Chương
13
Một
Cuộc Bắt Đầu Mới
Các bạn đã ở đây được mười ngày, và sẽ trở về lại
nhà trong một khung cảnh hoàn toàn khác. Việc hành Thiền
cũng như sự hiểu biết của các bạn về Phật pháp tiến
bộ thấy rõ. Khi trở lại nhà, các bạn có thể nghĩ
là người thân ở nhà đã thay đổi. Đột nhiên họ
như không hiểu những điều bạn nói nữa. Họ lại quan
tâm đến những việc đối với bạn không có gì là quan trọng
cả. Khi đó bạn nên biết rằng không phải họ là người
đã thay đổi, mà chính bạn mới là người thay đổi.
Khi bạn xuống phố, quan sát mọi người, xe cộ qua lại bạn
có thể tự hỏi: “Tại sao mọi người vội vã thế?
Họ cần đi đâu? Có cần phải vội vã như thế không?”
Bạn đứng yên ở một chỗ, quan sát và than rằng: ‘Tôi
không thể hiểu tại sao mọi người lại cần vội vã đến
thế?” Rồi chừng ba tuần hay ba tháng sau, tùy theo sự
thực tập của bạn, mọi việc lại trở lại bình thường
trong mắt bạn. Ai cũng thế, và bạn cũng thế. Và
điều đó chứng tỏ rằng bạn đã chểnh mảng trongï thực
tập, bạn không còn tự tại nữa, có nghĩa là bạn cần dự
một khóa tu học khác nữa.
Vậy bạn cần phải làm gì trước những sự kiện nầy?
Ngồi Thiền một tiếng buổi sáng, một tiếng buổi tối,
có lẻ là lời khuyên hữu dụng nhất. Nếu bạn có thể
thực tập nhiều hơn, càng tốt.
Tóm lại có nhiều việc bạn có thể làm. Trong nhà, bạn
có chỗ riêng để ăn uống, ngủ nghĩ, làm việc, tắm gội.
Hãy chọn một chỗ nhất định, không dời đổi để tọa
Thiền. Bạn không thường xuyên dời đổi chỗ ngồi
ăn, hay chỗ ngủ nghĩ. Cũng thế, hãy dành một góc nào
đó trong nhà, vừa đủ một chỗ ngồi cho bạn. Để
gối Thiền hay tọa cụ ở đó và không dời đổi. Nếu mỗi
lần cần ngồi Thiền mà bạn phải đi tìm kiếm những thứ
nầy, thì bạn dễ bị phân tâm. Nếu muốn, bạn có thể
đặt một tượng Phật hay ảnh Phật với bông hoa để tạo
ra không khí riêng cho góc phòng đó. Cũng giống như trong
phòng ăn thì phải có bàn ăn, ghế ngồi, nhà bếp có lò nấu,
thì góc tọa Thiền của bạn cũng cần có tọa cụ, chiếu
Thiền, có thể một bàn thờ nhỏ với hoa hay một ngọn nến.
Mỗi ngày bạn đều đến ngồi vào chỗ đó ở một thời
điểm nhất định, mang theo một đồng hồ báo giờ.
Để đồng hồ báo giờ một tiếng sau đó, nếu không, lúc
đang tham Thiền, bạn sẽ nghĩ “Có lẻ đã hơn một tiếng
rồi”. Nhưng khi bạn đứng lên, xem giờ, thì chỉ mới
được mười phút, rồi một khi đã đứng lên đi ra chỗ
khác, bạn khó lòng quay trở lại với việc tọa Thiền.
Ít ai làm được điều đó. Vì thế tốt hơn hết là
mang theo đồng hồ, và ngay khi bạn nghĩ: ‘Chắc được một
tiếng rồi’, bạn cũng biết không thể nào như thế, vì
đồng hồ chưa reo báo giờ. Khi bạn biết đồng hồ
chưa reo, thì chưa tới giờ, nghĩa là bạn chưa thể đứng
lên. Dần dần việc tọa Thiền sẽ trở nên dễ dàng
hơn.
Ta cần sự hổ trợ càng nhiều càng tốt. Vì ta luôn
tìm cách để tránh né việc khó. Ai cũng thế. Hãy
cảnh giác về những lý do để tránh né. Khó có ai tọa
Thiền thường xuyên như thế nầy, lâu như thế nầy, nếu
không có người khác cũng ngồi với nhau. Vì thế nếu
có được một nhóm hay ít nhất là hai người ngồi với nhau
càng tốt. Nếu họ không biết tọa Thiền, dạy họ quán
về từ bi, theo dõi hơi thở, và cùng ngồi im lặng với nhau.
Tuy nhiên, cũng đừng vì thế mà thuyết phục mọi người
trong gia đình phải ngồi Thiền với bạn. Cách đó chỉ
làm họ càng tránh né. Chỉ cần nói: ‘Tôi thích ngồi
Thiền. Tôi sẽ làm như thế’. Vậy là đủ.
Ai có thể cãi với chúng ta điều gì? Hay ‘Tôi sẽ dậy sớm
hơn một tiếng’. Tốt. Thức dậy nhẹ nhàng, êm
ái, tránh làm người khác thức giấc theo, vì bạn đâu có
muốn cả nhà cùng dậy ồn ào, trong khi bạn ngồi trong góc
phòng, cố gắng Thiền định. Buổi chiều, lúc nào thuận
tiện, hãy vào ngồi ở góc Thiền của bạn. Nhưng phải
đợi lúc TV đã được vặn tắt.
Con
người dễ tập thói quen. Khi chúng ta còn nhỏ, mẹ chúng
ta thường bảo: ‘Đi đánh răng’. Và chúng ta thường
nói, ‘Con không muốn’, hay ‘Tại sao phải đánh răng’,
‘Con đã làm rồi’ hay ‘Lát nữa con sẽ đánh’. Nhưng
các bà mẹ vẫn kiên trì: “Đi đánh răng”. Dần dần
ta cũng làm theo, và theo thời gian, ta đã có thói quen đánh
răng. Ở đây bạn phải đảm luôn trách nhiệm của người
mẹ. Khi tâm ta nói: ‘Tôi không muốn ngồi’, hay ‘Lát
nữa tôi sẽ ngồi’, hay ‘Bỏ một ngày có hề gì’, ‘Căng
quá. Chân tôi đau. Ngày mai tôi sẽ ngồi’; bạn
đừng nghe theo nó, mà phải nói; “Đi ngồi đi. Nhanh
lên. Không có gì đáng làm hơn chuyện đó”.
Khi
còn nhỏ, ta không hiểu tại sao phải đánh răng, giữ răng
cho sạch. Mẹ ta luôn nhắc rằng nếu không chúng sẽ
rụng hết, ta cũng chưa chắc hiểu rụng là thế nào.
Làm sao mà răng có thể rụng được, ta thầm nghĩ. Còn
bây giờ bạn nghe nói: “Nếu bạn không tham Thiền, tâm bạn
sẽ thiếu minh mẫn”. Có thể ta cũng không hoàn toàn
hiểu tâm minh mẫn là như thế nào. Nhưng ta cần phải
tự nhủ với mình như một người mẹ nói với con: “Điều
đó tốt cho con. Hãy làm đi”. Bạn phải
lo chăm sóc cho tâm mình, nếu không tâm sẽ không lo cho bạn
đâu.
Đó là một thói quen tốt, trong sạch, nó dẫn ta đến con
đường thanh tịnh hóa. Những thói quen của tư tưởng
sẽ tạo hình cho cá tính của ta và dẫn dắt ta đi vào những
nẻo đường tâm linh, đường đến với Đạo.
Nếu ta không sử dụng tâm cho một mục đích nào khác hơn
là chỉ để sống và hưỡng thụ, thì đó là một sự lãng
phí thời gian. Dĩ nhiên là ta phải sống, mới có thể
hành Thiền, nhưng không phải vì thế mà để cho nó chiếm
hết tâm tư của ta. Ta phải thêm vào yếu tố chánh niệm
và thực tập nó suốt tất cả thời gian tỉnh thức của
ta. Bất kỳ ta làm gì -nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa, chợ
búa hay đi đứng- đều có thể là một bài học về chánh
niệm. Khi đang rửa chén, đừng nghĩ đến việc bạn
sẽ làm sau khi làm xong công việc nhàm chán đó, nhưng phải
hoàn toàn để tâm vào từng thao tác trong việc rửa chén.
Khi đang lau nhà, đừng nghĩ đến làm sao cho rồi việc, nhưng
chú tâm vào từng chuyển động; đó chính là chánh niệm.
Tất cả những tư tưởng tiêu cực đều khiến tâm thoái
hóa. Tâm giống như thân, cũng sẽ bị hoại diệt, hư
hao qua thời gian sử dụng. Nó sẽ trở nên bớt trong
sạch với những ý nghĩ vụng về. Khi nào có những
-‘Tôi không thích điều đó. Tôi không muốn làm điều
đó. Tôi muốn thoát ra khỏi đây. Tôi căm thù việc
nầy. Tôi ganh ghét. Tôi hảnh diện vì nó’- trong
tâm, ta trở nên yếu đuối hơn, đánh mất chánh niệm, sáng
suốt một lần nữa.
Chánh niệm có thể đem áp dụng vào hành, vào cảm thọ, vào
tư duy, hay vào các trần, tùy hoàn cảnh. Thí dụ khi đang
có cảm giác buồn, sự chú tâm được đặt vào cảm giác
ấy với cái biết rằng nó sẽ không mang lại lợi ích gì
cho ai. Chúng ta biết là cần phải thay thế nó bằng những
tình cảm khác, hay buông bỏ nó. Khi đang suy tư, phải
hoàn toàn biết quá trình tư duy, và biết đối tượng tư
duy. Có nghĩa là biết điều mình suy nghĩ là tốt hay
xấu.
Việc nầy cũng sẽ trở thành thói quen, để chúng ta tránh
khỏi việc trách móc người khác. Nó phủi sạch tấm
màn nhện của quá trình tư duy, làm chúng trở nên rõ ràng,
dễ hiểu. Chúng ta biết rõ ràng những gì xảy ra bên
trong nội tâm mình, và chung quanh ta.
Đó là công việc của mười-lăm-tiếng mỗi ngày, tùy thuộc
vào thì giờ ngủ nghĩ của ta. Trừ khi công việc nầy
được thực hiện trong suốt thời gian hay phần lớn thời
gian tỉnh thức của ta, nếu không ta khó có hy vọng tọa Thiền
thành công. Ngược lại, ta khó có được chánh niệm
nếu không thực tập Thiền. Hai việc nầy hỗ trợ nhau.
Ta phải thực hành Thiền dầu ta có nghĩ rằng sự tu tập
của ta là thành công hay thất bại. Đó là vấn đề của
lòng kiên nhẫn, chịu đựng, kiên quyết và tinh tấn.
Ta chỉ có việc phải ngồi và thực hành.
Trong suốt mười ngày ở Thiền viện đây, bạn đã có được
cơ hội quý báu để ngồi và thực hành, và đã có được
chút ít kết quả. Khi trở về nhà, sẽ có ít thời gian
để thực tập hơn, kết quả sẽ không giống như thế nầy,
hay tiến bộ hơn. Thiền định là một thành quả mong
manh. Nó cần được nuôi dưỡng, chăm sóc cho xứng đáng.
Định vô lượng là hạt kim cương ít người trên cõi đời
nầy với tới được. Họ có thể được đọc về nó,
nghe về nó, nhưng như thế thì ích lợi gì cho họ. Nó
sẽ không có ý nghĩa gì, trừ khi ta kinh nghiệm được nó,
và sự thành tựu ít có được nầy đáng được trân trọng
cho xứng đáng với giá trị của nó; nghĩa là phải luôn trao
chuốt để nó mãi sáng chói.
Ngoài ra Thiền định cũng giúp cho sự chánh niệm của ta trong
đời sống hằng ngày. Đối với những ai chưa đạt
được trình độ Tu-đà-hoàn (stream-entry), gần phân nữa những
gì dấy lên trong tâm họ đều là ô uế. Khi ta biết
cảnh giác như thế, ta sẽ dễ dàng buông bỏ các vọng tưỡng
vì ta đã học làm thế trong Thiền định.
Ta cần phải tránh một cuộc sống lờ mờ, không chủ định.
Sự huyền diệu của trạng thái tỉnh thức không phải là
đối ngược với giấc ngủ. Mà là đối ngược với
trạng thái không chủ định. Phần lớn chúng ta không
biết mình làm gì, nghĩ gì, cảm giác ra sao. Nên chúng
ta chọn một giải pháp dễ dàng là nữa tĩnh nữa mê.
Đó là trốn tránh khổ đau. Nhưng biết khổ cũng là
biết sự thật, là khổ đế trong tứ diệu đế của Đức
Phật. Bất cứ ai trước khi muốn thoát khổ, cũng cần
phải biết rõ về cái khổ. Khi đã biết cái khổ mà
không tìm cách giải thoát thì thật là điên rồ. Không
có lối thoát nào ở ngoài ta, hay có thể thoát ra bằng sự
ơ thờ, ngơ ngác. Con đường giải thoát duy nhất là
quay trở vào bên trong, để nhìn thấy mọi sự rõ ràng.
Mọi ngõ thoát khác đều là ngõ cụt.
Mỗi tuần nên Thiền chung với bạn bè, để tạo sự phấn
khởi trong ta. Năng lực của đám đông có giá trị riêng
của nó. Năm uẩn là rào cản, làm cho cuộc sống của
ta thêm khó khăn. Và liều thuốc đối trị hiệu nghiệm
nhất cho chúng là thiện tri thức, là những cuộc trao đổi
về Phật Pháp cao siêu. Đừng tham gia vào bất cứ những
cuộc đối thoại nào. Bạn đâu có ăn những thức ăn
có thể độc hại cho cơ thể, thì cũng đừng hấp thụ vào
tâm những thứ độc hại như tán gẫu, nói chuyện người,
nói thị phi, bàn chuyện thời sự, bàn về sách tiểu thuyết
rẻ tiền hay chỉ nói để mà nói. Những thứ đó sẽ
đầu độc tâm ta và dẫn ta đi vào con đường tà.
Một phương thức khác để thấm nhuần Phật Pháp là nhìn
mọi hoàn cảnh, mọi kinh nghiệm -dù lớn hay nhỏ - theo cái
nhìn của Pháp. Khi bạn nhìn thấy một bụi cây với
những bông hoa tươi đẹp cùng những bông hoa khô héo trên
cành, tâm bạn nên nghĩ đến sự sinh tử, hoại diệt.
Hay khi bạn nhìn thấy chú chim nhỏ đang chăm chút xây tỗ,
kiên trì tha từng cọng rơm để làm cho chiếc tổ được
chắc chắn, ấm êm. Bạn cũng nhìn thấy ở cạnh cây
bên cạnh một cái tổ hoang. Luôn có sự thay đổi.
Không có gì thường còn. Đây là nhà của tôi, tổ của
tôi. Bao nhiêu tiền bạc, công sức, thời gian đã bỏ
ra để xây cái tổ đó. Rồi một ngày kia tôi cũng phải
bỏ nó mà đi.
Tất cả mọi vật ở chung quanh ta đều có thể được nhìn
dưới con mắt Pháp để nhận ra rằng không có sự bền vững
tuyệt đối, do đó luôn mang đến phiền não, thất vọng.
Điều đó không tạo ra cho ta sự chán nản, phiền muộn.
Trái lại, chúng giúp ta thoát ra khỏi đau khổ, phiền muộn,
vì chúng giúp ta coi thường mọi việc xảy ra. Làm giảm
bớt lòng ham muốn trong ta, vì ta biết rằng mọi ham muốn
đều không thể được hoàn toàn thỏa mãn, vì mọi thứ đều
vô thường.
Chánh Pháp ở trong tim ta. Chứ không ở trong các chùa
chiền, y áo, hay các gốc cây bồ đề. Pháp chỉ có thể
trụ ở một nơi. Những ai biết đem nhập Pháp vào tâm
và hành Pháp, họ chính là đền đài chứa đựng Phật Pháp.
Gạch ngói làm nên chùa chiền. Cũng như cây Bồ đề,
các hình tượng đều chỉ là biểu tượng. Chúng ta cần
các biểu tượng để nhắc nhở vì ta rất dễ quên.
Nhưng chánh Pháp trụ ở những trái tim biết sống theo chánh
Pháp.
Đức Phật đã nói: “Ai nhìn thấy ta, là thấy Pháp.
Ai thấy Pháp, là thấy Ta”. Sống ở thời đại nầy, ta không
hy vọng thấy được Phật sống, nhưng điều đó không cần
thiết vì “Ai thấy Pháp, thấy Ta”. Nếu bạn có thể
tự thấy Pháp trong tim mình, thì bạn có thể thấy Phật.
Phật chỉ là tánh Giác của ta. Vì thế nếu ta có Pháp
trong lòng, thì ta cũng có Phật ở gần bên ta. Ta không
cần phải đi tới đâu đâu để tìm Ngài. Ta không cần
phải làm gì đặc biệt để được gặp Ngài. Bạn chỉ
cần có chánh niệm và chuyển đổi cái xấu thành cái tốt.
Có đơn giản không? Nhưng đơn giản, không có nghĩa là
dễ dàng. Đó là những việc khó làm, nhưng chắc chắn
sẽ đem lại lợi ích cho chúng ta. Những lợi ích không
có gì có thể so sánh được. Giờ bạn đã được trang
bị đầy đủ. Tất cả là của các bạn. Hãy sử
dụng chúng thật tốt.
Diệu
Liên-Lý Thu Linh
4/2005