CHƯƠNG
XXXVII
NHỮNG
NGUYÊN DO ĐƯA TỚI CUỘC VẬN ĐỘNG CHỐNG CHẾ ĐỘ
NGÔ
ĐÌNH DIỆM
MỘT
CUỘC VẬN ĐỘNG ĐƯỢC TOÀN DÂN ỦNG HỘ
Cuộc
vận động năm 1963 của Phật giáo Việt Nam không phát xuất
từ sự tranh chấp giữa người Phật giáo và người Công
giáo. Cuộc vận động này chỉ nhằm chống lại chế độ
độc tài của tập đoàn ông Ngô Đình Diệm. Một tập đoàn
đã đi quá đà trong sự sử dụng người đồng bào Công giáo,
nhất là người Công giáo di cư, vào việc củng cố quyền
bính và đàn áp những tổ chức đối lập hoặc độc lập.
Cuộc vận động này của phật tử đã được các giới không
phải phật tử ủng hộ, trong đó có nhiều thành phần công
giáo, linh mục cũng như giáo hữu. Họ đại diện cho đa số
những người Công giáo có lương tri, có óc phê phán công
chính và có thừa can đảm để chống lại những gì đi ngược
lại với tinh thần chân chính của Phúc Âm. Cùng với đồng
bào phật tử của mình, họ đã bị chế độ thẳng tay đàn
áp.
Tài
liệu về cuộc vận động này rất dồi dào, bằng quốc ngữ
cũng như bằng ngoại ngữ. Tài liệu quý báu nhất là chứng
tích của những người trực tiếp tham dự cuộc vận động
và cũng đã từng bị chế độ chèn ép, tù đày hoặc tra
tấn. Riêng về tài liệu thành văn, chúng tôi cố gắng đê
chỉ sử dụng những tài liệu đầu duy nhất, tức là những
tài liệu do Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo ấn hành
trong suốt thời gian vận động và những ghi chép của tác
giả đã có mặt trong cuộc vận động. Phần lớn những công
trình này đã được ấn hành năm 1964, ngay sau khi cuộc vận
động thành công. Trong những tác phẩm đứng đắn nhất,
ta có thể kể:
1.
Phật Giáo Tranh Đấu của Quốc Oai biên soạn, do nhà Tân Sanh
(số 12 đường Bùi Viện, Sài Gòn) xuất bản ngày 14 tháng
12 năm 1963. Sách dày 174 trang và có mang những dòng ghi chú
sau đây ở trang 8: “Phần lớn những tài liệu in trong cuốn
sách này, chúng tôi đều dựa vào những bản in ronéo của
Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo ấn hành”. Đây là một
trong những tác phẩm ra đời sớm nhất.
2.
Chín Năm Máu Lửa Dưới Chế Độ Gia Đình Trị Ngô Đình
Diệm của Nguyệt Đam và Thần Phong biên soạn, do tác giả
xuất bản năm 1964. sách dày 342 trang; ngoài bài tựa của tác
giả, sách còn có mang theo ba bài tựa khác; một của cử nhân
Phạm Văn Hanh, thượng thư tri sĩ, một của ông Vũ Cúc Sơn,
tuần phủ tri sĩ, và một của ông Nguyễn Kinh Lịch hiệu
Văn Trai. Cả ba người này đều đã từng phục vụ trong chính
phủ Nam Triều hồi ông Ngô Đình Diệm còn làm thượng thư
tại triều đình Huế, và đã có những nghe biết trực tiếp
về ông Ngô Đình Diệm.
3.
Sự Thực Cuộc Đấu Tranh Phật Giáo của Nguyễn Thanh biên
soạn, Hoa Đạo xuất bản năm 1964 (số 550 đường Trần Hưng
Đạo, Sài Gòn). Sách dày 260 trang.
4.
Việt Nam Phật Giáo Tranh Đấu Sử của Tuệ Giác biên soạn,
do Hoa Nghiêm (75A đường Trần Bình Trọng, Chợ Lớn) xuất
bản năm 1964, sách dày 446 trang, có mang lời tựa của thiền
sư Tam Giác viết vào ngày Phật Đản năm 1964. Sách được
Tổng Vụ Hoằng Pháp của Viện Hóa Đạo duyệt y.
5 Công
Cuộc Tranh Đấu Của Phật Giáo Việt Nam Từ Phật Đản Đến
Cách Mạng 1963, của Quốc Tuệ biên soạn. Sách dày 548 trang,
không mang tên nhà xuất bản nào, có thể do chính tác giả
xuất bản. Sách được kiểm duyệt ngày 28 tháng 1 năm 1964
và in xong vào khoảng tháng 6 năm 1964.
6.
Lửa Thiêng Đạo Mầu của Lan Đình và Phương Anh biên soạn,
không mang tên nhà xuất bản nào, có thể đã do tác giả xuất
bản. Sách được kiểm duyệt ngày 17 tháng 12 năm 1963, dày
138 trang và có mang một bài tựa của Phú Tiên Nguyễn Duy Tinh.
7.
Violation Des Droits De l’Homme Au Sud Viet Nam. Rapport de la Commission
d’Enquêtre sur la Répression des Bouddhister en 1963. (Vi Phạm Nhân
Quyền Tại Miền Nam Việt Nam. Bản báo cáo của Phái Đoàn
Điều Tra Liên Hiệp Quốc về vụ Đàn áp Phật giáo 1963).
Tài liệu của Liên Hiệp Quốc do Võ Đình Cường dịch ra
quốc ngữ và Hùng Khanh xuất bản tại Sài Gòn năm 1966. Sách
dày 297 trang.
8.
Cuộc Chiến Đấu Lịch Sử Của Phật Giáo Việt Nam của Nam
Thanh biên soạn, do Viện Hóa Đạo xuất bản vào dịp Phật
Đản năm 1964, sách khổ lớn 34 x 24 cm, dày 56 trang, biên soạn
bằng quốc ngữ và Anh ngữ, có nhiều hình ảnh về cuộc
vận động. Trang 3 của sách có in lời giới thiệu của tăng
thống Thích Tịnh Khiết. Cách trình bày của sách rất sáng
sủa và gọn gàng, hình ảnh rất chọn lọc. Cuốn sách có
in bản Hiến Chương của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống
Nhất.
VỀ
CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM
Khuôn
khổ của chương này không cho phép nói nhiều đến những
ưu điểm và khuyết điểm trong đời tổng thống Ngô Đình
Diệm. Ông lên cầm quyền ở miền Nam từ 1954 mãi đến 1963,
tức là 9 năm sau, Phật giáo đồ mới đứng dậy chống ông,
dù ngay từ buổi đầu nắm chính quyền ông đã có ý chèn
ép Phật giáo. Trong thời gian đó ông đã bị nhiều lực lượng
chống đối nhưng ông đã khôn khéo vượt thắng được. Ông
đã loại được tướng Nguyễn Văn Hinh, tham mưu trưởng quân
đội miền Nam, lật được quốc trưởng Bảo Đại, đàn
áp được lực lượng Bình Xuyên, các giáo phái Cao Đài và
Hòa Hảo. Ông bị ám sát hụt tại Ba Mê Thuột ngày 21 tháng
5 năm 1957. Ông lại may mắn thoát được cuộc đảo chính
ngày 11 tháng 11 năm 1960.
Ngày
27.2.1962 ông lại thoát chết trong cuộc dội bom dinh Độc Lập
của hai sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Để củng cố
chính quyền, ông Diệm đã tổ chức Cần Lao Nhân Vị Cách
Mạng Đảng và Phong Trào Cách Mạng QuốcGia. Cần Lao Nhân
Vị được tổ chức để trở thành đảng độc nhất ở
miền Nam: những thành viên của các đảng hái khác, khi vào
đảng Cần Lao Nhân Vị phải vâng theo luật đảng để kiểm
soát đảng mình. Và do đó không có một đảng phái đối
lập nào có thể tồn tại. Cờ của đảng là một nền lục
trên có ba ngôi sao đỏ tượng trưng cho Cần Lao, Cách Mạng
và Nhân Vị. Phong trào cách mạng quốc gia chỉ là cơ quan
thừa hành mệnh lệnh của đảng. Nhiệm vụ của tổ chức
này là tuyên truyền chính trị. Liên hệ vào tổ chức này
có các tổ chức Thanh Niên Cộng Hòa, Phụ Nữ Liên Đới,
Công Chức Cách Mạng v.v… Về chính trị, lưng dựa của chính
quyền là đồng bào Công giáo di cư. Về quân sự, trước
hết, ông Diệm đưa vào gần mười vạn binh sĩ di cư từ
miền Bắc vào Nam, trong số đó phần tử chính là Nùng và
Bảo An Binh. Sau khi loại được tướng Nguyễn Văn Hinh, ông
thu phục được quân đội miền Nam và bắt đầu võ trang
quân đội này bằng viện trợ Hoa Kỳ. Ngoài ra tổ chức Mật
Vụ, quân sự và dân sự, lại đóng một vai trò vừa quan
trọng vừa kinh khiếp trong sự dò xét, bắt bớ và thủ tiêu
các phần tử đối lập. Về phương diện ý thức hệ, chính
quyền Ngô Đình Diệm mượn một phần truyết thuyết của
Emmanuel Mounier làm thành thuyết Nhân Vị, thêm vào ý niệm
Duy Linh rút cảm hứng từ đức tin Cơ Đốc. Từ năm1956, thuyết
này đã được các linh mục giảng dạy tại trường Đại
Học Văn Khoa Sài Gòn. Trung Tâm Nhân Vị Vĩnh Long do tổng giám
mục Ngô Đình Thục thành lập khi ông còn làm giám mục ở
giáo khu này. Tất cả công chức toàn quốc đều phải lần
lượt tới học tập lý thuyết Nhân Vị Duy Linh tại trung
tâm này, dù là Công giáo hay không Công giáo. Một phần lớn
giảng viên và huấn luyện viên của trung tâm là giám mục
hoặc linh mục.
Sách
Chín Năm Máu Lửa Dưới Chế Độ Ngô Đình Diệm của Nguyễn
Đam và Thần Phong, lấy tài liệu từ Ủy Ban Tố Cáo Tội
Ác Của Chính Quyền Ngô Đình Diệm và từ các cơ quan công
quyền khác, đã cung cấp rất nhiều dữ kiện về sự đàn
áp và thủ tiêu những thành phần độc lập và đối lập
cùng những tham nhũng và lộng quyền của từng cá nhân trong
giới lãnh đạo chính quyền cũng như trong gia đình ông Diệm.
Các tác giả đã dành trên 300 trang giấy để nói về vụ
này, ở đây ta không cần lập lại việc làm đó. Ta chỉ
cần nhận định rằng cuộc vận động của phật tử mà
thành công được là nhờ sự ủng hộ của toàn dân: người
phật tử thành công được là nhờ sự ủng hộ của toàn
dân: người phật tử thành công vì đã nối liền cuộc tranh
đấu cho bình đẳng tôn giáo với cuộc tranh đấu chống chính
sách độc tài. Ở đây, tưởng nên nhắc tới một số nguyên
nhân đã làm phát khởi cuộc nổi dậy của người phật tử,
trước khi xét tới những diễn biến về cuộc vận động.
1.
Tính cách độc tài của chế độ. Các ông Ngô Đình Nhu, Ngô
Đình Diệm, Ngô Đình Cẩn và bà Trần Thị Lệ Xuân đã nắm
hết thực quyền trong tay, thực hành chính sách gia đình trị,
không tin tưởng thực sự một người nào khác. Không một
thành viên nào của chính phủ ông Diệm còn được giữ lại
cho đến khi chế độ được sụp đổ. Nhiều người đã
từng giúp ông Diệm trong việc truất phế Bảo Đại và ổn
định tình thế lúc ban đầu cũng bị thủ tiêu. Mọi thành
phần đối lập dù là đối lập chống Cộng đều bị thanh
toán hoặc đàn áp.
2.
Tính cách tàn ác của chế độ. Với tổ chức Mật Vụ và
với lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt trong đó có những nhân
vật khét tiếng độc ác như Dương Văn Hiếu, Nguyễn Tư Thái,
Nguyễn Thiện Dzai, Phan Khanh v.v… chế độ đã bắt bớ, tra
tấn, giam cầm, đày ải và thủ tiêu hàng vạn thành phần
đối lập. Có lần phủ Tổng Thống đã ra lệnh đánh chìm
một thuyền chở phạm nhân chính trị ra Côn Đảo(156). Về
những cách tra tấn thủ tiêu, sách Chín Năm Máu Lửa của
các ông Nguyệt Đam và Thần Phong đã đưa ra nhiều trường
hợp cụ thể. Về sự giam giữ đối lập, ta có thể nhắc
tới những hầm đá giam người bí mật của ông Ngô Đình
Cẩn mà quần chúng thường gọi là Lãnh Chúa Miền Trung. Nguyệt
Đam và Thần Phong viết về các hầm này sau khi đã quan sát:
“Từ
hầm tra ở ngay giữa đường cho tới hầm giam, chỗ nào cũng
ẩm ướt, xông lên một mùi hôi thúi nặng nề khó chịu…”.
“Tất
cả có chín cái hầm. Mỗi cái có từ hai mươi đến bốn
mươi xà lim. Muốn vào hầm chỉ có một cái cửa duy nhất.
Tàn nhẫn nhất là cả chín cái hầm dành giam hàng mấy trăm
người, bọn Cẩn chỉ để một lỗ thông hơi…”.
“Sàn
xà lim ẩm thấp và do đấy, chúng tôi thấy có những viên
gạch. Có lẽ nạn nhân dùng để gối đầu hoặc ngồi lên
đó mà ngủ. Mỗi xà lim dài độ 1m50, rộng 60 phân và cao
chừng 1m50, bên trên là những chấn song sắt, trên nữa là
nóc hầm, ngăn đôi các xà lim là một cửa cây, giữa là một
hành lang dài và hẹp”(157).
3.
Tính cách chèn ép bất công của chế độ. Việc đồng bào
Công giáo di cư ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm là một
sự kiện đương nhiên, không có gì đáng nói. Ông Diệm là
một người công giáo chống Cộng, ở vị thế chính quyền,
đang tận lực bảo vệ quyền lợi của người Công giáo di
cư, cố nhiên người Công giáo di cư muốn đứng sau lưng ông.
Dọc quốc lộ Biên Hòa-Lâm Đồng, các khu định cư Công giáo,
dưới sự hướng dẫn của các linh mục địa phương, đã
bỏ phiếu ngàn người như một cho chế độ. Bà Ngô Đình
Nhu đã đắc cử dân biểu trong môi trường đó. Tuy nhiên,
chính quyền đã đi quá đà trong việc nâng đỡ người Công
giáo di cư đến nỗi tạo ra quá nhiều hư hỏng, lạm dụng
và chèn ép đối với người địa phương. Dựa vào sự ủng
hộ không dè dặt của chính quyền, người ta lấy của công
để xây cất thánh đường, trường học Công giáo, chiếm
địa vị ưu tiên trong guồng máy hành chính quốc gia, trong
quân đội, trong các ngành giáo dục, y tế và xã hội. Họ
trở thành một giai cấp mới, riêng rẽ, nâng đỡ nhau để
chiếm lấy những địa vị và những chức vụ quan trọng
nhất trong xã hội…
Trong
niềm tin tưởng chỉ có người Công giáo mới thực sự chống
Cộng, chính quyền không những có ý dung túng những hành động
lạm dụng và chèn ép trên, mà lại còn khuyến khích và tự
mình dấn thân vào con đường ấy. Nhà thờ Đức Mẹ La Vang
ở Quảng Trị, một trung tâm hành hương cách vĩ tuyếtn thứ
17 chừng ba mươi cây số về phía Nam, là một ví dụ cụ
thể về phương thức ủng hộ Công giáo chống Cộng của
chính quyền.
Tổng
giám mục Ngô Đình Thục đã từng gọi nhà thờ này là tiền
đồn tinh thần của quốc gia, và đã vận động nâng nó lên
hàng Vương Cung Thánh Đường. Xuất bản năm 1961, những số
đầu của tạp chí Đức Mẹ La Vang đăng tên những người
hảo tâm cúng tiền vào việc xây dựng Vương Cung Thánh Đường:
Từ phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ qua tất cả các vị
bộ trưởng, đến đại tướng tổng tham mưu trưởng, các
vị tổng giám đốc v.v… Công giáo hay không Công giáo, ai
cũng có tên trong danh sách này. Cảnh sát khắp nơi được
giao cho bán vé số Tombola bỏ vào quỹ xây dựng nhà thờ La
Vang. Vé xe lửa đi La Vang cho các toán hành hương để dự
lễ khánh thành được bớt 50%.
Như
ta đã biết, công chức toàn quốc đều phải tuần tự đi
học tập tại trung tâm Nhân Vị Duy Linh ở Vĩnh Long, dù là
Công giáo hay không. Những ai phát biểu ý kiến không phục
tùng giáo thuyết này đều bị để ý và kết quả là bị
sa thải hoặc thuyên chuyển.
PHẬT
GIÁO BỊ CHÈN ÉP
Quốc
trưởng Bảo Đại bị truất phế từ năm 1955 nhưng Đạo
dụ số 10 do ông ký ngày 6.8.1950 vẫn được chính quyền Ngô
Đình Diệm thi hành theo, bởi vì Đạo dụ này không ràng buộc
Công giáo vào thể chế hiệp hội và cho phép kiềm chế các
tôn giáo khác. Ngoài sự chèn ép các tổ chức Phật giáo,
chế độ còn khủng bố những tăng sĩ và cư sĩ đang hoạt
động đắc lực tại các chi hội Phật giáo địa phương,
ép uổng người phật tử bỏ đạo để theo Công giáo. Có
người vì sợ mất công ăn việc làm đã phải làm lễ rửa
tội theo đạo. Có nhà phải đem bàn thờ Phật hoặc bàn thờ
tổ tiên từ gian nhà giữa vào thiết kế ở nhà sau để khỏi
bị dòm ngó. Có người cương quyết giữ vững tín tâm đã
bị vu khống và bắt đi “học tập” dài hạn tại các trại
Cải Huấn. Năm 1963, hội Phật Giáo Việt Nam tại Trung Phần
công bố hai tập tài liệu ghi chép những vụ vi phạm nhân
quyền, kỳ thị tôn giáo và đàn áp phật tử từ năm 1959
đến năm 1963. Tập đầu dày 49 trang và tập thứ hai 98 trang.
Tập sau này có cả những biên bản về các vụ kỳ thị,
bắt ép và đàn áp, có đủ tên họ, chữ ký và con dấu của
các tổ chức Phật giáo địa phương (158). Tại Quảng Ngãi
chẳng hạn, theo tài liệu ấy, có mười lăm vụ bắt buộc
tín đồ Phật giáo theo Công giáo, một vụ tra tấn và tù
đày tăng sĩ sau khi đã vu khống cho ông là “Việt Cộng”.
Tại Bình Định, có bảy vụ bắt buộc những cư sĩ lãnh
đạo Phật giáo địa phương bỏ nhà cửa để đi “dinh điền”
trên cao nguyên, trong khi những người này thuộc các thành
phần phú nông, tiểu tư sản, không phải là người dân thất
nghiệp; và năm vụ ép buộc theo Công giáo, ba vụ hăm dọa
thủ tiêu, ba vụ bắt bớ, tra tấn và thủ tiêu phật tử,
một vụ chôn sống hai tín đồ Phật giáo chung trong một cái
hầm…(159)
Năm
1957, chính quyền ra lệnh loại bỏ ngày Phật Đản ra khỏi
số ngày nghỉ chính thức trong năm. Đây là một đòn đánh
vào người Phật giáo. Ngày Phật Đản đối với người phật
tử quan trọng không khác gì ngày giáng sinh Noel đối với
người Công giáo. Hành động này của chính quyền cho ta một
ý niệm rõ rệt về mức chèn ép và đàn áp Phật giáo của
chế độ. Cố nhiên phật tử rất phẫn uất trước sự chèn
ép đo. Đại hội đồng hội Việt Nam Phật Học (Trung Phần)
họp vào tháng Ba năm 1957 đã sôi nổi thảo luận về vụ
này và đã đánh bức điện sau đây cho Tổng Hội Phật Giáo
Việt Nam tại Sài Gòn. “Tổng hội đồng lần thứ 25 toàn
hội Việt Nam Phật Học gồm có liệt vị chứng minh đại
đạo sư trong Giáo Hội Tăng Già và đại biểu 14 tỉnh hội
đại diện cho 565 đơn vị họp tại chùa Từ Đàm Huế trong
các ngày 8, 9, 10 và 11 tháng 3 năm 1957 kính đặt niềm tin tưởng
vào Tổng Hội. Yêu cầu Tổng Hội liên tục tích cực can
thiệp lên Chính Phủ và Quốc Hội công nhận ngày Phật Đản
mồng tám tháng Tư âm lịch là ngày lễ hợp pháp vĩnh viễn
của quốc gia. Chủ tịch đại hội đồng Thích Thiện Minh”
(160). Phật Đản năm ấy được phật tử khắp nơi tổ chức
rầm rộ lớn bằng mười lần mọi năm để tỏ thái độ.
Dưới áp lực của quần chúng, chính quyền đã công nhận
lại ngày Phật Đản sau đó một năm.
Những
đàn áp, bắt bớ, tra tấn và thủ tiêu, những cuộc bầu
cử gian lận, những cuộc giam giữ trái phép đối với mọi
thành phần đối lập đã làm cho quần chúng thù ghét chế
độ. Josept Buttinger, một học giả Tây phương đã nói như
sau về chế độ: “Bị giới trí thức chống đối, giới
trung lưu khinh miệt, giới doanh thương từ bỏ, bị tuổi trẻ
và các nhà chính trị ái quốc ghét bỏ, chánh phủ Ngô Đình
Diệm thiếu hẳn sự ủng hộ của quần chúng và chỉ còn
cách dùng đến bộ máy kềm kẹp...”(161). Những người trung
thành với chế độ ông Diệm thường cho rằng sở dĩ miền
Nam sụp đổ là vì chế độ ông Diệm không còn. Sự thực
không phải như vậy: chính vì những tàn ác độc tài của
ông mà miền Bắc đã xây được cở chống đối võ trang
ở miền Nam. Ký giả Robert Guillain của báo Le Monde đã viết
như sau: “Ông Diệm đã trở thành người tiếp tay cho Cộng
Sản. Tại Sài Gòn, cán bộ Việt cộng thường rỉ tai nhau
theo kiểu Votaire: nếu không có Diệm thì phải tạo ra cho được
Diệm. Ngày 11 tháng 11 vừa qua, chính người Việt Cộng sợ
ông Diệm bị lật đổ hơn ai hết. Họ mong cho ông Diệm ngồi
trong dinh Độc Lập thêm một thời gian dài nữa sau đám vệ
binh, trong khi đất nước đang từ từ sụp đổ xung quanh.
Họ tính toán rằng chỉ trong một hoặc hai năm thì miền Nam
sẽ từ tay ông Diệm qua tay Bác Hồ…”(162)
Cuộc
vận động của Phật giáo để chống độc tài có lẽ đã
đến hơi chậm, nhưng ta biết rằng trước đó, Phật giáo
đồ chưa hội đủ điều kiện cần thiết.
--------------------------------------------------------------------------------
(156)
Cuốn Chín Năm Máu Lửa Dưới Chế Độ Ngô Đình Diệm của
Nguyệt Đam và Thần Phong do các tác giả xuất bản năm 1964
tại Sài Gòn là một trong những tài liệu đúng đắn nhất,
trang 287-288.
Đại
úy Không quân Huỳnh Minh Đường nhận lệnh này ngày 5.10.1963
nhưng đã từ chối không thi hành lệnh và đã lái máy bay
qua tị nạn ở Căm Pu Chia
(157)
Chín Năm Máu Lửa Dưới Chế Độ Gia Đình Trị Ngô Đình
Diệm, Sài Gòn, 1964, trang 287-288.
(158)
Những tạp tài liệu này đã được thiền sư Nhất Hạnh,
hồi này đang dạy học ở trường Đại Học Columbia ở Nữu
Ước, chuyển tới ông chủ tịch Hội Đồng Liên Hiệp Quốc
và tất cả các vị đại sứ có mặt tại đó vào tháng 9
năm 1963.
(159)
Chi tiết về những vụ này có thể tìm trong sách Phật Giáo
Tranh Đấu Sử của Quốc Oai (Sài Gòn 1963, Tân Sanh xuất bản)
và sách Công Cuộc Tranh Đấu Của Phật Giáo Việt Nam của
Quốc Tuệ (Sài Gòn 1964, tác giả xuất bản).
(160)
Tạp chí Phật Giáo Việt Nam số 7, năm Đinh dậu, 1957, trang
63
(161)
Joseph Buttinger: Vietnam A Dragon Entattled, tập II
(162)
Robert Guillain. Le Monde, Paris, 6.4.1961.