CHƯƠNG
XIX
SỨC
SÁNG TẠO CỦA GIỚI PHẬT TỬ ÐẠI CHÚNG
TÍN
NGƯỠNG CỦA ÐẠI CHÚNG
Như
ta đã biết, đứng về phương diện đóng vai trò lãnh đạo
văn hóa trí thức và chính trị, đạo Phật trong thời Lê
Mạc lâm vào trạng thái suy đồi, nhưng đứng về phương
diện tín ngưỡng dân gian, đạo Phật trong thời đại ấy
vẫn tiếp tục phát triển. Trong tín ngưỡng Phật Giáo đại
chúng, ăn chay, giữ giới, tụng kinh, phóng sinh và chẩn tế
là những việc làm mang lại công đức cho bản thân và cho
gia đình. Ngoài ra, muốn tạo dựng công đức, ta có thể làm
chùa, xây tháp, đúc tượng và in kinh. Trong thời gian gọi
là thời Phật Giáo suy đồi, giới tín đồ đại chúng vẫn
tiếp tục hành đạo theo đường lối đó, bởi vì đức tin
về nhân quả và báo ứng càng ngày càng ăn sâu vào lòng họ.
Như ta đã biết, trong suốt thế kỷ thứ mười lăm, dân chúng
vẫn tiếp tục xây thêm chùa đến nỗi năm 1464, vua Lê Thánh
Tông phải có lệnh cấm xây thêm chùa mới. Về việc khắc
bản in những kinh Phật phổ thông thường được đọc tụng
như kinh Dược Sư, Ðịa Tạng, Phổ Môn v.v... mà không biết
đi tìm và khắc in lại những tác phẩm do phật tử đời
Lý và đời Trần sáng tác. Ðiều đáng tiếc này xảy ra một
phần vì người ta có quan niệm rằng in kinh thì có công đức
hơn in lục, bởi vì kinh là do Phật trực tiếp nói ra, còn
lục là do Tổ truyền dạy. Vì lý do đó mà nên văn học Phật
Giáo trong nước bị nghèo nàn đi một cách thảm hại.
Ðức
tin của quần chúng ảnh hưởng đến hành động của vua quan.
Ðời Lê thường xảy ra nhiều vụ hạn hán. Những nho thần
kỳ thị đạo Phật cố nhiên không ưa việc tổ chức tụng
kinh cầu mưa. Tuy vậy, những hiện tượng như mưa, lụt, hạn
hán, sâu ăn lúa v.v... theo tín ngưỡng quần chúng là do vua
quan ăn ở thất đức mà ra. Vì vậy, vua quan phải chịu theo
ý dân mà tự trách, sám hối, thả bớt tù nhân, làm chay và
đảo vũ. Mùa hạ năm 1434, vua Lê Thánh Tông sai các quan rước
Phật từ chùa Pháp Vân về kinh đô để làm lễ cầu mưa.
Lại cho phóng thích một số tù nhân, và dựng trai đàn chẩn
tế ngay ở điện Cần Chánh để tu tạo công đức, cầu cho
có mưa. Rằm tháng bảy năm ấy, vua lại cho tổ chức đại
hội Vu Lan, mời chư tăng đến cầu nguyện, rồi cúng dường
chư tăng và phóng thích thêm năm mươi tù nhân nữa. Năm 1448
có hạn hán lớn, vua Lê Nhân Tông xuống chiếu cho tất cả
các quan văn võ phải ăn chay và giữ mình cho trong sạch để
tới chùa Báo Ân ở cung Cảnh Linh mà làm lễ cầu mưa. Ðích
thân vua tới lạy trước Phật điện. Tất cả các nho thần
đều phải làm theo. Rồi vua sai thái úy Lê Khả đến chùa
Pháp Vân ở xã Cổ Châu, rước tượng Phật về chùa này,
đem về tôn trí tại chùa Báo Thiên ở kinh thành, rồi xuống
chiếu và thỉnh chư tăng tới tụng kinh, sám hối cầu nguyện.
Vua và hoàng hậu thân đến lạy Phật. Lại tổ chức cúng
dường trai tăng và phóng thích hai mươi bốn người tù mà
tội còn đáng ngờ. Vua Lê Nhân Tông xuống chiếu tự trách
mình như sau:
“Từ
năm trước đến nay, tại dị xảy ra luôn, như lụt, hạn,
sâu, không năm nào không có - Hoặc là chính trị của trẫm,
trên không thuận trời, dưới chưa thỏa chí dân, mà sinh ra
như thế chăng? Hoặc các đại thần giúp đỡ không phải
là người giỏi, điều hòa trái phép, xếp đặt sai lẽ mà
sinh ra như thế chăng? Nay có người nào vì trẫm dám nói,
chỉ ra những việc của trẫm và các tể thần hại đến
nhân dân chính sự chăng?”
Năm
1449, lại có đại hạn, và vua cũng lại tổ chức lễ cầu
mưa tại cung Cảnh Linh, những việc tụng kinh, thả tù, và
cầu mưa nói trên chứng tở rằng đap có gốc rễ đạo Phật
tín ngưỡng rất sâu xa trong dân chúng, và triều đình không
thể không chiều theo tín ngưỡng ấy mỗi khi có áp lực.
Nho thần không ưa Phật Giáo, như các phu nhân mệnh phụ và
cả hoàng thái hậu, hoàng hậu và các cung nhân lại tín ngưỡng
đạo Phật: họ thường cung thỉnh chư tăng đến để giảng
bày đạo lý và thiết lễ cúng dường. Năm 1460, sau cuộc
đảo chính trong nội cung để đưa vua Lê Thánh Tông lên ngôi,
có chiếu chỉ cấm tăng sĩ và đạo sĩ không được liên
lạc với nội cung, sợ tin tức tiết lộ ra ngoài quần chúng.
Bốn năm sau, vau Lê Thánh Tông xuống chiếu cấm xây dựng
thêm chùa mới.
VĂN
HỌC KỂ HẠNH VÀ SỰ THỜ TỰ THÁNH TĂNG
Trong
lúc những tác phẩm của Phật Giáo Trúc Lâm không được
giới trí thức của thời đại ngó ngàng tới, thì giới Phật
tử bình dân lại phát triển một loại văn học truyền miệng
để duy trì những tại liệu lịch sử về các vị tổ sư
Phật Giáo. Loại văn học truyền miệng này được gọi là
kể hạnh. Kể là kể chuyện, hạnh là hành trạng các vị
tổ sư. Mỗi năm cứ đến ngày mồng mười tháng ba âm lịch,
tức là ngày giỗ tổ Pháp Loa, Phật tử khắp nơi tìm về
chùa Hương Hải ở thôn tiền, xã Phù Vệ, huyện Chí Linh
(nay thuộc phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương) để dự lễ giỗ
tổ và để nghe các bà cà các cô kể hạnh, nói về sự tích
ba vị tổ Trúc Lâm. Văn kể hạnh là văn đặc biệt của
nhà chùa; đó là một lối văn hát; giọng của các già lớn
tuổi xen vào giọng của các thiếu nữ. Các bà các cô thuộc
lòng những điều họ kể, nếu thiết sót hay sai lầm thì
đã có các thầy căn cứ trên các bản Khóa Hư và Tam Tổ
Thực Lục để sửa chữa hoặc bổ sung lại. Văn kể hạnh
vì tính cách bình dân của nó, không thể chuyên chở được
hết những thiền ngữ có ý nghĩa quá khó khăn đối với
trí óc của người dân thường. Vì vậy còn có một lối
hát gọi là hát kệ(22), để duy trì một cách dễ dàng hơn
những bài kệ tụng của các vị tổ sư. Người nghe có thể
không hiểu thấu hết ý nghĩa sâu xa của bài kệ, nhưng cũng
có thể thưởng thức được nhạc điệu của nó. Theo Ðinh
Gia Khánh và Chu Xuân Diên, tác giả Văn Học Dân gian(23)thì
một bài kệ kể hạnh và hát kệ từ đời Trần còn được
truyền giữ lại, đó là bài Thiền Tông Truyền Tông Chỉ
Nam Quốc Ngữ Hành. Do đây ta biết lối kể hạnh và hát kệ
đã được bắt đầu từ đời Trần. Ðến cuối thế kỷ
thứ mười bảy, thiền sư Chân Nguyên mới viết sách An Tử
Sơn Trúc Lâm Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh bằng văn Nôm
lục bát; tài liệu này nếu học thuộc lòng thì kể hạnh
và hát kệ mới không còn thiếu sót(*)
Lối
văn hể hạnh rất được thịnh hành và lưu truyền cho đến
ngày nay. Tại những chùa thuộc phái Trúc Lâm, vào những ngày
giỗ tổ, tín đồ thường tổ chức kể hạnh.
Tại
chùa Tư Phúc, tục gọi là chùa Hun, mỗi năm đến ngày mồng
ba tháng Giêng là ngày giỗ tổ Huyền Quang, thiện nam tín nữ
kéo nhau về rất đông để lễ tổ và nghe kể hạnh. Lễ
giỗ tổ ở đây làm rất lớn, có khi kéo dài đến cả tháng,
thiên hạ lui tới không ngớt. (Chùa Tư Phúc ở núi Côn Sơn
đường tạo lập từ đời Lý, đến đời Trần được Pháp
Loa mở mang thêm, và khi Huyền Quang tới ở đã trở thành
một ngôi chùa lớn. Sau khi Huyền Quang mất nhục thân được
hỏa thiêu và tro được cất giữ trong một ngọn tháp ở
sau chùa, trên lưng núi Côn Sơn. tháp xây bằng đã xanh. Trong
thời thuộc Minh, Nguyễn Trãi về ẩn tại đây, có sáng tác
Côn Sơn Ca).
Sự
tích Từ Ðạo Hạnh đời Lý cũng được truyền tụng bằng
lối văn kể hạnh(24). Từ Ðạo Hạnh là một vị cao tăng
thuộc thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi; thiền học của ông được
bao phủ bởi một lớp màn Mật Giáo. Ông sinh vào đầu thế
kỷ thứ mười hai, mất năm 1112. Hai chùa thờ Từ Ðạo Hạnh
cho tới ngày nay là chùa Chiêu Thiền tại làng An Lãng tục
gọi là chùa Láng(25) và chùa Sài Sơn(26). Vài ba năm, hội
chùa Láng lại được tổ chức một lần, và dân làng diễn
tả sự tích của thiền sư Từ Ðạo Hạnh.
Ngay
từ đời Lý và đời Trần, sự tích của thiền sư Từ Ðạo
Hạnh đã được thêu dệt bằng những pháp thuật rồi. Ngay
trong Thiền Uyển Tập Anh, sự tích Từ Ðạo Hạnh đã chiếm
rất nhiều trang sách. Văn kể hạnh và sự diễn lại sự
tích Ðạo hạnh đã làm công việc duy trì và tô điểm cho
sự tích càng ngày có vẻ linh dị. Khoảng đầu thế kỷ thứ
mười lăm, sách Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp có
viết một bài về sự tích Từ Ðạo Hạnh. Bài này được
căn cứ trên tài liệu sách Thuyền Uyển Tập Anh, nội dung
không khác với sự tích trong Thuyền Uyển Tập Anh bao nhiêu.
Ðến đầu thế kỷ thứ mười tám, Lê Hữu Hỷ (bút hiệu
Tam Thanh Quán Ðạo Nhân) lại viết một bài dài hơn, nhan đề
là Từ Ðạo Hạnh Ðại Thánh Sự Tích Thực Lục. Bài này
được cho vào phần phụ lục của sách Việt Ðiện U Linh
Tập của Lý Tế Xuyên trong kỳ khắc bản năm 1712(27). So với
sự tích Từ Ðạo Hạnh trong Thiền Uyển Tập Anh, bài Từ
Ðạo Hạnh Ðại Thánh Sự Tích Thực Lục của của Ðạo
Nhân Quán Tam Thanh viết và có nhiều chi tiết vẽ vời hơn.
Sự kiện này chứng tỏ tác giả đã sử dụng văn học truyền
khẩu và điễn tích của dân quê mà chép lại thực lục của
Từ Ðạo Hạnh vậy. Sự tích của thiền sư Ðạo Hạnh có
liên hệ tới sự tích của thiền sư Minh Không(28). Vậy nên
tại các chùa có thờ Minh Không thiền sư, sự tích này cũng
được dân làng nhắc lại. Một lối hát chèo gọi là chèo
chải được sử dụng để diễn lại sự tích thiền sư Minh
Không nhằm ngày giỗ của ông tại các chùa Thần Quang và
Hành Thiện(29).
Sau
đây là sự tích của Từ Ðạo Hạnh và Nguyễn Minh Không,
kể theo các sách Thuyền Uyển Tập Anh, Lĩnh Nam Chích Quái
và Việt Ðiện U Linh Tập. Cả ba tập sách đều phản chiếu
sự sáng tạo của giới Phật tử đại chúng. Theo truyền
tích. Ðạo Hạnh hồi còn nhỏ bề ngoài tỏ ra ham chơi nhưng
bề trong thì có chí lớn, rất chuyên cần học tập. Ông có
ba người bạn thiết: nho sĩ Phí Sinh, đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa
và kép hát Phan Ất. Cha của Từ Ðạo Hạnh là Từ Vinh thấy
con suốt ngày chơi bời, đá cầu, thổi sáo, đánh bạc, rất
lấy làm lo lắng. Một đêm, mở cửa vào phòng Ðạo Hạnh,
ông thấy chàng tựa án mà ngủ, tay còn cầm sách, trên bàn
sách vở bừa bãi, ngọn đèn leo lét. Biết rằng con rất chăm
học về đêm, ông không lo nữa. sau đó Ðạo Hạnh đi thi
được đỗ đầu khoa Bạch Liên(30). Ông không muốn ra làm
quan vì ông chỉ muốn tìm cách trả thù cho cha. Cha của ông,
trước đó, vì có dùng tà thuật phạm đến Diên Thành Hầu
nên bị Diên Thành Hầu nhờ pháp sư Ðại Ðiên dùng pháp
thuật đánh chết quẳng thây xuống sông Tô Lịch. Khi trôi
đến trước nhà Diên Thành Hầu thì thi hài của cha ông bổng
đứng dậy trên mặt nước, tay chỉ vào nhà Hầu như vậy
suốt một ngày. Hầu sợ hãi đi tìm Ðại Ðiên. Ðại Ðiên
tới đọc một câu kệ:
“Thầy
tu giận ai thì cũng không giận quá một đêm”
(Tăng
hận bất cách túc)
Thây
của Từ Vinh liền ngã xuống và trôi đi. Trôi đến sông Hàm
Rồng, làng Nhân Mục Cựu thì dừng lại. Thấy việc linh dị,
dân làng ấy chôn cất, dựng miếu và tạc tượng thờ, lấy
ngày mồng mười tháng giêng làm ngày ky. Bà mẹ thì chôn ở
chùa Ba Lăng, làng Thượng An, nay là chùa Hoa Lãng, Chùa này
thờ hai vị thánh phụ và thánh mẫu tức là cha mẹ của Từ
Ðạo Hạnh(31).
Ðạo
Hạnh muốn trả thù cho cha, song chưa biết bằng cách nào.
Một hôm trong thấy Ðại Ðiên đi ngang nhà liền xách gậy
định đánh. Bỗng nghe trên không có tiếng la “đừng, đừng”,
liền bỏ gậy xuống không dám đánh nữa. Sau đó Ðạo Hạnh
cùng hai người bạn là Minh Không và Giác Hải cùng rũ nhau
đi sang Ấn Ðộ để học linh thuật về chống trả với Ðại
Ðiên. Nhưng đến xứ người Răng Vàng(32) thấy đường xá
hiểm trở, ba người muốn về. Bổng thấy một ông già chèo
chiếc thuyền con dạo chơi trên sông, ba người đến hỏi
đường. Ông già trả lời: Ðường núi hiểm trở đi chân
không được đâu; lão có chiếc thuyền con, xin chở giúp các
người, và có cái gậy trúc con, nhắm thẳng Tây Vực mà đi
thì chẳng xa là mấy. Nói xong đọc bài kệ:
Ðồng
đạo cùng đi sự đã đành
Công
nhiều chí lớn ắt thành danh
Chớ
nề khó nhọc đường trăm ngả
Theo
riết Hoàng Giang thấy thánh sinh
Ðọc
xong, ngữa mặt trông chừng giây lát đã đến bờ Tây Thiên.
Ðạo Hạnh ở lại giữ thuyền con, Giác Hải và Minh không
lên bờ học đạo. Học xong hai người bỏ về trước. Ðạo
Hạnh giữ thuyền đã ba ngày, không thấy hai người trở về.
Bổng gặp một bà lão trên sông tới hỏi thăm được bà
lão cho biết là hai người đã học được phép linh của bà
và đã về trước rồi. Bà lão bảo Ðạo Hạnh gánh hai thùng
nước về nhà bà và bà bắt đầu dạy pháp thuật cho. Ðạo
Hạnh học xong thì cũng về nước. Giữa đường nghĩ tới
hai người bạn, liền niệm chú. Hai người bị đau bụng không
đi tiếp được nữa. Ðạo Hạnh dùng phép rút đất, vượt
hai người, rồi hóa ra cọp trong bụi rậm, gầm lên một tiếng
làm hai người giật mình. Nơi Ðạo Hạnh hóa cọp để “hù”
hai người thuộc làng Ngãi Cầu, huyện Từ Liêm(33). Minh Không
thấy Ðạo Hạnh giả cọp cười nói với Ðạo Hạnh: “Nghiệp
của anh còn nặng, anh sẽ còn phải luân hồi gặp nạn. Nhưng
tôi sẽ cứu cho”.
Ðạo
Hạnh về ẩn trong chùa Thiên Phúc núi Phật Tích, nhất tâm
trì tụng chú Ðại Bi, đủ mười vạn tám ngàn biến. Một
hôm có một vị thần đến, xưng là Tứ Trần Thiên Vương,
nói vì cảm động công đức của Ðạo Hạnh nên đến để
được sai khiến. Ðạo Hạnh biết pháp thuật của mình đã
viên mãn, có thể báo thù cha được, bèn cầm gậy đi đến
cầu Quyết sông Tô Lịch, liệng gậy xuống nước. Gậy liền
lội ngược nước như con rồng, mãi cho đến cầu Tây Dương
mới ngừng. Ðạo Hạnh mừng nói: “Phép của ta hơn phép
của Ðại Ðiên rồi”. Bèn tới nhà Ðại Ðiên. Trông thấy
Ðạo Hạnh, Ðại Ðiên hỏi: “Người không nhớ việc ngày
trước sao?” Ðạo Hạnh ngửa mặt lên trời, không thấy
phản ứng gì, liền lấy gậy đánh Ðại Ðiên một gậy.
Ðại Ðiên về phát bệnh mà chết.
Từ
đó, thù xưa rửa sạch, niềm tục lạnh như tro tàn, Ðạo
Hạnh mới đi khắp Tùng lâm mà cầu tâm ấn. Nghe thiền sư
Trí Huyền dạy đạo ở Táhi Bình, Ðạo Hạnh tìm tới tham
vấn, trình lên bài kệ:
Lẫn
với bụi đời tự bấy lâu
Chân
tâm vàng ngọc biết tìm đâu
Cúi
xin rộng mở bày phương tiện
Thấy
được chân như sạch khổ sầu
Trí
Huyền đáp:
Trong
ngọc vang ra tiếng diệu huyền
Mỗi
âm đều hiển lộ tâm thiền
Bồ
đề hiện rõ ngay tầm mắt
Tìm
kiếm lại càng ngăn cách thêm.
Ðạo
Hạnh hoang mang không hiểu. Sau này, khi tu học với thiền sư
Sùng Phạm ở chùa Pháp Vân, có lần Ðạo Hạnh hỏi:
- Cái
gì là chân tâm?
Sùng
Phạm đáp:
- Cái
gì mà không phải là chân tâm?
Ðạo
Hạnh thoạt nhiên tỏ ngộ. Hỏi rằng:
- Làm
thế nào để giữ gìn?
Sùng
Phạm nói:
- Ðói
thì ăn, khát thì uống.
Từ
đó về sau pháp lực Ðạo Hạnh càng tăng cường, cơ duyên
Thiền học càng chín chắn, có thể sai khiến cả chim rừng
và dã thú... Hễ có ai đau ốm cần đến khẩn thì đến niệm
chú trị bệnh, ai ai cũng được nhờ ơn. Có lần đệ tử
hỏi:
-Thế
nào là Phật tâm?
Ðạo
Hạnh trả lời:
Có
thì có tự trần sa
Không
thì cả cõi ta bà cũng không
Có
không bóng nguyệt lòng sông
Có
không chẳng phải là không chút nào.
Lại
nói:
Nhật
nguyệt trên đầu núi
Ai
cũng thấy mịt mùng
Nhà
giàu kia có ngựa
Mà
lại đi chân không
Hồi
ấy vua Nhân Tông không có con trai nối dõi. Năm Hội Tường
Ðại Khánh thứ ba, phủ Thanh Hoa báo cáo về có một đứa
trẻ linh dị xuất hiện, mới ba tuổi mà đã nói năng thông
thạo, tự xưng là Giác Hoàng, không có việc gì vua làm mà
không biết. Vua sai người đi xét thấy đúng như lời báo
cáo, mới rước đứa bé về kinh đô cho ở chùa Báo Thiên.
Thấy nó thông minh dị thường vua lấy làm yêu mến, muốn
lập làm hoàng thái tử. Quần thần đều cản, bảo rằng
nếu nó thật linh dị thì tự khắc nó phải thác làm con vua.
Vua bèn tổ chức đại hội bảy ngày bảy đêm cầu cho Giác
Hoàng đầu thai làm con mình. Lúc đó Ðạo Hạnh nói:
- Ðứa
trẻ kia là yêu quái, mê hoặc lòng người, ta không thể ngồi
yên để nó làm loạn.
Nói
xong nhờ bà chị giả làm người đi xem hội, bí mật đem
vài hột ấn kết của Ðạo Hạnh đến giắt lên trên rèm.
Ðại hội khai diễn đến ngày thứ ba, Giác Hoàng thọ bệnh,
bảo rằng:
- Khắp
nước giăng đầy lưới sắt, muốn thác sinh mà không có cách
gì vào lọt.
Vua
nghi rằng đó là do Ðạo Hạnh làm, liền cho điều tra, quả
nhiên như vậy. Ðạo Hạnh bị giam ở lầu Hưng Thanh, trong
khi vua hội họp quần thần để trị tội, khi Sùng Hiền Hầu
đi qua lầu, Ðạo Hạnh van:
- Xin
hết sức cứu cho bần tăng khỏi tội, tôi sẽ xin thác thai
trong cung để báo ân.
Hầu
vào tâu vua:
- Nếu
Giác Hoàng thật quả có thần lực, thì dù có bị Ðạo Hạnh
ngăn trở cản cũng vẫn thác thai được. Nay sự việc như
thế thì tỏ ra Ðạo Hạnh cao tay hơn nhiều. Tại sao không
để Ðạo Hạnh thác thai?
Vua
nghe lời, thả Ðạo Hạnh ra. Ðạo Hạnh đi đến nhà Hầu,
nhìn vào nhà tắm. Phu nhân giận, mách Hầu. Hầu đã biết
trước, liền không quở trách gì. Sau đó phu nhân có thai,
Ðạo Hạnh nói rằng:
- Chừng
nào gần đến giờ sinh thì báo cho biết(34)
Ðến
ngày được báo tin, Ðạo Hạnh tắm rửa, thay áo, bảo với
chư tăng:
- Túc
nhân của ta chưa hết, phải thác sinh lần nữa ở thế gian,
tạm làm quốc vương. Sau kiếp quốc vương lại phải sinh
lên cõi trời Tam Thập Tam Thiên. Sau khi chết, trong một thời
gian, chân thân của ta sẽ không hư hoại. Ðến ngày nó hư
hoại là ta vào Niết bàn, không còn sinh vào cõi diệt nữa.
Môn đồ khóc lóc. Ðạo Hạnh đọc bài kệ:
Thu
sang chẳng báo nhạn cùng bay
Cười
lạnh trần gian khổ lụy đầy
Nhắn
với môn đồ đừng luyến tiếc
Thầy
xưa mấy kiếp lại thầy nay.
Ðọc
xong, Ðạo Hạnh đi vào núi, bỏ thân mà hóa. Ðó là ngày
mồng bảy tháng ba(35). Phu nhân Sùng Hiền Hầu sinh hạ được
một trai, đặt tên là Dương Hoán, ba tuổi được vua Nhân
Tông nuôi ở trong cung, lập làm hoàng tử. Tháng Chạp năm
Thiên Phù Khánh Thọ thứ nhất, vua băng, thái tử tức vị
làm vua, hiệu là Thần Tông. Thần Tông tức là Ðạo Hạnh
hóa thân vậy.
Thiền
sư Minh Không tự không Lộ(36), họ Nguyễn tên Chí Thành, bạn
của Ðạo Hạnh và Giác Hải. Năm Minh Không hai mươi chín
tuổi, ba người đi Tây Trúc học. Minh Không đắc lục trí
thần, về quê quán dựng chùa Diên Phúc, chuyên trì Chú Ðại
Bi. Minh Không muốn tạo ra bốn kỳ quan của Ðại Việt là
tháp Báo Thiên, Ðỉnh Phổ Minh, Chuông Quy Ðiền, và Tượng
Quỳnh Lâm, nhưng không có đủ đồng, liền đi sang Trung Hoa.
Ngủ đêm tại nhà một người giàu có, Minh Không xin sáu thước
đất để lập tu viện Kỳ Viên; người trưởng giả cười
nói:
- Ngày
xưa thái tử Lương lập Kỳ Viên có đất rộng cả vạn dặm,
sáu thước làm sao lập được?
Ðêm
ấy Minh Không tung áo cà sa mình che cả một đám đất ngàn
dặm. Thấy có thần thông, người trưởng giả đem vợ con
đến quỳ lạy xin theo tam bảo. Sáng sớm, Minh Không mặc pháp
phục, chống tích trượng vào triều. Vua hỏi: “Muốn gì?
Minh Không nói:
- Bần
tăng xuất gia đã lâu, nay muốn tạo tứ khí cho Ðại Việt,
cho nên đã không quản ngại ngàn dặm tới đây, xin bệ hạ
bố thí cho một ít đồng. Vua hỏi có bao nhiêu đồ đệ đi
theo. Minh Không nói đi một mình. Vua nói:
- Ðường
về quý quốc xa lắm, vậy thầy muốn lấy bao nhiêu thì lấy.
Với
chiếc tay nải, Minh Không nhét hết kho đồng của nước bạn.
Quẩy tai nải trên vai, Minh Không vào chào vua về nước. Vua
tiếc mà không biết làm sao lấy lại kho đồng. Ðem đồng
về chùa Quỳnh Lâm, Minh Không đúc một tượng Phật A Di Ðà
vĩ đại cho chùa. Một đỉnh tháp lấy tên là tháp Báo Thiên,
một đại hồng chung tại làng Phả Lại và một chiếc đỉnh
lớn tại Phổ Minh. Số đồng còn đủ để đúc một chiếc
đại hồng chung cho chùa địa phương nặng ba ngàn năm trăm
cân, một chiếc đại hồng chung khác cho chùa Diên Phúc ở
huyện Giao Thủy, nặng ba ngàn cân. Công quả xong rồi, Minh
Không đọc bài kệ:
Nổi
trên mặt đại dương
Cánh
tay nặng ngàn cân
Kho
đồng trong một túi
Giây
phút vượt ngàn trùng(37)
Lúc
đó vua Nhân Tông dựng điện Hưng Long đã xong, làm lễ lạc
thành, bỗng nghe tiếng kêu kỳ quái trên nóc điện, tiếng
kêu to như sấm. Vua sợ, nhờ Minh Không và Giác Hải tới trừ.
Rồi Nhân Tông phong Minh Không làm quốc sư. Khi vua Thần Tông
lên hai mươi mốt tuổi, một chứng bệnh lạ kỳ xảy tới
cho vua. Ðầy mình mọc lông, vua rống lên như mãnh hổ, không
thầy thuốc nào chữa lành. Lúc đó người ta nghe trẻ con
ngoài đường hát bài đồng giao sau đây:
Có
được Lý Thần Tông
Nước
nhà vạn sự thông
Muốn
chữa bệnh Hoàng Ðế
Phải
nhờ Nguyễn Minh Không
Triều
đình sai sứ đến chùa Giao Thủy đón Minh Không. Minh Không
biết trước cười hỏi:
- Có
phải là chuyện cứu vua mắc bệnh hóa cọp phải không?
Sứ
thần ngạc nhiên hỏi tại sao Minh Không biết. Minh Không bảo:
- Chuyện
này ta đã biết trước đây ba mươi năm.
Ý
muốn nói chính ba mươi năm trước đó vì Ðạo Hạnh rắn
mắt hóa hổ, để nhác hai bạn nên nay thác sinh làm vua bị
quả báo.
Minh
Không sai lấy nồi nấu cơm thết sứ giả và quân lính tùy
tùng. Quan quân ăn no nê, vậy mà cơm trong chiếc nồi nhỏ
xíu vẫn còn. Minh Không, Giác Hải và mọi người xuống thuyền.
Minh Không nói mọi người hãy nghỉ ngơi, đợi con nước lên
rồi hãy nhổ neo. Trong khi mọi người ngủ say, Minh Không làm
phép cho thuyền đi nhanh như tên bắn, phút chốc đã tới kinh
đô. Mọi người thức dậy nhìn ra thì đã thấy tháp Báo
Thiên rồi(38)
Khi
Minh Không vào tới cung, các ngự y thấy ăn mặc quê mùa, không
ai đứng dậy chào. Minh Không lấy một cây đinh dài năm tấc
đóng sâu vào cột điện rồi nói lớn:
- Ai
rút được cây đinh này ra thì mới mong chữa lành bệnh cho
Hoàng Thượng.
Không
ai rút được, Minh Không nhón hai ngón tay, nhẹ rút cây đinh
ra. Khi vào tẩm điện, thấy vua đang lồng lộn gầm thét,
Minh Không thét lớn:
- Ðại
trượng phu đứng đầu muôn dân, trị vì bốn bể, sao lại
làm gì cuồng loạn như thế?
Vua
nghe sợ run, không dám lồng lộn nữa.Minh Không sai nấu một
chảo dầu, bỏ vào đấy một trăm cây đinh rồi lấy tay khoắng
dầu đang sôi, vớt đinh ra ném vào người vua. Tự khắc lông
lá rụng hết, vua khỏi bệnh(39)
Minh
Không sinh năm Bính thìn, ngày mười bốn tháng tám, tịch ngày
mồng ba tháng sáu năm Giáp tuất. Thần tượng và bia ký để
ở Lý Quốc Sư Từ, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội. Có đề
lại bài kệ sau đây:
Chọn
nơi địa thế đẹp sông hồ
Vui
thú tình quê quên sớm trưa
Có
lúc trèo lên đầu chóp núi
Kêu
dài một tiếng lạnh hư vô
Sách
Việt Ðiện U Linh Tập thêm: Ngày xưa, khi thác sinh vào cung,
Minh Không bỏ thân trong động, người làng đêm về bỏ vào
trang phụng thờ. Ðến niên hiệu Vĩnh Tộ, nhà Minh, sứ Minh
đi ngang qua, thấy diện mạo tốt đẹp, cho là Tiên, liền
rước về chùa Hương Sơn hỏa táng. Nhưng đốt không cháy.
Ðêm nằm mộng thấy Minh Không chỉ cho cách đốt, sáng dậy
làm theo thì đốt mới cháy được. Ðời Lê Thánh Tông, bà
Quang Phục hoàng thái hậu đến cầu đảo ở chùa Thiên Phúc,
kết quả có mang sinh được vua Hiến Tông.
Truyền
tích của Ðạo Hạnh và Minh Không càng ngày càng giàu có.
Dân quê tìm ra dấu tích của cha mẹ Ðạo Hạnh để làm giỗ
Thánh Phụ và Thánh Mẫu mỗi năm. Dân quê lại tìm ra gốc
gác của Minh Không trước khi đi tu là nghề câu cá. Những
giai thoại về cuộc đời của Minh Không trước khi đi tu được
thêm thắt vào. Ví dụ chuyện Minh Không đã gánh nước bằng
đôi dành khổng lồ để tưới cho nhiều mẫu ruộng một
lúc. Một lần Minh KhôngMinh Không sảy chân, nước đổ làm
ngập lụt hàng chục mẫu ruộng. Ví dụ chuyện Minh Không
thường đem cá đánh được bán cho một cô gái ở chợ Viên
Quang, tục gọi là cô Chàng. Cô đã yêu Minh Không, nhưng Minh
Không đã muốn đi tu, nên chỉ khuyên cô bạn hướng về đạo
Phật. Ở nhiều nơi trong vùng đồng bằng miền Bắc, mỗi
khi gặp hạn hán, trai tráng lại diễn lại cử động gánh
nước của Minh Không gánh đôi dành ra sông lấy nước. Tại
chùa Hành Thiện mỗi năm đến ngày hội Chùa, cuộc đời
Minh Không được diễn lại bằng lời hát và điệu múa. Những
chi tiết như chi tiết Minh Không gặp gỡ cô Chàng, Minh Không
nấu cơm bằng cái nồi nhỏ xíu đãi quan quân ăn không hết...
đều được diễn lại. Tại chùa Thần Quang, đúng ngày mồng
ba tháng Sáu, ngày giỗ Minh Không mọi người đem dâng cúng
bánh bìa làm bằng bột nếp và mật mía. Vào hội ngày xuân,
tại chùa này, dân tổ chức nấu cơm, thi đồ xôi và thi làm
bánh. Ðến ngày hội tháng chín thì tổ chức đua thuyền trên
sông để nhắc lại cuộc đời ngư phủ của Minh Không. Chùa
còn thờ cây gậy trúc mà Minh Không đã từng dùng. Trong lễ
rước mùa thu, trên kiệu Minh Không có treo một chiếc túi
gấm tượng trưng cho chiếc túi thần đựng không đồng của
nhà Tống. Ngoài hai chùa Keo, còn có rất nhiều nơi thờ Minh
Không. Những phường thợ đúc đồng còn thờ Minh Không như
một vị tổ của nghề đúc.
Tóm
lại, trong khi về phía trí thức, sự sáng tác của Phật Giáo
nghèo đi thì về phía đại chúng, sức sáng tác vẫn tiếp
tục rào rạt. Truyền thống hát kể hạnh, hát chèo và những
hình thái nghệ thuật khác để tô điểm và duy trì sự tích
của các vị tổ sư, vốn đã bắt đầu từ các đời Lý,
Trần, đã tiếp tục phát triển mạnh trong đời Lê vậy.
QUAN
ÂM THỊ KÍNH
Sự
tích Quan Âm Thị Kính cũng được đem ra hát chèo. Trong tích
Chèo, có nhiều đoạn được hát theo điệu kế hạnh và hát
kệ. Truyện Nôm Quan Âm Thị Kính chưa biết do ai sáng tác
và sáng tác vào thời đại nào. Nhưng so sánh tích chèo Quan
Âm Thị Kính với truyện Quan Âm Thị Kính bằng thơ lục bát
thì ta thấy chèo Quan Âm Thị Kính là một tác phẩm do dân
quê sáng tác và trình diễn, còn truyện thơ Quan Âm Thị Kính
thì lại do một thi sĩ có kiến thức về Nho học và Phật
học sáng tác. Ðiển tích sử dụng trong truyện thơ Quan Âm
Thị Kính làm cho truyện thơ này khó hiểu hơn, và do đó ít
được dân quê mến chuộng bằng tích chèo. Ta có thể nói
rằng tích chèo ra đời trước truyện thơ rất lâu, có thể
đến hàng thế kỷ. Nhưng khi truyện thơ Quan Âm Thị Kính
ra đời, tích chèo Quan Âm Thị Kính lại bị truyện thơ Quan
Âm Thị Kính ảnh hưởng trở lại về phương diện văn chương.
Tích chèo Quan Âm Thị Kính có nhiều bản khác nhau, bởi vì
đây là văn học truyền miệng, lại phải thay đổi thêm bớt
cho thích hợp với những địa phương trình diễn. Một trong
những bản ấy được khắc bằng chữ Nôm hoặc bằng chữ
quốc ngữ thì dều là những bảng viết tay. Vũ Khắc Khoan
có ấn hành một bản bằng quốc ngữ tại Sài Gòn năm 1966:
bản này hình thành do sự góp trí nhớ của nhiều nghệ sĩ
ngành chèo có mặt tại Sài Gòn hồi đó(40)
Nội
dung của tích chèo Quan Âm Thị Kính và truyện thơ Quan Âm
Thị Kính là một. Thị Kính pháp danh Kính Tâm là một trong
những hóa thân của Ðức Quan Thế Â. Cốt chuyện như sau:
Có một chàng trai xuất gia và tinh tiến tu hành liên tiếp
trong chín kiếp. Ðến kiếp thứ mười, tức là kiếp chót
mà chàng thành Phật, chàng thác sinh làm một người con gái
nhà họ Mãng, huyện Hồ Nam, quận Lũng Tài, thành Ðại Bang,
nước Cao Ly. Tên nàng là Thị Kính, có tài, có sắc, và đầy
đủ đức hạnh. Lớn lên, nàng được cha mẹ gả cho chàng
Thiện Sĩ họ Sùng. Thiện Sĩ lo việc đèn sách còn nàng lo
việc nội trợ. Một đêm, trong khi đọc sách, Thiện Sĩ thấy
mệt thì liền ngã lưng xuống ngủ. Thị Kính ngồi may áo
một bên, trông thấy một sợi râu mọc ngược bên cạnh cằm
của chàng, liền cầm dao lên định cắt sợi râu. Không ngờ
trong lúc ấy Thiện Sĩ tỉnh dậy, tưởng là vợ định giết
mình, bèn la lối lên. Thị Kính cố hết sức giãi bày mà
nhà chồng vẫn hết sức ngờ vực; cuối cùng nàng bị đuổi
về nhà cha mẹ. Buồn chán cho tình đời. Thị Kính cải dạng
nam trang, xin đi tu ở một chùa thật xa, tên là chùa Vân với
pháp danh Kính Tâm. Dù ăn mặc nâu sồng, vẻ tuấn tú của
chú tiểu vẫn làm cho trái tim của của các cô gái trong làng
thổn thức, Thị Mầu, con gái của phú ông trong làng, một
hôm đi lễ chùa, thấy Kính Tâm liền đem lòng yêu dấu, tìm
cách quyến rũ. Kính Tâm một mực khước từ. Phẫn chí, cô
con gái nhà phú hộ một đêm kia tư thông với một người
đầy tớ trai rồi chửa hoang. Dân làng bắt khoán về việc
chửa hoang. Khi bị tra hỏi, Thị Mầu đổ oan cho Kính Tâm.
Kính Tâm bị tra khảo, nhưng một mực vẫn không nhận tội.
Vị trú trì chùa Vân thấy vậy xót xa liền xin bảo lãnh Kính
Tâm, chịu nộp phạt mang Kính Tâm về. Ông cho chú ở tạm
ngoài cửa Tam quan chùa vì sợ người trong làng mai mỉa. Thị
Mầu sinh được một trai, không biết mang đi đâu, liền đem
ra đặt ở cửa Tam quan chùa. Kính Tâm bối rối nhưng rồi
quyết định nhận đứa bé. Mỗi ngày chú phải đi xin sữa
nuôi con, mặc cho người trong xóm cười chê. Khi đứa bé lớn
khôn, biết nói, thì sức khỏe chú đã mòn mỏi, chú viết
một bức thư để lại cho cha mẹ, kể hết sự tình và dặn
dò con sau khi mình chết thì trao lại cho sư cụ trú trì. Sau
đó người ta mới biết chú là gái. Trong lúc lập đàn làm
chay cầu cho Kính Tâm siêu độ, thì Phật Thiên Tôn hiện ra
trên mây ngũ sắc truyền cho Kính Tâm thành Phật Quan Âm. Theo
tích chèo thì, sau khi nghe Phật truyền cho Kính Tâm thành Phật
Quan Âm, sư cụ chùa Vân liền hát theo điệu kể hạnh:
“Nay
bà Thị Kính hóa duyên
Nam
mô Phật, độ vô biên hằng hà
Hóa
thân được cả mẹ cha
Kìa
là bạn cũ, nọ là con thơ
Thế
gian trông thấy sờ sờ”.
Ý
của sự cụ là khi Thị Kính chứng quả, nàng có thể độ
luôn được cả mẹ cha, Thiện Sĩ, đứa con thơ và vô biên
hằng sa số người khác. Như vậy nghĩa là tu theo đạo Phật
cũng có thể đền đáp công ơn cha mẹ và giúp đời cứu
người, chữ hiếu, chữ nhân trọn vẹn, và đạo Phật không
trái, chống với nguyên tắc Nho giáo. Ðiểm này trong truyện
thơ được diễn tả dài dòng hơn. Sau khi biết rõ nỗi oan
của Kính Tâm, dân làng bắt Thị Mầu phải để tang và trả
mọi chi phí cho việc tổ chức đám tang, ma chay và chôn cất.
Cha mẹ Thị Kính sau khi nhận được thư, tức tốc tới tìm,
vừa kịp để dự trai đàn. Thiện Sĩ cũng đi theo với họ.
Tất cả đều được trông thấy cảnh đức Phật hiện ra
và truyền cho Kính Tâm thành Phật Quan Âm. Ông bà họ Mãng
và đứa bé cũng được lên tòa sen. Thiện Sĩ cũng được
hóa thành chim vẹt bay hầu một bên tòa sen:
“Ai
hay phép Phật nhiệm mầu
Có
khi nước Trúc ở đâu cũng gần
Giữa
trời một đóa tường vân
Ðức
Thiên Tôn hiện toàn thân xuống đàn
Vần
vần tỏ dạng tường loan
Ðồng
phan, bảo cái giao hoan âm thần
Truyền
cho nào tiểu Kính Tâm
Phi
thăng làm Phật Quan Âm tức thì
Lại
thương đến đứa tiểu nhi
Lên
tay cho đứng liền khi bấy giờ
Kìa
như Thiện Sĩ lờ đờ
Cho
làm chim vẹt đứng nhờ một bên
Ðộ
cho hai khóm xuân huyên
Ra
tay cầm quyết bước lên trên tòa
Siêu
thăng thoát cả một nhà
Từ
đây phúc đẳng hà sa vô cùng”.
Tích
chèo Quan Âm Thị Kính, có mục đích kể lại sự tích của
Quan Âm Thị Kính nhưng vì khán giả chèo đa số là dân chúng
nơi thôn xóm nên rất có tính đại chúng và dân tộc. Những
phong tục, tập quán và lề lối cảm nghĩ phản chiếu rất
trung thành nếp sống của người Việt. Ngoài những lối hát
ru kệ, văn kệ và nói hạnh, tích chèo cón sử dụng nhiều
lối hát và nói khác như hát vỉa, hát cách, hát sa lệch,
hát điêu lão say, hát xắp, hát ba văn, hát ba chan, hát cắm
giá, hát đúm, nói chúc, nói kẻ, nói đếm, nói lệch, nói
lẳng, ngâm thơ, luyện cắm giá, rao, sử, sử xuân, sử rầu,
vv... Những điệu bộ và cử chỉ cũng được cách điệu
háo, nhiều khi trở thành những điệu múa. Ðặc tính hài
hước trong vở chèo rất đậm. Người dân quê cười rất
dễ dàng. Nhưng cái cười có thể trở nên dí dỏm, đôi khi
ác liệt với mục đích chế riễu những thói rởm, tật xấu,
những cường hào ác bá, những kẻ đạo đức giả(41).
Tuy
truyện thơ Quan Âm Thị Kính được sáng tác về sau nhưng
vì sự tích Quan Âm Thị Kính đã được lưu truyền hàng thế
kỷ trước cho nên nhân tiện đây ta cũng xét qua về tác phẩm
này. Truyện thơ Quan Âm Thị Kính hiện chưa biết đã được
sáng tác vào năm nào. Xét lời văn thì có thể tác phẩm này
ra đời giữa thế kỷ thứ mười chín, sau Truyện Kiều ít
lâu.
Có
một câu trong tác phẩm hình như là chịu ảnh hưởng Truyện
Kiều, đó là cầu: “Gia tư thì cũng bậc trung” dùng để
diễn tả gia đình họ Mãng. Ta cũng không biết bản Nôm đầu
tiên được ấn hành vào năm nào. Bản in đầu tiên bằng
chữ quốc ngữ là do bà Phan thị An phiên âm, hiệu đính và
chú thích. Bản này được Nguyễn Văn Vĩnh ấn hành năm 1911.
Bản này có 788 câu lục bát và một lá thư của Kính Tâm
viết cho cha mẹ bằng văn biền ngẫu. Như ta đã biết, tác
giả dùng điển tích hơi nhiều, ví dụ những câu sau đây
nói về Thiện Sĩ:
“Sinh
chàng Thiện Sĩ là trai
Qua
vòng tổng giác, mới ngoài gia quan
Kể
điều tài mạo cũng ngoan
Gã
Tào kiếp trước chàng Phan thân này
Ðã
trồng bạch bích gioành đây
Còn
chờ bói phụng chưa vầy bạn loan
Thư
trung đành có ngọc nhan
Sách
đèn còn mắc buông màn Ðổng Xuyên”
Truyện
thơ Quan Âm Thị Kính như vậy không thể liệt vào loại văn
học dân gian, dù đề tài và nội dung có tính cách đại chúng.
Về phương diện văn chương, truyện thơ Quan Âm Thị Kính
có giá trị hơn những tác phẩm Phạm Công Cúc Hoa và Nam Hải
Quan Âm rất nhiều. Ta thử đọc một vài đoạn sau đây thì
biết; trước là đoạn tả Kính Tâm nhớ nhà lúc mới xuất
gia:
Vâng
lời Lãng cảnh Ngọc Phương
Khêu
đèn Bát Nhã, giống chuông Tam Thiền
Chân
kinh ghi chữ tâm truyền
Chực
tòa Long Nhiễu, vui miền Hổ Khê
Ðòi
cơn tưởng nỗi hương quê
Người
đi ngàn dặm lòng về năm canh
Sự
mình mình ngỏ với mình
Nặng
tình cũng phải nén tình làm khuây
Này
gươm trí huệ mài đây
Bao
nhiêu phiền não cắt ngay cho rồi
Hương
xông pháp giới ngùi ngùi
Thông
nung trống kệ, trúc hồi mõ kinh...
và
sau đây là đoạn tả Kính Tâm lúc bị ở riêng ngoài Tam quan
chùa:
Vâng
lời ra ở thiền môn
Trong
tòa phương trượng dám còn vào ra
Nương
mình bên cụm cúc hoa
Một
hai chồi trúc, đôi ba khóm tùng
Gương
minh nguyệt quạt thanh phong
Cười
cùng thiếu nữ bạn cùng thuyền quyên
Lấy
chi làm chuyện giải phiền?
Quyển
kinh trăm lá, ngọn đèn một hoa
Bạch
vân khuất nẻo xa xa
Song
thân ta đấy là nhà phải không?
Truyện
thơ Quan Âm Thị Kính là một tác phẩm hay, cần được đặt
đúng địa vị của nó trong văn học sử Việt Nam.
QUAN
ÂM NAM HẢI
Nhân
đây ta cũng nên xét qua về tác phẩm Nam Hải Quan Âm mà sự
lưu truyền trong nhân gian cũng sâu rộng không khác chi truyện
tích Quán Âm Thị Kính. Truyện Nam Hải Quan Âm do một vị
tăng thời Nguyên sáng tác, được truyền vào đất Việt vào
khoảng thế kỷ thứ mười bốn hay mười lăm, do đó truyện
đã được truyền tụng trong nhân gian trước truyện Quan Âm
Thị Kính vốn do chính người Việt sáng tác. Bản Nôm cổ
nhất không biết được khắc vào thời đại nào. Bản chữ
quốc ngữ đầu tiên có lẽ của Huỳnh Tịnh Của (1834-1907)
Quan Âm Diễn Ca in vào khoảng năm 1897.
Sự
tích Quan Âm Nam Hải đã được Việt hóa một cách hoàn toàn.
Ðức Quan Âm này, tuy là công chúa thứ ba con vua Diệu Trang
ở nước Hưng Lâm (?) nhưng đã đi tu tại núi Hương Tích
ở Việt Nam và thành Phật tại đây. Cũng như truyện Quan
Âm Thị Kính, truyện Nam Hải Quan Âm chủ trương rằng đi
tu theo đạo Phật vẫn có thể làm tròn chữ hiếu và thực
hiện chữ nhân. Ðiều này cho chúng ta thấy cả hai truyện
đều biểu dương sự tự vệ của Phật Giáo trước sự công
kích của Nho giáo. Vào chuyện, Nam Hải Quan Âm đã viết:
Chân
như đạo Phật rất mầu
Tâm
trung chữ hiếu, niệm đầu chữ nhân
Hiếu
là độ được đấng thân
Nhân
là cứu vớt trầm luân mọi loài
Tinh
thông nghìn mắt nghìn tai
Cũng
rong một điểm linh đài hóa ra
Xem
trong biển nước Nam ta
Phổ
môn có đức Phật bà Quan Âm
Ðức
Quan Âm này vì cư trú trong biển nước Nam ta, nên gọi là
Quan Âm Nam Hải. Quan Âm Nam Hải vố là Diệu Thiện, con gái
thứ ba của Diệu Trang Vương (Subhavyuha). Hai chị Diệu Thiện
là Diệu Thanh và Diệu Âm. Cả ba kiếp trước là con trai nhà
họ Thi, một gia đình có tiếng nhân đức. Như vậy Quan Âm
Nam Hải cũng như Quan Âm Thị Kính đều do nam nhân đầu thai
thành nữ nhân. Ðiều này rất đáng chú ý. Bồ Tát Quan Thế
Âm được mô tả trong phẩm Phổ Môn kinh Pháp Hoa là một
nam nhân, sang Tây Tạng, Trung Hoa và Việt Nam, Quan Âm biến
thành nữ nhân thân, trong lúc đó Phật tử các nước này
vẫn tụng đọc kinh Pháp Hoa mà không thấy có sự mâu thuẫn.
Lý do kinh Pháp Hoa có nói: “Nếu cần hiện ra thân gì mà
cứu độ thì quan Âm hiện ra thân đó, như thân Quốc vương,
Tể tướng, thân nhi đồng, thân phụ nữ v.v...” Cho nên bất
cứ ở đâu xuất hiện một con người với lòng từ bi rộng
lớn là ở đó người ta cho là đức Quan Âm hiện thân. Danh
từ Quan Thế Âm (Avalokites’vara) có nghĩa là người lắng
nghe tiếng kêu của cuộc đời. Lắng nghe để tìm tới cứu
giúp. Hai công chúa Diệu Thanh và Diêu Âm đều vâng lời vua
Diệu Trang đi lấy chồng. Nhưng công chúa Diệu Thiện, sau
này là đức Quan Âm chùa Hương Tích, không muốn lập gia đình,
chỉ muốn xuất gia tu đạo.
Vua
tức giận truyền giam công chúa ngoài vườn. Hai chị và hoàng
hậu trốn ra thăm, khuyên nhủ nàng nên vâng lời vua cha, nàng
vẫn cương quyết đòi đi tu. Vua cha liền bày kế, cho công
chúa đến tu tại một ngôi chùa lớn nhưng mật lệnh cho vị
trụ trì bắt công chúa làm việc sớm khuya rất nặng nhọc
để cho công chúa thối tâm về nhà. Nhưng Diệu Thiện không
nản chí: ngày đêm ni cô này không ngớt tọa thiền niệm
Phật, gánh nước, nhặt rau, nấu cơm, làm mọi việc trong
chùa, làm công việc của hàng chục người. Chim tới nhặt
rau, rồng tới lấy nước giúp Diệu Thiện(42). Nhiều tuần
lễ trôi qua, thấy Diệu Thiện không bỏ chùa đi về, vua nghi
là các vị tăng ở chùa không tuân lệnh vua mà đọa đày
công chúa, liền xuống lệnh đốt chùa. Diệu Thiện tự trách
mình là nguyên do khiến tu viện bị đốt, liền cắn ngón
tay ngửa mặt lên trời mà cầu nguyện. Rồng xuống phun nước
dập tắt lửa. Vua xuống lệnh đem Diệu Thiện ra xử chém.
Nhưng lưỡi gươm đao phủ gã đôi khi chạm tới cổ Diệu
Thiện. Ðột nhiên trời tối sầm xuống, sấm chớp nổi lên,
và một con mãnh hổ nhảy vào, mang Diệu Thiện đi mất.
Mãnh
hổ mang Diệu Thiện lên núi, đặt ni cô nằm xuống rồi bỏ
đi. Diệu Thiện thiêm thiếp: Hồn ni cô xuống âm phủ, đi
qua mười tám cửa ngục tù, chứng kiến không biết bao nhiêu
cảnh trừng phạt đau đớn dưới địa ngục của những người
đã từng tạo ác nghiệp lúc còn sống trên dương gian. Diệu
Thiện nghĩ rằng mình bị vua cha xử tử, đã chết, cho nên
bây giờ linh hồn đi xuống địa ngục. Người sứ giả của
Diêm Vương nói: Không phải, nàng đang còn sống.
Chính
Thập Ðiện Minh Vương rước ni cô xuống thăm địa ngục
cho biết mà thôi. Ðoạn văn tả địa ngục là một đoạn
văn có tác dụng giáo dục quần chúng rất lớn(43). Ðây là
ngục xe lửa và ngục cột đồng để trừng phạt những viên
chức hại dân:
Xe
lửa là ngục hỏa xa
Quay
đi quay lại thịt da tan tành
Bởi
vì cậy thế cậy thần
Hiếp
kẻ cô quả, cướp tranh ruộng vườn
Cột
đồng là ngục đốt than
Mấy
tay chức dịch tham tàn phải ôm.
Ðây
là ngục kéo lưỡi, trừng phạt những người ăn nói đảo
điên:
Kìa
ngục bạt thiệt lạ sao
Cầm
kìm lôi lưỡi máu đào mà kinh
Bởi
vì miệng lưỡi co quanh
Ðảo
điên đơm đặt làm khuynh hãm người
Chứng
kiến tất cả những khổ đau đó, Diệu Thiện rất đau xót.
Ni cô liền nhất tâm trì chú, niệm Phật và do công đức
từ bi ấy, cảnh giới địa ngục liền thay đổi. Diêm Vương
ban lệnh ân xá tất cả những tội nhân trong mười tám cửa
ngục. Hồn Diệu Thiện trở về dương gian, nhập vào xác
trở lại. Ðang phân vân chưa biết đi về hướng nào thì
Phật tổ Như Lai hóa thân thành một chàng trai tuấn tú, tới
gần để thử bà lần nữa về chuyện kết nghĩa trăm năm.
Khi thấy tâm nguyện vững chắc, Phật liền chỉ đường cho
bà về Hương Tích:
Ðức
Phật mới chỉ đường tu
Rằng
có một chùa tại Hương Tích sơn
Gần
bể Nam Việt thanh nhàn
Sang
tu chốn ấy sẽ toan viên thành.
Diệu
Thiện vâng lời Phật dạy, sang Nam Việt vào núi Hương Tích
mà tu:
Núi
cao ngân ngất mịt mù
Am
thanh cảnh vắng bốn mùa cỏ cây
Trên
thì năm sắc từng mây
Dưới
thì bể nước trong rầy như gương
Cá
chim chầu lại tĩnh đường
Hạc
thường hiến quả, hươu thường dâng hoa.
Sau
nhiều năm tu đạo, bà thành Phật Quan Âm, ngồi trên tòa sen
báu:
Thần
thông biến hóa tự nhiên
Một
thân hóa được ra nghìn muôn thân
Mắt
trông khắp hết cõi trần
Lắng
tai nghe thấu xa gần bốn bên.
Bốn
câu trên nhằm diễn tả hạnh nguyện báo thân của Quan Thế
Âm ra muôn ngàn thân để hóa độ trong ngàn muôn trường hợp
khác nhau, và cũng diễn tả khả năng nhận thức (mắt và
tai) của vị bồ tát này. Vì nhận thức và hành động có
trăm ngàn mặt cho nên Ðức Quan Âm mới được diễn tả như
người có ngàn tay ngàn mắt, tay là hành động và mắt là
nhận thức:
Tinh
thông nghìn mắt nghìn tay
Cũng
trong một điểm linh đài hóa ra.
Phật
Quan Âm Hương Tích có hai đệ tử nhỏ: Thiện Tài, em bé trai
mồ côi từ nhỏ xin theo bà, và Long Nữ, em bé gái con của
Long Vương đội lốt Lý Ngư mắc nạn, được bà cứu, trả
về Thủy Ðình, sau trở lại xin theo bà để tu hành. Sau này
vua Diệu Trang bị bệnh nan y. Vua yết bảng cầu lương y, hứa
rằng ai chữa lành cho vua thfi sẽ được trao ngôi báu. Không
có ông thầy thuốc nào chữa được,. Cuối cùng, Diệu Thiện,
bây giờ Quan Âm, biến hình thành một lương y, giật bảng
yết, đòi vào cứu vua. Xem mạch xong, lương y nói: Bệnh này
không thể chữa khỏi được nếu không xin được một mắt
một tay của vị tiên nữ trên núi Hương Tích, và cam quyết
rằng nếu vua cho người tới xin, tiên nữ sẽ sẵn sàng bố
thí. Vua giữ lương y lại cho người đi qua Ðại Việt, lên
chùa Hương Tích, xin được một tay một mắt của tiên nữ
đem về. Nhưng bệnh chỉ thuyên giảm có một nữa thân hình.
Lương y nói phải đi xin nốt con mắt và cánh tay còn lại
của tiên nữ. Vai cũng thấy như vậy là quá đáng. Nhưng lương
y nói vị bồ tát xả thân cứu người nên thế nào lên xin
cũng được toại nguyện. Kết quả là tiên nữ bố thí con
mắt và cánh tay còn lại; vua khỏi bệnh, định làm lễ truyền
ngôi cho lương y, nhưng chưa thi hành được ý định thì vị
lương y đã bỏ đi mất.
Sau
khi bình phục, vua và hoàng hậu lên đường đi Ðại Việt
tìm tới núi Hương Tích để tạ ơn tiên nữ. Trong khi hoàng
gia đang trên đường tới núi Hương Tích, tại kinh đô Hưng
Lâm có cuộc đảo chính. Phật bà Hương Tích dùng thần thông
thấy được nên sai hai đệ tử đem pháp thuật sang giải
cứu cho tình thế, đồng thời cứu thoát Diệu Thanh và Diệu
Âm. Hai người này từ khi bị giam, liền giác ngộ và bắt
đầu tu hành, niệm Phật ngồi thiền ngay trong ngục tối.
Hai công chúa được cứu liền theo tháp tùng phái đoàn hoàng
gia.
Vượt
bao nhiêu núi non hiểm trở, phái đoàn tới được núi Hương
Tích. Cảnh tượng trang nghiêm u nhã. Vào được động ngoài,
vua, hoàng hậu và các công chúa chờ đợi để được tiếp
kiến tiên nữ. Vua Diệu Trang lên tiếng nhưng từ phía động
trong không có tiếng trả lời. Vua nghĩ mình là đàn ông, không
tiện bước vào động trong, nên yêu cầu hoàng hậu và hai
công chúa bước vào trước để làm lễ tiên nữ. Lúc đó
Phật bà hiện thân làm công chúa Diệu Thiện, đứng thẳng
giữa động, hai mắt bị móc, hai tay bị cắt, máu chảy ròng
ròng. Nhận ra con gái mình trong hóa thân ấy, hoàng hậu khóc
và ngã ra bất tỉnh. Tiếp đến là cuộc đối thoại giữa
Diệu Thiện và cha mẹ, Diệu Thiện nói rằng mình đã móc
mắt và cắt tay để cứu cha, nhưng nếu cha mẹ phát nguyện
bỏ ác làm lành, tu hành theo đạo Phật thì bà sẽ có mắt
và có tay nguyên lành trở lại. Vua và hoàng hậu phát nguyện.
Lập tức tay và mắt của Phật bà trở lại y nguyên như cũ.
Cả nhà ở lại tu hành tại chùa Hương Tích. Sau đó Diệu
Thanh được thành Văn Thù Bồ Tát, cưỡi con sư tử xanh, và
Diệu Âm trở thành Phổ Hiền Bồ Tát, cưỡi con voi trắng.
Cốt
truyện Nam Hải Quan Âm của Trung Hoa ngắn hơn nhiều. Theo cốt
truyện này, sau khi bị vua ra lệnh chém đầu, lưỡi gươm
ấy gãy đôi, Diệu Thiện xuống thăm địa phủ, sự có mặt
của bà khiến cho mọi đau khổ ở đây chấm dứt. Diêm Vương
phải đưa bà về trần. Bà được một đóa sen chở về núi
Phổ Ðà, nơi bà ngự trị. Ðoạn kết của truyện Nam Hải
Quan Âm của ta nói rằng núi Phổ Ðà chỉ là nơi báo thân
(sambhogakaya) của Phật; Quan Âm ngòi núi Hương Tích Việt Nam
là nơi ứng thân (Dharmakaya) của Ngài xuất hiện. Còn Pháp
thân (Dharmakaya) của Ngài thì đồng một thể tính với Phật
thân:
Phật
bà phép chí vô biên
Một
thân hóa mấy mươi ngàn muôn thân
Vốn
là bồ tát thiên chân
Thác
sinh công chúa nhất tâm tu hành
Trên
thời hiếu, báo sinh thành
Dười
thời nhân, cứu chúng sinh ta bà
Cơ
thần ngồi núi Phổ Ðà
Thân
lên trên Phật, thân qua dưới đời(44)
Thần
thông nghìn mắt nghìn tay
Phổ
Môn biến để độ người ngu mông.
Cốt
truyện Việt Nam có thêm nhiều đoạn hay và những đoạn nói
về sự cứu nhân, báo hiếu, là những đoạn cần thiết để
bênh vực cho đạo Phật sống chung hòa hợp với đạo Nho
vậy. Ðoạn kết cho biết rằng nếu niệm đức Quan Thế Âm
mà không lo sửa mình, làm lành và lánh dữ thì hiệu quả
của sự niệm Phật không có được bao lăm:
Cho
nên Phật hiện từ bi
Ai
hay khấn đến, ngài thì độ cho
Chỉ
vì kẻ tục ô đồ
Dữ
nhiều lành ít, chẳng lo sửa mình
Cho
nên niệm Phật tụng kinh
Ngài
tuy có giáng, phước lành chẳng bao!
Ai
hay tín kính trông vào
Giữ
nhân giữ hiếu chẳng nao tấm lòng
Dầu
khi có chút ngại ngùng
Khẩn
cầu Ngài hẳn ứng trong khẩn cầu...
Truyện
thơ Quan Âm Thị Kính không có khuynh hướng trộn lẫn Phật
Giáo với Nho và Lão giáo, trong khi truyện thơ Nam Hải Quan
Âm cho ta thấy Diệu Thiện tu cả về phép Phật, phép tiên,
và khi thành Phật, được Ngọc Hoàng Thượng Ðế sắc phong.
Vị Bồ tát trên núi Hương Tích cho mắt cho tay để vua Diệu
Trang luyện thuốc được vị lương y mô tả nưh một đấng
tu tiên. Tu tiên thì lại biết cả làm thuốc. Ðoạn sau đây
cho thấy Diệu Thiện tu cả phép Phật lẫn phép tiên và sau
khi thành đạo, chư Phật và chư tiên đều phải đến và
công nhận sự thành đạo của bà:
Tu
hành đã được mấy niên
Bao
nhiêu phép Phật, phép tiên vào lòng
Bây
giờ tam phủ Công đồng
Hộ
thành quả phúc phán trong lệnh truyền
Chư
Phật học bồ tát dưới trên
Thiên
tinh thần tướng, thiên thiên vàn vàn
Ðông
Huyên, Hải Nhạc, Linh Quang
Ngũ
linh thần tướng, Thành hoàng, Xã ty
Ðều
ra tới trước lạy quỳ
Xin
tôn đức chúa(45) lên vì tòa sen.
Ngọc
Hoàng Thượng Ðế sắc phong cho bà như sau: “Thượng Ðế
sắc phong: Ðại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Nam mô Linh
Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát, tứ dữ liên hoa bảo tọa, nhất
phó vĩnh tác Nam Hải đà nham đạo tràng chi chủ”.
Nghĩa
là “Thượng đế sắc phong: Ðại từ đại bi cứu khổ cứu
nạn Nam mô Linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát, ban cho một đóa
sen báu làm chỗ ngồi, và giao cho làm chủ tọa vĩnh viễn
đạo tràng núi Nam Hải”
Sự
trộn pha Phật Lão và dấu tích nỗ lực hòa đồng với Nho
giáo khiến ta có cảm tưởng sự tích Nam Hải Quan Âm được
hình thành vào hậu bán thế kỷ thứ mười sáu, thời gian
xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
TÍNH
CÁCH DÂN TỘC CỦA QUAN ÂM THỊ KÍNH VÀ QUAN ÂM NAM HẢI
Hai
đức Quan Âm Thị Kính và Quan Âm Nam Hải chiếm một địa
vị khá quan trọng trong đức tin của người dân quê Việt
Nam. Thị Kính là hình ảnh của một lòng tha thứ bao la và
một đức tánh nhẫn nhục không bến bờ; còn Diệu Thiện
là hình ảnh của một ý chí kim cương, một tình thương rộng
lớn, bao trùm cả gia đình và nhân loại và cả những linh
hồn đang chịu khổ đau ở cõi âm nữa.
Tác
dụng giáo dục của hai tác phẩm đều rất quan trọng. Ðứng
về phương diện tư tưởng, tuy đề tài có tính cách đại
chúng, những truyện này cũng chuyên chở được tư tưởng
tam thân, trình bày Quan Âm nưh những hóa thân của Phật xuất
hiện trong đời để thực hiện lý tưởng từ bi cứu khổ.
Cả
hai truyện tích đều đã được trui luyện qua trí tưởng
của người dân quê nên đều mang tính cách dân tộc một
cách đậm đà. Hình bóng Quan Âm Thị Kính và Quan Âm Nam Hải
đều là những hình bóng rất quen thuộc của người dân Việt.
Hiếu thuận, thương người, nhẫn nhục, tha thứ, những đức
tính mà người Việt thương mến đã được phát triển đến
mức độ cao cả nhất ở hai nhân vật phụ nữ ấy.
--------------------------------------------------------------------------------
(22)
Hát kệ là hát những bài kệ (hoặc những bài thơ) của các
thiền sư để lại.
(23)
Văn Học Dân Gian, tập I, Nhà xuất bản Ðại Học và Trung
Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1972, tr,.228
(*)
Thực ra Thiền tông truyền tâm (chứ không phải tông) chỉ
nam quốc ngữ hành chỉ là một cách gọi khác của bài Thiền
tông bản hạnh mà thôi. Cách gọi này thấy in trong bản khắc
(mộc bản) năm Bỏa Ðại thứ bảy (1932), Nguyên văn: An Tử
Sơn Trúc Lâm Trần Triều Thiền Tông truyền tâm quốc ngữ
hành. Hai ông Ðinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên đã lược bớt
phần đầu và in sai một chữ, đồng thời cho rằng đây là
bài hát kệ còn giữ được từ đời Trần; nhưng có phần
chắc đây là sáng tác của Thiền sư Chân Nguyên thế kỷ
XVII đúng như ý kiến ông Nguyễn Lang (N.H.C)
(24)
Từ Ðạo Hạnh họ Từ tên Lộ, con của Từ Vinh, làm chức
tăng quan đô sát dưới triều Lý
(25)
Làng An Lãng là sinh quán của Từ Ðạo Hạnh
(26)
Tức chùa Thầy ở Quốc Oai tỉnh Sơn Tây
(27)
Lý Tế Xuyên, giữ chức trung phẩm phụng ngự, trông coi Ðại
Tạng Kinh. Ông viết Việt Ðiện U Linh Tập vào năm 1329
(28)
Tức Không Lộ thiền sư, phái Vô Ngôn Thông, mất năm 1141.
(29)
Chùa Thần Quang tức là chùa Keo, làng Dũng Nghĩa, tỉnh Thái
Bình. Chùa Hành Thiện, cũng được gọi là chùa Keo, nhưng
lại ở Xuân Trường, Nam Hà.
(30)
Chi tiết này cũng nói trong sách Lĩnh Nam Chích Quái, nhưng không
có trong sách Thuyền Uyển Tập Anh
(31)
Chi tiết này chỉ Việt Ðiện U Linh chép, không có trong Thuyền
Uyển Tập Anh và Lĩnh Nam Chích Quái.
(32)
Có lẽ là Miến Ðiện
(33)
Tất cả đoạn này, nói về việc ba người gặp ông già chở
sang Tây Trúc bằng đường thủy và bà già dạy pháp thuật,
đều không nằm trong Thuyền Uyển Tập Anh và Lĩnh Nam Chích
Quái
(34)
Ðoạn nói về Giác Hoàng, Sách Việt Ðiện U Linh không chép
(35)
Chi tiết “đi vào núi mà tịch” không có trong Thiền Uyển
Tập Anh. Chi tiết về ngày mồng bảy tháng Ba chỉ có trong
sách Việt Ðiện U Linh Tập
(36)
Sách Lĩnh Nam Chích Quái lắm khi cho Minh Không và Không Lộ
là hai nhân vật khác nhau. Thiền sư Không Lộ, theo Thuyền
Uyển Tập Anh họ Nguyễn chứ không phải họ Dương.
(37)
Chi tiết về Tứ Ðại Khí cùng bài kệ chỉ thấy chép trong
Thuyền Uyển Tập Anh
(38)
Chuyện nồi cơm đãi sứ giả và chuyện làm phép cho thuyền
đi nhanh chỉ thấy chép trong Việt Ðiện U Linh Tập.
(39)
Chuyện chảo dầu và những cây đinh, Lĩnh Nam Chích Quái không
nói tới
(40)
Vở chèo Quan Âm Thị Kính, Vũ Khắc Khoan giới thiệu, nhà
xuất bản Ðào Tấn, Sài Gòn, 1966
(41)
Vũ Khắc Khoan, Vở chèoQuan Âm Thị Kính, Sài Gòn, 1966
(42)
Tranh dân gian diễn tả những hình ảnh này còn giữ được
lại tới ngày nay.
(43)
Một tác phẩm sân khấu bình dân đã ra đời nói về chuyến
du hành của Quan Âm dưói Âm phủ, đó là vở Quan Âm du hành
đại phủ. Năm 1935, Tú Tòng Khê có hợp tác với nhà in Xưa
Nay ở Sài Gòn để xuất bản bằng quốc ngữ vỡ tuống này.
Năm 1934, nhà in Bảo Tồn ở Sài Gòn cũng có in Quan Âm du hành
địa phủ, nhưng đây lại là những bài hát vọng cổ.
(44)
Trong truyện Quan Âm Thị Kính có những câu sau đây cũng nói
về Tam Thân của Phật:
Hóa
thân thì mượn chân thân
Siêu
thân thì lượm tinh thần đem đi.
(45)
Diệu Thiện được gọi là Chúa Ba, công chúa thứ ba