Hương……. 

May ra, tâm-thế-gian có cơ duyên chuyển hóa, thấy được phần nào biển trí bao la của Pháp Phật nhiệm mầu.

Sa-môn Gotama nhận lãnh ơn cứu mạng như một sắp đặt cho cô bé Sujata có cơ duyên được gieo trồng phước báu ở đời này và đời sau. Phải chăng đời này cô còn những nợ duyên chưa dứt nên Ngài chỉ độ cô gieo được hạt lành? Nếu vì ơn đó mà phải ưu đãi Sujata hơn những đứa trẻ khác thì chính Ngài đã không thực thi được sự bình đẳng như Ngài thuyết giảng. Sâu xa hơn, ai nói Ngài chưa trả đủ ơn cứu mạng? Ngài đã trả bát sữa đó bằng trọn vẹn trí tuệ và tình thương qua 49 năm hoằng pháp và 84 ngàn pháp môn phương tiện, lưu truyền cho đến đời này và muôn ngàn đời sau, đem phúc lợi cho muôn người, muôn loài. Đó là cách trả ơn của Đấng Toàn Giác. Nếu chỉ nghĩ đối tượng là cá nhân cô bé dâng sữa thì quá hẹp hòi, cạn cợt!

Phần Sujata, khi sa-môn Gotama đạt đạo, cô biết rằng Ngài sẽ là một vị Phật tối thượng, muôn người muôn loài đều cung kính. Đứng trước Ngài, cô chỉ thấy mình là một chúng sanh bé nhỏ, rạp đầu kính lễ. Nếu kiêu mạn nghĩ rằng mình đã có công cứu mạng vị Phật uy linh kia, thì còn chi phước báu! 

Phải chăng, chính Đức Phật đã truyền cho cô trí tuệ này để cô nhận thức được như thế mà thể hiện tinh thần Vô Ngã, thể hiện hạnh đầu tiên trong Lục Độ Ba La Mật bằng tuyệt đích của ý nghĩa CHO và NHẬN.

Cho không dính.

Nhận không mắc.

Không dính mắc mới đạt được an nhiên tự tại để khởi đi những bước vững chãi trên con đường Trung Đạo./.

Tháng bẩy 2004
 


ĐỒI GIÓ 

Mới quá trưa, trời bỗng tối sầm, mây đen ở đâu kéo đến nhanh quá, và không bao lâu, mưa bắt đầu rơi. Tôi ngồi trước ban thờ Phật, lặng lẽ nhìn mưa rạt rào ngoài khung cửa kính, lòng lắng trong, an tịnh sau thời kinh Bát Nhã. Nhưng mưa mỗi lúc một nặng hạt hơn, rồi gió vần vũ ngả nghiêng những nhánh hồng, đập vào cửa kính, phút chốc, cuốn giạt tâm tĩnh lặng trong tôi, lên tới một vùng đồi tầm tã bão giông và đầy gió nổi! 

Mấy ngày nay, khi tọa thiền, tâm tôi lại lang thang về đồi gió đó, một nơi chốn tôi chưa từng được biết, được tới. Chỉ vì tờ tạp chí tình cờ có được, trong đó có bài của ngài Huyền Không nhắc đôi giòng về ngôi chùa cổ rất nghèo, rất khuất lánh, trên ngọn đồi Kim Sơn nhìn xuống phía bắc sông Bạch Yến. Chùa thuộc làng Lựu Bảo, gần chùa Linh Mụ ở Huế. Sau khi bị trấn động vì một vài chi tiết trong bài viết đó, tôi lục tung cả hai kệ sách, giở tất cả những cuốn có di tích về chùa chiền miền Trung, tìm thấy hàng trăm tên chùa lớn nhỏ, trừ chùa Kim Sơn! Ngôi chùa nhỏ “vô ngã” đến thế nên mấy ai biết chùa đã gắn liền với lịch sử nổi trôi của vận nước từ hơn ba thế kỷ qua và thời thập niên bốn mươi, đã để lại viên Xá Lợi sáng ngời Bi Trí Dũng trong ngôi tháp tại khuôn viên chùa. Tuy không tìm được sách vở, hình ảnh gì về chùa Kim Sơn nhưng những chi tiết hiếm hoi đọc được qua tờ tạp chí đã không ngừng thôi thúc tôi quán chiếu về bao dữ kiện lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam thời đó, thời người Pháp đã thẳng tay tiêu diệt những phần tử cách mạng yêu nước, tiêu biểu nhất là Việt Nam Quốc Dân Đảng, nổi dậy từ thập niên ba mươi. Không riêng gì Việt Nam, lịch sử thế giới đã chứng minh từ ngàn năm là khi không còn gì để mất thì không còn gì để sợ! Bao nhiêu năm dưới ách thống trị của người Pháp, người dân Việt Nam đã không còn gì để mất nữa, nên người Việt Nam vẫn tiếp tục đứng dậy đòi lại quyền làm người. Cũng từ ngàn xưa, người Phật tử hiểu rằng Đạo Pháp với Dân Tộc là một. 

“Đạo như Trời đất

Vận hành mang mang

Lặng thinh dũng mãnh

Rạt rào thơm ngát Kim Cang….”

Thế nên vào những năm cực kỳ đen tối của Đạo Pháp và Dân Tộc thì Thất Hiền đã tùy duyên mà cứu độ chúng sanh. Đó là những năm 1946, 1947 bẩy vị Thầy ưu tú nhất, tốt nghiệp Phật Học Đường Báo Quốc tại Huế (tương đương với bằng đại học Phật Giáo đầu tiên thời ấy) đã nương hạnh Bồ Tát Quán Âm mà tải đạo giúp đời. Có vị lánh vào Nam, âm thầm củng cố Giáo hội Tăng già, có vị cởi áo cà-sa tham gia kháng chiến, theo đúng tinh thần Quán Âm, nghe tiếng kêu thương quằn quại của cuộc đời là tìm đến bằng mọi cách, bằng bất cứ hình dáng nào thích hợp “Ưng dĩ trưởng giả, cư sĩ, tể quan, bà la môn, phụ nữ thân đắc độ giả, tức hiện trưởng giả, cư sĩ, tể quan, bà la môn, phụ nữ thân nhi vị thuyết pháp. Ưng dĩ đồng nam đồng nữ thân đắc độ giả, tức hiện đồng nam đồng nữ thân nhi vị thuyết pháp. Ưng dĩ thiên, long, dạ xoa, càn thát bà, atula, cẩn na la, ma hầu la già, nhân phi nhân đẳng thân đắc độ giả, tức giai hiện chi nhi vị thuyết pháp”, chỉ còn một Thầy tình nguyện ở lại với ngôi chùa xiêu vẹo để cùng chia xẻ gian nguy và làm nơi nương tựa tinh thần cho dân nghèo quanh vùng. Đó là Thầy Trí Thuyên, một trong Thất Hiền ưu việt của Phật giáo Việt Nam thời đó. Với lưới tình báo bủa vây khắp nơi, người Pháp đã nghe phong phanh về ngọn đồi khô cằn sỏi đá trên đó có ngôi chùa đổ nát đã đào tạo những bậc trí tuệ, đang rải giòng Cam Lộ ngọt ngào cho vơi bớt cùng khổ của muôn dân. Ngày 23 tháng 2 năm 1947, người Pháp được chỉ điểm đã bất thần kéo lực lượng võ trang hùng hậu tràn lên đồi Kim Sơn, xông vào chùa khi thầy Trí Thuyên đang tọa thiền trước chánh điện. Chúng lên đạn rầm rập, định bắn Thầy ngay. Thầy chỉ điềm đạm yêu cầu để Thầy tụng xong một thời kinh rồi hãy bắn, cũng không muộn. Chúng đồng ý. Và Thầy khai chuông mõ, an nhiên tụng kinh. Khi phiên kinh dứt, Thầy điểm chuông, lạy ba lạy. Tiếng chuông còn ngân dài mà tiếng súng đã chát chúa vang lên! 

Thầy Trí Thuyên gục xuống trước Tam Bảo trong hồi chuông Bát Nhã khi Thầy chỉ vừa hai mươi bốn tuổi!!!

Kính lạy Mười Phương Chư Phật 

Tiếng chuông cứu độ quyện vào tiếng súng oan nghiệt đó, tới nay đã gần sáu thập niên, có lúc, có kẻ tưởng rằng cát bụi ta-bà đã phủ lấp Chân Như; nhưng không, trên ngọn đồi Bi Trí Dũng đó, gió có bao giờ ngừng thổi, mây có bao giờ ngừng bay, mặt trời có bao giờ ngừng mọc, trăng có bao giờ ngừng sáng, mưa có bao giờ ngừng rơi, nắng có bao giờ ngừng chiếu..…. nên thầy Trí Thuyên có bao giờ mà không còn đó với Kim Sơn, khi gió chính là mây, mây chính là mặt trời, mặt trời chính là mặt trăng, mưa lạnh chính là nắng ấm và thầy Trí Thuyên chính là Đạo Cả, là Chánh Pháp, là trùng trùng duyên khởi của vạn hữu bất sanh bất diệt. 

Với tất cả tấm lòng hướng về Chư Phật, con tin chắc thầy Trí Thuyên còn đó, con tin chắc không bao giờ thầy Trí Thuyên lại không còn đó. Không phải thầy chỉ còn đó mà thầy vẫn đang tụng kinh. Thầy chỉ mới dứt kinh Bát Nhã, đem trí tuệ Phật soi tâm thế gian; Thầy còn tụng Phổ Môn cứu khổ cứu nạn, còn tụng A Di Đà đưa người nhất tâm bất loạn về Tịnh Độ, còn tụng Địa Tạng chuyển nghiệp cho kẻ đọa trầm luân….Bạch Chư Phật, tiếng chuông hôm đó vẫn còn ngân vang, tiếng chuông đó chưa dứt, tiếng chuông đó không bao giờ dứt vì đó là tiếng đại hồng chung trong lòng Phật tử Việt Nam, những người con Phật hướng về Đạo Pháp trong tinh thần tải đạo cứu đời, thể hiện hạnh nguyện Quán Âm độ thế. 

Thương thay cho những kẻ vô minh, vì nếu biết được điều đó, họ đã không lên đạn để diệt cái bất diệt ./. 

Tháng Giêng 2005


TRÚC TÍM, HOA VÀNG

Trong thi ca Đại- thừa có hai câu thơ diễn tả tuyệt vời chân-như, bản-thể qua bức tranh hài hòa mầu sắc đến gần như toàn hảo:

“Túy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh

Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân”

Vô thỉ vô chung, không đi cũng chẳng đến thì nơi đây trúc tím hoa vàng chính là chân như; nơi kia mây trắng trăng tỏ khác gì bản thể; tự nơi tâm trong suốt này, đâu chẳng là trúc tím hoa vàng, đâu chẳng là mây trắng trăng tỏ? Đó chính là tâm đối cảnh mà không dính cảnh thì tâm, cảnh, hiện toàn chân. 

Buổi đầu, hành giả tọa thiền còn phải dùng cái dụng- của- trí để nhận biết mặt mũi của vọng; nhận ra vọng thì tâm buông; vọng buông thì tâm tịnh; tâm tịnh rồi thì vạn hữu với ta là một, đâu còn lăng kính phân biệt nào để trúc tím hoa vàng là đẹp xấu hay héo tươi, mà nhìn trúc tím chỉ là trúc tím, nhìn hoa vàng chỉ là hoa vàng; chỉ là thế, và chỉ thế thôi, nguyên thủy, trong suốt tới mức tâm cảnh là một. Đã là một thì cũng không còn thời gian, không gian nữa.

Hành giả chuyên cần có thể đạt được điều đó, nhưng giữ được trạng thái đó lâu hay mau mới là công lực, bởi vì vọng luôn đầy ắp trong tâm như bọn trộm đông đảo luôn rình rập ngoài cửa, một chút chểnh mảng là chúng lẻn vào đánh cắp những gì quý giá! Phút mất chánh niệm là phút vọng khởi lên, bị trộm xô ngã rồi mới nhận ra sáu cánh cửa lục-căn bỏ ngỏ thì còn chi bản thể chân như!

Đó là lúc tôi ngồi thiền đêm qua, trăng mười sáu vằng vặc bên song đã thừa phút mơ màng kéo tôi về tuốt đêm trăng quê nội. Ngày về quê giã từ ông nội để xuôi Nam, tôi mới mười tuổi, biết gì đâu dáng núi Ba-Vì tắm đẫm hồn thơ Quang Dũng, biết gì đâu ngã ba sông Đáy u hoài Đôi Mắt Người Sơn Tây. Nếu thuở ấu thơ xưa tôi biết đất quê nội chính là chiếc nôi hồng chở đầy cung bậc, vần điệu của thơ bất tử, của nhạc ngàn đời đó, thì không biết tâm hồn tôi có thay đổi gì không. Chỉ biết quê nội lúc nào cũng ở trong tôi, ở phần ấm áp nhất của trái tim, nơi góp nhặt, chứa đựng đủ loại cảm thọ rắc rối! Trên bờ đê sông Hồng dẫn về thôn Phương Viên, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông, tôi chỉ thấy mắt ông nội đỏ hoe, cha tôi thì vội vã nắm tay chị em tôi, nghẹn ngào quay đi. Khi chúng tôi gào lên “Nội ơi, nội!” thì cha mẹ tôi không còn kìm giữ được nữa, cùng òa lên, vừa khóc, vừa chạy. Dạo đó tôi không hiểu, vì sao  mình không muốn xa nội mà phải xa? Có ai bắt buộc đâu? Quê mình, nhà mình ở miền Bắc, sao lại bỏ để vào miền Nam? v..v..

Thời gian đầu, sau cái ngày tháng ấy của năm 1954, hầu như không lúc nào nghĩ về quê nội mà tôi không khóc. Mà có phải chúng tôi được ở quê nhiều đâu, chỉ mùa hè ông tôi cho người ra Hà Nội đón, mấy chị em tôi mới được về quê chơi dăm bữa, nửa tháng. Ấy thế mà tôi nhớ từng hàng cau, từng gốc bưởi, gốc lựu, gốc na, bể nước mưa, chuồng trâu bò, gà vịt, đàn ngỗng ồn ào, vào cổng sau là đi qua bếp rơm, chuồng lợn, vào cổng trước là gặp ngay đền thờ Đức Thánh Trần, dãy nhà ngang chứa thóc v…v… 

Ngày được tin ông nội bị Cộng Sản Việt Nam đấu tố đến chết, sự bi thương đã quá sức chịu đựng của tôi. Tôi ốm liệt giường một tuần, trong những cơn mê sảng chỉ thấy hình ảnh ông nội quằn quại dưới đòn thù cuồng tín vô minh. Từ đó, kỷ niệm về quê nội càng hằn sâu trong lòng tôi với niềm mơ ước một ngày được trở lại, được bắc chiếc chõng tre dưới gốc cây đào trong sân gạch rộng mênh mông một đêm trăng sáng, chờ rổ khoai bác Cả đang lùi thơm phức trong bếp tro, nghe ông nội giảng nghĩa câu “Nhân tri sơ, tính bản thiện”. Nhưng niềm mơ ước đó đã không bao giờ thành sự thật. Toàn bộ nhà cửa, ruộng nương, trang trại của ông nội đã được nhanh chóng chia vụn ra cho những người trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần vào việc thảm sát ông. Tin này, mấy năm sau, do chú tôi lưu lạc ngoài Trung mãi, khi vào Nam mới cho biết. Lạ thay, điều ấy không hề làm phai mờ một hình ảnh nào mà tôi đã ghi khắc. Hai bể nước mưa vẫn trong vắt, ngọt lịm, hàng cau vẫn thẳng tắp, đùa với mây xanh, dãy nhà ngang vẫn chất đầy thóc lúa, những đụn rơm vẫn cao ngất góc sân, đền thờ Đức Thánh Trần vẫn phảng phất uy linh, mười ba bực thềm gạch dẫn lên ngôi nhà chính vẫn in đầy dấu chân chúng tôi nhảy nhót, chuồng trâu chuồng bò vẫn đậm nét câu chuyện đầu năm ông tôi thường kể khi bà nội còn sống. Cứ trưa mồng một Tết, sau khi cúng bái, bà nội tôi lại bưng một mâm cỗ đặt trước chuồng trâu bò rồi ngồi thụp xuống dỗ dành: “Ông Trâu ông Bò ơi, năm hết tết đến, xin các ông ăn cho chúng tôi một miếng. Suốt năm các ông đã khó nhọc giúp chúng tôi làm nên hạt lúa. Các ông làm thật mà ăn giả, chẳng quản công lao, chúng tôi biết lấy gì đền đáp”. Và mâm cỗ đầu năm cứ để trước chuồng trâu bò như thế cho đến chiều mới mang sang chuồng lợn. Gia đình lợn không làm khách như ông Trâu ông Bò nên chỉ một loáng là mâm cỗ đã được thanh toán gọn ghẽ, dù bà nội tôi không ngồi đó để dỗ dành, mời mọc…..

Bên cạnh những ngọt ngào không hề mất ấy là niềm đau đớn chẳng thể nguôi ngoai. Rõ ràng là một tâm trạng mâu thuẫn, phức tạp, nhưng tôi chưa từng phân tách nó cho đến sau 30 tháng tư năm 1975, người anh họ gửi sang cho tôi một tấm hình chụp con đường đất ngoằn ngoèo với hai hàng trúc xiêu vẹo. Cuối con đường đất đó là một bức tường gạch loang lổ. Mặt sau tấm hình anh tôi ghi: “Toàn bộ dinh cơ của nội chỉ còn bức tường gạch này thôi. Em có nhận ra đây là cổng trước, vào đền Đức Thánh Trần không?”.Tôi đã ngồi lặng, nhìn bức tường trong hình, đau đớn như đang  nhìn ông nội trong những phút cuối đời đầy nhục nhã, uất ức. Chính bức hình này mới thực sự kéo tôi ra khỏi tâm trạng mơ hồ để chấp nhận thực tế là quê nội tuy vẫn đó nhưng thật ra không còn nữa, không còn gì nữa!

Qua những lần điện đàm, anh họ tôi còn cho biết thêm, sau khi Cộng Sản bức tử ông nội, họ lập tức đuổi anh ra khỏi nhà. Nơi trú ngụ của anh khi đó là căn chòi ngoài trại, nơi khi xưa vẫn dùng để nông cụ. Vì anh còn nhỏ quá nên mỗi sáng, anh được phép cán bộ cho bưng nồi về nhà cũ, chờ người Cộng Sản đang quản lý nhà mình, phát cho lon gạo nhỏ lấy từ vựa thóc của nhà!!Lon gạo không đủ no, anh tôi phải ra đồng mót khoai, mót sắn. Ngày đầu anh chỉ mót được dăm củ khoai sùng bé bằng hai ngón tay. Nhưng hôm sau, khi anh ra đồng, dân làng len lén nhìn anh. Anh nghe thấy có người thì thầm: “Tội nghiệp, cháu cụ Tổng đấy”. Anh chẳng cần họ tội nghiệp, anh chỉ cần mót được dăm củ khoai, vài cọng lúa để tối nay no lòng. Lạ chưa, những ngày sau đó anh rất may mắn. Sao có những củ khoai to thế này, những nhánh lúa chĩu nặng thế kia mà họ bỏ sót? Anh mừng rỡ nhặt vào rổ. Những hôm sau, rồi những hôm sau nữa vẫn thế, anh mót dễ dàng được cả rổ khoai sắn. Những người nông dân đi hái hoa mầu thường nhìn anh, kín đáo mỉm cười. Và anh đã hiểu. Thì ra, không phải những nông dân kia bỏ sót hoa mầu mà họ đã cố tình chừa lại chút đỉnh cho thằng bé tội nghiệp, cháu cụ Tổng, dù họ cũng nghèo đói. Anh tôi đã bật khóc khi nhận ra như thế. Giữa những tang thương đổ nát, vẫn còn một điều thấp thoáng nhưng không biến, không mất. Đó là Tình Người. 

Đêm qua, trăng mười sáu vừa đưa tôi về quê cũ với những đêm trăng thơm phức khoai lùi, ngạt ngào hương bưởi hương cau và say sưa cổ tích Tấm Cám. Tôi đã lạc lối thiền, bèn nhắm mắt, tìm về hơi thở. Thở vào, tôi biết mình đang thở vào. Thở ra, tôi biết mình đang thở ra. Tôi nắm bắt hơi thở và làm chủ nó. Thở vào, bụng tôi nhè nhẹ thót vào. Thở ra, bụng tôi nhè nhẹ dãn ra. Tôi theo dõi hơi thở và đặt chú tâm nơi bụng, cốt không cho ý luẩn quẩn trên đầu để không suy nghĩ, không còn niệm phân biệt nữa. Cứ thế, trăng cùng với tôi, thở nhịp nhàng, khoan thai. Trăng thở và tôi thở. Trăng là tôi và tôi là trăng…..

Không biết bao lâu, trong tĩnh lặng, dưới ánh trăng, quê nội lại hiện ra, cùng với tôi, với trăng, tọa thiền êm ả, không còn oan cừu, không còn thù hận mà chỉ là bát ngát trúc tím hoa vàng. Và bạn ơi, bạn biết không, tôi vừa bàng hoàng nhìn thấy tôi ngay nơi trúc ấy, ngay nơi hoa kia.

Hóa ra, TÔI CHƯA TỪNG MẤT GÌ, BỞI TÔI CHƯA HỀ THẬT CÓ.

Muốn kiểm chứng lời tôi, bạn hãy ngồi xuống đi, khoanh chân và khép hờ đôi mắt. Khi cảm thấy thoải mái, hãy theo dõi hơi thở, hãy nắm bắt hơi thở và làm chủ nó, bạn sẽ nhận ra sự mầu nhiệm là, có bao giờ ta ngưng thở đâu (cho đến khi ta…. tắt thở), vậy mà, rất ít khi ta nhận ra là ta đang thở. Ta thờ ơ, lãnh đạm với hơi thở của ta quá, trong khi, nếu theo dõi nó, làm chủ nó, sẽ có lúc bạn bất chợt mỉm cười mà không hay, vì đó chính là lúc:

Túy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh

Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân.

25 tháng Hai 2005 

(17 tháng Giêng năm Ất Dậu)


TẢO NGHIỆP

Sáng nay, khi tôi mở máy, “lên lưới” thì trời bỗng lất phất mưa. Nhìn lịch thấy còn ba ngày nữa là Mồng Một Tết khiến tôi chợt có ý nghĩ ngộ nghĩnh “Gớm, lịch sự quá, trời đất Âu Mỹ cũng biết tặng chút mưa Xuân cho Tết Á Đông”. Niềm vui nhỏ chưa kịp nở thành nụ cười thì trên lưới vừa hiện lên bản tin ngắn về một người đàn ông Việt Nam có thể bị kết tội từ 74 năm tù đến chung thân vì can tội hãm hiếp em vợ rồi bắn chết người bạn trai của cô ấy bằng 10 phát đạn lạnh lùng! Người thiếu nữ trẻ vừa được bảo lãnh từ Việt Nam sang, chung sống với gia đình chị ruột như là chặng cuối của một ước mơ huy hoàng đã biến thành sự thật. Hạnh phúc này, tôi nghĩ, không phải chỉ riêng của thiếu nữ đó mà có lẽ còn của cha mẹ, thân thưộc, bạn bè cô ở Việt Nam khi chia xẻ vui mừng với cô; và hạnh phúc này, lớn không kém với người từ Mỹ, bảo lãnh cô. Mọi diễn tiến đều hoàn toàn tốt đẹp từ mọi phía, trừ LÒNG NGƯỜI là điều không một ai lường được. Lòng người ở đây là tấm lòng người anh rể của cô, người cùng với chị ruột đã vì thương yêu mà lo toan cho cô. Trong cuộc sống chung hàng ngày, người anh rể đã chuyển tình thương theo nghĩa Phật dạy (ban vui cứu khổ) sang tình thương ích kỷ của nhân thế (chiếm hữu) lúc nào, có lẽ chính anh ta cũng không hay! Khi dục vọng đã tới mức mù quáng thì nghiệp ác sẽ dẫn dắt tạo nghiệp! Và nghiệp nặng hay nhẹ là tùy theo mức độ si mê, mù quáng.

Sự việc của thảm kịch trên khi xẩy ra chắc nhanh lắm! Mười phát đạn vuột khỏi nòng súng trong cơn mê loạn, chắc không quá mười giây, nhưng hậu quả của nó có thể mười đời, mười kiếp chưa rửa hết oán hờn vì hậu quả này chẳng phải chỉ liên hệ tới một thế hệ, một gia đình! Kẻ làm tội, đền tội đã đành nhưng còn người vô tội thì sao? Đây có phải là sự cộng nghiệp trong nhiều kiếp trầm luân hay không? Làm sao để chặn niệm ác trước khi nó phát khởi? Làm sao nhận diện được bước đi tinh quái nhưng rất thầm lặng của ác nghiệp, trước khi nó bất thần vùng dậy như con hổ đói, chụp lấy ta mà cắn xé cho đến thịt nát xương tan! 

Đức Phật dạy phải biết phản quang tự kỷ, biết nhìn chính mình, biết rõ sự mạnh yếu, xấu tốt của mình, may ra mới có cách tránh nghiệp. Ta hãy nhìn ta cẩn trọng như nhìn con đường đang đi trước mặt, có thấy hố sâu gai góc mới né được, chứ chân bước trên đất mà mắt chỉ nhìn trời thì dù sa hố rồi cũng chưa hiểu tại sao! 

Thấy cõi ta-bà chập chùng khổ đau và vô minh dầy đặc nên Đức Phật đã thị hiện thế gian với một mục đích duy nhất là “Khai, Thị, Ngộ, Nhập, Phật tri kiến” nghĩa là chỉ cho thế gian biết được, thấy được Phật tánh của mình và thể nhập làm một với Phật tánh đó. Khi đã thấy được cái “Bất sanh bất diệt bất cấu bất tịnh ……” ta đâu còn khởi niệm tham sân si mà tạo nghiệp nữa.

Nhưng lời Phật dạy đã từ gần 2600 năm mà thảm kịch cõi ta-bà vẫn kinh hoàng hơn địa ngục vậy? Là vì, Phật từng nói “Con đường ta đã chỉ; đốt đuốc lên mà đi hay không là nơi mỗi chúng sanh”.

Tới đây, chúng ta phải can đảm tự nhận lỗi nơi mình. Lời Phật dạy không phải để đọc suông, tụng suông. TU mà không HÀNH chỉ là Tu Rị (rị xuống!!!) Nhưng nhân thế vốn huân tập thói quen dễ dãi với mình nên Tu đã khó, Hành lại càng khó hơn, biết bắt đầu từ đâu, nương tựa nơi đâu để thấy đường ngay lẽ thật?

Đây chính là trách nhiệm của những vị tự nhận, tự nguyện là Sứ Giả Như-Lai. Lời quý ngài dạy không quan trọng bằng việc quý ngài làm, vì nếu quý ngài thể hiện được lời Phật dạy bằng chính bản thân quý ngài thì ngay nơi đó, Phật tử đã có tấm gương soi, hiển lộ, minh chứng rõ ràng rằng, khi đốt đuốc lên mà đi thì con đường Trung Đạo lập tức ở ngay trước mắt. Con đường đó, qua hình ảnh, qua nhân cách Từ Bi, Trí Tuệ của quý ngài, chính là sự khuyến khích mạnh mẽ nhất để chúng sanh tin tưởng mà cất bước TU và HÀNH. 

Có tu hành thì ma Ba-Tuần khó còn cơ hội tác hại nên những thảm kịch kinh hoàng như bản tin trên! 

Trong khi chờ lửa bén ngọn đuốc, ta hãy tạm cầm chổi “Tảo nghiệp”, học bài học tương đối dễ mà Đức Phật chỉ cho ngài Châu-Lợi-Bàn-Đà-Già khi xưa, là chỉ cần tảo nghiệp, quét, quét  và quét….Chỉ cần cứ chăm chỉ quét thôi, quét rác quét bụi thì tâm sạch, quét nghiệp thì tâm tịnh, quét vô minh thì trí tuệ hiển bầy. Ngài Châu-Lợi-Bàn-Đà-Già may mắn gặp Đức Phật nên cây chổi quét bụi đã thành cây gươm Bát Nhã; chúng ta cũng có thể may mắn gặp được Sứ-Giả-Như-Lai chân chính, thì chổi tuy chẳng thành gươm, ít nhất, đời vô thường này cũng đỡ bụi. Chỉ cần một chút cẩn trọng, tự nhắc rằng “TU dễ hơn HÀNH”. 

Vì thế, trên đường  đi tìm minh-sư, ta hãy cố NHÌN, trước khi NGHE.

Tháng Hai 2005 


VÔ TỰ THỊ CHÂN KINH 

Thi hào Nguyễn Du là một Phật tử mộ đạo, rất siêng năng tụng đọc kinh điển, nhưng cụ đã từng thú nhận là đọc kinh Kim Cương cả ngàn lần mà vẫn không nắm bắt được ý kinh; cho tới khi được nghe bài kệ của Lục Tổ Huệ Năng cụ mới liễu ngộ rằng “Chân kinh vốn không lời”. Cụ đã viết bốn câu thơ bằng chữ Hán để diễn tả tâm trạng của mình: 

Ngã độc Kim Cương thiên biến linh

Kỳ trung áo nghĩa đa bất minh

Cập đáo phần kinh Thạch đài hạ

Chung tri: vô tự thị chân kinh

Chữ Hán, tôi lõm bõm chưa qua nổi cuốn Tam Tự Kinh, nhưng ráng phỏng dịch như sau:

Ngàn lần tụng đọc Kim Cương

Vẫn như mờ ảo khói sương tơ trời

Trước đài gương, bỗng tỏ ngời

Là: Chân kinh vốn không lời mà thôi!

Người bạn đạo của tôi tỏ ý nghi ngờ. Bạn nói, tối nào cũng tụng kinh, tụng rõ ràng, mạch lạc từng tiếng mà nhiều khi còn phải đi tìm sách của các bậc cao minh, giảng giải cho thêm mới tạm hiểu. Nay, nói chân kinh vốn không lời thì biết nương vào đâu mà hiểu đạo? Tôi cũng ….nghi lắm! nhưng vừa khởi niệm nghi bỗng giật mình. Khi nghe điều gì, ta phải tìm hiểu điều đó thế nào rồi mới luận đúng hay sai chứ. Ngay cả sau khi tìm hiểu rồi, cái kết luận cũng chỉ mới căn cứ trên tầm hiểu biết chủ quan thôi, chưa chắc đã là cái kết luận có giá trị. Chúng tôi cùng đồng ý chọn con đường ngắn nhất, là tìm xem cụ Nguyễn Du nghe được bài kệ nào của Lục Tổ Huệ Năng mà tìm ra chân lý ấy. Kệ của Lục Tổ như vầy:

Nhân liễu thử tâm nhân tự độ

Linh sơn chỉ tại nhữ tâm đầu

Minh kính diệc phi đài

Bồ đề bổn vô thụ.

Tìm được bài kệ, đọc lên, bạn nhìn tôi, chờ đợi. Tôi lại vò đầu bứt tai, tận dụng cái vốn …. Tam Tự Kinh mà dịch như sau:

Người tự tại khi tâm sáng tỏ

Thì Linh Sơn ngay ở tâm này

Gương kia sáng chẳng vì đài

Bồ Đề vốn chẳng là cây bao giờ.

Có lẽ tôi dịch lơ mơ quá nên bạn phản đối ngay: 

- Bồ Đề mà không là cây thì là gì? 

 A, câu này thì tôi trả lời được, tại bạn chưa ôn bài đó thôi. Khi Lục Tổ nói “Bồ đề bổn vô thụ” là ý nhắc về bản chất huyễn hóa của vạn hữu, chỉ do duyên hợp mà thành. Nhìn cây Bồ đề xanh tươi cành lá, đó là sau khi hạt đã nẩy mầm, chồi lên mặt đất, tiếp nhận mưa, nắng, gió v…v… tăng trưởng với thời gian mà ta thấy “cái gọi là cây Bồ đề.” Nhưng nếu tách rời hạt nhỏ li ti kia với đất, cát, mưa, nắng …..sẽ chẳng bao giờ có cái gọi là cây Bồ đề cả. Vậy thì, bản chất chân thực của mỗi sự vật là gì? Nó sẽ chẳng là gì, nếu không do nhiều duyên hợp mà thành. Ngay như tấm thân tứ đại của chúng ta đây, cái mà, đối với chúng ta là quan trọng lắm lắm, cũng chỉ là huyễn giả. Thân ta có, là do đất, nước, gió, lửa hợp lại mà thành. Tách rời đất (chất cứng như xương, móng….), nước (chất lỏng như máu, mồ hôi …..), gió (chất hơi như hơi thở), lửa (chất nóng như nhiệt độ), sẽ chẳng còn gì để gọi là thân ta nữa. Bạn lại hỏi tôi một câu thật bất ngờ, nhưng rất hay: 

- Cái gì nhận ra sự huyễn giả đó? 

Câu hỏi quyện vào tiếng reo vui của ấm nước vừa sôi. Tôi lặng lẽ nhìn bạn trịnh trọng mở tủ, bưng ra bộ tách có đủ cả chén tống, chén quân. Tôi biết bạn có bộ tách quý này do cụ thân sinh để lại, nhưng chưa từng được bạn mang ra đãi. Hôm nay sao đặc biệt thế? Dù cố tình làm ra vẻ thản nhiên nhưng bạn biết, tôi đang theo dõi bạn từng cử chỉ. Mở hộp trà thơm, nhón một dúm trà nhỏ bỏ vào chén tống. Nước sôi rót vào vừa ngập trà, bạn cầm lên, tráng nhẹ rồi đổ bỏ nước nhất. Lần rót nước nhì, bạn cũng cầm lên, tráng nhẹ rồi đặt tách xuống khay. Trong khi chờ trà ngấm, bạn dùng nước nóng tráng hai cái chén quân; xong, bạn đặt một chén trước tôi, chén kia trước bạn. Rồi, rất từ tốn, bạn chắt nước đã ngấm trà từ chén tống ra chén quân, tức là cái chén nhỏ như hạt mít!

Tôi cố nín cười, nhưng tới đây thì hết chịu nổi. Ngờ đâu, bạn cũng giả nghiêm suốt thời gian biểu diễn. Chúng tôi cùng cười thoải mái. Bạn thú nhận:

- Chỉ loáng thoáng thấy bố lui cui pha trà như vầy nhưng không thực sự chú ý; Thôi, thì cứ tưởng tượng như chúng ta đang ngồi trong trà thất, uống trà, chờ hoa nở. 

Tôi chỉ vào cái chén nhỏ xíu: 

- Uống bao nhiêu chén này mới đã khát?

 Bạn trả lời đầy ý nhị: 

- Tâm khát chừng nào, chén đầy chừng nấy.

Hôm nay bạn nói chuyện như một thi sĩ. Đúng là muôn sự do tâm, nhưng tâm khởi lên từ mọi loại cảm thọ buồn, vui, thương, ghét, thiện, ác ..v..v.. dựa trên những đối tượng luôn biến hoại đổi thay của căn và trần, là những đối tượng không có bản chất thật. Vậy tâm nào mới chính là tâm?  Những tâm ấy thay đổi luôn luôn, theo từng trạng huống. Và nếu chúng không phải thực là tâm thì CÁI GÌ đang nhận ra những diễn biến luân lưu thành hoại đó? CÁI GÌ nhìn rõ mặt mũi từ tâm buồn sang tâm vui, từ tâm thương sang tâm ghét, từ tâm thiện sang tâm ác??? “Cái gì đó” chính là CÁI NHẬN BIẾT MỌI HIỆN TƯỢNG MÀ KHÔNG QUA MỘT LĂNG KÍNH PHÂN BIỆT NÀO. Cái nhận biết này, bởi không từ một niệm nào mà ra nên nó không sinh cũng chẳng diệt theo hiện tượng. Nó như tấm gương trong suốt, phản ảnh trung thực những gì tới nó, trung thực tới mức như hai mà một, nhưng lại không hề bị đồng hóa với vật mà nó phản ảnh. Khi ghi nhận điều tốt, nó chẳng trở nên tốt, khi đối diện điều xấu, nó cũng chẳng trở thành xấu. Nó hiện hữu tự nhiên như giòng nước ngầm, ai đào tới sẽ gặp; không người đào, nước vẫn chảy, như chưa từng đầu ghềnh, chưa từng cuối bãi. Cái nhận biết này là Tâm Chân Thật thường hằng vô thỉ vô chung; đó chính là Tâm Phật, là Phật Tánh. Khai được nguồn tâm này là hiển lộ Chân Như, là giải thoát khỏi ràng buộc vô minh, là bừng sáng Trí Tuệ; khi ấy, thiền tông diễn tả bằng hình ảnh “Thõng tay vào chợ”; nghĩa là, ngay giữa chốn xôn xao nhất cũng chẳng làm tâm kia lay động. Đạt được tới đây, hành giả đã là “người vô sự”, an nhiên tự tại, đối cảnh chẳng sanh tâm thì ngàn trang kinh cũng đồng với tâm trong suốt, làm gì còn văn tự, còn lý giải ngược xuôi nữa.

Chặng đường tu tập này, người đủ căn cơ, trí tuệ, nếu quyết tâm có thể ngộ. Ngược lại, người trí kém, cần rất nhiều kiên trì, cố gắng, mới mong tâm kia không bị chôn vùi dưới lớp vô minh. Hàng Phật tử sơ cơ như chúng tôi biết thế, nên hằng nhắc nhở, sách tấn nhau chớ biếng lười.

Những chén trà hạt mít thong thả vơi dần qua câu chuyện “Đế Thích tán hoa” thường được kể để minh chứng “Vô tự thị chân kinh”; mà muốn liễu ngộ “chân kinh vốn không lời” hành giả phải đạt tới bản tâm chân thật. Ngài Tu Bồ Đề là một, trong những đại đệ tử của Phật, một hôm lặng lẽ ngồi thiền dưới chân núi. Mây rất xanh, nắng rất ấm, suối róc rách ven đồi, chim líu lo ca hát, ngài cứ an tịnh kiết già. Dáng ngồi thật thẳng trên phiến đá bằng, như nét chấm phá của bức tranh “Tung Hoành” tuyệt kỷ. Ngài ngồi lâu, rất lâu, không biết bao lâu, thì bỗng hoa trời rơi xuống như mưa. Phút chốc, cả không gian thơm ngát hương hoa như ôm trọn nhà sư khắc khổ, ngồi thiền đẹp như tranh vẽ. Ngài Tu Bồ Đề xả thiền và khẽ hỏi:

- Ai tán hoa đó?

Trên thinh không có tiếng đáp:

- Tôi là Đế Thích đây.

- Vì lẽ gì Đế Thích tán hoa?

- Vì ngài thuyết pháp hay quá!

- Ta ngồi lặng yên, có thuyết gì đâu?

- Ngài không thuyết, tôi không nghe, đó là pháp vi diệu. 

Thì ra, biết nghe bằng “Tánh-Nghe”, mới nghe được “Lời-Không-Lời”, và thể hiện được Sự-Im-Lặng-Hùng-Tráng của Chân Kinh.

Tháng Ba 2005


NẮNG TRÊN SÔNG NERANJARA

Buổi sáng hôm đó, nắng vàng rất đẹp, mây xanh trong vắt và những bông hoa lựu đỏ thắm, nở rực rỡ trên con đường dẫn ra bờ sông Neranjara. Trong không gian ấm áp đó, một vị sa-môn như đang cố gắng tiến về bến sông. Nhìn thân hình quá gầy ốm, tiều tụy của ông, ai cũng có thể biết rằng ông là một nhà tu khổ hạnh như rất nhiều nhà tu khổ hạnh khác, dùng hình thức ép xác để mong tìm sự giải thoát cho tâm linh. Vị sa-môn này đã quá yếu, bước chân khẳng khiu nghiêng ngả như không mang nổi tấm thân chỉ còn da bọc xương. Nhưng bước đi xiêu vẹo của ông rõ ràng là có chủ đích. Đúng thế, sa-môn muốn xuống tắm gội dưới sông Neranjara, một việc mà lâu nay ông đã chẳng bận tâm làm! Nhưng trong buổi sáng nắng vàng này thì khác vì ông vừa nhận ra rằng thân và tâm chẳng thể rời nhau, trái lại, thân có khỏe thì tâm mới sáng, tâm có sáng mới quán chiếu sự vật tinh thông. Và ông có một quyết định quan trọng là xả bỏ lối tu khổ hạnh để chuyên tâm thiền định lắng sâu hơn. Ông sẽ xuống sông tắm gội rồi sau đó, sẽ ôm bát vào làng xóm khất thực. Quyết định này ông chưa kịp nói cho năm người bạn đồng tu biết nhưng ông tự nhủ, rồi sẽ tìm họ sau, cũng không muộn.

Khó nhọc lắm, rồi vị sa-môn cũng lần được tới ven sông.

Neranjara là con sông chảy qua ngôi làng nhỏ Uruvela gần thị trấn Gaya hướng đông nam Ấn Độ. Bên kia sông là làng mạc, đồng cỏ, ruộng lúa. Bên này sông thì chỉ có rừng cây, đặc biệt là những cây pippala tuổi thọ hàng mấy trăm năm, đã khoác lên khu rừng một vẻ đẹp vừa hùng tráng, vững chãi vừa dịu dàng êm mát. Khi chảy ngang qua đây, sông có những khúc rất cạn, trẻ mục đồng có thể lùa trâu qua rừng khi trâu đã ăn cỏ no nê ở bờ bên kia để khỏi phải canh chừng trâu dẫm đạp lên ruộng lúa. Nhưng cũng có nhiều khúc khá sâu, nước trong và mát, khách bộ hành đường xa mỏi mệt có thể xuống tắm một lát là lại khỏe khoắn đi tiếp. Neranjara, tự thân chỉ có thế, chỉ như muôn ngàn con sông khác, nhưng nhân gian đã đội vương miện lên cho nó vì chính nơi khúc sông này, một người trí tuệ vô song - vượt lên trên muôn triệu người - đã từng xuống tắm. Rồi khu rừng nữa, nó cũng chỉ như bao khu rừng khác nhưng nhân gian đã tô phết hào quang lên nó chỉ vì dưới bóng đại thụ đã có một người trí tuệ vô song - vượt lên trên muôn triệu người - đã từng ngồi thiền định. Giòng sông đó, khu rừng đó và vị sa-môn quyết không rời gốc đại thụ nếu không tìm ra đường giải thoát, nay, đã trở thành những biểu tượng tột cùng thiêng liêng, tột cùng tôn quý đối với thế nhân. Nhưng tự thể, giòng sông Neranjara không hề khác gì hơn sau khi được đội vương miện. Khu rừng pippala cũng thế, vẫn thản nhiên bốn mùa mưa nắng dù được sơn phết hào quang; nhưng mấy ai nhận ra rằng những vương miện tưởng là rực rỡ đó, những hào quang tưởng là sáng chói đó chẳng có một chút giá trị nào đối với sông kia, rừng nọ mà Cái giá trị vô giá là ở những phương thức giải thoát, người đạt đạo đã tìm ra và nó chỉ vô giá với ai nhận biết rồi thực hành. Biết mà không hành thì nó vẫn chỉ là vô giá trị. Theo dõi bước chân người đạt đạo để thấy rằng, trước khi ánh sao mai kỳ diệu hiện lên ở canh ba, soi tỏ lẽ vô thường vô ngã; trước khi nắm được chìa khóa của tên cai ngục phiền não vô minh, người ấy cũng như bao nhiêu sa-môn, đạo-sỹ khác, lang thang đó đây khổ công tìm đạo, vấp váp sai lầm…. Chỉ khác, cái dũng của người trí tuệ là không chùn bước trước gian khổ, hiểm nguy thử thách. Người đó chỉ nhìn thẳng vào mục đích đã vạch ra. Mục đích đó là tự độ rồi độ tha. Đường đi của những người chỉ sống vì lợi ích chúng sanh không bao giờ là những con đường bằng phẳng, dễ đi. Nghe có vẻ nghịch lý nhưng chỉ suy nghĩ một chút thôi nó sẽ rất dễ hiểu vì tâm thế gian vốn hẹp hòi, ích kỷ, ganh ghét, đố kỵ, tham sân……Làm sao những cái tâm ấy dễ dàng để cho những người tốt lành, nhân ái, trong sạch hơn họ làm những điều họ không làm được?

Dù là Phật tử hay không, chúng ta cũng đã ít nhiều biết về con người trí tuệ vô song từng xuống tắm trên giòng sông Neranjara, từng ngồi thiền trong rừng cây pippala gần 2600 năm trước. Người đó đã tìm ra Đạo Cả, người đó được môn đồ tứ chúng gọi ngài là Phật. Phật là giác ngộ, Đạo Phật là đạo giác ngộ. Dù đã tìm ra chân lý, dù đã miệt mài đi khắp đó đây giáo hóa cho chúng sanh cùng khổ, dù đời sống ngài chỉ vì lợi người nhưng suốt 49 năm hoằng pháp ngài thường xuyên gặp kẻ chống báng, vu cáo, bôi lọ, ganh ghét, tỵ hiềm…..Với tất cả bao chuỗi ác nghiệp trùng trùng bất tận đó Đức Thích Ca Mâu Ni vẫn bình tâm hoằng pháp và chỉ dùng hai thứ khí giới là Từ Bi và Trí Tuệ để chuyển nghiệp cho kẻ tạo nghiệp. Và sự thật vẫn là sự thật. Trong màn đêm vô minh, sự thật là đuốc. Người biết nương đuốc mà đi sẽ tới nơi muốn tới. Chỉ những kẻ tự bịt mắt mình mới không thấy đuốc mà thôi. 

Hãy như Sujata, Svastika, Rupak, Bala….. những đứa trẻ hồn nhiên hiền hòa trong thôn Uruvela, chúng cúng dường sa-môn Gotama cũng như khi đảnh lễ Phật Thích Ca chỉ cùng một tâm trong suốt. 

Hãy như ngũ huynh đệ Kondanna, tuy bất đồng vì không hiểu rõ nguyên do sa-môn Gotama chuyển phương pháp tu tập, nhưng khi biết ra liền xả bỏ tự ngã để hài hòa.

Hãy như voi Nalagiri, nhận ra tiếng hú voi chúa qua âm thanh của Phật là lập tức ngưng ngay sự ác độc hung hãn mà nó được lệnh phải thi hành.

Hãy đừng như Đại Đức Devadatta, ném đá toan sát hại Phật chỉ vì lòng ganh tỵ

Hãy đừng như các giáo phái chống đối Phật thời Phật còn tại thế, chỉ vì tự ái ghét ghen.

Hay, cho đến rốt ráo, tâm thế gian nếu chẳng thể nhu hòa từ ái thì xin hãy được như giòng sông Neranjara, sang không mừng, hèn không tủi vì nó hiểu rằng sang hèn chỉ là thước đo của nhân gian vọng động. Neranjara chỉ đích thực là giòng sông khi nó lặng thinh mà trong suốt, thực chứng tâm đạo, ý đời, một nguồn xuôi chảy, dù gần 2600 năm trước, vị sa-môn ngồi thiền trong cánh rừng bên kia sông có từng xuống tắm hay không.

 Hãy như con nước chảy

 Vương bước chân người qua

 Nước xuôi giòng ra biển

 Tâm người sẽ thăng hoa. 
 


MƯA NÚI 

Người bạn đạo rủ tôi lên chùa trên núi nghe pháp vì có người cho quá giang. Thật là duyên lành vì đấy là ngôi chùa tôi mong một lần được viếng mà chưa có phương tiện.

Buổi chiều trước ngày đi, tin khí tượng báo, đêm sẽ mưa và hôm sau còn mưa nữa! Bạn tôi gọi, và lo lắng:

- Mưa, làm sao mà lên núi?

- Thế người cho quá giang có đi không?

- Chưa nghe họ nói gì cả.

- Vậy mình cứ coi như trời không mưa, sáng mai mình cứ đến điểm hẹn.

Điểm hẹn chính là tư gia của người sẽ cho chúng tôi quá giang. Tin khí tượng lâu lâu đoán sai nhưng lần này họ lại đoán đúng quá! Đêm qua tôi nằm thao thức nghe mưa rạt rào bên khung cửa, nghĩ đến bầy chim sẻ đông đảo làm tổ trên cây thông rậm rạp tàn lá, lối cửa vào nhà bếp. Bản năng sinh tồn thật là kỳ diệu, sau những cơn giông bão tả tơi của đất trời, tưởng như những sinh vật nhỏ bé không còn cơ sống sót, vậy mà, chỉ một tia nắng ban mai yếu ớt thôi là chúng lại reo vui cùng vạn hữu. Tôi biết chúng sẽ qua được đêm mưa này để ngày mai lại chịu cơn mưa khác. Sự khổ đau của con người cũng như vậy chăng? Có những nỗi đau ta tưởng không chịu nổi nhưng rồi nỗi đau đó vẫn qua, ta vẫn còn đó để sẵn sàng chịu bao nỗi đau khác tới!

Sáng sớm hôm sau, hai đứa tôi lội mưa tới điểm hẹn. Chủ nhà đã sẵn sàng, và chúng tôi cùng lên đường trên chiếc xe Van của họ do con trai họ lái. Ở thời buổi này, hai người thanh niên trẻ trung, năng động, dành ngày cuối tuần đưa bố mẹ đi chùa là điều khá hiếm. Hiếm hơn nữa, câu chuyện trên xe họ nói với nhau chỉ là những sinh hoạt trên chùa, thỉnh thoảng nhắc đến tên những vị tăng ni mà họ quý mến mà không hề có tiếng thị phi qua lại.

Mưa nhẹ hơn khi xe rẽ vào đường núi. Phút chốc, cảnh ồn ào phố thị đã khuất sau lưng. Núi rừng hùng vĩ bao la ngạo nghễ trong màn mưa trắng đục. Xe chạy qua rừng thông, qua rừng sồi, qua những vách đá cheo leo mà vững chãi, niềm vui trong lòng tôi, theo với mưa mà chan hòa trời đất……

Mưa lại nhẹ hạt hơn, chỉ còn như những làn bụi mỏng khi xe ngừng trước thiền đường khang trang trên một ngọn đồi. Đó đây, những bóng áo nâu, áo lam thấp thoáng như những nét chấm phá tuyệt vời trên bức tranh thủy mạc linh động. Không có tiếng cười nói ồn ào, không có những bước chân khua động vội vã, không có những gương mặt nhăn nhó, ưu tư…..chỉ thấy những nụ cười nhẹ nhàng, những cái chắp tay chào nhau thầm lặng mà đầy thân ái, những bước chân khoan thai mà đầy an lạc, thảnh thơi. Không ai bảo ai, họ thư thái, nhu hòa, thể hiện chân-như bát ngát.

Hai chúng tôi hòa nhập vào đạo tràng đó và dù cố gắng thế nào vẫn lộ rõ sự lúng túng, lăng xăng. Rồi giờ thực hành nghi lễ bắt đầu. Tuy không thấy vị Thầy chủ lễ nhưng trên những hàng tọa cụ đối diện nhau, chúng tôi thấy quý Sư chú, Sư cô đông đến hơn ba mươi người. Các vị ngồi xuống, rất nhẹ nhàng, và gương mặt đều toát ra tràn đầy vẻ từ ái. Chính tư thái đoan nghiêm của các vị tu sĩ đã truyền năng lượng trực tiếp đến tất cả Phật tử hiện diện và mọi người đều đồng nhất ngồi xuống như thế, thanh thản như thế và nhu hòa như thế. Không khí này tôi chưa từng được thấy ở bất cứ ngôi chùa nào, tu viện nào mà tôi đã viếng thăm. Và lòng tôi rung động khi nghĩ tới hai câu thơ của thầy Tuệ Không Phạm Thiên Thư: “Làm trang nghiêm cõi Phật. Tức trang nghiêm cõi người”. Tâm náo động mà đi tìm cõi Phật trang nghiêm thì có khác gì nàng Diễn Nhã Đạt Đa trong Kinh Lăng Nghiêm, cứ lắc đầu mà khóc rằng “ Đầu tôi đâu? Tôi đã mất đầu!!!” 

Khi đại chúng đều an tọa, vị duy-na điểm nhẹ ba tiếng chuông rồi cất giọng, xướng bài kệ Dâng Hương. Mọi người lặng yên quán tưởng. Bên ngoài, trời lại bắt đầu mưa. Xung quanh thiền đường toàn là cửa kính nên có thể thấy rất rõ từng cái oằn mình của nhánh thông non, từng chiếc lá sồi lượn lờ trong màn mưa trong vắt, nghe được từng tiếng gió rít qua hàng tiêu lả ngọn, và, ở một phút nào, có phải là mưa đang cùng tụng Bát Nhã? Ôi, kỳ diệu thay! mưa đang hòa âm thanh trầm bổng với tăng chúng 

“…Sắc chẳng khác gì không

Không chẳng khác gì sắc

Sắc chính thực là không

Không chính thực là sắc

Còn lại bốn uẩn kia

Cũng đều như vậy cả….

……………………..

Gate

Gate

Paragate

Parasamgate

Bodhi

Svaha”

Chỉ khi đọc tới câu chú này tôi mới định thần rằng mình vừa mộng tưởng. Nhưng cái gì là mộng, cái gì là thực khi “Sắc chẳng khác gì không. Không chẳng khác gì sắc”? Âm thanh tôi đang nghe được qua nhĩ căn có thực là âm thanh Bát Nhã, hay chính cơn mưa hùng tráng tinh khôi ngoài đồi núi bạt ngàn kia mới là bài ca Bát Nhã bất tận? Mưa xuống như rong chơi, núi lặng yên tắm mát, rừng đùa vui cùng gió rạt rào, những tảng đá thì thào to nhỏ….vạn hữu thể hiện tràn đầy tự tại an nhiên, trong sáng và đơn giản, đứng ngoài mọi biệt phân, hý luận chính là tinh thần Bồ Tát Tự Tại 

“…Nên khi vị Bồ Tát

Nương diệu pháp Trí Độ 

Bát Nhã Ba La Mật 

Thì tâm không chướng ngại

Vì tâm không chướng ngại

Nên không có sợ hãi…”

Năng lượng của tăng chúng, của gió núi mưa rừng, của tiếng chuông rất nhẹ mà như ngân vô tận, của tiếng mõ rất nhỏ mà như thoảng khôn dừng, tất cả, trong một sát na, bỗng lắng yên. Một cánh cửa hé mở. Một chút mưa, một chút gió đùa nghịch lén theo gót chân Thầy. Nhẹ tay khép cửa, Thầy bước vào, cởi chiếc nón lá, rũ nhẹ những giọt mưa còn lưu luyến rồi từ tốn đặt nón ở góc phòng. Thầy bước từng bước chậm nhưng vững chãi, an nhiên. Thầy tiến lên bục giảng. Thầy chắp tay. Và Thầy nói:

- Xin chào đại chúng.

Tất cả đại chúng chắp tay và cúi đầu.

Trời ơi, tôi chưa thấy nơi nào mà cung cách đón vị giảng sư vào đạo tràng lại đơn giản mà tôn nghiêm đến thế! Có cần chi chuông khánh rộn ràng mà tâm thiếu tôn kính trang nghiêm? Nơi đây, Thầy tự bước vào, cất tiếng chào đại chúng trước. Và Phật tử lặng yên chắp tay đáp lễ, chính là đang nhiếp tâm chánh niệm, cúng dường Thầy nội tâm thanh tịnh của mình. Một kẻ còn ngơ ngác như tôi mà cũng nhận được ra như thế! Tôi liếc nhìn người bạn đạo ngồi bên, cũng là lúc chị ngửng đầu lên, môi điểm nụ-cười-Ca-Diếp trong Hội Liên Hoa. 

Rồi Thầy cất tiếng giảng. Giọng Thầy cũng nhẹ như khi Thầy bước vào cùng mưa, nhưng rõ ràng, khúc chiết như những giòng chữ Thầy đang ghi trên bảng đen. Bài giảng xen lẫn những áng thơ óng chuốt mà Thầy phiên dịch từ chữ Hán sang chữ nôm. Với viên phấn trắng, Thầy viết nguyên bản chữ Hán đến đâu thì cất giọng phiên dịch đến đấy. Không phải là giấy điều, bút lông mà nét chữ Thầy đã rất đẹp, rất bay bướm. Hôm đó, Thầy mở đầu bằng bài thơ của vua Trần Nhân Tông tức là Thiền sư Hương Vân, để giảng về Hạnh Bồ Tát. Thỉnh thoảng Thầy nâng tách nước, uống một ngụm nhỏ, như để đại chúng có chút không gian, thời gian thấm được những lời Thầy nói. Bằng ái ngữ dịu dàng, cử chỉ khoan thai, Thầy giảng bài pháp thâm diệu hết sức xúc tích mà lại vô cùng dễ hiểu. Hạnh phúc biết bao khi được thọ nhận pháp thí này!

Khi Thầy vào như thế nào thì ra như thế ấy. Sau kệ hồi hướng, Thầy chắp tay xá đại chúng, bước xuống bục giảng, đi về hướng cửa. Tới góc phòng, Thầy cúi xuống, cầm chiếc nón lá, nhìn ra khung trời mưa bay rồi chậm rãi đội nón, mở nhẹ cánh cửa. Không nói thêm một lời mà như để lại ngàn lời.

Đại chúng đều ngồi chắp tay lặng yên, nhiếp tâm chánh niệm theo bóng áo nâu nhòa dần sau làn mưa núi….

Tôi khóc tầm tã như mưa! Hạnh phúc như mưa! Lắng trong và ngọt lịm như mưa! Pháp là thế mà thôi, là Từ Bi Trí Tuệ thể hiện viên dung, như Đức Phật đã dạy: “49 năm ta chưa từng nói.” Nhưng hãy nhìn những bước Đức Phật đi, hãy thấy những việc Đức Phật làm mới biết đâu là cửa đạo.

Trên đường xuống núi, người bạn đạo nhặt một bông hoa vàng đã vui theo mưa mà vương trên bụi cỏ. Bạn im lặng đưa cho tôi. Tôi nhận bông hoa và im lặng mỉm cười. Bỗng nhiên tôi hiểu bạn như bạn đang hiểu tôi. 

Chúng tôi vừa thực chứng giai thoại “Niêm hoa vi tiếu” thuở nào…….

Tháng Giêng 2005


ĐƯỜNG LÊN YÊN TỬ

Mảnh trăng non quyến luyến ngọn tre, lung linh giải lụa ngà trên những vòm lá nhọn; sương sớm như tấm chăn đơn mỏng còn phủ hờ vạn vật mà cánh cổng gỗ bên hông chùa Vạn Hạnh đã hé mở. Một bóng người nhỏ nhắn, trang phục gọn gàng lách ra. Đó là người khách lạ phương xa vào chùa xin nghỉ trọ đêm qua. Người ấy đi về cuối sân chùa. Con ngựa dậm vó, vui mừng khi thấy chủ. Người ấy vỗ nhẹ đầu con vật thân yêu, tháo giây buộc rồi thong thả dắt nó ra khỏi cổng tam quan. Cơn gió sớm đầu thu làm rụng đợt lá ngô đồng xạc xào trên thềm rêu vắng như những vẫy tay chào. 

Đường mỗi lúc mỗi quanh co hiểm trở, trèo đèo rồi lội suối, tới quá trưa, người và ngựa đều thấm mệt. Đã mấy ngày qua, lúc có thể đi thong thả trên đường vắng, lúc lại phải lẩn tránh chỗ đông người, nay dường như đã sắp tơi nơi muốn tới. Người ấy bâng khuâng nhìn quanh, rồi vuốt ve con vật, buộc nó nơi gốc soan già bên đường và thì thầm: “Ta phải đi thôi, Nhu-Yên, ngươi hãy tạm nghỉ mệt nơi đây, thế nào lát nữa cũng có người đến nhận ngươi. Hãy ngoan với chủ mới như cái tên ta đã đặt cho ngươi.” Nhu-Yên dậm vó, lúc lắc bờm, nhìn chủ. Nhưng chủ nó đã quay lưng đi nhanh về hướng chân núi Yên Tử.

Đường lên núi tím ngắt hoa sim, gập ghềnh sỏi đá. Người ấy vấp ngã nhiều lần nhưng mỗi lần gắng gượng đứng dậy, hình như người ấy cố bước nhanh hơn, như bị thúc đẩy bởi quyết tâm nào trong lòng…..Lên tới đỉnh núi, hai bàn chân người ấy đã sưng vù, rớm máu, nhưng vẻ mãn nguyện hiện rõ trên gương mặt khi tiến vào thạch động.

- Trời! Bệ hạ…

- Quốc sư…

Hai người cùng quỳ xuống trước nhau.

Đó là vua Trần Thái Tông âm thầm rời cung điện, lên núi Yên Tử tìm Thiền sư Phù Vân với ý định đi tu.

Nước mắt lã chã tuôn rơi, nhà vua nghẹn ngào: 

- Quốc sư đã thấu lòng trẫm rồi, trẫm sớm mất mẹ cha từ thuở ấu thơ, chỉ có người bạn đời là niềm an ủi, hương lửa một ngày là trọng, huống chi hơn mười năm ròng, bao nhiêu là chia xẻ. Nay bị buộc phải phụ người, làm sao trẫm còn xứng đáng chăn dắt trăm họ. Đời trẫm, cho đến phút này chưa từng được chọn điều mình mong cầu.

Thiền sư Phù Vân điềm đạm hỏi:

- Bệ hạ từng cầu điều chi?

- Trẫm chỉ cầu làm Phật.

- Phật ở trong tâm, không ở trên núi, không ở đâu khác ngoài tâm. Nếu tâm lặng, trí huệ hiển bầy thì đó chính là Phật.

Nước mắt vẫn đầm đìa, vua ngước nhìn thiền-sư. Thay vì phải đỡ vua đứng dậy, thiền-sư vẫn lặng lẽ trong thế quỳ đối diện thiên-tử. Chính trong giây phút lặng lẽ đó, giây phút của Tâm-Truyền-Tâm mà nhà vua đã nghe rõ bốn tiếng “PHẬT Ở TRONG TÂM”, ngay nơi tâm đang quằn quại bi thương của mình. 

Vua Trần Thái Tông trở lại triều đình, chấp nhận sự đau khổ VÔ THƯỜNG của thế gian mà trong phút giây quá đớn đau, ngài đã tưởng là THƯỜNG. Cậu bé mồ côi được sắp đặt để làm vua, mở đầu triều đại họ Trần, Hoàng Hậu Lý Chiêu Hoàng bị giáng xuống làm Công Chúa vì chậm có con nối dõi, Thuận Thiên Công Chúa lên ngôi Hoàng Hậu vì đang mang thai …… cũng chỉ là những hạt cát vô thường, biến động, trong biển cát vô thường mênh mông bất tận của tam thiên đại thiên thế giới. Nhà vua rời Yên Tử với tín tâm vững chắc “Phật ở trong tâm” để trở về làm một vị vua anh minh, nhân hậu, lỗi lạc, anh hùng, đem lại thái bình cho đất nước, thịnh vượng cho muôn dân. Nhà vua đã hiểu rằng, là bậc quân vương, phải lấy ý dân làm ý mình, lấy tâm dân làm tâm mình. Đến khi, “những gì cần làm, đã làm”, vua Trần Thái Tông bèn nhường ngôi ngay cho Thái-tử rồi về rừng Vĩ Lâm, đất Hoa Lư, lập am Thái Vi, dốc lòng tu học.

Trang sử vàng son đời Trần có được chính là nhờ vị vua đầu tiên đã biết đem trí huệ Bát Nhã, gieo hạt Bồ Đề trong tâm kiên cố. Đúng thế, Phật đã ở trong tâm Nhà-Vua-Thiền-Sư từ phút rời Yên Tử với hai giòng nước mắt tuôn rơi, khi ngay cả ngai vàng cũng chỉ là đôi dép rách! “Vô Niệm Vi Tông” nên lục-căn chẳng còn vướng lục-trần mới thênh thang lục-thức. 

Chỉ liễu ngộ câu “Phật ở trong tâm” mà vua Trần Thái Tông đã dựng nên cả một triều đại huy hoàng, cả một thời hưng pháp với những vị vua tâm thành mộ đạo; nhất là, đời vua Trần Nhân Tông, Ngài đã khai sáng giòng thiền Trúc Lâm trên núi thiêng Yên Tử, như nguồn suối vi diệu chảy mênh mang bất tận đến ngày nay. 

Khải tấu Thượng-Hoàng, Nhà-Vua-Thiền-Sư lỗi lạc của nước Nam, xin hãy nhìn xuống rừng già vô minh này, chỉ cho con cháu Đường- Lên- Yên- Tử.

28 tháng hai 2005

 (Đêm chợt thức vì chuông điện thoại reo!) 


GIÒNG HỢP TẤU BẤT TẬN

Kính dâng Giác-linh ni-sư Thích nữ Trí Hải 

Người làm vườn chậm rãi quét lá. Cuối đông, những cây phong - lá đổi mầu từ xanh tươi sang đỏ, vàng - đang rụng những chiếc cuối. Thời gian không âm thanh, không hình tướng mà lại hiện hữu rõ rệt ở mọi nơi, mọi vật qua những đổi thay, luân chuyển của đất trời. Hoa ấy rực rỡ đầu hè, đã úa tàn cuối thu; mầm ấy trồi xanh tháng lạnh, cành lá đã xum xê khi nắng ấm; quỳnh nẩy nụ ngày xuân, đêm trăng rằm tháng hạ đã chợt ngạt ngào hương sắc…….

Người làm vườn đã thong dong quét lá, nhặt hoa bao năm tháng. Không vui cũng chẳng buồn, không mong cũng chẳng đợi. Người ấy lẳng lặng và an nhiên. Khi lá đã gom, rác đã dọn, người ấy ngồi bên gốc, lắng nghe giòng nhựa ấm luân lưu trong thân cây. Ồ, âm thanh đó thật là tuyệt diệu! Không phải âm thanh của suối, của biển mà là âm thanh của vòng tay ôm, của nguồn sữa mẹ. Có âm thanh từ vòng tay ôm, từ nguồn sữa mẹ ư? Có chứ, vì giòng nhựa đó chính là lá khi chưa thành, là hoa khi chưa nở, là nụ khi chưa đơm. Thì ra, thấy bông mai nở trong mùa xuân nhưng chẳng phải chỉ mùa xuân mai mới đến mà bông mai đó đã đến từ bao giờ, từ vô thỉ, từ ngay nơi giòng nhựa ấy. Cũng thế, chiếc lá vàng vừa rụng chẳng phải từ đêm qua mới rụng mà nó thực đã rụng từ khi chưa sinh vì nó chính là chu kỳ của lá xanh, của trồi non, của nụ hé. Lá biết thế nên khi lìa cành mà vẫn lao xao ca hát cùng gió, sương biết thế nên khi long lanh vẫn đùa vui với ánh mặt trời dù biết rằng mặt trời rực rỡ bao nhiêu thì nó sẽ tan nhanh bấy nhiêu. Đó chính là giá-trị-của-phút-giây-hiện-tại. Nếu sống trong hiện tại mà chỉ hoài tưởng quá khứ, mong ngóng tương lai thì kẻ ấy đang chưa-từng-sống!. Khi quán tưởng sâu sắc hoa lá, cỏ cây, người làm vườn biết rằng chúng đã hiểu được rõ rệt điều đó nên lá lìa cành mà vẫn hát, sương đang tan mà vẫn vui. Cỏ cây, vạn hữu tuy thầm lặng mà vẫn thể hiện được sự an nhiên dũng mãnh trước luật tuần hoàn. Vậy mà, sao đôi lúc, con người, với trí tuệ vượt trội lại chìm đắm trong bi thương với những toan tính vô thường chẳng trọn? 

Người làm vườn cảm nhận được lý duyên sinh vô ngã, vô thường như thế nên bao năm qua, người ấy đã an nhiên tự tại mà quét lá, nhặt hoa trong Vườn-Bát-Nhã. 

Nhưng hôm nay, người làm vườn đang ngồi dưới gốc cây, ôm mặt khóc!!! 

Gã không còn nghe được tiếng thì thầm của cây, tiếng đùa vui của lá, tiếng xôn xao của gió mơn man trên vạt nắng lung linh. Gã không nghe thấy gì nữa bởi lòng gã chẳng còn tĩnh lặng! Gã đang phẫn nộ, đang uất ức! Lòng gã đang như biển lửa! Phải, đúng thế, nếu ngay lúc này mà trở thành biển lửa, gã sẽ không ngần ngại đốt cháy cả tam thiên đại thiên thế giới! 

“Sao thế, hỡi vị Sa-môn từng thầm lặng dọn vườn-tâm-thế-gian? Tôi là gốc thông già, tôi là hàng tre Mạnh Tông, tôi là bụi hồng Tiểu Muội, còn tôi là khóm Thủy Trúc góc hồ sen đây. Này vị Sa-môn thầm lặng nhu hòa, sao ngài ngồi đây mà khóc? Chẳng phải ngài đã thấu hiểu lẽ vô thường rồi ư? Mà khi vạn hữu đã vô thường thì do đâu còn phiền não?”

Bỏ thế ngồi bó gối thảm não, gã khoanh chân, kiết già. Không buồn trả lời vườn cây, gã lặng lẽ thiền định. Nhưng, vọng lập tức nổi lên như sóng cồn! Ta hiểu được lá vàng thì rụng, hoa héo thì rơi nên đã bỏ lòng thương tưởng lá xanh hoa đẹp. Nhưng, những Cây-Trí-Tuệ đang hiến dâng lợi ích cho đời, sao cuồng phong vô tình lại tràn qua, gẫy đổ???  Những Cây-Trí-Tuệ xum xuê cành-lá-lợi-ích, đầy ắp