CHƯƠNG
XXIV
LÝ
HỌC VÀ PHẬT GIÁO
THÁI
CỰC VÀ VÔ CỰC, LÝ VÀ KHÍ
Tư
tưởng Tam giáo cùng một nguồn tuệ giác (Tam Giáo Ðồng Nguyên)
vốn xuất phát từ các nhà Phật học. Ngay từ hồi thế kỷ
thứ hai, khi các nhà Hán Nho tị nạn tại Giao Châu công kích
đạo Phật, thì Mâu Bác đã dùng tư tưởng Nho Phật Nhất
Trí để đáp lại rồi. Hồi thế kỷ thứ ba, Tăng Hội cũng
chủ trương tam giáo hợp nhất, Hồi mới từ Giao Châu sang
du hóa đất Ngô (năm 225), trả lời quốc vương nước Ngô
là Tôn Quyền hỏi về tam giáo, ông đã nói: “Hai tôn giáo
Khổng và Lão theo khuôn thước thiên nhiên mà chế dụng cho
nên tín đồ không dám đi ngược lại thiên nhiên; còn giáo
lý của Chư Phật là thực hành theo phép tắc của thiên nhiên,
cho nên tín đồ không dám đi ngược lại Phật” (Khổng Lão
nhị giáo pháp thiên chế dụng bất cảm vi thiên; chư Phật
thiết giáo thiên pháp phụng hành, bất cảm vi Phật). Từ
thế kỷ thứ ba trở đi tại Việt Nam tinh thần tam giáo đồng
nguyên được duy trì, mãi cho đến cuối đời Lý mới có
nho thần Ðàm Di Mông đả kích Phật Giáo. Sau đó tinh thần
tam giáo hòa hợp lại được sống dậy mạnh mẽ với Trần
Thái Tông. Tuy vậy đến cuối đời Trần lại có những nho
gia đả kích Phật như Trương Hán Siêu và Lê Bá Quát.
Ðến
đời Lê, Phật Giáo bị nho gia kỳ thị cho đến nỗi Trạng
nguyên Lương Thế Vinh vì sáng tác sách Phật mà không được
ghi tên trong văn miếu thờ Khổng Tử. Xét kỹ ta thấy rằng
các nho gia đả kích Phật Giáo ở Việt Nam đã chịu ảnh
hưởng của Lý học Tống Nho một cách sâu đậm.
Lý
học có thể gọi là triết học Nho giáo đời Tống. Ðó là
phần hình nhi thượng học vốn đã từ lâu thiếu thốn trong
Nho giáo. Tư tưởng của Khổng Tử rất nghèo về phần hình
nhi thượng học, vì vậy nho gia đã đứng về thế rất yếu
tong cuộc đối chọi tư tưởng ở thời Xuân Thu Chiến Quốc.
Cũng vì lý do đó cho nên đến đời Tống, nho gia quyết định
thành lập một phần hình nhi thượng học khá vững chắc
để đưa ra một vũ trụ luận làm căn bản cho học thuyết
xử thế và tu thân của Nho giáo. Kết quả là Lý học đời
Tống mà các nhà khảo cứu tây phương thường gọi là tân
nho học (neo-confucianisme). Triêt học này chĩa mùi dùi về Phật
Giáo. Tuy nhiên bản chất của Lý học là Phật và Lão học.
Lương Khải Siêu gọi lý học là “ngoài Nho, trong Phật”,
nghĩa là Lý học tuy mang sắc thái Nho giáo lại có nội dung
Phật Giáo và Lão giáo(97).
Người
đi tiên phong cho Lý học là Chu Ðôn Di, hiệu Liêm Khê, với
khẩu hiệu “thái cực mà vô cực” của ông. Vô cực là
bản thể của vũ trụ đứng về phương diện tĩnh mà nói.
Ðộng từ Tĩnh sinh, Hữu từ Vô sinh. Thái cực vi động cho
nên sinh lưỡng nghi và muôn vật. Vì vậy nó có thể bị nhận
lầm là hiện tượng, cho nên phải cho nó một lưng dựa thuần
túy hình nhi thượng: đó là Vô cực. Nếu chỉ nói Vô cực
mà thôi thì có thể bị người gán cho bản thể ấy thuộc
tính hư vô; nếu chỉ nói Thái cực thì có thể bị người
nói là thiếu bản thể học. Mệnh đề Vô Cực mà Thái Cực
(Vô Cực nhi Thái Cực) là công thức giải đáp mâu thuẫn
ấy.
Ta
thấy ngay vũ trụ quan của ông nặng tính chất Lão và Phật.
Trước hết, danh từ Vô Cực là lấy từ Ðạo Ðức Kinh.
Rồi đến quan niệm Hữu và Vô cũng giống hệt như tư tưởng
Ðạo Ðức Kinh (“Vô là tiếng gọi cái bắt đầu của trời
đất, Hữu là tiếng gọi của Mẹ vạn vật”: “Vô, danh
thiên đại chi thủy; Hữu, danh vạn vật chi mẫu”). Tư tưởng
Chân như môn và Sinh Diệt môn trong luận Ðại Thừa Khởi
Tín cũng cùng một tính chất ấy. Tư tưởng thẳng và nghiêng
của thiền phái Tào Ðộng nổi tiếng trước đó một thế
kỷ cũng cung một tính chất(98). Chu Liêm Khê còn chủ trương
tĩnh mà không động, ấy là Hữu (Tĩnh như vô động, Hữu),
tịch nhiên bất động là Thành (Tịch nhiên bất động giả,
Thành), vô dục cho nên Tĩnh (Vô dục cố Tĩnh) và thành là
vô vi của đạo Phật.
Nói
theo Chu Liêm Khê là Trương Tải (1020-1077). Theo Trương Tải,
bản thể của vũ trụ là Hư và Khí, cũng gọi là thiên địa
tính hay Thái Hòa. Liên hệ giữa Hư và Khí cũng tương tự
như liên hệ giữa Vô Cực và Thai Cực. Nhưng Trương Tải
đi xa hơn trên con đường giải thích liên hệ ấy. Theo ông,
không thể nói rằng Hư sinh ra Khí, tuy rằng nếu không có
Hư thì không thể có Khí. “Hư và Khí dựa vào nhau mà có.
Hư tức là Khí” (hư dữ khí hữu tương tác chi quan hệ).
Như vậy, Hư và Khí không phải một cũng không phải hai. Ðứng
về phượng diện nhân sinh, Trương Tải chủ trương rằng
vì vạn vật đều là Khí cho nên thiên hạ đều là anh em,
mọi người phải thương nhau, cứu giúp lẫn nhau, và nhân
là căn bản của luân lý học Khổng Giáo. Vì đức Nhân ấy
cho nên con người không được trốn tránh nhiệm vụ đối
với anh em của mình. Phật Giáo dạy người tránh bỏ cuộc
đời, cho nên con đường của đạo Phật là con đường bất
nhân, sai lạc.
Trương
Tải có đọc kinh Lăng Nghiêm và Luận Khởi Tín. Ý niệm Thái
Hòa của ông là từ ý niệm Hòa hợp Tĩnh của Lăng Nghiêm.
Ý niệm “không một, không hai” về liên hệ giữa Hư và
Khí cũng bắt nguồn từ ý niệm phi nhất phi dị giữa Chân.
Ý niệm “không một, không hai” về liên hệ giữa Hư và
Khí cũng bắt nguồn từ ý niệm phi nhất phi dị giữa Chân
như và Sinh Diệt. Nhiều lúc ông dùng ngay danh từ Phật học
mà ông không biết. Một mệnh đề nổi tiếng của ông là
“trừ ác bỏ vọng mà thành vô ngã” (trừ các khu vọng
nhi thành vô ngã). Ý niệm về nhân của ông giống ý niệm
Kiêm Ái của Mặc Tử.
Lui
tới với Trương Tải có anh em họ Trình là Trình Hiệu (1032-1085).
Hai người này thừa kế tư tưởng của Chu Liêm Khê. Trình
Hiệu cũng có kiến thức Phật học. Thay vì dùng từ ngữ
Vô Cực và Thái Cực, ông chủ trương vũ trụ là Lý và Khí.
Ông cho rằng Khí (bản chất của vạn vật) nằm gọn trong
Lý. Lý ở đây không phải chỉ là những nguyên tắc cai quản
vũ trụ mà còn là bản thể của vũ trụ. Lý ở đây giống
như Tâm của Phật học, bởi lý thuyết của Trình Hiệu có
tính cách của một nhất nguyên duy tâm luận. Ông đả kích
Phật Giáo về những điểm sau đây:
1)
Nhấn mạnh về vấn đề sinh tử để làm cho người ta sợ
hãi.
2)
Cho căn trần là khổ
3)
Cho ngoại cảnh là trở ngại cho việc tu hành.
Những
điểm ấy, theo ông, đưa giải phóng lạc vào nhị nguyên,
phân biệt tâm, cảnh, nội, ngoại. Tuy nhiên, trọng điểm
của lý thuyết ông lại nặng tính chất Phật Giáo. Ông nói:
“Ðạo là Tính vậy, tuy nhiên khi mới thốt ra chữ Tính thì
nó không còn là tính nữa” (Ðạo tức Tính xã, ngôn tính
dĩ thố; tài thuyết tính thời, tiện dĩ bất thị tính). Ông
lại nói: “Khi nói Ðạo thì đó không còn là Ðạo nữa.”
(Thuyết Ðạo thời, tiện dĩ bất thị Ðạo). Ðó phải chăng
là tư tưởng Kim Cương Bát Nhã trong Phật Giáo? Ông lại nói:
“Trong ta đã có đủ vạn vật thiên nhiên, vạn vật trong
trời đất đều là ta”. (Tự gia thị thiên nhiên tự túc
vật; thiên đại vạn vật gia thị tự ngã). Ðó phải chăng
là tư tưởng Duy Thức? Ông nói: “Ngoài vật không có Ðạo,
ngoài Ðạo không có vật; Ðạo cũng là Khí. Khí cũng là Ðạo”
(Vật ngoại vô Ðạo, Ðạo ngoại vô vật; Ðạo diệc Khí,
Khí diệc Ðạo). Ta có cảm tưởng đọc: “Sắc bất dị
không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức
thị sắc” của Tâm Kinh Bát Nhã. Nội dung và hình thức câu
này đều bị ảnh hưởng nặng nề của Phật học.
Em
của ông là Trình Di chú trọng nhiều tới phương diện tu
dưỡng. Trình Di nói: “Ðiều hay nhất mà tôi học được
trong Phật học là sự giữ tâm bất động”. Ông chủ trương
phép tĩnh tọa, chủ kính, trí tri. Ông nói: “Tâm có chủ
thì tà không nhập, không có chủ thì ngoại vật tới xâm
chiếm.” (Tâm hữu chủ tắc thời tà bất nhập, vô chủ
tắc ngoại vật lai đoạt) và “tâm làm chủ tức là kính
vậy” (vi kỳ chủ giả, kinh thị giã). Chữ kính cũng có
nghĩa như chữ Tĩnh, nhưng Trình Di nói: “Dùng chữ Tĩnh là
đi vào Phật Giáo rồi, cho nên không dùng chữ Tĩnh mà phải
dùng chữ Kính” (Tài thuyết tĩnh, tiện nhập Phật thị,
bất nghị dụng tĩnh tự, chỉ dụng kính tự).
Sang
tới đời nam Tống, có Chu Hy hiệu là Hối Am (1130-1200). Ông
thừa kế tư tưởng của Trình Di. Sự đã kích Phật Giáo
của ông rất thiếu đứng đắn vì ông không có chút kiến
thức nào về Phật học. Ông nói: “Học thuyết của Phật
phát xuất từ học thuyết Dương Chu, sau lại lấy thêm học
thuyết của Lão Trang ghép vào”. (Phật thị chi thuyết, nguyên
xuất Dương Chu, hậu phụ dĩ Lão Trang chi thuyết). Ðiều đó
chứng tỏ ông thiếu hẳn phương pháp nghiên cứu sử học,
ông đả kích Phật Giáo vì Phật Giáo “hủy diệt nhân luận”.
Ông nói: “Phật và Lão mắc tội với tam cương ngũ thường.
Lão Trang còn chưa hủy diệt hết cả nhân luân, chứ Phật
thì hủy diệt nhân luân một cách tuyệt đối. Thiền là diệt
hết nghĩa lý; người học thiền phải nói trực chỉ nhân
tâm là không biết tâm, nói kiến tính thành Phật là không
biết tính, cho nên diệt hết nhân luân.” (Phật Lão phạm
tam cương ngũ thường chi tội, Lão Trang bất diệt tận nhân
luân, Thiền giả trực chỉ nhân tâm thị bất tri tâm, vân
kiến tính thành Phật thị bất tri tính, cố diệt nhân luân).
Tuy vậy, những nguyên tắc cùng lý và tận tính của ông,
vì bắt nguồn từ tư tưởng Trình Di cho nên cũng mang màu
sắc Phật học.
THÁI
ÐỘ TĂNG SĨ TRƯỚC SỰ KHÍCH BÁC CỦA NHO GIA
Bị
ảnh hưởng tác phẩm của những tác giả nói trên, ở Ðại
Việt, các nhà nho bắt đầu công kích Phật Giáo. Nho thần
Ðàm Dĩ Mông đã thuyết phục được vua Lý Cao Tông trong việc
sa thải tăng sĩ. Ðã đành rằng những phần tử bất hảo
của tăng gia cần được loại trừ, nhưng cách thức thanh
trừng tăng giới của Ðàm Dĩ Mông chứng tỏ không phải vì
lợi ích của Phật Giáo hay của đất nước mà vì sự kỳ
thị. Năm 1179, Ðàm Dĩ Mông dùng kinh Bát Nhã thi để thải
bớt tăng đồ. Năm 1198 ông lại cho triệu tập tăng đồ trong
xứ lại và các nơi cốc xá, chọn mỗi nơi chừng mười người
có tiếng lưu lại lại làm tăng, còn thì đánh dấu vào tay
bắt hoàn tục.
Về
phía tăng sĩ, chưa bao giờ thấy xẩy ra chuyện đả kích Nho
giáo. Các thiền sư thỉnh thoảng có nói rằng Nho giáo không
đủ để thỏa mãn nhu cầu tâm linh của họ, chứ không bao
giờ lên tiếng kích bác. Thiền sư Cứu Chỉ (mất năm 1067),
có một lần nói: “Khổng Mặc kẹt vào Hữu, Trang Lão kẹt
vào Vô. Kinh điển thế gian không phải là phương pháp giải
thoát. Duy có Phật pháp vượt cả Hữu, Vô có thể giải quyết
được vấn đề sinh tử”. (Khổng Mặc chấp Hữu. Trang Lão
nhược Vô. Thế tục chi điển phi giải thoát pháp. Duy hữu
Phật pháp bất hứa Hữu Vô, khả liễu sinh tử). Thiền sư
Trí ở thế kỷ thứ mười hai cũng nói: “Nho giáo dạy con
đường Quân Thần Phụ Tử, còn Phật Giáo nói về công phu
của Bồ tát, Thanh Văn. Hai giáo tuy khác nhau mà đồng quy về
một mối. Tuy nhiên nếu muốn giải thoát cái khổ sinh tử,
cắt đứt được vọng tưởng về Hữu Vô, thì chỉ có Phật
Giáo mới làm được”. (Nho gia khả thuyết Quân Thần Phụ
Tử chi đạo, Phật pháp khả ngôn Bồ tát Thanh Văn chi công.
Nhị giáo tuy thù, kỳ quy tắc nhất. Nhiên xuất sinh tử khổ,
đoạn Hữu Vô kế, phi thích tất bất năng già). Ðại khái
ngôn phong của Phật tử đối với Nho giáo là vậy. Họ ít
kỳ thị tôn giáo. Thiền sư Viên Thông (mất 1150) đã từng
ân cần khuyên vua Thần Tông về vấn đề trị loạn; ông
đã lập luận trên tinh thần Nho giáo. Lý Cao Tông là một
ông vua hát xướng chơi bời quá độ, thiếu nhận thức về
tình trạng. Trong lúc Ðàm Dĩ Mông đả kích Phật Giáo, sa
thải tăng đồ, thì tăng phó Nguyễn Thường, một vị tăng
giám lại can đảm can vua không nên chơi bời. Những lời can
gián lại viện sách Nho giáo. Ông nói: “Tôi nghe Kinh Thi nói
rằng âm nhạc làm loạn nước thì nghe như oán như giận.
Nay dân thì loạn, nước thì khốn, chúa thượng thì rong chơi
vô độ. Triều chính đã bắt đầu rối loạn, nhân tâm thì
bắt đầu tan rã, đó là triệu chứng mất nước”. Lời
can gián này chứng tỏ tinh thần vô úy của Phật tử vẫn
còn, nghĩa là đạo Phật chưa suy tàn vậy. Tiếc thay các nho
thần đã không nghe lời vị tăng giám và nhà Lý sụp đổ.
Không
những các thiền sư đời Lý ủng hộ tinh thần tam giáo hòa
hợp mà còn tác động các nhà chính trị đời Lý đi theo
con đường ấy nữa. Các Vua Lý đều là Phật tử. Nền giáo
dục đời Lý được dẫn dắt bằng tinh thần ấy đã tạo
được nhiều thế hệ trí thức có óc cởi mở, ít cố chấp.
Cuộc thi tam giáo đầu tiên đã được tổ chức dưới triều
Lý. Ðến triều Trần, những ông vua thâm bác về Phật Giáo
như Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông cũng áp dụng thái
độ cởi mở đó, và đã mở rộng Nho giáo. Thái Tông xướng
xuất ý niệm Phật Thánh phân công hợp tác. Vua tạc tượng
Chu Công, Khổng Tử và Mạnh Tử để thờ, mở Quốc Học
Viện ở kinh sư để dạy Nho học. Trần Ích Tắc, em vua Thánh
Tông cũng được khuyến khích mở trường Nho học. Các khoa
thi được tổ chức tiếp sau để tuyển chọn nhân tài. Nhờ
tinh thần cởi mở và phá chấp của nền giáo dục kia, nhân
tài xuất hiện khá nhiều. Ngay năm 1227, nghĩa là chưa đầy
hai năm sau khi lên ngôi, vau Thái Tông đã mở khoa thi Tam Giáo
thứ nhất của triều đại.
Nền
văn hóa và giáo dục cởi mở ấy, tiếc thay, đến cuối đời
Trần đã bị bác bỏ. Các nho thần như Trương Hán Siêu, Lê
Bá Quát, dưới ảnh hưởng của Lý học Tống Nho đã để
tâm kỳ thị, ganh ghét. Họ than phiền chùa nhiều quá, tăng
nhiều quá, văn miếu và nhà học ít quá. Họ lợi dụng sự
tin cậy của những tăng đồ ít học, viết những bài bia
có tinh thần đả kích đạo Phật. Cùng với sự xuất hiện
của lớp nho sĩ nặng ảnh hưởng văn hóa Bắc phương, thời
đại vàng son của tinh thần bao dung tôn giáo được chấm
dứt. Nước nhà lại rơi và chiến tranh hỗn độn.
Từ
cuối đời Trần về sau, các nho gia hay trình bày đạo Phật
như một tổng hợp mê tín dị đoan, có hại cho đất nước,
ít khi nhìn thấy vai trò mà đạo Phật đã đóng trong lịch
sử văn hóa dân tộc. Theo họ, chỉ có một tôn giáo có thể
giữ nước và dựng nước, đó là Nho giáo. Các sử thần
gọi Nho giáo là đạo Trung Dung (Ngô Sĩ Liên), là đạo Nhất
Trung (Ngô Thì Sĩ). Sự kiện tên của trạng nguyên Lương Thế
Vinh bị bỏ ra, không được thờ trong Văn Miếu chỉ phản
ảnh trung thực thái độ của nho gia mà thôi. Ngô Thì Sĩ viết
trong Việt Sử Tiêu Án: “Ðạo chỉ có một, ngoài đạo tu
thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ, không còn có gì
được gọi là đạo nữa.”
Trong
khi đó, tăng sĩ và cư sĩ Phật Giáo vẫn nỗ lực nêu cao
tinh thần tam giáo đồng nhất, không tỏ ý giận dữ thù oán.
Các cao tăng hành hóa cả ở Ðàng Ngoài Trong đều giữ vững
lập trường không kỳ thị Lão giáo và Nho giáo. Trịnh Huệ
viết Tam giáo nhất nguyên thuyết (99). Hương Hải chủ trương
“Tam Giáo Nhất Thể”(100). Thạch Liêm chủ trương “Nho
Phật Nhất Trí”. Mở đầu truyện Quan Âm Diệu Thiện, tác
giả truyện này đã phải la lên: Ðừng nói đạo Phật là
phá bỏ luân thường, bởi vì Chân Như của Phật, cũng như
Lý của Nho, bao hàm cả Nhân và cả Hiếu:
Chân
Như đạo Phật rất mầu
Tâm
trung chữ Hiếu, niệm đầu chữ Nhân
Hiếu
là độ được đấng thân
Nhân
là cứu vớt trầm luân mọi loài
Thiền
sư Hương Hải viết trong Sự lý dung thông những dòng chữ
sau đây:
Trong
nơi danh giáo có ba
Nho
hay giúp nước, sửa nhà, trị dân
Ðạo
thời dưỡng khí an thần
Thuốc
trừ tà bệnh, chuyên cần luyện đơn
Thích
độ nhân khỏi tam đồ khổ
Thoát
cửu huyền thất tổ siêu phương
Phương
pháp của mỗi đạo như thế nào? Ông viết:
Nho
dùng tam cương ngũ thường
Ðạo
diềng ngũ khí, giữ dàng ba nguyên(100)
Thích
giáo nhân tam quy ngũ giới
Thể
một đường, xe phải dùng ba
“Thể
một đường, xe phải dùng ba” là tinh thần tùy cơ hóa độ
của Phật Giáo, và hình ảnh là hình ảnh mượn trong kinh
Pháp Hoa. Hương Hải từng là một nho gia. Ông biết cách nói
chuyện với nho gia. Ông nói: “Các bậc đại nho vẫn thường
lui tới cửa thiền, và nếu đạo hạnh của họ cao siêu thì
họ cũng hiểu được Thiền học. Chu liêm Khê, Trình Hiệu,
Tô Ðông Pha,... những nhà nho nổi tiếng ấy đều có học
Phật. Rừng Nho biển Phật bao la lắm, đừng vội cạn cợt
phê bình. Những ý đó thấy rõ trong bài thơ sau đây:
Danh
nho thường viếng chốn thiền lâm
Bụi
trần chẳng vướng, ngộ thiền tâm
Liêm
Khê, Trình Tử nên cao thức
Tô
Tử, Hàn Văn khế diệu âm
Vạn
tương sum la mà dễ thấy
Uyên
nguyên thâm diệu lại khôn tìm
Lên
mãi nguồn Nho thêm bát ngát
Vào
sâu biển Phật cứ mênh mông.
(Thượng
sĩ thường du bát nhã lâm,
Trần
cứ bất nhiễm, liễu thiền tâm.
Liêm
Khê, Trình Thị minh cao thức,
Tô
Tử, Hàn Văn khế diệu âm.
Vạn
tượng sum la cao dị hiểu,
Nhất
biều tạo hóa mật nan tầm.
Nho
nguyên đăng đăng trung di khoát
Pháp
hải trùng trùng nhập chuyển thâm)
Hương
Hải khen ngợi các nhà Nho kia, không phải là vì họ chống
Phật Giáo nhưng vì họ có chịu học Phật. Hàn Dũ đời Ðường
chống Phật Giáo kịch liệt, nhưng khi lớn tuổi lại rất
mộ đạo Phật và rất thân với một thiền sư tên là Ðại
Ðiên(102). Âu Dương Tu đời Tống cũng đã kích Phật Giáo
dữ dội, nhưng khi lớn tuổi lại trở thành mộ Phật, đi
đâu cũng xưng mình là “cư sĩ”. Chính ông viết bài bạt
cho cuốn sách nói về Hàn Dũ. Tô Ðông Pha giao du với các
thiền sư, đã trở nên một Phật tử có kích thước lớn.
Chu Liêm Khê, Trình Hiệu tuy chống Phật Giáo nhưng đãn khen
là ở chỗ chịu học Phật.
Trương
Hán Siêu(103) bài bác Phật Giáo nhưng sau lại cũng theo Phật
Giáo, Lớn tuổi, về an trú núi Dục Thúy, nơi ông viết một
bài ký cho tháp Linh Tế tỏ ý không ưa Phật Giáo, ông đã
đề bài thơ sau đây, công nhận sự sai lầm của mình ngày
trước:
Tháp
in trên dòng sáng
Cửa
động mở đầu non
Cuộc
đời như mây nổi
Biết
ngày xưa lạc lầm.
(Trung
lưu quang tháp ảnh
Thượng
giới khải nham phi
Phù
thế như kim biệt
Nhàn
thân ngộ tạc phi)
Trương
Hán Siêu bài Phật nhưng không bị biếm như Hàn Dũ đời Ðường.
Vua Trần Dụ Tông cởi mở hơn vua Ðường. Hán Siêu sau này
có tặng thiền sư Phổ Minh chùa An Lăng một bài thơ nhắc
tới chuyện mình và chuyên Hàn Dũ:
Ẩn
chẳng rừng sâu là đại ẩn
Chùa
nhà tu Phật mới chân tu
Tọa
thiền tỉnh giấc ngàn năm mộng
Thôi
đừng ngờ nữa khách Trào Châu
(Ẩn
bất lâm tuyền chân đại ẩn,
Tư
ư gia tự tức chân tu
Thử
nhật tham thiền như mộng giác,
Hưu
tương vãng sự quái Trào châu)(104)
Cho
tới thế hệ của Ngô Thì Sĩ, nhiều nho sĩ vẫn còn giữ
thái độ hẹp hòi về tôn giáo và ý thức hệ. Tuy vậy phong
thái thấp kém của như sĩ đương thời về tình trạng rối
ren của đất nước đã làm cho sự tôn trọng tự tín của
giới nho sĩ lung lay. Ðến thế hệ của Lê Quý Ðôn, Ngô Thì
Nhậm, v.v... các nho sĩ đã có một thái độ cởi mở hơn
trước(*).
LÊ
QUÝ ÐÔN KHUYÊN NHO GIA NÊN CÓ THÁI ÐỘ CỞI MỞ
Lê
Quý Ðôn sinh năm 1726 và mất năm 1784. Ông đỗ đầu ba khoa
thi Hương, thi Hội và thi Ðình. Ðứng về phương diện chính
trị, công nghiệp của ông không có gì to lớn. Nhưng đứng
về phương diện văn hóa, ông là một nhà bác học đã từng
đóng góp lớn lao cho nền quốc học Việt Nam. Tác phẩm của
ông gần bốn mươi cuốn, trong số đó có nhiều cuốn quan
trọng chưa tìm lại được, như Hoàng Việt Văn Hải, Tồn
Tâm Lục, Xuân thu lược luận v.v.. Sách Kim Cương Chú Giải
của ông cũng chưa tìm lại được.
Lê
Quý Ðôn tinh thông về Lý học, nhưng ông có suy tư độc lập
của ông và đã trình bày suy tư độc lập ấy trong chương
“Lý Khí” ở sách Vân Ðài Loại Ngữ.
Theo
ông, bản chất của vũ trụ vạn vật là khí, Khí không phải
là vật chất, không phải là tâm tính mà là nền tảng của
cả hai. Nó không phải vô tri và nằm lỳ. Nó linh hoạt và
đầy ý sống. Trời, đất, gió, mưa, sấm, sét, nhật, nguyệt,
cho đến cả tính tình của trời đất, đạo đức và sự
nghiệp của thánh hiền đều nằm gọn trong khí. Ông viết:
“Tác dụng của khí rất nhiệm, khí mà thịnh thì thư thái,
khí mà suy thì co rút, cứ xem nơi cây cối khô héo hay tươi
xanh thì biết {nó thịnh hay suy}. Khí mà trong thì thông, khí
mà đục thì bế tắc; cứ xem nơi lòng người sáng tỏ hay
mờ ám thì biết {nó trong hay đục}”.
Lê
Quý Ðôn cho Thái Cực là một khí hỗn nguyên: “Thái Cực
là một, nó là một khí hỗn nguyên... một mở một khép gọi
là biến, qua lại không cùng gọi là thông, khép lại là Vô,
mở ra là Hữu, qua ròi là Vô, đang đến là Hữu”. Ông bác
ý niệm: “Hữu sinh từ Vô” bởi vì theo ông Hữu và Vô
là hai mặt của một Thái Cực. Chỉ nói Thái Cực hay Khí
là đủ rồi, không cần nói Vô Cực. Cũng không cần đối
lập Lý với Khí. Lý chẳng qua chỉ là thuộc tính của Khí,
mà không phải là lưng dựa hình nhi thượng của khí. Khí
không cần lưng dựa nào cả. Nó chính là lưng dựa của nó”.
“Lý là để nói rằng Khí là Hữu chứ không phải là Vô”.
Vậy
Lý cũng có nghĩa là Pháp. “Lý không có hình tích, nhờ Khí
mới nhận ra Lý được. Lý ở ngay trong Khí. Âm dương, chẵn
lẻ, tri hành, thể dụng... là những cặp đối lập. Nhưng
không thể đối lập Lý và Khí”.
Vai
trò của Tâm thì sao? “Tâm người thật là lớn, trên thì
thông với trời đất, giữa thì trắc lượng quỷ thần, dưới
thì xem xét muôn vật. Tâm ấy có thể chuyển đổi tình trạng
và sự vận hành của vũ trụ. “Nhật thực có thường độ,
nhưng lại có liên quan đến nhân sự, con người sắp làm
điều bất thiện thì mặt trăng đang đi vào độ giao thực
liền lấn áp và che lắp mặt trời. Ðó là cái Khí của con
người động đến trời đất vậy”.
Lê
Quý Ðôn nhìn đạo Phật như sau:
“Tôi
thiết tưởng đây là đại khái của tông chỉ đạo Phật:
Vạn vật thế gian là hư ảo, con người phải tu tập để
đạt được giác ngộ chân chính mà thoát ra khỏi lục trần.
Một khi đã thành được diệu đạo tột bực thì trở lại
thương xót chúng sinh, thi hành nhiều phương tiện để cứu
giúp: ai muốn học đạo chính giác thì giúp cho họ viên thông,
ai muốn tu tỉnh theo đạo làm người thì cũng giúp cho họ
được thành người. Ðâu phải chối bỏ tình anh em họ hàng
và dứt tuyệt luân lý cương thường”.
Những
dòng trên, ông đã viết trong sách Kiến Văn Tiểu Lục, thiên
“Thiền Dật”. Cũng ở trong sách này, ông trích dẫn kinh
Phật để chứng minh rằng đạo Phật cũng dạy việc tu thân,
tề gia. Ông đã trích đoạn này trong sách Pháp Uyển Châu
Lâm, có ghi lời Phật nói với một vị quốc vương để chứng
minh đạo Phật có dạy đầy đủ về cách trị nước: “Có
ba việc có thể làm nát hỏng việc nước: thân cận kẻ tà
nịnh, không nghe lời phải và ưa chinh phục nước khác. Ông
vua là người cả nước trong vào, vì vậy vua nên là cây cầu
để tế độ muôn dân, nên làm cái cân để duy trì công lý,
không phân biệt thân sơ, nên làm mặt trời chiếu khắp thế
gian, nên làm mặt trăng đưa khí mát cho muôn vật, nên là
cha mẹ nuôi dạy con âu yếm trăm họ, nên làm bầu trời che
hết muôn loài, nên làm mặt đất nâng hết vạn vật”. Ông
lại trích Kinh Thư và Kinh Dịch để chứng minh là Nho giáo
cũng có nói đến chuyện báo ứng(105)
Ông
khuyên nho sĩ đừng cố chấp, đừng chê bai những gì mình
chưa biết, chưa hiểu. Ông nói rằng giáo lý Khổng Mạnh nhằm
mục đích sửa lại tâm người cho ngay ngắn nên cho nên không
bàn đến chuyện huyền vi là huyễn hoặc. Ông viết: “Giáo
lý Phật Lão chuộng sự thanh đạm, thoảng không mọi nỗi,
siêu việt thế tục, lắng hết căn trần, không để ngoại
vật ràng buộc bản thân. Ðó cũng là cách độc thiện kỳ
thân của bậc cao minh. Những lời đàm luận sâu xa về đạo
đức, rộng rãi về tinh thần đều hàm chứa ý nghĩa thâm
sâu huyền diệu. Bọn nho sĩ chúng ta nếu cứ giữ thành kiến
kỳ thị đạo nọ đạo kia, mà điều gì cũng biện bác chê
bai, thì sao cho phải?”
Lê
Quý Ðôn rất ham chuộng kinh Lăng Nghiêm. Ông viết về kinh
này như sau: “Kinh Lăng Nghiêm là một cuốn kinh mà ý nghĩa
rất huyền bí. Không những nghĩa lý của cuốn kinh Phật Giáo
này rất sâu rộng mà văn pháp của kinh cũng rất vi diệu.
Cách thí dụ và bàn cãi thật là rành rõ như kẻ tóc chân
tơ; lời lẽ có khí thế hùng tráng như sông nghiêng núi đổ.
Sách nói đức Pháp vương là tay đại hùng biện, quả đúng
như vậy”.
Sách
Kim Cương Chú Giải của Lê Quý Ðôn có lẽ được sáng tác
sau khi ông từ chức quan về nhà, không còn muốn dính líu
đến tình trạng rối ren trong triều phủ. Lúc ấy ông vào
khoảng trên bốn mươi. Năm 1765 ông có viết một bài minh
khắc trên chiếc khánh đồng chùa Thanh Quang ở thôn Cự Trữ,
xã Trực Phương. Hồi đó ông mới ba mươi chín tuỏi bài
minh như sau:
Chỉ
có lòng người
Vào
ra không chừng
Nhờ
Ðịnh có Tuệ
Nhờ
nghe, viên thông.
Chất
liệu là đồng
Tên
gọi là khánh
Thấu
đạt nghĩa ấy
Ðộng
tĩnh nhất tâm
Giác
ngộ tự kỷ
Mới
thấu hành tung
Hình
chất tuy thô
Ý
thú cao thâm
Hoa
đốm nhân quả
Ðừng
bàn thiển cận
Ta
khuyên mọi người:
Làm
thiện hết lòng.
(Duy
nhân chỉ tâm
Xuất
nhập vô thì
Ðịnh
cố tuệ bản
Văn
diệc ngộ ky
Quyết
chất tắc kim
Quyết
danh tắc khánh
Tham
thấu kfy lý
Nhất
động nhất tĩnh
Liễu
ngộ tuần tỉnh
Nãi
thức kỳ hạnh
Hình
khí tuy thô
Ý
thú tự thâm
Nhân
quả không hoa
Vật
đàm thiển cận
Ngã
cáo chư nhân:
“Ðãn
lực vi thiện”)(106)
Ngôn
từ có thể nói là “chất Phật” rồi vậy.
ÐẠI
CHÂN VIÊN GIÁC THANH
Vào
khoảng cuối thế kỷ thứ mười tám, có một tác phẩm rất
lạ ra đời nhan đề là Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh. Sách
ký tên ba người: Hải Lượng, Hải Âu và Hải hòa. Ðó là
một tổng hợp Nho Thích khá độc đáo, với khuynh hướng
quy thú về Phật Giáo Trúc Lâm. Ðọc Ngô Gia Thế Phổ ta biết
Hải Lượng Thiền Sư chính là Ngô Thì Nhậm. Còn Hải Âu
và Hải Hòa là hai trong những vị tăng thân cận với Ngô
Thì Nhậm. Sách do Hải Âu và Hải Hòa viết, nhưng những ý
chính của sách là của Hải Lượng Ngô Thì Nhậm. Hải Âu
và Hải Hòa chỉ thuật lại và viết những bài bàn luận
chung quanh các ý chính ấy(107)
Sách
Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh có hai phần. Phần đầu nói
về hành trạng của ba tổ Trúc Lâm, nhan đề là Tam Tổ Hành
Trạng. Phần hai là 24 chương nói về 24 thanh, bàn về 24 vấn
đề liên hệ đến giáo lý Nho và Phật, nhan đề là Ðại
Chân Viên Giác Thanh. Ngoài ra còn có một phần phụ do Bạch
túc Hải Ðiên Nguyễn Ðàm Tử sáng tác, nhan đề là Ðại
Chân Viên Giác Thanh Tiểu Khấu. Phần này mất những tờ chót,
cho nên chỉ nói được về 18 thanh thay vì 24. Sách được
in rất đẹp(108). Bản của chúng tôi sử dụng là một cuốn
phim tiểu ly chụp cuốn sách và tằng trữ tại Trường Viễn
Ðông Bác Cổ Paris. Sách có hai quyển dịch quốc ngữ, một
bản do Á Nam Trần Tuấn Khải thực hiện, xuất bản tại
Sài Gòn năm 1971, một quyển viết tay do Nguyễn Bích Ngô thực
hiện, tàng trữ tại Viện Triết Học Hà Nội. Không biết
bản dịch sau này căn cứ trên bản nào, vì phía trước có
một bài tựa của Phan Huy Ích, không có trong bản của Trường
Viễn Ðông Bác Cổ(*)
Phần
Tam Tổ Hành Trạng không có gì đặc biệt. Nội dung là lược
truyện của ba vị tổ Trúc Lâm: Giác Hoàng, Pháp Loa và Huyền
Quang, biên soạn căn cứ vào tài liệu của sách Tam Tổ Thực
Lục, nhưng vắn tắc hơn nhiều. những bài thơ còn lưu truyền
của Huyền Quang thấy trong các sách Hoàng Việt Thi Tuyển và
Toàn Việt Thi lục được đưa vào trong hành trạng của Huyền
Quang. Có điều đáng để ý là sách được mở đầu bằng
hình Huyền Quang ngồi phóng hào quang, với những dòng sau đây:
“Huyền Quang tôn giả húy Lý Ðạo Tái, nguyên quán Gia Ðịnh,
tỉnh Kinh Bắc, là bậc thiên thông tuệ, sớm ngộ lý thiền,
đậu trạng nguyên Tam Giáo đời Trần, sau xuất gia theo cầu
đạo với Ðiều Ngự, trú trì ở Yên Tử và thị tịch tại
đó”(109). Ðồ đệ suy tôn là tổ Trúc Lâm thứ ba. Có bài
kệ rằng:
Bậc
Ðại Giác ở cõi nhân thiên
Tại
đất Việt ab lần trao truyền
Khế
ngộ được Không Hư
Ðã
huyền lại thêm huyền
(Ðại
giác nhân thiên
Nam
độ tam truyền
Khế
ngộ không hư
Huyền
chi hựu huyền)(110)
Tiếp
theo đó là một bản đồ gọi là Hai Mươi Bốn Thanh Phối
Khí Ứng Sơn, và 24 tên mới đặt cho Bồ Tát Quan Âm, mỗi
tên ứng với mỗi thanh.
Phần
Ðại Chân Viên Giác Thanh được tổ chức thành 24 chương,
mỗi chương dành cho một thanh. Cách tổ chức mỗi chương
có y mô phỏng theo hình thức Niêm, Tụng, Kê của thiền gia.
Mỗi chương vì thế có ba phần. Phần thứ nhất nêu lên đặc
tính của một thanh, phần thứ hai, đưa ra những lời nhận
xét của Hải Lượng (tức Ngô Thì Nhậm), nhưng nhận xét
này có khi được trình bày dưới hình thức của một cuộc
tham vấn Thiền học, thỉnh thoảng có kèm theo một số hình
ảnh: phần thứ ba là lời bàn của Hải Âu và Hải Hòa. Phần
thứ nhất tương đương với Niêm, phần thứ hai tương đương
với Tụng và phần thứ ba tương đương với Kệ. Ý niệm
can bản của sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là âm thanh.
Sở dĩ tên Quán Thế Âm Bồ Tát được nêu trên 24 lần -
mỗi lần một tên khác nhau để phối hợp với một Thanh
- là vì vị Bồ Tát này nhờ quán sát âm thanh mà chứng được
quả vị viên thông. Vậy có thể nói 24 chương trình bày 24
đề tài thiền quán, mỗi đề tài là một thứ âm thanh. Hai
mươi bốn âm thanh là: Không thanh, Ngộ thanh, Ẩn Ngộ thanh,
Phát tưởng thanh, Kiến thanh, Hoán thanh, Thuyết thanh, Thu thanh,
Ðịnh thanh, Tịch nhiên vô thanh, Minh thanh, Phán thanh, Tục
thanh, Bất quả thanh, Tàng thanh, Hưởng thanh, Lưu động thanh
và Dư thanh.
MỘT
TỔNG HỢP NHO PHẬT ÐỘC ÐÁO
Những
sở đắc về Nho học của Hải Lượng được ông đưa vào
trong các đề tài thiền quán ấy; vì vậy nhiều lúc ta thấy
những giáo lý của Phật Giáo được trình bày qua cái nhìn
của một nhà Nho học, ta hãy thử xét đề tài thiền quán
thứ nhất để thấy rõ điều ấy.
Ðề
tài thiền quán thứ nhất là không thanh, âm thanh của cái
Không. Không (Sunyata) là một ý niệm căn bản trong Phật Giáo
Ðại Thừa. Nó cũng là một ý niệm quan trọng trong Lão học.
Phía Nho học thì Không tương đương với Vô Cực của Chu
Liêm Khê, với Hư của Trương Hoành Cừ, với Lý của Trình
Minh Ðạo và Trình Y Xuyên. Thật là một đề tài lớn. Ðề
tài được nêu ra như sau:
“Tiếng
là do ở sự đập gõ mà phát sinh. Gõ lớn thì tiếng lớn,
gõ nhỏ thì tiếng nhỏ - đều có duyên cớ mới có thể phát
sinh. Tiếng đã do duyên cớ mà phát sinh thì cũng có lúc phải
im bặt. Nhưng nếu giữa khoảng không trung mà tự nhiên có
tiếng, thì tiếng ấy không từ đâu lại cũng chẳng đi về
đâu cả: muốn đón nó cũng không biết nó bắt đầu từ
đâu, mà nuốn theo nó cũng không biết nó đi về đâu. Nó
choang choang xoang xoảng không lúc nào ngừng.
“Khi
vận Tý chưa khai, vận Sửu chưa đóng thì tiếng đó còn ở
trong chỗ hỗn độn mịt mờ. Khi khí Dương đã giáng thì
Âm đã thăng thì tiêng đó ở khắp vũ trụ bao la. Hành thức
của ta từ xưa đến nay chỉ có thể nghe nó mà không có thể
tìm nó, cho nên mới gọi là Không. Không tức là cái tiếng
không tiếng chứa ở trên đời vậy”.
Ðứng
về phía Phật học mà nói thì không là thể tính của vạn
hữu, bất sinh bất diệt, không từ đâu tới cũng không đi
về đâu (vô sở tòng lai diệc vô sở khứ), không thể diễn
tả bằng ngôn ngữ khái niệm (vô thanh chi danh). Ðứng về
phái Nho học mà nói thì Không là Thái Cực là khí hỗn nguyên
(hỗn độn). Ðó là âm thanh thứ nhất mà nhóm Hải Lượng
muốn đánh lên. Khởi điểm như vậy thì Nho Thích có thể
được gọi là đồng nguyên hay không, đó là vấn đề đặt
ra. Ta thử đọc thêm phần thứ hai để thấy rõ thêm nữa
ý hướng dung hợp Nho Phật.
Phần
thứ hai, như đã nói, tương đương với phần Tụng trong lối
văn Tụng Cổ, nhằm nhắc lại đề tài một lối khác, mong
hướng dẫn người tư duy đạt tới sự hiểu biết. Hãy để
ý ngôn ngữ nửa Thiền nửa Nho trong đoạn này:
“Hải
Lượng đại thiền sư đảnh lễ ba vị tổ Trúc Lâm ở quán
Huyền Thiên, bên tả có tăng sĩ Hải Hòa, bên hữu có tăng
sĩ Hải Thịnh cùng 24 người đồ đệ. Các đồ đệ bạch
với sư rằng: Nho gia nói về Dục, vậy Dục là gì? Sư đáp:
Dục cũng như là khuynh hướng đi xuống của nước và đi
lên của lửa. Bạch: Khi ta theo đúng Lý thì thế nào? Ðáp:
Không thể nào theo Lý một cách tuyệt đối được.
“Nghe
nói vậy, tăng chúng liền quay lưng lại mà ngồi. Sư thở
ra một cái, rồi ngồi co lên một chân. Vị tăng Hải Hòa
ngồi bên tả bạch rằng:
- Sao
đại sư lại co lên một chân?
Ðáp:
- Muôn
nước về Ðông, nước Nhược Tây
Ngàn
hoa với cúc sánh sao tày?
Vị
tăng tiếp:
- Nước
chảy Ðông Tây xe chuyển trục
Sớm
chiều hoa nở kiến đi quanh.
Ðại
sư nói lớn:
- Dậy,
dậy, dậy đánh không dậy,
Ngủ,
ngủ, ngủ, mắng mới ngủ
Vị
tăng bên hữu rời khỏi chỗ ngồi, tiến tới trước mặt
sư, hỏi:
- Thuyền
đi xuôi dòng
Ngựa
dừng nẻo bí
Một
ngừng một đi
Nào
ta cố ý?
Mới
đây Ðiều Ngự Giác Hoàng ở dưới gốc cây Cồ Ðàm biến
tác vô số hoa đàm. Những hoa này nở mà không nở, gói thổi
mới nở rộ, rụng mà không rụng, mưa sa mới rụng. Có một
con chim xanh ngậm hoa bay đi. Hoa bổng lẫn vào cánh chim, và
cánh chim lại đều biến ra hao. Sư bèn quan sát chim để phân
biệt đâu là chim đâu là hoa và đọc bài kệ:
- Thân
chim không phải chim
Cánh
hoa không phải hoa
Bay
hay ngừng tự ý
Vướng
bận gì lòng ta?
Vị
tăng bên hữu chắp tay niệm:
- Sắc
không phải sắc, ấy là không
Vị
tăng bên tả tiến lên nói:
- Ngựa
trên đường phẳng đi không vấp
Cây
nhằm gốc cứng nhổ không lên
Vị
tăng bên hữu trật vai áo bên hữu ra mà trả lời:
- Ðường
phẳng là ngựa thuận với Lý, gốc cứng là cây nghịch với
Lý. Lý có thuận có nghịch; nếu ta không biết áp dụng thái
độ vô chấp trước thì không thể theo Lý được.
“Lúc
đó thiền sư liền chống ngược cây gậy trúc, tiến lên
Am mà đảnh lễ đức Thế Tôn.”
Ta
nhận tháy đứng về hình thức, cuộc đối thoại đã mang
sắc thái của một cuộc tham vấn thiền học. Hải Lượng
ngồi ghế thiền sư, còn những người tham dự là thiền sinh.
Những câu trả lời cũng vắn tắt và mang tính chất ngụ
ý. Hình ảnh được chọn lựa và đưa ra, nhiều hình ảnh
được trình bày bằng hình thức kệ. Tuy vậy, đứng về
phương diện nội dung, ngôn ngữ này vẫn còn là ngôn ngữ
triết học hơn là thiền học. Hình ảnh “mắt cây” mới
thấy tưởng là một hình ảnh có tính chất “chỉ vật truyền
tâm” (như hình ảnh “cây tùng trước sân” của Lâm Tế)
kỳ thực chỉ là một thí dụ theo kiểu thí dụ trong kinh
Pháp Hoa. Hình ảnh nước Nhược chi và hoa Cúc, hình ảnh Chim
và Hoa, v.v... cũng chỉ là những thí dụ. Cái khác nhau giữa
vột thí dụ và một công án (hay một vật dùng để truyền
tâm) là ở chỗ thí dụ dùng để chở một ý tưởng, còn
công án thì không phải chuyên chở gì hết, nhưng lại có
công năng đập vỡ màn vô minh, đưa người thiền sinh vào
thẳng thực tại, không cần đi qua cánh cửa suy luận. Nói
một cách khác, những hình ảnh của cuộc đối thoại trên
đây đại diện cho những ý tưởng có thể diễn tả được
bằng ngôn ngữ và khái niệm.
Ðặt
câu hỏi về Lý ở chương này, nhóm Hải Lượng đã đồng
nhất lý với vô cực, với đạo, tức cái phần hình nhi thượng
của vũ trụ, của khí, theo nghĩa của Trình Minh Ðạo. Trình
Minh Ðạo đã viết: “Cái nào mà làm cho có Âm có Dương
nghĩa là Ðạo, và bản thân của Âm Dương là khí. Khí là
cái hình nhi hạ. Ðạo là hình nhi thượng...” Theo Hải Lượng,
lý là không, là vô cực, là cái mà “khi vận Tý chưa khai,
vận Sửu chưa đóng thì vẫn còn ở trong chỗ hỗn độn mịt
mờ”. Lý cũng là Ðạo, là đường lối vận hành của vũ
trụ vạn vật. Con người phải thuận theo đường lói ấy,
bởi vì thuận theo thiên nhiên mới tồn tại được (thuận
thiên giả tồn). Tuy nhiên Hải Lượng bảo: không thể thuận
theo lý một cách tuyệt đối được. Ðiều này làm cho mọi
người ngạc nhiên, không thể chấp nhận, cho nên ngồi quay
lưng lại. Lời tuyên bố động trời của Tuệ Trung: “Sắc
chẳng phải không, không chẳng phải sắc”, do đó, có tính
cách gây xúc động cho người nghe. Ðiều này drát gần gũi
với Thiền học.
Giải
đáp của Hải Lượng thế nào? Ông nói có những trường
hợp phải đi ngược với Ðạo. Sự đi ngược này, nếu cạn
cợt mà xét thì chỉ là một sự đi ngược, nhưng nếu xét
nó trong ánh sáng của dục, nghĩa là tính chất và khuynh hướng
nằm sẵn trong tự thân của sự vật (như nước chảy xuống,
lửa cháy lên) thì sự đi ngược vẫn nằm trong Lý. Mọi loài
hoa đều nở trong mùa Xuân mùa Hạ, Hoa cúc đơn độc nở
trong tiết thu lạnh lẽo. Hoa cúc đơn độc nở trong tiết
thu lạnh lẽo, hòa Cúc không cần vâng theo Lý bởi vì nó là
một loài hoa đặc biệt. Nếu hoa Cúc nở vào mùa xuân thì
nó không còn là hoa Cúc nữa. Vì vậy, đối với hoa cúc nở
ào mùa xuân là theo Lý mà kỳ thực là không theo Lý. Muôn
dòng đều chảy về Ðông, duy dòng Nhược chảy về Tây. Nhìn
sâu vào thực tại, ta thấy Lý có thuận và có nghịch: nhờ
những nghịch lý mà ta khám phá ra rằng cái Lý mà ta tưởng
là Lý tuyệt đối kia chẳng qua chỉ là Lý tương đối. Cái
lý tuyệt đối, bao gồm cả thuận cả nghịch. Nước xuôi
thuyền đi, lối bí ngựa dừng, một co một duỗi một bế
một thông, có thuận có nghịch... các điều đó không trái
chống gì nhau cả. Không theo lý mà là theo lý, hoa lẫn vào
chim, cim trở lại thành hoa; sắc tức là không, không tức
là sắc. Ðiều đó chỉ có thể nhận thức được,và Lý
có thể thuận theo được khi đạt đến thái độ phá chấp.
“Nếu không áp dụng được thái độ phá chấp thì không
thể theo Lý được.”
Ta
thấy rằng lối tổng hợp Nho Phật trên đây cũng gây được
khá nhiều hứng thú. Ðể giới thiệu các thiền sư Hải Âu,
Hải Hòa, hai vị tăng sĩ đã biên tập Trúc Lâm Tông Chỉ
Nguyên Thanh, chúng ta hãy đọc vài lời bình luận của hai
người về vấn đề này.
Hải
Âu là vị tăng sĩ lớn tuổi nhất, được gọi là Hải Âu
hòa thượng. Lời bàn của ông bao giờ cũng được đặt trước
lời bàn của Hải Hòa. Hải Âu viết:
“Nói
rằng không thể làm theo Lý một cách tuyệt đối, là khi mình
nhìn vào sự vật mà nói. Tuy nhiên, có người có thể ứng
sự mà không kẹt vào sự, tiếp vật mà không kẹt vào vật:
điều này chỉ có những bậc Bồ Tát thực sự mưói có thể
làm được. Chim ngậm hoa mà bay, hoa hóa thành cánh chim, huyễn
cảnh lăng xăng làm mê loạn tâm mục của người; nếu không
có linh căn và tuệ nghiệp thì mấy ai thoát khỏi sự lầm
lẫn trong khi phải ứng tiếp cảnh vật chân chân huyễn huyễn
của hao và chim. Ðại thiền sư quan sát chim mà nhận thực
được đâu là cánh chim, đâu là bông hoa, biết rằng:
Thân
chim chẳng phải là chim
Hồn
hoa không phải là hoa
Ngậm
hoa, chim ấy bay đi mất
Ðàm
hoa tự tại vẫn là hoa
Chim
vẫn là chim, hoa vẫn hoa
Lại
qua trước mắt đâu bận lòng ta?
“Nhờ
thế cho nên vị tăng ngồi bên cạnh mới ngộ được lý sắc
không và thấy được sự phá chấp, và Ðại sư mới chống
ngược gậy trúc, tiến lên am lễ Thế Tôn. Tất cả tinh thần
nằm ở chữ ngược và chữ tiến lên. Những chi tiết đó
chứng minh cho sự biện luận về Lý và Dục, Thuận và Nghịch,
sự thích nghi giữa Co và Duỗi, Ði và Ngừng, là nguyên tắc
tùy cảnh ngộ mà an, cùng sự vật mà hóa tuy minh ở ngay trong
đó mà chân tính của mình không vì thế mà lu mờ được”.
Hải
Hòa có lẽ cũng thuộc môn phái Chân Nguyên vì ông có nói
đến “thiền sư Chuyết Chuyết của ta” trong chương thứ
11 nói về Trác Thanh. Về vấn đề Lý và Dục ông viết:
“Xiển
minh cái áo nghĩa của Lý, khia thị cánh cửa của Tâm, đó
là phận sự đầu của thiền gia vậy... Ðem thuyết của nho
gia ra mà bàn cũng chỉ là để thành khẩn mà nói rằng đạo
Phật là một mà thôi: chỗ huyền diệu của Nho và Thiền
mà chỗ tác dụng của Thiền là Nho. Gạt bỏ những chi tiết
rườm rà tầm thường về văn tự và cấm giới để tìm
tòi, thì cái đạo ấy có thể gọi là cái đạo nhất quán.
“Lý
là gì? Lý là sự thích hợp và thỏa đáng, nhìn về khía
cạnh sự vật mà nói. Dục là gì? Dục là {sự thích hợp
thỏa đáng}, nhìn về phương diện tâm tính mà nói. Lý mà
sở dĩ là lý, vì nó có ngang dọc, thẳng cong, cũng như cái
lý của {các cành} cây vậy. Nếu có thể theo Lý một cáh
tuyệt đối, thì cần chi phải có mực thước quy củ? Và
còn cần chi đến những hạng người như Lỗ Ban, Ly Lâu và
Công Thâu nửa?
“Ðại
sư khi xử thế thì theo Nho, khi xuất thế thì theo thiền, đâu
có phải là nói ra những lời biện luận, cố làm cho người
đời kinh ngạc. Ðó là vì đại sư có thể ưu du trong lý
ấy mà cũng có thể siêu xuất ra ngòai Lý ấy. Chỉ có điều
cái thấy của mình đã chân thật, cho nên lời nói của mình
có thể phá được {mọi sự chấp trước}.
“Lý
có thuận có nghịch, không thể cái gì cũng theo Lý, những
gì thuận thì có thể theo. Há chẳng thấy cây trúc thuận
lý tự nhiên mà mọc thẳng lên sao? Tuy nhiên khi chặt ra làm
chiếc gậy, thì tay cầm đàng gốc phía trên mà ngọn quay
xuông đất. Như vậy thì Lý hay chẳng phải Lý? Chống ngược
gậy trúc là Lý hay không là Lý?”
MỘT
SỐ CHỦ ÐỀ KHÁC CỦA TRÚC LÂM TÔNG CHỈ NGUYÊN THANH
Chương
một về mục “Không Thanh” cho ta một ý niệm về khí vị
của Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh. Những điểm chính của
hai giáo lý Nho Phật được đưa vào trong hai mươi bốn chương
của sách. Không những Hải Lượng có kiến thức về Nho học
mà hai vị tăng biên tập sách là Hải Âu và Hải Hòa cũng
chứng tỏ nắm vững được đạo Nho. Sau đây là một số
vấn đề được nêu lên làm đề tài thiền quán:
Vấn
đề giải thoát: Niết bàn là Tịch Diệt, mục đích của
sự giải thoát. Tịch Diệt và vắng lặng. Tịch là sự bất
động của tâm, là sự làm chủ hoàn toàn của tâm. Hải Lượng
nói:
“Chuông
trống ở trước mặt mà tai không loạn, lụa là trước mắt
mà mắt không mờ, muôn ngàn ngựa trước mặt mà tâm không
động, ấy là Tịch. “còn Diệt? Diệt là sự dứt hết cái
“tính người”. Hải Lượng nói: “Ðối với đa số, cái
tính trời khó làm hiển lộ cái tính người khó làm tiêu
diệt cho hết. Nếu tính người mà diệt, thì mọi cảm nghĩ
đều vắng lặng mà cái nhất chân tự lộ”. (nhất chân
tự như). “Tính người” ở đây là phiền não, mà “tính
trời” là Bồ Ðề; “nhất chân tự như” tức là chân
như. các tác giả Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh vi chân như
với tiếng kêu của chim Phượng Hoàng, là âm luật nơi cây
đàn không dây của Ðào Uyên Minh: “Chim Phượng Hoàng thường
không kêu, nhưng khi kêu lên thì tất phải làm cho người ta
kinh sợ. Ðưng lúc chưa kêu đó tức là Tịch Nhiên Vô Thanh.
Nhưng cái tiếng làm cho người ta kinh sợ kia thực đã uẩn
súc trong lúc nó không kêu vậy. Cây đàn của Ðào Uyên Minh
không kêu mà vẫn tự đắc ở ngoài âm luật, bởi vì ý của
âm luật là chỉ có thể do sự không dây mà có chứ không
có thể do tiếng đàn mà có”.
Hải
Âu nói: “Huyền diệu thay hai chữ tịch diệt, không huyên
náo thì làm sao tịch? Không sinh khởi thì làm sao có diệt?
Huyên náo và sinh khởi là Tính người, mà tịch diệt là tính
trời, so với nhân tâm và đạo tâm giống nhau. Mừng giận
vinh nhục khua rồi ở trong tâm, đó là chướng ngại của
tính người vậy. Nay nếu diệt được tính người thì tính
trời tự khắc hiển lộ hoàn toàn. Tính trời hiển lộ hoàn
toàn là định. Ðịnh chính là Tịch Diệt”. (Chương 10: “Tịch
Nhiên Vô Thanh”).
Làm
thế nào để giải thoát, đạt đến Tịch Diệt? Trong chương
11 nói về Thuyết thanh, Hải Lượng nói rằng phương pháp
của Nho là tinh nhất, còn phương pháp của Phật là tinh tiến.
Giải thoát, tức là giải thoát ra khỏi ngục tù của hỗn
muội tối tăm. Ngục vô minh khó phá chứ không phải như những
ngục tù của thế gian. Hải Lượng nói: “Vua Ðế Thuấn
dùng phép tinh tiến để phá ngục ấy. Phật Thích Ca dùng
phép tinh tiến để phá ngục ấy. Về sau, Nhan Hồi dùng phép
“khắc kỷ”, Ðại Tuệ dùng phép “sát hại” để phá,
tựu trung công phu cũng đều ở một chữ tinh. Tinh lực dùng
để phá địa ngục là một bảo kiếm kim cương. “Hải Lượng
dùng chữ Thuyết làm đề tài cho chương này, vì chữ Thuyết
còn được đọc là Thuế, và có nghĩa là cởi lột, giải
thoát. Bí quyết của giải thoát là “ngăn Tà, giữ Thành,
xa lìa Hư Vọng để phục hồi sự sáng” (nhàn tà, tồn thành,
xa lìa hư vọng dĩ phục kỳ quang minh). Ngăn tà, giữ thành
là giới, xa lìa hư vọng là định, và phục hồi sự sáng
là tuệ.
Vấn
đề nhận thức: Nhận thức chỉ được chân xác khi tư dục
vắng mặt, Hải Lượng nói: “Từ lúc tinh mơ, ngồi để
đợi sáng, đó là lúc phát tưỏng của vua Thành Thang. Ăn
cơm rau, uống nước lã, khoanh tay mà gối, đó là lúc phát
tưỏng của đức Khổng Phu Tử. Trong tâm chỉ có một khối
thiên lý, không có một tý nhân dục xen vào cho nên càng tưởng
thì càng quang minh chính đại. Ðó gọi là cái Tưởng của
thánh hiền. Cái tưởng của phần lớn chúng sinh đều vọng
tưởng, cho nên trong tâm nóng nực phiền não, càng tưởng
thì càng bị lỗi”. (Chương 4: “Phát tưởng thanh”). Hải
Lượng đi xa hơn thế. Ông nó đến thứ nhận hức mà trong
đó đối tượng nhận htức và bản thể nhận thức không
còn được phân biệt, tức là vô phân biệt trí trong đạo
Phật. Hãy đọc đoạn văn ngộ nghĩnh sau đây:
“Ðại
thiền sư đang ăn mà nghẹn. Ðồ đệ hỏi: Sự nghẹn có
phải là vì sư đang ăn mà tưởng đến cái gì chăng? Ðáp:
ta tưởng cái phi tưởng, mà vì chưa đến được cái phi phi
tưởng nên ta nghẹn. Hỏi: Sư tưởng cái tưởng gì? Sư đáp:
Ta tưởng đến những chuyện thiên phủ, địa phủ và thủy
phủ mà không có đối tượng nào xuất hiện. ta tưởng tóc
ta đang dài ra mà không thấy được tóc ta đang dài ra. Ta tưởng
thấy răng và móng tay ta dang lớn lên mà không thấy răng và
móng tay ta lớn lên. Còn đồ đệ ta tưởng thấy và tưởng
không thấy như thế nào? Có biết rằng ta tưởng cái phi tưởng
mà không tưởng cái phi phi tưởng, cần thấy cái phi kiến
mà không cần thấy cái phi phi kiến chăng? Vả như có một
vật gì trong cổ họng, các vị tưởng (nhận thức) là ta
nghẹn, nhưng không thấy được là ta thực sự có nghẹn hay
không. Ấy là muốn thấy cái khó thấy, muốn tưởng cái phi
tưởng. Phật nói: Nếu lấy cái phi tưởng mà tưởng, lấy
cái khó thấy mà thấy, thì không thấy được Như Lai” (Chương
4 “Phát Tưởng Thanh”).
Hình
ảnh thật ngộ nghĩnh, nhưng các ý niệm về tưởng, phi tưởng,
phi tưởng phi phi tưởng, v.v... chưa được thấu đáo. Hải
Âu bổ túc cho Hải Lượng. Ông nói: “Trong một chữ tưởng
đã có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý và các tướng trạng
của chúng sinh và thụ giả”. Hải Âu thấy rõ thế giới
trước hết là thế giới của khái niệm. Bốn tướng trạng:
ngã, nhân, chúng sinh và thụ giả mà Kinh Kim Cương nói đến
trước hết là cái nhìn (tướng) của ta về vũ trụ và nhân
sinh. Vấn đề là làm sao vượt thoát thế giới khái niệm
(tưởng), để đi thẳng vào thế giới thực tại (không phải
tưởng mà cũng không phải phi tưởng).
Ðề
tài thiền quán thứ hai trong sách là Ẩn Thanh, tiếng của
sự thịnh lớn, tức là “sự sinh khởi của vạn pháp từ
bản thể chân như”, là “lưỡng nghi sinh tứ tượng”.
Ðáp
lại câu hỏi của một nho sĩ: “Phật nói là không sinh, tại
sao lại có sinh? Phật nói không diệt tại sao lại có diệt?”
Hải Lượng trả lời: “Có sinh tức là không sinh, có diệt
tức là không diệt”. Hải Âu nói: “Xuân đến hoa nở, thu
đến hoa tàn, đó là sự sinh diệt của loài vật. Nếu tìm
cho tận gốc thì tất cả đều trở về làng Hà Hữu. Khi
ta mới sinh, ta là ai? Sau khi sinh, ta là ai? Cái sinh cái diệt
của ta, nói cho cùng thì không thể biết chỗ tới và đi của
nó. Thấy những cái có thể thấy mà không thấy cái không
thể thấy, đó là cái ý chí bất sinh bất diệt vậy.”
Trong
khi đó, Hải Hòa nói: “Phật nói bất sinh bất diệt trỏ
vào đạo thể mà nói”. (Chương 3: “Ẩn Thanh”).
Cả
Hải Lượng và Hải Âu đều lập luận rằng sự vật sở
dĩ được gọi là bất sinh bất diệt, là tại vì ta đứng
về phương diện bản thể hình nhi thượng của chúng. Sự
đối lập bản thể và hiện tượng có vẻ rạch ròi quá.
Ngày xưa long Thọ không nói một tiếng về bản thể hình
nhi thượng của sự vật mà vẫn chứng minh được tính cách
bất sinh bất diệt của sự vật bằng cách nhìn ngay vào sự
vật mà nói (Trung Quán Luận).
Lại
trong đề tài thiền quán thứ ba, “Ngộ Thanh”, tiếng nói
trong giấc ngủ, vấn đề bản chất sự vật lại được
đưa ra. “Ðồ đệ hỏi: Nước nào không phải là nước?
Sư đáp: Thấy nước mà cho là nước, nước ấy không phải
là nước thực. Hỏi: Lửa nào không phải là lửa? Ðáp: Trông
thấy lửa mà cho là lửa, lửa ấy không phải là lửa thực.
Nước thực thì thì có thể nóng. Lửa thực thì có thể lạnh”.
“Lý không thể theo hết, nhưng dục có thể diệt hết không?
Ðáp: Không diệt hết thì hết, diệt hết thì không hết.”
Ngôn
ngữ ở đây có dáng dấp ngôn ngữ Bát Nhã trong kinh Kim Cương.
Tiếc thay Hải Lượng đã không dùng biện chứng Trung Quán
của Long Thọ để chứng minh cho điều minh nó. Câu nói: “Diệt
hết thì không hết, không diệt hết thì hết” mang tính cách
của quan niệm vô phân biệt và vô đắc quả là một lời
nói có chất Thiền.
Vấn
đề hành tàng: Ðạo đức vô hành là nền tẳng cho hành động.
Thiếu cái vô hành thì cái hành có thể mất gốc. Vô hành
là tàng, hành là ẩn. “Ðạo của trời đất được chứa
nơi chỗ Hà Ngôn(111), đạo của thánh nhân được chứa nơi
chỗ vô vi”. Hành là Dương, còn Tàng là Âm. Hải Lượng
nói: “Trời đất khéo dùng Âm, thần Phật thánh hiền khéo
dùng âm. Dương là Tính mà Âm làTình. Biết Tính mới thành
được Tình. Trăm hoa nở bẹ vào lúc sớm mờ, muôn cây nứt
màng vào khi chập tối, đó là Trời Phật khéo dùng Âm. Ngộ
đạo thì truyền đăng, biết đạo thì hướng hối, đó là
Thần Phật thánh hiền biết dùng Âm... Khéo dùng Âm thì Âm
lại sinh Dương... người quân tử học đạo quý có âm đức,
quý cho người ta được ngấm ngầm hưởng thụ điều mình
ban bố” (Chương 21: “Tàng Thanh”)
Âm
sinh ra Dương, Tàng hiển lộ ra Hành như thế nào? Chương 15,
“Hành Thanh”, tiếng động của Hành Ðộng, nêu rõ: “Ðạo
của Thánh Nhân thu kín lại thì là đạo đức mà hành hóa
ra thì là sự nghiệp. Sự ẩn tàng của nó như núi non trùng
điệp, nhìn mà không trông thấy; sự hiển lộ của nó như
một con đường lớn mà ai cũng có thể theo đó mà đi. Những
kẻ tiểu trí huệ thấy được sự hiển lộ của nó mà vận
hành theo để trị nước. Bậc đại lực lượng nhân sự
ẩn tàng c rnó mà chủ trương việc giữ nước: “Hải Lượng
nói: “Phật nhấn mạnh ở chỗ giữ nước (trì quốc), không
nhấn mạnh ở chỗ trị nước (trị quốc). Ðã giữ được
nước thì không cần trị nước mà tự nhiên nước vẫn được
trị.Nhưng nếu không phải là bậc đại hùng đại lượng
như đức Thích Ca Mâu Ni thì không giữ nước được. Cho nên
phải dùng đến việc trị nước. Vì thế đức Khổng Tử
phải cho vua Nghiêu, vua Thuấn, Thang, Vũ, Văn đứng vào hàng
có công đầu”.
Trong
hai đề tài “Hành Thanh” (Chương 15) và “Tàng Thánh” (Chương
21) Hải Lượng và các bạn đồng tu đã xác định giá trị
của đạo đức vô hành, thiết lập được bằng những hình
ảnh đẹp đẽ sự liên hệ giữa đạo đức vô hành với
hành động trị thế.
Ngoài
ba vấn đề lớn trên, Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh còn nêu
ra nhiều vấn đề khác khá quan trọng. đạo đức vô hành
không có hình dáng nhưng vẫn tác động tới vũ trụ nhân
sinh, âm hưởng của nó gọi là kiến thanh, tức là âm thanh
phát ra từ sự kiến tính ngộ đạo. (Chương 5: “Kiến Thanh”).
Phật chủ trương “minh tâm kiến tính”, Nho chủ trương
“Chính tâm thành tính”, hai giáo tuy lối về khác mà cùng
hướng về một chủ đích (Chương 9: “Ðịnh Thanh”). Phật
nói “Luân Hồi”, Nho nói “Tuần Hoàn”, tính cách vận
hành lưu động của thời tiết và vạn vật không ai có thể
chỗi cãi được (Chương 23: “Lưu động Thanh”). Phật và
Nho đều có nói tới nhân quả và báo ứng; chữ “Tất”
của Nho tương đương với chữ “Nhân quả” của Phật,
bởi vì “Tích thiện chi gia tất hữu dư khương, tích bất
thiện chi gia tất hữu dư ương” (Chương 24: “Dư Thanh”).
QUAN
NIỆM THIỀN CỦA HẢI LƯỢNG VÀ CÁC BẠN
Ðề
tài thiền quán thứ mười ba là Khu Thanh, tiếng của then chốt.
“Tâm là then chốt của vạn sự, có thể mở đóng, có thể
thu lại phóng ra, vì vậy cho nên gọi là khu. Khu tức là Tâm
vậy. Người ta ai cũng có Tâm, thánh nhân có tâm của thánh
nhân, người thường có tâm của người thường, chỉ khác
là vì tâm của thánh nhân vô ngã cho nên có thể lo cho cả
thiên hạ. Tâm của người thường bị ràng buộc vào chỗ
thấy nghe {chật hẹp} nên chỉ biết lo cho một mình. Ví dụ
như Lão Tử nói biết trắng giữ đen, biết đực giữ cái,
đó tức là lui về để giữ cái then chốt của mình vậy.
Trang Tử cho sống chết ngang nhau, họa phúc là một, dó là
tuyệt thánh khí trí, làm cho hư hoại cái then chốt vậy. Như
vậy sao đủ để nói về nghĩa của thiền?”
“Chỉ
có thánh nhân mới có thể hành thiền. Nghiêu Thuấn tồn tâm,
thiên hạ bách tính lấy tâm của Nghiêu Thuấn làm tâm của
mình. Bồ Tát Quan Âm thương xót chúng sinh mà công đức phổ
cập tới tất cả mọi loài, đó đều là cùng chung tâm với
thiên hạ. Chung cho nên mới có thể trao truyền(112). “Nghiêu
Thuấn trao truyền cho trăm vua cái tâm đó. Quan Thế Âm trao
truyền cho chư Phật cũng cái tâm đó. Ðức của tâm cực
thịnh, lượng của tâm cực rộng; cực thịnh và cực rộng
cho nên gọi là thánh nhân.”
Như
vậy sự giác ngộ cái tâm chung là lý do khiến cho người
thường trở thành thánh nhân, chúng sinh trở thành Phật. Tâm
là then chốt, thấy tâm là giác ngộ.
Hải
Lượng không quên rằng, chữ thiền là từ thiền na phiên
âm của tiếng phạn dhyàna, mà vẫn cứ chơi chữ, nói Thiền
là Thiện. Chữ Thiền khi đọc là Thiện thì có nghĩa là trao
truyền. Trao truyền gì? Trao truyền cái tâm thánh nhân, cái
tâm giác ngộ. Hải Lượng nói: “Nghiêu Thuấn lấy tâm đức
mà trao truyền cho trăm vua, Bồ tát Quan Âm lấy tâm lượng
mà trao truyền cho chư Phật. Bách gia chư tử sau này, lấy
tâm mình làm tâm cho nên những điều nói ra đúng thì ít mà
không đúng thì nhiều”.
“Vô
ngã” theo nhóm Hải Lượng là chìa khóa để mở cửa tâm,
để chứng ngộ, để trao truyền. Tiếc rằng nhóm Hải Lượng
không thấy cái khí chất rất thiền của câu nói Trang Tử,
cho đó là tuyệt thánh khí trí. Nhóm Hải Lượng không mấy
có cảm tình với Lão giáo, có lẽ vì trong thời họ, Lão
giáo chỉ còn được đại diện bởi một mớ hình thức phù
chú, ma thuật, không những làm hư Lão giáo mà còn làm hư
cả Nho giáo và Phật giáo nữa. Trong đề tài thiền quán thứ
mười hai, “Nhất Thanh”, Tiếng của sự Nhất Quán, các
tác giả đã đem so sánh quan niệm “Lý Vô Nhị Thị” của
Nho và quan niệm “bất nhị pháp môn” của Phật, không nói
gì đến Lão giáo.
CON
NGƯỜI CỦA HẢI LƯỢNG
Hải
Lượng là một nhà trí thức nổi tiếng vào cuối thế kỷ
thứ mười tám; ông cũng là một người từng có quyền cao
chức trọng. Tuy vậy, ông vẫn e ngại công trình tổng hợp
Nho Phật của ông sẽ có nhiều người công kích, nhất là
về phía nho gia. Cho nên ông đã rào đón trườc: “Khoảng
ngàn năm sau tát có người lấy việc tổng hợp Nho Thích mà
nghị luận về tôi. Tuy nhiên, người biết thì sẽ không nghị
luận, mà người nghị luận thì không biết. Biết mà không
nghị luận, không nghị luận là một chuyện vô cùng. Không
biết mà nghị luận, nghị luận cũng là một chuyện vô cùng”
(Ðề tài thứ 12: “Nhất Thanh”). Hải Âu và Hải Hòa viết:
“Chương này đem Nho Thích gặp gỡ một nơi, đó tức là
đại thiền sư hiểu thấu cái nghĩa nhất quán mà phát ra
những đại nghị luận, đại văn chương là 24 Thanh này, há
phải lấy con mắt tầm thường mà nhòm ngó nổi?... Nghị
luận hay không nghị luận, tóm lại đều ở trong Nhất Thanh
của thiền sư ra”.
Như
ta đã biết, Hải Lượng chính là pháp danh của Ngô Thì Nhậm,
Ngô Thì Nhậm sinh năm 1746. Ông là con của Ngô Thì Sĩ. Thuở
nhỏ ông tên là Phó, tự là Hi Doãn, hiệu là Ðạt Hiên. Ông
đậu tiến sĩ năm 1775, và được bổ làm Ðông các hiệu
thư, rồi thăng chức Công bộ hữu thị lang. Vì phạm lỗi,
ông bị cách chức; nhưng sau vì có công với chúa Trịnh Sâm
trong việc phế Trịnh Khải nên lại được bổ dụng. Năm
1782 khi Trịnh Sâm qua đời, Trịnh Tông cướp ngôi Trịnh Cán
và trị tội những người tham dự trong cuộc tranh chấp năm
1780, ông phải đi trốn, mãi cho đến năm 1786 mới được
vua Lê Chiêu Thống bổ là Hộ bộ đô cấp sự trung rồi thăng
hiệu thảo kiêm toản quốc sử. Năm 1787, ông được tiến
cử với vua Quang Trung, và được bổ chức Công bộ thị lang,
rồi sau được thăng thượng thư và thị lang đại học sĩ.
Năm 1793, vua Cảnh Thịnh cử ông làm chánh sứ sang triều Thanh
cầu phong. Năm 1800 ông về ở ẩn. Năm 1803, ông và Phan Huy
Ích được lệnh ra trình diện ở tổng trấn Bắc thành. Vua
Gia Long sai đánh đòn hai ông tại Văn Miếu. Ngô Thì Nhậm
bị đánh nặng tay cho nên chết. Năm ấy ông 57 tuổi.
Hải
Lượng Ngô Thì Nhậm hình như đã có chú ý đến đạo Phật
hồi còn trẻ. Hồi còn làm quan ở trấn Kinh Bắc mới trên
30 tuổi, ông đã từng dâng Phật hiệu cho cha ông là Ngô Thì
Sĩ. Phật hiệu đó là “Nhị Thanh Trường Thọ Quán Tự Tại
Phúc Lượng Ðại Hải Chân Như Vô Tận Ý Bồ Tát”. Không
biết hồi đó ông Ngô Thì Sĩ đã ưa đạo Phật chưa mà con
ông lại dâng Phật hiệu cho ông, bởi vì khi viết Việt Sử
Tiêu Án, ông còn kích bác đạo Phật rất nặng. Hải Lượng
sáng tác Tam Tổ Hành Trạng và xướng ra Trúc Lâm Chỉ Nguyên
Thanh hồi nào? Có phải là trong những năm trốn tránh sự
truy tầm của chúa Trịnh Tông nghĩa là từ 1782-1786 hay không?
Có
lẽ không, bởi vì hồi đó ông trốn ở nông thôn và ông
soạn bộ Xuân Thu Quản Kiến(113). Ngô Gia Thế Phổ cũng nói
rằng thời gian ông giao du với Hải Âu và Hải Hòa và viết
Tam Tổ Hành Trạng là thời gian ông “lập thiền viện Trúc
Lâm tại phường Bích Câu nơi ông ở, trước thuật hành trạng
ba tổ Giác Hoàng, Pháp Loa và Huyền Quang để thờ tự, và
độ cho em ruột là Huyền Trai làm đệ tử đầu”.
Trong
thời gian trốn tránh, từ 36 đến 40 tuổi, ông không thể
công nhiên mở thiền viện tại phường Bích Câu và giao thiệp
với mhiều người một cách công khai như thế được. Trúc
Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh nói rằng ngoài Hải Âu và Hải Hòa
còn có hai mươi bốn người khác vừa tăng vừa tục, và Nho
vừa Phật tham dự những cuộc “thiền đàm”, trong đó có
vị tăng Hải Tịnh. Vậy ông đã xây dựng thiền viện Trúc
Lâm sau khi đã rút lui khỏi chính trường vào khoảng năm 1798
đến 1799, nhận thấy rằng cơ hội Tây Sơn đã mất. Năm
1800 ông được dân giáp Minh Triết tôn làm hậu thần và làm
biển đề hiệu là “Long Biên Thành Thị đại ẩn sĩ”.
Chắc chắn thời gian đó là thời gian ông để thì giờ trọn
vẹn cho Thiền học. Có lẽ ông cũng mặc áo thiền sư, bởi
vì chương 3, “Ẩn Thanh”, có đoạn: “Hải Lượng đại
thiền sư, đi vân du tới trai phòng của một vị bác sĩ, vị
bác sĩ cùng môn đệ mặc y phục nhà nho ra tiếp đón thiền
sư”. Hải Âu bàn: “Ðại thiền sư đến chơi trai phòng
bác sĩ, bác sĩ ăn vận y phục nhà nho ra đón đại thiền
sư, tức là nói y Nho Thích cũng không phải là hai vậy”.
Hải
Lượng chứng tỏ là một người có suy tư độc lập, không
cố chấp, không giáo điều. Ðiều này được chứng tỏ nhiều
lần trong Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh. Ở Chương 1, “Không
Thanh”, ông chủ trương lý có thuận có nghịch, nếu không
có thái độ phá chấp trước thì không thể theo Lý. Nghe nói
Ngô Thì Sĩ đã tự tử vì con ông đã không nghe lời ông khuyên
trong vụ án tranh nhau giữa Trịnh Tông và Trịnh Cán. Ở chương
mười sáu, “Ðổng Thanh”, ông nói mình phải giữ lấy thân
mệnh mình, không nên tự thiêu như một số các nhà sư. Ông
đã không tự sát để chết theo Trịnh Cán như một số quan
chức hồi đó đã làm, xà đã trốn đi không cho Trịnh Tông
bắt mà trị tội. Ở chương 20, “Bất Quả Thanh”, ông nói
ý trời không phải là Ý. Ý người là Ý, và đất nào cũng
có thánh hiền. Như là ông muốn phân bua về chuyện bỏ Lê
theo Tây Sơn vậy. Cũng trong chương này ông có nói về Vận:
“Trời có Vận của Trời, thánh hiền có vận của thánh
hiền”. Như là ông muốn chứng minh việc rút lui về Trúc
Lâm thiền viện vậy.
Ông
không muốn chết, dù bởi tay Trịnh Tông hay bởi tay Nguyễn
Ánh. Vì vậy ông đã đi trốn Trịnh Tông; vì vậy mà ông
rút lui khỏi chính trường khi thấy vận Tây Sơn đã hết.
Vậy mà ông phải chết vì Nguyễn Ánh. Ta hãy đọc đoạn
sau đây trong chương 16, “Ðổng Thanh”, tiếng rổng không,
để thấy được tâm sự đó.
“Kinh
Dịch sáu mươi bốn quẻ, chỉ có một quẻ khốn nói tới
mệnh. Trong tám thức mà kinh Lăng Già nói đến, chỉ có Ý
thức là phải đạt Niết bàn. Nho không cho người chết một
cách khinh suất. Phật cũng không cho người chết một cách
khinh suất. Ý thức cũng như tượng khốn là một: Khốn là
nước chảy dưới ao, Ý thức là sóng cồn nổi lên mặt biển.
Khốn mà chưa tới hết tính mạng là chưa xong; Ý thức mà
chưa đến Niết bàn là chưa được. Bởi vậy Nho gia quý ở
chỗ tinh tường của Nghĩa, chỗ thấm nhuận của Nhân, còn
Phật gia thì quý ở chỗ sáng suốt của trí, chỗ cao minh
của ý. Nhân nghĩa không tinh thục, trí ý không cao minh, không
đạt thấu cái cửa sinh tử thì làm sao mà chế ngự được
sự sinh tử của người đời? Khổng Tử là ông chủ của
tính mạng, Phật Thích Ca Mâu Ni là người khách của tính
mạng: cặp chủ khách này đã có từ khi trời đất khai sáng
cho đến nay vậy”.
PHAN
HUY ÍCH VÀ PHAN HUY CHÚ
Hải
Lượng đã vượt được hàng rào kỳ thị chia cách; đối
với ông, cuộc sống là quan trọng, tuệ giác nằm trong lòng
sự sống, hình thái ý thức không còn quan trọng nữa. Thế
nhưng Phan Huy Ích vẫn không hiểu được, ông vẫn khăng khăng
nói rằng tác phẩm Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là một
công trình đem đạo Phật về với đạo Nho, đâu biết rằng
đối với Hải Lượng, sự phân biệt kia không còn hiện hữu
nữa. Phan Huy Ích viết trong bài tựa Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên
Thanh như sau:
“Ông
anh họ ngoại ta là Thị trung đại học sĩ Hy Doãn Công, là
người nghe rộng biết sâu, hơn hẳn các bạn: lịch duyệt
đã nhiều, nên học lực càng thuần túy; đối với tam giáo
cửu lưu, bác gia chư tử, sách nào cũng tìm tòi học hỏi.
Cho nên trong lòng bao hàm rộng rãi, có thể phân tích muôn
lẽ, thông suốt tam huyền, chép ra hai mươi bốn Thanh, đem
những chỗ u ẩn của lời Phạn chia cắt thành những đoạn
lạc, hội họp cho có đầu mối, nêu rõ những chỗ tinh vi
uẩn áo rồi khắc in và công bố để hiểu cáo các bạn trong
rừng thiền... Tập Nguyên Thanh của ông, bọn ta trông thấy
tất có kẻ xem xét, bàn bạc. Người bảo: Ðạo lý của Xương
Lê từ trong đạo Phật mà ra. Người bảo: Nghĩa chữ tĩnh
của Tượng Sơn cũng đi lệch vào đạo Thiền. Ðem những
câu sáo thường ấy mà bàn về ông có phải làđã biết được
ông đâu? Giữ được Tính, lại hiểu hết mọi lẽ, đưa
đạo Thích vào đạo Nho, làm cho tám bộ kinh của Phạm Vương
chẳng ra ngoài cung tường của Tổ Vương; những “Thanh”
này thật là những “nguyên Thanh” phù trì cho đạo; những
lời lờ mờ vô căn cứ không thể sánh được. Ðiều này
chỉ có thể nói với người biết đạo thôi”.
Gọi
Phật là “Phạm Vương”, đếm kinh Phật được “tám bộ”,
kiến thức Phật học của Phan Huy Ích quả đã không được
như ông anh họ vậy.
Phan
Huy Chú, con của Phan Huy Ích có cái nhìn rộng rãi hơn cha(114).
Ban đầu ông cũng chỉ nghĩ rằng: “Ðạo Phật đạo Lão,
học giả vốn không nên theo, vì đạo Thánh lớn rộng, sao
lại có đạo khác sánh ngang được?” Tuy nhiên nhận thấy
nho sinh phần nhiều đều bỏ hết thiết thực, chuộng phù
hoa, bỏ gốc theo ngọn... so với tăng sĩ và đạo sĩ cũng
còn kém, mong gì phát huy được đạo Thánh”, cho nên ông
đề nghị “cách chọn người nên lấy đức hạnh làm gốc;
nếu người có bản lĩnh tốt thì dù kiêm thông cả cửu lưu
tam giáo cũng chẳng hại gì”(115)
NGUYỄN
CÔNG TRỨ
Ðối
với Nguyễn Công Trú(116), đứng ngay về phương diện nhật
dụng, đạo Phật không phải là một “đạo khác”, rằng
mục đích “kiến tính” của Phật cũng như mục đích “xuất
tính” của Nho(117), rằng luân hồi và thiên đàng địa ngục
không phải ở đâu xa mà ở ngay trước mắt mình. Ông cho
rằng những nhà Nho kích bác đạo Phật chủ trương hư vô,
là những người nhìn trời qua chiếc ống nhòm. Tất cả các
ý trên đây ta đều đọc được thấy trong bài hát nói Vịnh
Phật của ông:
Thuyền
từ một lá chơi vơi
Bể
trần chở biết bao người trầm luân
Thiên
thượng thiên hạ vô như Phật
Nhỏ
không trong mà lớn cũng không ngoài
Chiếc
thuyền từ một lá chơi vơi
Với
chìm đắm, đưa người lên cõi Tĩnh
Chữ
“kiến tính” cũng như “xuất tính”
Trong
ống nhòm(118)đổ tiếng hư vô
Kẻ
muốn đem nhân kfy nhân, hỏa kỳ thư, lư kỳ cư(119)
Song
đạo thống vẫn rành rành công cứ(120)
Bạng
y thiên lý hành tương khứ
Ðô
tự nhân tâm tố xuất lai(121)
Bát
khang trang chẳng chút chông gai
Cùng
nghiêng ngã một dòng Hà Lạc(122)
Trong
nhật dụng sao bằng đạo khác
Cái
luân hồi chẳng ở đâu xa
Nghiệp
duyên vốn tự mình ra
Nơi
vuông tấc có thiên đàng địa ngục.
Vì
chưa thoát lòng trần mắt tục
Nên
mơ màng một bước một khơi
Khiến
cho phiền muộn Như Lai.
NGUYỄN
DU
Thi
sĩ Nguyễn Du(123)là một nhà Nho tuy không nghiên cứu sâu về
Phật học, nhưng đã lấy cảm hứng ở đạo Phật rất nhiều.
Quan niệm về nghiệp báo nhân quả trong Truyện Kiều là một
quan niệm phổ thông, không khác gì với quan niệm nghiệp báo
nhân quả trong Phong Tình Lục. “Trời” của Nguyễn Du có
thể được mô tả là định luật nhân quả chi phối vũ trụ
và cuộc đời, hơn là một vị chúa tể vũ trụ ban phúc giáng
họa. Trời cũng là định mệnh, là nghiệp quả. Nghiệp quả
có thể thay đổi được, nếu con người thay đổi nghiệp
nhân (“Khi nên Trời cũng chiều người”, “xưa nay nhân
định thắng thiên cũng nhiều”, “có trời mà cũng có ta”
và “túc khiên đã rẳ lâng lâng sạch rồi”). Tinh thần
tam giáo hòa hợp trong Truyện Kiều phản ảnh cái nhìn không
những của Nguyễn Du và của Thanh Tâm Tài Nhân mà cón là
của cả quần chúng đông đảo của hai nước Việt-Hoa về
tam giáo nữa. những lời của Tam Hợp Ðạo Cô nói về cuộc
đời Thùy Kiều cũng có thể đạt vào miệng một vị tăng
hay một vị ni trong đạo Phật. Giao tình giữa ni trưởng Giác
Duyên và đạo cô Tam Hợp cũng chứng minh điều đó.
Triết
lý Phật trong Truyện Kiều là triết lý Phật Giáo phổ thông
đại chúng. Khi một người đi xuất gia ít nhất người ấy
phải thọ mười giới sa di. Vậy mà khi Thúy Kiều xuất gia,
Nguyễn Du chỉ cho nàng thọ tam quy ngũ giới, vốn là giới
luật của người tại gia:
Tam
quy ngũ giới cho nàng xuất gia
Áo
xanh đổi lấy cà sa
Pháp
danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền.
Ta
tự hỏi không biết Thùy Kiều có ai là người truyền giới
để thế độ trong lễ xuất gia hay không?
Cũng
rút cảm hứng từ Du Già Khóa Nghi Pháp Yếu, nhưng Văn Tế
Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn của Lê Thánh Tông ở chỗ
tình cảm rất thân thiết và giọng điệu kính cẩn. Tác phẩm
này không phải chỉ là thơ mà còn có thể là một bài văn
tế đích thực nữa. Ðọc đoạn kết của tác phẩm ta thấy
ý hướng khai thị và thức tỉnh mười loại cô hồn, và
lời niệm Phật cầu cho cô hồn siêu thăng. Những lời này
chi có thể do một người Phật tử thốt ra, và Nguyễn Du
có thể là đại biểu cho hàng nho sĩ không thấy trở ngại
gì khi đồng thời cũng là Phật tử:
Kiếp
phù sinh như hình như ảnh
Có
chữ rằng”vạn cảnh giai không”
Ai
ơi lấy Phật làm lòng
Tự
nhiên siêu thoát khỏi vòng luân hồi.
Ðàn
chẩn tế vâng lời Phật giáo
Của
có chi, bát cháo nén nhang
Gọi
là manh áo thoi vàng
Giúp
cho làm của ăn đàng đăng thiên
Ai
đến đây dưới trên ngồi lại
Của
làm duyên chớ ngại bao nhiêu
Phép
thiêng biến ít thành nhiều
Trở
nên tôn giả chia đều chúng sinh
Phật
hữu tình từ bi tế độ
Chứo
ngại rằng có có kop không
Nam
mô Phật? Nam mô Pháp? Nam mô Tăng?
Nam
mô nhất thiết siêu thăng Phật đài?
Văn
Tế Thập Loại Chúng Sinh được bảo tồn ít nhất là do hai
bản in Nôm. Một bản ông Lê Thước đã tìm thấy tại chùa
Diệc ở Nghệ An, quê quán Nguyễn Du, Lê Thước đã phiên
âm bản này và in lần đầu bằng chữ quốc ngữ trong sách
Truyện cụ Nguyễn Du, xuất bản năm 1924 ở Hà Nội. Bản
Nôm tìm thấy ở chùa Diệc không biết thực hiện năm nào
và ai đứng chủ trương. Một bản khác được khắc in trong
tập Ứng Phú Dư Biên, một cuốn sách gồm những bài văn
cúng cấp, do một vị tăng là Thích Chính Ðại khắc bản
năm 1895, tức là năm Thành Thái thứ bẩy. Bản gỗ được
tằng trữ ở chùa Hưng Phúc, huyện Vũ Giàng, tỉnh Bắc Ninh,
tác phẩm của Nguyễn Du ở đây được đặt tên là Thỉnh
Âm Hồn Văn.
Nho
học đã tồn tại và phát triển, một phần lớn nhờ ở
khoa cử. Cùng lúc với sự có mặt của người Pháp tại Việt
Nam, cái học Tây phương được đưa qua. Tuổi trẻ bỏ cái
học “ông Nghè, ông Bảng” để theo đòi cái học “ông
Thông, ông Ký(124)
Khi
Tây học bắt đầu thịnh đạt, các nhà Nho trở về vườn.
Lúc bấy giờ sự nối lại mối giao hảo giữa Nho và Phật
không còn khó khăn nữa. Khắp nơi trong nước, người ta thấy
nho sĩ tới chùa đàm đạo và uống trà một cách thân mật
với tăng sĩ, làm như sự xung đột chưa bao giờ xảy ra giữa
Nho giáo và Phật giáo cả.
--------------------------------------------------------------------------------
(97)
Kinh Dịch là một tác phẩm Lão học. Những tư tưởng của
Chu Dịch mà các nho gia đem ra nói của Khổng Tử vốn là tư
tưởng triết học của Lão giáo
(98)
Xem chương XXIII
(99)
Rất tiếc chúng tôi chưa có duyên tìm được sách này. Sách
viết vào khoảng giữa thế kỷ thứ mười tám.
(100)
Thơ của Hương Hải:
Nguyên
lai tam giáo đồng nhất thể
Nhậm
vận hà tằng lý hữu thiên.
(100)
Ba nguyên: tinh, khí và thần.
(102)
Hàn dũ làm chức gián nghị đại phu, là tác giả tập Nguyên
Ðạo và bài Sớ ngăn việc rước xá lợi Phật. Lý luận
bài Phật trong hai tác phẩm này rất là đơn giản: Phật Giáo
bỏ đạo quân thần phụ tử mà đi tìm thanh tịnh tịch diệt;
tăng đồ không tăng gia sản xuất; Phật là dân xứ dã man.
Biện pháp của ông đề nghị rất mạnh: đạo kỳ sở đạo
(Nho hóa đạo Phật), nhân kỳ nhân (bắt tăng sĩ trở ra thế
tục), hỏa kỳ thứ (đốt kinh Phật), lư kỳ cư (tịch thu
tu viện). Sớ của ông không được vua Ðường chấp nhận,
và ông bị biếm.
(103)
Trương Hán Siêu người làng Phúc Am, huyện Yên Khánh, Ninh
Bình, mất năm 1354
(104)
Tài liệu Ðinh Gia Thuyết trong Ðuốc Tuệ số 50, ra ngày 24.11.1935,
Hà Nội.
(*)
Có lẽ nên đặt Lê Quý Ðôn lên cùng thế hệ với Ngô Thì
Sĩ (N.H.C.)
(105)
Kinh Thư: “Làm lành thì được trăm việc lành, làm ác thì
chịu trăm việc tai ương” (tác thiện giáng chỉ bác tường,
tác bất thiện giáng chỉ bách ương). Kinh Dịch: “Những
nhà chứa chất việc thiện thế nào cũng có phúc về sau,
những nhà chứa chất việc ác thế nào cũng có tai họa về
sau”. (Tích thiện chi gia tất hữu dư khương, tích bất thiện
chi gia tất hữu dư ương).
(106)
Tài liệu của Ðoàn Ngọc Phan trong Tạp Chí Văn Học, số
6 năm 1976, Hà Nội.
(107)
Ngô Gia Thế Phả viết: “Nhìn quanh trông thấy ai là kẻ đồng
tâm, cho nên ông (Ngô Thì Nhậm) bèn mượn đạo Phật làm
vui, mở thiền viện Trúc Lâm tại phường Bích Câu, nơi ông
ở, thuật lại hành trạng của Tam Tổ: Giác Hoàng, Pháp Loa
và Huyền Quang để phụng thờ, độ điệp cho em ruột là
Huyền Trai làm Thượng Túc đệ tử. Lúc ấy có các vị sư
Hải Hòa và Hải Âu tôn ông là Hỉa Lượng Ðại Thiền Sư,
và vì ông làm sách Trúc Lâm Tông Chỉ, lấy 24 chương thuyết
pháp của ông là ra Ðại Chân Viên Giác Thanh..”
(108)
Cuối phần Ðại Chân Viên Giác Thanh có ghi tễnn người viết
chữ và san hành như sau:
Phụng
tả:
- Thị
nội mật sự tả trung doãn Dược trung bá Nguyễn Hữu Dược
(Thanh Trì, Nhân Mục).
- Thị
nội bí thư thự chính tự Tích trung bá Ðào Kim Tích (Gia Lâm,
Tỉnh Quang)
- Thị
nội bí thư thự kiểm thảo Tuấn trung tử Nguyễn Hữu Tuấn
(Thanh Trì, Nhân Mục)
Phụng
san:
- Thái
thường giám thái chúc Nho nghĩa nam Phạm Ðạt Nho (Gia Lộc,
Hồng Liêu)
(*)
Thật ra Trường viễn Ðông Bác Cổ trước đây tàng trữ
hai bản in Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh đều cùng bắt nguồn
từ một bản: Bản A.2181 bị mất một số tờ trong đó có
lời tựa của Phan Huy Ích. Bản A. 460 thì còn đủ. Cũng bản
này có ghi tên những người làm thanh dẫn, và có đầy đủ
phần thanh tiểu khấu. Về soạn giả của bộ sách, ta có
thể biết được Hải Lượng tức Ngô Thì Nhậm (1746-1803),
tác giả phần chính văn, do người khác ghi lại, hoặc cũng
có thể do chính ông tự ghi nhưng đạt mình vào ngôi thứ
ba; Hải Huyền tức Ngô Thì Hoàng (chưa rõ năm sinh và mất),
em ruột Ngô Thì Nhậm, tham gia phần thanh dẫn; Hải Âu tức
Vũ Trinh (1759-1828), cháu rễ thi hào Nguyễn Du, tác giả Lan
Trì kiến văn lục, tham gia phần thanh chú; Hải Hòa tức Ngô
Ðăng Sở (1753-?), tham gia phần thanh chú; Hải Ðiền, tức
Nguyễn Ðạm, hay Nguyễn Hành (1771-1824) là cháu ruột thi hào
Nguyễn Du, con trai thứ Nguyễn Ðiều, và là tác giả Minh Quyên
tập, tham gia phần thanh tiểu khấu (N.H.C.)
(109)
Huyền Quang thị tịch ở Côn Sơn chứ không phải ở Yên Tử.
(110)
Bài kệ này ắt không phải của Huyền Quang: “Khế Ngộ Không
Hư” và “huyền chi hựu huyền” không phải từ ngữ của
Phật giáo. Trong những tác phẩm xuất hiện từ trước, chưa
có tác phẩm nào nói tới hai bài kệ này.
(111)
“Bốn mùa vận hành, trăm vật sinh trưởng, trời có nói
gì đâu?” (Tứ thời hành yên, vạn vật sinh yên, thiên hà
ngôn tai?), câu nói của Khổng Tử.
(112)
Chữ Thiền cũng đọc là Thiện, nghĩa là trao truyền.
(113)
Trong bài tự sách này, ông viết: “Tôi gặp buổi gian nan,
lánh đời đã năm năm, đem kinh Xuân Thu ra biên lục, đặt
tên là Xuân Thu Quản Kiến”.
(114)
Phan Huy Chú (1782-1859) là tác giả Lịch Triều Hiến Chương
Loại Chí, Hoàng Việt Ðịa Dư Chí, Hoa Thiều ngâm lục, Hoa
Trình Tục Ngâm và Dương Trình Kỳ Biên. Sách Lịch Triều
Hiến Chương Loại Chí được vua Minh Mạng ban khen.
(115)
Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, phần “Khoa Mục Chí”
(116)
Nguyễn Công Trứ (1778-1859) tự là Tôn Chất, hiệu Ngộ Trai,
người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tỉnh. Sách
Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện viết về ông như sau: “Công
Trứ là người trác lạc, quyết đoán, có khí tiết, có văn
tài, lại giỏi thơ quốc âm, làm thơ và bài hát rấ