Chương
4
Tứ
Vô Lượng Tâm
Trong mỗi chúng ta có bốn người bạn tốt (tứ vô lượng
tâm), sẳn sàng giúp đỡ ta. Tuy nhiên cạnh đó ta cũng
có năm kẻ thù chực chờ nhảy ra tấn công bất cứ
lúc nào. Chúng không bao giờ để ta yên. Nhưng vấn
đề là có mấy ai trong chúng ta đủ sức mạnh để đánh
đuổi kẻ thù, bảo vệ cho những người bạn tốt của mình.
Lại có người còn không biết rằng đó là việc tốt, nên
làm.
Bốn người bạn đó là bốn tánh tốt của ta: Từ, Bi, Hỉ
và xả. Ta phải tìm kiếm chúng trong tim mình. Nếu
không thể tìm ra, và tự biết đó là một thiếu sót của
mình, ta phải bắt đầu lo tạo ra chúng, phát triển chúng.
1.
TỪ
Ngôn từ thật nguy hiểm. Chúng tạo cho chúng ta một cảm
giác của sự trường tồn, bất biến. Chúng ta bị phủ
lấp bởi ngôn từ, nhưng chúng chẳng khác gì hơn là
những khái niệm. Chúng không có thật. Hãy tưỡng
tượng ra một dòng sông: danh từ ‘dòng sông’ không phải
là thực thể của một dòng nước chảy. Từ ‘dòng
sông’ cố định: nhưng bản thể của dòng sông thì lưu chuyển.
Từ tâm chỉ có thể xuất phát từ trái tim. Tâm Từ
sẽ trở nên trống rỗng, vô nghĩa, nếu nó chỉ nằm trong
ngôn từ. Tự nó không có nghĩa gì, giống như từ ‘dòng
sông’ sẽ gợi cho ta một cái gì đó, khi ta đã kinh nghiệm
qua. Nếu ta bảo với một đứa trẻ thơ về ‘dòng sông’,
nó không biết ta nói gì. Nhưng nếu bạn bỏ tay em xuống
nước, để em cảm nhận dòng nước chảy, thì em sẽ thật
sự biết dòng sông là như thế nào, không kể em có biết
đến danh từ ‘dòng sông’ hay không.
Đối với Tâm Từ cũng thế. Danh từ ấy không có nghĩa
gì. Chỉ khi nào bạn cảm được nó từ trong tim mình,
thì bạn mới hiểu những điều Phật đã nói về tâm Từ
trong các bài thuyết pháp của Ngài. Cuộc đời sẽ thiếu
sót biết bao khi không chứa đựng cả lý trí và tấm lòng.
Nếu chỉ sống bằng trái tim, con ngưòi dễ trớ thành tình
cảm, một bản tính thường được đồng hóa với người
phụ nử. Tình cảm có nghĩa là ta phản ứng với mọi thứ,
điều đó không tốt. Lý trí cũng có chỗ đứng của
nó. Con người cũng cần hiểu những gì xảy ra quanh họ.
Nhưng nếu chỉ hiểu với cái đầu, nó có thể vượt bực
về kiến thức, nhưng con tim sẽ thiếu đồng cảm.
Tình và lý phải luôn đi đôi với nhau. Ta phải hiểu
bằng lý trí và phải dùng tình cảm một cách khôn ngoan.
Tràn đầy tình cảm, mang đến sự an lạc vàï hoà đồng
cho trái tim.
Lòng Từ hay tình thương, không phải là tình cảm tạo nên
bởi sự có mặt của một người dễ thương, hay vì
ta đang sống bên cạnh những người thân của mình, hay một
người đáng yêu. Uy quyền hay những phản ứng bản
năng cũng không liên quan gì đến loại tình cảm nầy.
Yêu thương con cháu của mình, yêu thương cha mẹ mình không
khó khăn gì. Phần đông chúng ta đều làm được, trừ
một số ít. Nhưng tình thương đó không phải là tâm
Từ (Metta).
Khi Phật nói về tâm Từ, Ngài muốn nói đến thứ tình cảm
không có sự phân biệt trong trái tim. Tình cảm cao thượng
đó đòi hỏi chúng ta phải yêu thương tất cả mọi người
như thể người mẹ yêu thương đứa con duy nhất của mình.
Tất cả những ai có con sẽ biết được sự khác biệt khi
họ yêu thương con mình và con người khác. Nhưng đó
chính là điều ta phải sữa đổi. Nếu không, ta khó
thể hiểu về lòng Từ và sự quan trọng của nó.
Nếu bạn thấy một em bé bị té xe, ngồi khóc. tự nhiên
là ta sẽ đỡ em dậy, dổ em. Lòng Từ đó cũng không
khó thực hiện. Khó là sự thể hiện lòng Từ trong tâm
ta với tất cả mọi người, kể cả những kẻ đáng ghét
nhất. Không phải tất cả chúng ta đều dễ thương,
trừ các bậc A-la-hán. Ngay chính ta cũng không hoàn toàn
dễ thương, thì sao lại mong mỏi điều đó ở người khác.
Tại sao ta phải phân biệt giữa những người ta có cảm tình
và người ta không ưa. Chúng ta tự cho mình có lý khi
không ưa những người mà theo sự đánh giá của chúng ta,
họ đã hành động sai quấy. Nhưng ngay chính ta, đâu
phải lúc nào ta cũng hành động đúng. Suy cho cùng trong
chúng ta có ai không từng làm những chuyện đáng hối tiếc.
Tôi không biết về bạn, nhưng chỉ cần soi lại chính
mình, tôi cũng hiểu bạn thế nào. Ai cũng lầøm lổi,
thì tại sao lại đòi hỏi người khác phải hoàn toàn, muốn
người khác làm chuyện ta không thể làm được.
Có ba loại tâm Từ. Thứ nhất là lòng tốt (good-will).
Chúng ta phải có lòng tốt đối với nhau. Đó là điều
kiện tiên quyết để sống với nhau. Nếu chúng ta không
tốt với nhau, ta không thể cùng ngồi thiền với nhau.
Ta sẽ đứng dậy, đi lung tung. Sẽ làm ồn ào khi mọi
người quanh ta cần yên tĩnh. Sẽ không có xứ sở nào tồn
tại, nếu người ta không có lòng tốt với nhau. Bạn
có nhận thấy chúng ta lệ thuộc vào nhau rất nhiều không?
Chúng ta cậy vào người phát thư để có thông tin, nhờ người
bán rau cải, nhờ nhà nông đểâ có lương thực.
Chúng ta lệ thuộc vào lòng tử tế của các nhà hàng xóm.
Vì lòng tử tế là điều kiện tối cần cho cuộc sống, chúng
ta không thể thiếu nó, không có nó cuộc sống sẽ đảo lộn.
Thứ hai là tình thân hữu. Ta cảm thấy gần gủi, thân
thiện với một số người như bạn bè, hàng xóm, người
quen biết, người giúp đỡ chúng ta. Sự thân thiện là
một bước đến gần hơn với lòng Từ, nhưng chưa phải là
lòng Từ thật sự. Nó làm chúng ta thấy gần gủi với
người khác, cũng như đem người khác lại gần chúng ta, nhưng
nó cũng có khía cạnh nguy hiểm của nó. Đó là lòng
ưa thích. Thường ta nghĩ chẳng có gì xấu trong đó,
nhưng trong sự ưa thích, đã có sự bám víu. Bám víu
vào bạn bè ta, người quen, kẻ ban ơn cho ta, người thân chung
quanh ta. Sự bám víu đó sẽ khiến ta đau khổ, sân hận,
không phải đối với người thân của ta, nhưng đối với
cái ý tưỡng là ta sẽ phải mất họ. Sẽ sinh ra lòng
sợ hãi, vì ta chỉ có thể sợ hãi những gì ta không ưa thích.
Do đó tình thương thuần khiết không còn nữa. Vì chính
sự bám víu đã làm hoen ố nó, làm cho nó không còn vẹn toàn.
Không bao giờ ta có thể tìm được an vui với thứ tình cảm
đó. Điều đó thường xảy ra trong các gia đình.
Đó là lý do tại sao con người không thể tìm được hạnh
phúc trong loại tình thương đó.
Tuy nhiên tình thương chúng ta dành cho người thân trong gia
đình mình có thể dùng làm hạt giống để vun trồng lòng
Từ. Rồi từ đó ta phát triển, nhân rộng nó lên.
Chỉ có như thế tình cảm gia đình mới có ý nghĩa.
Nếu không, nó trở thành nơi ươm mầm của tình cảm sân
hận -như vẫn thường thấy trong các gia đình- như nước
sôi trong chiếc ấm đậy nấp. Tình cảm gia đình cần
được vun trồng trong tim ta vô điều kiện, không cứ phải
là chồng tôi, vợ tôi, con gái tôi, con trai tôi, cậu tôi,
mợ tôi. Đầy tính cách sở hữu của cái tôi. Nếu
như chúng ta không có thể vượt lên và chuyển đổi
những tình cảm đó thành vô điều kiện, thì tình cảm gia
đình đã không được sử dụng đúng chức năng của nó.
Trong trường hợp đó, nó được dùng để củng cố cái tôi,
để đảm bảo cho sự sinh tồn. Nhưng sinh tồn không
phải là một vấn đề, ta không nên phí thì giờ lo chuyện
đó. Dù có bom nguyên tử hay không, chúng ta cũng không
thể tồn tại mãi được, có phải không? Chỉ có một
nơi chốn cho tất cả chúng ta, nơi mọi người cuối cùng
rồi sẽ hội ngộ.
Tình bằng hữu cũng đưa đến sự bám víu, dính mắc.
Ta bám víu vào bạn bè. Sợ mất họ. Ta tốt với
bạn bè vì muốn họ mãi là bạn mình. Nhưng nếu họ
đối xử trả lại không được tốt, ta lập tức nghĩ xem
có nên tiếp tục làm bạn với họ không. Ta đòi hỏi ở
họ một sự thân thiết, lo lắng, quan tâm trả lại.
Giống như kinh doanh thương mại. Một sự trao đổi sòng
phẳng. Đó là điều hầu như tất cả chúng ta đều
làm, đến nổi ta chẳng bao giờ để ý đến. Đối với
bạn bè thì thế, đối với gia đình, chúng ta còn đòi hỏi
hơn thế nữa. Nếu người thân ta không thương trả lại,
ta hờn tủi, thất vọng, trầm uất. Nếu họ bỏ rơi
ta, tình thương trong ta cạn kiệt. Thật là kỳ lạ, khi
tình thương chỉ giới hạn trong một nhóm người.
Tình thương không thể ẩn tiềm trong con người. Con người
chỉ là một đãy xương bọc da. Làm sao có thể tìm thấy
tình thương trong đó. Nhưng đó là bi kịch của bao người.
Romeo và Juliet, Cuốn Theo Chiều Gió. . . là những bi kịch sân
khấu về người nầy ra đi vì người kia không yêu mình, hay
chia tay nhau bằng cái chết. Con người trước sau gì cũng
phải xa nhau, qua cái chết hay qua sự thay đổi tình cảm, tư
tưởng. Họ cần chi phải hành động như thế. Làm
sao tình yêu có thể ẩn tiềm trong những người như thế?
Tình thương tiềm ẩn trong các cảm xúc. Nếu ta không
sử dụng tình cảm gia đình để làm nẩy nở thêm cảm xúc
nầy, ta sẽ bị mất thăng bằng khi người ta thương yêu,
bám víu vào biến mất đi vì lý do nào đó. Mục đích
chính của tình cảm gia đình là để giúp ta biết thể nào
là cảm xúc thương yêu, và từ đó nhân rộng ra.
Phát triển tâm Từ không phải bằng cách dự một lớp 10
ngày về thiền hay nghe thuyết pháp về lòng Từ là đủ.
Chúng ta không thể mở tắt tình cảm, lý trí cũa mình như
tắt mở một bóng đèn. Ta cần tập luyện có phương
pháp một cách kiên nhẫn và với lòng quyết tâm.
Trái tim ta cần được rèn luyện để yêu thương vì nó không
phải được tạo ra để lúc nào cũng tràn đầy lòng thương
yêu. Nó có thể yêu mà cũng có thể ghét. Nó chứa đầy
ý xấu, sân si, sợ hãi cũng như tình thương. Nhưng nếu
như ta không làm giảm bớt sự hận thù và phát triển
thêm tình thương bằng cách thay đổi cách cư xử của ta trong
đời sống hằng ngày, tâm ta sẽ không thể an lạc, sự an
lạc mà Từ tâm có thể mang đến cho ta.
Khi trong ta đầy tình thương -loại tình thương không có điều
kiện đối với tha nhân- thì ta tràn đầy an lạc. Khi
ta có thể làm chủ được các hành động của mình.
Ta trở nên tự tin. Không sợ hãi điều gì. Ta tự
biết mình đã được rèn luyện đến độ sẽ không thể
có một phản ứng giận dữ, ghen ghét, dù nhỏ đến đâu
có thể xảy ra để làm ta mất đi sự bình yên. Đó
là kết quả đầu tiên và hoàn thiện nhất mà ta có thể
có được do đã ươm trồng lòng Từ trong tim ta.
Quan trọng hơn cả là tình thương đó đã được vun trồng
dành cho những kẻ không ‘đáng thương’ chút nào. Đó
chính là cơ hội để chúng ta thực tập hầu thay đổi
con tim và lý trí của mình. Chúng ta ai không từng biết một
đôi người ‘khó thương’, nhưng hãy coi họ là người giúp
ta tự rèn luyện tâm. Sau khi chuyện đã rồi, nhìn lại
cũng là dễ chấp nhận, nhưng ngay lúc ta phải đối mặt với
người đó thì tất cả những tình cảm tiêu cực dấy lên
trong ta: ghét, giận, biện hộ cho thái độ giận ghét của
mình, v..v... Đó đúng là lúc ta cần phải sử dụng tình
thương của mình. Đúng khi ta đang sân si.
Đừng bỏ lỡ những cơ hội đó. Hãy mang tình thương
đến với mọi người, dù là người ta ghét hay ta thương.
Mỗi người ta tiếp xúc đều đem lại cho ta những cơ hội
để học tập, thực hành lòng Từ, bất kể người đó là
ai. Không kể họ nói gì, không cần họ có quan tâm đến
bạn hay không, hay chính họ có lòng từ hay không. Không
có gì đáng kể. Cái đáng kể là những gì đang xảy
ra trong lòng bạn, và đó là điều duy nhất bạn cần nhớ
tới. “Nếu trong lòng tôi chỉ có tình thương, lòng
thương xót, chấp nhận; nếu tôi có thể dẹp bỏ sân si trong
lòng, thì tôi đã đi được những bước đến gần hơn với
đạo Pháp”. Giáo lý Đức Phật dạy cần phải được
hiểu thấu đáo, rồi đem áp dụng, thể hiện chúng trong cuộc
sống của chúng ta.
Ai cũng có cơ hội để sửa đổi các cách ứng xử của mình
với người khác. Chúng ta luôn tiếp xúc, trao đổi với
người khác, và lúc nào cũng sẽ có người không đồng ý
với chúng ta. Khi đó nếu chúng ta làm thinh, không thèm
trã lời, thì đó không phải là phản ứng của lòng Từ.
Trái lại nó chỉ đem lại sân hận, bất mãn, lo âu, rồi
dẫn đến bất cần, lạnh nhạt. Tất cả những thứ
đó không ích lợi gì và cũng chẳng giúp chúng ta thanh tịnh
được. Chỉ khi nào ta có thể hành xử với trái tim
đầy tình thương, ta mới tìm thấy được sự an lạc, bình
an với chính mình.
Phật đã nói về 11 điều lợi ích của lòng Từ. Ba
điều đầu tiên là: “Ngủ ngon, không ác mộng và tĩnh
giấc sảng khoái”. Nếu ai bị mất ngủ, bạn có thể
đoán là ít nhiều họ đã thiếu lòng từ, và thuốc ngủ
khó thể chữa được bịnh cho họ. Nhưng lòng Từ có
thể giúp họ dễ ngủ. Và vì tiềm thức không có gì
bứt rứt nên không có ác mộng, không ác mộng thì thức dậy
cũng sảng khoái như khi họ lên giường ngủ, đó chính là
nhờ họ có lòng từ, lòng nhân ái đối với tất cả mọi
người.
Một cách ứng dụng là trước khi đi ngủ, chúng ta thử làm
một bảng cân đối (balance sheet) -bằng ý nghĩ hay viết
xuống trên giấy. Chia tờ giấy làm hai cột: Hôm nay tôi
đối xử tử tế với người khác được bao nhiêu lần? Cột
bên kia ghi: Bao nhiêu lần tôi cảm thấy giận dữ, đau
đớn, sợ hãi, bức rức khi đối đầu với người khác?
Rồi cộng lại hai cột. Nếu cột tiêu cực nhiều hơn
tích cực, thì ta cần phải tu sửa. Giống như người
bán hàng kiểm tra hàng hoá của mình, những món hàng không
ai mua, tất nhiên phải đem trả lại.
Đó là phương cách tập luyện. Không có gì là bẩm sinh,
dù tánh xấu, hay tánh tốt. Ta phải luôn luôn huân tập
sửa đổi bản thân cho đến khi tất cả những ô uế ở
thân tâm đều được tẩy sạch. Nhưng không phải vì nhờ
ai cũng tốt. Không. Nếu ai cũng tốt, mọi người đều
đang ở cõi Trời hết cả rồi. Đâu phải có mặt ở
đây làm gì. Đây là cõi thứ năm tính từ dưới lên trong
31 cõi. Thữ nghĩ xem, chúng ta đang ở cõi thứ năm trong
ba mươi mốt cõi, cũng khó thể mong đợi gì hơn ở con người
trong cõi ấy?
Chúng ta có rất nhiều điều phải học trong cõi nầy, và
có lẻ mục đích của cõi nầy chính là thế, để con người
có cơ hội rèn luyện mình thêm. Không phải để chúng
ta tìm kiếm sự thoả mái, tiền bạc, của cải, sở hữu.
Cuộc đời chính là một trường học, đây là bài học quan
trọng nhất, bài học để giúp trái tim ta thêm bao la.
Không thể có bài học nào quan trọng hơn. Giống như
trong một khu vườn, khi cỏ dại mọc quanh một khóm hoa hồng.
Thì bao nhiêu phân bón cho hoa hồng đều vô ích, hồng sẽ
không thể ra hoa, con người sẽ chẳng được ngữi mùi hương
của hoa. Dần dần cỏ dại sẽ phủ trùm lên hoa.
Trái tim ta cũng thế. Khóm hoa hồng là lòng Từ đang được
ươm trồng. Nếu chúng ta không nhổ cỏ dại để cây
được ra hoa, tỏa hương thì dần dần cây hoa Từ cũng tàn
lụi. Cỏ dại chính là lòng sân si của chúng ta.
Phần đông chúng ta đều đi tìm người yêu thương mình.
Cũng có người tìm được một đôi kẻ yêu thương họ và
họ có thể thương trả lại. Nhưng có biết bao kẻ xấu
số khác không thể tìm được ai. Họ trở nên cay đằng,
hờn tủi. Trong khi mọi việc đáng lý phải là ngược
lại. Vì nếu chúng ta là người đầy lòng thương đối
với mọi người thì sẽ có bao nhiêu người đến với chúng
ta, vì có ai mà không muốn được yêu thương. Được
người khác thương yêu không có nghĩa là ta cũng đầy tình
thương. Chính kẻ yêu ta mới có tình cảm thương yêu.
Trong khi có thể ta chẳng có cảm giác gì cả, ngoài lòng thỏa
mãn là đã có người thấy ta dễ thương. Điều đó chỉ
làm cái Tôi của chúng ta thêm lớn. Trong khi yêu
thương người khác thì cái Tôi của ta nhỏ bé lại.
Tình thương của ta càng bao la, ta càng có thể yêu thương
nhiều người, cũng như được nhiều người yêu thương lại.
Càng cho bao nhiêu, thì ta lại càng đưọc bấy nhiêu.
Đó là phép tính cân đối đơn giản nhưng ít có ai thấy
ra điều đó. Ai cũng đi kiếm thêm người yêu mình, nhưng
không muốn ban phát tình thương cho ai cả. Điều đó
thật không tưỡng. Thật nghịch lý, nhung trong đời sống
của ta có biết bao điều nghịch lý.
Đây cũng là điều Đức Phật đã nói trong 11 điều lợi
ích “Ta được con người và muôn loài yêu thương”.
Nếu ta ban phát tình thương đến cho người khác thì tự họ
sẽ tìm đến với ta. Không thiếu người yêu thương
ta. Ta ban phát cho người khác tình thương không phải
vì ta muốn cho, không phải vì họ cần, không phải vì họ
đáng để cho, nhưng vì trái tim ta đã được rèn luyện để
làm như thế. Giống như người ta được rèn luyện về
toán. Khi những con số được đưa cho họ, họ sẽ tổng
cộng chúng lại nếu họ muốn biết tổng số. Không
có cách gì khác hơn. Cũng thế, nếu trái tim ta đã được
rèn luyện để yêu thương thì nó sẽ yêu thương vô điều
kiện.
Chắc sẽ có người lên tiếng phản đối rằng: “Nếu
người khác cộc cằn, thô lổ với mình, mà mình đối xử
với họ đầy tình thương, họ sẽ lợi dụng ta sao?”
Nếu người khác có làm như thế -điều đó có thể xảy
ra lắm, vì bản tính người đời là thế- nhưng đó là nghiệp
ác của họ có phải không? Trong khi người tử tế không
có gì để mất cả. Làm sao bạn có thể mất được
tình thương vẫn đầy ấp trong tim mình? Nếu có bị
lợi dụng, thì đó cũng là cơ hội để ta thử kiểm chứng
lại trái tim mình xem nó đã được tôi luyện đến bực nào
-xem chính mình có trở nên hờn giận hay vẫn có thể
tiếp tục đối xữ tốt với kẻ xấu đó. Là dịp để
ta xét soi mình có hành động đúng không? Trong tình thương
có cả sự quan tâm đến người khác. Do đó một kẻ
lợi dụng không thể có tình thương. Không nên sợ tình
thương làm mình có vẻ yếu đuối, vì tình thương yêu thật
sự chỉ làm con người trở nên mạnh mẽ hơn, không
phải yếu đuối. Một người không có gì ngoài tình
cảm thương yêu sẽ luôn cảm thấy an ổn, hòan tòan tự tin
vì người đó biết rằng không có gì có thể lay chuyển được
tình cảm của họ. Tình thương vô điều kiện tăng thêm
sức mạnh cho con người, không phải sự yếu đuối.
Nhưng nếu tình thương đi đôi với đam mê như người ta vẫn
thường mê lầm, thì tình thương lúc đó sẽ làm con người
yếu đuối, vì họ trở nên bám víu, ích kỷ. Trong khi
nếu tình thương đến từ trái tim thì tình cảm đó vũng
bền hơn đá.
Một điều lợi ích khác của lòng Từ là nó giúp ta dễ nhiếp
tâm. Đó là lý do tại sao ta nên bắt đầu một buổi
ngồi thiền với những ý tưởng tốt đẹp về chính mình.
Tâm không thể trụ nếu không có ba điều căn bản: sự rộng
lương, đạo đức và lòng từ. Đó là ba cột trụ của
thiền, giúp ta thực tập thiền. Lòng Từ, phát xuất
từ trái tim, không thể thiếu khi ta ngồi thiền vì tình cảm
ấy đem lại cho ta sự bình an, tĩnh lặng trong tâm. Nếu
thiếu điều đó, ta cần thực tập chú tâm vào Từ tâm trước
mỗi buổi ngồi thiền để pháp triển lòng Từ trong ta.
Ta không thể thương yêu người khác nếu trước tiên ta không
biết yêu thương chính mình. Nhưng không phải bằng cách
phụng sự nó. Tìm đủ cách để cho nó được êm ấm,
thoải mái, không được có một con muổi ở bên cạnh,
đầy đủ thức ăn mà ta ưa thích. Đó không phải là
thương yêu mà là phục dịch. Giống như tình thương
của người mẹ dành cho con của mình phải sáng suốt.
Nếu người mẹ chỉ biết cưng chiều đứa trẻ, thì nó và
cả mẹ nó sẽ phải trả giá cho sự cưng chiều đó.
Nhưng nếu người mẹ yêu thương con thật sự, bà sẽ không
nuông chiều nó thái quá. Bà sẽ dạy con với lòng thương
và trí sáng suốt, uốn nắn tánh tính nó. Đó chính là
điều ta phải làm đối với bản thân ta. Vì thương
chính mình, ta phải bắt mình tuân theo một số điều lệ
hành động. Thực hành thiền là một cách thương
yêu mình.
Mức độ định tĩnh mà ta có thể đạt được trong lúc tọa
thiền tùy thuộc vào lòng Từ trong ta. Đồng thời cũng
tùy thuộc vào sự thực tập. Nếu thiếu thực tập,
lòng Từ khó thể giúp cho chúng ta đạt được định.
“Da dẻ hồng hào”. Có nghĩa là trên gương mặt ta
biểu lộ sự an bình. Không có thứ thuốc sửa sắc đẹp
nào có thể sánh kịp. Đó là nét đẹp từ bên
trong. Người trẻ tuổi có thể chỉ có cái đẹp bề
ngoài, nhưng trống rỗng bên trong. Nếu quan sát, người
ta cũng dễ dàng nhận được vẻ đẹp toát ra bên trong.
Phật thường được tả như thế. Có người chỉ cần
nhìn thấy Phật một lần, đi trên đường là đã phát sinh
lòng kính yêu Ngài, muốn được theo Ngài để trở thành đệ
tử của Ngài. Có lần Rahula, con trai của Ngài, tỏ ra
hãnh diện vì được giống Ngài. Phật liền quở dạy:
“Phải coi tất cả hình tướng bề ngoài như thế nầy: Đây
không phải là của tôi, không phải là tôi, tất cả chỉ
là giả tướng”.
Một điều lợi ích nữa của Từ tâm là “Lửa, thuốc độc,
làn tên không thể hại tới ta”. Ngày nay người ta không
dùng tên nữa mà dùng súng đạn, dùi cui; còn lữa và thuốc
độc muôn thưở vẫn là những thứ dùng để tấn công.
Nói thế không có nghĩa là ta trở nên bất khả xâm phạm,
nhưng những người đầy từ tâm hiếm khi rơi vào những hoàn
cảnh đó. Và dù có lâm vào những hoàn cảnh như thế,
lòng họ cũng không hề bị xao xuyến. Của cải họ có
thể bị hao hụt, nhưng trái tim của họ thì không. Trái
tim không thể bị khuất phục khi trái tim chỉ có tình thương,
không còn lòng hờn ghét.
“Ta sẽ được chết bình an”. Tất cả chúng ta ai rồi
cũng chết. Giờ phút lìa khỏi đời rất quan trọng,
vì đó chính là giây phút của tái sinh, đúng ra đó là ngày
sinh nhật. Nhưng ta thường nói về cái chết với sự
đau buồn, mất mát. Thực ra nếu ta có thể đón chờ
cái chết với tỉnh giác, với từ tâm thì đó chính là ngày
sinh tốt đẹp của ta. Tất cả đều không khác, trừ
khi bạn là một A-la-hán. Thói quen suy tưỡng, xúc cảm
hằng ngày sẽ theo ta đến tận cuối đời, giây phút lâm
chung. Các thói quen đó không thể thay đổi đột ngột.
Vì thế nếu các thói quen đó xuất phát từ lòng Từ, thì
ta sẽ rất tỉnh thức, không thấy sợ hãi, lòng đầy bình
an và vững niềm tin. Giây phút lìa đời phải là giây
phút tốt đẹp vì đó là bước khởi đầu của sự tái sinh.
Lòng Từ nuôi dưỡng trong tâm sẽ đem lại lợi ích cho chính
chúng ta. Ai đó đã nói rất đúng. Từ tâm chính
là lòng thương yêu chính mình. Đúng thế. Nhưng
tình thương nầy không phải là tình thương tầm thường ích
kỷ, mà nó là bàn đạp để đưa chúng ta đến cái đích
cuối cùng: Vô Ngã. Thật thế khi trái tim ta càng có nhiều
lòng từ, ta càng như thể không còn nghĩ đến chính bản thân
mình, đến cái Tôi của mình. Và khi cái Tôi trở nên
nhỏ bé hơn, thì tình thương yêu càng dễ phát triển hơn.
Khi ta nghĩ đến người khác nhiều hơn, thì Ngã phải nhường
chỗ cho họ trong trái tim. Dĩ nhiên họ là người được
lợi nhưng đó chỉ là thứ yếu. Chỉ có ta mới có thể
tự giải thoát cho chính mình. Ai cũng phải ra đi một
mình. Nhưng nếu có những người bạn đồng hành cùng
muốn đi theo con đường của ta, thì ta cũng mở rộng vòng
tay đón mời họ, vì con đường, chuyến xe nầy hãy còn vằng
vẻ làm sao.
2.
BI
Người bạn thứ hai là Bi. Đối nghịch với Bi là sự
ác độc. Đừng lầm Bi với lòng thương hại. Lòng
thương hại dấy khởi khi ta cảm thấy tội nghiệp cho ai đó.
Bi là khi chúng ta chia sẻ lòng xót thương với họ. Bi
là cùng cảm thông với một người khác.
Bi phát sinh khi ta cảm nhận được sự đau khổ, không
như ý của người khác trong chính bản thân ta. Chỉ có
như thế ta mới thực sự cảm thông được với người khác.
Nếu không, ta sẽ tiếp tục sống với ảo tưỡng là đối
với ta, mọi việc đều bình thường, chỉ có người khác
là có vấn đề, là đau khổ. Nếu ta có thể nhận diện
được tất cả những trạng thái bất như ý dồn dập xảy
ra trong ta - sự không ưa thích và chán ghét, hối hận và hờn
trách, sợ hãi và lo lắng, căng thẳng - thì ta hiểu rằng
tất cả chúng ta đều cùng một số phận. Để khi người
khác gặp chuyện khó khăn, ta có thể thông cảm với họ,
vì ta biết rằng chính mình cũng có khổ đau.
Sự cảm thông (Bi) là bước đầu dẫn đến tình thương.
Nếu ta có thể thực sự dấy lên trong lòng một cảm xúc
chân thành cho ai đó, cảm thông sâu sắc nỗikhó khăn của
họ, những gì họ phải hứng chịu, thì sự thương cảm đối
với họ cũng tự nhiên đến trong lòng ta.
Tuy nhiên, ta không nên có sự phân biệt giữa người nầy,
kẻ kia theo thói thường tình. Thường chúng ta dễ cảm
thông với những người có liên hệ gì đó với ta. Như
người đồng tôn giáo, cùng nhóm bạn, đồng quê hương, láng
giềng hay gì gì đó mà ta cũng quan tâm đến. Một cái
gì đó để ta có thể nói ‘của tôi’, thì ta chọn lựa
cái đó. Sự lựa chọn nầy đẩy con người ra xa nhau,
và dầu họ đi đến đâu trên thế giới nầy, tinh thần chia
rẽ cũng đi theo đến đó, khiến con người xâu xé nhau.
Sự chia rẽ nầy do quan niệm chấp ‘Ngã’ mà ra. Đây
là cái Tôi, tôi phải bảo vệ cái Tôi của mình. Cái
Tôi bị đe doạ. Cái Tôi thường xuyên cảm thấy bị
đe dọa, đến nổi ‘Tôi’ cũng không biết rõ về mình.
Không thật sự biết ‘cái Tôi’ nầy là gì. Tất cả
cái ta biết là sự đe dọa đến cái Tôi, làm tôi sợ hãi.
Nơi nào có sự sợ hãi, nơi đó không có cảm thông (bi) vì
sợ hãi xuất phát từ sân hận. Chúng ta chỉ sợ những
gì ta ghét. Những gì ta ưa thích, ta không sợ. Trái
tim nào càng có nhiều sự sợ hãi, trái tim đó càng ít có
sự đồng cảm (bi). Sợ hãi luôn núp dưới bóng của
‘Ngã’. Một vì A-la-hán hòan toàn không có sự sợ
hãi. Không có sự sợ hãi ở ngươì đã giác ngộ.
Không có sự sợ hãi, vì không có gì để được hay mất.
Tất cả đều trở thành tầm thường, không đáng kể.
Càng nhiều Ngã chấp, sự sợ hãi càng tăng. Sợ bóng
tối, sợ trộm cướp, sợ thời tiết xấu, sợ tương lai,
đủ thứ sợ. Sự sợ hãi xuất phát từ lòng muốn bảo
vệ ‘cái Tôi’ giả tạo. Và càng muốn bảo vệ cái
Tôi bao nhiêu, lòng cảm thông (bi) càng bị giới hạn.
Tuy nhiên sự cảm thông dễ trở thành những lời nói ở đầu
môi. Có thể ta không thật lòng. Phần lớn chúng
ta đều rất giỏi ‘đóng kịch’. Một lần Pessa, con
của người dạy voi, đến gặp Phật và nói với Ngài: “Con
chẳng gặp khó khăn gì với lũ voi. Hình như chúng ‘nghĩ
sao, làm vậy. Khi chúng có một ý định gì đó, con hiểu
ngay, và chúng làm đúng theo ý định đó. Nhưng sao con
người khó hiểu quá. Họ nói một đường và làm một
nẻo”. Phật nói: “Đúng vậy. Voi sống trong rừng
cây, còn con người thì sống trong ‘rừng’ tâm tưỡng”.
Con người nói một điều, nhưng ý nghĩ, hành động lại khác.
Tệ hại hơn nữa, là ta không hề ý thức chuyện đó là không
tốt. Ta tưỡng đó là việc phải làm. Là luật
ứng xữ, phong tục, truyền thống, nên chúng ta không xét lại
kỹ lưỡng ý tứ, lời nói và hành động của mình.
Chỉ khi nào ta soi lại mình một cách thấu đáo, với lòng
thiết tha, thành khẩn, ta mới có thể thật sự hiểu được
những điều Phật dạy. Phật đã giảng nghĩa rõ ràng
về bản tánh của chúng ta. Ngoài mặt, tất cả chúng
ta đều như khác nhau, nhưng bên trong tất cả đều giống
nhau. Chúng ta giống như từ một khuôn ra, chạy đuổi
theo cùng thứ, đi theo cùng con đường. Sự khác nhau chúng
ta thấy chỉ là giả tạo, tùy thuộc vào cái nhìn của
bản Ngã.
Tất cả những người có ý thức đều than phiền về chiến
tranh giữa các quốc gia. Ai cũng muốn nhìn thấy thế
giới được hòa bình. Dĩ nhiên là điều đó không thể
có. Ở thế kỷ nầy hình như lúc nào cũng có chiến
tranh ở nơi nầy, nơi khác. Các xứ sở đua nhau thành
lập những hàng phòng thủ kiên cố, đổ vào đó bao nhiêu
là năng lực, tiền bạc và con người. Chính các hệ
thống phòng thủ nầy biến thành hệ thống tấn công ngay
lập tức nếu như có ai tuyên bố lời nào không thân thiện
hay hơi có vẻ đụng chạm đến không phận hay hải phận
của họ. Hành động nầy được giải thích, biện hộ
bằng “Chúng ta phải bảo bệ biên giới của mình, để bảo
vệ dân cư ở đó”. Việc bãi bỏ vũ khí chỉ là ước
vọng, một lời cầu nguyện, không phải là thực tế.
Tại vì sao? Vì việc bãi bỏ vũ khí phải bắt đầu
từ trái tim của mọi người, nếu không việc bãi bỏ vũ
khí đại trà sẽ không thể nào xảy ra.
Việc phòng thủ và tấn công nói rộng ra luôn xảy ra trong
chính mỗi chúng ta. Chúng ta không ngừng bảo vệ cái
Tôi của mình. Nếu ai đó nhìn chúng ta một cách không
thân thiện, hoặc tỏ ra không biết ơn, không thương yêu ta
giống như ta mong muốn, hay trách cứ chúng ta điều gì, thì
sự phòng thủ đó biến thành sự tấn công. Lý luận
rằng ta phải bảo vệ người nầy, “xứ sở” nọ, là bảo
vệ ‘cái Tôi’, để bảo vệ dân cư, là bảo vệ cái Ngã
của mình. Vì hầu hết mọi người đếu hành động
như thế, nên các quốc gia cũng làm như thế. Không
thể hy vọng có sự thay đổi xảy ra trừ khi mỗi cá nhân
biết tự sửa đổi. Do đó, mỗi người chúng ta phải
tự phấn đấu để tìm hòa bình cho chính nội tâm mình.
Điều đó có thể xảy ra nếu mỗi ‘cái Tôi’ có thể thu
nhỏ lại bớt, và vấn đề Ngã chấp chỉ có thể giảm thiểu
khi chúng ta có thể thật lòng soi rọi lại mình.
Một cách để làm việc đó là đặt tên cho các tư tưởng
của mình (labelling). Có thế ta mới khám phá ra các tư
tưởng xấu của mình, từ đó bớt quan trọng hóa mình, hay
tư tưởng của mình. Đó là hành Thiền.
Một cách khác để soi mình cặn kẻ là biết chấp nhận sự
thật khi trong ta dấy lên những tư tưởng xấu và không thể
đè nén chúng. Phải nhận ra rằng con người luôn khao
khát thỗ mãn các ngũ dục. Sự thành thật cặn kẻ nầy
giúp cho cái Tôi của chúng ta bớt trương phồng lên.
Khi ta làm được như thế, lòng cảm thông (bi) trở nên là
một hiện thực -lòng cảm thông chân thật, không chỉ là
lời nói đầu môi. Nói thì dễ thôi, ai cũng làm được
điều đó. Từ 6 tuổi trở lên là đã có thể học thuộc
lòng bài thiền quán về lòng Từ. Những lời nầy rất hay,
nhưng thực sự chúng giúp đuợc gì cho ta? Sự lập đi
lập lại những lời nầy khiến ta đánh mất xúc cảm ban
đầu, trong khi ta sống tùy thuộc vào xúc cảm của mình.
Đừng hiểu lầm rằng ta sống theo lý trí. Sự thật
là mọi việc bắt đầu bằng xúc cảm, rồi phát sinh ra hành
động. Sau cùng tiến trình tư tưởng mới xuất hiện
để lý giải cho hành động của mình.
Hiểu được cảm xúc của mình là một điều tối quan trọng.
Đó là điều cơ bản. Làm sao chúng ta ‘tri thức’,
biết thế nào là tình thương, lòng cảm thông nếu chúng ta
không có những xúc cảm đó? Chúng ta có thể biết về
chúng, nhưng làm sao thể hiện chúng, nếu ta không có xúc cảm
đó? Giải thoát không phải là một ‘tri thức’, nó
là một cảm xúc.
Lòng cảm thông (bi) là một tình cảm xuất phát từ trái tim,
không cần có lý do hay điều kiện gì đặc biệt. Ta
không cần phải đợi một dịp nào để cảm nhận được
rằng ai đó đang phải đối mặt với một bi kịch trong đời
hay cơ thể họ đang làm họ đau đớn. Nếu lòng cảm
thông của ta phải được kích thích, gọi mời, thì lòng cảm
thông không phải luôn luôn có mặt trong tim ta, mà lúc có lúc
không, nhưng phần nhiều là không. Đó không phải là
một trái tim đầy cảm xúc. Một trái tim đầy cảm xúc
-cũng giống như một trái tim đầy tình thương -luôn đầy
thương cảm vì biết rằng ai cũng có nỗi khổ. Sự đau
khổ đã được nhắc đến trong đế đầu tiên của tứ đế
(khổ đế) của Phật pháp. Không có ai thoát khỏi sự
đau khổ vì cuộc đời -sự hiện hữu của ta- chính là sự
khổ đau. Nhưng nó không phải là bi kịch. Nó chỉ
có nghĩa là vạn pháp trên đời đều ẩn chứa trong đó sự
xung đột, bất như ý, bực dọc, lòng mong muốn được có
nhiều hơn, muốn không bị mất mát, thay đổi hay hoại diệt.
Trừ các vị A-la-hán, bản tánh con người không phải dễ
dàng buông xả. Vì thế lòng cảm thông (bi) cần luôn
có mặt, không đợi đến khi người khác bị cảnh long đong.
Nếu quá chấp Ngã, người ta khó thể cảm thông với người
khác. Chấp Ngã là nguồn gốc của bao vấn đề giữa
con người với nhau. Vì nếu ai cũng bận rộn lo cho cái
Tôi của mình, thì làm sao còn cảm xúc cho người khác.
Thường người quan tâm đến kẻ khác bị coi là cá biệt,
không giống ai. Thật đáng tiếc vì chính người
có lòng thương, và cảm thông đối với người khác mới
thật là người hạnh phúc. Tuy nhiên phần lớn chúng
ta thiếu lòng từ bi. Hạnh phúc thực sự khó tìm
thấy ở mọi nơi. Trong khi chính hai tình cảm nầy (từ
và bi) đem lại cho ta niềm vui, vì chúng giúp ta bớt nghĩ đến
cái Tôi của mình, bớt chấp Ngã. Người mà quá chấp
Ngã, không thể có niềm vui vì họ không bao giờ mãn nguyện
trong việc thỏa mãn cái Tôi của mình. Không bao giờ
ta có thể giải quyết hết những vấn đề của mình.
Vì hết điều nầy thì đã có điều khác dấy lên. Nhưng
khi ta buông bỏ nó, mà hướng tất cả chú tâm vào sự không
toại nguyện, đau khổ mà mọi chúng sinh đều phải đối
mặt, ta sẽ nhận ra được cái khổ của tất cả nhân loại,
lúc đó những nỗi niềm riêng của chúng ta trở thành quá
nhỏ mọn, không đáng kể. Nỗiđau của ta chỉ là một
phần của sự hiện hữu chung. Lúc đó lòng cảm thương cho
chính mình và cho tha nhân sẽ phát sinh. Và quyết tâm
để tận diệt mọi khổ đau sẽ được thêm sức mạnh cần
thiết để làm điều đó.
3.
HỈ
Người bạn kế tiếp trong bốn người bạn của ta là sự
biết chia sẻ niềm vui với người khác hay là hỉ. Đối
nghịch với hỉ là lòng ganh tỵ. Chớ lầm hỉ với sự
đãi bôi, giả đạo đức, nói một điều mà nghĩ một điều.
Thí dụ, nếu có ai được may mắn gì đó, ta phải chúc mừng,
nhưng trong lòng không có tình cảm đó, hay tệ hại hơn nói
một điều mà nghĩ một điều khác. Giống như là “Sao
tôi không là người may mắn đó? Sao lúc nào cũng là
người khác?”.
Chia sẻ niềm vui với người khác là liều thuốc nhiệm mầu
chữa bịnh trầm cảm. Ai đang vướng chứng bịnh nầy
là vì họ không biết chia sẻ niềm vui với kẻ khác, họ
thiếu hỉ tính. Trong cuộc đời ta không có nhiều dịp để
mãn nguyện, vui mừng, nhưng nếu ta biết chia sẻ niềm vui
của kẻ khác thì chắc chắn là ta sẽ có nhiều cơ hội để
hạnh phúc hơn.
Ta có thể chia sẻ niềm vui với những người có khả năng.
Nhiều người khó chấp nhận sự tài giỏi của người khác.
Họ sẽ miễn cưỡng nói rằng: “Ừ, cho là người đó có
thể làm được như vậy đi, nhưng mà...” và lập tức chê
bai thay vì chia sẻ niềm vui với người tài giỏi hơn mình.
Người khác có thể làm bao nhiêu việc giỏi hơn ta. Người
biết hát, người biết vẽ, biết nhảy, biết phiên dịch,
người có thể làm ra tiền, người có thể sống không cần
đến nó. Mọi người đều có một khả năng gì đó.
Ta sẽ có biết bao niềm vui nếu biết chia sẻ với họ.
Chia sẻ niềm vui với người khác cũng là một cách tạo nghiệp
lành. Tôi đã ở một làng nhỏ nơi có phong tục là khi
có chuyện gì vui trong làng, người ta lại ra chùa đánh chuông
báo với mọi người. Được mùa, gả vợ gả chồng
cho con, xuất viện, làm ăn tốt, sửa được nhà... bất cứ
điều gì có thể làm cho người ta vui mừng. Khi tiếng
chuông vang lên, mọi người đều nhìn ra hướng đó mà nói
lời chúc mừng. Người đánh chuông đã tạo nghiệp lành
bằng cách làm cho mọi người có thể chia sẻ niềm vui với
mình. Những người kia cũng tạo được nghiệp lành vì
đã chia sẻ niềm vui với người khác.
Nhiều nơi khác không có phong tục đó. Ta phải tự rung
tiếng chuông hoan hỉ trong lòng mình. Đó là một điều
rất quan trọng để nhớ, phải nhớ những điều Phật dạy
trong mọi hoàn cảnh, để thực hành chúng. Không phải
chỉ nhớ trong một hoàn cảnh nào đó, hay khi có tai biến,
nhưng phải luôn luôn nhớ đến chúng vì đó là bí quyết
để sống một cuộc đời hạnh phúc và bình an. Phật
đã nói: “Ta chỉ dạy một điều, là đau khổ, và đọan
diệt khổ”. Phật đã đại nguyện thệ như thế và
đã thực hiện được những điều đó. Đó là Phật
pháp - đoạn diệt khổ. Ta phải luôn nhớ chấp Ngã là
nguồn gốc của mọi vấn đề và cố gắng sửa đổi, nếu
không là ta đã quên lời Phật dạy. Những lời đó phải
thường trú trong tâm trí chúng ta vì lợi ích của chúng không
chỉ là lợi ích nhất thời.
4.
Xả
Người bạn cuối cùng của chúng ta là lòng an nhiên tự tại
(xả), một trong những tình cảm cao thượng nhất. Đối
nghịch với nó là sự lo lắng, bồn chồn. Nhưng chớ
lầm xả với sự thờ ơ, lãng đạm. Thờ ơ là trạng
thái tâm hồn nói rằng “Tôi chẳng quan tâm khi việc đó
chẳng xảy ra cho tôi hay gia đình tôi. Tôi không muốn
biết chuyện đó. Tôi không muốn phải bận tâm vì nó”.
Sự thờ ơ là thái độ lạnh nhạt, xa lánh. Thái độ
đó không dung chứa tình thương, lòng từ. Ta chỉ muốn
bảo vệ riêng cho mình, vì thế, ta trở nên thờ ơ, lãnh đạm.
Trong khi xả, hay sự bình an tự tại dựa trên trí tuệ, dựa
trên sự hiểu biết rằng mọi sự vật đều thay đổi, đều
hòan toàn vô thường. Dầu chuyện gì xảy ra, rồi nó
cũng qua đi. Cái gì sẽ xảy đến cũng chẳng quan trọng
gì. Cánh cửa đưa đến bất tử qua vô thường là cánh
cửa không tên, có nghĩa là không có gì quan trọng cả.
Trong cả vũ trụ nầy, không có gì quan trọng cả trừ sự
giải thoát. Vì vậy, sự thanh thản, an nhiên (xả) phải
xuất phát từ ý thức nội tâm rằng tất cả mọi vật
đều thay đổi, dù cho chuyện gì đã xảy ra, tốt hay xấu,
cũng không làm ta vui mừng hay buồn bã. Nó chỉ xảy ra.
Chúng ta chỉ có mặt ở nơi nầy trong 60, 70 hay 80 năm.
Vậy tất cả những lo lắng, chộn rộn là cho cái gì?
Có gì để nắm giữ? Có gì để mong cầu? Sự việc
chỉ xảy ra.
Vì muốn bảo vệ cái Tôi mà ta không có tâm xả, hoàn toàn
an nhiên tự tại. Chúng ta sợ rằng “Tôi có thể bị
nguy hiểm, việc nầy việc nọ sắp ảnh hưởng tới ‘tôi’,
nên cuộc sống ta không yên ổn”. Sự yên ổn mà mọi
người theo đuổi chỉ là viển vong. Aûo tưỡng.
Không có sự yên ổn thật sự. Ai cũng phải đối mặt
với cái chết. Tất cả những gì chúng ta sở hữu đều
sẽ bị hủy diệt. Tất cả những người thương của
ta đều sẽ chết, hoại diệt, bịnh hoạn, bỏ rơi ta, thay
đổi tình cảm. . . .
Không có gì có thể yên ổn trong những điều kiện như thế.
Sự xáo trộn, không an ổn phát sinh khi những việc không như
ý xảy ra, là do ta ảo tưỡng rằng ta đã đánh mất cái gì
đó rất quan trọng cho sự sống còn của mình. Hành động
như thế là để bảo vệ cái Tôi của mình. Nhưng
ngay chính sự sống còn của chúng ta cũng là ảo tưỡng vì
có gì để bảo đảm rằng chúng ta sẽ luôn khỏe mạnh, luôn
an toàn, bảo đảm.
Để có được tâm xả không chỉ có quyết tâm muốn an nhiên
tự tại là đủ. Quyết tâm là cần thiết, nhưng nó
dễ đưa đến sự dồn nén. Chúng ta thường đè nén
những tình cảm mãnh liệt của mình. Làm vậy cũng chẳng
có ích lợi gì, vì lần lần những dồn nén cũng bị nổ
tung. Ta dồn nén thứ nầy thì nó cũng phát ra thứ khác.
Dồn nén có thể dẫn đến bịnh hoạn, trầm uất. Nếu
ta không bị xáo trộn vì việc nầy thì cũng sẽ bị xáo trộn
về việc khác.
Sự an nhiên, hay tâm xả cần xuất phát từ bên trong.
Khi được ươm trồng tốt, tâm xả là một trong những bảy
yếu tố dẫn đến giác ngộ. Chỉ có các đấng Giác
Ngộ mới có được tâm buông xả vô lượng. Nhưng nếu
chúng ta không bắt đầu thực hành tâm buông xả ngay từ bây
giờ, thì đến lúc nào ta mới tiến hơn, trưỡng thành hơn?
Qua thiền định, ta có thể bắt đầu thấy được sự
chộn rộn, thay đổi luôn luôn của tâm. Có ai nhớ được
mình nghĩ gì trong 10 phút trước đây không? Trong kỳ
ngồi thiền trước? Hay lần trước đó nữa? Tuyệt
nhiên không. Ta không nhớ gì cả. Không giữ lại
được ý nghĩ gì. Tất cả là thoáng chốc. Không
phải vì ta đã có căn nhà hay người thân nào đó bên cạnh
mình suốt ba mươi mấy năm nay mà ta nghĩ rằng ta có thể
giữ họ mãi bên mình. Chỉ vì những thứ ấy đã ở
bên ta một thời gian dài, ta tưỡng như các thứ ấy là vĩnh
cữu. Nhưng những khi ngồi thiền ta có thể thấy là
các tư tưởng của ta đến rồi đi, không bao giờ ở lại
với ta. Do đó có gì đâu để lo phiền nếu như mọi vật
đều thay đổi. Luôn đến, rồi đi.
Lúc nào còn những chộn rộn đó là còn có một con người
đằng sau đó. Trái tim còn nhịp thở, máu còn luân, tư
tưởng, tình cảm còn thay đổi, các tế bào còn sinh diệt,
thì ta còn sống. Khi tất cả ngưng lại, ta chỉ còn là
một cái xác. Tất cả những thay đổi, bất ổn định
chính là sự sống, vậy mà ta cứ cố làm cho mọi thứ vĩnh
viễn, không thay đổi. Ta muốn chúng bất di dịch.
Đây là Tôi, và tôi muốn tất cả đều biết như thế.
Tôi có một cái tên và có một số người, một số của
cải thuộc về tôi Tôi có những quan điểm và tôi
muốn tất cả mọi người đều biết nha”thế”. Đó
là sự gán ghép tính cách vĩnh viễn vào một con người.
Tuy nhiên khi còn là con người, còn có những thay đổi, đểø
cuối cùng nó sẽ biến đổi thành một xác chết. Lúc
đó thì ta có thể bắt đầu lại tất cả.
Để có được tâm xả, lòng thanh thản ta còn phải có những
tánh tốt cơ bản khác. Như sự chấp nhận, chịu đựng.
Nếu không biết chấp nhận, ta sẽ sinh ra khổ đau chính vì
sự phản kháng của mình. Đối nghịch vời chấp nhận
là phản kháng, chống đối, và làm như thế chỉ mang lại
đau khổ. Như khi ta đẩy ngược lại với một lực gì
tay ta sẽ đau. Nhưng nếu xuôi theo nó thì sẽ không đau.
Chấp nhận sự việc như nó xảy ra sẽ đem lại thanh thản,
an nhiên tự tại cho ta, và sự thanh thản đem an lạc lại
cho ta.
Tứ vô lượng tâm hay bốn trạng thái tình cảm vừa nêu trên
(Từ, Bi, Hỉ, Xả) đem lại niềm vui trong lòng ta. Nếu
ta biết vun trồng các tình cảm nầy đến một mức độ nào
đó, ta sẽ cảm thấy tự tại, an bình, thoải mái vì ta nhận
ra rằng cho dù thế giới có đảo điên, nghiêng ngả, ta không
hề bị lay chuyển. Như Phật nói “Tôi không tranh chấp
với thế gian. Chính thế gian tranh chấp với tôi”.
Thật là bình an, thanh thản!