CHƯƠNG
XXXII
CHÙA
ẤN QUANG VÀ CHÙA XÁ LỢI
PHẬT
HỌC ĐƯỜNG NAM VIỆT
Phật
học đường Phật Quang được khai giảng trở lại từ 1946
tại quận Trà Ôn tỉnh Trà Vinh do thiền sư Thiện Hoa chủ
trì. Phật học đường này ngoài những lớp cho tăng sinh còn
mở những lớp cho ni sinh. Cư sĩ Trương Hoằng Lâu ở quận
Cầu Kè là một trong những người hoạt động nhất để
ủng hộ tài chính cho Phật học đường này. Cũng năm đó
Phật học đường Liên Hải ở Chợ Lớn cũng được khai
giảng, do các thiền sư Trí Tịnh và Quảng Minh chủ giảng.
Sau đó ít tháng, một Phật học đường khác tên là Mai Sơn
được thiền sư Huyền Dung khai giảng, và ít lâu sau, được
dời về chùa Sùng Đức ở Chợ Lớn. Như chúng ta đã biết,
các Phật học đường nói trên sau này được thống nhất
lại với Phật học đường Ứng Quang tại Sài Gòn để trở
thành Phật học Đường Nam Việt. Chùa Ứng Quang mà sau này
danh xưng đổi lại thành Ấn Quang là do thiền sư Trí Hữu
sáng lập. Thiền sư Trí Hữu quê tại xã Hòa Vang, quận Điện
Bàn, tỉnh Quảng Nam. Trong thời gian du hóa tại miền Nam ông
từng cư trú tại chùa Hưng Long và chùa Hưng Đạo, cả hai
đều do thiền sư Bảo Đảnh trú trì. Sau mùa an cư năm 1949
tại chùa Hưng Đạo ở Vườn Bà Lớn, ông tới dựng tích
trượng ở một khoảnh đất trống trên đường Lorgéril thuộc
khu Vườn Lài, và lập một am tranh lấy tên là Trí Tuệ Am.
Sau khi làm được một chính điện và một tăng xá, tất cả
đều bằng tranh và tre, ông gọi am là chùa Ứng Quang, và mở
tại đây một lớp giảng kinh cho tăng sinh cho tăng sinh trẻ
tuổi tại các chùa lân cận. Chùa Ứng Quang trở thành một
Phật học đường nhỏ. Với sự cộng tác của các thiền
sư Nhật Liên và Thiện Hòa.. Phật học đường Ứng Quang
xây dựng thêm nhiều lớp học và tăng xá. Cácthiền sư Trí
Hữu, Nhật Liên và Thiện Hòa bắt đầu bắt đầu liên lạc
với các Phật học đường Liên Hải và Sùng Đức. Sau nhiều
buổi họp mặt tại các chùa Sùng Đức và Ứng Quang, những
người lãnh đạo ba Phật học đường đồng ý thống nhất
các cơ sở lại và thành lập Phật học đường Nam Việt,
đặt tại chùa Ứng Quang. Thiền sư Nhật Liên có thể được
gọi là nhân vật quan trọng nhất trong công tác vận động
thống nhất các Phật học đường tại Nam Việt. Chính ông
đã đề nghị đổi danh xưng Ứng Quang thành Ấn Quang. Ông
lại là người vận động thành lập Giáo Hội Tăng Già Nam
Việt và đã đảm phụ trách vụ tổng thư ký của Giáo Hội
này trong những niên khóa đầu.
Phật
học đường Nam Việt thành lập 1950; công cuộc xây dựng
cơ sở bằng vật liệu nặng được tiến hành rất mau chóng.
Phật điện, giảng đường và tăng xá được xây dựng ngay
trong khi các lớp học đang được diễn tiến. Trong vòng chưa
đầy hai năm, Phật học đường Nam Việt đã trở thành trung
tâm Phật giáo có uy tín nhất ở miền Nam. Chùa Ấn Quang bắt
đầu đi vào lịch sử.
Năm
1953, Phật học đường Phật Quang ở Trà Ôn gia nhập Phật
học đường Nam Việt, và thiền sư Thiện Hoa được mời
về chùa Ấn Quang. Học tăng từ Phật Quang cũng ghi tên vào
Phật học đường Nam Việt.
GIÁO
HỘI TĂNG GIÀ NAM VIỆT
Chùa
Ấn Quang còn là trụ sở của Giáo Hội Tăng Già Nam Việt,
thành lập 1951, với thiền sư Đạt Từ ở chức vụ trị
sự trưởng và thiền sư Nhật Liên ở chức vụ tổng thư
ký. Thiền sư Đạt Thanh chùa Giác Ngộ được cung thỉnh làm
Pháp chủ.
Năm
1953, cơ sở của Giáo Hội Tăng Già Nam Việt đã được xây
dựng đầy đủ ở các tỉnh Nam Việt, và đại hội giáo
hội triệu tập ngày 8.3.1953 đã suy tôn thiền sư Huệ Quang
làm pháp chủ của Giáo Hội, công cử thiền sư Thiện Hòa
làm trị sự trưởng. Từ đó Giáo Hội Tăng Già Nam Việt
trở thành một tập đoàn Phật Giáo rất trang nghiêm và có
uy thế.
Vị
pháp chủ kế tiếp thiền sư Huệ Quang là thiền sư Khánh
Anh, suy tôn ngày 31.7.1956 tại chùa Huê Lâm Chợ Lớn, và trụ
sở đặt tại chùa Từ Nghiêm ở đường Bà Hạt Sài Gòn.
Ni Bộ đã khai giảng hai Phật học đường cho ni sinh, một
ở chùa Từ Nghiêm và một ở chùa Dược Sư. Hai vị ni sư
Diệu Tánh (chùa Huê Lâm) và Diệu Ninh (chùa Vĩnh Bửu) có
mặt trong số những ni sư hoạt động nhất của Ni Bộ.
Thấy
cơ sở Ấn Quang đã được các pháp hữu của mình đảm nhiệm
một cách xuất sắc, thiền sư Trí Hữu hoan hỉ trở về Quảng
Nam. Ông đảm nhiệm chức vụ trú trì chùa Linh Ứng ở Non
Nước, đồng thời nhận làm giám đốc cho Phật học viện
Phổ Đà tại Đà Nẵng. Sau khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất được thành lập, ông đã từng giữ chức vụ
Chánh Đại Diện Miền Liễu Quán cho Giáo Hội. Thỉnh thoảng
ông lại vào thăm các pháp hữu của mình tại Ấn Quang. Ông
mất ngày 30.1.1976 tại chùa Ấn Quang, ngôi chùa lịch sử mà
ông đã khai sơn hai mươi lăm năm về trước.
Chùa
Ấn Quang, mà sau này trở thành trụ sở Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất, là một ngôi chùa còn trẻ tuổi, nhưng
đã sớm trở thành một tổ đình. Cư sĩ Trương Đình Ý,
giáo sư trường Mỹ Nghệ Thực Hành ở Gia Định là người
đã có công chăm sóc về phương diện kiến trúc, điêu khắc
và trang trí của chùa. Tượng Phật và những bức chạm nổi
trong chính điện đều là những công trình sáng tác của ông.
THIỀN
SƯ THIỆN HÒA
Nếu
thiền sư Trí Hữu là người khai sơn chùa Ấn Quang thì thiền
sư Thiện Hòa là người đã duy trì và phát triển chùa này
thành một ngôi tùng lâm rộng lớn. Thiền sư Thiện Hòa tuy
là tuổi tác tương đương với pháp hữu của mình là thiền
sư Trí Hữu, có thể được xem như là đệ nhị tổ của
chùa Ấn Quang. Ông là một trong những bậc cao tăng được
mến chuộng nhất trong thời đại. Ông được nhìn nhận như
một cây đại thụ che chở cho nhiều thế hệ tăng sĩ kế
tiếp đã di qua Phật học đường Nam Việt. Chức vụ giám
đốc Phật học đường Nam Việt và trị sự trưởng Giáo
Hội Tăng Già Nam Việt đã được ông đảm nhiệm một cách
vững chãi và bền bỉ
Thiền
sư Thiện Hòa tục danh là Hứa Khắc Lợi, sinh năm 1907 tại
làng Tân Nhựt, tỉnh Chợ Lớn. Ông có chí nguyện xuất gia
từ hồi nhỏ tuổi nhưng mãi đến năm 28 tuổi ông mới được
đi xuất gia, theo học với thiền sư Bửu Sơn ở chùa Long
Triều. Xuất gia xong ông liền được gửi đến Phật học
đường Lưỡng Xuyên. Năm 1936 ông được gửi ra Huế học
trường An Nam Phật Học tại chùa Tây Thiên. Năm 1938 khi thiền
sư Phước Huệ trở về Bình Định, ông theo thiền sư vào
Phật học đường Long Khánh để tiếp tục học Phật. Năm
1939 ông trở ra Phật học đường Báo Quốc ở Huế. Năm 1945
ông ra Hà Nội thọ giới tỳ kheo tại chùa Bút Tháp, theo học
luật với thiền sư Tuệ Tạng ở chùa Cồn Nam Định và với
thiền sư Tế Xuyên tại Hà Nam. Năm 1949, ông về chùa Quán
Sứ tham dự vào Phật sự theo lời mời của thiền sư Tố
Liên. Tháng Năm 1950 ông trở về Sài Gòn, lưu trú tại Phật
học đường Sùng Đức. Khi Phật học đường Nam Việt được
thành lập 1951, ông được mời làm Giám Đốc. Từ năm 1951
đến năm 1974 ông đã từ từ biến ngôi chùa lá Ấn Quang
thành một phạm vũ trang nghiêm vào bậc nhất Sài Gòn. Năm
1953 ông được bầu làm trị sự trưởng. Năm 1967, ông được
bầu làm tổng vụ trưỏng Tổng vụ Tài chính và Kiến thiết
của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Năm 1973, ông
được giáo chỉ của Tăng Thống đề cử làm phó tăng thống.
Ông mất ngày 7.2.1978 tại chùa Ấn Quang.
Thiền
sư Thiện Hòa là một người có đức tính từ hòa và kiên
nhẫn vào bậc nhất. Giữa các pháp hữu ở Ấn Quang, ông
là một dòng suối mất, một nguồn an ủi. Ông ít khi đăng
đàn thuyết pháp. Sáng tác của ông nằm trong phạm vi luật
tạng, quan trọng nhất là tác phẩm Giới Đàn Tăng. Ông kiên
nhẫn chủ tọa tất cả các buổi họp của Giáo Hội Tăng
Già Nam Việt và của Phật học đường Nam Việt, nói rất
ít nhưng hóa giải được nhiều. Ông để mắt vào mọi chi
tiết liên quan đến Phật điện, tăng xá, giảng đường và
sự sống còn của đại chúng. Ông đã xây dựng cho Phật
học đường một nhà in gọi là Ấn Quán Sen Vàng, nằm phía
sau chùa. Trong những lớp tu nghiệp cho các vị trú trì do Giáo
Hội Tăng Già Nam Việt tổ chức, ông thường đảm nhận trách
vụ giảng dạy về luật tạng. Năm 1974 ông đã làm đàn đầu
hòa thượng cho đại giới đàn Long Xuyên.
Hình
ảnh đẹp nhất của ông là hình ảnh ông đứng nói chuyện
với một học tăng ở sân trường. Dáng điệu của ông hiền
từ, ngôn ngữ hòa ái. Mối khi cần đi đâu, ông ưa dùng xích
lô hơn xe hơi. Ông vỗ nhẹ vai, từ tốn nói chuyện với người
đạp xích lô một hồi rồi mới dịu dàng bước lên xe, tay
ôm cặp. Người xích lô có cảm tưởng chở trên xe một người
thân chứ không phải một người khách.
Sau
ngày các thiền sư Quảng Minh, Huyền Dung, Nhất Liên và Quảng
Liên xuất ngoại, bên cạnh thiền sư Thiện Hòa chỉ còn lại
có các thiền sư Thiện Hoa và Nhất Hạnh trực tiếp trông
coi Phật học đường Nam Việt. Thiền sư Thiện Hoa đảm nhận
trách vụ Trưởng Ban Hoàng Pháp vừa của Giáo Hội Tăng Già
Nam Việt vừa của hội Phật Học Nam Việt từ năm 1953. Trong
trách vụ này, ông vừa đào tạo cán bộ vừa phân phối giảng
sư đi các tỉnh. Những giảng sư xuất sắc của miền Nam
từ năm 1956 trở đi như thiền sư Huyền Vi, Thanh Từ, Tắc
Phước, Từ Thông, Thiền Định, Quảng Long, Chánh Tiến, Liễu
Minh v.v… đều được ông huấn luyện và nâng đỡ trong những
năm đầu. Từ năm 1957 trở đi, ông mở nhiều lớp huấn luyện
cán bộ tu nghiệp hoằng pháp gọi là những khóa “Như Lai
Sứ Giả” tại các chùa Pháp Hội và Dược Sư. Những giảng
sư tốt nghiệp các khóa ở Pháp Hội lên tới 52 vị, trong
số đó cóc có các vị thiền sư Trường Lạc, Bửu Lai, Trí
Châu, Nhất Châu, Nhất Long, Hồng Tịnh, Hồng Đạo, Hiển
Pháp, Huyền Quý, Huyền Thông, Phước Hảo và Huệ Thành. Trong
số các vị tốt nghiệp ở chùa Dược Sư có các ni sư Như
Hoa, Phật Bửu, Giác Thiên, Như Huy, Như Huyền, Như Chí vàNhư
Hiển.
Với
Ấn Quang Sen Vàng, Phật Học Tùng Thư của Phật học đường
Nam Việt do thiền sư Thiện Hoa quản đốc đã được xuất
bản được một công trình Phật học từ sơ cấp đến cao
cấp, dùng làm tài liệu giảng diễn cho các giảng sư đoàn.
Chương trình Phật học này được chia thành mười hai khóa
và được gọi là chương trình Phật học phổ thông. Chương
trình được phổ biến rất rộng rãi. Phật học Tùng Thư
sau này đổi lại là nhà xuất bản Hướng Đạo, xuất bản
gần 100 tác phẩm, trong đó có khoảng 20 tác phẩm là do chính
thiền sư Thiện Hoa sáng tác. Ta sẽ có dịp nói nhiều về
thiền sư Thiện Hoa này.
Từ
1956 trở đi, với sự hướng dẫn của thiền sư Nhất Hạnh,
chương trình giáo dục mới được áp dụng tại Phật học
đường Nam Việt cho cấp tiểu học và trung học Phật giáo.
Chương trình này nhằm mục đích cung cấp cho người học
tăng tốt nghiệp cấp trung học Phật giáo, ngoài trình độ
Trung Đẳng Phật học, một kiến thức phổ thông tương đương
với trình độ tú tài. Từ đây, tại Phật học đường Nam
Việt, học tăng được học thêm sinh ngữ, khoa học và văn
học. Chương trình mới này được in trong học bạ học tăng.
Tốt nghiệp trung học tại Phật học đường Nam Việt, nhiều
học tăng đã ghi tên thi tú tài ban cổ điển và hầu hết
đều trúng tuyển. Phần lớn đã dùng chữ Hán làm cổ ngữ,
và Pháp văn làm sinh ngữ.
Nhiều
học tăng đã ghi tên tại các trường Đại học Sư phạm
hoặc Đại Học Văn khoa Sài Gòn trong khi tiếp tục học chương
trình Cao Đẳng Phật Học tại Phật học đường Nam Việt.
Nhiều vị sau khi ra trường, đã có bằng cử nhân Văn Khoa
hay cử nhân Sư Phạm. Những văn bằng này đã giúp họ điều
kiện mở những trung học tư thục của Phật giáo tại Sài
Gòn và các tỉnh theo mẫu mực những trường tư thục Bồ
Đề mở ở miền Trung nhiều năm trước đó. Trong số các
vị xuất sắc nhất có các vị thiền sư Minh Cảnh, Thiện
Tánh, Đạt Bửu, Trí Không, Chơn Lễ, Thiện Phú, Thanh Văn…
Về sau có vị đã xuất ngoại để tiêp tục học Phật hoặc
các ngành triết học hoặc xã hội học.
Ngoài
Phật học đường Ấn Quang, tại miền Nam còn có Phật học
đường Giác Nghiêm ở Khánh Hội do thiền sư Hành Trụ chủ
trì và một số Phật học đường cấp tiểu học và trung
học xuất phát từ Ấn Quang như các Phật học đường Huệ
Nghiêm và Giác Sanh ở Chợ Lớn, Phật học đường Phước
Hòa ở Vĩnh Bình.
THIỀN
SƯ HÀNH TRỤ
Thiền
sư Hành Trụ, giám đốc Phật học đường Giác Nguyên, quê
ở Phú Yên, tên đời là Lê An, sinh năm 1903. Xuất gia hồi
còn 12 tuổi tại chùa Phước Sơn, Phú Yên và học Phật với
thiền sư Thiền Phương.
Sau
khi tụ đại giới vào năm 22 tuổi, ông được theo học tại
các Phật học đường Lưỡng Xuyên miền Nam và Tây Thiên
ở miền Trung. Pháp danh của ông là Thị An, pháp hiệu là
Phước Bình.
Ông
đã phiên dịch và ấn hành hơn 20 thứ kinh sách, trong đó
có các sách Tứ Phần giới Bổn Như Thích, Sa Di Luật Giải,
Qui Sơn Cảnh Sách, Phạm Võng Bồ Tát Giới, A Di Đà Kinh Sớ
Sao, Long Thư Tịnh Độ, Kinh Vị Tằng Hữu và Kinh Hiền Nhân.
Từ 1974, ông về trú trì chùa Đông Hưng. Năm 1975 ông được
đại hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cung cử
vào trách vụ tổng vụ trưởng Tổng Vụ Tăng Sự
PHẬT
HỌC ĐƯỜNG HUỆ NGHIÊM
Phật
Học đường Huệ Nghiêm ở Phú Lâm Chợ Lớn là một tùng
lâm khá phồn thịnh. Phật học đường này được các thiền
sư Thanh Từ và Bửu Huệ điều khiển. Thiền sư Thanh Từ
trước đó đã từng giám đốc Phật học đường Phước
Hòa và Trà Vinh từ năm 1958 tới năm 1959. Phật học đường
này từ năm 1956 đến 1958 được thiền sư Tịnh Đức điều
khiển. Phật học đường Giác Sanh tại Chợ Lớn cũng được
đặt dưới quyền giám đốc của thiền sư Thiện Hòa.
CÁC
NI VIỆN MIỀN NAM
Lớp
ni học đầu tiên tại miền Nam được tổ chức tại chùa
Giác Hoa ở Bạc Liêu năm 1927. thiền sư Khánh Anh, hồi ấy
từ Quảng Ngãi vào nam, được mời làm đốc giáo. Trong ban
giảng huấn có các thiền sư Chân Niêm, Vạn Ân và Vạn Pháp.
Lớp ni học thứ hai được tổ chức vào năm 1936 do ni sư
Diệu Tịnh tổ chức tại ni viện Hải Ấn ở Bà Quẹo. Năm
1939 một lớp khác được tổ chức tại chùa Vạn An ở Sa
Đéc, mời thiền sư Mật Hiển từ Huế vào giảng. Sau đó
các ni sư Diệu Tánh và Diệu Tấn lại mở trường ni học
tại chùa Kim Sơn ở Phú Nhuận.
Tại
Phật học đường Lưỡng Xuyên ở Trà Vinh, năm 1936, một
lớp ni học được tổ chức dưới sự lãnh đạo của thiền
sư Minh Tịnh từ Quảng Ngãi vào. Thiền sư Khánh Hòa sau đó
đã vận động mở thêm một ni học đường tại chùa Vĩnh
Bửu ở Bến Tre. Ni học đường này sau đó được giao cho
ni sư Diệu Ninh coi sóc. Thiền sư Chánh Quả trụ trì chùa
Kim Huê ở Sa Đéc cũng đã lập một ni viện tại chùa Phước
Huệ trong cùng một tỉnh. Năm 1946, thiền sư Hành Trụ cũng
lập ni viện Tăng Già ở Khánh Hội Sài Gòn và ni viện Chánh
Giác tại Đồng Ông Cộ, Gia Định.
Năm
1950, ni sư Như Chí mở một lớp ni học tại chùa Từ Quang
ở Sa Đéc.
Ni
viện Dược Sư ở Gia Định được hình thành năm 1936 nhưng
mãi đến năm 1954 mới trở thành một cơ sở lớn. Năm 1957,
Ni Bộ Nam Việt được thành lập và được đặt trụ sở
tại đây. Ni Sư Diệu Tánh, trước đây làm chủ trì chùa
Hội Sơn và ni viện Huê Lâm, được bầu lên trách vụ ni
trưởng. Năm 1959, ni viện Từ Nghiêm được thành lập. Trụ
sở Ni Bộ được dời về đây. Từ Nghiêm được trở thành
một cơ sở lớn của ni chúng sau khi việc xây cất hoàn thành
vào năm 1962. Năm 1965 ni Bộ đã cho Trường Thanh Niên Phụng
Sự Xã Hội mượn một đại giảng đường và một văn phòng
trong khi trường này đang xây cất tại Phú Thọ Hòa.
Trong
số những vị ni sư đầu tiên được xem là các danh ni, ta
có thể kể các ni sư Diệu Tánh, Diệu Tịnh, Diệu Tấn, Diệu
Ninh, Diệu Kim và Hồng Chí.
Ni
sư Diệu Tịnh.
Ni
sư Diệu Tịnh có thể được xem như là bó đuốc đầu tiên
của ni giới miền Nam. Bà tên Phạm Đại Thọ, sinh năm 1910
ở Gò Công. Bà tập sự xuất gia năm15 tuổi tại chùa Tân
Lâm Gia Định. Năm 18 tuổi bà được theo học lớp ni học
đầu tiên tại chùa Giác Hoa ở Bạc Liêu. Bà thụ giới tỳ
kheo năm 1930 tại giới đàn ở núi Điện Bà do thiền sư Giác
Hải chủ đàn. Năm 1931 trở đi bà bắt đầu dịch một số
kinh điển ra quốc ngữ. Trên báo Từ Bi Âm số 27, bà viết
lời kêu gọi nữ giới hợp tác mở mang ni giới. Năm 1933
bà được mời làm thủ lãnh ni chúng trong ba tháng kiết hạ
tại giới đàn thuộc chùa Giác Hoàng ở Bà Điểm do thiền
sư Thái Thượng làm chủ tọa. Năm 1934, bà về trú trì chùa
Thiên Bửu, mở một lớp ni học tại đây và mời thiền sư
Khánh Thuyên về cùng giảng dạy. Sau đó bà trở về chùa
Tân Lâm. Nhận lời mời của hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật
Học, bà đi thuyết kinh giảng đạo tại nhiều nơi miền Lục
Tỉnh. Năm 1935 ba khai sơn chùa Từ Hóa ở làng Tân Sơn Nhất
tỉnh Gia Định, có sự tham dự của các ni sư Diệu Tánh,
Diệu Tấn và Diệu Thuận. Năm sau, bàđổi hiệu chùa là Hải
Ấn Ni Tự, ni chúng quy tụ về để tu học khá đông. Năm
1937 bà ra nhận chức trú trì chùa Bình Quang ở Phan Thiết,
và giao cho các đệ tử là các ni sư Huyền Tông và Huyền
Học ở lại trú trì và hành đạo. Năm 1938, bà ra Bắc nghiên
cứu thêm về luật tạng. Trên đường về Nam, bà được
Khôn Nghi Xương hoàng thái hậu mời vào cung để dạy đạo.
Bà ở lại trong cung hai tháng và giảng xong bộ Phạm Võng
Lược Sớ cho thái hậu. Triều đình huế đã ban sắc tứ
cho chùa Bình Quang ở Phan Thiết sau đó, Trở về chùa Hải
Ấn, bà lại lên tiếng trên Từ Bi Âm kêu gọi nữ giới đứng
dậy tự lập và xiển dương chánh pháp. Năm 1939, bà tổ chức
ni học viện tại chùa Giác Linh ở Sa Đéc. Ni chúng đông đến
gần 100 vị. Bà đã thỉnh thiền sư Mật Hiển và ni sư Diệu
Không cùng bà lo việc giảng dạy. Lúc này bà mới 29 tuổi.
Ni học viện này được dời về chùa Vạn An sau đó.
Năm
1940 bà khai giảng trường ni học ở chùa Linh Phước và mời
các thiền sư Chánh Quang và Giác Tâm về phụ giảng với bà.
Vì phải lo lắng cho các trường ni học, vừa về vật chất
vừa về tinh thần, cho nên sức khỏe bà hao mòn rất chóng.
Bà tịch năm 1942 tại chùa Hải Ấn, thọ 33 tuổi.
Ni
sư Diệu Tịnh, pháp danh Hồng Thọ, là người muốn nâng địa
vị của giới phụ nữ lên ngang hàng với nam giới. Những
tài liệu trên đây về bà đã được một vị đệ tử là
ni sư Huyền Huệ cung cấp.
Ni
sư Chí Kiên
Ni
sư Hồng Chí tên đời là Đặng Thị Mười, sinh năm 1913 ở
Sa Đéc. Bà xuất gia năm 1928 tại chùa Từ Ân, Mỹ Tho, dưới
sự hướng dẫn của thiền sư Huệ Mạn. Pháp danh bà là Chí
Kiên, pháp tự cả bà là Như Chí. Bà thụ đại giới vào
năm 1938. Bà đã từng theo học tại ni viện Hải Ấn do ni
sư Diệu Tịnh giám đốc và tại ni viện Diệu Đức ở Huế.
Năm 1940, bà lập ni viện Tập Thành ở Sa Đéc, thu nhận 40
ni sinh. Năm 1949 bà làm quản lý ni viện Tăng Già ở Khánh
Hội Sài Gòn. Cũng năm đó bà làm hòa thượng cho giới đàn
truyền tỳ kheo ni giới tại chùa Tăng Già. Năm 1950, bà về
Sa Đéc mở ni viện Từ Quang và đến năm 1955 bà chọn 20 vị
học ni xuất sắc cho lên nhập học ở ni viện Dược Sư,
Gia Định. Năm 1951 bà làm hòa thượng cho giới đàn chùa Kim
Huê và năm 1954 làm làm hòa thượng truyền giới cho giới
đàn ni viện Dược Sư. Năm 1965 bà được mời làm giám đốc
ni học viện Từ Nghiêm. Số ni sinh của viện năm này lên
tới 92 vị. Năm 1975, bà kế thừa ni sư Như Thanh làm vụ trưởng
Ni Bộ Bắc Tông. Năm 1977 bà làm hòa thượng của giới đàn
Kiều Đàm tại ni viện Tử Nghiêm cho 350 giới tử.
Ni
sư Hồng Chi có viết nhiều bài trong các tập san Phật học
trong nước như Hoa Sen, Hoằng Pháp và Hoa Đàm. Bà có làm nhiều
thơ. Có những bài thơ bà làm từ năm 1928 khi mới xuất gia,
năm 15 tuổi. Sau đây làm một bài của bà sáng tác năm 1974:
THIỀN
KHÁCH DU SƠN
Thiền
khách du sơn tự tại nhàn
Cõi
lòng thanh thoát đạo thênh thang
Non
cao đá dựng từng từng gộp
Suối
bạc lung linh thông giác ngạn
Tùng
xanh phơn phớt triệt huyền quang
Sắc
Không Chơn Vọng đâu còn nữa
Buông
bỏ hai đầu, chặng giữa tan
Ni
sư Diệu Ninh
Ni
sư Diệu Ninh là một người có khuynh hướng cứu tế xã hội.
Bà sinh năm 1914 tại Trà Vinh. Tên đời là Vương Thị Kiến.
Bà xuất gia năm 1930 tại chùa Thành Xuân tỉnh Châu Đốc dưới
sự hướng dẫn của thiền sư Như Nhiêu. Bà đã được học
Phật với các thiền sư Từ Phong, Khánh Hòa và Khánh Anh. Bà
đã theo học trường Lưỡng Xuyên do thiền sư Khánh Hòa làm
hòa thượng đàn đầu. Năm 1938 bà về học tại ni viện Vĩnh
Bửu ở Bến Tre. Từ năm 1940 trở đi bà được trao cho nhiệm
vụ trù trì ni viện này. Năm 1945 vì tình hình Bến Tre bất
an, bà về an cư tại ni viện Huê Lâm ở Sài Gòn. Năm 1957
khi ni bộ được thành lâp, bà đảm nhiệm trách vụ phó ni
trưởng và đồng thời quản lý ni viện Dược Sư. Năm 1959
bà về ni viện Tử Nghiêm làm quản lý và lo việc kiến thiết
ni viện này. Năm 1966 bà làm Trưởng Ban Cứu Trợ nạn nhân
bão lụt và đích thân đem gạo muối đến tận những miền
lụt lội ở Châu Đốc, Long Xuyên và Đồng Tháp để cứu
giúp hàng ngàn gia đình nạn nhân. Năm 1969 bà sang Nhật để
tu nghiệp về Thiền tại tu viện Tổng Trì. Về nước 1971
bà trùng tu chùa Vĩnh Bửu và chùa Thiền Đức. Năm 1972 bà
mở Ký Nhi Viện Huệ Quang, tổ chức cứu lụt ở Quảng Nam.
Năm 1974 bà nhận chức giám viện ni viện Dược Sư.
CƯ
SĨ CHÁNH TRÍ VÀ HỘI PHẬT HỌC NAM VIỆT
Hội
Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài
Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu,
hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu,
tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột
trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách
vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng
thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để
ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền
sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt
đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi
Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng.
Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội
Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ
Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có
nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo
trong nước. Bản tuyên cáo viết: “Đề xướng việc lập
hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến
chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong
hành động. Sự thống nhất này đã trở nên cần thiết kể
từ ngày mồng 8 tháng Sáu dương lịch năm nay, là ngày Việt
Nam được chính thức làm hội viên hội Phật giáo quốc tế…”
Chùa
Xá Lợi trụ sở thứ ba và vĩnh viễn của hội Phật Học
Nam Việt được khởi công xây dựng năm 1956 tại số 89 đường
Bà Huyện Thanh Quang, Sài Gòn, và được hoàn thành hai năm
sau đó. Chùa được kiến trúc một cách mới mẻ, có tháp
chuông, chính điện, giảng đường, thư viện và tăng xá.
Năm 1963, chùa Xá Lợi biến thành căn cứ trung ương cho cuộc
tranh đấu của Phật giáo đồ chống lại chính quyền Ngô
Đình Diệm, và trở thành một ngôi chùa lịch sử.
Chánh
trí Mai Thọ Truyền là một trong những khuôn mặt Phật tử
cư sĩ lớn của thời đại. Ông sinh năm 1905 tại làng Long
Mỹ tỉnh Bến Tre, và đã học tại các trường trung học
Mỹ Tho và Chasseloup Laubat ở Sài Gòn. Ông thi đậu tri huyện
năm 1931 và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà vinh, Long Xuyên và
Sa Đéc. Năm 1945, sau Cách Mạng Tháng Tám, ông đã làm chủ
tịch Ủy Ban Quận Bộ Châu Thành Long Xuyên rồi trưởng phòng
hành chính Ủy Ban Hành Chính Tỉnh Bộ Long Xuyên.
Ông
về Sài Gòn năm 1947 và lần lượt giữ những chức vụ sau
đây: chánh văn phòng phủ Thủ Tướng của chính phủ Nguyễn
Văn Xuân (Hà Nội), chánh văn phòng bộ kinh tế, giám đốc
hành chính sự vụ bộ Ngoại Giao, đổng lý văn phòng bộ
Nội Vụ của chính phủ Nguyễn Nam Long, đổng lý văn phòng
Phủ Thủ Hiến Nam Việt và phó đổng lý văn phòng Phủ Thủ
Tướng của chính phủ Bửu Lộc. Năm 1955 ông đổi sang ngạch
thanh tra hành chính và tài chính và đến năm 1960 về hưu thời
chính phủ Ngô Đình Diệm. Sau cách mạng 1963, ông tham dự
Hội Đồng Nhân Sĩ trong chính phủ Dương Văn Minh, và đến
năm 1967 ông ứng cử phó tổng thống chung liên danh với ông
Trần Văn Hương, năm 1968, ông giữ chức quốc vụ khanh kiêm
viện trưởng Giám Sát Viện trong chính phủ Trần Văn Hương,
rồi đổi sang chức vụ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa
cho đến năm ông mất (1973).
Cũng
như cư sĩ Lê Đình Thám, ông ăn chay trường từ ngày thọ
tam quy ngũ giới và làm phật sự không biết mệt mỏi. Hội
Phật Học Nam Việt đã thành lập được tới 40 tỉnh hội
và chi hội khắp miền Nam. Tạp chí Từ Quang của hội mà
ông trực tiếp trong nom từ 1951 đã ra được 242 số cho đến
ngày ông mất. Những trước tác của ông gồm có:
Tâm
Và Tánh (1950)
Ý
Nghĩa Niết Bàn (1962)
Một
Đời Sống Vị Tha (1962)
Tâm
Kinh Việt Giải (1962)
Le
Bouddhisme Au Viet Nam (1962)
Pháp
Hoa Huyền Nghĩa (1964)
Địa
Tạng Mật Nghĩa (1965)
Tác
phẩm đầu (Tâm và Tánh) đã được nhà Đuốc Tuệ ở Hà
Nội xuất bản; những tác phẩm còn lại đều được Hội
Phật Học Nam Việt ấn hành. Ngoài trách vụ hội trưởng
hội Phật Học Nam Việt, ông Mai Thọ Truyền đã từng giữ
trách vụ tổng thư ký của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật
Giáo Việt Nam từ 1959 đến năm 1962. Năm 1963 ông giữ trách
vụ tổng thư ký của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo
chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm. Trách vụ này đã
được ông thi hành một cách xuất sắc. Năm 1964 ông được
bầu làm phó viện trưởng Viện Hóa Đạo của Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất, nhưng vì bất đồng ý kiến về
hệ thống tổ chức của Giáo Hội, chỉ sau đó một tháng,
ông rút lui về cương vị Hội trưởng hội Phật Học Nam
Việt.
Trong
bản tuyên cáo thành lập hội Phật Học Nam Việt có chủ
ý muốn thành lập một Phật học đường lớn để đào tạo
tăng tài, nhưng công việc này chưa bao giời được hội thực
hiện, có thể đây là vì bên cạnh hội Phật Học Nam Việt
đã có Giáo Hội Tăng Già Nam Việt.
Nhưng
tạp chí Từ Quang đã là một đóng góp không nhỏ cho công
việc phổ biến Phật học ở Sài Gòn và các tỉnh. Tạp chí
này đã được chư tăng ở Phật học đường Nam Việt nâng
đỡ và đóng góp khá nhiều về phương diện biên tập, nhất
là trong những năm đầu.
LỄ
CUNG NGHINH XÁ LỢI PHẬT TỔ
Cách
thức làm việc của cơ sở Chánh Trí có nhiều điểm tương
tự với cách thức làm việc của cư sĩ Tâm Minh. Nếu lễ
Phật Đản năm 1935 tổ chức ở Huế đã bắt dư luận toàn
quốc nói đến phong trào phục hưng Phật học thì cuộc diễn
hành rước Xá Lợi Phật tại Sài Gòn năm 1952 cũng đã khiến
cho quốc dân chú ý đến sự có mặt của hội Phật Học
Nam Việt và tới phong trào Phật giáo. Cuộc diễn hành rước
Xá Lợi này được tổ chức vào ngày 13.9.1952, khi phái đoàn
Phật giáo Tích Lan trên đường đi dự Đại Hội Phật Giáo
Thế Giới kỳ II tại Tokyo, ghé tại Sài Gòn và có thỉnh
theo một Xá Lợi của Phật và do đó cuộc diễn hành đã
trở thành một cuộc tập hợp lớn lao chưa từng có của
Phật tử tại Sài Gòn cho tới ngày hôm ấy. Xá Lợi Phật
đã được rước từ hải cảng Sài Gòn, đi qua nhiều đại
lộ, về tới Trường Đại Học Bình Dân (Université Populaire)
và tôn trí nơi một bàn thờ tại đây trong 24 giờ đồng
hồ. Hàng vạn người đã chen chúc tới suốt trong thời gian
ấy để được chiêm bái Xá Lợi. Trong cuộc diễn hành, cờ
Phật giáo thế giới đã được trương ra, và đây là lần
đầu tiên quần chúng thấy được lá cờ năm sắc ấy. Cũng
là lần đầu tiên quần chúng tại Sài Gòn được thấy những
đoàn thể thanh thiếu niên của Gia Đình Phật Tử trong sắc
phục và cờ hiệu của họ. Hai bên đường có những Phật
tử quỳ xuống khi thấy Xá Lợi Phật cũng như là thấy Phật.
Báo chí toàn quốc nói tới cuộc diễu hành này, và Phật
tử các nơi cho rằng dân chúng Sài Gòn đã có duyên phước
lớn lắm mới được trực tiếp chiêm bái Xá Lợi.
Mai
Thọ Truyền đã viết về cuộc diễn hành rước Xá Lợi như
sau: “Cuộc biểu diễn êm ái ấy về sau đã gây được nhiều
ảnh hưởng hay. Từ Bắc chí Nam, phong trào chấn hưng được
mọi nơi tiếp đón nồng hậu, khiến cho phạm vi hoạt động
càng ngày càng bành trướng, lấn áp một phần nào uy thế
của những chi phái tạp nhạp”(113).
“Những
chi phái tạp nhạp” đây có lẽ là những tổ chức Phật
giáo nhỏ đang cạnh tranh với hội Phật Học Nam Việt.
Cộng
tác với Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, hội Phật Học Nam Việt
cũng đã tổ chức những cuộc diễn hành lớn vào những ngày
lễ Phật Đản tại thủ đô Sài Gòn, sau khi chính phủ Ngô
Đình Diệm ra lệnh loại ngày Phật Đản ra khỏi những ngày
lễ chính thức của quốc gia. Cùng với những cuộc diễn
hành này muốn gián tiếp nói lên cho chính phủ Ngô Đình Diệm
thấy phần phản kháng của Phật tử Việt Nam đối với chính
sách kỳ thị tôn giáo của chính phủ. Với tư cách quốc
vụ khanh đặc trách văn hóa, cư sĩ Chánh Trí từ năm 1968
trở đi đã hoàn thành được thư viện quốc gia tân lập,
xúc tiến việc thiết lập Văn Khố Gia và Nhà Văn Hóa. Ông
cũng đã đẩy mạnh công tác của Ủy Ban Điền Chế Văn Tự,
lập một Ủy Ban Dịch Thuật mới mà ông đứng làm chủ tịch,
thành lập chi nhánh Bảo Tồn Cổ Tích Huế.
TƯ
TƯỞNG PHẬT HỌC CỦA CHÁNH TRÍ
Lấy
con mắt văn hóa nhìn vấn đề tam giáo hòa hợp. Chánh Trí
viết:
“Đứng
về mặt thực hành, phải nhìn nhận rằng chủ trương tam
giáo quy nhất rất hợp lý, vì bề ngoài là hòa hợp mà bề
trong có chia, và đây chỉ là chia phạm vi hoạt động và ảnh
hưởng thế nào cho cân xứng với tính cách của mỗi đạo.
Đại khái, Nho giáo thì lo về nhân sự, tu về thế nào để
đi đến chỗ trị bình, còn Phật giáo và Đạo giáo thì lo
giải quyết những vấn đề cao siêu hơn”.
“Đứng
về mặt thuần túy mà xét, sự xáo trộn ba đạo như vừa
nói thật không phải là một việc đáng thương, nhưng nếu
đứng về kết quả mà luận thì thấy rằng nhờ có sự xáo
trộn đó mà lòng người dường như bớt xao xuyến lo âu,
tính tình phong tục mới được tốt đẹp, chưa kể cái việc
giúp cho quảng đại quần chúng thâm nhiễm được đôi phần
những giáo lý phổ thông mà mỗi đạo cần phải truyền bá
vì sự lợi ích riêng của chính mình.”(114).
Cư
sĩ Chánh Trí có một cái nhìn trung dung về hai khuynh hướng
tự lực và tha lực trong Phật giáo, ông cho rằng sự nhiếp
thọ và cứu độ của chư Phật và chư Bồ Tát là có thực,
nhưng con người phải có nỗ lực thì sự nhiếp thọ và cứu
độ mới trở thành hiện thực, như tuyết có sạch, trăng
có in. Ông viết: “Chư Phật và Bồ Tát vì lòng đại từ
đại bi luôn luôn sẵn sàng hộ trì cứu độ, nhưng các ngài
chỉ cứu độ, hộ trì những ai thật sự muốn được nâng
đỡ để giải thoát mà thôi. Biển khổ chơi vơi, người
đang chìm nổi ít ra cũng phải cố với nắm lấy bàn tay tế
độ thì họa may vấn đề cứu vớt mới thành. Ngục tù khốn
khổ, các cửa dù có mở tung mà phạm nhân không chịu đi
ra thì cũng không biết làm thế nào! Nói một cách khác, có
sự mong muốn và cố gắng của người tự biết lâm nguy,
người muốn cứu mới làm nên việc. Huống chi sự cứu độ
hộ trì ở đây thuộc về tâm linh, thì sự cảm thông trên
phương diện tâm linh là điều cần yếu. Tuyết có sạch,
trăng mới in; tâm ta có trong, tâm Phật mới rọi vào được.
Nêu tâm ta như đống tuyết bị bụi đất phủ dày thì đừng
mong mặt trăng Phật in lên và làm cho khối tuyết ánh sáng.
Thế thì tự lực vốn tối khẩn yếu, tối cần thiết”(116).
Ông
lại viết: “Tuy pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh được
trình bày như con đường “dễ đi” nhờ có sức cứu độ
của Phật, thật ra không phải dễ hoàn toàn đâu và muốn
đi đến đích cũng chẳng phải hoàn toàn ỷ lại vào tha lực
mà được đâu. Dễ là đối với con đường của Thiền Tông
là con đường mà hành giả phải tự cường tự lực,nhưng
niệm Phật cho đến nhất tâm bất loạn, cho đến được
“tam muội” hay chánh định, hành giả cũng phải nỗ lực
rất nhiều, phải phấn đấu với chướng ngại ráo riết.
Cái tha lực nhiếp thọ của Phật hình như chỉ được đưa
ra với dụng tâm khuyến khích hành giả, để hành giả vững
tâm mà trỗi bước”(117)
Chánh
Trí cho rằng sự vãng sinh về Cực Lạc của Phật giáo hoàn
toàn không giống với sự sanh lên Thiên Đường của Cơ Đốc
giáo. Mục đích về Cực Lạc là để gần Phật mà tu hành
cho tới bậc “bất thối chuyển” chứ không phải để hưởng
những sự sung sướng của một cõi Thiên Đường. Bản chất
và mục đích của niệm Phật là sự tịnh tâm, và một khi
tâm đã định và tịnh thì trí tuệ và hào quang phát sinh.
Ông viết:
“Trong
kinh Tịnh Độ có nói: lúc lâm chung mà ai chuyên tâm niệm
Phật nhất tâm bất loạn thì Phật A Di Đà và Quan Âm Thế
Chí đến rước về Cực lạc. Có người nghĩ rằng đây là
một lối nói tượng trưng. Lúc lâm chung mà giữ tâm định
được vào niệm Phật thì tâm người ấy đã “tịnh hóa”
hoàn toàn rồi, bức màn vô minh đã bị xé tan, do đó nguồn
ánh sáng bên trong tự tánh Di Đà phát huy hực hỡ. Nguồn
ánh sáng ấy là nguồn ánh sáng vô biên của vũ trụ tiêu
biểu bởi Phật A Di Đà đồng một thể tánh, cho nên khi người
mạng chung thấy ánh sáng ngập trời trước mắt mình, ngỡ
là Phật A Di Đà của từ phương Tây đến tiếp độ, không
dè đó là Phật A Di Đà của tự tánh mình hiển hiện ra”(118).
Đó
là quan niệm “Di Đà tự tính, tịnh độ duy tâm”. Có lẽ
cư sĩ Chánh Trí còn e ngại chút ít khi nói lên những nhận
xét trên cho nên ông mới thêm bốn chữ “có người nghĩ
rằng”. Rất có thể cái người nghĩ rằng ấy là chính ông
vậy. Cư sĩ Chánh Trí là một người thông minh và có tài
suy luận diễn dịch. Các tác phẩm Địa Tạng Mật Nghĩa và
Pháp Hoa Huyền Nghĩa của ông, nhờ tài suy luận diễn dịch
này, đã chứa được nhiều điều nhận xét khá đặc thù
có thể gây nhiều hứng thú cho người đọc. Ông lại là
một người giỏi về hành chính và có địa vị trong xã hội,
cho nên chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ông đã đặt
được cư sĩ cho hội Phật Học Nam Việt khắp các tỉnh miền
Nam. Ông đã làm hội trưởng hội Phật Học Nam Việt suốt
từ năm 1955 đến năm 1973. Điều đáng tiếc là ông đã không
đem được tài tổ chức hành chính của ông mà xây dựng
cho Giáo Hội này được thành lập vào năm 1964. Cố nhiên
một giáo hội mới được thành lập như Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất phải có những khuyết điểm về mặt
tổ chức và ông có quyền chỉ trích những khuyết điểm
đó. Tuy nhiên, ông chỉ có thể xây dựng được cho Giáo Hội
bằng cách đứng bên cạnh những người tăng sĩ và cư sĩ
đã từng là đồng chí của ông trong suốt mười ba năm trời
làm Phật sự, nghĩa là đứng hẳn vào trong Giáo Hội. Đằng
này ông đã để hội Phật Học Nam Việt đứng riêng ra, và
do đó ông đã không có cơ hội nào để trực tiếp xây dựng
cho Giáo Hội cả. Từ năm 1964 trở đi, hội Phật Học Nam
Việt trở thành một tập đoàn lẻ loi, không có tăng già
lãnh đạo, cho tới khi ông mất.
Tuy
vậy, cư sĩ Chánh Trí khi mất đi đã để lại thương tiếc
cho rất nhiều Phật tử, tăng sĩ cũng như cư sĩ. Nữ sĩ Mộng
Tuyết, ngày xưa từng là học trò của ông, đã đi câu đối:
Đêm
đẹp, trăng cười viên mãn
Đất
lành, hoa nở từ bi.
và
ghi ở dưới: “Sương phụ Đông Hồ, Mộng Tuyết, học trò
cũ của thầy nơi Hà Tiên, luôn luôn ghi nhớ ơn thầy”.
Thi
sĩ Vũ Hoàng Chương đã viết những dòng cảm niệm như sau:
Trong
thập niên đầu thế kỷ
hoa
mai đã nở một lần
để
rụng màu thanh vẻ quý
giờ
đây giữa buổi phong trần
Nhưng
cũng giờ đây lại nở
bên
trời Cực Lạc Tây Phật
năm
cánh mai vàng rực rỡ
ba
Xuân khi nguyệt tròn gương(119)
Hoa
nở hai lần… rũ sạch
bụi
hồng trên giả thân xưa
cõi
Phật dâng tròn cốt cách
bận
chi mùa nắng mùa mưa
Chỉ
xót cành Nam cành Bắc
cùng
chung một nỗi u hoài
ai
đó trước song mài mực
gió
lay còn tưởng bóng ai
Người
ấy, hỡi ơi, vừa khuất
đã
hay tuổi thọ danh truyền
dễ
mấy kiếp tu mà được
Sao
lòng ai vẫn sầu lên
Nghe
về mấy ngã sơn xuyên
rồi
đây Xuân quạnh tiếng quyên não nùng
Trong
các cầu đối điếu có đôi câu đối sau đây của cư sĩ
Lý Học:
“Cụ
trượng phu tướng, cụ phúc đức tướng, cụ từ bi tướng,
tướng tướng viên mãn;
Hiện
cư sĩ thân, hiện tể quan thân, hiện trưởng giả thân, thân
thân trang nghiêm.”
dịch:
“Đủ
tướng trượng phu, đủ tướng phúc đức, đủ tướng từ
bi, tướng nào cũng viên mãn,
Hiện
thân cư sĩ, hiện thân tể quan, hiên thân trưởng giả, thân
nào cũng trang nghiêm.”
--------------------------------------------------------------------------------
(113)
Mai Thọ Truyền: Le Bouddhisme Au Vietnam, édité par un groupe d’amis
de l’auteur, Sài Gòn,1962
(114)
Sách đã dẫn.
(116)
Từ Quang, số 239 (tháng Giêng 1973), bài Khảo cứu về Tịnh
Độ Tông.
(117)
Báo đã dẫn
(118)
Từ Quang, số 237 (tháng Mười một 1972), bài Khảo Cứu Về
Tịnh Độ Tông.
(119)
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương có lẽ là người đầu tiên đem hoa
mai trồng ở nước Cực Lạc