CHƯƠNG
XXXVIII
CUỘC
VẬN ĐỘNG CHỐNG CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM
PHẬT
HỌC VÀ PHẬT GIÁO
Cuộc
vận động năm 1963 của Phật giáo đồ được phát khởi
từ Huế, trung tâm chỉ đạo của Phật giáo miền Trung. Lúc
đó đứng làm lãnh đạo hội Phật Giáo Việt Nam tại Trung
Phần là thiền sư Giác Nhiên, một vị caco tăng 84 tuổi, và
hai vị thiền sư phụ tá: Trí Thủ và Trí Quang.
Thiền
sư Giác Nhiên là đệ tử của thiền sư Tâm Tịnh, và là
sư đệ của thiền sư Giác Tiên, người có công đầu trong
phong trào Phục hưng Phật giáo tại Huế trước đó hai mươi
lăm năm. Ông được cung thỉnh vào chức vụ này trong kỳ
đại hội đồng năm 1957 sau ngày chính quyền ra lệnh không
công nhận ngày lễ Phật Đản là một ngày lễ chính thức
của quốc gia. Biết Phật giáo đang bước tới một gia đoạn
vô cùng khó khăn, ông đã tuyên bố trong một đại hội ngày
10.3.1957 tại chùa Từ Đàm: “Nếu cần, tôi sẽ hy sinh tính
mạng để ủng hộ quý vị trong công việc Phật sự”(163).
Ông ngồi ở chức vị này cho đến khi chế độ sụp đổ.
Thiền sư Trí Quang từ năm 1957, với tư cách phụ tá hội
trưởng, tiếp tục nắm lấy guồng máy điều hành của tổng
trị sự mà ông đã phụ trách từ năm 1954. Chủ định của
ông là thủ tiêu Đạo dụ số 10. một trong những việc làm
đầu tiên của ông là vận động đổi danh xưng hội Việt
Nam Phật Học thành hội Phật Giáo Việt Nam Tại Trung Phần.
Chìa khóa của sự thay đổi là sự khác nhau giữa chữ Phật
học và Phật giáo. Một hội Phật học có thể được chính
quyền cho là mọt tổ chức học Phật chứ không phải là
một giáo hội tôn giáo. Đồng thời ông chuẩn bị các cấp
trị sự tổ chức lễ Phật Dản, nỗ lực làm cho ngày Phật
Đản trở thành, trên hình thức, ngày lễ tôn giáo lớn nhất
ở Việt Nam, dưới con mắt các quan sát viên quốc tế.
Tại
miền Nam, Giáo Hội Tăng Già Nam Việt suy tôn một vị cao tăng
khác là thiền sư Khánh Anh, 62 tuổi, lên ngôi pháp chủ, và
tạp chí Phật Giáo Việt Nam mở đầu cuộc vận động thống
nhất Phật giáo thành một lực lượng nhất trí và đoàn
kết.
Việc
đổi danh xưng của hội Việt Nam Phật Học chưa được bàn
đến và biểu quyết tại hội đồng năm 1957, cho nên thiền
sư Trí Quang đã bị một số phật tử chống đối, các cư
sĩ Lê Văn Định và Tráng Đinh có mặt trong sự chống đối
này. Nhờ có sự phủ dụ của thiền sư Giác Nhiên, sự chống
đối êm dần. Thiền sư Trí Quang đã nhờ thiền sư Mãn Giác
đi du hành tại các tỉnh hội để giải thích thâm ý của
tổng trị sự. Từ đó, hội Phật học được gọi là hội
Phật giáo, và chùa Phật (tức là trụ sở hội) được gọi
là chùa Phật giáo. Thực ra danh xưng “chùa Phật giáo” cũng
ngớ ngẫn như danh xưng “chùa Phật học”.
Thông
minh, nhưng quá nhiều tự tin, thiền sư Trí Quang gặp phải
nhiều trở lực từ nội bộ. Ông đã nhường những trách
vụ chỉ huy cơ quan điều hành của hội cho thiền sư Thiện
Minh trong đại hội đồng năm 1959. thiền sư Thiện Minh trong
đại hội đồng 1959. thiền sư Thiện Minh cũng là người
thông minh xuất chúng, có biệt tài ngoại giao và tổ chức.
Nhận trách vụ tại tổng trị sự ông phú thác Phật sự
tại các tỉnh miền Nam Trung Phần cho các thiền sư Trí Thủ,
Thiện Siêu và Huyền Quang. Nha Trang lúc đó đã trở nên một
trung tâm Phật giáo lớn với sự hiện diện của Phật Học
Viện Hải Đức.
Thiền
sư Thiện Minh với kinh nghiệm thu hập được từ 1948 đến
1959 tại các tỉnh miền Nam Trung Phần, đã thúc đẩy mạnh
việc kiện toàn tổ chức hội Phật Giáo Việt Nam tại Trung
Phần. Đến năm 1962, ông xin tạm nghỉ và thiền sư Trí Quang
được mời trở về trách vụ.
BẢO
VỆ LÁ CỜ NĂM SẮC
Thiền
sư Trí Quang làm việc được hơn một năm thì cuộc tàn sát
tín đồ Phật giáo bằng xe tăng và súng đạn xảy ra trước
đài phát thanh Huế. Nguyên do của cuộc tàn sát là lệnh cấm
treo cờ Phật giáo của chính quyền trước ngày lễ Phật
Đản năm ấy.
Cờ
Phật giáo là một lá cờ ngũ sắc tượng trưng cho năm sức
mạnh gọi là ngũ lực: Tín (lòng tin), Tấn (sự cần mẫn),
Niệm (phép quán niệm), Định (sự tập trung tâm ý) và Tuệ(ánh
sáng giác ngộ). Lá cờ này do một phật tử cư sĩ tên là
Henry Steel Olcott đề nghị tại Tích Lan vào cuối thế kỷ
thứ mười chín và được các nước Phật giáo chấp nhận(164).
Đây là một lá cờ nhiều màu sắc rực rỡ, tươi vui, thường
được phật tử Việt Nam in ra hàng triệu lá trên giấy hoặc
trên vải để tô điểm cho ngày lễ, những ngày hội và những
đám rước Phật giáo. Lệnh loại bỏ ngày Phật Đản 1957
là một trong những động lực thúc đẩy phật tử cương
quyết củng cố kiện toàn tổ chức của họ. Sự biểu diễn
lực lượng của phật tử vào những dịp lễ lớn trước
mắt và quan sát viên quốc tế đã làm ngứa mắt chế độ,
vì hồi đó chính quyền đang vận động với tòa thánh La
Mã để đức giám mục Lê Đình Thục được cất nhắc lên
địa vị Hồng Y. Để đạt tới mục tiêu này chính quyền
phải chứng tỏ cho tòa thánh thấy Việt Nam đang đi rất mau
chóng trên đường Cơ Đốc hóa. Ký giả tờ Informatión Catholiqué
Internationales kể rằng đức tổng giám mục Ngô Đình Thục
đã nói cho ông ta rằng ở Việt Nam có nhiều làng đòi làm
lễ rửa tội tập thể một lần tất cả dân chúng trong làng,
và Giáo Hội không đủ sức cung cấp số người dạy đạo
cho họ…(165). Lá cờ ngũ sắc của Phật giáo, như vậy, là
một trở lực hiển nhiên cho đức tổng giám mục.
Trong
khi đó, lá cờ này đối với phật tử tượng trưng cho con
đường Phật giáo đứng trung lập giữa hai thế lực hận
thù đang tranh chấp trên thế giới. Lá cờ này tượng trưng
cho tôn giáo của họ, cho niềm tin nơi đức từ bi, sự khoan
dung và ước mơ hòa bình. Lá cờ cũng tượng trưng cho khối
các nước Phật giáo không liên kết.
Năm
1963, tại Vĩnh Hội, Sài Gòn có hỏa hoạn lớn, và ngàn gia
đình lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Thiền sư Tịnh
Khiết, hội chủ Tổng Hội Phật giáo Việt Nam, kêu gọi phật
tử toàn quốc “tổ chức lễ Phật Đản một cách tôn nghiêm
như mọi năm, nhưng cố gắng thế nào để ít tốn kém nhất,
nên dành dụm số tiền thu góp được mà cứu trợ nạn nhân
hỏa hoạn”.
Tại
cố đô Huế, lễ Phật Đản được trần thiết bằng những
phương tiện sẵn có: khắp mọi nhà, ở mọi nẻo đường,
đều có treo cờ, treo đèn; ở các công trường thì có hương
án bái vọng và cổng chào kết bằng hoa lá. Vào chiều ngày
7.5.1963, tức là ngày 14 tháng 4 âm lịch(166) mọi công tác
trần thiết và trang hoàng vừa thực hiện xong xuôi thì đúng
vào 5 giờ chiều lực lượng cảnh sát thành phố Huế, theo
lệnh khẩn cấp từ Sài Gòn đánh ra, đã đi khắp thành phố
buộc dân chúng tháo bỏ tất cả những lá cờ Phật giáo
xuống.
Một
số đồng bào nghe theo, nhưng đa số đã cương quyết bất
phục tùng. Thấy vậy, hai vị đại lão thiền sư Tịnh Khiết
và Giác Nhiên bèn lãnh đạo một phái đoàn phật tử tới
ngay tư dinh của tỉnh trưởng Thừa Thiên kiêm thị trưởng
thành phố Huế, để chất vấn về lệnh triệt hạ cờ Phật
giáo. Đồng thời quần chúng, vào khoảng 5 ngàn người, tụ
tập trước tỉnh đường, trương biểu ngữ phản đối chính
quyền. Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng thấy cơ sự như vậy
liền tuyên bố tạm là “cảnh sát Huế làm sai thượng lệnh”,
và cho phép đồng bào treo Phật kỳ trở lại. Đêm đó, theo
lời yêu cầu của thiền sư Tịnh Khiết, ông cho loa phóng
thanh đi khắp thành phố để loan báo lệnh này.
Vào
lúc 6 giờ 30 sáng ngày Phật Đản, đoàn rước Phật trên
con đường từ chùa Diệu Đế lên chùa Từ Đàm đã phải
dừng lại vào khoảng nửa giờ, bởi vì trong quần chúng một
số biểu ngữ chống đối chính quyên được dương lên. Thiền
sư Mật Hiển, trưởng ban tổ chức, ra lệnh thu hồi tất
cả những biểu ngữ này và chỉ để lại một biểu ngữ:
“Cờ Phật giáo Quốc Tế không thể bị triệt hạ”. Đoàn
người tiếp tục lên đường, nhưng sau đó không lâu, những
biểu ngữ khác lại tiếp tục xuất hiện:
* Kính
mừng Phật Đản.
* Phật
giáo đồ nhất trí bảo vệ chánh pháp dù phải hy sinh.
* Yêu
cầu chính phủ thi hành chính sách tôn giáo bình đẳng.
* Chúng
tôi không từ chối một hy sinh nào.
* Phản
đối chính sách bất công gian ác.
* Đã
đến lúc chúng tôi bắt buộc tranh đấu cho chủ trương tôn
giáo bình đẳng.
Quần
chúng tụ tập trước chùa Từ Đàm để đón đoàn rước
Phật trông thấy những biểu ngữ này thì vỗ tay vang dậy.
Tuy nhiên, đại lễ Phật Đản được cử hành rất trang nghiêm
và thành kính dưới sự hướng dẫn của thiền sư Đôn Hậu.
Các bậc tôn túc trưởng lão đều có mặt. Trước khi hành
lễ, thiền sư Đôn Hậu đã mời thiền sư Trí Quang đến
trước máy vi âm để phát biểu về vấn đề triệt hạ cờ
Phật giáo. Thiền sư Trí Quang tuyên bố rằng nguyện vọng
của Phật giáo đồ phát biểu rất chính đáng và có tính
cách xây dựng, có lợi ích cho Phật giáo mà cũng có lợi
ích cho chính quyền và các tôn giáo khác.
VỤ
TÀN SÁT TRƯỚC ĐÀI PHÁT THANH HUẾ
Như
thường lệ mỗi năm, buổi lễ được thu thanh rồi sẽ được
phát thanh vào tám giờ sáng hôm ấy trên đài phát thanh Huế.
Nhưng tối đó, đài đã không phát thanh chương trình Phật
giáo. Quần chúng tụ tập quanh đài phát thanh thấy vậy tỏ
ý bất mãn. Quần chúng tại nhà không nghe phát thanh buổi
lễ, lấy làm lạ: nhiều người tìm tới đài phát thanh để
tìm hiểu nguyên do. Phút chốc quanh đài phát thanh đã có khoảng
10.000 người tụ tập. Chính quyền cho xe cứu hỏa tới để
xịt nước giải tán. Quân vụ thị trấn ra lệnh quân đội
cắm trại một trăm phần trăm. Thiếu tá Đặng Sĩ, phó tỉnh
trưởng nội an và tiểu khu trưởng Thừa Thiên, huy động
lực lượng thiết giáp bảo an, đại bác quân cảnh, hiến
binh và cảnh sát thành phố tới vây đám quần chúng mà họ
gọi là “đám biểu tình”.
Thiền
sư Trí Quang đến được đài phát thanh, len giữa quần chúng
và đi thẳng vào đài mà chất vấn. Ban đầu, nhân viên đài
đổ lỗi cho máy móc phát thanh bị hư, cuối cùng cũng thú
thực rằng chính quyền ra lệnh cấm truyền đi buổi phát
thanh Phật giáo.
Ông
tỉnh trưởng đến, cùng thiền sư Trí Quang đi vào đài phát
thanh. Trong khi đó, quần chúng yêu cầu xe cứu hỏa ngừng
xịt nước để họ thong thả giải tán. Thiếu tá Đặng Sĩ
ra lệnh bắn đạn mã tử khiến đám đông náo động. Lựu
đạn cay, lựu đạn nổ được tung vào. Đồng thời súng
trường và xe thiết giáp được sử dụng vào việc đàn áp.
Lúc đó là đúng 9 giời rưỡi tối. Tiếng la hét của quần
chúng át cả tiếng súng và tiếng lựu đạn.
Một
số người ra về nữa chừng nghe tiếng la hét và tiếng súng
nổ, đã quay trở lại đài phát thanh để tìm hiểu. Họ bị
cac xe thiết giáp chặn lại. Khi thiền sư Trí Quang và ông
tỉnh trưởng từ đài phát thanh ra tới thì máu đã đổ:
tám người đã thiệt mạng vì lựu đạn và bốn người bị
thương. Xe thiết giáp cán vỡ đầu một thiếu nhi, sọ em
nát vụn. Một thiếu nhi khác bị cán mất nữa đầu và một
em khác nữa mất hẳn đầu. Xe hồng thập tự được gửi
tới để mang những người bị thương về bệnh viện.
Quần
chúng phẫn uất đứng cả lại, không chịu ra về. Thiền
sư Trí Quang đứng ra yêu cầu họ giải tán. Sau nhiều lần
khuyên nhủ, quần chúng mới chịu ra về, và đến hai giờ
sáng đám đông mới chịu giải tán hết.
Sáng
hôm sau, chính quyền loan tin Việt Cộng đã trà trộn vào đám
đông trước đài phát thanh và ném lựu đạn khiến tám người
chết và bốn người bị thương. Thiếu tá Đặng Sĩ họp
hội nghị quân sự tại Quân Vụ Thị Trần. Sau đó lính nhảy
dù, biệt động quân, bảo an binh cùng xe thiết giáp, xe lội
nước, tập trung đông đảo trước căn cứ Tiểu Khu, và nhiều
toán quân nhân súng gắn lưỡi lê đi tuần hành trong thành
phố. Cảnh sát võ trang bằng tiểu liên và lựu đạn cay túc
trực ở các ngã đường.
HOẠCH
ĐỊNH ĐƯỜNG HƯỚNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Ngày
10.5.1963, các vị lãnh đạo Phật giáo họp tại chùa Từ Đàm,
hoặch định đường lối và phương pháp tranh đấu bảo vệ
Phật giáo và đòi hỏi công bình xã hội. Một bản Tuyên
Ngôn được soạn thảo, nêu ra năm nguyện vọng của Phật
giáo đồ. Bản Tuyên Ngôn này được gửi tới tổng thống
Ngô Đình Diệm qua trung gian ông đại biểu chính phủ Trung
Nguyên Trung Phần. Năm nguyện vọng là:
1-
Yêu cầu chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thu hồi vĩnh viễn công
điện triệt hạ giáo kỳ Phật giáo.
2-
Yêu cầu Phật giáo phải được hưởng một chế độ đặc
biệt như các hội truyền giáo Thiên Chúa Giáo đã được
ghi trong Đạo dụ số 10.
3-
Yêu cầu chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ và khủng
bố tín đồ Phật giáo.
4-
Yêu cầu cho tăng ni phật tử được tự do truyền đạo và
hành đạo.
5-
Yêu cầu chính phủ đền bồi một cách xứng đáng cho những
kẻ chết oan vô tội, và kẻ chủ mưu giết hại phải đền
tội xứng đáng.
Bản
Tuyên Ngôn nói trên mang chữ ký của thiền sư Tịnh Khiết,
hội chủ của Tổng Hội Phật giáo Việt Nam, thiền sư Mật
Nguyện, đại diện Giáo Hội Tăng Già Trung Phần, thiền sư
Trí Quang, đại diện hội Phật Giáo Thừa Thiên và thiền
sư Thiện Siêu, đại diện Tỉnh Hội Phật Giáo Thừa Thiên(167)
Ngày
15.5.1963, tại chùa Từ Đàm, một Bản Phụ Đính của Tuyên
Ngôn 10.5.1963 được công bố, giải thích rõ ràng năm nguyện
vọng nói trên. Văn kiện này rất quan trọng, vì trong ấy,
lập trường và bản chất của cuộc tranh đấu được nêu
ra rõ rệt. Đường lối bất bạo động và mục tiêu cuộc
tranh đấu được giải bảy rất cặn kẽ. Theo Bản Phụ Đính
này:
1-
Phật Giáo Việt Nam không chủ trương lật đổ chính phủ
để đưa người của mình lên thay thế mà chỉ nhằm đến
sự “thay đổi chính sách” của chính phủ.
2-
Phật Giáo Việt Nam không có kẻ thù, không xem ai là kẻ thù
cả. Đối tượng của cuộc tranh đấu tuyệt đối không phải
là Thiên Chúa Giáo mà là chính sách bất công tôn giáo. “Chúng
tôi tranh đấu cho lý tưởng Công Bình, chứ không phải tranh
đấu với tư cách một tôn giáo chống một tôn giáo”.
3-
Cuộc tranh đấu của Phật giáo đồ cho bình đẳng tôn giáo
được đặt “trong khuôn khổ của lý tưởng “công bằng
xã hội”.
4-
Cuộc tranh đấu của Phật giáo đồ được thực hiện theo
đường lối bất bạo động “Chúng tôi phải thể hiện
tư tưởng Phật giáo ngay trong công cuộc tranh đấu của chúng
tôi. Vì lý do đó, chúng tôi chấp nhận một sự hy sinh đến
tột độ và lấy sự hy sinh ấy làm sức mạnh để rung chuyển
tận lòng người chứ không phải rung chuyển chính sách mà
thôi. Ngay từ bây giờ, chúng tôi có thể tuyên bố minh bạch
rằng những người tăng sĩ của Phật giáo là những người
sẵn sàng noi theo gương Gandhi - vị thánh của sức mạnh bất
bạo động - Chúng tôi xác định lại thêm: với phương pháp
bất bạo động, chúng tôi sẽ tranh đấu trong phạm vi hợp
pháp được ngần nào tốt ngần đó”.
5-
Phật Giáo Việt Nam không chấp nhận sự lợi dụng của bất
cứ ai vào cuộc tranh đấu cho bình đẳng tôn giáo và công
bình xã hội. Phật tử từ chối sự lợi dụng của “những
người cộng sản và những kẻ mưu toan chức vị chính quyền”.
Về
Đạo dụ số 10, Bản Phụ Đính đề nghị chính quyền rút
tất cả các tôn giáo ra khỏi phạm vi ràng buộc của Đạo
dụ này, và ban hành một chế độ đặc biệt cho tất cả
các tôn giáo, trong đó có Phật giáo và Gia Tô giáo.
Bản
Phụ Đính kết luận rằng: nếu các nguyện vọng nói trên
của Phật giáo đồ được thực hiện trên lý thuyết, văn
kiện và thực thi quần chúng Phật giáo sẽ “công khai hoan
nghênh tổng thống và chính quyền như đã công khai tranh đấu
cho nguyện vọng của họ”(168).
Mười
hôm sau, vào ngày 25.5.1963, một Phụ Trương của Bản Phụ
Đính được công bố. Mục đích của văn kiện này là nhắc
lại cho quốc dân nhớ lại vai trò lập quốc và xây dựng
nền văn hóa quốc gia trong quá trình lịch sử dân tộc của
Phật giáo và nói rõ lập trường tranh đấu của Phật giáo
cho công bình xã hội (169).
Tại
Sài Gòn, ngày 15.5.1963, một phái đoàn Tổng Hội Phật giáo
Việt Nam phối hợp với đại diện của các tổ chức Phật
giáo khác đã đi đến dinh Gia Long để yết kiến tổng thống
Ngô Đình Diệm và trao cho ông bản Tuyên Ngôn ngày 10.5.1963,
đồng thời giải thích cho ông rõ về năm nguyện vọng của
Phật giáo đồ. Ba giờ đồng hồ thảo luận chỉ đưa đến
một vài hứa hẹn mơ hồ của vị nguyên thủ quốc gia. Tổng
thống còn đổ trách nhiệm vụ tàn sát ở Huế cho những
người Cộng Sản.
Ngày
hôm sau, phái đoàn Phật giáo mở cuộc họp báo tại chùa
Xá Lợi, công bố bản Tuyên Ngôn 10.5.1963 và các Bản Phụ
Đính và Phụ Trương, đồng thời tố cáo trước dư luận
những vụ đàn áp, giam cầm và giết chóc mà phật tử phải
chịu đựng trong nhiều năm qua.
Một
tài liệu 45 trang được gửi tới chính quyền ngày 20.5.1963
trong đó liệt kê những vụ đàn áp, bắt bớ và thủ tiêu
nói trên.
Ngày
21.5.1963, một lễ cầu siêu cho các nạn nhân vụ thảm sát
tại Huế được tổ chức khắp nơi trên toàn quốc, theo lệnh
đại lão thiền sư Tịnh Khiết, hội chủ Tổng Hội Phật
giáo Việt Nam. Trước đó, bộ trưởng Công Dân Vụ là Ngô
Trọng Hiếu đã tìm mọi cách để ngăn cản việc tổ chức
lễ cầu siêu và yêu cầu phật tử đợi đến ngày rằm tháng
Bảy (ngót ba tháng sau) rồi hãy tổ chức. Nhưng toàn quốc
đã cử hành lễ này một cách long trọng đúng ngày thiền
sư Tịnh Khiết chỉ định. Riêng tại Sài Gòn, một số lượng
tăng ni tập trung tại chùa Ấn Quang để hành lễ đã lên
tới một ngàn vị; tín đồ cư sĩ đứng chật trong ngoài.
Một cuộc diễn hành của tăng ni để rước linh vị các nạn
nhân về chùa Xá Lợi đã được tổ chức sau đó, và một
ngàn vị tăng ni mặc áo ca sa vàng đã nghiêm trang diễu hành
trên nhiều đường phố giữa những hàng rào cảnh sát có
cả thiết giáp túc trực và dưới mắt quần chúng thủ đô
đông đặc hai bên vệ đường. Trong khi đoàn này đang diễn
hành, một đoàn tăng ni khác gồm 350 vị xuất phát từ chùa
Xá Lợi, bắt đầu cuộc diễu hành khác, trang nghiêm và lặng
lẽ, hướng về trụ sở Quốc Hội.
Tại
chùa Từ Đàm Huế, ngay sau khi lễ Cầu Siêu, toàn thể tăng
ni có mặt bắt đầu một cuộc tuyệt thực. Hơn hai ngàn người
trong số đó có nhiều giáo sư và sinh viên Viện Đại Học
Huế, tham dự cuộc tuyệt thực này.
ỦY
BAN LIÊN PHÁI BẢO VỆ PHẬT GIÁO
Ngày
25.5.1963, thiền sư Tịnh Khiết triệu tập một cuộc gặp
mặt giữa các tập đoàn thuộc Tổng Hội Phật giáo Việt
Nam và đại diện các tổ chức và môn phái Phật giáo khác
như Giáo Hội Nguyên Thủy, Thiền Tịnh, Đạo Tràng, Giáo Hội
Theravada v.v… để thảo luận về kế hoạch tranh đấu. Một
Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo được thành lập đê
chỉ đạo cho cuộc vận động Phật giáo đồ do thiền sư
Tâm Châu đứng đầu làm chủ tịch dưới quyền lãnh đạo
tối cao của đại lão thiền sư Tịnh Khiết.
Ủy
Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo được thành lập, tiếng
nói của Phật Giáo Việt Nam từ đây là tiếng nói thống
nhất của Phật giáo đồ toàn quốc. Sự thống nhất ý chí
và lực lượng của phật tử Việt Nam mà lâu nay tất cả
mọi người mong mỏi, đã được thực hiện trong vòng hai
tiếng đồng hồ, trong hoàn cảnh cực kỳ nguy biến cho số
mạng Phật giáo.
Sau
khi thành lập Ủy Ban Liên Phái, đại diện các giáo phái có
mặt tại chùa Xá Lợi ngày 25.5.1963 công bố một bản Tuyên
Ngôn mang chữ ký của các thiền sư Thiện Hoa, trị sự trưởng
Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, là thiền sư Thiện Hòa, trị
sự trưởng Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt tại miền Nam, thiền
sư Bửu Chơn, tăng thống Giáo Hội Phật Giáo Nguyên Thủy
Việt Nam, thiền sư Lâm Em, tăng thống Giáo Hội Theravada, thiền
sư Tâm Châu, phó hội chủ Tổng Hội Phật giáo Việt Nam,
cư sĩ Nguyễn Văn Hiếu, hội trưởng hội Phật Giáo Nguyên
Thủy Việt Nam, cư sĩ Vũ Bảo Vinh, hội trưởng Hội Việt
Nam Phật Giáo (Bắc Việt, tại miền Nam), cư sĩ Sơn Thái Nguyên,
đại diện phật tử Théraveda (người Việt gốc Miên) và
cư sĩ Mai Thọ Truyền, hội trưởng hội Phật Học Nam Việt.
PHÁT
KHỞI CUỘC VẬN ĐỘNG
Sáng
ngày hôm sau, 26.5.1963, một phái đoàn Phật giáo đến Phủ
Tổng Thống để trình bản Phụ Đính của Tuyên Ngôn 10.5.1963
và cho chính quyền biết rằng theo lệnh của đại lão thiền
sư Tịnh Khiết, các cấp tăng ni trong toàn quốc sẽ tuyệt
thực trong 48 tiếng đồng hồ kể từ 14 giờ ngày 30.5.1963
để đòi hỏi chính quyền làm thỏa mãn Năm Nguyện Vọng.
Vào
khoảng 10 giờ sáng ngày 30.5.1963, để chuẩn bị cho cuộc
tuyệt thực, 352 vị tăng ni đã tổ chức biểu tình, xuất
pháp từ chùa Ấn Quang, diễn hành tới trụ sở Quốc hội
và yêu cầu được gặp các đại biểu Quốc hội. Đồng
thời một lá thư của thiền sư Tâm Châu, chủ tịch Ủy Ban
Liên Phái, được gửi tới chủ tịch Quốc hội là Trương
Vĩnh Lễ, yêu cầu Quốc hội xác định lập trường đối
với những yêu sách của phật tử. Tại Huế, trước giờ
tuyệt thực, Đoàn Sinh Viên Phật Tử tung ra một bức thư
kêu gọi sinh viên học sinh toàn quốc siết chặt hàng ngũ
sau lưng giới lãnh đạo Phật giáo để tranh thủ cho lý tưởng
Tự Do và Bình Đẳng(170). Ngày 31.5.1963 sinh viên của tất
cả các phân khoa Viện Đại Học Huế họp hội nghị tại
chùa Từ Đàm, lập một bản kiến nghị yêu cầu tổng thống
và chính phủ “giải quyết năm nguyện vọng chính đáng và
tối thiểu” của phật tử, đòi chính phủ thực thi “một
chính sách tự do, dân chủ và bình đẳng thật sự” và chấm
dứt những “mánh lới trẻ con và thiếu tri thức của cán
bộ đối với tín đồ Phật giáo”. Ký tên vào bản kiến
nghị này có đại diện các trường Y Khoa, Sư Phạm, Văn Khoa,
Luật Khoa, Khoa Học, Cán Sự Y Tế và Điều Dưỡng, Cao Đẳng
Mỹ Thuật, Quốc Gia Âm Nhạc và Viện Hán Học.
Đoàn
sinh viên phật tử Huế mà chủ tịch là Phan Đình Bình đã
đóng một vai trò quan trọng trong bước đầu của cuộc tranh
đấu. Tại Sài Gòn, Đoàn sinh viên phật tử lập tức hưởng
ứng lời kêu gọi của họ và dấn thân ngay vào cuộc vận
động.
Tại
Huế, trưa ngày 1.6.1963, một cuộc biểu tình lớn được tổ
chức trong đó sinh viên và học sinh tới dự rất đông đảo.
Tất cả những người đến biêu tình đều tình nguyện gia
nhập cuộc tuyệt thực lúc ấy sắp chấm dứt, và do đó,
mọi người quyết định kéo dài cuộc tuyệt thực thêm 24
giờ đồng hồ.
Tại
Sài Gòn và các tỉnh thị, cuộc tuyệt thực đã được rất
đông tăng ni và quần chúng tham dự. Chùa Ấn Quang và chùa
Xá Lợi là hai trung tâm tuyệt thực quan trọng nhất ở thủ
đô; riêng số tăng ni tuyệt thực tại hai chùa đã lên tới
gần 800 vị. Tại các tỉnh, phong trào quần chúng dâng lên
ào ạt: những cuộc biểu tình và diễn hành được tổ chức
khắp nơi.
Trước
khi thế đấu tranh đó, chính quyền tăng cường các lực lượng
phòng thủ và tấn công. Tại Sài Gòn, chiều 30.5.1963 các lực
lượng cảnh sát, công an và mật vụ được dàn ra bố trí
trên các nẽo đường bao quanh chùa Xá Lợi. Tại Huế, cảnh
sát chiến đấu và mật vụ bao vây các chùa Từ Đàm, Báo
Quốc và Linh Quang. Ngày 3.6.1963, Cảnh sát chiến đấu, lính
nhảy dù và biệt kích, võ trang đầy đủ, án ngữ các nẻo
về chùa, chận đứng làn sóng người từ thành phố kéo lên.
Cảnh sát chiến đấu mang mặt nạ, súng cắm lưỡi lê, đứng
cản đường quần chúng. Không tiến thêm được nữa, sinh
viên học sinh và đồng bào ngồi ngay xuống mặt đường,
chắp tay hướng về chùa Từ Đàm tụng niệm cầu nguyện.
Lực lượng cảnh sát tung lựu đạn cay và lựu đạn khói
vào giữa quần chúng, trong khi mọt đàn cho berger được thả
ra để hành hung cắn xé. Đồng bào la hét vang trời. Thiền
sư Trí Thủ nghe tin vội vàng tới tận nơi can thiệp để
quần chúng được thong thả ra về. Đoàn người về tới
Bến Ngự thì lại bị một lực lượng cảnh sát khác tấn
công bằng lựu đạn cay và lựu đạn khói. Hàng trăm người
bị khói và hơi cay làm ngất xỉu.
Ngày
4.6.1963 quần chúng lại kéo lên chùa. Lần này cảnh sát chiến
đầu dùng dây thép gai rào các chùa Từ Đàm, Báo Quốc và
Linh Quang. Thiết giáp được huy động đến trấn giữ quanh
chùa. Các lực lượng nhảy dù và biệt kích vây kín các chùa,
không cho phép một ai ra vào. Quần chúng áp dụng sách lược
hôm qua, ngồi xuống đường và tụng niệm. Lựu đạn cay,
lựu đạn khói và chó berger lại được tung ra để đàn áp.
Lần này số đồng bào bị thương lên đến 142 người, trong
đó có 49 người bị thương nặng. Tất cả đều được chở
về điều trị tại bệnh viện trung ương.
Tại
các tỉnh, các chùa trụ sở của giáo hội Phật Giáo Việt
Nam và Giáo Hội Tăng Già đều bị phong tỏa một cách tương
tự.
Từ
ngày 31.5.1963, cư sĩ Mai Thọ Truyền, hội trưởng hội Phật
Học Nam Việt đã gửi văn thư cho toàn thể phật tử trong
hội Phật Học Nam Việt kêu gọi mọi người tham dự cuộc
tranh đấu. Các đơn vị tỉnh hội bắt đầu cộng tác với
Giáo Hội Tăng Già Nam Việt địa phương để tổ chức cuộc
tranh đấu tại các tỉnh miền Nam.
CHIẾN
THUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN
Căn
cứ chính của cuộc tranh đấu như các chùa Xá Lợi, Ấn Quang,
Giác Minh, Từ Quang, Báo Quốc, Từ Đàm và Linh Quang lúc đó
hoàn toàn bị cô lập. Chính quyền còn cho cắt nước và cắt
điện của các chùa. Tại các tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Ba
Xuyên, những đoàn thể Phật giáo bị bắt vây ép ký những
kiến nghị ủng hộ chính quyền. Cảnh sát chận bắt và đuổi
về nguyên quán tất cả những tăng ni từ các tỉnh lên Sài
Gòn. Những tăng sĩ từ Sài Gòn về các tỉnh cũng bị chặn
bắt; hành lý của họ bị soát giữ và những tài liệu in
ronéo của cuộc tranh đấu bị tịch thu. Ở các ngã đường
Sài Gòn, cảnh sát có quân đội trợ lực chận bắt và lục
soát những người mang tài liệu của cuộc tranh đấu. Các
quán ăn và các tiệm cà phê ở thủ đô đều có mật vụ
nhà nước thường xuyên.
Các
toán cảnh sát chiến đấu, công an xung phong, thanh niên cộng
hòa, an ninh quân đội và quân cảnh trang bị máy truyền tin
và võ trang đầy đủ đi bủa khắp thủ đô, canh gác, chận
xét các tăng ni và những người qua đường. Quân đội và
cảnh sát được lệnh cắm trại. Mật vụ và công an theo
dõi để khủng bố hoặc bắt gian và tra tấn những người
nghi đang là lãnh đạo cuộc tranh đấu, ngấm ngầm bỏ tài
liệu Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vào các chùa rồi lục
soát để vu cáo các thiền sư và phật tử theo Cộng Sản.
Những
biện pháp trên của chính quyền không những không dập tắt
được ngọn lửa đấu tranh của quần chúng mà còn làm cho
ngọn lửa này cháy bùng lên thêm mạnh. Khắp nơi trên thế
giới, báo chí đã nói tới cuộc tranh đấu, và phóng viên
cùng quan sát viên quốc tế đổ tới Sài Gòn càng lúc càng
nhiều. Ủy Ban Liên Phái cho ấn hành những bản tin truyền
đi từ các đài B.B.C, V.O.A, v.v… và những bài báo ngoại
quốc nói về cuộc tranh đấu. Các nước khối Phật giáo
không liên kết lên tiếng ủng hộ cuộc tranh dấu của phật
tử Việt Nam. Ý thức được tầm quan trọng của dư luận
quốc tế, Phật giáo cương quyết đẩy mạnh cuộc tranh đấu.
ỦY
BAN LIÊN BỘ
Trong
khi đó, chính quyền một mặt tăng cường những biện pháp
kiểm soát, một mặt cố sức xoa dịu tình trạng bằng cách
thành lập một Ủy Ban Liên Bộ có mục đích cùng Ủy Ban
Liên Phái để đi đến sự giải quyết những nguyện vọng
của phật tử. Tuy ý thức được cơ mưu hoãn binh của chính
quyền, Ủy Ban Liên Phái cũng phải chấp nhận sự cộng tác
với Ủy Ban Liên Bộ, theo đúng đường lối bất bạo động.
Một phái đoàn hỗn hợp của hai bên được gửi ra Huế để
giải tỏa các chùa Từ Đàm, Linh Quang, Báo Quốc, và Diệu
Đế, đồng thời kêu gọi phật tử trở về sinh hoạt bình
thường, kiên nhẫn chờ đợi những biện pháp của chính
quyền.
Sự
lắng dịu, tuy vậy, chỉ kéo dài chưa tới được một tuần
lễ. Thấy tình trạng không thể đổi thay và sự đối thoại
với Ủy Ban Liên Bộ không đưa đến kết quả cụ thể trong
khi chính quyền vẫn âm thầm siết chặt những biện pháp
kiểm soát, Ủy Ban Liên Phái ra lệnh tiếp tục cuộc đấu
tranh. Ngày 11.6.1963, tại các ngã tư đường Lê Văn Duyệt,
Phan Đình Phùng, đúng 10 giờ sáng, một vị thiền sư ngồi
xuống trong tư thế kiết già, lấy dầu xăng đổ lên áo ca
sa mình đang mặc và châm lửa tự thiêu, tự biến mình thành
một bó đuốc.
NGỌN
LỬA QUẢNG ĐỨC
Vị
thiền sư ngồi tự thiêu ở ngã tư Phan Đình Phùng - Lê Văn
Duyệt tên là Thích Quảng Đức,
sáu mươi bảy tuổi, trú trì chùa Quan Âm ở Gia Định. Trong
tư thế kiết già tay bắt ấn Cam Lộ, ông ngồi vững như
một pho tượng đồng trong khi ngọn lửa cháy lên cao gần
bốn thước, phủ trọn cả thân hình ông. Đó là vào khoảng
đầu giờ Ngọ ngày 11 tháng 6 năm 1963.
Lửa
cháy trước con mắt kinh ngạc của những ký giả và nhiếp
ảnh gia quốc tế. Lửa cháy trước nền xót thương và lòng
kính cẩn của quần chúng có mặt tại đó. Xe cộ dừng lại
cả, và mọi người đến vây quanh cảnh tượng hào hùng chưa
từng thấy xảy ra ở thủ đô Sài Gòn. Mười lăm phút sau,
nhục thân của thiền sư ngã xuống; tiếng kêu khóc của quần
chúng vang lên, nức nở. Vài giờ đồng hồ sau, hình ảnh
và tin tức thiền sư Quảng Đức tự thiêu đã tràn ngập
trên các hệ thống truyền hình và báo chương quốc tế. Nhật
báo nào cũng đăng hình thiền sư tự thiêu ở trang đầu với
tiêu đề lớn. Thế giới chấn động, dồn hết sự chú ý
về phía trời Đông Nam Á. Không một ai trên trái đất còn
giữ thái độ hờ hững về cuộc tranh đấu của phật tử
Việt Nam.
Thiền
sư Quảng Đức tên là Lâm Văn Tức, sinh năm 1897 tại làng
Vạn Khánh, quận Vạn Ninh, thuộc tỉnh Khánh Hòa. Lên bảy
tuổi, ông được người cậu ruột đem về nuôi và đổi
tên là Nguyễn Văn Khiết. Ông xuất gia với thiền sư Hoàng
Thâm, thọ đại giới năm 21 tuổi và bắt đầu tu khổ hạnh
ở núi Ninh Hòa. Trong năm năm, ông tu thiền và đi du hóa, theo
hạnh đầu đà, chỉ giữ bên mình một y và một bát. Sau
đó, ông về định cư tu tập tại chùa Thiên Ân ở Ninh Hòa,
gần thị trấn Nha Trang. Năm 1932, ông được chi hội Ninh Hòa
của hội An Nam Phật Học mời làm chứng minh đạo sư. Được
ít lâu sau đó, ông lại lên đường hành hóa ở các tỉnh
miền Nam Trung Việt, đóng góp vào công việc kiến tạo và
trùng tu của mười bốn ngôi chùa rải rác trong vùng. Năm
1943, ông vào hành hóa tại miền Nam: Sài Gòn, Gia Định, Bà
Rịa, Long Khánh, Định Tường và Hà Tiên. Rồi ông lên Kim
Biên (Nam Vang) và dựng tích trượng ở đây tron ba năm, vừa
hành đạo vừa học hỏi thêm kinh điển Pali. Trong thời gian
hành hóa tại miền Nam và ở Nam Vang, ông đã góp công tạo
lập hoặc trùng tu cả thảy là 17 ngôi chùa. Ngôi chùa ông
thường trú lâu nhất là chùa Long Vĩnh, vì vậy giới phật
tử miền Nam thường gọi ông là hòa thượng Long Vĩnh. Chùa
này tọa lạc tại quận Phú Nhuận tỉnh Gia Định. Tuy ngôi
chùa cuối cùng mà ông trú trì là chùa Quan Thế Âm ở số
68 đường Nguyễn Huệ thị xã Gia Định, ông cũng còn chính
thức là tọa chủ chùa Long Phước ở tỉnh Khánh Hòa.
Năm
1953, Giáo Hội Tăng Già Nam Việt thỉnh ông làm Trưởng Ban
Nghi Lễ, và hội Phật Học Nam Việt mời ông làm trú trì
chùa Phước Hòa, trụ sở của hội.
Ông
đã có ý tự hiến mình cho cuộc vận động từ ngày 27.5.1963
khi ông viết một lá thư cho Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc
phát nguyện tự thiêu để đóng góp và công trình tranh đấu(171).
Lời thỉnh nguyện này bị giáo hội bác bỏ. Tuy vậy ông
vẫn quyết tâm thực hiện ý nguyện. Sáng ngày 11 tháng 6 năm
1963, trước khi tự thiêu, ông đã viết lại một bức thư
gọi là Lời Thỉnh Nguyện Tâm Huyết, nói rõ chủ định và
nguyện vọng của ông. Điều đáng ghi nhớ là toàn bộ văn
bức thư này đã không chứa đựng một mảy may hận thù và
tuyệt vọng nào mà trái lại còn thắm nhuần tình thương
và hy vọng. Nguyên văn bức thư như sau:
“Tôi
pháp danh Thích Quảng Đức, trú trì chùa Quan Âm, Phú Nhuận,
Gia Định.
Nhận
thấy Phật giáo nước nhà đang lúc nghiêng ngửa, tôi là một
tu sĩ mệnh danh là trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi
điềm nhiên tọa thị để cho Phật giáo tiêu vong, nên tôi
vui lòng phát nguyện thiêu thân giả tạm này cúng dường chư
Phật để hồi hướng công bảo tồn Phật giáo.
Mong
ơn mười phương chư Phật, chư Đại Đức Tăng Ni chứng minh
cho tôi đạt thành ý nguyện sau đây:
1-
Mong ơn Phật tổ gia hộ cho tổng thống Ngô Đình Diệm sáng
suốt chấp nhận 5 nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo
Việt Nam ghi trong bản tuyên ngôn.
2-
Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật Giáo Việt Nam được
hưởng trường tồn bất diệt.
3-
Mong nhờ hồng ân đức Phật gia hộ cho chư Đại Đức, Tăng
Ni phật tử Việt Nam tránh khỏi nạn khủng bố bắt bớ giam
cầm của kẻ ác.
4-
Cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc.
Trước
khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gởi lời
cho tổng thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi
đối với quốc dân và thi hành chính sách bình đẳng tôn
giáo để giữ vững nước nhà muôn thuở.
Tôi
thiết tha kêu gọi Chư Đại Đức Tăng Ni phật tử nên đoàn
kết nhất trí để bảo vệ Phật pháp”.
Ngoài
ra ông còn để lại thơ và kệ, cả thảy là 5 bài, dặn dò
bản đạo và đệ tử. Thiền sư Quảng Đức đã lay chuyển
được lòng người tại hải ngoại cũng như ở quốc nội.
Người Việt tại hải ngoại, hợp tác với các bạn ngoại
quốc, liên kết thành những đoàn thể tranh đấu yểm trợ
cho cuộc vận động. Đồng bào quốc nội, phật tử hay không
phật tử, trong niềm cảm thương, đều cảm thấy không còn
sợ sệt một điều gì nữa, cương quyết đẩy mạnh hạnh
cuộc tranh đấu. Văn nghệ sĩ sáng tác rất nhiều trên nguồn
cảm hứng mới. Thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã viết bài Lửa
Từ Bi để ca ngợi tình huynh đệ thắp lên bằng ngọn lửa
Quảng Đức.
Lửa,
lửa cháy ngất tòa sen
Tám
chín phương nhục thể trần tâm hiện
Thành
thơ, quỳ cả xuống
Hai
vầng sáng rưng rưng
Đông
Tây nhòa lệ ngọc
Chắp
tay đón một mặt trời mới mọc
Ánh
đạo vàng phơi phới đang bừng lên
dâng
lên
Ôi
đích thực hôm nay trời có mặt
Giờ
là giờ hoàng đạo nguy nga
Muôn
vạn khối sân si vừa mở mắt
nhìn
nhau: tình huynh đệ bao la
Nam
mô Đức Phật Di Đà
Sông
Hằng kia bởi đâu mà cát bay.
Thương
chúng sinh trầm luân bể khổ
Người
rẽ phăng đêm tối đất dày
bước
ra ngồi nhập định hướng về Tây
gọi
hết lửa vào xương da bỏ ngỏ
Phật
pháp chẳng rời tay
Sáu
ngã luân hồi đâu đó
mang
mang cùng nín thở
tiếng
nấc lên từng nhịp bánh xe quay
Không
khí vặn mình theo, khóc òa lên nổi gió
Người
siêu thăng… giông bão lắng từ đây
bóng
người vượt chín từng mây
nhân
gian mát rượi bóng cây Bồ Đề
Ngọc
hay đá, tượng chẳng cần ai tạc
lụa
hay tre, nào khiến bút ai ghi
chỗ
người ngồi: một thiên thu tuyệt tác
trong
vô hình sáng chói nét từ bi
Rồi
đây…rồi mai sau…còn chi?
Ngọc
đá cũng thành tro, lụa tre thành mục nát
với
thời gian, lê vết máu qua đi
- Còn
mãi chứ, còn mãi trái tim Bồ tát
dội
hào quang xuống tận chốn A tì
Ôi
ngọn lửa huyền huyền vi…
Thế
giới ba nghìn, phút giây ngơ ngác
Từ
cõi vô minh
Hướng
về an lạc
Vần
điệu thi nhân chỉ còn là rơm rác
và
cũng chỉ nguyện được là rơm rác
thơ
cháy lên theo với lời kinh
tụng
cho nhân loại hòa bình
trước
sau bền vững tình huynh đệ này
thổn
thức nghe lòng trái đất
mong
thành quả phúc về Cây
Nam
Mô Thích Ca Mâu Ni Phật
Đồng
loại chúng con nắm tay nhau tràn nước mắt
Tình
thương hiện tháp chín từng mây.
Ngọn
lửa Quảng Đức làm chấn động dư luận quốc tế và rung
chuyển cả chế độ Ngô Đình Diệm. Hoảng kinh, ngày chiều
hôm 11.6.1963, chính quyền ra lệnh phong tỏa các chùa, nhất
là chùa Xá Lợi ở Sài Gòn, nơi di thể của thiền sư Quảng
Đức được an trí. Cảnh sát dàn khắp mọi nẻo đường
dẫn đến chùa Xá Lợi để ngăn chặn những làn sóng người
đổ xô về chùa này. Bất chấp những lực lượng cảnh sát
này. Đồng bào ùa đến chùa Xá Lợi như thác đổ để nghiêng
mình trước di thể thiền sư Quảng Đức. Ban đầu cảnh sát
đàn áp và bắt giữ những người tới chùa nhưng sau đó
cảnh sát bị làn sóng người tràn ngập. Bốn giờ chiều
hôm đó đã có khoảng 15 ngàn người có mặt tại chùa xá
lợi. Làn sóng người càng lúc càng dồn dập khiến cho chính
quyền phải ra lệnh giải tỏa chùa Xá Lợi.
Trong
nhiều ngày liên tiếp, quần chúng tới đầy nghẹt chùa Xá
Lợi, trong sân cũng như ngoài đường. Lễ rước di thể thiền
sư Quảng Đức được định vào ngày 16.6.1963. Giới lãnh
đạo cuộc tranh đấu đã dự tính tổ chức vào dịp này
một cuộc biểu dương đoàn kết lớn.
THÔNG
CÁO CHUNG
Rất
lo ngại về một cuộc bùng nổ lớn vào ngày 16.6.1963, chính
quyền đề nghị cấp tốc mở cuộc thương thuyết giữa Ủy
Ban Liên Phái và Ủy Ban Liên Bộ để giải quyết những nguyện
vọng của Phật giáo. Giới lãnh đạo Phật giáo sẵn lòng
chấp nhận sự cộng tác để không đi ngược với tinh thần
bất bạo động. Được lệnh của tổng thống Ngô Đình Diệm,
Ủy Ban Liên Bộ do phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ lãnh đạo
yêu cầu hai bên họp liên tiếp cả ngày lẫn đêm tại Hội
Trường Diên Hồng để mau chóng đi đến một giải pháp.
Phái đoàn của Ủy Ban Liên Bộ, ngoài trưởng đoàn là ông
Nguyễn Ngọc Thơ còn có ông Nguyễn Đình Thuần, bộ trưởng
Phủ Tổng Thống, ông Bùi Văn Lượng, bộ trưỏng bộ Nội
Vụ. Về phía phái đoàn Ủy Ban Liên Phái có thiền sư Thiện
Minh làm trưởng đoàn, các thiền sư Thiện Hoa và Tâm Châu
làm đoàn viên, thiền sư Huyền Quang làm thư lý và thiền
sư Đức Nghiệp, phụ tá thư ký. Buổi họp đầu tiên bắt
đầu ngày 14.6.1963. Ủy Ban Liên Bộ được lệnh phải ký
một bản thông báo chung trước ngày 16.6.1963 cho nên đã cật
lực làm việc: Sau năm buổi họp, cộng tất cả là 30 giờ
làm việc, một bản Thông Cáo Chung được ký kết vào lúc
hai giờ sáng ngày 16 tháng 6 năm 1963.
Bản
ThôngCáo Chung: 1) quy định thể thức treo cờ Quốc gia và
cờ Phật giáo; 2) tách riêng các hiệp hội có tính cáh tôn
giáo ra khỏi Đạo dụ số 10; 3) cam kết không trả thù những
người tham gia cuộc vận động thực hiện 5 nguyện vọng
và điều tra các vụ khiếu nại của Phật giáo; 4) bảo đảm
quyền tự do truyền giáo và hành đạo của Phật giáo; và
5) trừng phạt những người có trách nhiệm trong vụ thảm
sát tại đài phát thanh Huế cùng bồi thường cho gia đình
các nạn nhân.
Cuối
Bản Thông Cáo Chung có chữ ký khán duyệt của thiền sư Tịnh
Khiết, hội chủ Tổng Hội Phật giáo Việt Nam, và của tổng
thống Ngô Đình Diệm(172)
Đứng
về phương diện thương thuyết, Bản Thông Cáo Chung là một
thắng lợi lớn của bên Phật giáo. Nếu chính quyền thực
tâm thi hành những điều đã thỏa hiệp với thông cáo này
thì Phật giáo đồ sẽ không còn có lý do tiếp tục cuộc
tranh đấu. Giới lãnh đạo Phật giáo không tin tưởng ngây
thơ rằng chính quyền sẽ quyết tâm thực hiện bản Thông
Cáo Chung, nhưng nguyên tắc tranh đấu bất bạo động bắt
buộc họ phải tôn trọng phía địch thủ: theo nguyên tắc
này chỉ khi nào địch thủ không giữ lời hứa mình mới
có thể buộc họ là không thành thực. Trong cuộc hội họp
của Ủy Ban Liên Phái vào bốn giờ sáng ngày 16.6.1963 tại
chùa Xá Lợi, nhiều vị lãnh đạo đã tỏ ý lo ngại về
sự thành thực của phía chính quyền. Thiền sư Thiện Minh
trưởng phái đoàn của Ủy Ban Liên Phái, sau khi giải thích
về thái độ quân tử cần có trong tinh thần bất bạo động,
đã nói với các vị trong buổi họp: “Nếu chúng tôi có
những sai lầm trong việc ký kết Bản Thông Cáo Chung thì chúng
tôi nguyện dùng thân này để đền đáp lòng kỳ vọng của
Phật giáo đồ”(173).
Thông
cáo chung được ký kết sáu giờ đồng hồ trước khi tang
lễ thiền sư Quảng Đức được cử hành. Chính quyền ra
lệnh loan truyền ngày bản Thông Cáo Chung này ngay trong đêm
đó bằng xe phóng thanh của bộ Thông Tin. Điện tín báo tin
về bản Thông Cáo Chung được chính phủ đánh đi từ các
tỉnh tới tấp, và đài phát thanh Sài Gòn loan tin này từ
khi trời còn lờ mờ sáng.
Lúc
này đại lão thiền sư Tịnh Khiết đã từ Huế về tới
Sài Gòn. Thuận theo lời khẩn khoản của chính quyền, thiền
sư ra lệnh hoãn tang lễ thiền sư Quảng Đức lại để tránh
những điều có thể tổn thương đến tinh thần Thông Cáo
Chung. Nhưng quần chúng không tin đài phát thanh và loa đài
phát thanh. Vào lúc tám giờ sáng, số người tại thủ đô
kéo nhau ra đường Phan Thanh Giản để chờ đợi tham dự tang
lễ đã lên tới bảy trăm ngàn người. Chính quyền khẩn
khoản nhờ Ủy Ban Liên Phái đứng ra giải thích cho quần
chúng để xin quần chúng trở về. Thiền sư Tâm Giác được
lệnh Ủy Ban Liên Phái đứng trên mui một chiếc xe, dùng máy
phóng thanh loan báo cho quần chúng biết việc ký kết bản
Thông Báo Chung là có thật. Lúc ấy đồng bào mới tin và
mới bắt đầu lục tục giải tán. Ngày 17.6.1963, thiền sư
Tịnh Khiết ra thông bạch gửi toàn thể Phật giáo đồ trong
nước, báo tin những thắng lợi đã đạt được trong bản
Thông Cáo Chung và kêu gọi Phật giáo đồ “trở lại nếp
sống bình thường, thành tâm cầu nguyện cho bản Thông Cáo
Chung, một văn kiện cam kết long trọng giữa chính phủ và
Phật giáo được thi hành nghiêm chỉnh”. Tuy nhiên, thiền
sư không quên đặt vấn đề thực thi Thông Cáo Chung: “Một
điều quan trọng mà tất cả tăng ni và phật tử đều thắc
mắc tự hỏi: Liệu những lời cam kết được ghi trong bản
Thông Cáo Chung này có được thực thi đúng đắn khắp nơi
trong nước hay không? Điều đó còn thời gian trả lời. Tuy
nhiên, chúng ta tin tưởng ở lời cam kết của tổng thống
và Ủy Ban Liên Bộ; Nếu những điều cam kết không được
thực thi đúng đắn thì đó không phải là trách nhiệm của
chúng ta”(174).
THÔNG
CÁO CHUNG KHÔNG ĐƯỢC THỰC THI
Tuy
nhiên ông Ngô Đình Nhu, cố vấn tối cao của chính phủ Ngô
Đình Diệm, quyết tâm diệt trừ phong trào Phật giáo. Ngày
18.6.1963, văn phòng tổng thống đánh mật điện cho đại biểu
chính phủ các Miền, các vị tổng giám đốc và các vị tư
lệnh vùng chiến thuật, ra lệnh tạm thời nhún nhường trước
phong trào Phật giáo và chuẩn bị dư luận để đợi phản
công lại phong trào này. Bức mật điện mang số 1432/VP/TT,
do Đổng lý văn phòng Phủ Tổng Thống là Quách Tòng Đức
ký ngày 19.6.1963, một bản sao của mật điện lọt vào tay
của Ủy Ban Liên Phái. Nguyên văn bức điện như sau: “Để
tạm thời làm ên dịu tình hình và khí thế tranh đấu quyết
liệt của bọn tăng ni Phật giáo phản động, Tổng Thống
và ông Cố Vấn ra lệnh tạm thời nhún nhường họ - Các
nơi nhận hãy theo đúng chủ trương trên và đợi lệnh - Một
kế hoặch đối hó thích nghi sẽ gửi đến sau - Ngay từ giờ
hãy chuẩn bị dư luận cho giai đoạn tấn công mới - Hãy
theo dõi điều tra thanh trừng những phần tử Phật giáo bất
mãn và trình thượng cấp kể cả sĩ quan và công chức cao
cấp(175).
Cũng
ngày 18.6.1963, chính quyền thương lượng với một vài phần
tử tăng sĩ trong giáo phái Lục Hòa Tăng để cấp tốc thành
lập Tổng Hội Phật Giáo lấy tên là Tổng Hội Phật Giáo
Cổ Sơn Môn để chống lại phong trào Phật giáo, thảo giúp
một điện văn bằng tiếng Anh ngữ để tổ chức này đánh
qua cho hội Phật Giáo Tích Lan, tố cáo Tổng Hội Phật Giáo
Việt Nam “một chi nhánh của hội Phật Giáo Tích Lan”, đang
lợi dụng danh nghĩa của hội để hoạt động chính trị
và yêu cầu hội Phật Giáo Tích Lan lên tiếng phản đối.
Trụ
sở hội Thế Giới Phật Giáo Liên Hữu năm ấy đặt tại
Ngưỡng Quảng (Rangoon) Miến Điện và Phật Giáo Tích Lan,
cũng như Phật Giáo Việt Nam, chỉ là một trong những “trung
tâm địa phương” của Hội.
Ngay
khi nhận được điện tín, tổng thư ký Trung Tâm Tích Lan
là ông W.P. Daluwatte trả lời ngay. Ông nói rằng hội Phật
Giáo Tích Lan không có một chi hội nào ở Việt Nam cả, rằng
“Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam không bao giời làm một điều
gì hoặc có một thái độ nào có thể gọi là phản Phật
giáo cả”, rằng phật tử Tích Lan “phản đối mạnh mẽ
những hành động kỳ thị tôn giáo và những đối xử có
tính cách lăng nhục”. Một bản sao của thư này, viết ngày
18.6.1963 được gửi cho Tổng Hội Phật giáo Việt Nam(176).
Ngày
20.6.1963, nhục thân của thiền sư Quảng Đức được rước
về An Dưỡng Địa ở Phú Lâm để làm lễ hỏa thiêu. Chính
quyền đã bắt đám rước đi theo con đường Trần Quốc Toản
thay vì đi đường Phan Thanh Giản. Chính quyền chỉ cho phép
khoảng 200 vị tăng ni tham dự vào đám rước này, và buộc
phải đi bằng xe hơi. Tuy vậy suốt dọc đường, hương án
của tư gia đã được bày ra hai bên lề đường với đèn
hương nghi ngút để tỏ sự thành kính đối với vị thiền
sư mà từ đây mọi người bắt đầu xưng tụng là Bồ Tát
Quảng
Đức. Ngọn lửa hỏa thiêu đã không đốt cháy được trái
tim thiền sư. Trái tim này được đem thiêu lần thứ hai với
sức nóng ngót 4.000 độ nhưng vẫn không cháy.
Tổng
thủ lãnh của Phong Trào Thanh Niên Cộng Hòa là cố vấn Ngô
Đình Nhu dự định sử dụng lực lượng này để chống phong
trào Phật giáo, tại trụ sở Thanh Niên Cộng Hòa ngày 26.6.1963,
ông nói: “Phong trào Thanh Niên Cộng Hòa là một phong trào
quần chúng, không phải là một phong trào của chính phủ để
mù quáng đi làm tay sai cho bất cứ ai”. Tài liệu học tập
số 3 của Thanh Niên Cộng Hòa cho rằng:
1-Nội
dung cũng như hình thức Thông Cáo Chung không phù hợp với
chủ trương của Thanh Niên Cộng Hòa.
2-Bản
Thông Cáo Chung trái với luật lệ hiện hành, chưa kể điều
hết sức quan trọng là phủ nhận quyền của tổng thống
trong vấn đề thả ra những người bị bắt bớ”(177).
Trong
lá thư gửi tổng thống Diệm ngày 26.6.1963, đại lão thiền
sư Tịnh Khiết tố cáo tất cả những hành động nói trên
của chính quyền. Ông lại tố cáo những trường hợp đàn
áp phật tử từ ngày Thông Cáo Chung: nhiều nơi, dân chúng
bị bắt buộc làm kiến nghị lên án phong trào Phật giáo;
nhiều nơi, các chùa còn bị phong tỏa và cán bộ phật tử
bị lùng bắt, công an theo dõi những người đến chùa, biển
số xe và tới tận nhà để hăm dọa. Ông còn cho biết rằng
vị tổng giám đốc Nha Thanh Niên đang tổ chức một cuộc
biểu tình lớn của Thanh Niên Cộng Hòa để yêu cầu chính
phủ duyệt lại bản Thông Cáo Chung, và tố cáo hành động
này là chống lại đường lối của chính quyền(178).
Thiền
sư Thiện Minh, trưởng phái đoàn Ủy Ban Liên Phái, trong lá
thư ngày 1.7.1963 gửi Ủy Ban Liên Bộ, lại tố cáo rằng những
bản Thông Cáo Chung trên đường gửi ra Huế đã bị tịch
thu tại Quy Nhơn, rằng chính quyền địa phương cấm đoán
một số chùa tổ chức hội họp để học tập về bản Thông
Cáo Chung, rằng chính quyền đã ra lệnh cho báo chí không được
đăng tải những bản thông bạch và những tài liệu của
phía Phật giáo, rằng khắp nơi chính quyền địa phương đang
dùng những phương tiện bán công khai để chống lại thực
thi Thông Cáo Chung(179). Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, chủ
tịch Ủy Ban Liên Bộ trả lời lại bức thư này và nói rằng
những điều mà các thiền sư lên án đã không thực sự xảy
ra. Hai bên trao đổi rất nhiều loại thư từ này. Bên Phật
giáo, các thư văn được in bằng ronéo để phân phát cho quần
chúng. Bên chính quyền, các văn thư được các báo chí thủ
đô đăng tải và đài Sài Gòn phát thanh.
Ngày
7.7.1963 để đánh lệch sự chú ý của quần chúng khỏi cuộc
tranh đấu của phật tử, chính quyền ra lệnh đem những nhân
sĩ đã từng tham dự cuộc đảo chính hụt ngày 11.11.1960 ra
xét xử. Được trát tòa án đòi, hôm ấy nhà văn Nhất Linh
(Nguyễn Tường Tam) uống thuốc độc tự tử vào lúc tám
giờ tối sau khi để lại những dòng sau đây:
“Đời
tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử tôi cả.
Sự bắt bớ và xử tội những phần tử quốc gia đối lập
là một tội nặng, sẽ làm cho nước mất về tai Cộng Sản.
Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như hòa thượng
Thích Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người chà
đạp mọi thứ tự do. Ngày 7.7.1963, Nhất Linh - Nguyễn Tường
Tam”.
Cái
chết của Nhất Linh đã gây xúc động lớn trong quần chúng.
Hôm 13.7.1963, khoảng bốn mươi ngàn người đã tham dự tang
lễ của nhà văn, giữa những hàng cảnh sát chiến đấu và
mật vụ.
Ngày
9.7.1963, bộ Nội Vụ ban hành nghị định 358-BNV/KS ấn đinh
thể thức treo cờ Phật giáo (theo tinh thần Thông Cáo Chung)
cho Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam. Nghị định này nhằm chia
rẽ Tổng Hội với các giáo phái Phật Giáo khác, vì quyền
treo cờ chỉ được áp dụng riêng cho Tổng Hội Phật giáo
Việt Nam. Ba ngày sau, đại diện các Giáo Phái, trong đó có
sáu tập đoàn của Tổng Hội Phật giáo Việt Nam đồng ý
ký vào một bản kiến nghị phản đối dụng ý chia rẽ của
nghị định nói trên và yêu cầu chính phủ cho điều chỉnh
nghị định.
Ngày
11.7.1963. Ủy Ban Liên Bộ lại gửi cho Ủy Ban Liên Phái một
lá thư cho biết rằng theo sự điều tra của Bộ Nội Vụ
thì vụ thảm sát ở Huế ngày 7.5.1963 là do Cộng Sản gây
ra chứ không phải do chính quyền: bác sĩ Lê Khắc Quyến,
giám đốc Bệnh Viện Trung Ương Huế sau khi giải phẩu và
chứng nghiệm, đã cho ông đại biểu chính phủ tại Trung
Nguyên Trung Phần biết như vậy trong cuộc tiếp xúc ngày 2.7.1963.
Thiền
sư Thiện Minh, trong một lá thư đề ngày 12.7.1963 đã trả
lời về vấn đề này, buộc tội chính quyền cố tình bưng
bít một sự thực không còn có thể bưng bít(180). Đồng thời
ông nói tới tất cả những hành động vi phạm công khai bản
Thông Cáo Chung của các cấp chính quyền, nêu ra từng trường
hợp một(181).
Thời
gian thử thách về việc thực thi Thông Cáo Chung kéo dài trên
ba tuần lễ. Nhận thấy chính quyền không những không thực
tâm thi hành Thông Cáo Chung mà lại còn tìm biện pháp làm
yếu mòn tiềm lực tranh đấu của Phật giáo, ngày 14.7.1963,
đại lão thiền sư Tịnh Khiết cương quyết phát động lại
cuộc tranh đấu. Ngày hôm đó, ông gửi một lá thư cho tổng
thống Ngô Đình Diệm báo tin rằng ông quyết định ra lệnh
tiếp tục cuộc tranh đấu bất bạo động để đòi hỏi
sự thực thi nghiêm chỉnh bản Thông Cáo Chung. Ông viết: “Tôi
tuy tuổi đã tám mươi, vẫn còn đầy đủ sáng suốt để
ra quyết định này mà tôi lãnh hết trách nhiệm”(182). Đồng
thời ông ra thông bạch kêu gọi tăng đồ và tín đồ đoàn
kết sau Ủy Ban Liên Phái để tranh đấu và “đòi hỏi thực
thi nghiêm chỉnh và nhanh chóng Thông Cáo Chung”. Ngày hôm sau
15.7.1963, nhân danh vị lãnh đạo tối cao của Ủy Ban Liên
Phái Bảo Vệ Phật Giáo, ông lại ra một Thông Bạch quy định
phương thức tiến hành cuộc tranh đấu. Thông bạch ấy như
sau:
“Kính
Thông Bạch các tập đoàn trong Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật
Giáo.
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Như
bản sao và văn kiện đính kèm bản sao Thông Bạch này, quý
vị lãnh đạo các tập đoàn và đoàn thể Tăng Già và tín
đồ trực thuộc đều có thể nhận thấy:
Nguyện
vọng của Phật giáo là đòi hỏi bản Thông Cáo Chung phải
được thực thi nghiêm chỉnh và mau chóng.
Nhắm
nguyện vọng đó các tập đoàn và các tỉnh trực thuộc hãy
thi hành các chi tiết phật sự sau đây:
1-
Khẩu hiệu đòi hỏi:
a)
Có ba khẩu hiệu được nên lên sau đây:
- Chúng
tôi đòi hỏi thi hành đứng đắn bản Thông Cáo Chung (Anh
ngữ: The Joint Communiqué must be carried out seriously).
- Hãy
chấm dứt mọi hình thức khủng bố và áp bức Phật giáo
đồ (Anh ngữ: Stop all formis of terrorizing and suppressing Buddhists).
- Yêu
cầu chính phủ giữ sự thành tín đã hứa (Anh ngữ Request
the Government to keep its promises faithhully)
b)
Cách dùng các khẩu hiệu là viết ra nhiều tấm treo lên ngay
nơi tiền đường và những nơi quần chúng có thể nhìn thấy
rõ ràng của khuôn viết, tất cả các chùa thuộc giáo hội
và hội. Những chùa xa xôi ở thôn quê và núi non cũng viết
và căng lên như vậy. Nhưng ngoài ba khẩu hiệu này tuyệt
đối không dùng khẩu hiệu nào khác.
2-
Hình thức đòi hỏi:
a)
Hình thức đòi hỏi thực thi bản Thông Cáo Chung là áp dụng
tất cả phương thức bất bạo động đã áp dụng trước
đây.
b)
Địa điểm tụng kinh và tuyệt thực - những điều phổ thông
trong phương thức bất bạo động - thì tại thị xã, tăng
già và tín đồ (hội viên và Gia Đình Phật Tử của các
khuôn hội phụ cập, các giới phật tử trực thuộc) tập
trung tại trụ sở, văn phòng, hoặc chung hoặc riêng của Giáo
Hội và Hội. Còn tại khuôn thì hội viên và Gia Đình Phật
Tử khuôn nào tập trung tại khuôn ấy.
Chú
ý: tập trung theo chế độ luân phiên.
3-
Thời gian đòi hỏi:
Kể
từ khi ra Thông Bạch này cho đến khi có thông bạch mới.
4-
Tinh Thần Bất Bạo Động:
a)
Tuyệt đối cố thủ tinh thần và phương pháp bất bạo động.
b)
Nếu đi tụng kinh và tuyệt thực để cầu nguyện mà bị
ngăn chặn lại thì dầu mấy người cũng ngồi xuống niệm
xong 100 tiếng niệm Phật rồi trở về. Nếu bị bắt thì
tất cả cùng xin vào tù. Nếu chùa bị bao vây thì bình tĩnh
cầu nguyện cho đến chết.
5-
Mục đích đòi hỏi:
a)
Hoàn toàn thuộc ý thức tôn giáo tín ngưỡng.
b)
Và thu hẹp trong sự đòi hỏi thực thi bản Thông Cáo Chung
một cách nghiêm chỉnh nhanh chóng.
Vì
ý thức được tính cách sinh tử của Đạo Pháp, tôi chắc
chắn toàn thể phật tử không ai từ chối một sự hy sinh
nào trong khuôn khổ tinh thần bất bạo động.
Hòa
thượng hội chủ Tổng Hội Phật giáo Việt Nam, Lãnh đạo
tối cao Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo.
Thích
Tịnh Khiết(183)
Sau
khi Thông Bạch này được tung ra, tình hình khắp nơi trở
nên sôi động. Cuộc tranh đấu quyết liệt của phật tử
bắt đầu.
--------------------------------------------------------------------------------
(163)
Tạp chí Phật Giáo Việt Nam số 8, năm Đinh Dậu, 1957, trang
47.
(164)
Chính H.S. Olcott là người dã khuyến khích và ủng hộ triệt
để đại đức Dharmapala trong việc phát khởi phong trào Phục
Hưng Phật Giáo Ấn Độ và Tích Lan vào khoảng năm 1985.
(165)
Informatión Catholiqué Internationales. Paris, số 188, ra ngày 15.3.1963.
(166)
ngày Phật Đản từ năm 1958, đã được Tổng Hội Phật giáo
Việt Nam đổi từ ngày mồng tám tháng Tư thành ngày trăng
tròn tháng Tư để cho được thống nhất với các nước Phật
giáo trên thế giới.
(167)
Đọc toàn văn bản Tuyên Ngôn trong danh sách Công Cuộc Tranh
Đấu, Của Phật Giáo Việt Nam do Quốc Tuệ biên soạn, Sài
Gòn, 1964.
(168)
Đọc toàn văn bản Phụ Đính trong sách Công Cuộc Tranh Đấu
Của Phật Giáo Việt Nam. Quốc Tuệ, Sài Gòn, 1964.
(169)
Nguyên văn trong sách vừa dẫn.
(170)
Sau đây là những thành viên khác của Ủy Ban Liên Phái Bảo
Vệ Phật Giáo: các thiền sư Thiện Hoa, Tâm Giác và Bửu Chơn
(ba vị phó chủ tịch, thiền sư Huyền Quang (văn phòng trưởng),
thiền sư Quảng Liên (ủy viên nhân sự), các thiền sư Minh
Trực, Trí Quang, Pháp Tri, Lâm Em, Thiện Minh và Thanh Thái (sáu
vị cố vấn), thiền sư Đức Nghiệp (ủy viên ngoại giao),
thiền sư Quảng Độ (phụ tá ngoại giao), thiền sư Giác Đức
(ủy viên nội an kiêm giảng huấn), thiền sư Chánh Lạc (thư
ký), thiền sư Hộ Giác (phụ tá giảng huấn) và cư sĩ Chánh
Trí Mai Thọ Truyền (tổng thư ký).
(171)
Đọc nguyên văn ở sách Việt Nam Phật Giáo Tranh Đấu Sử,
do Tuệ Giác xuất bản, Sài Gòn, 1964, trang 139.
(172)
Công Cuộc Tranh Đấu Của Phật Giáo Việt Nam. Quốc Tuệ,
Sài Gòn, 1964, trang 94-96.
(173)
Sau đây là nguyên văn bản Thông Cáo Chung:
“Để
giải quyết ổn thỏa năm nguyện vọng do Tổng Hội Phật
giáo Việt Nam đưa ra; Ủy Ban Liên Bộ gồm có:
Phó
tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ
Nguyễn
Đình Thuần, bộ trưởng tại Phủ Tổng Thống
Bùi
Văn Lượng, bộ trưởng Nội Vụ
và
Phái Đòan Phật giáo gồm có:
Thượng
tọa Thích Thiện Minh, trưởng Phái Đoàn
Thượng
tọa Thích Tâm Châu, đoàn viên
Thượng
tọa Thích Thiện Hoa, đoàn viên
Thượng
tọa Thích Huyền Quang, thư ký
Đại
đức Thích Đức Nghiệp, phó thư ký
(do
thơ giới thiệu của Hội chủ hòa thượng Thích Tịnh Khiết
số 24 tháng 6 năm 1963), đã họp tại Hội Trường Diên Hồng
ngày thứ sáu 14.6.1963:
sáng
từ 9 giờ 00 đến 12 giờ 00
chiều
từ 15 giờ 00 đến 18 giờ 00
ngày
thứ bảy: 15.6.1963:
sáng
từ 9 giờ 00 đến 11 giờ 00
chiều
từ 14 giờ 30 đến 17 giờ 00
đêm
từ 21 giờ ông đến 24 giờ 00
và
ngày chủ nhật 16.6.1963:
từ
0 giờ 00 đến 1 giờ 30
Sau
khi thảo luận, Ủy Ban Liên Bộ và Phái Đoàn Phật Giáo đã
thỏa thuận các điểm sau đây:
I-
Quốc Kỳ - Đạo Kỳ
Quốc
kỳ tượng trưng cho Linh Hồn Dân Tộc, phải được luôn luôn
tôn trọng và phải được đặt đúng vị trí.
A-
Lễ Quốc gia: Chỉ treo cờ Quốc gia.
B-
Lễ Phật giáo:
1.
Tại chùa: Quyền Môn, Cổng Chùa, Cột lớn giữa sân chùa.
Mặt tiền chùa, Cờ Quốc gia bên phải, Cờ Phật giáo bên
trái, nhỏ hơn (hai phần ba)
* Cờ
rủ: Cờ Phật giáo mà thôi
* Sân
chùa (để trang hoàng) mắc trên dây: toàn cờ Phật giáo, bằng
giấy cỡ nhỏ
* Trong
chùa: chỉ treo cờ Phật giáo
2.
Lễ đài:
* Chân
đài và chung quanh: Cờ Quốc gia bên phải, Cờ Phật giáo bên
trái, nhỏ hơn (hai phần ba)
* Trên
đài (có thể coi như là trong chùa): Chỉ treo cờ Phật giáo
3.
Đám rước:
* Đi
trước:
Nếu
chỉ một người đi trước, cầm hai cờ: Quốc gia bên phải,
Phật giáo bên trái, nhỏ hơn (hai phần ba)
Nếu
có hai người đi trước, mỗi người cầm một, cũng theo thể
thức trên.
* Phía
sau: Tín đồ chỉ cầm một cờ Phật giáo cỡ nhỏ
4.
Xe nhân vật Phật giáo: Không treo cờ gì cả
5.
Tư gia:
* Trước
nhà: Hai cờ như trước chùa
* Trong
nhà: Chỉ treo cờpg
Để
áp dụng đúng đắn các khoản trên đây, cần quy định:
Cờ
treo bên phải: (phải) từ ngoài lộ trông vô chùa
Cờ
nhỏ hơn: (nhỏ) là bằng hai phần ba cờ quốc gia (các cán
bộ không nên quá khắc khe về kích thước)
II.
Dụ số 10.
Tách
hiệp hội có tính cách tôn giáo ra khỏi Dụ số 10 và lập
một quy chế hợp với tính cách đặc biệt về nhu cầu sinh
hoạt của những Hiệp Hội Tôn Giáo ấy.
Quy
chế đó sẽ là một đạo luật do Quốc hội soạn thảo với
sự tham khảo trực tiếp ý kiến các tôn giáo liên hệ.
Quốc
hội sẽ biểu quyết Đạo luật này chậm lắm là cuối năm
1963 hoặc đầu năm 1964. Trong khi chờ đợi ban hành Đạo luật
mới. Ủy Ban Liên Bộ đồng ý sẽ có những chỉ thị cần
thiết để Dụ số 10 không áp dụng quá khắc khe đối với
các hội Phật giáo, Phật học hiện hữu. Phái đoàn Phật
giáo cam kết chỉ thị cho các tăng ni chấp hành nghiêm chỉnh
luật pháp quốc gia và thi hành mọi biện pháp kỷ luật nội
bộ đối với những hành động lệch lạc.
III.
Vấn đề bắt bớ và giam giữ Phật giáo đồ
Chính
phủ lập một Ban Điều Tra để xét lại các hồ sơ khiếu
nại của Phật giáo. Tất cả những ai có liên can đến cuộc
vận động thực hiện năm nguyện vọng của Tổng Hội Phật
giáo đề ra, bất luận ở đâu, sẽ được tổng thống đặc
biệt khoan hồng. Chính phủ sẽ xác nhận lệnh sửa sai đã
ban ra cho các cán bộ để thực thi chính sách bình đẳng tôn
giáo của chính phủ.
IV.
Tự do truyền đạo và hành giáo.
1.
Những sinh hoạt thuần túy tôn giáo và thường xuyên như ngày
14, rằm, 30, mồng một, cầu siêu, cầu an hay các ngày vía
nếu làm trong phạm vi nhà cửa hay trụ sở Hội thì khỏi
phải xin phép.
Các
sinh hoạt bất thường và ngoài phạm vi nhà chùa hay trụ sở
Hội thì phải xin phép.
2.
Về vấn đề các chùa làng có tính cách thuần túy địa phương.
Trung ương cần phải có thì giờ gom góp đủ hồ sơ liên
hệ. Vì thế, trong khi chờ đợi, chỉ có thể cho bầu lại
ban quản trị mới của các chùa làng nếu xét thấy cần,
hầu để cho giới phật tử được tham gia quyền quản trị
các chùa này.
3.
Xác nhận thông tư số 16-TPP.TTK ngày 23.9.1960 không áp dụng
cho việc tiếp nhận cũng như tạo mãi động sản và bất
động sản của Phật giáo.
4.
Dành mọi sjư dễ dàng cho các sư xây cất (chùa, trường học
và cơ sở từ thiện)
V.
Trách nhiệm và trợ giúp.
Những
cán bộ có trách nhiệm về các vụ đã xảy ra từ ngày 8
tháng 5 năm 1963, bất kỳ thuộc thành phần nào, cũng sẽ bị
nghiêm trị, nếu cuộc điều tra đang tiến hành chứng tỏ
lỗi của họ.
Sự
cứu trợ gia đình nạn nhân đang là một mối lo âu của các
cơ quan xã hội và của chính quyền.
Các
gia đình nạn nhân ở Huế đã được trợ giúp kịp thời
và có thể được trợ giúp thêm tùy theo gia cảnh từng người.
Ủy
Ban Liên Bộ sẽ phụ trách theo dõi việc thi hành các điều
khoản trên nhất là tại các địa phương.
Nếu
có sự lệch lạc Tổng Hội Phật giáo sẽ kịp thời báo
tin cho Ủy Ban Liên Bộ
Lập
thành hai bản chính tại Sài Gòn
Ngày
16.6.1963.
PHÁI
ĐOÀN PHẬT GIÁO
ỦY BAN LIÊN BỘ
Ký
tên
Ký tên
Thượng
tọa Thích Thiện Minh
Nguyễn Ngọc Thơ
Thích Tâm Châu
Nguyễn Đình Thuần
Thích Thiện Hoa
Bùi Văn Lượng
KHÁN
Hòa
thượng Hội Chủ Tổng Hội Phật giáo Việt Nam
Ký
tên: THÍCH TỊNH KHIẾT
Những
diều được ghi trong Thông Cáo Chung này đã được tôi chấp
nhận nguyên tắc ngay từ đầu.
Ký
tên: NGÔ ĐÌNH DIỆM
(174)
Công Cuộc Tranh Đấu Của Phật Giáo Việt Nam. Quốc Tuệ,
Sài Gòn 1964, trang137
(175)
Sách đã dẫn, trang 143-144
(176)
Cuộc Đấu tranh Lịch Sử Của Phật Giáo Việt Nam, Nam Thanh,
Sài Gòn 1964, trang 26
(177)
Việt Nam Phật Giáo Tranh Đấu Sử. Tuệ Giác, Sài Gòn 1964,
trang 172.
(178)
Theo thư của thiền sư Thiện Minh gửi Ủy Ban Liên Bộ ngày
1.7.1963, trong Công Cuộc Tranh Đáu Của Phật Giáo Việt Nam.
Quốc Tuệ, Sài Gòn 1964, trang 172.
(179)
Sách đã dẫn, trang 156-158
(180)
Sách vừa dẫn, trang 162-166
(181)
Bác sĩ Lê Khắc Quyến, sau khi bị chính quyền ép ký biên
bản cuộc khám nghiệm, đã từ chức giám đốc Bệnh Viện
Trung Ương và khoa trưởng trường Đại Học Y Khoa Huế. Sau
vụ này, các giáo sư ngoại quốc đang dạy tại trường Y
Khoa Huế đều từ chức bỏ về nước để phản đối chính
quyền Sài Gòn vì họ đã biết rõ sự thực về cuộc khám
nghiệm.
(182)
Đọc toàn văn lá thư này trong Công Cuộc Tranh Đấu Của Phật
Giáo Việt Nam, sách đã dẫn, trang 170-174.
(183)
Sách vừa dẫn, trang 193-194