TẬP
III
CHƯƠNG
XXVI
KHÁI
QUÁT VỀ CÔNG CUỘC CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO TỪ 1930 ĐẾN 1945
BỐI
CẢNH CHÍNH TRỊ VÀ VĂN HÓA
Từ
giữa thế kỷ thứ mười sáu trở đi, bạo động và loạn
lạc xảy ra liên tiếp khiến một mình Nho giáo không còn đủ
sức làm chỗ nương tựa tín ngưỡng và nơi an tâm lập mệnh
cho quần chúng nữa. Vì vậy ta thấy giới cầm quyền lại
tìm về đạo Phật và giọng chống đối kỳ thị đạo Phật
của nho gia cũng dịu dần đi. Dần dần, một số nho gia trở
nên có cảm tình với đạo Phật. Nhưng phải đợi cho đến
khi văn hóa Tây phương du nhập, Tây học chiếm chỗ của Nho
học, ta mới thấy cảnh nho sĩ và tăng sĩ ngồi chung uống
trà và đàm đạo nơi thiền viện trở thành một cảnh tượng
phổ thông.
Dưới
triều Nguyễn, trong các đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu
Trị và Tự Đức, tuy Phật giáo ít bị kỳ thị nhưng chủ
lực chính trị vẫn nằm trong tay nho gia. Từ năm 1817 về sau,
số đông nho gia cảm thấy có một sự liên kết giữa phong
trào truyền đạo Cơ Đốc và sự phát triển của thế lực
thực dân, cho nên đã bắt đầu chống đối Cơ Đốc giáo.
Sự chống đối này phát triển mạnh từ khi vua Minh Mạng
lên ngôi. Phật giáo thời bấy giờ một phần vì không có
ảnh hưởng trực tiếp đến chính trị, một phần vì có
tinh thần dung hợp không kỳ thị tôn giáo, nên dã không phải
là động lực đưa tới những đạo dụ “cấm đạo” của
vua Minh Mạng(1). Chính sách đàn áp kỳ thị Cơ Đốc giáo
về phía chống lại chính quyền. Lực lượng Cần Vương mà
phần chủ yếu là nho sĩ cũng tiếp tục xô đẩy một số
người Công giáo vào thế đối lập(2)
Cơ
sở của Nho giáo trong kiến trúc hạ tầng của xã hội ngoài
các thầy đồ và môn sinh của họ cùng các cuộc tế tự
ở đình làng, thì không còn có gì đáng kể nữa. vì vậy
phong trào Cần vương phải tìm tới những cơ sở Phật giáo.
Các chùa chiền trở nên cơ sở kháng chiến và tăng sĩ không
ngần ngại đóng góp phần mình vào công trình cứu nước.
Cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Võ Trứ tại Phú Yên năm
1898 đã vận động được sự yểm trợ của rất đông tín
đồ Phật giáo trong hai tỉnh PhúYên và Bình Định. Lực lượng
chủ yếu của cuộc khởi nghĩa này Phật tử chứ không phải
là nho sĩ, dù danh nho Trần Cao Vân cũng có mặt trong cuộc
vận động. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, tất cả các chùa
chiền trong hai tỉnh đều bị lục soát, và số tăng sĩ bị
bắt giam rất là đông đảo. Theo Hành Sơn, tác giả Cụ Trần
Cao Vân(3) thì hồi đó “trong hai tỉnh Bình Định và Phú
Yên, khám đường nào cũng có mặt các thầy chùa”. Cuộc
khởi nghĩa của Võ Trứ được gọi là “Giặc Thầy Chùa”
cũng vì lẽ ấy(4). Cuộc vận động của hội “Thượng chí”
do tăng sĩ Vương Quốc Chính lãnh đạo ở Bắc cũng là một
cuộc vận động mà lực lượng chủ chốt là Phật tử. Vương
Quốc Chính vốn là trú trì chùa Ngọc Long Động ở Chương
Mỹ, gần Hà Nội. Nghĩa đảng của ông họat động rất sâu
rộng trong quần chúng, và căn cứ họat động là hàng trăm
ngôi chùa rải rác từ Nghệ An ra tới Bắc Ninh, quy tụ được
hàng ngàn tăng sĩ và hàng vạn tín đồ. Nghĩa đảng họat
động cả trong môi trường Công giáo và thu phục được vào
đảng nhiều phần tử Công giáo yêu nước. Nhưng cuộc tấn
công Hà Nội đêm 5.12.1898 đã thất bại và nghĩa quân tại
các tỉnh Hà Đông và Sơn Tây cũng bị đàn áp kịch liệt.
Từ Bắc Ninh trở vào Nghệ An, không biết bao nhiêu tăng đồ
và cư sĩ Phật giáo bị bắt bớ, tù đày và xử tử.
Một
năm sau, tiếng súng kháng chiến ở Bãi Sậy cũng im bặt và
nhà cách mạng Nguyễn Thiện Thuật trốn sang Trung Hoa. Các
cuộc vận động khởi nghĩa Cần Vương đều bị tan rã vào
cuối thế kỷ thứ mười chín.
Những
người trí thức yêu nước lúc bấy giờ khám phá ra được
một sự thực: muốn đánh đuổi xâm lăng Tây phương, phải
vận động duy tân xứ sở và phải thay thế cuộc kháng chiến
Cần Vương của nho sĩ thành một cuộc vận động toàn dân.
Tư tưởng mới của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu cùng
công cuộc vận động cách mạng ở Trung Hoa đã làm sáng tỏ
thêm ý thức ấy. Sự kiện Nhật Bản duy tân và đánh bại
nước Nga càng làm cho đức tin kia thêm mãnh liệt. Phong trào
Duy Tân và Đông Du do những nguyên cớ trên đã được phát
sinh một cách mạnh mẽ.
HAI
NHÀ CHÍ SĨ HỌ PHAN
Khi
lực lượng nho sĩ Cần Vương kháng chiến bị tiêu hao mòn
mỏi thì số nho sĩ thoạt đầu hợp tác với Nhà nước bảo
hộ càng ngày càng đông. Những nhà nho chí sĩ, trong khi vận
động phong trào cải cách duy tân trong quần chúng, bỗng nhận
ra rằng lực lượng chống đối cách mạng lớn lao hơn hết
lại là giới nho sĩ quan liêu thỏa hợp. Lui về tìm cơ sở
trong quần chúng, họ phải dựa vào những cơ sở đạo Phật.
Cơ sở nho sĩ như Lương Văn Can, Đào Nguyên Phổ, Võ Hoành,
Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Quyền... trong lúc họat
động cho phong trào Đông Du và Đông Kinh Nghĩa Thục thường
nhóm họp nhau tại các chùa như Trấn Quốc, Hòa Mã, Liên Phái
v.v... để cho được kín đáo và tránh sự dòm ngó của nhà
chức trách Pháp. Họ được sự ủng hộ mật thiết của
giới tăng sĩ Phật giáo.
Trong
số những nhà chí sĩ lãnh đạo Đông Du và Đông Kinh Nghĩa
thục, ta có thể nói rằng Phan Châu Trinh(5) là người tin tưởng
nhiều nhất về sự đóng góp của một nền Phật giáo phục
hưng. Ông thường hô hào việc chấn hưng đạo Phật để
hỗ trợ cách mạng. Có lần trong một buổi họp, giữa các
đồng chí, sau khi chuông mới rung. Ông lên tiếng: “Nước
Đại Nam chúng ta ngày nay sở dĩ yếu hèn là vì thiếu tinh
thần tôn giáo, chúng ta không biết cương cường xã thân vì
nghĩa, chỉ bo bo giữ cái lối riêng của mình. Nay bà con thử
xét, đời Trần sao dân tộc ta hùng dũng như vậy: quân Nguyên
thắng cả Á cả Âu, nuốt trọn Trung Hoa mà qua đến nước
ta thì bại tẩu; nào bị cướp sáo ở Chương Dương Độ,
nào bị bắt trói ở Bạch Đằng, như vậy chẳng phải là
nhờ đạo Phật ở ta thời đó rất thịnh ư? Nhờ cái tinh
thần tôn giáo của ta ư?”(6).
“Tinh
thần tôn giáo” mà cụ Phan nói ở đây không phải là tinh
thần Nho giáo mà là tinh thần Phật giáo, bởi vì ông đã
nhiều lần lên tiếng cho rằng chính Nho học đã làm cho nước
Việt suy nhược. Ông có soạn một bài nói về cái tệ của
nho học, nhan đề là Bất Phế Hán Tự, Bất Túc Dĩ Cứu Nam
Quốc(7), kết án chế độ khoa cử và kết luận là phải
bỏ Hán tự, dùng quốc ngữ. Phan Châu Trinh không phải là
một nhà nho cố chấp, thấy sao thì ông nói vậy. Sự tin tưởng
của ông nơi Phật giáo không những bắt nguồn ở nhận thức
về thời đại cực thịnh Lý-Trần mà còn ở sự nhận thức
về khả năng duy tân của một xã hội Phật giáo như quốc
gia Nhật Bản nữa. Nhưng nhiều đồng chí của ông vì lòng
yêu Nho giáo sâu đậm quá nên đã cực lực chống đối đường
lối phê Nho hưng Phật của ông. Phục tùng đa số, ông đành
bỏ những bài diễn văn hô hào phục hưng đạo Phật và phế
bỏ Hán học, kể cả bài Bất Phế Hán Tự... vừa nói.
Tuy
nhiên, phần lớn những vị lãnh đạo trong các phong trào Duy
Tân và Đông Kinh Nghĩa Thục đều nhận thấy rằng, trong thời
đại họ, những phương thức tranh đấu bất bạo động là
những phương thức tranh đấu thực tiễn và hữu hiệu hơn
cả. Họ đã biết đến những nguyên tắc tranh đấu bất
bạo động. Trong Hải Ngoại Huyết Thư, Phan Bội Châu(8) nói
đến phương pháp đấu tranh này. Ông nói rằng: “Chỉ cần
tranh đấu bất bạo động thôi, cũng đủ để đuổi Tây
về nước. Họ chỉ có năm chục ngàn người, trong khi chúng
ta một dân tộc hai mươi triệu. Chẳng cần gươm súng, chỉ
cần đấu tranh hai tay không ta cũng đuổi được họ về nước.
Điều cần thiết là ta phải một lòng một dạ. Chúng đến
thu thuế, nếu ta đồng lòng không nạp, thì chúng làm gì được
ta? Nếu chúng gọi lính bắt ta, thì ta kêu gọi lính đừng
bắt ta, bởi vì lính cũng người Việt. Nếu chúng bắt một
người trong chúng ta thì chúng ta kéo hàng chục ngàn người
đi theo. Không có lý nó giết hết được? Cuối cùng chúng
sẽ bỏ nước mình mà đi”. Những ý tưởng trên đây phản
chiếu đúng đường lối tranh đấu bất bạo động. Một
người đồng chí của Phan Bội Châu là Lê Đại(9) đã diễn
dịch đoạn văn trên ra thơ song thất lục bát, như sau:
Hai
mươi triệu đồng bào đua sức
Năm
mươi nghìn giống khác được bao?
Cùng
nhau bên ít bên nhiều
Lọ
là gươm sắc súng kêu mới là
Cốt
trong nước người ta một bụng
Nghìn
muôn người cùng giống một người.
Phòng
khi sưu thuế đến nơi
Bảo
nhau không đóng nó đòi được chăng?
Gọi
đến lính không thằng nào chịu
Bắt
một người ta kéo muôn người
Bây
giờ có lẽ giết ai?
Hẳn
thời nó cũng chịu lui nước mình.
Sức
mạnh của bất bạo động là ở chỗ “đồng tâm”, cho
nên Phan Bội Châu nhấn mạnh nhiều lần tới nguyên tắc này:
“Thương
ôi! Trăm sự tại người
Chữ
đồng ai dám ngăn rời chữ tâm?”
“Người
trong cho đến người ngoài
Chữ
tâm cốt phải ai ai cũng đồng.”
“Gió
nhanh thì sóng cũng mau,
Chữ
tâm một phút đâu đâu cũng đồng”.
Để
đi tới đồng tâm phương sách duy nhất là giáo dục và tỉnh
thức quần chúng. Đó là mục tiêu của phong trào Đông Kinh
Nghĩa Thục. Thi ca, sách báo và giảng diễn là những phương
tiện lần đầu để thức tỉnh quần chúng. Kế tiếp là
hành động. Cuộc vận động kháng thuế năm 1908 tại Trung
Kỳ đã gây được ý thức sâu rộng trong quốc dân. Phong
trào này phát khởi tại tỉnh Quảng Nam, quê của Phan Chu Trinh.
Chiến dịch kháng thuế này đã mở đầu cho những cuộc biểu
tình vĩ đại sau này. Tham dự vào cuộc phát khởi tại Quảng
Nam có tới hàng vạn người; tất cả đều hớt tóc ngắn
(không búi tóc, theo lời kêu gọi của duy tân của Đông Kinh
Nghĩa Thục) đến vây quanh tòa sứ Quảng Nam để yêu cầu
chính phủ giảm thuế. Vị công sứ Pháp không nhận đơn và
ra lệnh giải tán nhưng quần chúng không nghe. Lính được
lệnh tấn công vào quần chúng làm cho nhiều người bị thiệt
mạng. Vì vậy phong trào từ Quảng Nam đã nhanh chóng lan vào
các tỉnh miền Nam Trung Kỳ(*). Chính phủ Bảo Hộ đổ tội
cho bốn người Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Trần Quý Cáp
và Huỳnh Thúc Kháng. Phan Bội Châu lúc ấy còn ở Nhật thành
ra không bị bắt. Trần Quý Cáp bị chính phủ Nam Triều lên
án xử tử “chém ngang hông” tại Nha Trang. Huỳnh Thúc Kháng
bị bắt tại làng Thạnh Bình tỉnh Quảng Nam. Phan Chu Trinh
lúc ấy ở Hà Nội cũng bị chính phủ bảo hộ bắt giam ở
tòa Khâm Sứ. Tại đây, ông thực hiện một chiến thuật
bất bạo động khác: tuyệt thực. Cuộc tuyệt thực kéo dài
bảy ngày khiến viên khâm sứ Pháp phải trao ông về cho Cơ
Mật Viện của Nam Triều. Triều đình Huế bèn đổi án “trảm
quyết” thành án “Côn Lôn ngộ xá bất nguyên”(10). Sở
dĩ chính phủ Nam triều kết án ông nặng nề như thế là
vì hai năm trước đó ông đã đánh một đòn bất bạo động
cân não làm rung động cả dư luận quốc dân. Đó là một
văn thư ông gửi cho toàn quyền Đông Dương đề ngày 15.8.1906.
Bức thư khảng khái này tố cáo tính cách hủ bại của lớp
quan lại Nam Triều, lên án chính phủ Bảo Hộ thực hiện
chính sách ngu dân, chỉ muốn đưa lên chính quyền những phần
tử thối nát và dối trá, đồng thời công kích chính phủ
Bảo Hộ đã có thái độ khinh miệt giới sĩ phu Việt Nam
khiến cho sự hiểu biết của hai phía càng lúc càng trở nên
khó khăn. Bức thư này lưu hành rộng rãi trong quốc dân đã
khiến cho Bảo Hộ lẫn Nam Triều căm tức đến tột độ.
Ở Côn Lôn được hai năm, ông được tha về nhờ sự vận
động của ký giả Ernest Babut và hội Nhân Quyền Pháp. Ông
tiếp tục đấu tranh như thế cho đến khi chết, trong thời
gian lưu trú tại Pháp cũng như sau khi hồi hương, rất trung
thành với đường lối bất bạo động. Các đồng chí của
ông có người họat động bí mật theo đường lối bất bạo
động (vụ liên lạc với chiến khu của Đề Thám, vụ đầu
độc quan binh Pháp ở Hà Nội năm 1908, v.v...) nhưng Phan Châu
Trinh không tham dự vào những họat động này. Cuối cùng Đông
Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa và các đồng chí người thì
bỏ trốn, người thì bị bắt, người thì bị xử tử.
NHU
YẾU DUY TÂN
Phong
trào ngắn ngũi nhưng đã tạo được những thay đổi cần
thiết: mầm cách mạng dân tộc được gieo rắc, nền cựu
học sụp đổ, quốc dân chấp nhận con đường duy tân. Sự
kiện này có ảnh hưởng lớn đến phong trào phục hưng Phật
học ở thượng bán thế kỷ thứ hai mươi. Những nổ lực
cải cách văn hóa, xiển dương quốc học và phục hưng Phật
giáo đều có thể được nhận định là những họat động
công khai nhằm nối tiếp tinh thần Đông Kinh Nghĩa Thục với
một đường lối đấu tranh ôn hòa trong khuôn khổ “thỏa
hiệp” với phe thống trị. Mục tiêu của tất cả những
họat động này là khai hóa dân trí, tìm kiếm và xác định
một ý thức hệ dân tộc. Sống dưới sự bảo hộ của một
ngoại bang, cái lo âu sâu đậm nhất của người Việt là
sự đánh mất cá tính và linh hồn Việt, cho nên sự phục
hưng Phật học cũng như ý hướng xây dựng “quốc học”
đã được sự hỗ trợ nồng nhiệt của quần chúng. Phục
hưng Phật học và xây dựng quốc học là những công việc
làm chính đáng, hợp pháp, không phải là những việc quốc
cấm, cho nên không sợ bị đàn áp. Nơi đây hai giới tân
học và cựu học có thể gặp nhau để cùng họat động:
cả trong hai lĩnh vực tôn giáo và văn hóa, chữ Nho, chữ Quốc
ngữ và chữ Tây đều được sử dụng. Chữ “quốc ngữ”
trở thành một phương tiện mầu nhiệm nối liền hai thế
hệ cựu và tân học.
Trước
1908, những tờ báo quốc ngữ chỉ là những tờ do chính phủ
xuất bản, cdi là để thông tin và bố cáo các chỉ thị của
Nhà nước, như các tờ Gia Định Báo (1865) Đại Nam Đồng
Văn Nhật Báo (1892). Nông Cổ Mín Đàm (1900)(*)
Nhật Báo Tỉnh (1908)(**). Đại Việt Tân Báo (1907)(***) và
Đăng Cổ Tùng Báo (1907). Sau 1908, ngoài việc thông tin, các
báo còn đăng những mục xã thuyết, thơ văn, tự do diễn
đàn, v.v... phản chiếu nguyện vọng và ý hướng của người
dân: đó là những báo như Lục Tỉnh Tân Văn, Thực Nghiệp
Dân Báo, Khai Hóa, Tiếng Dân, Đông Pháp. v.v... Đứng về phương
diện nâng cao dân trí, đại chúng hóa các học thuật tư tưởng
Đông Tây, và xây dựng quốc học thì có các tạp chí sau
đây: Đông Dương Tạp Chí (1913) Nam Phong (1917), Học báo (1919),
Hữu Thanh (1921), An Nam Tạp Chí (1926), Phụ Nữ Tân Văn (1929),
Khoa Học Tạp Chí (1931), Văn Học Tạp Chí (1932)v.v... Đông
Dương Tạp Chí và Nam Phong hồi đó rất được mến chuộng.
Trong
khi
đó thì công cuộc phục hưng Phật giáo được hình thành
với sự thành lập các hội Phật giáo và các tạp chí Phật.
Trước hết là Hội năm kỳ Nghiên Cứu Phật Học thành lập
năm 1931 và tạp chí Từ Bi Âm xuất bản đầu năm 1932. Tiếp
đến là hội An Nam Phật Học (1932) và tạp chí Viên Âm (1933),
rồi hội Phật Giáo Bắc Kỳ (1934) và tạp chí Đuốc Tuệ
(1935). Sau đó nhiều hội Phật giáo hoặc tạp chí Phật học
tiếp tục ra đời, như tạp chí Tiếng Chuông Sớm (1935) của
hai sơn môn Hồng Phúc và Bà Đá xuất bản tại Hà Nội, tạp
chí Duy Tâm (1935) do hội Lưỡng Xuyên Phật Học xuất bản
ở Trà Vinh, tạp chí Tam Bảo (1937) của Đà Thành Phật Học
xuất bản tại Đà Nẵng, tạp chí Tiến Hóa (1938) do Hội
Phật Học Kiêm Tế xuất bản ở Rạch Giá, v.v... Quang cảnh
phục hưng tưng bừng như chưa bao giờ có.
VÀI
NÉT SƠ LƯỢC VỀ CUỘC VẬN ĐỘNG CHẤN HƯNG
Vào
khoảng 1920, tuy tình trạng Phật giáo ở đất Việt không
có gì sáng sủa, nhưng rải rác trong xứ vẫn còn những vị
cao tăng duy trì mệnh mạch của Phật pháp. Ở trong Nam có
thiền sư Từ Phong duy trì đạo tràng Giác Hải ở Chợ lớn,
mở lớp giảng giải Phật pháp cho tăng sĩ ở trong vùng: tổ
chức khắc bản in kinh và khuyến khích việc phiên dịch kinh
Phật ra quốc ngữ. Từ năm 1922, thiền sư đã cho xuất bản
bộ Quy Nguyên Trực Chỉ do ông tự tay phiên dịch ra quốc
ngữ. Chùa Tiên Linh ở Bến Tre cũng là một đạo tràng có
uy tín, nơi đó thiền sư Khánh Hòa chủ trì giảng dạy Phật
pháp cho chư tăng quy tụ học đạo với ông. Tại chùa Phi
Lai ở Châu Đốc, thiền sư Chí Thành quy tụ tăng sĩ về giảng
dạy hàng năm. Dưới sự hướng dẫn của ông, một trường
Phật học dành cho ni giới được tổ chức tại chùa Giác
Hoa ở Bạc Liêu, có trên một trăm học ni tham dự. Tại Trà
Vinh có thiền sư Huệ Quang giảng dạy ở chùa Long Hòa và
thiền sư Khánh Anh giảng dạy tại chùa Long An. Đạo tràng
nào cũng có từ bốn mươi tới một trăm học tăng tham học.
Ngoài ra còn có các vị cao tăng khác như thiền sư Tâm Thông
chùa Trường Thọ ở Gò Vấp (Gia Định), thiền sư Hoằng
Nghĩa chùa Giác Viên (Chợ Lớn) và thiền sư Huệ Tịnh chùa
Linh Tuyền (Gò Công).
Tại
miền Trung có thiền sư Tuệ Pháp nổi tiếng là thâm uyên
giáo điển, thường quy tụ những phần tử tăng già ưu tú
của kinh đô, về chùa Thiên Hưng để giảng dạy kinh luân,
Ngoài ra còn có thiền sư Thanh Thái chủ trì đạo tràng Từ
Hiếu, thiền sư Đắc Ân chủ trì đạo tràng Quốc Ân và
thiền sư Tâm tịnh giảng dạy tại đạo tràng Tây Thiên.
Chùa Thập tháp ở Bình Định là một trung tâm học Phật
nổi tiếng nhờ sự có mặt của thiền sư Phước Huệ mà
học lực thâm uyên về Phật pháp đã làm dư luận quốc dân
khắp nơi quy ngưỡng. Tại chùa Tĩnh Lâm, cũng ở Bình Định,
lại có thiền sư Phổ Tuệ thường xuyên giảng dạy giáo
điển cho nhiều lớp học tăng kế tiếp, tiếng tăm cũng lừng
lẫy cả miền Trung.
Ngoài
miền Bắc có thiền sư Thanh Hanh, một vị tôn túc được
quốc dân sùng kính, chủ trì đạo tràng Vĩnh Nghiêm, năm nào
cũng có quy tụ tăng sĩ về để giảng dạy Phật pháp. Chùa
Linh Quang (tức là chùa Bà Đá) cũng duy trì một đạo tràng
quy mô lớn lao. Mỗi năm đạo tràng quy tụ hàng trăm tăng
sĩ kết hạ và học tập giáo điển. Thiền sư Đỗ Văn Hỷ
lại chủ trương khăc bản in thêm kinh sách, kể cả những
kinh lớn như Đại Bảo Tích. Những đạo tràng và những cao
tăng kể trên cùng một số các cao tăng khác nữa chưa nói
đến, tuy không đủ để tạo nên cho Phật giáo một khuôn
mặt sáng sủa, nhưng đã đủ sức để làm nền tảng cho
một cuộc chấn hưng.
Phong
trào chấn hưng Phật học hồi đó là một phong trào có tính
cách quốc tế và được khởi xướng ở Ấn Độ bởi cư
sĩ David Hewavitarane, người Tích Lan, sau này xuất gia thành
đại đức Dharmapala. Công việc đầu tiên của ông là vận
động trùng tu lại những Phật tích quan trọng ở Ấn Độ,
và tiếp theo là lập hội Mahabodhi Society, xuất bản tạp chí
Phật học, thành lập trung tâm Phật học và tu viện Phật
giáo. Nhờ có sự khuyến khích của thi sĩ Edwin Arnold người
Anh, tác giả The Light Of Asia, và đại tá Henry Steel Olcott, người
Hoa Kỳ, Dharmapala đã đạt tới những thành công lớn, nhờ
sự có mặt của bác sĩ Ambedkar, hàng triệu người Ấn thuộc
giai cấp hạ tiện (intouchables) tại Ấn Độ đã quy y theo
Phật giáo, Tại Nagpur ngày 14.10.1956, năm trăm ngàn người
đã làm lễ quy y trong một lần.
Chính
Dharmapala đã viết thư liên lạc với cư sĩ Dương Nhân Sơn
ở Trung Hoa vào năm 1908 để mời cộng tác. Dương Nhân Sơn
đã đứng lên thiết lập Kỳ Hoàn Tinh xá và triệu tập thanh
niên tăng ni và cư sĩ Hữu Tâm về để nghiên cứu Phật học
qua Hán văn, Anh văn và Pali. Cộng tác với Dương Nhân Sơn
có Âu Dương Tiệm, Mai Quang Hy, Thích Nhân Sơn... những vị
sau này rở nên rường cột nền phục hưng Phật giáo Trung
Hoa. Từ Kỳ Hoàn Tinh Xá xuất hiện nhiều tài năng. Từ 1914
trở đi, các cơ sở hoằng pháp được thành lập tại nhiều
nơi trong nước. Thiền sư Thái Hư lập Phật học viện Vũ
Xương năm 1912 và tiếp theo đó, nhiều Phật học viện được
tuần tự thiết lập trong nước, xuất bản tạp chí Phật
học. Các hiệp hội Tăng Giáo Dục, Phật Giáo Hợp Tiến,
Phật Giáo Tổng Hội, Phật Giáo Liên Hiệp, Phật Giáo Cư
Sĩ Lâm vân vân... thi nhau ra đời. Tạp chí Giác Xã ra đời
năm 1918 do Thái Hư chủ trương, ít lâu sau biến thành nguyệt
san Hải Triều Âm, là một trong những cơ quan ngôn luận Phật
giáo có ảnh hưởng tới nên Phật giáo phục hưng tại đất
Việt.
Trong
lúc ấy, tại các nước Miến Điện,Tích Lan và Nhật Bản,
một ngọn gió mới cũng thổi vào nền Phật giáo cố hữu.
Động cơ của sự phục hưng này không phải chỉ do phong trào
Phật học ở Ấn Độ và Trung Hoa mà còn do sự hâm mộ của
Tây phương về Phật giáo nữa. Những học giả Tây phương
nghiên cứu Phật học một cách nghiêm chỉnh vào khoảng đầu
thế kỷ đã khám phá ra được nội dung thâm sâu vĩ đại
của tư tưởng Phật giáo và đã trung thực nói lên những
cảm nghĩ của họ. Điều này khiến cho Tây phương bắt đầu
chú ý tới đạo Phật và dần dần từ bỏ ý niệm khinh miệt
có sẵn từ trước về đạo học Đông phương. Sự khâm phục
của cá học giả phương Tây đã làm cho niềm tự tin của
các dân tộc Phật giáo sống dậy: người Phật tử bắt đầu
nghiên cứu trở lại giáo lý của tôn giáo họ với tất cả
nhiệt tình. Đó là một trong những động cơ lớn thúc đẩy
phong trào Phật giáo ở các nước Á Châu.
Ở
Việt Nam, phong trào bắt đầu bằng sự vận động của thiền
sư Khánh Hòa ở chùa Tiên Linh Bến Tre và các đồng chí của
ông. Năm 1923, nhân ngày giỗ tổ tại chùa Long Hoa, quận Tiểu
Cần, tỉnh Trà Vinh, vào ngày 19 tháng chín âm lịch (Quý hợi),
ông vận động mời tất cả những vị tôn túc khắp miền
Tiền Giang và Hậu giang về Tiểu Cần để dự lễ, đồng
thời để họp bàn về vấn đề chấn hưng Phật giáo. Kết
quả là hội Lục Hòa Liên Hiệp được thành lập, và tất
cả những vị tôn túc có mặt trong buổi họp như Huệ Quang,
Chí Thiền, Trí Thiền, Từ Phong, Chánh Quả, An Lạc, Huệ Định,
Diệu Pháp, v.v... đều đồng ý tham dự. Sự đóng góp của
các vị lên đến 400 đồng, và một vị cư sĩ có tên Nguyễn
Văn Nhiêu, làm cai tổng, được ủy nhiệm là thủ quỹ cho
hội. Mục đích của hội là vận động thành lập một hội
Phật giáo toàn quốc. Nhưng trong bốn năm bôn ba, Khánh Hòa
vẫn không thành lập được hội này dù ông đã đi mòn gót
từ tổ đình này tới tổ đình khác. Năm 1927 nhân tờ Thực
Nghiệp ở Bắc đăng bài nói về ý nguyện chấn hưng Phật
giáo do một số Phật tử ở Hà Nội đề xướng, trong đó
có thiền sư Tâm Lai ở chùa Tiên Lữ, Khánh Hòa liền gửi
Thiện Chiếu ra Bắc để liên lạc với các tổ đình ngoài
ấy trong việc xúc tiến thành lập Phật Giáo Tổng Hội. Thiện
Chiếu ra tới chùa Linh Quang, yết kiến thiền sư Đỗ Văn
Hỷ rồi xin phép lên chùa Tiên Lữ để gặp Tâm Lai. Các cuộc
gặp gỡ này không đi tới đâu cả. Sau một thời gian lưu
lại ngoài Bắc, Thiện Chiếu trở vào Nam. Trên đường về
Sài Gòn, Thiện Chiếu ghé lại Quy Nhơn để gặp thiền sư
Khánh Hòa lúc bấy giờ đang an cư và giảng kinh cho đại chúng
tại chùa Long Khánh. Sau khi trình bày với thiền sư Khánh Hòa
về nội tình Phật giáo ngoài Bắc, Thiện Chiếu đưa cho ông
xen chương trình cải tổ Phật giáo của Tổng Hội Phật Giáo
Trung Hoa đăng trong tạp chí Hải Triều Âm do thiền sư Thái
Hư chủ biên. Thiền sư Huệ Quang lúc đó cũng có mặt tại
chùa Long Khánh. Thấy rõ chưa có thể thực hiện một hội
Phật giáo cho cả ba miền, Khánh Hòa và Huệ Quang đồng ý
với nhau là khi mãn Hạ, học sẽ về Nam xúc tiến ngay việc
thành lập một hội Phật học tại Nam Kỳ trước đã. Đầu
năm 1928 các thiền sư Khánh Hòa và Huệ Quang cùng vơi các
Thiền sư Thiện Niệm, Từ Nhã, Chơn Huệ và một số cư sĩ
có Tây học như Ngô Văn Chương, Phạm Ngọc Vinh, Nguyễn Văn
Cần, Trần Nguyên Chấn v.v... tổ chức tại chùa Linh Sơn ở
đường Douaumont, Sài Gòn, một Thích Học Đường và một
Phật Học Thư Xã. Đến năm 1930, hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật
Học được thành lập, lấy chùa Linh Sơn làm trụ sở. Thiền
sư Từ Phong được mời làm cho xuất bản tạp chí Từ Bi
Âm. Số đầu Từ Bi Âm được ra mắt hôm 1.3.1932. Tạp chí
này do thiền sư Khánh Hòa làm chủ nhiệm.
Thấy
trong Nam làm được việc, ở Huế, thiền sư Giác Tiên tập
họp các đồng chí với sự cộng tác của một số cư sĩ
như Lê Đình Thám, Nguyễn Khoa Tân v.v... thành lập hội An
Nam Phật Học (1932), đặt trụ sở tại chùa Trúc Lâm nơi
Giác Tiên trú trì, bắt đầu tổ chức giảng diễn tại chùa
Từ Quang. Giác Tiên làm chứng minh đạo sư và cư sĩ Lê Đình
Thám được mời làm hội trưởng. Viên Âm số đầu ra ngày
1.12.1933.
Đến
lượt ngoài Bắc. Các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng và Tâm
Bảo ở Hà Đông thấy Nam và Trung đã lập hội liền lên
Hà Nội tìm các ông Lê Dư (lúc đó đang làm quản lý chùa
Quán Sứ, Nguyễn Hữu Kha, Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ để
bàn tính chuyện lập hội Phật giáo Bắc Kỳ. Hội thành lập
năm 1934, lấy chùa Quán Sứ ở đường Richard làm trụ sở,
suy tôn thiền sư Thanh Hanh chùa Vĩnh Nghiêm làm thiền gia pháp
chủ, và bầu Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng. Hội xuất
bản Tập kỷ Yếu số 1 vào ngày 1.5.1935 và sau đó ít lâu
thì cho xuất bản tạp chí Đuốc Tuệ.
Vậy
trong ba hội Phật giáo đầu tiên được thành lập ở ba miền.
Tiếp theo đó còn có nhiều hội nữa được thành lập; hội
nào cũng xuất bản tạp chí. Các hội phát triển mau chóng
và các chi hội lần lượt được thành lập tại các tỉnh.
NHỮNG
ĐỘNG CƠ CỦA CUỘC CHẤN HƯNG
Nói
về động cơ chấn hưng Phật giáo, hồi ấy có nhiều dư
luận khác nhau. Vào khoảng tháng Năm năm 1935, có một loạt
bài viết trên báo Tràng An ký tên là H. T. về đề tài “Phong
Trào Phật Giáo Chấn Hưng”, cho rằng có ba nguyên nhân của
sự phục hưng Phật giáo. Đó là:
1)
Lòng tự ái của một dân tộc
2)
Lòng khát vọng một lý tưởng để theo, và
3)
Nạn kinh tế khủng hoảng
Lại
còn có dư luận cho rằng phong trào phục hưng Phật giáo là
một âm mưu của Nhà nước bảo hộ muốn dìm quốc dân vào
trong biển ma túy của tôn giáo để học quên mất sự chống
đối ngoại bang. Ký giả H.T. của báo Tràng An chủ trương
đạo Phật nên để cho người già cả, vì nếu thanh niên
mà theo đạo Phật thì... sợ trở nên lười biếng. Ông viết:
“Chúng tôi không lấy làm lạ sao đạo Phật đã được Á
Đông sùng thượng: nó là đạo của những dân tộc lười.
Sống ở thời đại này, thanh niên nước ta không thể lười
được nữa... Một dân tộc thờ chủ nghĩa vô vi ở thời
đại này thực là đưa mình vào cõi chết, vì chủ nghĩa vô
vi là chủ nghĩa tự sát vậy”. Từ nhận định đó, nẩy
sinh ra sự nghi ngờ là phong trào chấn hưng Phật giáo nằm
trong kế hoạch của chính phủ bảo hộ.
Có
hai nguyên nhân làm căn bản cho sự nghi ngờ đó: thứ nhất
là Nhà nước bảo hộ đã ký giấy cho phép thành lập các
hội Phật giáo một cách tương đối dễ dàng và mau chóng,
thứ hai là sự có mặt của một số người được nhận
định như là “người của chính quyền” trong lòng một
số hội Phật giáo như Trần Nguyên Chấn trong hội Nam Kỳ
Nghiên Cứu Phật Học , Nguyễn Năng Quốc và Lê Dư trong hội
Phật giáo Bắc Kỳ(11). Nhận định của giới sĩ phu trong
nước hồi đó thế nào? Ta hãy nghe Phan Khôi giải bày ý kiến
của ông trong báo Tràng An: “Chúng tôi không chuyên một tôn
giáo nào hết. Có người lo nếu Phật giáo thịnh thì Việt
Nam sẽ trở nên lười, cho nên Pierre Pasquier, toàn quyền là
nhà chính trị nham hiểm ký tên cho phép mấy cái hội Phật
ở Đông Dương, làm mê họ bằng Phật giáo. Chúng tôi không
phải quan cố toàn quyền P. Pasquier, chúng tôi đâu biết được
dụng ý của ngài. Chúng tôi tưởng khi Phật giáo thịnh hành,
cũng chẳng có cái hiệu quả như thế. Vì chúng tôi lấy lịch
sử để làm chứng... Phật giáo sang Tàu từ thời Đông Hán
mà suốt trong đời ấy quốc gia của nhà Hán rất là cường
thịnh. Đến nỗi Hung Nô ngày trước cứ xâm lăng mãi mà
bây giờ phải vào chầu. Rồi đến đời Đường Thái Tôn,
đời mà đạo Phật thịnh nhất ở Trung Quốc, thì thế nước
lại lừng lẫy vững vàng, tứ di đều thần phục. Xưa nay
bên Tàu, quốc thế có hai lần hèn yếu nhất, bị lũ mọi
rợ ở phương bắc đè đầu: lần trước vào thời kỳ Tấn
Lục Triều, thì là cái kết quả của sự sùng thượng Lão
Trang; lần sau vào thời kỳ Tống Minh thì là cái kết quả
của cuộc vận động Lý Học. Còn Phật giáo theo lịch sử
chẳng có khi nào gây ra sự hèn yếu cả.
“Ở
nước ta cũng vậy: vào thuở nhà Lý, nhà Trần, đạo Phật
tràn ngập cả nước, chùa chiền khắp nơi, thầy tu làm dân
tráng, nhưng nước nhà chưa hề có cái vẻ tích nhược như
hồi Lê trung hưng hay Nguyễn thống nhất là cai thời đại
Nho học thịnh hành. Trái lại, nhà Lý, nhà Trần mạnh lắm,
dân khí còn hăng lắm: mấy phen giặc Tàu sang chúng ta đuổi
đi như đuổi vịt. Lịch sử là cái chứng mạnh lắm. Không
ai cãi được. Nó đã làm bằng chứng cho Phật giáo; không
phải là một thứ như thuốc phiện làm mòn yếu con người”(12).
Phan
Khôi không phải là người đạo Phật nhưng đã viết những
dòng bênh vực hết lòng cho Phật giáo. Sau khi viết những
dòng trên, ông kết luận rằng ông “biểu đồng tình” với
nỗ lực chấn hưng Phật giáo. Tuy nhiên, ông nói rằng ông
rất “bực mình” vì “các hội Phật giáo xứ ta cứ im
ỉm mà chẳng làm việc gì hết”. Có lẽ ông Phan muốn nói
rằng các hội Phật giáo ngoài việc lo xiển minh Phật học
còn phải trực tiếp tác động trên hoàn cảnh xã hội và
chính trị trong xứ.
Huỳnh
Thúc Kháng cũng đã từng phát biểu ý kiến về vấn đề
phục hưng Phật giáo. Trong Viên Âm số 3 ra ngày 1.2.1934, ông
nói rằng chấn hưng Phật giáo là một việc làm có lợi ích
cho quốc dân và ông khuyên Viên Âm nên cố gắng:
“Viên
Âm hãy gắng lên. Người ta nói khoa học với tôn giáo không
cùng đi với nhau, là nói ở xứ văn minh nào kia, chớ ở xứ
khai thông chậm trễ dân trí mơ mù như xứ ta, tôn giáo còn
là phương thuốc chữa bệnh chung cho người mình có hiệu
nghiệm. Huống là cái thuyết từ bi cứu khổ, độ tha, giác
tha và nhân quả luân hồi của Phật giáo thông cả các giai
cấp trong xã hội, mà ai thực hành theo có bổ ích cho chúng
sanh không phải là ít, chưa nói đến “Niết Bàn” là chỗ
thượng thừa cao xa kia”. Ông nói nhìn Phật giáo phục hưng
mà ông buồn cho Nho giáo: trải qua bao cuộc bể dâu Phật giáo
vẫn còn nguyên vẹn mà bây giờ lại được chấn hưng: trong
khi đó Nho giáo đã suy sụp mà khắp nước lạnh tanh, không
có ai nghĩ đến chuyện chấn hưng Nho học.
Trên
đây làđại khái dư luận của giới sĩ phu đứng ngoài. Đến
đây ta hãy nghe chính những người trong Phật giáo trình bày
những ý hướng của họ trong việc phục hưng Phật học.
Trong một bài xã thuyết nhan đề là Xướng Minh Đạo Phật
Ngày Nay Đã Phải Thời Chưa? Báo Viên Âm, những lý do đó
như sau:
1-
Sự sụp đổ của niềm tin quốc dân nơ những giá trị cổ
truyền do ý thức hệ Nho giáo đại diện đã tạo nên một
hoang mang lớn. Văn hóa cũ đã suy sụp mà văn hóa mới chưa
được hình thành dù đã trải qua gần năm mươi năm tiếp
xúc với Tây phương. Đạo Phật đã chứng tỏ rất thích
hợp với tinh thần và ước vọng người Việt, lại có tính
cách dung hợp cởi mở, có thể đóng vai trò dung hợp cũ mới,
bảo tồn những giá trị cũ và thu nhập những giá trị mới.
Vì vậy xiển minh đạo Phật tức là xây dựng nền tẳng
cho một nền văn hóa dân tộc vừa tiến bộ vừa không mất
gốc.
2-
Nền tảng ấy sẽ xác nhận được dân tộc tính Việt Nam,
đủ tiêu chuẩn và khả năng hấp thụ văn hóa Tây phương
mà không bị đồng hóa, phân biệt được những gì thích
hợp va có lợi cho dân tộc và những gì trái chống với sự
tồn tại và phát triển của quốc gia, nói một cách khác,
có thể “phân biệt chính tà” trong quá trình tiếp nhận
và hình thành văn hóa mới.
3-
Tinh thần Phật giáo rất thích hợp với tinh thần khoa học
và tinh thần tự lực tự cường. Khoa học hấp thụ được
của Tây phương, nếu được đi đôi với đạo học Phật
giáo, thì mới tránh được sự tác hại trong khi sử dụng.
4-
Hình thức tôn giáo lễ nghi của Phật giáo lâu nay lưu hành
chỉ là một phần phương tiện nhỏ bé của Phật giáo, và
phần này không thích hợp những con người chuộng lý trí
và khoa học. Vậy nên sự phát huy giáo nghĩa cao sâu của Phật
giáo để trình bày một nèn Phật giáo tân tiến, sống động,
đáp ứng được nhu cầu của những thế hệ mới là điều
cần thiết.
Đây
là ngôn ngữ của Viên Âm thời ấy:
“Đạo
Phật truyền qua xứ ta, chùa tháp càng ngày càng nhiều, tín
đồ càng ngày càng đông, cũng là nhờ giáo pháp không trái
vói phong tục nhân tâm ...{lược}... Tuy nhiên, lối truyền
bá Phật pháp ngày xưa đối với trình độ ngày nay, xét ra
phần nhiều không còn thích hợp nữa, vậy nên phải thay đổi
sửa sang.
“Vì
sao không thích hợp?
“Xứ
ta trên mấy ngàn năm khuyếch trương Nho học mà làm cơ quan
giáo dục, sùng thượng Phật giáo mà làm nền móng đạo đức
nước nhà. Lễ nghi, phong tục, chính trị, văn chương, toàn
ỷ y vào đó mà làm chân đứng; nhân dân cũng nhờ đó mà
tính tình thuần hậu, phiền não nhẹ nhàng; nhưng đời trước,
các vị tổ sư phương tiện tùy cơ, chỉ đem một phần sự
tướng ra mà hoằng tuyên Phật pháp thôi. đã biết đạo Phật
sự lý vô ngại, tin theo sự tướng không phải là không đủ,
tiếc vì trình độ đời nay một phần sự tướng không thể
phát khởi tín tâm cho hạng người trọng về lý thuyết. Bởi
vậy cần thay đổi.
“Ngày
nay Hán học đình đốn, quốc dân ta tuy xoay về đường tân
học, nhưng trong khoảng bốn năm mươi năm nay chưa hấp thụ
ảnh hưởng triết học tân thời được mấy. Mới cũ lỡ
làng, người theo bên này kẻ theo bên khác, nền giáo dục
Nho học đã lu chữ mà nền giáo dục tân học xây đắp chưa
thành, nên chi về đường xu hướng của phong tục nhân tâm
chưa có chỗ nhất định. Đạo Phật viên dung vô ngại, bao
hàm tất cả học thuyết trong thế gian, nếu tuyên truyền
lý nghĩa sâu xa của đạo Phật ra thì chắc dung hóa được
cả Nho học và tân học mà gây dựng một nền đạo đức
và triết lý vững vàng cho phong tục nhân tâm. Phong tục nhân
tâm tiêm nhiễm được cái lý vô thượng thậm thâm của đạo
Phật rồi thì lo chi mà nền giáo dục nước nhà không được
mỗi ngày mỗi bền vững.
“Xứ
ta đang nhằm về thời canh cải. Giòng Kinh, Vị chưa chia trong
đục, lòng nhân dân còn thiếu phương châm; văn hóa mới càng
nhiều, tư tưởng người càng rộng, dầu cho đạo Nho còn
lại nữa cũng không địch nổi những nghị luận cổ quái
ly kỳ. Gia dĩ nay thuyết này mai thuyết nọ lay động lòng
người, nhân tâm biết nương tựa vào đâu mà phân biệt được
đường tà nẻo chánh. Lòng người như tờ giấy trắng ở
giữa hai bình mực đen và đỏ để hai bên; không dính đỏ
tất phải dính đen, mà đã dính đen thì khó giữ cho khỏi
những điều thương luân hại lý, bại tục đồi phong được.
“Ảnh
hưởng đạo Phật về trong tinh thần giáo dục xứ ta chẳng
phải ít. Vậy ngày nay cần đem giáo lý vô thượng của đạo
Phật mà tuyên truyền ra, đặng cho ai ai cũng nương vào đó
làm phương châm mà phân biệt chỗ phải chỗ chăng, tránh
khỏi cái hại sai đường lạc nẻo.
“...
Hiện nay thanh niên xứ ta đương chăm về các món khoa học;
khoa học chú trọng về thực nghiệm, bất cứ việc gì cũng
phải xét cho tột nguồn gốc, nếu không có lý nghĩa rõ ràng
thì không chịu tín phục. Trí não khoa học thích hợp với
Phật học biết chừng nào! Đạo Phật đủ sự đủ lý: đời
trước thiên về sự mà bỏ lý, nên đối với tân học in
tuồng đứng về mặt trái; ngay nay tân học mở mang. Xứ ta
đã tiêm nhiễm được cái trí não nghiên cứu thì nên đem
giáo lý vô thượng thậm thâm của Đại thừa Phật giáo mà
phô bày ra, đặng ai ai cũng có thể tùy theo trí lực mà suy
nghiệm, mà nghiên cứu. Đến khi rõ được nghĩa lý, hết
chỗ nghi ngờ thì lo chi mà không phát khởi tín tâm một cách
rõ ràng chắc chắn.
“Vả
lại khoa học là một lợi khí tinh nhuệ, đem lòng nhơn mà
dùng khoa học thì ích cho nhân quần chi bằng; lấy lòng ác
mà dùng khoa học thì hại cho nhân quần cũng không chi kịp.
Tinh thông khoa học mà lại có Phật học un đúc lòng nhân
từ, thì chắc chắn về sau sẽ được nhiều phần lợi ích”(13).
Đoạn
văn trên có thể được xem như là một bản tuyên cáo về
phong trào phục hưng Phật học. Nhiều bài xã luận trong báo
Viên Âm sau này viết để trả lời những công kích hướng
về phong trào Phục hưng Phật học (như những bài ký tên
Nguyễn Xuân thanh chẳng hạn)(14) đều lập luận trên căn
cứ những điều đã được diễn bày trong đoạn văn vừa
trích dẫn.
Trong
khi Viên Âm trả lời những lời công kích trên báo Tràng An
thì ở Hà Nội, Đuốc Tuệ cũng nỗ lực chứng minh là sự
phục hưng Phật học rất cần cho nhân tâm thế đạo. Phạm
Văn Côn viết về Văn Minh Vật Chất Với Đạo Phật, chủ
trương không có tinh thần Phật giáo thì văn minh vật chất
thay vì tạo nên hạnh phúc sẽ trở thành động lực chiến
tranh(15). Đỗ Trân Bảo dùng uy tín của Lương Khải Siêu,
dịch bài Phật Giáo Đối Với Nhân Sự của nhà học giả
này, nêu ra những đặc điểm của Phật giáo là trí trí (chống
với mê tín), kiêm thiện (chống với độc thiện), yêu đời
(chống với chán đời) và tự lực (chống với ỷ lại)(16).
Phạm Đình Hòe viết Đức Phật Có Quan Thiết Đến Sự Sống
Của Đời Người, cho rằng Phật giáo là linh hồn của cõi
Đông Á, bỏ đạo Phật tức là Đông Á không còn; rằng tinh
thần của đạo Phật là tinh thần của tự do, bình đẳng
rất thích hợp với đời sống mới(17).
CÁC
HỘI PHẬT GIÁO THỰC HIỆN ĐƯỢC NHỮNG GÌ TRONG THỜI GIAN
1930-1945
Tuy
ra đời sớm nhất nhưng hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học
không đóng được vai trò tiên phong bởi vì sự có mặt trong
ban trị sự của hội một nhân vật quan liêu đó là ông Trần
Nguyên Chấn. Khi mới thành lập, Hội nhận được sự ủng
hộ nồng nhiệt của cả hai giới tăng già và cư sĩ ở Nam
Kỳ. Hội đã cất được một thư viện Phật học gọi là
Pháp Bảo Thường, thỉnh được Tục Tạng Kinh và Đại Tạng
Kinh cho thư viện này. Hội cũng đã cất được một Phật
học đường, gồm có sáu gian nhà ngói có trang bị đầy đủ
để nhận học tăng nội trú. Nhưng ông “phó nhì hội trưởng”
không chịu nghe lời các thiền sư Khánh Hòa và Huệ Quang,
cho nên những cơ sở đó vốn được xây cất trên đất riêng
của ông Chấn trở thành vô dụng. Phật học đường không
bao giờ được khai giảng và công việc hoằng pháp bị đình
trệ. Sự kiện này đã là nguyên nhân phát sinh ra hai hội
Phật giáo khác, một hội tên là Lưỡng Xuyên Phật Học Hội
tại Trà Vinh và một hội lấy tên là Phật Học Kiêm Tế
Hội ở Rạch Giá. Lưỡng Xuyên Phật Học Hội được Khánh
Hòa và Huệ Quang điều khiển, có đường lối tương tự
với Hội An Nam Phật Học. Phật Học Kiêm Tế Hội do Thích
Trí Thiền sáng lập với sự cộng tác của Thích Thiện Chiếu.
Nếu hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học được xem như là một
hội thuộc cánh cực hữu thì hội Phật Học Kiêm Tế được
xem là một hôi thuộc phe cực tả. Hội này kêu gọi Phật
giáo đi theo đường lối xã hội chủ nghĩa.
Hội
An Nam Phật Học là hội đã tạo nên tiếng vang lớn nhất
cho phong trào Chấn Hưng Phật Học. Lễ Phật Đản mà hội
tổ chức tại đất thần kinh năm 1935 là một cơ hội phô
diễn lực lượng quần chúng đầu tiên của Phật giáo trong
thế kỷ này. Báo chí trong nước đã nói đến ngày lễ này
trong nhiều số liên tiếp và những bài viết để chống đối
Phật giáo đăng trên các báo cũng là những phản ứng gây
nên do cuộc phô diễn lực lượng đầu tiên ấy của giới
Phật tử.
Lễ
Phật Đản do hội tổ chức, nhưng được sự tham dự của
tất cả các bậc tôn túc ở thần kinh. Các vị hòa thượng
và tăng cương các chùa Thiên Mụ, Từ Hiếu, Bảo Quốc, Trúc
Lâm, Túy Ba, Tây Thiên, Linh Quang, Tường Vân, Vạn Phước,
Từ Quang và Quốc Ân đều đến tham dự. Tổng thư ký của
Sơn Môn là Thích Mật Khế đã triệu tập một ủy ban tăng
ni yểm trợ cho cuộc lễ gồm có các vị trú trì chùa Diệu
Đế, Quan Công, các vị Mật Nguyện, Đôn Hậu, Diệu Hương
và Diệu Viên để huy động tăng đồ và tín đồ đến dự
lễ.
Lễ
Phật Đản được tổ chức ngày 10.5.1935. Trước đó hội
trưởng Nguyễn Khoa Tân và các vị tôn túc đã vận động
được vua Bảo Đại và Tam Tôn Cung nhận thức hội chủ vinh
dự của hội, và Ngự Tiền văn phòng cho biết tin này bằng
văn thư 97.BE ngày 20.4.1935. Vua cúng dường 150 đồng và Khôn
Nghi Xương Đức thái thượng hoàng thái hậu cúng dường 100
đồng.
Chiều
mồng bảy tháng Tư âm lịch, hội tổ chức rước Phật ở
Bảo Quốc. Một ban đồng ấu Phật tử đầu đội mũ, áo
mã tiền, trên vai có cắm lồng đèn hoa sen, vừa đi vừa bát
bài “Vui mừng gặp ngày nay mồng tám tháng Tư”. Đây là
một cảnh chưa từng thấy(18). Hai bên đường quần chúng
đổ ra xem đông đảo và hàng ngàn người đi theo sau đám
rước để về chùa Diệu Đế. Đám rước tới chùa Diệu
Đế vào lúc chín giờ rưỡi, và quần chúng quy tụ đầy
đặc từ trong sân chùa ra tới ngoài đường. Thích Giác Nhiên
lên diễn đàn giảng Bát Nhã Tâm kinh trước máy vi âm. Đây
là lần đầu tiên có máy vi âm trong một buổi giảng kinh,
quần chúng trong chùa, ngoài đường nghe rõ mồn một, và tỏ
ra rất thích thú. Máy vi âm này hội đã mượn được của
nhà thuốc Võ Văn Vận tận Thủ Dầu Một.
Sáng
mồng tám ni sư Diệu Hương giảng kinh Di Đà và tiếp theo
ni cô Diệu Viên (còn là Sa Di Ni) lên giảng về đề tài “Phật
học đối với phụ nữ”. Lúc ấy người của hoàng gia,
theo lệnh của Tam Tôn Cung, mang đến cúng dường một ngàn
chiếc đèn lồng thắp ở chung quanh khuôn viên chùa Diệu Đế.
Ni cô Diệu Viên giảng xong thì bác sĩ Lê Đình Thám đăng
đàn nói về lễ Phật Đản. Đúng chín giờ, xa giá của vua
Bảo Đại tới và nghi lễ bắt đầu. Cùng đi với vua có
Tôn Cung và các cơ mật đại thần, Viên khâm sứ Pháp cũng
có đến dự.
Sau
khi cử hành lễ Phật Đản, ban Đồng Ấu đã hát những điệu
Phú Lục, Long Ngâm, Đăng Đàn Cung, Lưu thủy, Kim Tiền và
Ngũ Đối Thượng. Sau đó Ban Đồng Ấu được Hoàng Thái
Hậu tặng 50 đồng...
Ngày
hôm sau, các báo trong nước đều có tường thuật về buổi
lễ. Riêng báo Tràng An tại Huế đã ra một số đặc biệt
để nói về lễ này.
Chính
tiếng vang của ngày lễ đã thúc đẩy sự thành lập hội
Phật Giáo Bắc Kỳ và khơi nguồn cho những bài đàm luận
nên hay không nên chấn hưng Phật học.
Phương
pháp phô diễn lực lượng quần chúng sau này sẽ được áp
dụng nhiều lần bởi các hội Phật giáo ba miền.
Từ
khi hội Phật giáo đầu tiên được thành lập tại Nam kỳ
(1931) đến Cách Mạng Tháng Tám (1945), phong trào chấn hưng
Phật học có tới mười bốn năm trời để họat động.
Phong trào đã thực hiện được những gì trong thời gian ấy?
Đứng
về phương diện Phật Học ta có thể nói rằng phong trào
đã đạt được nhiều kết quả. Sự có mặt của các tạp
chí bằng quốc ngữ (Viên Âm, Đuốc Tuệ, Từ Bi Âm, Pháp
Âm, Quan Âm, Tam Bảo, Tiếng Chuông Sớm, Duy Tâm, Tiến Hóa)
và một số kinh sách phổ thông vè Phật học (Phật giáo Sơ
Học, Phật Giáo Vấn Đáp, Phật Giáo Giáo Khoa Thư v.v... và
những kinh bản bằng quốc ngữ như Kim Cương, Pháp Hoa, Lăng
Nghiêm v.v...) đã làm cho sự học Phật trở nên dễ dàng dối
với đại chúng. Thêm vào đó những buổi giảng diễn Phật
pháp (không những tại trụ sở trung ương của các hội mà
còn tại trụ sở của những chi hội ở các tỉnh nữa) đã
tạo cơ hội cho nhiều người làm quen với Phật pháp. Ngày
xưa, khi chữ Nho còn là học thừa của Phật học, chỉ có
những người thông hiểu Hán học mới có thể đọc được
kinh sách Phật giáo. Tuy vậy, không phải ai biết chữ Nho cũng
đều đọc được sách Phật, bởi vì ngôn ngữ Phật học
rất khác với ngôn ngữ Nho học. Thời xưa, kinh điển rất
hiếm; muốn đọc kinh phải lên chùa mượn và số lượng
kinh điển của các chùa cũng rất ít. Mỗi thứ chỉ có một
bản. Bây giờ, các kinh sách bằng quốc ngữ có thể mua được
tại các chùa thuộc hội Phật giáo, và các tạp chí Phật
học được gửi bằng đường “giây thép” tới tận nhà.
Các ông cụ bà cụ không biết đọc quốc ngữ cũng có thể
nhờ con cháu mình đọc lên cho mà nghe; mà vì đây là sách
báo quốc âm cho nên nghe tới đâu là các cụ hiểu ngay tới
đó. Ngày xưa, các cụ đi chùa chỉ để lễ bái tụng kinh,
học ăn chay và làm việc phúc thiện; bây giờ các cụ có
thể hiểu thế nào là Phật Pháp Tăng, thế nào là Tam Bảo,
thế nào là Tam Quy, Ngũ Giới, Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên.
Sự thành công của các tạp chí Phật học cũng là sự thành
công của quốc ngữ vậy.
Các
hội Phật học lại đã quy tụ được những nhà học giả
và nhà văn tha thiết đến nền quốc học và gây hứng thú
học Phật cho họ. Tại hội Phật Giáo Bắc Kỳ, nhiều nhân
sĩ đã tham dự vào ban Khảo Cứu Phật Học; trong số đó
ta có thể kể các vị Nguyễn Văn Tố, Trần Trọng Thuật,
Nguyễn Hữu Tiến, Bùi Kỷ, Lê Toại, Lê Dư, Vũ Như Trác,
Nguyễn Văn Vĩnh v.v... Tại tòa soạn Tiếng Chuông Sớm ở
chùa Linh Quang (Bà Đá), ta thấy cả Tản Đà Nguyễn Khắc
Hiếu, Trịnh Đình Rư, Mai Đăng Đệ, Nguyễn Mạnh Bổng và
Nguyễn Tiến Lãng. Cơ hội học Phật đã khiến cho những
người như Trần Trọng Kim và Phan Văn Hùm đạt được những
kiến thức Phật học khá vững chãi. Tác phẩm Phật Giáo
của Trần Trọng Kim(19) và những bài khảo luận của Bùi
Kỷ trên Đuốc Tuệ chẳng hạn đã chứng tỏ được điều
ấy.
Đứng
về phương diện đào tạo tăng tài, thành quả chỉ có thể
được gọi là khiêm nhường. Ngoài Bắc, hội Phật giáo Bắc
Kỳ tổ chức hai lớp tiểu học cho tăng ni sinh, một tại
chùa Cao Phong ở Phúc Yên, một tại chùa Côn Sơn ở hải Dương.
Một lớp trung học được khai giảng tại chùa Quán Sứ, và
một lớp đại học được duy trì tại chùa Sở ở Hà Đông.
Tổng số các học tăng nội trú của bốn lớp là 69 vị(20).
Ngoài ra còn nhiều học tăng và học ni từ các chùa tới học,
có vị chính thức, có vị dự thính. Các tổ đình như Hồng
Phúc, Linh Quang v.v... không mở Phật học đường mà chỉ triệu
tập chư tăng các chùa về học Phật trong những tháng kết
hạ. Những tổ đình ấy mỗi mùa an cư có thể quy tụ được
khoảng trên đưới một trăm vị tăng sĩ.
Tại
miền Trung, hội Phật học mở trường An Nam Phật học tại
các chùa Trúc Lâm vào năm 1934 và thu nhận 50 học tăng nội
trú. Trường này sau được dời về chùa Báo Quốc. Chín năm
sau (sau khi học xong sáu năm tiểu học và ba năm trung học),
lớp này thi lên đại học. Lớp này đã đào tạo được
khoảng mười vị tăng sĩ xuất sắc trong số đó có thiền
sư Trí Quang, Thiện Siêu, Trí Thuyên và Thiện Minh. Về phía
sơn môn thì từ năm 1929, Thích Giác Tiên đã rước thiền
sư Phước Huệ chùa Thập Tháp Bình Định về chùa Trúc Lâm
Huế để mở trường Sơn Môn Phật Học. Lớp học tăng này
đã có căn bản Phật học rồi nên mở được xem như một
lớp đại học. Trong số các học tăng, ta thấy những vị
như Mật Thể, Trí Thủ, Quảng Huệ, Mật Hiển, Chánh Thống,
Thiện Trí, Mật Khế. Bốn năm sau, thiền sư Mật Khế, đệ
tử của thiền sư Giác Tiên lại mở một lớp tiểu học
ở chùa Vạn Phước. Một lớp tiểu học khác lại mở một
lớp tiểu học ở chùa Vạn Phước. Một lớp tiểu học khác
lại được mở tại chùa Vạn Phước. Một lớp tiểu học
khác lại được mở tại chùa Tường Vân, quy tụ được
bốn mươi học tăng và một lớp khác nữa tại chùa Từ Đàm
quy tụ được hai mươi vị học ni.
Tại
Bình Định, một trường Trung Đẳng Phật Học được khai
giảng tại chùa Long Khánh năm 1937. Phan Rang cũng mở một trường
tiểu học tại chùa Tây Thiên. Tại Đà Nẵng, Phật học đường
của Đà Thành Phật Học Hội gồm có hai cấp tiểu học và
trung học cũng được khai giảng đầu năm 1937.
Trong
Nam, sau khi thúc đẩy mãi mà ông Trần Nguyên Chấn không chịu
khai giảng Phật học đường, hai thiền sư KhánhHòa và Huệ
Quang liền bỏ về Trà Vinh và lập Liên Đoàn Phật Học Xã
(1933). Đây là một Phật học đường lưu động, cứ ba tháng
lại thay đổi nơi cư trú. Lý do của sự lưu động này là
kinh tế, bởi vì một chùa không thể có đủ khả năng nuôi
dưỡng giáo sư và học tăng quá ba tháng. Khóa học đầu được
tổ chức tại chùa Long Hòa ở Tiểu Cần, khóa thứ hai được
tổ chức tại chùa Thiên Phước ở Trà Ôn. Nhưng sau khóa
thứ ba tại chùa Viên Giác ở Bến Tre, Phật học đường
lưu động này bị tan rã, vì không có chùa nào đủ sức cưu
mang một số tăng sĩ lớn lao trong vòng 3 tháng nữa. Cuối
cùng các vị Khánh Hòa, Huệ Quang, Khánh Anh và Pháp Hải, hợp
tác với một số cư sĩ tại Trà Vinh, thành lập hội Lưỡng
Xuyên Phật Học để làm phương tiện bảo trợ Phật học
đường. Năm 1934 Phật Học Đường Lưỡng Xuyên được khai
giảng. Phật học đường này đã đào tạo được một số
tăng tài trong đó ta thấy có các thiền sư Thiện Hòa, Thiện
Hoa, Hành Trụ, Chí Quang, Hiển Thụy và Chánh Quang. Tuy vậy,
đến năm 1939 trường bị đóng cửa vì thiếu tài chính và
một số học tăng được gởi ra học tại trường Sơn Môn
Phật Học Huế. Một số khác đi các tỉnh để mở những
lớp tiểu học cho tăng ni: Giác Tâm ở Sa Đéc, Chí Thiện
tại Phú Nhuận và Bửu Ngọc tại Kế Sách.
So
với số lượng tăng sĩ thất học lớn lao trong xứ, số tăng
sĩ được đào tạo tại ba miền không thấm vòa đâu. Số
lượng tăng ni được trực tiếp đào tạo không vượt quá
số năm trăm vị, trong số dó chỉ có khoảng một phần mười
gọi là xuất sắc. Tuy vậy trong khoảng 1945-1975, thiểu số
này đã tạo nên được sóng gió trong sinh hoạt văn hóa và
chính trị quốc gia.
Đứng
về phương diện văn hóa ta có thể nói là phong trào Phật
giáo dã góp phần đáng kể trong việc xác định rằng yếu
tố Phật giáo là một trong những yếu tố căn bản làm nền
tẳng cho văn hóa Việt Nam. Phạm Quỳnh, trong dịp viếng thăm
hai Phật học đường Báo Quốc và Tường Vân ngày 29.5.1937,
đã nói với học tăng những lời sau đây: “Cái tinh thần
Việt Nam của chúng ta đây tất phải nhờ các học thuyết
tạo thành, mà xét về đức dục thì một phần lớn là do
công nghiệp của Phật học. Phật học đã có ảnh hưởng
về luân lý đạo đức trong dân tộc ta như vậy, thì ai là
người muốn bảo tồn tinh thần dân tộc Việt Nam tất phải
tán thành cho Phật học(21). Phạm Qùnh là một trong số những
học giả tha thiết nhất về vấn đề quốc học. Hồi ấy
ông làm thượng thư bộ Quốc gia giáo dục của chính phủ
Nam Triều. Báo Nam Phong của ông trước đó cũng đã đăng
nhiều bài khảo cứu về lịch sử Phật giáo Việt Nam như
bài Phật Giáo Nam Lai Khảo. Tạp chí Đuốc Tuệ có thể nói
là tờ tạp chí đóng góp nhiều bài vở nhất về lịch sử
các cao tăng Việt Nam thời cổ, về những đóng góp của họ
trong sự lập nước và giữ nước: báo cũng đăng tải bản
dịch của các tác phẩm Phật giáo Việt Nam cổ điển như
Khóa Hư Lục và những áng văn Nôm do các thiền sư xưa sáng
tác. Đuốc Tuệ và Viên Âm ưa đăng những bài nêu rõ tinh
thần tự do, bình đẳng và vô úy của Phật giáo để chứng
tỏ cho thế hệ ham chuộng tân học thấy rằng những hình
thức cầu nguyện, cúng lạy lâu nay họ thấy chỉ là một
hình thức của đạo Phật bình dân, rằng chân tinh thần của
Phật giáo rất hợp với tinh thần Phật giáo rất hợp với
tinh thần thực nghiệm và khám phá khách quan của khoa học
và đạo Phật của tuổi trẻ là một đạo Phật không mê
tín, không ỷ lại thần quyền, không chán đời, không nhu
nhược yếu đuối. Mộng ước thầm kín của tác giả những
bài này là sự phối hợp khoa học Tây phương với đạo học
Phật giáo sẽ tạo được cho quốc gia Việt Nam một nền
văn hóa mới còn giữ được nguyên vẹn cá tính Việt. Các
tạp chí Phật học cũng rất ưa đăng những bhài nói về
Phật giáo với khoa học, cho rằng trong các tôn giáo chỉ có
đạo Phật là đạo “khoa học” hơn cả. Cố nhiên những
bài này hướng về phía thanh niên tân học.
Vào
khoảng 1940, các hội Phật giáo chú trọng đặc biệt đến
giáo dục thanh thiếu niên, nhất là ở Trung Kỳ. Hộ An nam
Phật Học mở mọt lớp đặc biệt dạy về Phật học, Lão
học và Khổng học cho thanh nbiên tân học.sau đó đoàn Thanh
Niên Phật Học Đức Dục được thành lập. Dưới sự hướng
dẫn của bác sĩ Lê Đình Thám, vừa có tân học, vừa vững
chãi về Phật học, đoàn thanh niên này tiến bộ rất mau
chóng. Đến đầu năm 1942 báo Viên Âm được giao lại cho
đoàn Thanh Niên Phật Học Đức Dục biên tập. Thể tài Viên
Âm biến đổi hẳn và Viên Âm trở thành một tập san gần
như của giới tuổi trẻ tân học.
Đoàn
Phật Học Đức Dục lập tức tổ chức Phật Học tùng thư,
xuất bản sách cho tuổi trẻ đọc. Những tác phẩm Phật
Giáo sơ Học (đoàn Phật Học Đức Dục soạn), Phật Giáo
và Đức Dục (Đinh Văn Vinh), Đời Vui (Ngọc Thừa), Nghĩa
Chữ Cho (Nguyễn Hữu Quán), Thanh Niên Đức Dục (Đinh Văn
Nam), Phật Giáo Và Thanh Niên Đức Dục (Phạm Hữu Bình), Đời
Sống Vui (Trần Đỗ Cung) v.v... được xuất bản liên tiếp.
Đồng thời những lớp thiếu niên nữ Phật tử gọi là (Đồng
Ấu) được thành lập dưới sự hướng dẫn của đoàn. Vào
năm 1942, đã có 12 đoàn Đồng Ấu được thành lập, mỗi
đoàn vào khoảng 40 em. Đại hội Thanh Thiếu Niên Phật Tử
ngày Phật Đản năm 1943 quy tụ trên bốn trăm đoàn sinh tại
đồi Quảng Tế gần chùa Từ Hiếu đánh dấu sự phát động
phong trào thanh niên Phật tử tại đất Việt(22).
Đưa
tuổi trẻ vào đạo Phật, đây có thể gọi là một trong
những thành công của phong trào phục hưng Phật giáo vậy
Đứng
về phương diện chính trị và xã hội, phong trào Phật giáo
1931-1945 đã làm được gì? Năm 1935, Phan Khôi nói ông bực
mình vì “các hội Phật giáo xứ ta cứ im ỉm mà chẳng làm
gì hết”. Ông đã nói được sự thật: phong trào Phật giáo
không trực tiếp vận động chính trị. Không những Phan Khôi,
một người ngoài Phật giáo đã nói như vậy mà nhiều người
trong giới Phật giáo cũng nóng ruột nói như vậy. Họ cho
rằng các hội Phật giáo đi chậm như rùa; nội một việc
thống nhất các hội thành một tổng hội mà cũng không làm
được, nói gì đến can thiệp vào tình hình chính trị và
kinh tế. Báo Pháp Âm, cơ quan của hội Tịnh Độ Cư Sĩ, xuất
bản tại Nam Kỳ (23) đã nhiều lần nói lên sự nóng ruột
đó: Ký giả Quốc Trí của báo này viết: “Các ngài định
chấn hưng Phật học để cải tạo nền tảng ở nước ta,
gây thành một thế lực mà ứng phó với thời cơ, hay là
định liên lạc các phần tử Phật gia lại làm một cái đại
đoàn để duy trì lấy cái thế lực cho một bọn người quen
nghề buôn thần bán Phật? Các ngài định chấn hưng Phật
học để rồi đào chú cho nước Nam một bọn người có đức
hy sinh, xả kỷ, nhẫn nại, mạo hiểm như Đức Phật Thích
Ca, hay sẽ tạo thành cho nước Nam về sau một bọn tín đồ
Phật giáo như ở các nước Miên Lào?”(24). Ký giả Đông
Giao trong một bài nhan đề Chấn Hưng Phật Giáo Phải Thực
Hành Thế Nào Mới Thấy Kết Quả nhắc đến tai nạn chiến
tranh dây dưa trên thế giới, đến những cảnh nghèo đói,
bệnh hoạn, dốt nát trong xứ, đến gần mười năm chấn
hưng Phật giáo, rồi kết luận là cuộc chấn hưng không có
kết quả vì lý do các hàng lãnh đạo Phật giáo chỉ lo tương
lai mà không lo hiện tại, chỉ trọng tinh thần mà bỏ quên
thực tế, không đề ra được những chương trình và phương
pháp thực hành cụ thể. Ông viết: “Cuộc chấn hưng Phật
giáo không có ảnh hưởng, không có kết quả, bởi vì không
thiết thực với xã hội nhân sinh, chỉ nói suông trong báo
chí sách vở mà thôi chứ không có thực hành”(25). Trong lúc
đó tạp chí Tiến Hóa của hội Phật Học Kiêm Tế ở Rạch
Giá kêu gọi cải cách Phật giáo một cách triệt để, nghĩa
là phải hủy bỏ hình thức đầu tròn áo vuông của tăng
sĩ, thiết lập tân tăng như ở Nhật Bản, tham dự vào cách
mạng xã hội. Ký giả Giác Tha không muốn đạo Phật mang
hình thức một tôn giáo nữa, mà phải xuất hiện ra như một
đường lối sống. Ông viết: “Phật giáo muốn khỏi {sa}
vào vòng tội ác của tôn giáo, muốn vĩnh viễn tồn tại
cứu khổ cho thế gian, thì Phật giáo phải hoàn toàn cải
cách... Hiện nay nhân loại ham chuộng khoa học và triết lý
mới: họ yêu cầu thực hiện thế giới hòa bình hạnh phúc,
là phải thời cho Phật giáo cởi bỏ cái lốt tôn giáo cũ
đặng lòi cái mặt thật của mình”(26).
Nhìn
hoàn cảnh đất nước thời đó, ta có thể thông cảm được
dễ dàng cho sự nóng ruột của những người như Phan Khôi,
Quốc Tri, Đông Giao và Giác Tha, và ta cũng cảm thấy các hội
Phật giáo đi chậm quá. Ở đây, ta hãy
xét những lý do đã khiến cho phong trào Phật giáo không đi
nhanh được như những người kia mong muốn.
Trước
hết là sự có mặt của những phần tử hữu khuynh trong các
hội. Đây là một sự thực, thời nào cũng có. Những phần
tử này xem một chứ vị như hội trưởng hay phó hội trưởng
của một cái hội là một thế đứng trong xã hội và họ
không bao giờ chấp nhận sự đương đầu với những thế
lực chính trị kinh tế thống trị. Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu
Phật Học với ông phó nhì hội trưởng Trần Nguyên Chấn
là một ví dụ cụ thể.
Lý
do thứ hai là một số người lãnh đạo các hội cho rằng
thà đi chậm hơn là để cho hội phải bị giải tán hoặc
tan rã. Quan niệm này cũng hàm chứa chút ít sự thực, nhưng
cũng phản chiếu sự lo âu thái quá về sự tồn vong của
một tổ chức. một cái hội lập nên là để có phương tiện
thực hiện một ước vọng nào đó,nhưng khi đã có hội rồi
thì người ta lại lo lắng cho sự tồn vong của hội, thành
ra hội càng ngày càng trở nên một cứu cánh hơn là một
phương tiện.
Lý
do thứ ba là có những người “chấn hưng Phật giáo là vì
Phật giáo chứ không phải vì nhân sinh” như Ngộ Không đã
lên án trong bài viết về Phật Giáo Và Xã Hội trong tạp
chí Pháp Âm(10).
Pháp
Âm, cũng như Tiến Hóa, phản chiếu thao thức muốn xem đạo
Phật làm cách mạng xã hội. Hai tạp chí này có thể gọi
là tả khuynh trong phong trào Phật giáo. Tiếc thay, gốc rễ
Phật giáo của họ không được vững chãi, và thế liên hợp
của họ đối với các lực lượng quần chúng Phật tử thời
đó còn quá mong manh. Pháp Âm chỉ xuất bản được từ đầu
năm 1937 đến giữa năm 1938 là đóng cửa. Tiến Hóa cũng chỉ
xuất hiện được từ đầu năm 1938 đến giữa năm 1939 rồi
bị đóng cửa. Hội Phật Học Kiêm Tế chứng minh đường
lối nhập thế của mình bằng cách tổ chức phát thuốc,
chẩn tế, nuôi dưỡng cô nhi. Nhưng hội cũng ngấm ngầm tổ
chức kháng chiến bạo động. Chùa Tam Bảo ở Rạch Giá bị
nhân viên mật thám Pháp vây bắt, lục soát. Họ tìm ra được
nhiều tạc đạn nội hóa và truyền đơn cách mạng. Hòa thượng
Trí Thiền, hội trưởng của hội cùng nhiều cộng sự bị
bắt bớ, tra tấn, và cuối cùng bị đày ra Côn Đảo. Ảnh
hưởng của hộ Phật Học Kiêm Tế, vì vậy, cũng không được
sâu rộng và lâu dài. Nếu chấp nhận một đường lối tranh
đấu bất bạo động để Tịnh Phạn cơ sở quần chúng và
gây ý thức sâu rộng trong quốc dân, chắc chắn hội đã
đạt được những thành công lớn lao hơn. Hội Phật Học
Kiêm Tế có thể gọi là không “im ỉm” như Phan Khôi nói,
nhưng có lẽ cũng không làm được việc gì mà ông Phan mong
đợi.
--------------------------------------------------------------------------------
(1)
Đạo dụ cám Cơ Đốc lần thứ nhất có câu: “Đạo rỗi
của người Tây làm mê h oặc lòng người ta. Giáo sĩ Gia Tô
làm tà vạy nhân tâm, phá hoại mỹ tục, thật là một mối
hại lớn cho nước nhà” (Đào Trinh Nhất trích dẫn trong
Việt Nam Tây Thuộc Sứ, Sài Gòn, 1937
(2)
Năm 1885, quân đội Pháp từ Vinh và Đồng Hới kéo ra bắn
giết và tàn phá các chùa chiền Phật giáo rồi tập trung
người Công giáo về gần thành để chiêu mộ vào binh ngũ.
Cá lãnh tụ văn thân đã ra lệnh đốt phá nhà thờ để trả
thù quân Pháp xúi giáo dân đốt phá chùa chiền là những
căn cứ kháng chiến của phong trào Cần vương. Nhiều người
Công giáo vì phẩn uất quay lại chống đối kháng chiến.
(3)
Hành Sơn: Cụ Trần Cao Vân. Minh Tân Paris, 1952
(4)
Võ Trứ là đệ tử của một vị tăng sĩ được gọi là
“thầy Đá Bạc”. Vị này tu tại một hang động trên dãy
Trường Sơn gọi là hang Đá Bạc, ở vào khoảng giữa hai
huyện Phù Mỹ và Phù Cát tỉnh Bình Định. Không biết “thầy
Đá Bạc” pháp danh là gì, thuộc hệ phái nào, chỉ biết
ông là một sơn tăng chuyên tu tịnh cốc, lúc đến tu ở hang
Đá Bạc thì đã vào khoảng bảy mươi tuổi. Năm 1894 ở Bình
định có nạn ôn dịch, người chết như rạ, “thầy Đá
Bạc” rời hang Đá Bạc xuống chùa Chánh Danh núi Bà Chằn,
bắt đầu trị bệnh cho thuốc. Ông chữa đến đâu lành đến
đó, khiến danh tiếng ông nổi như cồn trong hai tỉnh Phú
Yên và Bình Định. Hàng chục ngàn người đổ xô tới chùa
Chánh Danh để xin thuốc. Trong số những đệ tử của ông,
Võ Trứ là người hoạt bát hơn cả. Võ Trứ đã từng làm
lý trưởng làng Nhân Ân, phủ Tuy Phước, Bình Định. Ta cũng
không biết pháp danh của ông là gì. Chắc hẳn “thầy Đá
Bạc” đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc vận động
khởi nghĩa, vì sau đó chính quyền ra lệnh cấm tụ tập ở
chùa Chánh Danh và tróc nã ông. Năm 1895 người ta tìm được
thi thể ông trên núi Bà Chằn. Chính quyền an tâm khi nghe tin
ấy, nhưng chính từ đó về sau Võ Trứ mới bắt đầu tự
thân điều khiển cuộc vận động. Cuộc khởi nghĩa năm 1898
là kết quả của một buổi họp bí mật tổ chức vào rằm
tháng Bảy năm Đinh dậu (1897) tại chùa Từ quang ở núi Đá
Trắng, Sông Cầu, với sự hiện diện của các tăng sĩ , các
vị thân hòa và nho sĩ Trần cao Vân
(5)
Hiệu Tây Hồ, người tỉnh Quảng Nam (1872-1926)
(6)
Nguyễn Hiến Lê: Đông Kinh Nghĩa Thục. Lá Bối, Sài Gòn, 1974
(7)
“Không bỏ chữ Hán thì không cứu được nước Nam”.
(8)
Hiệu Sào Nam, người tỉnh Nghệ An (1867-1940)
(9)
Hiệu là Tử Long, người tỉnh Hà Đông (1875-1952)
(*)
Phong trào thực tế còn là ra Nghệ - Tỉnh và bùng lên dữ
dội ở đây vào năm 1908. Người cầm đầu phong trào là Nguyễn
Hàng Chi (Can Lộc, Hà Tỉnh) bị xử chém. Một người khác
ít biết tên tuổi hơn là Trịnh Khắc Lập (Nghi Xuân, Hà Tỉnh)
cũng bị xử chém. Còn các vị khác như Ngô Đức Kế, Đặng
Nguyên Cẩn, Lê Văn Huân đều bị bắt đi đày cùng với Huỳnh
Thúc Kháng ở Quảng Nam (N.H.C).
(10)
“Đi đày Côn Lôn gặp kỳ đại xá cũng không được về”.
(*)
Theo Huỳnh Văn Tòng: Lịch sử báo chí Việt Nam. Trí Đăng,
Sài Gòn, 1973, thì tờ báo này ra số 1 ngày 1-8-1901 (N.H.C).
(**)
Theo Nguyễn Ngu Í: 100 năm báo chí Việt Nam, Bách khoa, số 25,
ra ngày 15-1-1966, Sài Gòn, thì tờ báo này ra đời từ 1905
(N.H.C)
(***)
Theo Huỳnh Văn Tòng. Sđd, thì tờ báo này ra đời từ 1905.
(11)
Lê Dư hiệu Sở Cuồng là một nhà văn. Ông và Phan Bá Ngọc
(con của Phan Đình Phùng) đã từng bị Phan Bội Châu nghi ngờ
là những người chịu thỏa hiệp với thực dân Pháp trong
công cuộc vận động phong trào “Pháp Việt Đề Huề”.
(12)
Đăng trong Tiếng Chuông Sớm số 9, ra ngày 12.10.1935
(13)
Viên Âm số 2, ra ngày 1.1.1934
(14)
Xem Viên Âm số 13 (tháng Hai 1935), số 14 (tháng Tư 1935) và
số 15 (tháng Năm 1935)
(15)
Đuốc Tuệ số 29 (30.6.1936)
(16)
Đuốc Tuệ số 32 (17.12..1935)
(17)
Đuốc Tuệ số 2 (17.12.1935)
(18)
Ban Đồng Ấu Phật tử này gồm có 52 em vừa nam vừa nữ,
huấn luyện tại chùa Phước Điền. Nhạc sĩ Bửu Bác phụ
trách dạy nhạc cho các em. Bài Hải Triều Âm do Bửu Bác sáng
tác là bản nhạc lễ Phật giáo đầu tiên viết bằng phép
ký âm Tây phương. Bài này sau được Gia đình Phật hóa Phổ
giản lược hóa và trở thành bài Trầm Hương Đốt. Tuy Trầm
Hương Đốt dễ hát hơn Hải Triều Âm nhưng tính chất lễ
nhạc dân tộc và Phật giáo trong bài Trầm Hương Đốt bị
hy sinh đến quá nửa. Thật là một điều đáng tiếc. Lời
của Hải Triều Âm như sau:
Trầm
hương đốt, xông ngát mười phương
Vân
vân khói kết mây lành cúng dường
Cầu
cầu xin lên kim đài quang minh
Ngời
đèn Tuệ so sáng cùng quần sinh
Vòi
vọi đài sen uyển chuyển hào quang
Quy
tâm quỳ dưới kim dung ngọc tướng huy hoàng
Kính
dâng hồng diệp liên hoa muôn cành
Chúng
con tâm thành xưng dương vô lượng hồng danh
Hoàng
đạo diệu huyền đã lan truyền nơi cùng nơi
Đều
nhờ chân lý phá vô minh thoát luân hồi
Nguyện
cầu quần sinh ly con đường lầm mê
Mau
mau thành đạo tam muội tam bồ đề
Nam
mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
(19)
Tân Việt, Sài Gòn, 1950
(20)
Đuốc Tuệ số 159 (1.7.1941)
(21)
Viên Âm số 25 (1.6.1937)
(22)
Viên âm số 59 (tháng Tư 1943)
(23)
Hội Tịnh Độ Cư Sĩ thành lập năm 1936 đặt trụ sở tại
chùa Tân Hưng Long, Chợ Lớn. Tạp chí Pháp Âm, số đầu ra
vào tháng Hai 1937, do một số cư sĩ có tân học chủ trương,
trong dó có Trần Huỳnh, Phan Hiền Đạo và Phạm Đình Vĩnh.
(24)
Pháp Âm số 10 (tháng Mười 1937)
(25)
Pháp Âm số 7 (tháng Bảy 1937)
(26)
Tiến Hóa số 8 (tháng Tám 1938)
(10)
Pháp Âm số 5 (tháng Năm 1937)