CHƯƠNG
XXVIII
HỘI
AN NAM PHẬT HỌC Ở TRUNG KỲ
THIỀN
SƯ GIÁC TIÊN
Thiền
sư Giác Tiên có thể gọi là người xướng khởi công trình
phục hưng Phật giáo tại miền Trung, Ông họ Nguyễn, sinh
năm 1880 tại làng Già Lê Thượng ở huyện Hương Thủy, tỉnh
Thừa Thiên. Ông xuất gia năm 15 tuổi tại chùa Từ Hiếu,
thụ giới sa di năm 21 tuổi, làm đệ tử của thiền sư Tâm
Tịnh. Năm 1904, thiền sư Tâm Tịnh nhường chức vụ trú trì
chùa Từ Hiếu lại cho người khác và về dựng am Thiếu Lâm
gần chùa Tây Thiên để an cư tĩnh tu. Giác Tiên hồi đó được
hai mươi bốn tuổi, được theo về Thiếu Lâm với thầy.
Bốn năm sau, một Đại Giới Đàn được tổ chức tại chùa
Phước Lâm ở Quãng Nam do thiền sư Vĩnh Gia làm Đường Đầu
Hòa Thượng, Giác Tiên được gửi vào thụ giới Cụ Túc.
Tại giới đàn, ông tỏ ra là một giới tử xuất sắc nên
được chỉ định làm thủ chúng sa di. Đó là vào năm 1910.
vào khoảng 1913 khi ni sư Diên Trường dựng xong chùa ở Trúc
Lâm ở làng Dương Xuân Thượng, ông được mời về trú trì
chùa này. Năm 1920 khi thiền sư Huệ Pháp mở giảng đường
tại chùa Thiên Hưng, ông đã cùng các đệ tử của ông tìm
đến để cầu học. Thiền sư Huệ Pháp khen ông là người
có túc căn thâm hậu. Năm 1925, ông được vâng sắc chỉ triều
đình làm trú trì chùa Diệu Đế. Năm 1929, sau khi trùng tu
chùa Trúc Lâm, ông mở Phật học đường tại đây và ra vào
Bình Định rước thiền sư Phước Huệ chùa Thập Tháp ra
làm chủ giảng. Từ đó năm nào thiền sư Phước Huệ cũng
được thỉnh về Trúc Lâm để giảng huấn. Các đệ tử
của Giác Tiên là Mật Khế, Mật Nguyện, Mật Hiến và Mật
Thể đều được theo học và được đóng những vai quan trọng
trong phong trào chấn hưng sau này.
Trong
số những người theo học tại Trúc Lâm có một vị cư sĩ
tên là Lê Đình Thám, y sĩ trưởng tại Viện Pasteur Huế.
Cư sĩ Lê Đình Thám là đệ tử của Giác Tiên từ năm 1928,
pháp danh là Tâm Minh. Chính người này đã vâng lời Giác Tiên
triệu tập các đồng lữ thành lập Hội An Nam Phật Học
năm 1932.
Giác
Tiên hướng đạo cho hội An Nam Phật Học được có bốn
năm thì tịch. Ông mất vào ngày mồng bốn tháng 10 âm lịch,
hưởng thọ 57 tuổi, đang lúc đảm nhiệm trách vụ trú trì
hai chùa Diệu Đế và Trúc Lâm, và chứng minh đạo sư cho
hội An Nam Phật Học(52).
Hồi
sinh tiền, Giác Tiên đã được Tâm Định trao cho bài kệ
đắc pháp sau đây:
Giác
đạo kiếp không tiền
Không
không bát nhã thuyền
Quả
nhân phù hạnh giải
Xứ
xứ đắc an nhiên
dịch:
Đường
Giác trước không kiếp
Thuyền
bát nhã không không
Hạnh
giải hợp nhân quả
Ở
đâu cũng thung dung.
Thiền
sư Giác Tiên đã từng đứng ra tổ chức Đại Giới Đàn
tại chùa Từ Hiếu năm 1923. tại giới đàn này, đệ tử
của ông là Mật Khế đã thụ địa giới, trong khi thầy ông
là Tâm Tịnh là hòa thượng truyền giới. Ông rất chú trọng
đến việc đào tạo tăng tài; nhờ có cố gắng của ông
mà chùa Trúc Lâm đã thành nơi xuất phát của nhiều cây cột
trụ của nên Phật giáo cận đại. Trúc Lâm đã tạo được
tới bốn lớp cán bộ tăng sĩ. Các thiền sư Quảng Huệ,
Trí Thủ, Mật Thể, Chánh Thống, Thiện Trí, Thiện Hòa, Thiện
Hoa v.vv… đều đã được huấn luyện tại đây.
Năm
1933. Giác Tiên ủy cho Mật Khế mở một trường tiểu học
Phật học cho sa di các chùa tại chùa Vạn Phước. Năm 1934
ông lại cùng Mật Khế tổ chức trường An Nam Phật Học
tại chùa Trúc Lâm, thu nhận được đúng 50 học tăng. Cuối
năm này ông lại quy tụ các vị học tăng có học lực khá
cao về Trúc Lâm để mở cấp đại học Phật giáo.
Ông
mất, hội An Nam Phật Học tổ chức tang lễ rất lớn. Câu
trướng của hội như sau:
Trúc
Lâm không quải tam canh nguyệt
Diệu
Đế tri văn ngũ dạ chung.
Đại
diện hội Bắc Kỳ Phật giáo tại tang lễ đã đi câu đối:
Vân
nạp Bắc lai, đàm luận di tuần khâm Giác chỉ
Trúc
Lâm Nam vọng, vãng sinh hà xứ mịch Tiên tung?
Để
có một ý niệm về thi kệ của ông, ta hãy đọc bài thơ
ông tặng cho đệ tử là Mật Khế trước giờ Mật Khế lâm
chung. Danh từ Tâm Địa trong bài là pháp danh của Mật Khế.
Tâm
Địa quan hàm pháp tính viên
Tây
Lai diệu chỉ hiểu Nam thiên
Hoạt
nhiên trực triệt Tào Khê lộ
Miễn
tại linh đinh ngũ thập niên.
dịch:
Cõi
tâm bao hàm Pháp giới tính
Trời
Nam sáng tỏ ý Tây truyền
Bỗng
nhiên thấu triệt Tào Khê lộ
Khỏi
mất công dài năm chục năm.
CƯ
SĨ TÂM MINH
Đệ
tử tại gia xuất sắc nhất của Giác Tiên hẳn là Tâm Minh
Lê Đình Thám. Bác sĩ Lê Đình Thám là một người có tư
chất cực kỳ thông minh và trái tim đầy nhiệt tình. Ông
sinh năm 1897 tại Quảng nam, con của thượng thư bộ binh Lê
Đỉnh triều Tự Đức. Từ hồi nhỏ ông đã được học
Nho và đã làm được văn bài cùng thi phú cổ điển. Lớn
lên ông theo tân học, đậu thủ khoa trong tất cả các kỳ
thi từ cấp tiểu học đến Đại học. Ông tốt nghiệp thủ
khoa Đông Dương Y Sĩ khóa 1916, và Y Khoa Bác Sĩ khóa 1930.
Năm
1926 lúc còn làm y sĩ tại bệnh viện Hội An, trong một dịp
viếng chùa Tam Thai, ông được đọc bài kệ Bồ Đề Bản
Vô Thụ của Huệ Năng viết trên vách chùa. Đây là lần đầu
tiên ông tiếp xúc với văn học Phật giáo. Bài kệ đó gây
một ấn tượng sâu trong tâm não ông, nhưng mãi đến năm
1928, về làm việc tại Viện Pasteur Huế, ông mới gặp người
giải thích cho ông một cách thỏa đáng về bài kệ ấy. Người
đó là Thiền sư Giác Tiên.
Thấy
được diệu lý, ông phát tâm quy y Tam Bảo, thờ Giác Tiên
làm thầy, được pháp danh là Tâm Minh, pháp tự là Châu Hải.
Ông phát nguyện ăn chay trường từ đó. Lúc ấy ông mới
có ba mươi mốt tuổi, và Mật Khế đệ tử đầu của Giác
Tiên mới có hai mươi bốn tuổi. Hai ngưòi bạn đồng sư
này thân cận nhau và nâng đỡ nhau trong việc nghiên tầm kinh
luận.
Tâm
Minh Lê Đình Thám đã có căn bản Hán học lại có óc thông
minh nên đã đi rất mau trên con đường học Phật. Liên tiếp
trong ba năm (1929-1932) ông được học tập dưới sự chỉ
đạo của Giác Tiên và của thiền sư Phước Huệ, một cao
tăng nổi tiếng bác thông minh kinh luận vào bậc nhất thời
ấy. Tuy thì giờ học Phật của ông bị giới hạn bởi nghề
nghiệp y sĩ, ông đã vượt xa các bạn đồng học trong thời
gian ấy. Năm 1930 ông lại còn phải ra Hà Nội thi bằng Y Khoa
Bác sĩ ngạch Pháp nữa, vậy mà ông vẫn có đủ thì giờ
học Phật. Lê Đình Thám có lẽ là người cư sĩ đầu tiên
ở thế kỷ thứ hai mươi đã dự phần vào việc đào tạo
tăng tài. Phật học của ông được các bậc tôn túc công
nhận là thâm uyên, cho nên ông đã được mời vào giảng
dạy trong các Phật học đường Trúc Lâm và Tường Vân. Ông
luôn luôn mặc lễ phục (áo tràng) và đảnh lễ chư tăng
trước khi bước lên pháp tòa để giảng kinh cho họ. Lớp
học ở Tường Vân là một lớp trung đẳng; trong thính chúng
có nhiều bậc tỳ khưu học lực đã khá thâm hậu.
Trong
số những vị cư sĩ tham dự vào việc vận động thành lập
hội An Nam Phật Học, ta thấy có Ưng Bàn, Nguyễn Đình Hòe,
Nguyễn Khoa Tân, Viễn Đệ, Nguyễn Khoa Toàn, Ưng Bình, Bửu
Bác, Trần Đăng Khoa, Lê Thanh Cảnh, Lê Quang Thiết, Trương
Xướng, Tôn Thất Quyên, Nguyễn Xuân Tiêu, Hoàng Xuân Ba, Lê
Bá Ý và Tôn Thất Tùng. Trong bước đầu, Lê Đình Thám đảm
nhiệm chức vụ hội trưởng, nhưng ông không ngồi mãi ở
địa vị đó. Các vị khác như Nguyễn Khoa Tân, Ưng Bàng v.v…
cũng thay thế nhau là hội trưởng cho hội. Lê Đình Thám không
những làm cái trục trung ương của hội mà còn là linh hồn
của tạp chí Viên Âm nữa. Sở dĩ ông làm việc được một
cách bền bỉ là tại vì ông có đủ đức khiêm nhượng.
Ông làm một chất keo dính liền các phần tử khác biệt về
tuổi tác và về nhận thức chính trị.
Tuy
con đường của ông là con đường ôn hòa, bản chất của
ông không phải là bảo thủ. Anh ruột ông đã từng bị thực
dân Pháp đầy lên Ba Mê Thuột và hạnh hạ đến nỗi phải
tự sát ở đó vì đã tham dự vào việc khởi nghĩa của vua
Duy Tân. Trong suốt thời gian 1916-1923 làm việc tại các bệnh
viên Bình Thuận, Quy Nhơn và Tuy Hòa, ông thường bị nhà cầm
quyền theo dõi. Ông đã tham dự vào việc tổ chức truy điệu
chí sĩ Phan Châu Trinh tại Quảng Nam và đã bị thuyên chuyển
đi Hà Tỉnh vào cuối năm 1926. Ông đã giúp hội An Nam Phật
Học đạt được những nền tảng khá vững chãi cho cuộc
phục hưng Phật giáo vào những năm sáu mươi sau này.
Chữ
“Học” trong danh từ An Nam Phật Học, theo ông còn có nghĩa
là “Hành”. Tên chữ Pháp của hội, in trên bìa Viên Âm
SEERBA, nghĩa làSociété d’Annam! Hội đã liên tiếp mời các
thiền sư Giác Tiên (chùa Diệu Đế), Giác Nhiên (chùa Báo
Quốc) vàTịnh Hạnh (chùa Tường Vân) làm chứng minh đạo
sư cho hội đã có sự hậu thuẫn của cá bậc tôn túc ở
các tổ đinh và sự cộng tác của các vị tăng ni xuất sắc
thời đó như Mật Khế, Mật Nguyện, Đôn Hậu, Trí Độ,
Trí Thủ, Mật Thể, Diệu Hương và Diệu Viên.
CHỈNH
LÝ TĂNG CHẾ VÀ ĐÀO TẠO TĂNG TÀI
Như
ta đã biết, sơn môn Huế và hội An Nam Phật Học rất chú
trọng về việc đào tạo tăng tài và chỉnh lý tăng giới.
Số lượng chư tăng thất học cũng như số lượng những
vị thầy cúng không sống theo nếp sống thanh quy là một lo
lắng thường trực của họ. Ngoài việc thành lập các lớp
Phật học cho tăng sĩ trẻ tuổi các chùa, họ đã đề ra
một chương trình chỉnh lý tình trạng tăng sĩ. Chương trình
đó gồm có hai điểm:
1-
Thành lập một hội đồng luật sư gồm có những bậc tăng
già tinh thông giới luật để giám sát giới hạnh của tăng
chúng. Ngoài ủy ban trung ương còn có những ban địa phương
đặt tại các tỉnh: những ban này gồm có năm vị gọi là
luật sư. Mỗi tỉnh được chia ra nhiều địa phận, mỗi
địa phận có một vị luật sư giám sát. Hễ khi nào có sự
báo cáo về sự vi phạm giới luật của một vị tăng thì
vị luật sư phải thân hành đi đến tận nơi để tra cứu
và cuối năm thì trình lại Hội Đồng Luật Sư để tài phán.
2-
Tổ chức những ban thầy cúng gồm có những người biết
tán, tụng, cầu an, cầu siêu va hướng dẫn tang lễ. Những
“thầy cúng” này chỉ được mặc áo màu xám năm thân,
không được mặc áo tràng, nhật bình, y màu nâu hoặc y màu
vàng. Họ ở nhàhoặc ở chùa riêng để hành nghề cúng đám
chứ không được ở thiền viện và tổ đình nơi dành riêng
cho tăng sĩ thực thụ mà giới pháp là người giới sa di và
hai trăm năm mươi giới tỳ kheo. Muốn làm thầy cúng thì tối
thiểu cũng phải thụ một hoặc hai giới(53).
Ngoài
ra, cư sĩ phải tham dự vào việc chỉnh lý tình trạng tăng
sĩ bằng cách:
1)
Không nên nhận người phá giới là tăng sĩ.
2)
Phá bỏ những điệp quy y thụ giới do các ông thầy tu nói
trên cấp cho.
3)
Công bố sự phạm giới có bằng cớ của tăng sĩ.
4)
Bảo hộ và cúng dường các vị tinh nghiêm giới luật.
5)
Không tham dự vào những công việc không phù hợp với Phật
pháp.
6)
Tham dự vào công việc hoằng dương chánh pháp và chỉnh đốn
tăng già(54).
Chương
trình nói trên là một chương trình khá táo bạo, nhưng đã
vấp vào nhiều trở lực đáng kể. Về tâm lý, cư sĩ ham
chuộng những lễ hộ niệm và cầu nguyện các bậc tăng già
đức hạnh chủ trì hơn là do những ông “thầy cúng” kể
trên hướng dẫn. Về kinh tế, nhiều chùa chiền, kể cả
những chùa chân tu lâu nay sinh sống là nhờ sự ủng hộ của
tín đồ cư sĩ và sở dĩ có sự cúng dường bảo trợ ấy
một phần quan trọng là do nghi lễ ứng phú mà tăng sĩ các
chùa ấy cung cấp cho tín đồ. Số lượng những tổ đình
có ruộng đủ sức nuôi đại chúng thì rất nhỏ bé, và sự
bảo trợ của cư sĩ cho các tự viện không đủ để bảo
đảm cho các tự viện ấy.
Chương
trình, tuy vậy, đã được thực hiện một phần. Sau này,
tại sơn môn các tỉnh, lúc nào cũng có một vị kiểm tăng
để giám sát về giới luật của tăng chúng địa phương.
Chương
trình Phật học đầu tiên của trường An Nam Phật Học tại
Trúc Lâm được hoạch định làm hai cấp, tiểu học và đại
học, như sau:
Tiểu
học (năm năm):
Năm
thứ nhất - Quốc văn và hai buổi công phu
Năm
thứ hai - Sự tích Phật Thích Ca - Bốn phép Toán - Phật học
giáo khoa toàn thư.
Năm
thứ ba - Luật Sa Di (trường hàng) - Vô lượng Thọ Kinh - Địa
Tạng Kinh – Thủy Sám Pháp.
Năm
thứ tư - Sa Di Luật Giải (trường hàng) – Vô Lượng Thọ
Kinh – Địa Tạng Kinh – Thủy Sám Pháp.
Năm
thứ năm - Di Đà Sớ Sao – Pháp Bảo Đàn Kinh
(tốt
nghiệp tiểu học thì học tăng được thụ Sa Di Giới)
Đại
Học (năm năm)
Năm
thứ nhất - Kim Cương Trực Sớ – Tâm Kinh Chú Giải – Duy
Thức Phương Tiện Đàm – Bát Thức Quy Củ Tụng – Trang
Sớ
Năm
thứ hai - Lăng Nghiêm Kinh – Viên Giác Kinh – Nhân Minh Luận.
Năm
thứ ba - Lăng Già Kinh – Khởi Tín Luận – Đại Thừa Chỉ
Quán
Năm
thứ tư - Thành Duy Thức Luận - Pháp Hoa Kinh – Phạm Võng
Kinh-
Năm
thứ năm - Đại Bát Niết Bàn – Tứ Phần Luật
(tốt
nghiệp đại học thì học tăng được thụ Tỳ khưu giới)
Sau
khi tốt nghiệp có thể ở lại trường ghi tên vào lớp tham
cứu, cũng năm năm)
Năm
thứ nhất - Lăng Nghiêm Trực Chỉ – Viên Giác Lước Sớ
– Duy Ma Sớ – Tam Luận (Trung Luận, Bách Luận và Thập Nhị
Môn Luận)
Năm
thứ hai - Lăng Già Tâm Ấn Sớ – Giải Thâm Mật Kinh – Du
Già Sư Địa Luận
Năm
thứ ba - Pháp Hoa Kinh Huyền Nghĩa – Pháp Hoa Văn Cú – Ma
Ha Chỉ Quán
Năm
thứ tư - Hoa Nghiêm Luận – Hoa Nghiêm Sớ Sao
Năm
thứ năm - Đại Trí Độ Luận – Tông Cảnh Lục – Chỉ
Nguyệt Lục – Hải Triều Âm Văn Khố
Chương
trình nói trên được hoạch định vào năm 1934. Chương trình
này có khuyết điểm là dài quá, và nhất là hai năm đầu
tiểu học không cần thiết. Kiến thức của hai năm này thực
ra có thể được các chùa địa phương cung cấp trước khi
học tăng gửi về Phật học đường, và như vậy gánh nặng
tài chính của trường sẽ được giảm bớt một phần. Chương
trình lại còn những điểm không hợp lý, ví dụ năm thứ
nhất cao đẳng: đã gồm có Lăng Nghiêm Trực Chỉ, Viên Giác
Lược Sớ, Duy Ma Sớ mà còn thêm ba bộ luận lớn của không
tôn (Tam Luận). Không ai có thể dạy và học tất cả những
tác phẩm đó trong một năm.
Đến
năm 1944, một chương trình mới được hoạch định như sau:
Sơ
đẳng (hai năm)
Năm
thứ nhất -
Kinh:
Thập Thiện Nghiệp Đạo – Ngũ Thiên Sứ Giả – Trừ Khủng
Tai Hoạn – Bụt Kinh – Tứ Thập Nhị Chương – Bát Đại
Nhơn Giác.
Luật:
Sa Di
Luận:
Duy Thức Tam Tự Kinh
Khóa
tụng: Nghi thức của hội (giảng giải) và các khóa nghi trong
sơn môn.
Năm
thứ hai
Kinh:
Phật Di Giáo - Nhị Khóa Hợp Giải.
Luật:
Cảnh Sách
Luận:
Đại Thừa Bách Pháp Môn Minh Môn Luận Giải (của Khuy Cơ)
Bát
Thức Quy Củ Tụng Trang Chú - Đại Thừa Khởi Tín Luận.
Khóa
Tụng: các khóa nghi trong Sơn Môn.
Trung
đẳng (hai năm):
Năm
thứ nhất
- Kinh:
Duy Ma Cật Kinh Giảng Lục (Thái Hư) - Kim Cương Kinh Giảng
Lục (Thái Hư)
Luật:
Ưu Bà Tắc Giới Kinh
Luận:
Đại Thừa Chỉ Quán - Duy Thức Đích Khoa Học Phương Pháp
- Nhân Minh Luận Sớ.
Khóa
tụng: Các khóa nghi trong Sơn Môn
Cao
đẳng (hai năm):
Năm
thứ nhất - Kinh: Lăng Già Tâm Ứng
Luật:
Bồ Tát Anh Lạc Kinh
Luận:
Bách Luận - A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận.
Năm
Thứ Hai - Kinh: Pháp Hoa Kinh Văn Cú
Luật:
Phạm Võng Kinh Hợp Chú
Luận:
Nhị Thập Môn Minh Luận - Thành Duy Thức Luận.
Theo
chương trình này, những học tăng tốt nghiệp Cao Đẳng, nếu
muốn thành giáo sư các trường Phật học thì phải ở lại
nghiên cứu và tu tập thêm ba năm nữa tại trường.
Chương
trình này thực tế hơn chương trình trước nhiều và cũng
hàm chứa một số tác phẩm mới như những sách giảng lục
của Thái Hư và Đại Viên. Muốn vào học, học tăng phải
qua một kỳ khảo thi. Trình độ căn bản là:
1-
Đậu Sơ học Pháp - Việt
2-
Biết đọc và biết viết chữ Hán.
3-
Quốc ngữ phải thông thạo. Có thể dịch một bài kinh luận
từ chữ Hán ra quốc ngữ và một vài câu quốc văn ra chữ
Hán.
Hội
An Nam Phật Học từ năm 1934 đã khuyến khích mở các Phật
học đường Sơ đẳng tại các tỉnh. Sự cộng tác của nhiều
chùa có thể đi đến một Phật học đường như thế. Sau
đây là những chỉ dẫn củahội về thể thức thành lập
Phật học đường:
Trường
ốc: Chọn chùa rộng rãi, khí hậu tốt không sinh bệnh, ở
đó tăng sĩ cư trú được nổi tiếng là giới hạnh tinh nghiêm.
Vị trú trì chùa có thể là ít học nhưng phải là người
tu hành chân chính.
Giáo
sư: Chọn trong số các vị tăng sĩ địa phương hai vị giáo
thọ, một vị chánh một vị phó. Vị trú trì nếu là người
có khả năng thì nên mời tham dự vào việc giảng dạy. Nếu
chưa có thầy giỏi thì chỉ nên mở một lớp sơ đẳng cho
giới sa di mà thôi.
Học
tăng: Chọn những chú tiểu thông minh và phúc hậu, con nhà
hiền lành, từ mười tới hai mươi tuổi, để mở một lớp
sơ đẳng. Mỗi lớp chỉ nên nhận từ 30 - 40 người. Những
học sinh không thi đậu lên lớp, nhất là những người trẻ
không có khả năng tu học thì nên cho về nhà sớm. Ban đầu
chỉ nên mở một lớp; khi có cơ sở rộng rãi sẽ mở thêm.
Tài
chính: Cần có từ 100 đến 150 đồng để làm phương tiện
chuẩn bị cư xá cho học tăng và lộ phí cho giáo thọ. Nên
kêu gọi các tín đồ hữu tâm mỗi người bảo trợ một
hoặc hai học tăng từ 10 đến 15 năm, mỗi năm đóng góp 3
đồng cho mỗi học tăng. Nếu thiếu phương tiện thì hai hoặc
ba người hợp tác để bảo trợ cho một học tăng. Sau khi
đãcó đủ người tình nguyện bảo trợ đủ 40 học tăng,
là có thể tổ chức Phật học đường ngay(55).
Trường
An Nam Phật Học được khai giảng năm 1933 tại chùa Vạn Phước,
số học tăng là 50 vị. Năm 1936, trường này được dời
về chùa Túy Ba gần bờ biển, và cuối năm ấy lại được
dời về chùa Báo Quốc. Thiền sư Trí Độ bắt đầu đảm
nhiệm trách vụ đốc giáo của trường này từ năm 1935. Tới
năm 1938, học tăng của trường còn đúng bốn mươi lăm vị,
trong số đó chỉ có mười lăm vị được học bổng của
Hội An Nam Phật Học. Trong số học tăng của trường này,
có nhiều vị từ các tỉnh Trung Kỳ tới.
Trường
Sơn Môn Phật học có nhiều lớp: một lớp đại học mở
tại chùa Trúc Lâm năm 1935 do thiền sư Giác Tiên làm giám
đốc, và một lớp trung học mở tại chùa Tường Vân do thiền
sư Tịnh Khiết trông nom. Thiền sư Phước Huệ phụ trách
làm đốc giáo giảng dạy cả hai lớp đại học và trung học.
Lớp trung học có nhận những học tăng từ miền Nam tới
như Thiện Hòa, Hiển Thụy, Hiển Không, Thiện Hoa, Chí Thiện
v.v… Trong số các giáo sư dạy trường này có các thiền
sư Tịnh Khiết, Đắc Ân, Thánh Duyên, cư sĩ Tâm Minh và một
số các học tăng đại học. Năm 1937, lớp này được dời
về chùa Tây Thiên.
Trường
ni học được khai giảng lần đầu tại chùa Từ Đàm năm
1932 do ni sư Diệu Hương giám đốc. Cuối năm ấy chùa Diệu
Đức ở xã Thủy Xuân được tạo lập. Ni học đường được
dời về chùa Diệu Đức, và chùa Từ Đàm trở thành hội
quan của hội An Nam Phật Học. Ngoài ni sư Giám Đốc, còn
có một số cá học tăng đai học của trường Sơn Môn Phật
Học tới giảng dạy, như Đôn Hậu, Trí Thủ, Mật Hiển và
Mật Nguyện.
Năm
1943 trường An Nam Phật Học thi tốt nghiệp. Trong số 50 học
tăng, chỉ có 6 vị đủ điểm: Võ Tường (Huế), Phạm Quang
(Quảng Bình), Nguyễn Bình (Sài Gòn), Đỗ Xuân Hàng (Quảng
Trị), Trần Trọng Thuyên (Quảng Ngãi) và Nguyễn Chí Quang
(Trà Vinh). Bốn người khác đủ điểm thi viết, nhưng thiếu
điểm phỏng vấn, phải vớt, là Nguyễn Phương (Đà Nẵng),
Nguyễn Hương (Sài Gòn), Phạm Học (Đà Nẵng) và Phạm Thơ
(Huế).
Năm1944,
Phật học đường Báo Quốc được dời về Tùng Lâm Kim Sơn
ở xã Lưu Biểu. Tùng Lâm Kim Sơn là một dự án xây dựng
lớn của hội An Nam Phật Học. Tiếc thay, Kim Sơn ra đời
không thích hợp thời cơ: nền kinh tế quốc gia sau ngày Nhật
đảo chính Pháp đã trở thành kiệt quệ. Sơn Môn và hội
An Nam Phật Học không đủ sức nuôi nổi học tăng. Học tăng
cũng không đủ sức đóng góp phạn phí. Tùng Lâm Kim Sơn bị
đóng cửa, và một số học tăng cấp trung học và sơ học
phải khăn gói vào Nam, nơi lúa gạo vẫn còn, để tìm nơi
ăn học. Thiền sư Thiện Hoa, lúc bấy giờ là kiểm khán của
Phật học đường Báo Quốc, là người đề xướng giải
pháp di cư học tăng này. Nguyên ông là học tăng từ miền
Nam, được hội Lưỡng Xuyên gửi ra tùng học tại Phật học
đường Tây Thiên từ năm 1937. Nghĩ rằng miền Nam cuộc khủng
hoảng kinh tế nhẹ hơn, cho nên ông đã đề xướng việc
di cư. Đoàn học tăng này phải đi bộ từ Huế vào Nam mất
mấy tháng trời. Cuộc di cư này xảy ra vào tháng Tư năm 1945,
sau khi Nhật đã đảo chính Pháp. Vào tới miền Nam, thiền
sư Thiện Hoa đưa học tăng đến chùa Vĩnh Tràng ở Mỹ Tho.
Sau đó, trường dời về chùa Phật Quang ở Trà Ôn, tỉnh
Trà Vinh. Nhờ cư sĩ Trương Hoàng Lâu, một đệ tử của thiền
sư Khánh Hòa, ra tay vận động ủng hộ về tài chính, trường
Phật Quang mới đứng vững được. Nhưng khi Cách Mạng Tháng
Tám đến, phần lớn học tăng hăng hái đi tham gia kháng chiến.
Phật học đường này vì vậy đã giải thể.
Các
lớp học của trường Sơn Môn Phật Học năm 1944 được dời
về chùa Linh Quang. Thiền sư Trí Thủ giữ trách vụ giám viện
của trường, đồng thời kiêm nhiệm trách vụ trú trì của
chùa. Năm 1946, trường dời về chùa Báo Quốc.
Hội
An Nam Phật Học lúc đầu đặt trụ sở tại chùa Từ Quang
và nguyệt san Viên Âm đã đặt tòa soạn tại số 13 đường
Champeau Huế. Các buổi giảng diễn Phật pháp đầu tiên được
tổ chức tại chùa Từ Quang, và hai giảng sư phụ trách giảng
diễn nhiều nhất là Mật Khế và Tâm Minh Lê Đình Thám. Cư
sĩ Tâm Mminh cũng viết những bài Phật pháp bằng Pháp văn
để đăng trên báo Viên Âm nữa.
THIỀN
SƯ MẬT KHẾ
Giảng
sư Mật Khế là một trong những đóng góp cụ thể nhất của
Giác Tiên cho nền Phục hưng Phật học. Mật Khế sinh năm
1904 tại làng Thần Phù tỉnh Thừa Thiên. Chín tuổi ông đã
được theo làm tiểu đồng cho Giác Tiên. Năm mười chín tuổi
ông được chính thức thế độ, pháp danh là Tâm Địa, pháp
hiệu là Mật Khế. Cũng năm ấy, ông thọ Cụ Túc Giới tại
giới đàn Từ Hiếu do thiền sư Tâm Tịnh làm hòa thượng.
Trong giới đàn này ông là người xuất sắc nhất trong các
giới tử nên chỉ định làm thủ chúng sa di và sau khi thụ
giới, ông được thiền sư Tâm Tịnh tặng cho một bộ ca
sa và một cái bình bát.
Năm
22 tuổi ông được gửi vào chùa Thập Tháp Bình Định học
với thiền sư Phước Huệ, khi Phước Huệ ra dạy ở Trúc
Lâm, ông lại theo ra để tiếp tục học tập. Năm 1933 ông
lập trường tiểu học Phật giáo tại chùa Vạn Phước và
đến năm 1935 ông lại hợp tác với Giác Nhiên mở trường
An Nam Phật Học tại Trúc Lâm.
Ông
hoạt động với tư cách tổng thư ký của Sơn Môn Thừa Thiên,
và giảng sư của hội An Nam Phật Học. Những bài giảng của
ông tại chùa Từ Quang như Tam Quy Ngũ Giới, Trạch Pháp Tu
Tâm, Thanh Văn Thừa, Bồ Tát Thừa, Pháp Môn Niệm Phật v.v…
đều được in lại trong báo Viên Âm.
Năm
1934 ông và Trí Độ đi Quảng Ngãi dự Giới Đàn Thạch Sơn
với tư cách “phóng viên” của báo Viên Âm. Để chuẩn
bị cho Lễ Phật Đản vĩ đại tổ chức tại Huế năm 1935.
ông đã đề ra nhiều tuần lễ vận động trong giới tăng
sĩ Thừa Thiên để mang lại sự ủng hộ toàn diện của giới
này cho buổi lễ. Ngày 10.5.1935, trong lúc đại lễ đang được
cử hành tại chùa Diệu Đế thì ông thị tịch tại chùa
Trúc Lâm. Thiền sư Giác Tiên, không có mặt tại buổi lễ,
ngồi bên ông trong giờ phút ông sửa soạn nhập diệt. Giác
Tiên đã cầm bút viết một bài kệ bốn dòng trao cho ông
đọc(56). Đọc xong ông nhắm mắt chiêm nghiệm. Mười lăm
phút sau ông từ trần, tuổi đời chỉ mới 31 tuổi. Ngày
an táng ông, một người bạn thân thiết là cư sĩ Vân Đàn
tặng đôi câu đối bằng chữ Nôm như sau:
Rừng
Mai đạp tuyết, cay đắng trải bao phen, cơ hóa độ còn nhiều,
hy vọng chứa chan, tằm kéo tơ lòng thêu sử Phật;
Sàng
Trúc trổ hoa, tỉnh mê trong nửa kiếp, tình tương tri quá
nặng, sầu trường man mác, quyên rơi giọt lụy gọi hồn
thiêng.
Có
lẽ giảng sư Mật Khế đã phí sức nhiều quá trong những
ngày vận động cho lễ Phật Đản, một cuộc biểu dương
đầu tiên của lực lượng quần chúng Phật giáo trong phong
trào phục hưng. Như ta đã biết, đại lễ này có vua Bảo
Đại tham dự, đã làm cho báo chí trong nước nói tới nhiều
lần và câu hỏi về sự cần thiết hay không càn thiết một
cuộc phục hưng Phật giáo đã được đặt ra giữa dư luận
của quần chúng quảng đại. Tổng Trị Sự của hội An Nam
Phật Học qua trung gian của những người như Ứng Bàng, Nguyễn
Đình Hòe, Nguyễn Khoa Tân v.v… trước đó đã vận động
để vua Bảo Đại nhận chức vị hội trưởng danh dự của
hội. Từ năm trước, tức là năm 1934, vua Bảo Đại đã ban
sắc tứ cho các chùa Tây Thiên, Tường Vân và Trúc Lâm. Chùa
Tường Vân nguyên đã là một chùa sắc tứ rồi, bây giờ
lại được ban sắc tứ một lần nữa. Chùa Tây Thiên bây
giờ lại được hiệu là “Sắc Tứ Tây Thiên Di Đà Tự”
và chùa Trúc Lâm “Sắc Tứ Đại Thánh Trúc Lâm Tự”. Đại
Thánh Trúc Lâm tức là vua Trần Nhân Tông ngày xưa vậy. Sau
lễ Phật Đản 1935, có nhiều bài báo công kích đạo Phật,
cho rằng đạo Phật làđạo ru ngủ và phục hưng Phật giáo
là một việc làm không hợp thời. Chẳng hạn báo Ánh Sáng
ra ngày 8.6.1935 đã đăng một bài của Kính Hiển Vi. Nhan đề
là Phật Giáo Dưới Kính Hiển Vi. Ký giả Nguyễn Xuân Thanh
của Viên Âm bác bỏ các luận cứ của Kính Hiển Vi, và bảo
rằng Kính Hiển Vi chỉ “có thể để xem vi trùng chứ không
có thể xem Phật giáo” Ông cho rằng Phật giáo rất thích
hợp với đời sống mới, rằng đạo Phật có đủ tinh thần
cải cách, tinh thần độc lập, tinh thần thực hành và tinh
thần dũng cảm(57). Tuy chứng minh đạo sư của hội là Giác
Nhiên có viết thư khuyên Viên Âm “tránh sự cãi cọ như
tránh hang lửa trừ khi phải hộ pháp”, tạp chí Viên Âm
vẫn chứng tỏ làm một tạp chí có biện tài. Trong khi Tâm
Minh đối chất với Bích Liên và những học giả khác về
đề tài “Cái Hồn”, thì Nguyễn Xuân Thanh thẳng tay phê
bình những bài viết trên các báo Tràng An và Ánh Sáng về
đạo Phật. Chủ trương của Nguyễn Xuân Thanh là đạo Phật
có thể luyện cho con người một tinh thần tự lập, khẳng
khái, cương quyết, biết hy sinh, và thanh niên của đạo Phật
là người có thể thực hiện được tinh thần ấy vì họ
là những bực đã phát bồ đề tâm. Cây bút Nguyễn Xuân
Thanh là cây bút thanh niên. Ông nhấn mạnh với đối phương:
“Người nào muốn phê bình đạo Phật thì trước hết, ít
nữa cũng phải biết đạo Phật là chi đã”(59). Nguyễn Xuân
Thanh còn viết nhiều bài nữa để chứng minh rằng Phật học
rất cần thiết để bổ túc cho khoa học.
Hội
An Nam Phật Học lập tỉnh hội, chi hội và khuôn hội tại
khắp các tỉnh Trung Kỳ. Chi hội là đơn vị phủ huyện của
hội, và khuôn hội là đơn vị xã. Vào khoảng năm 1940, cơ
sở tổ chức của hội đã vững chãi từ thành thị đến
thôn quê khắp xứ.
KHỞI
NGUYÊN CỦA PHONG TRÀO THANH THIẾU NIÊN PHẬT TỬ.
Cũng
vào khoảng năm 1940, cơ sở của tổ chức Thanh Thiếu Niên
Phật Tử được thành lập. Từ 1932 những tổ chức thiếu
niên thiếu nữ đã có mặt rồi, được gọi là những ban
Đồng Aáu, ở Trung thì do các vị như Bửu Bác chăm sóc dạy
dỗ, ở Bắc thì có các vị như Công Chân luyện tập. Tuy
nhiên những ban Đồng Ấu này chưa đích thực là những tổ
chức giáo dục thanh niên theo phương pháp mới. Năm 1940, cơ
sở của tổ chức Thanh Thiếu Niên Phật tử được thành
lập. Từ 1932 những tổ chức thiếu niên thiếu nữ đã có
mặt rồi, được gọi là những ban Đồng Ấu. Ở Trung thì
do các vị như Bửu Bác chăm sóc dạy dỗ, ở Bắc thì do các
vị như Công Chân luyện tập. Tuy nhiên những ban Đồng Ấu
này chưa đích thực là những tổ chức giáo dục thanh niên
theo phương pháp mới. Năm 1940, Tâm Minh Lê Đình Thám quy tụ
một số thanh niên tri thức tân học tại Huế, phần lớn
là con cháu các cư sĩ đã từng hoạt động trong hội An Nam
Phật Học, và thành lập đoàn Thanh Niên Phật học Đức Dục.
Ông cũng gọi cái tổ chức bằng danh từ Pháp ngữ “Commission
d’Etudes Bouddhiques Et De Perfec-tionnement Moral”. Đích thân ông
đứng ra hướng dẫn cho đoàn và dạy Phật pháp cho họ. Những
thanh niên tân học này không học Phật pháp bằng những văn
bản Hán văn nữa. Họ được nghe trình bày đạo Phật theo
đường lối tân học, cho nên họ hiểu giáo lý rất mau chóng.
Đồng thời với Phật học, họ còn được học Nho học và
Lão học nữa. Ông Đinh Văn Chấp, tiến sĩ Hán học, đã tham
dự vào việc giảng huấn cho lớp này. Ông đã giảng các
sách Đại Học và Trung Dung của Nho giáo.
Đoàn
Thanh Niên Phật Học Đức Dục lúc ấy là tượng trưng cho
một đạo Phật rất “mới”. Bài ca chính thức của đoàn
được soạn và hát ca bằng tiếng Pháp! Điều này khiến
cho giới thiếu niên thấy rằng đạo Phật làmột cái gì
rất “hợp thời”, không còn cổ hủ nữa. Đây là “Bài
Hát Chính Thức” của tổ chức Gia Đình Phật Tử “Hoa Sen
Trắng” sau này. Lời Pháp hồi ấy như sau:
Rangeons
nous, mes amis
Pour
chanter gaiement en choeur
Portons
tous vers Bouddha
Notre
foi et notre ardeur
Engageons-nous
à tout prix
Sur
la route qui monte brille
Et
ce chant s’élevéra
Pour
unir nos jeunes coeurs(60)
Nhiều
ban Đồng Ấu mới được thành lập, và những ban này bắt
đầu hướng dẫn, học tạp và rèn luyện bởi những đoàn
viên của đoàn Phật học Đức Dục. Cuốn sách căn bản về
Phật học để giáo dục thanh thiếu niên hồi ấy là cuốn
Phật Giáo Sơ Học được đoàn Phật Học Đức Dục soạn
và ấn hành năm 1942. thấy thế hệ trẻ làm việc có hiệu
quả, Lê Đình Thám giao cho họ việc biên tập Viên Âm và
sử dụng tạp chí này để tạo dựng một thế hệ Phật
tử mới. Từ số 48 trở đi(61) Viên Âm đổi mới hoàn toàn.
Hầu hết mọi bài vở đều do đoàn viên Đoàn Phật Học
Đức Dục viết. Văn của họ mới, gọn và dễ hiểu, hướng
cả về tuổi trẻ. Truyện tiền thân của họ viết làm say
mê thiếu niên và thiếu nữ(62). Trong phần Pháp văn họ viết
về sự thực tập thiền định (Pratique de la Méditation), giới
thiệu phần thực tiễn và tinh ba nhất của đạo Phật cho
giới tân học.
Rất
nhiều đoàn viên của Đoàn Phật Học Đức Dục đã đóng
góp bài cho Viên Âm: Lê Hữu Hoài, Phạm Hữu Bình, Lê Bối,
Trần Đỗ Cung, Ngô Điền, Nguyễn Năng Viên, Nguyễn Hữu Quán,
Võ Đình Cường, Đinh Văn Vinh, Hoàng Kim Hải, Trực Hiên, Hà
Thị Hoài, Nguyễn Khải, Ngô Đồi, Phạm Hữu Bình là một
trong những người có kiến thức giáo lý vững chãi nhất.
Ông đã viết về Duy Thức trong nhiều số Viên Âm.
Đoàn
Phật Học Đức Dục lại có tổ chức Phật học Tùng Thư
và xuất bản nhiều sách Phật, trong đó có cuốn Phật Giáo
Và Thanh Niên Đức Dục của Phạm Hữu Bình và cuốn Phật
Giáo Và Đức Dục của Đinh Văn Vinh. Hai cuốn này đều nhằm
đến sự xây dựng phong trào thanh niên Phật tử.
Trong
những năm 1942, 1943 và 1944, các lớp Phật pháp được tiếp
tục tổ chức cho thanh niên tân học vào mùa nghỉ hè và cư
sĩ Tâm Minh luôn luôn phụ trách việc giảng dạy. Vào ngày
Phật Đản năm 1944, một đại hội Thanh Thiếu Niên Phật
Tử được tổ chức tại rừng Quảng Tế. Đại hội này
khai sinh Gia Đình Phật Hóa Phổ, tiền thân của tổ chức
Gia Đình PhậtTử sau này.
CON
NGƯỜI VÀ TƯ TƯỞNG CỦA TÂM MINH
Cư
sĩ Tâm Minh có nhiều tài năng. Trong các số đầu của Viên
Âm, ông tự tay viết cả truyện ngắn (ký tên T.M.), truyện
dài (ký tên Châu Hải) và truyện hài hước (ký tên Ba Rảm),
gọi đó là những “biệt khai phương tiện”. Tuy rằng truyện
ngắn và truyện dài của ông(63) có nhiều ý vị nhưng vì
độc giả Viên Âm muốn dành hết số trang cho giáo lý nên
đến số 4, ông hy sinh hai mục đó và chỉ giữ lại mục
câu chuyện khôi hài, tức là câu chuyện của chú tiểu Cửu
Giới.
Viên
Âm ra mắt số đầu ngày 1.12.1933. Danh từ Viên Âm được
giải thích như sau: “Viên Âm nghĩa là tiếng tròn. Tiếng
tròn là tiếng nói hoàn toàn; tiếng nói hoàn toàn duy chỉ
pháp âm của Phật. Phật là bậc viên giác, tự giác, giác
tha, giác hạnh viên mãn, cho nên lời nói tròn, việc làm tròn,
giáo pháp tròn, tròn theo bổn tánh thanh tịnh, tròn làm sao,
trong tròn, ngoài tròn, trên tròn, dưới tròn, cũng tam giới
khắp thập phương, lớn nhỏ xa gần đâu đâu cũng tròn cả”
Khả
năng học Phật của Tâm Minh có thể nhận ra trong các thiên
khảo luận như Kết Sinh Tương Tục Luận và trong các bản
dịch thuật và chú giải của các kinh như Lăng Nghiêm Kinh.
Tuy làm được thật nhiều việc, ông vẫn có thái độ khiêm
cung và sự khiêm cung và sự khiêm cung này được trông thấy
nơi một bài thơ ông làm và đăng ở Viên Âm số 17 (tháng
Chín 1935):
Bấy
nay vật vã kiếp phù trầm
May
đặng vào tai tiếng Phạm Âm
Tùy
tiện trau dồi gương chánh kiến
Ứng
cơ giảng giải lý duy tâm
Ngộ
mê vẫn đủ ngôn thân ý
Sinh
tử nguyên vì sát đạo dâm
Tam
bảo từ bi xin mật hộ
Cho
khi hoằng pháp khỏi sai lầm.
Có
thể nói là Tâm Minh Lê Đình Thám đã trao truyền được chí
nguyện hoằng pháp cho thế hệ đi sau ông. Rảnh tay về Viên
Âm, ông dồn nghị lực xây dựng cơ sở cho một Phật học
Viện lớn tại Kim Sơn gọi là Tòng Lâm Kim Sơn để dời tất
cả các lớp Phật Học ở kinh đô về. Dự án đẹp đẽ
này chưa thành thì Cách Mạng Tháng Tám xảy ra và công việc
bị bỏ dở.
Năm
1946, cuộc chiến Pháp Việt bùng nổ, dân chúng Huế tản cư,
ông cùng gia đình di tản vè Quảng Nam. Từ 1947 tới 1949 ông
làm chủ tịch Ủy Ban Hành Chính kháng Chiến Miền Nam Trung
Bộ. Tại liên khu V của vùng kháng chiến, ông tập hợp một
số đoàn viên của đoàn Phật Học Đức Dục có mặt trong
vùng và thành lập tổ chức “Phật Giáo và Dân Chủ Mới”
tại Bồng Sơn, Bình Định, nghiên cứu việc tổng hợp giáo
lý Phật giáo và lý thuyết Mác-Lê. Trong những tài liệu được
phát hành có tập Đạo Phật Và Nền Dân Chủ Mới của Nguyễn
Hữu Quán.
Mùa
hè năm 1949, ông được lệnh ra Bắc. Ở đây ông được đề
bạt làm chủ tịch Phong Trào Vận Động Hòa Bình Thế Giới.
Năm 1956 ông được đi dự lễ Buddha Jayanti tại Ấn Độ với
pháp sư Thích Trí Độ. Trong dịp này tượng Thiên Thủ Thiên
Nhãn tại chùa Tiên Phúc đã được mang theo để triển lãm.
Năm
1961 toàn bộ Kinh Lăng Nghiêm mà ông đã khởi công phiên dịch
và chú giải trên Viên âm được xuất bản. Ông mất vào
ngày 23.4. 1969 tại Hà Nội, thọ bảy mươi ba tuổi.
Tâm
Minh Lê Đình Thám xứng đáng có một chỗ đứng quan trọng
trong lịch sử Phật giáo Việt Nam cận đại. Ông là một
người dễ mến và đầy nhiệt tình. Ông luôn luôn được
bao quanh bởi bạn bè. Bên ông có những nghệ sĩ tài ba như
Bửu Bác và Nguyễn Khoa Toàn (công việc trùng tu chùa Từ Đàm
để làm trụ sở cho hội An Nam Phật Học được thành tựu
đẹp đẽ nhờ sự có mặt của Nguyễn Khoa Toàn. Ông Toàn
đã trông coi về phương diện mỹ thuật. Tượng Phật chùa
Từ Đàm là do ông điêu khắc). Tâm Minh lại không hề xa cách
với tuổi trẻ. Có khi ông hồn nhiên như trẻ con. Một hôm
từ nhà, ở số 31 đường Nguyễn Hoàng, ông đi bộ lên Từ
Đàm. Dưới dốc Nam Giao ông gặp hai đứa trẻ ngồi đánh
cờ tướng bên đường. Ông ghé mắt xem, thấy một bên đang
bí nước. Ông liền ngồi xuống chỉ cờ cho em bé. Và ông
ngồi chơi đánh cờ với bọn trẻ tới hơn một giờ đồng
hồ rồi mới tiếp tục đứng dậy lên chùa. Có công, có
lòng với Cách Mạng, ông đã thao thức muốn điều hợp học
thuyết xã hội chủ nghĩa với Phật pháp và đã có công bênh
vực Phật giáo bị hạn chế ở liên khu V. Sau đó ông được
triệu ra Bắc. Ông ra Hà Nội bằng đường mòn Hồ Chí Minh,
dọc theo dãy Trường Sơn. Năm 1956 được gặp các đại biểu
Miền Nam tại đại hội Buddha Jayanti, ông rất phấn khởi
khi nghe tin tức Phật giáo miền Nam {…} Khi về Hà Nội ông
không còn giữ chức Chủ tịch Phong trào Hòa Bình nữa {…}
Ông đã làm đủ mọi cách để có thể xuất bản được
cuốn kinh Thủ Lăng Nghiêm do ông dày công phiên dịch và chú
giải. Ngày xuất bản kinh nầy năm 1961 tại Hà Nội tại chùa
Quán Sứ, chắc chắn là một ngày vui và một niềm an ủi
lớn cho ông.
Ông
phiên dịch và viết khá nhiều, phần lớn đều được in
trên Viên Âm. Sau đây là một đoạn văn của ông mà chúng
tôi thiết nghĩ có thể tóm tắt được nhận thức của ông
về Phật giáo đại thừa. Đoạn văn này được trích trong
Lời Nói Đầu ông viết vào mùa Xuân năm 1961 tại Hà Nội,
in ở đầu bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm {…} trong môi trường
một xứ sở xã hội chủ nghĩa.
“Chư
Phật ra đời chỉ nhằm được một mục đích là dạy bảo
chỉ bày cho chúng sinh giác ngộ và thức chứng Pháp-giới-tính
như Phật. Pháp-giới-tính là tính bản nhiên của tất cả
sự vật, nghĩa là của tất cả các chuyển động và các
hiện tượng trong vũ trụ”.
“Tính
bản nhiên ấy là tính trùng trùng duyên khởi, nghĩa là tính
ảnh hưởng dây chuyền của một sự vật đối với tất
cả sự vật, của tất cả sự vật đối với một sự vật.
Ví như một con cá nhỏ vẫy đuôi. Tuy rung động rất ít,
nhưng nếu có khả năng đo lường chính xác, thì cũng có thể
thấy ảnh hưởng cùng khắp bốn bể.
“Do
mọi sự vạt chịu ảnh hưởng của tất cả sự vật nên
đều chuyển biến không ngừng nên ảnh hưởng lại tất cả
sự vật chuyên biến không ngừng nên ảnh hưởng lại lai
tất cả sự vật đều chuyển biến không ngừng. Song ảnh
hưởng của các loại sự vật đối với mọt sự vật không
giống nhau, cái thì trực tiếp, cái thì gián tiếp qua một
hay nhiều lớp, do đó tác dộng cũng không giống nhau. Trong
ảnh hưởng phức tạp của tất cặ vật làm cho một sự
vật xuất hiện và chuyển biến, đạo Phật đã rút ra một
quy luật bản nhiên là luật nhân-quả.
“Luật
nhân-quả là một quy luật rất sinh động không phải luôn
luôn đơn giản như trồng lúa thì được lúa. Lại chính việc
trồng lúa cũng không đơn giản lắm, vì phải có đất, nước,
phân, cần, giống, phải kể đến thời tiết thuận nghịch,
đến kỹ thuật cày cấy v.v… thì mới chắc được lúa.
Vì thế nên nhân quả và định mệnh khác nhau rất nhiều.
Định mệnh thì việc gì cũng đã định trước rồi, không
làm sao tránh khỏi được; còn nhân quả thì chẳng những
có nhân quả khứ sinh quả hiện tại, mà còn có nhân hiện
tại sinh quả hiện tại (trong đó có cả ảnh hưởng của
hoàn cảnh, ảnh hưởng của tư tưởng hành động bản thân).
Hai dây chuyền nhân quả đó thường xuyên ảnh hưởng lẫn
nhau, làm cho quả báo hiện tại thay đổi từng giờ từng
phút. Vật chất có nhân quả vật chất, tâm thức có nhân
quả tâm thức, hai bên ảnh hưởng lẫn nhau nhưng không nhất
thiết giống nhau. Đối với Đạo Phật, nhân quả tâm thức
là chủ yếu, vì nó quy định sự tiến hóa hay thoái hóa trên
con đường giải thoát.
“Các
vị thanh văn duyên giác, theo đạo lý nhân quả, trừ bỏ nguyên
nghân luân hồi và chứng quả vô sinh, nhưng vẫn còn tu tu
chứng trong nhân quả, chứ chưa rõ được then chốt nhân quả.
“Then
chốt nhân quả là Pháp-giới-tính trùng trùng duyên khởi,
nghĩa là mọi sự vận duyên tất cả sự vật, trong một có
tất cả, trong tất cả có một, một tức là tất cả, tất
cả là một. Tính ấy gọi là tính chân như, là thật tướng,
là Phật tính, là Như Lai Tạng Tính, là pháp tính, là tâm
linh, vân vân…
“Tính
ấy bình đẳng, không thật có sinh có diệt, có người có
mình, có tâm, có cảnh, có thời gian, có không gian, không thấp,
không cao, không mê, không ngộ; tính ấy duyên khởi ra tất
cả sự vật, không có ngăn ngại, đồng thời cũng tức là
bản tính của tất cả sự vật, không có ngăn ngại, đồng
thời cũng tức là bản tính của tất cả sự vật, không
hề thay đổi.
“Tam
thế chư Phật, chư Đại Bồ Tát, thật chứng và nhập một
với Pháp-giới-tính nên phát khởi duyên đại từ, đồng
thể đại bi, hiện ra vô số thân, theo duyên hóa độ vô lượng
vô biên chúng sanh, nhưng vẫn không có gì ra ngoài Pháp-giới-tính.
Chúng sinh chưa chứng được Pháp-giới-tính nên theo duyên
mà luân hồi trong lục đạo. Nhận thức khác nhau nên chỗ
thụ dụng của Phật và của chúng sinh khác nhau, nhưng Pháp-giới-tính
vẫn là như vậy, không thêm, không bớt.
“Pháp-giới-tính
là tính chung của các loại vô-tình như cây, như đá và của
các loại hữu-tình, đặc biệt các loại có trình độ nhận
thức khá cao như loài người, mới có khả năng chứng được
Pháp-giới-tính và thành Phật đạo. Do đó nên Pháp-giới-tính
nơi các loài hữu tình cũng gọi là Phật tính.
Các
loài hữu tình chủ yếu là những cái tâm làm cho có sống,
có cảm giác, có nhận thức, có suy nghĩ, có ghi nhớ vân vân…
Cái tâm là một sự vật nên bản tính vẫn là Pháp-giới-tính
như các sự vật khác.
“Khi
học đạo và tu chứng, tâm ấy có thể quan sát Pháp-giới-tính
nơi cây, nơi đá, hay quan sát Pháp-giới-tính nơi tự tâm thì
có phần dễ nhập với Pháp-giới-tính hơn là khi xét nhận
được Pháp-giới-tính nơi cây, nơi đá.
“Vì
thế Phật thường dạy người đời tu chứng Pháp-giới-tính
nơi tự tâm mình và gọi Pháp-giới-tính đó là tâm tính.
“Song
tâm tính vốn là Pháp-giới-tính chứ không phải tính riêng
của tự tâm và khi chứng ngộ được tâm tính rồi thì của
tâm riêng cũng không còn nhiều nữa.
Phật
thuyết pháp theo căn cơ của chúng sinh, nên pháp của Phật
khi thấp khi cao, khi quyền, khi thật, khác nhau. Nhưng dầu Phật
dạy Tam quy, ngũ giới, thập thiên, dạy tứ đế, thập nhị
nhân duyên hay dạy về pháp tính, pháp tướng, tâm tính, chân
như, chân không, thật tướng vân vân… Phật luôn luôn nhắm
mục đích chỉ bày cho chúng sanh chứng ngộ trí tuệ của
Phật, nghĩa là chứng ngộ Pháp-giới-tính(64).
CÁC
CAO TĂNG LÀM RƯỜNG CỘT CHO PHONG TRÀO CHẤN HƯNG
Như
ta đã biết, hội An Nam Phật Học không những đã có được
sự yểm trợ của hầu hết các phần tử trong sơn môn mà
còn có được sự cộng tác tích cực của những vị tăng
sĩ trẻ tuổi và có học của sơn môn đào tạo nữa. Sự
cộng tác này phần lớn nằm trong phạm vi hoằng pháp: giảng
diễn cho tín đồ, giáo huấn học tăng, trước thuật bài
vở và kinh sách. Tuy nhiên nhìn hội An Nam Phật Học với những
thành quả mà nó thu lượm được chỉ là mới nhìn thấy
một bông hoa nở trên một nhành cây mà chưa thấy tự thân
cái cây ấy. Tuy nói rằng Phật giáo suy yếu, cần phải phục
hưng, nhưng nếu căn bản và tiềm lực không có thì sự phục
hưng ấy sẽ trở nên rất khó khăn. Sở dĩ ta có được một
Mật Khế hay một Lê Đình Thám là nhờ ta đã có được một
Giác Tiên chẳng hạn thì ta thấy được Tâm Minh, bổn sư
của ông. Tuệ Pháp, giáo thọ của ông. Viên Thành, bạn thân
của ông, Giác Nhiên, sự đệ của ông và Phước Hậu, Đắc
Ân, Tịnh Hạnh v.v… tức là những người đã chấp nhận
làm chứng minh đạo sư cho hội An Nam Phật Học do ông sáng
lập. Nhìn lại cuộc đời những vị đó thì ta có thể có
một ý niệm về những tiềm lực của đạo Phật đã đưa
tới sự chấn hưng của Phật Giáo Trung Kỳ.
THIỀN
SƯ TÂM TỊNH
Thiền
sư Tâm Tịnh bổn sư của Giác Tiên là một trong những đệ
tử xuất sắc của thiền sư Lương Duyên, người đã đắc
pháp với thiền sư Nhất Định, tổ khai sơn chùa Từ Hiếu(65).
Như ta đã biết, ngoài thiền sư Lương Duyên, tổ Nhất Định
còn có hai người đệ tử khác là Cương Kỷ và Linh Cơ. cũng
như Lương Duyên, hai thiền sư Cương Kỷ và Linh Cơ đã đào
tạo được và để lại cho sơn môn Thừa Thiên nhiều vị
tăng sĩ xuất sắc. Ngoài Tâm Tịnh, thiền sư Lương Duyên
còn có những đệ tử xuất sắc khác như Tâm Quảng, Tâm
Thể và Tâm Truyền. Thiền sư Tâm Tịnh đã từng giữ chức
Tăng Cương chùa Diệu Đế. Ông tên là Nguyễn Hữu Vinh. Phát
xuất từ chùa Từ Hiếu, ông đã kế vị thiền sư Huệ Đăng
làm trú trì chùa này trong nhiều năm. Năm 1904, để có nhiều
thì giờ tu tập hơn, ông thường chức vị trú trì tổ đình
cho thiền sư Huệ Minh và đến cất am Thiếu Lâm ở chùa Tây
Thiên để tu hành. Chùa này ở một vùng đồi nhỏ, có trồng
nhiều thông, ở về phía Tây nam núi Ngự Bình. Ông mang theo
về Tây Thiên một người đệ tử: đó là thiền sư Giác
Tiên, hồi đó mới 24 tuổi.
Ở
Tây Thiên ông thu nhận thêm nhiều vị đệ tử, trong đó có
các vị Giác Nguyên và Giác Nhiên. Cùng với Giác Tiên, hai
vị này đã từng đóng góp cho phong trào chấn hưng Phật giáo
và đã trở thành những nhân vật rường cột cho Phật giáo
sau này. Thiền sư Tâm Tịnh mở lớp dạy Phật pháp cho các
đệ tử và những người khác đến cầu học với ông. Tiếng
thơm đạo hạnh của ông được đồn xa, và trong số những
người hâm mộ ông có cả vua Khải Định. Ông vua này thường
hay để xe cộ và thị vệ dưới đồi và đi bộ một mình
lên chùa. Một hôm thiền sư Tâm Tịnh gặp vua ở trước am
Thiếu Lâm, liền chắp tay chào và niệm: “Nam Mô Khải Định
Vương Bồ Tát”. Vua Khải Định chưa hỏi lý do gì thì ông
giải thích: “Quốc Vương là một vị Bồ Tát hộ pháp”.
Vua hỏi thêm thì ông cho biết hiện giờ ông đang tổ chức
Đại Giới Đàn tại chùa Từ Hiếu mà thiếu phương tiện
tài chính. Vua Khải Định bèn hứa cúng dường những phương
tiện còn thiếu ấy. Đó là vào năm 1924. Giới Đàn này đã
được thiền sư Huệ Minh tổ chức vào ngày 16, 17, 18 và 19
tháng Bảy dương lịch. Số giơi tử là 450 vị, trong đó có
300 tăng ni. Những thiền sư có mặt trong hội đồng Hộ Giới
của giới đàn này là: thiền sư Tâm Tịnh (tăng cương chùa
Diệu Đế, đàn đầu hòa thượng), thiền sư Trương Văn Luận
(tăng cương chùa Thiên Mụ, giáo thọ), thiền sư Phạm Gia
Khánh (trú trì chùa Báo Quốc, đệ nhất tôn chứng), thiền
sư Viên Thành (trú trì chùa Tra Am, đệ nhị tôn chứng), thiền
sư Đặng Kỳ Đỉnh (trú trì chùa Thiên Mụ, đệ tam tôn chứng),
thiền sư Phúc Hậu (trú trì chùa Linh Quang, đệ tứ tôn chứng),
thiền sư Đỗ Giác Viên (tự trưởng chùa Viên Thông, đệ
ngũ tôn chứng), thiền sư Hoằng Nguyện (tự trưởng chùa
Viên Thông, đệ lục tôn chứng), thiền sư trú trì chùa Chúc
Thánh (Quảng Nam, đệ thất tôn chứng).
Ta
đã được đọc bài kệ phú pháp của ông trao cho thiền sư
Giác Tiên trong phần lược sử của thiền sư này.
Thiền
sư Tâm Tịnh thuộc về thế hệ thứ 41 dòng Lâm Tế. Ông
mất năm 59 tuổi. Thiền sư Viên Thành ở chùa Tra Am, một
thiền sư thi sĩ nổi tiếng thời ấy, tặng đôi câu đối
như sau:
Tứ
thập nhất đại Lâm Tế chấn thiền phong, đào chú công thâm,
thùy thụ đương đầu hát bổng,
Ngũ
thập cửu niên Diêm Phù thùy hóa tích, trí bi nguyện mãn,
nhi kim tát thủ hoàn gia!
Hai
câu đối Nôm sau đây được ni chúng và nữ cư sĩ ở Huế
đưa tặng:
Chốn
Song Lâm mây ẩn bóng Ưu Đàm, đứt nối tiếng chuông, dép
cỏ đi về còn tưởng tượng.
Miền
Thiếu thất trăng lồng lộng gương Bát Nhã, mênh mang biển
học, thuyền từ che chở biết nhờ ai?
THIỀN
SƯ HUỆ PHÁP
Thiền
sư Huệ Pháp(66), giáo thọ của Giác Tiên, là tọa chủ chùa
Thiên Hưng. Năm 1920, khi ông khai giảng lớp Phật pháp cao học
tại đây, thiền sư Giác Tiên, không những đã tới tham học
mà lại còn đem các vị đệ tử của mình tới dự tính nữa.
Thiền sư Huệ Pháp, người họ Đinh, sinh năm 1871 tại làng
Trung Kiên phủ Triệu Phong tỉnh Quảng Trị. Ông xuất gia tại
chùa Từ Hiếu, làm đệ tử của thiền sư Cương Kỷ. Năm
21 tuổi, thụ Sa di giới, ông được thiền sư đặt pháp danh
là Thanh Tú, pháp tự là Phong Nhiêu. Ông thụ giới Cụ Túc
tại Giới Đàn tổ chức tại chùa Báo Quốc năm 1894 do thiền
sư Lương Duyên tổ chức. Năm sau, ông được đắc pháp với
thiền sư Lương Duyên, hiệu là Huệ Pháp. Năm 1896, môn đồ
chùa Thiên Hưng đến Từ Hiếu đảnh lễ thiền sư Cương
Kỷ để xin rước Huệ Pháp về trú trì chùa Thiên Hưng.
Ông
hành đạo rất tinh tấn. Mỗi năm ông an cư hai lần, vào mùa
Hạ và mùa Đông. Ông thường mở những lớp giảng kinh cho
những tăng sĩ tới cầu học: kinh Pháp Hoa, kinh Lăng Nghiêm,
kinh Phạm Võng, luật Tứ Phần v.v… Năm 1910, ông được mời
làm đệ tam tôn chứng trong giới đàn chùa Phúc Lâm ở Quảng
Nam do thiền sư Vĩnh Gia làm chủ tọa. Năm 1911 ông khởi công
trùng tu chùa Thiên Hưng. Vua Khải Định ban giới đao độ
điệp cho ông vào năm 1919 và sắc cho ông làm trú trì chùa
Diệu Đế. Năm 1924, ông được mời làm giáo thọ cho toàn
thể giới tử đại giới đàn Từ Hiếu. Năm 1926 ông được
ban chức Tăng Cương chùa Diệu Đế. Ông tự thiêu năm 1927
tại chùa Thiên Hưng, hưởng thọ 56 tuổi. Tháp ông được
xây tại chùa Từ Hiếu và đệ tử của ông là thiền sư
Quảng Tu kế thế trú trì chùa Thiên Hưng. Bài văn khắc trong
bia dựng ở tháp ông là do thiền sư Viên Thành thảo. Viên
Thành đã viết:
“Đại
sư thiệp liệp giáo pháp; tông chỉ và lý thuyết đều tinh,
chuyên tâm nghiên cứu nghĩa lý chỉ quán phái Thiên Thai, lại
thường khuyên người tu Tịnh độ để làm con đường giải
thoát mau chóng… Đại sư tùy cơ ứng đối thích hợp như
sữa và nước hòa nhau, cơ duyên hóa độ rất nhiều không
sao thuật hết…”
Đối
với Huệ Pháp, Viên Thành làm một pháp điệt. Ông xem Huệ
Pháp như thầy của ông và giao tình giữa hai người suốt
mời mấy năm rất là mật thiết. Lúc Huệ Pháp viên tịch,
Viên Thành rất thương tiếc. Ông đi một đôi câu đối như
sau:
Bất
tuệ nhẫn vị nhân vị nhẫn xả thiên tiên, tri kỷ lệ thành
Hồng hạnh vũ;
Đại
khai sĩ hữu duyên quy Phật tảo, cố sơn mộng đoạn Bích
đào thiên.
Dịch:
Kẻ
hậu sinh chưa nỡ bỏ thân ngay, tri kỷ khóc thành mưa Hồng
hạnh:
Bực
khai sĩ có duyên về Phật sớm, non xưa mộng thấy chốn Đào
hoa.
Bài
minh của Viên Thành viết ở cuối bia như sau:
Giác
Hoàng ứng thế thủy vi ngôn
Bàng
bạc nhật nguyệt, châu kiền khôn
Trí
giả tài biện cùng hóa nguyên
Thì
vi diễn thuyết khai mê hôn.
Hằng
sa giáo điển tuy vân vân,
Diệu
nhập Thiên Thai Chỉ Quán môn.
Đại
sư cận xuất dương thanh phân
Chí
kiên, khí trực, mạo thả ôn.
Thiếu
nhi mẫn ngộ, lão ích cần.
Hoặc
sám hoặc giảng vong bô hân
Trung
hưng giáo quản chân điệt quần
Tung
hoành ngôn luận diệu nhập thần.
Di
văn xán nhượckhả ngôn lân.
Từ
thuần lý chính đạo bất phiền,
Hà
nhĩ học đồ nhật tuấn bôn.
Ký
tư chính giác tiêu ba tuần.
Hạnh
cao danh vọng thượng quốc văn.
Thiên
tử khiển sứ lai trung hôn.
Triều
dã huân thích cố sở hân.
Điệp
mông cung tứ hồi thiên ân
Tri
thân biến điệt như phù vân
Thệ
dũng khí xả cam xu phần.
Tông
thuyết kiêm thông, thùy kỳ nhân
Sư
tâm liễu liễu sở túc đôn,
Pháp
thân vô tướng, ninh phi chân?
Kim
tuy vân vong, ninh phi tồn?
Hậu
thế tử tôn kỳ phồn phồn.
Khâm
sư đạo hạnh quan tư văn.
Dịch:
Giác
hoằng ứng thế mở lời mầu
Bàng
bạc trăng sao nghĩa thẳm sâu
Kẻ
trí biện tài đem giáo hóa
Thuyết
pháp cứu độ đời thương đau
Giáo
điển tuy nhiều đến vô lượng
Thiên
Thai Chỉ Quán riêng tâm đầu
Đại
sư xuất thân dòng cao khiết
Chí
bền, lòng thẳng, dáng thanh tao
Tuổi
thơ nhanh nhẹn, lớn cần mẫn
Thiền
sàng pháp tọa không hề xao.
Trùng
hưng giáo quán trong thiên hạ
Ngôin
luận tung hoành như trời cao
Văn
từ sáng rỡ không khúc mắc
Giản
lược lời ngay ý nghĩa sâu
Học
đồ bốn phương về tụ hội
Đuốc
tuệ soi đường, ma chạy mau.
Nhà
vua tôn sùng sai sứ thỉnh
Trong
triều ngoài quận thảy mong cầu
Biết
thân bèo bọt như mây nổi
Phó
thác hình hài ngọn lửa cao.
Thiền
giáo hai bên đều nắm vững
Tâm
tư sáng rỡ bậc anh hào
Pháp
thân không tướng mà chân thực
Nói
mất mà còn muôn đời sau
Cháu
con sau này như có nhớ
Tìm
tới bia này đọc mấy câu.
QUỐC
SƯ PHƯỚC HUỆ
Thiền
sư Phước Huệ tên là Nguyễn Tấn Giao, sinh năm 1869 tại làng
Nhơn Thành, Bình Định, xuất gia năm 1881 tại chùa Thập Tháp
dưới sự hướng dẫn của thiền sư Chí Tịnh. Ông lại được
theo học với thiền sư Châu Long chùa Tịnh Lâm, Phù Cát, và
thiền sư Luật Truyền tại chùa Từ Quang ở Đá Trắng. Ông
thọ đại giới năm 1889 và đắc pháp năm 1892 với thiền
sư Luật Truyền. Năm 1894, ông làm trú trì chùa Phổ Quang ở
huyện Tuy Phước. Năm 1901 ông được triều đình ban cho giới
đao độ điệp làm Tăng Cương cho chùa Thập Tháp. Năm 1908
ông được mời ra hoàng cung giảng đạo đồng thời cũng
để khai một khóa giảng kinh tại chùa Trúc Lâm. Các vua Thành
Thái, Duy Tân và Khải Định đều có mời ông vào cung giảng
đạo. Vì vậy ông được tôn xưng là quốc sư.
Năm
1920 ông tổ chức các lớp tăng học tại hai chùa Thập Tháp
và Long Khánh. Từ năm 1930 trở đi, theo lời thỉnh cầu của
thiền sư Giác Tiên, năm nào ông cũng ra Huế giảng dạy. Năm
1938 ông lại được mời làm chủ giảng Phật học đường
Long Khánh ở Quy Nhơn.
Tại
huế, ngoài các lớp cao học tại Trúc Lâm, ông còn dạy những
lớp cấp trung học tại Tường Vân và Tây Thiên. Phần lớn
những giáo sư và giảng sư hoạt động từ năm 1938 trở đi
đều có thụ giáo với ông trong số đó có nhiều vụ gốc
từ Nam Kỳ.
Năm
1934, ông có đề tựa cho sách Việt Nam Phật Giáo Sử Lược
của thiền sư Mật Thể. Bài tựa này được viết bằng Hán
văn tại chùa Thập Tháp. Khả năng giáo hóa của Phước Huệ
rất vĩ đại, vì vậy người đương thời đã tặng ông mỹ
hiệu “Phật pháp thiên lý câu” nghĩa là con ngựa ngàn dặm
của Phật pháp”. Ông là tổ khai sinh chùa Phước Long tại
Phú Phong; thiền sư Trí Diệu, đệ tử của ông là trú trì
chùa này. Ông tịch năm 1945 tại chùa Thập Tháp. Đệ tử
xuất sắc nhất của ông là thiền sư Huệ Chiếu, được
ông ủy nhiệm kế thế trú trì chùa Thập Tháp. Thiền sư
Huệ Chiếu tịch năm 1965 và trao trách nhiệm cho thiền sư
Kế Châu.
THIỀN
SƯ PHỔ HUỆ
Thiền
sư Phổ Huệ(68) trú trì chùa Tịnh Lâm ở Bình Định cũng
là một ngôi sao rất sáng của Phật giáo thời ấy. Thiền
sư là người họ Trần, sinh năm 1870 tại làng Nhơn Thành tỉnh
Bình Định. Ông xuất gia năm 1882 tại chùa Châu Long và tu
học dưới sự hướng dẫn của thiền sư Từ Mẫn. Ông cũng
đã được học Phật với thiền sư Luật Truyền (Pháp Chuyên),
chùa Từ Quang, ở Phú Yên. Cũng như thiền sư Phước Huệ,
ông đã từng được triệu vào hoàng cung thuyết pháp. Ông
là khai tổ chùa Bảo Phong. Ông tịch năm 1931. Cao đệ của
ông là thiền sư Huyền Giác kế trú trì tổ đình Tịnh Lâm
rất thịnh vượng, tiếng tăm vang cả Trung Kỳ. Năm 1901 thiền
sư Viên Thành, hồi ấy còn nhỏ tuổivà còn ở chùa Ba La
Mật, đã được gặp thiền sư Phổ Huệ tại đại giới
đàn Phú Yên và rát lấy làm cảm phục về kiên trúc và đức
độ của vị cao tăng này. Ước ao được thân cận mà không
thỏa nguyện, Viên thành có làm một bài kệ sau đây, gửi
cho Phổ Huệ:
Bình
bát truy tùy dĩ hữu niên
Đạo
năng thâm khế diệc tiền duyên
Vân
quang thuyết pháp hoa ưng trụy
Quý
phạp Tô Tuân chí học kiên.
Dịch:
Y bát
bên mình trọn mấy niên
Đạo
tinh thâm áo cũng tiền duyên
Vân
Quang thuyết pháp hoa rơi rụng
Thẹn
với Tô Tuân chí học bền.
Khoảng
năm 1926, thiền sư Phổ Huệ có viết thư khen ngợi thiền
sư Viên Thành về bài bạt này mà ông này đề trong ấn bản
kinh Pháp Bảo Đàn ấn hành tại Huế năm 1925. Cảm động
vì lá thư này, Viên Thành liền gửi vào hai bài kệ do ông
sáng tác để trình bày kiến giải mình, để cầu thiền sư
Phổ Huệ ấn chứng. Hai bài như sau:
Tham
thiền trực hạ liễu căn nguyên
Thánh
giải phàm tình lưỡng bất tồn
Đại
đạo khởi tùng tâm ngoại đắc?
Yếu
giao nhất niệm tuyệt phan viên.
Sơn
cùng thủy tận chuyển Thân lai
Bức
đắc kim cương chính nhãn khai
Vạn
tượng từng trung thân độc lộ
Niết
bàn sinh tử tuyệt an bài.
Dịch:
Tham
cứu cho lên tột cội nguồn
Còn
đâu ai thánh với ai phàm?
Ngòai
tâm, đạo lớn tìm đâu thấy?
Nhất
niệm chuyên trì dứt vạn duyên.
Cùng
non tột nước gửi thân về
Miễn
được kim cương mở mắt kia
Vạn
tượng bao la thân hiển lộ
Niết
bàn sinh tử có hề chi?
Phổ
Huệ có làm nhiều thơ nhưng hiện nay chỉ mới sưu tập được
bài ông là để tặng thiền sư Chí Thành. Xin xem bài này ở
phần nói về thiền sư Chí Thành ở Chương XXVII
Thiền
sư Viên Thành và thi phẩm Lược Ước Tùng Sao
Thiền
sư Viên Thành nưh đã nói trên là một thi sĩ nổi tiếng.
Ông là bạn thiết của thiền sư Giác Tiên, tên là Công Tôn
Hoài Trấp, sinh năm 1879 ở Thừa Thiên, Ông xuất gia năm 1895
hồi 16 tuổi, tại chùa Ba La Mật và học với Thiền sư Viên
Giác cho đến khi thiền sư mất vào năm 1900(69). Năm 1901, ông
thọ đại giới đàn tại giới đàn Phú Yên. Tại giới đàn
này ông được đậu đầu trong các giới tử. Ông làm một
bài văn tạ ơn hội đồng giám khảo bằng Hán văn, được
các vị trong hội đồng khen ngợi và thưởng cho một bộ
kinh Lăng Già Tâm Ấn, một số y và một bình bác.
Chùa
Ba La Mật là của gia đình Nguyễn Khoa lập nên, cảm thấy
không được thoải mái ở đây, năm 1923 ông lên lập chùa
Tra Am gần tháp thiền sư Viên Giác, thuộc về thôn An Cựu.
Chùa chỉ là một thảo am vách đất nhưng rất đẹp và biểu
hiện được tâm hồn yêu nghệ thuật của Viên Thành. Những
cội mai và khóm trúc ông trồng được phối hợp với những
tảng đá gánh từ trên núi Ngự Phong về. Ông đặt tên dòng
suối nhỏ chảy qua trước chùa là Tẩy Bát Lưu và chiếc
cầu nhỏ bắc qua suối là Lược Ước Kiều. Tên chùa là
Tra Am và là nơi đọc sách là Ngọa Vân Khối. Chùa đẹp và
giản dị khiến cho thượng thư bộ kinh tế là Nguyễn Khoa
Kỳ một hôm đến thăm đã để lại một bài thơ sau đây:
Nhịp
cầu Lược Ước bắc sang khe
Một
mái am tranh gió bốn bề
Cúc
nở xuê xoang tuồng nệm gấm
Dây
leo dỏng dảnh bức màn the
Ngồi
xem nước chảy đôi ghềnh đá
Đứng
đợi trăng lên mấy cụm tre.
Cảnh
có, người vui, càng rốn lại
Mặt
trời khuất núi vẫn chưa về.
Tiêu
dấu Nguyễn Bá Trác, hồi đó đang trông nom phần Hán văn
cho tạp chí Nam Phong, cũng đã viết bài thơ sau đây về Tra
Am:
Lộ
chuyển thôn khê tăng viện thâm
Ngọ
chung thanh đậu trúc kiều âm
Chủ
nhân tọa định tây song lý
Ly
điểu đình hoa chứng đạo tâm.
Vũ
Hoàng Chương dịch như sau:
Bóng
gợn cầu tre nhịp ngọ chung
Âm
u tăng viện lối đi vòng
Chủ
nhân ngồi nhập thiền bên cửa
Hoa
nở chim kêu chứng tỏ lòng
Ông
thường giao thiệp thân mật với các thiền sư Tâm Tịnh,
Huệ Pháp, Tịnh Hạnh, Giác Tiên, cùng các văn thi sĩ như Nguyễn
Bá Trạc, Nguyễn Cao Tiêu, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Khôi,
Lê Thiện Trai, Ưng Bình, Nguyễn Khoa Tân v.v…(70) Năm 1918,
Phan Khôi có đưa Phạm Quỳnh lên chùa Ba La Mật để thăm
Viên Thành.
Sau
đó Phạm Quỳnh đã viết trong báo Nam Phong:
“Cao
Tăng hiệu là Viên Thành Thượng Nhân, trú trì chùa Ba La Mật,
làng Nam Phổ, cách Huế bốn năm mươi cây lô mét. Nhờ có
ông bạn giới thiệu tôi mới biết được là thượng nhân,
thực là cảm phục tư cách phong nhã, tư tưởng cao thượng
của người… Bước chân vào trong tinh xá, tưởng như nơi
văn phòng của nhà thi nhân tao khách nào. Không phải do bày
biện đẹp không phải là cách trang sức khéo, nhưng bởi cái
khí vị riêng của nó phảng phất ở trong cái phòng ấy, khiến
người khách chơi biết ngay ông chủ nhân là người phong nhã
tài tình. Mà thượng nhân quả là người tài tình phong nhã
thật.
“Cái
tài tình của Viên Thành Thượng Nhân thì không phải tìm đâu
xa; cứ nghe ngay câu chuyện người nói cũng đủ biết; mỗi
nhời như nhả ngọc phun châu, mà tưởng cứ tự nhiên thành
bài thơ ứng khẩu vậy, người thơ chữ đã tuyệt bút mà
thơ nôm cũng rất hay”.
Thơ
văn chữ Hán của thiền sư Viên Thành một phần được giữ
lại trong tác phẩm Lược Ước Tùng Sao của ông. Tác phẩm
này chỉ giữ được hai bài thơ Nôm. Ông Nguyễn Văn Thoa cho
biết đã sưu tầm lại được khoảng ba mươi bài dưới các
thể lục bát, song thất lục bát, hát nói và Đường luật(71).
Lược
Ước Tùng Sao sao chép thơ từ, câu đối, bi ký do Viên Thành
và các thân hữu sáng tác từ lúc ông còn ở Ba La Mật cho
đến Tra Am. Riêng về thơ có gần bảy mươi bài bằng chữ
Hán. Tác phẩm này, tuy chưa được in lần nào, nhưng đã được
chính tác giả duyệt lại và chữa những chỗ viết sai.
Sau
đây ta duyệt qua ít bài thơ của ông. Trước hết là ba bài
thơ chữ Hán:
1-
Sơ lâm vũ quá tịch dương thì
Khê
bạn hoành tương trúc dịch xuy
Nhất
khúc tự ngu sơn thủy lục
Thử
tình bất dữ bạch vân tri.
Bửu
Cầm dịch:
Mưa
tạnh rừng thưa lúc bóng tà
Bên
khe tiếng sáo vẳng đưa xa
Vui
thay một khúc cùng non nước
Tình
nọ mây kia dễ biết ta.
2.
Tọa ủng quần phong phú bạch vân
Oanh
đề thâm cốc bất tri xuân
Nham
tiền hoa vũ tân phân lạc
Ngọ
mộng sơ hồi thúc cổ nhân
Dịch:
Nơi
chốn non cao phủ bạch vân
Tiếng
oanh hang vắng nhắc mùa Xuân
Hoa
trên sườn núi thi nhau rụng
Tỉnh
giấc trưa rồi nhận cố nhân(72)
3.
Tạc tiêu thanh tại thụ gian đa
Hạc
lãnh sơn không nại nhĩ hà
Nhật
mộ tiêu diêu vu giáp vũ
Thụ
phong niễu niễu Động Đinh ba
Chi
dư cổ bách tam phân thúy
Vô
phục sương phong nhị nguyệt hoa
Quái
để Lan Đài bi Tống Ngọc
Bất
như lưu khứ nhậm thùy tha
Vũ
Hoàng Chương dịch:
Rì
rào cây vẳng tiếng đêm qua
Nghe
lạnh đồi không chiếc hạc già
Vu
Giáp chiều buông mưa lất phất
Động
Đình thu gợn sóng bao la
Tùng
khô chỉ sót đôi phần lá
Bàng
rợp đâu tìm một tán hoa
Lạ
nỗi đau lòng chi Tống Ngọc,
Còn
hay mất hãy mặc trời xa.
Sau
đây là một vài bài thơ Nôm:
1-
Mai tĩnh, song thanh, lúc ngớt mưa
Mành
tương phảng phất án sen đưa
Tiếng
chuông Thiên Mụ canh hầu sáng
Giấc
mộng hoàng lương đã tỉnh chưa?
2-
Lững thững bên trời ngọn ráng thưa
Dặng
bờ thu thảo ngớt cơn mưa
Rêu
xanh đá mọc nhìn đường cũ,
Khói
biếc thành xây tưởng dấu xưa
Mây
phủ nhịp cầu sen ẩn ước
Cây
lồng bóng nước cảnh thừa ưa
Khách
quen năm trước bây giờ đến
Thử
hỏi non sông đã biết chưa?
3-
Thuyền từ một lá vơi vơi
Biển
trần chở biết mấy người trầm luân.
Nhất
thiết vô hữu như Phật giả
Phật
là người hỉ xả từ bi
Xem
trong đời hư huyễn có ra chi
Đến
thê tử quốc thành cũng bỏ
Non
tuyết lãnh sáu năm tu khổ hạnh
Mành
hình hài xem có cũng như không.
Miễn
tu hành đạo quả cho xong
Xem
nhân thế ví bằng như dép rách
Vì
ngài thấy chúng sanh trong hỏa trạch
Những
lao đao khổ ách nghiệt nghèo.
Trải
kiếp xưa gây nghiệp chướng đã nhiều
Nên
luân chuyển chịu điều báo ứng.
Vậy
ngài mới ra tay bạc chửng
Vớt
loài mê cho khỏi chốn trầm luân
Trên
thì báo đáp đấng quân thân
Dưới
đến mỗi loài đều tế độ
Chuyển
xe pháp rra đời dạy dỗ
Dấu
tiên phong thiên cổ hãy còn truyền,
Đem
lòng về phản bàn hoàn nguyên
Thời
muôn kiếp được siêu nhiên trên cõi tịnh
Tường
quang thước phá thiên sinh bịnh
Cam
lộ năng trừ vạn kiếp tai.
Hãy
khuyên người thay mắt đổi tai,
Để
cho ai nấy lâu dài kim thân
Vui
chi thứ một mảnh trần,
4-
Người đời há đặng bao lâu
Trắng
răng phút đã bạc đầu như chơi
Thế
giới như không hoa,
Nhân
sinh như mộng huyễn,
Ví
bằng chẳng kiếm phương tu luyện
Chi
khỏi đâu huyễn cảnh buộc vào mình?
Trong
trăm năm đặng mấy lúc an bình
Rồi
đã thấy tóc xanh thành tóc bạc.
Hà
tu đãi linh lạc
Nhiên
hậu thủy tri không?
Những
nâng niu sớm lục tối hồng
Những
xạ ướp hương xông nức nở.
Non
sông còn khi bồi khi lở
Huống
thân người như bóng đổ phù du
Vui
sướng chi mà đeo đuổi chốn diêm phù,
Trong
ba cõi ngó đường như hỏa trạch
Chiếc
thuyền từ sớm khuya đưa khách
Nước
thanh lương rửa sạch trần ai
Hỡi
xin người thay mắt đổi tai
Thì
chín phẩm liên đài lên có lúc
Đạo
thụ bất tài viên quả thục
Linh
căn vị chủng giác hoa hương
Trên
mây rủ tấm lòng thương
Vậy
nên xuống bước mở đường ngu mông,
Phật
tiên vốn cũng một lòng.
Văn
chữ Hán của thiền sư Viên Thành rất trang nhã và có nhiều
khí lực. Bài bạt ông viết cho kinh Pháp Bảo Đàn được
rất nhiều bậc thức giả đương thời ca ngợi.
Thiền
sư Viên Thành mất năm 1928, thọ 49 tuổi. Ông tu được ba
mươi hai năm, ở Ba La Mật 27 năm và lên Tra Am được có năm
năm. Đệ tử có bốn người: Trí Uyên, Trí Hiển, Trí Giải
và Trí Thủ. Thiền sư Trí Thủ là người duy nhất xuất gia
ở Tra Am. Ông đã trở thành một trong những cột trụ của
Phật giáo Việt Nam cận đại.
Bây
giờ, ta hãy tìm hiểu sơ lược sơ lược về cuộc đời các
vị chứng minh đạo sư của hội An Nam Phật Học là Đắc
Ân, Phước Hậu, Tịnh Hạnh và Giác Nhiên.
Thiền
sư Đắc Ân
Thiền
sư Đắc Ân tên Đặng Kỳ Đinh, sinh năm 1873 ở Quảng Bình.
Năm mười tuổi được lên ở chùa Linh Mụ. Năm 22 tuổi ông
được thụ cụ túc giới đàn Báo Quốc do thiền sư Lương
Duyên chủ tọa. Năm ba mươi chín tuổi ông về chùa Quốc
Ân và đắc pháp với thiền sư Thanh Hy trú trì chùa này và
được pháp hiệu là Đắc Ân. Năm ông bốn mươi hai tuổi
thì thiền sư Thanh Hy tịch; ông được cử làm tọa chủ chùa
Quốc Ân. Năm sau ông trùng tu chánh điện Quốc Ân. Và năm
bốn mươi bốn tuổi ông được cử làm trú trì chùa Linh
Mụ. Năm năm mươi hai tuổi, ông được mời làm đệ tam tôn
chứng trong giới đàn chùa Từ Hiếu. Ông tịch năm 1935, thọ
62 tuổi. Vị trú trì chùa Vạn Phước đi câu đối như sau:
Hoàng
diệp không hoa tinh thế mộng