CHƯƠNG
XVIII
ÐẠO
PHẬT TRONG ÐỜI NHO HỌC ÐỘC TÔN
SỰ
SUY YẾU CỦA ÐẠO PHẬT VỀ PHƯƠNG DIỆN LÃNH ÐẠO TRÍ THỨC
Cuối
thế kỷ XIV, chúng ta đã đặt vấn đề tại sao Phật Giáo
bắt đầu suy đồi vào giữa thế khỷ thứ mười bốn. Suy
đồi ở đây không có nghĩa là sự giảm thiểu số lượng
tự viện và tăng sĩ. Số lượng tự viện và tăng sĩ trong
thời đại mà ta gọi là suy đồi vẫn tiếp tục lớn lên.
Suy đồi đây cũng không có nghĩa là mất ảnh hưởng trong
quần chúng. Cuối đời Trần và trong suốt đời Lê nữa,
những chiếc rễ đạo Phật vẫn càng ngày càng ăn sâu thêm
trong nếp sống tình cảm và tín ngưỡng của giới đại chúng
bình dân. Suy đồi ở đây có nghĩa là đánh mất vai trò lãnh
đạo trí thức, văn hóa và chính trị. Thực vậy, trong suốt
một thời gian hơn hai trăm năm, từ khi nhà Trần bắt đầu
suy đồi, đạo Phật không còn chỉ đạo được đường hướng
văn hóa và chính trị nữa. Giới trí thức hướng về đạo
Nho như phương châm cứu nước và dựng nước. Những vị
cao tăng ẩn dật không liên hệ gì tới giới chính trị và
văn hóa, nhưng một phần vì họ không có sáng tác để lại
và một phần vì lửa binh thiêu đốt sử liệu cho nên ta không
được biết nhiều tới họ. Về thế kỷ thứ mười lăm,
ta chỉ nghe nói tới một tác giả Phật Giáo: đó là Lương
Thế Vinh, người viết cuốn Thiền Môn Khoa Giáo và đề tựa
cho sách Nam Tông Tự Pháp Ðồ. Về thế kỷ thứ mười sáu,
ta chỉ nghe nói đến thiền sư Chân Nghiêm, người san khắc
Thánh Ðăng Lục. Sau đây ta thử đi tìm những nguyên nhân
đưa đến sự suy đồi của Phật Giáo về những phương diện
kể trên.
THỊNH
QUÁ HÓA SUY
Trước
hết, có lẽ ta phải nói nguyên nhân thứ nhất của sự suy
đồi là sự thịnh đạt. Thực vậy, Phật Giáo trong đời
Pháp Loa đã đi tới mức thịnh đạt có thể nói là cao nhất
trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Một phong trào khi dã lên
chỗ cao nhất thì bắt đầu đi xuống. Trong sự thịnh đạt
đã ẩn chứa sự tàn lụi. Khi đạo Phật được vua chúa
quý trọng thì các nhà quyền quý và trăm họ đều hướng
vào. Chùa chiền càng nhiều thì nếp sống thanh quy càng khó
có thể bảo đảm được. Tăng chúng càn đông thì càng có
nhiều phần tử bất hảo làm hại thanh danh tăng đoàn, sự
kính trọng càng nhiều thì niềm kiêu hãnh càng thêm cao. Sự
cúng dường càng hậu thì sự ỷ lại càng tăng. Suy đồi
là do ở chỗ đó. chúng ta thử xét về số lượng tăng chúng.
Trong thời thịnh đạt của Phật Giáo Trúc Lâm, được xuất
gia làm một phần tử trong tăng đoàn là một vinh hạnh không
nhỏ. Tăng sĩ có độ điệp của Giáo Hội, đi đâu cũng được;
nơi cư trú cho đến việc học Phật và tu Phật của người
tăng sĩ đều được nhiều tổ chức lo lắng chu toàn. Cũng
vì số tăng sĩ đông quá nên đệ nhị tổ Pháp Loa phải thực
hành việc kiểm tra tự viện và là sổ tăng tịch. Tam Tổ
Thực Lục cho biết là số người xin xuất gia đông quá, khiến
cho Pháp Loa phải giới hạn việc tổ chức giới đàn; ba năm
mới tổ chức một lần và phải loại ra hàng ngàn thí sinh.
Tuy vậy, hàng ngàn người mỗi năm vẫn được xuất gia ở
các chùa miền quê, tại những giới đàn nhỏ do Phật Giáo
địa phương tổ chức. Họ không có độ điệp, nhưng họ
vẫn có thể cư trú và tu hành ở các chùa quê. Giáo hội
Trúc Lâm thấy người xuất gia quá đông mà thiếu học cho
nên mới in sách Giáo Khoa PhậtHọc, Giới Bản Tứ Phần Luật
và tổ chức các lớp học kinh và luật tại nhiều chùa lớn
của Giáo Hội.
Ðến
cuối thế kỷ thứ mười bốn, Giáo Hội bắt đầu không
còn kiểm soát được tăng sĩ nữa. Năm 1396, vau Thuận Tông
xuống chiếu thải bớt tăng sĩ dưới năm mươi tuổi. Ta không
biết rõ đây là một hành động của Thuận Tông nhằm ngăn
chặn sự lạm dụng đạo Phật hay là một quyết định của
Hồ Quý Ly muốn làm giảm tiềm lực của đạo Phật. Trước
đó mấy năm, vào năm 1389, có một cuộc bạo động do một
vị tăng sĩ pháp hiệu là Thiên Nhiên, tên tục là Phạm Sư
Ôn cầm đầu chống lại chính quyền lúc bấy giờ đã nằm
trọn trong tay Hồ Quý Ly. (có thể đây là một phong trào muốn
dành lại quyền bính thực thụ cho vua Trần và chấm dứt
sự hộng hành của Quý Ly. Phạm Sư Ôn đã sử dụng được
tiềm lực của Phật Giáo và quân đội, ông đã từng chiếm
được thủ đô Thăng Long. Hành động của Phạm Sư Ôn xảy
ra một năm sau khi mưu kế loại trừ Hồ Quý Ly trong triều
đình bị tiết lộ và rất đông các quan trong triều bị giết
hại).
Ðại
Việt Sử Ký Toàn Thư chép rằng năm 1429, tất cả các tăng
sĩ Phật Giáo và đạo sĩ Lão giáo đều phải đến trình
diện ngày 20 tháng 10 để kiểm xét khảo thí. Ai thi đậu
thì cho làm tăng sĩ và đạo sĩ, còn ai thi hỏng thì bắt hoàn
tục. Ðây là hành động đầu tiên của chính quyền Nho giáo
để kiểm soát Phật Giáo và Lão giáo. Hành động này đã
có thể loại ra một số người lợi dụng hai đạo Phật
Lão. Nhưng sự thi cử này đã được tổ chức theo lối khảo
hạch từ chương của Nho giáo, nước người hay chữ thì được
công nhận là tu hành chân chính, còn những người khác, dù
mộ đạo và tâm thành đến mấy mà không diễn tả được
đức tin và kiến thức của mình bằng văn chương thì cho
là không phải tu hành chân chính. Ðiều này, khi áp dụng với
đạo Phật, nhất là Phật Giáo thiền, là một sự ép uổng.
Chúng
ta hãy xét thêm về việc xây cất tự viện. Trong đời Trần,
các vua làm chùa, các quan làm chùa, dân chúng cũng thi nhau làm
chùa. Còn việc đúc tượng nữa: riêng Pháp Loa đã cho đúc
tới 1.300 tượng Phật bằng đồng lớn nhỏ. Vua Anh Tông,
nhân ngày lên là Thái thượng hoàng, cho đúc tượng A Di Ðà,
Thích Ca và Di Lặc, mỗi tượng cao 17 thước ta. Chùa Báo Ân
có rất nhiều ruộng. Năm 1308, vua Anh Tông lấy 100 mẫu ruộng
của gia đình Trần cúng vào chùa Báo Ân. Năm 1312, vua lại
lấy thêm 500 mẫu ruộng của Niệm Như Trang để cúng cho chùa.
Chùa Siêu Loại cũng có nhiều ruộng. Năm 1313, Bảo Từ hoàng
thái hậu cúng vào chùa 300 mẫu ruộng nhà... Nhiều ruộng
nhất là chùa Quỳnh Lâm: chùa này có tới trên 1.000 mẫu ruộng
và nuôi đến một ngàn người để canh tác. Các chùa Báo
Ân, Siêu Loại và Quỳnh Lâm là những cơ sở lớn của Phật
Giáo Trúc Lâm; cố nhiên bất động sản của những chùa ấy
là để nuôi tăng sĩ và làm Phật sự. Tuy vậy sự ủng hộ
quá mức đó đã rất có hại cho Giáo Hội. Các nho thần trong
triều đình thấy sự ủng hộ quá mức đó không khỏi không
tức bực, nhất là khi thấy nước têï đoan bắt đầu xuất
hiện trong hàng tăng sĩ vì lý do tăng sĩ quá đông không kiểm
soát hết được. Ý của các nho thần như Lê Bá Quát là thay
vì làm thêm chùa, đúc thêm tượng thì nên để tiền xây
văn miếu và nhà học.
CHIẾN
TRANH CHIÊM VIỆT
Trong
thời gian chiến tranh, bắt đầu từ hồi chiến tranh với
Chiêm Thành, công việc kiểm soát tự viện và tăng sĩ hoàn
toàn không còn có hiệu lực nữa. Chiến tranh, loạn lạc và
sự đói kém đã khiến cho hàng ngàn người cạo đầu vào
chùa, hoặc để trốn lính, hoặc vì thất nghiệp. Thiếu người
sản xuất, thiếu người đánh giặc, năm 1381, vau Trần Phế
Ðế cho đi bắt những tăng sĩ ở miền quê, nhất là những
vị không có độ điệp, sung vào quân đội để đi đánh
Chiêm Thành. Sử chép Ðại Than thiền sư được chỉ định
trong việc động viên này, và “đốc suất” việc động
viên chư tăng đi đắnh giặc. Một thiền sư, nhất là khi
vị thiền sư này lại là quốc sư, chỉ huy quân lính đánh
giặc là một chuyện phi lý(9). Có lẽ Ðại Than thiền sư
đã được chỉ định để kiểm điểm những ai là tăng sĩ
thật, và những ai vì trốn lính hoặc vì nghèo đói mà đi
xuất gia. Những người sau này có lẽ được trao trả lại
cho chính quyền để sung vào quân đội.
Trong
bất cứ thời đại chiến tranh nào, việc cạo đầu vào chùa
vì trốn lính và vì thất nghiệp cũng đã xảy ra. Nguyên nhân
của cuộc chiến tranh với Chiêm Thành là do Ðại Việt gây
ra, với trách nhiệm lớn lao của Ðoàn Nhữ Hài và Ðỗ Tứ
Bình(10). Cuộc chiến tranh này đi ngược lại ý muốn của
Ðiều Ngự Trúc Lâm; Trúc Lâm vì muốn hòa bình được bền
chặt đã du hành sang chiêm và đã gã công chúa Huyền Trân
cho vua Chiêm. Cuộc chiến tranh đã làm hao tổn tiềm lực của
Ðại Việt, đưa nhà Trần tới chỗ suy vong. Sự ủng hộ
của các vua Trần đã là một trong những nguyên nhân cho sự
thịnh đạt của Phật Giáo. Một chiến tranh Chiêm Việt, nhà
cầm quyền không đủ sức để củng cố địa vị mình, lấy
khả năng đâu mà tiếp tục ủng hộ Phật Giáo? Chiến tranh
Chiêm Việt và sự rối loạn trong triều đình nhà Trần cũng
là một nguyên nhân cho sự suy đồi của Phật Giáo Trúc Lâm
vậy.
TINH
THẦN ÐỘC TÔN THAY THẾ TINH THẦN DUNG HỢP
Sự
ghét bỏ và chỉ trích Phật Giáo của các nho thần như Lê
Quát và Trương Hán Siêu không phải là nguyên nhân làm cho
Phật Giáo suy đồi. Chính sự chạy theo một nền văn hóa
mới mà không thấy được giá trị của nền văn hóa truyền
thống dân tộc mới là nguyên nhân chính của sự suy đồi
của Phật Giáo. Nền văn hóa mới này được xây dựng trên
một thái độ giáo điều và trên một quan điểm chật hẹp
về chân lý: đó là cái học Tống Nho, tự cho mình là độc
tôn và cho là sai lầm tất cả những lối nhìn khác về nhân
sinh và về vũ trụ. Từ giữa thế kỷ thứ mười ba, Trung
Hoa đã không mấy bằng lòng khi thấy Ðại Việt phát triển
một nền văn hóa độc lập. Năm 1261, vua Nguyên là Hốt Tất
Liệt đã sai lễ bộ lang trung là Mạnh Giáp và viên ngoại
làng là Lý Văn Tuấn mang thư sang dụ triều đình Ðại Việt
nên theo văn hóa Trung Quốc, đừng thay đổi phong tục, lẽ
nhạc và phẩm phục(11). Các nho sinh được tuyển chọn vào
phụng sự quốc gia thường có khuynh hướng Bắc hóa, muốn
thay đổi pháp độ cho giống Trung Quốc. Phép thi cử, phép
đặt hàm quan lại, Tết nhất v.v... dưới ảnh hưởng của
các nho thần, dần dần bị ảnh hưởng Trung Quốc. Vua Minh
Tông không chịu nghe lời các nho thần Phạm Sư Mạnh và Lê
Quát mà thay đổi pháp độ. Sau khi thấy pháp độ đã bị
Bắc hóa ít nhiều, vua Nghệ Tông rất muốn trở truyền thống
và pháp độ của các vị vua đầu. Vua nói: “Triều trước
dựng nước, tự có pháp độ, không theo chế độ nhà Tống,
là vì Nam Bắc đều làm chủ nước mình, không cần bắt chước
theo nhau. Vào khoảng năm Ðại Trị(12), kẻ học trò mặt trắng
được dùng, không hiểu ý nghĩa sâu xa của sự lập pháp,
đem phép cũ của tổ tông thay đổi theo tục của phương Bắc
cả, như về y phục, nhạc chương không kể hết”. Và vua
ra lệnh đổi pháp độ lại giống như đời vua Minh Tông.
Trong
thời gian nhà Minh đô hộ, vào đầu thế kỷ thứ mười lăm,
chính sách đồng hóa Ðại Việt với Trung Quốc được thi
hành triệt để. Nhà Minh không muốn Ðại Việt có một nền
văn hóa độc lập, bởi vì độc lập văn hóa sẽ dẫn tới
độc lập chính trị. Nhà Minh bắt Ðại Việt theo phong tục
lễ nghi Trung Quốc. Tướng nhà Minh là Trương Phụ cho thu lượm
hết các trước tác cũ mới của Ðại Việt chở về Kim Lăng.
Sợ những sách này còn sót lại, năm 1418 lại cho hai nhà trí
thức nhà Minh là Hạ Thanh và Hạ Thì sang Ðại Việt để
thu lượm cho kỳ hết những tác phẩm Ðại Việt. Ðại Tạng
Kinh thực hiện và ấn loát nhiều lần dưới triều Trần,
mỗi lần in hàng ngàn cuốn, vậy mà ngày nay sách Thiền Tông
Chỉ Nam, Bình Ðẳng Sám Hối Khoa Văn của Trần Thái Tông,
Thạch Thất Mỵ Ngữ, Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Ðại
Hương Hải Ấn Thi Tập, Trúc Lâm Hậu Lục và Tăng Già Toái
Sự của Trúc Lâm Ðiều Ngự và tám tác phẩm của Pháp Loa
không tác phẩm nào còn lại. Thật đáng tiếc chừng nào.
Ðể thay thế cho sách Việt bị lấy mất, nhà Minh cho chở
sang nước ta những tác phẩm Trung Hoa về Nho giáo, Phật Giáo,
Lão Giáo cho người Việt học. Chính quyền đô hộ lập Tăng
Cương Ty và Ðạo Kỳ Ty để lo việc giáo dục Phật Giáo
và Lão Giáo theo mẫu mực Trung Hoa.
Các
nho sĩ đời Lê, đáng lý phải ý thức được ý muốn thâm
độc của nhà Minh, nhưng trong gần hai thế kỷ, một phần
vi thiếu ý thức về văn hóa dân tộc, một phần vì kỳ thị
Phật Giáo, không có nho gia nào chịu khó tìm tòi gầy dựng
lại vốn cũ. Phải cho đến gần cuối thế kỷ thứ mười
tám mới có Lê Quý Ðôn bắt đầu công việc ấy.
Sự
thu dụng những điều hay của các nền văn hóa khác vốn là
một hành dộng làm giàu cho nền văn hóa dân tộc. Tuy nhiên
việc làm đó phải được thực hiện trên căn bản vốn cũ
của văn hóa dân tộc. Tinh thần cởi mở, hòa hợp và từ
bi của Phật Giáo đã duy trì hòa bình và thịnh vượng suốt
trên ba trăm năm. Những tệ đoan sinh ra trong Phật Giáo cố
nhiên là phải từ bỏ, nhưng tinh thần cởi mở, hòa hợp
và từ bi ấy cần phải được bảo vệ. Các nhà nho thời
Trần mạt và thời Lê đã không thấy được điều đó.
Lương
Thế Vinh, nhà trí thức cự phách nhất của thời đại Lê
Thánh Tông chỉ vì sáng tác sách Phật mà sau khi chết không
được thờ cúng trong văn miếu. Ðiều này cho ta thấy tinh
thần kỳ thị tôn giáo trong thời Lê nặng đến dường nào.
Các sử gia Ngô Sĩ Liên và Ngô Thì Sĩ bình luận về lịch
sử cũng mang nặng tinh thần kỳ thị đó trong khi phê bình
các sự kiện lịch sử đời Trần. Phẩm bình về vua Trần
Thánh Tông, Ngô Sĩ Liên viết: “Vua là người trung hiếu,
nhân thứ, tôn người hiền, trọng kẻ sĩ; cha làm ra trước,
con nối về sau, cơ nghiệp của nhà Trần, cơ nghiệp của
nhà Trần được bền vững. Song ham mê đạo Tam Muội, nghiên
cứu đạo Nhất Thừa, thì không phải là đạo trị thế giỏi
của đế vương”. Ngô Sĩ Liên lại viết về Trần Nhân Tông:
“Hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp phục hưng làm vẻ
vang đời trước, thực là vua hiền của nhà Trần. Song vui
lòng ở kinh Phật, tuy bảo là đến siêu thoát nhưng không
phải là đạo trung dung của thánh nhân”(13). Ngô Thì Sĩ phê
bình về kỳ thi tam giáo do vua Trần Thái Tông tổ chức viết:
“Ðạo chỉ có một thôi, ngoài đạo “Nhất Trung” ra, không
có còn đạo gì nữa. cũng như Trương Dung xem chim Hồng mà
hiểu rằng: Người Việt gọi là chim Phu, người Sở gọi
là chim Ất; về người thì có người Việt, người Sở, chứ
về chim Hồng thì chỉ có một thứ chim Hồng ấy thôi. Nhà
Phật tự tôn đạo của mình lên, mới đặt ra ba thuyết ba
người bạn là Mao Ðẩu, Na Ẩn và Côn Sài; Mao Ðẩu là Ca
Diếp Bồ Tát giáng sinh làm Lão Tử, Na Ẩn là Tịnh Quang Bồ
Tát giáng sinh làm Khổng Tử và Côn Sài là Hộ Minh Bồ Tát
giáng sinh làm Thích Ca. Do đó người đời tin tưởng mê hoặc
đặt ra phương pháp mặc và ăn mong được thành tiên, và
ăn chay tụng kinh mong được thành Phật, mà xét đến tông
chỉ thì vẫn trống không, thì chọn những người có thể
ăn chay và tụng niệm như đạo sĩ và sa môn để làm trò
gì?”(14)
CÁI
HỌC KHOA MỤC
Cái
học đời Lê không những bị giới hạn trong Nho giáo mà còn
bị giới hạn bởi khoa mục nữa. Lê Quý Ðôn viết về cái
học dưới triều Lê Thánh Tông như sau: “Học trò đua nhau
nghiêng quá về mặt văn hay, chỉ cốt thêu chạm lới phù
câu thơ cho đẹp, hầu mong lấy bảng cao chức trọng cho sang,
còn phần khí tiết khẳng khái thì đã thấy tan tác suy nhược”(15).
Thi văn của đời Lê cũng chỉ chú trọng về ngâm vịnh. Nói
rằng thơ văn để chuyên chở đạo đức, kỳ thực đạo
đức trong loại thi văn ấy chỉ là những hình bóng khô cứng
lặp lại mà không phải là sinh lực đạo đức phát tiết
từ nếp sống tâm linh. Phật học khi đã bị loại ra khỏi
chương trình giáo khoa và thi cử của triều đình thì lớp
thanh niên chạy theo khoa bảng không còn biết gì nữa về đạo
Phật. Lời bàn của Ngô Thì Sĩ về những cuộc thi Tam Giáo
đời Trần cũng chứng tỏ ông không có kiến thức gì về
đạo Phật và đạo lão. Các nhà nho trình bày đạo Phật
như là một tổng hợp mê tín và dị đoan, cho Nho học là
chính đạo, là đường lối duy nhất để dựng nước và
giữ nước, nói rằng các đạo Phật, Lão là tà đạo, rằng
các đạo này không tôn trọng nhân luân, trung hiếu, phế bỏ
nguyên tắc quân, thần, phụ, tử.
Vì
lý do đó, và cũng là vì Phật học không còn giúp người
leo lên thang danh vọng nữa cho nên giới trẻ ít ai theo đòi
Phật học. Ðây là một nguyên nhân khá quan trọng cho sự
suy đồi của đạo Phật trong hai thế kỷ thứ mười lăm
và mười sáu.
SỰ
BIẾN DẠNG CỦA MẬT GIÁO
Ta
cũng biết rằng Mật Giáo nếu không khéo duy trì có thể biến
thành phù thủy, mê tín, dị đoan. Cuối đời Lý đạo Phật
đã hầu bị những biến dạng của Mật Giáo làm cho lu mờ
sắc thái. May thay, các vị lãnh đạo Phật Giáo đời Trần
đã thanh lọc được Phật Giáo và lấy ra hết những hình
thái mê tín dị đoan.
Phật
học của Trần Thái Tông, Tuệ Trung, Ðại Ðăng và Thánh Tông
rất thuần túy Thiền học, không bị mờ ám bởi những hình
thức biến dạng của Mật Giáo. Ðến đời Pháp Loa và Huyền
Quang, dưới ảnh hưởng của Phật Giáo Trung Hoa và Tây Tạng,
Mật Giáo lại được khôi phục. Cùng với thời đại nhiễu
nhương. Mật Giáo mau chóng được biến chất và phủ lên
trên sinh hoạt tín ngưỡng bình dân một lớp màn mê tín và
dị đoan. Sự phê phán Phật Giáo của các nho gia một phần
được căn cứ trên những hình thái sinh hoạt rườm ra ấy
của Phật tử.
THÓI
QUEN Ỷ LẠI VÀO VUA CHÚA
Những
nguyên do quan trọng nhất đưa tới sự suy đồi của Phật
Giáo cuối trần là do thói quen ỷ lại của Phật tử vào
sự ủng hộ của vua quan và những nhà quyền quý. Thực vậy,
trong các đời Lývà Trần, các vua đều học Phật, ủng hộ
Phật Giáo và tổ chức khoa thi Tam giáo, cho nên giới trí thức
mọi nơi đều học Phật. Ðến khi sự nương tựa trên vua
quan không còn nữa thì Phật Giáo mất thăng bằng. Dựa trên
sự ủng hộ của các vị nhân vương, điều đó Phật Giáo
nước nào cũng làm, nhưng ỷ lại hoàn toàn vào họ, đó là
một lầm lẫn lớn. Bất động sản đã có, sự ủng hộ
của dân chúng về việc cất chùa đúc tượng lúc nào cũng
sẵn sàng, đáng lý ra Giáo Hội Trúc Lâm đã phải nhân cơ
hội ấy để thành lập những thiền viện và những Phật
học viện có căn bản tự túc. Thể chế bất tác bất thực
của thanh quy Bách Trượng đã có sẵn, tại sao các vị lãnh
đạo như An Tâm Quốc Sư và Phù Vân Quốc Sư không lo tạo
dựng căn bản tự túc cho tổ chức mình? Ðã đành trong nước
không được yên ổn thì không thể duy trì được sự thịnh
trị của Phật Giáo đời Pháp Loa và Huyền Quang nhưng nếu
quý vị ấy chịu khó xây dựng nền tảng học Phật tự túc
thì cũng có thể duy trì Phật Giáo trong một mức độ trung
bình được. Các vị lãnh đạo Phật Giáo ấy đáng lý phải
thanh kiểm tăng đồ, kêu gọi tín đồ ngưng bớt việc làm
chùa để đem tài sức ủng hộ việc đào tạo tăng tài làm
rường cột cho đạo pháp. Dân chúng vẫn cứ đủ sức tiếp
tục xây thêm chùa: mãi cho đến năm 1464 mà vua Lê Thánh Tông
còn phải ra lệnh cấm xây dựng thêm chùa mới(16). Như thế
thì tiềm lực Phật Giáo trong quần chúng nào phải là thiếu
thốn?
Sau
khi nước nhà đã khôi phục được độc lập, các nhà lãnh
đạo Phật Giáo Trúc Lâm đã làm gì? Tại Yên Tử, nói theo
An Tâm quốc sư và Phù Vân quốc sư, còn có hai vị quốc sư
khác: Vô Trước quốc sư và Quốc Nhất quốc sư.. Tước hiệu
quốc sư cố nhiên phải do chính quyền ban cho. Cũng như năm
1435, vua Lê Thái Tông đã ban hiệu Tử Y Ðại Sa Môn cho Huệ
Hồng thiền sư trụ trì chùa Báo Thiên ở kinh đô. Các vị
có địa vị lãnh đạo như những vị trên đã làm gì để
duy trì mệnh mạch của Phật Giáo? Hay là chỉ thỉnh thoảng
được mời tới để làm lễ cầu mưa, làm chay và làm lễ
khai quang điểm nhãn?
LƯƠNG
THẾ VINH
Thế
kỷ thứ mười lăm chỉ ghi lại được một tác giả Phật
Giáo: đó là trạng nguyên Lương Thế Vinh. Lương Thế Vinh
sinh năm 1441, mất vào năm nào không rõ. Ông có tên tự là
Cảnh Nghi, hiệu là Thụy Hiên, người làng Cao Hương, huyện
Thiên bản (sau đổi thành Vụ Bản) thuộc Sơn Nam (sau đổi
là Nam Ðịnh). Ông đậu trạng nguyên năm 1463, làm quan đến
chức hàn lâm thị thư, kiêm văn quán tứ lâm cục tư huấn.
Và được dự làm sái phu của hội Tao Ðàn(17) do Lê Thánh
Tông thành lập. Tất cả văn thư giao tiếp với Trung Quốc
vua đều giao cho ông soạn thảo. Người Minh thường khen ngợi
tác giả các văn hàm ngoại giao do ông viết. Lê Quý Ðôn gọi
ông là bực “tài danh cao vót”(18). Tương truyền phép đo
ruộng thành mẫu (tương đương với 3.600 mét vuông), sào (360
mét vuông), thước (240 mét vuông) và tấc (2,40 mét vuông) của
ta là do ông đặt ra, do đó người dân gọi phép đo là phép
đo của Trạng Lường. Ông giỏi toán học, Phật học và cả
về sự khảo cứu sân khấu, âm nhạc nữa. Ông lại có tính
hay khôi hài và ưa đời sống giản dị. Ông là tác giả những
sách sau đây:
1)
Ðại Thành Toán Pháp, sách toán học.
2)
Hý Phường Phổ Lục, viết về lịch sử hát chèo(*).
3)
Thiền Môn Khoa Giáo, sách về Phật học.
Ông
lại còn đề tựa sách Nam Tông Tự Pháp Ðồ.
Thiền
Môn Khoa Giáo
Ðây
là một cuốn giáo khoa Phật học. Có người nói đây là một
cuốn sách về những nghi thức cúng tế trong Phật Giáo. Ðiều
này không đúng. Chữ khoa trong Phật học có nghĩa là phân
tích văn mạch và làm cho rõ ý từng đoạn. Văn đây là nguyên
văn của kinh điển. Trong lúc Phật Giáo suy đồi, thầy cúng
nhiều hơn thầy tu, nghi thức cúng tế tràn đầy trong Phật
Giáo thì soạn thêm nghi thức cúng tế là việc thừa. Có thể
vì nhận thấy sách giáo khoa Phật Giáo soạn thảo dưới đời
Trần đã mất hết cho nên Lương Thế Vinh mới biên tập một
cuốn sách giáo khoa Phật học để giúp người chưa biết
Phật học đi vào Phật Giáo một cách dễ dàng. Chắc hẳn
nhà chùa lúc ấy đã in sách Thiền Môn Khoa Giáo. Tiếc thay,
tác phẩm này đã thất lạc chưa tìm lại được.
Nam
Tông Tự Pháp Ðồ
Sách
này, có bài tựa của Lương Thế Vinh có lẽ cũng đã được
khắc bản lưu truyền, và cũng đã bị thất lạc chưa tìm
lại được. Ðây là một cuốn sách nói về lịch sử truyền
thừa của đạo Phật ở Việt Nam do thiền sư Thường Chiếu
(mất năm 1203) viết vào cuối đời Lý.
Sách
Ðăng Khoa Lục Sưu Giảng của Trần Tiến(19) nói rằng vì
Lương Thế Vinh đã sáng tác kinh Phật cho nên không được
thờ cúng trong văn miếu thờ Khổng Tử.
THẬP
GIỚI CÔ HỒN QUỐC NGỮ VĂN
Có
người cho rằng tác phẩm Nôm Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ
Văn, nói là của Lê Thánh Tông, được giữ lại trong bộ
Thiên Nam Dư Hạ Tập, chính là do Lương Thế Vinh sáng tác.
Vũ Phương Ðề, một người đồng thời với Trần Tiến và
cùng đậu tiến sĩ như Trần Tiến đã nói rằng: Lương Thế
Vinh “từng sáng tác Phật Kinh Thập Giới”có thể là Thập
Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn. Nhưng nhận xét nội dung Thập
Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn, thì thấy tác phẩm không thể
là của Lương Thế Vinh. Trần Văn Giáp(20) cho rằng bài Thập
Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn, không phải là của Lê Thánh
Tông: “Theo lời của Vũ Phương Ðề... Lương Thế Vinh là
một vị trong tao đàn đời Lê Thánh Tông, chỉ vì làm bài
Phật Kinh Thập Giới mà đã bị các nhà nho là bạn đồng
nghiệp chê cười mãi, đến khi đã lên thiên cung, đang giảng
dạy học trò mà vẫn còn áy náy mãi. Huống chi là Lê Thánh
Tông tự gọi là tao đàn nguyên soái, khi nào lại có thể
cho phép đưa một bài văn Nôm vào trong bộ sách lớn của
triều đình. Sách này lại là sách ghi chép lại toàn điển
lệ, cáo sắc v.v... Vậy đối với Thập Giới Cô Hồn Quốc
Ngữ Văn chưa nghiên cứu được sâu rộng, tôi chưa dám khẳng
định là của ai, và làm vào thời nào. Chỉ biết nó không
ở đúng chỗ của nó. Nó là một bài văn ở đâu đó, người
ta đưa giả mạo vào sách Thiên Nam Dư Hạ Tập để lừa dối
độc giả”.
Không
chắc quan điểm của Trần Văn Giáp là đúng. Trong Thiên Nam
Dư Hạ Tập ta thấy có chép thơ văn của hội Tao Ðàn, trong
đó có Quỳnh Uyển Cửu Ca. Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ
là một tác phẩm Nôm quan trọng, sao lại không thể đưa vào
Thiên Nam Dư Hạ Tập, nhất là khi tác phẩm này do Tao Ðàn
Nguyên Soái sáng tác.
Chưa
có lý do gì để ta nói rằng bài này không phải là của Lê
Thánh Tông. Bài văn tuy lấy cảm hứng ở đoạn văn thỉnh
thâp loại cô hồn trong Giu Dà Khoa Nghi, nhưng không phải là
một bài văn do một người có cảm tình nhiều với đạo
Phật như Lương Thế Vinh làm. Ðó cũng không phải là một
bài văn có thể thực sự dùng vằo việc cúng cô hồn hay
răn dạy cô hồn. Nó có ảnh hưởng cảnh cáo người sống
hơn là “răn dạy” người chết. Ðó là tác phẩm của một
thi sĩ nho gia mượn đề tài Phật Giáo. Bài thơ nói về cô
hồn của các tăng sĩ có những câu sau đây:
Thân
tâm rửa sạch quê hà hữu
Giới
hạnh vâng đòi giáo Thích Già
Nói
những thiên đường cùng địa ngục
Pháp
sao chẳng độ được mình ta?
Ta
thấy hai câu thơ cuối cùng có tính cách đùa bởn và trên
chọc, không phải là văn nghi lễ, cũng không phải là văn”răn
dạy” người chết. Trong khi chưa có dữ kiện nào khác, ta
hãy tạm cho tác phẩm này là của vua Lê Thánh Tông, bởi khí
vị văn chương phảng phất có hương vị một tác phẩm của
“Tao Ðàn Nguyên Soái”. Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn
là một tác phẩm Nôm cổ gồm có một đoạn mở đầu và
mười đoạn nói về mười giới cô hồn: 1) thiền tăng; 2)
đạo sĩ; 3) quan liêu; 4) nho sĩ; 5) thiên văn địa lý; 6) lương
y; 7) tướng quân; 8) hoa nương; 9) thương cổ; 10) đãng tử.
Sau
đây là đoạn mở đầu:
“Riêng
xét vậy: ngựa cửa sổ, kiến đầu cành, xem ngày tháng dễ
qua thoan thoát; bọt ghềnh sóng, vờ mặt nước, tựa thân
thời kíp biến mờ mờ. Cổ thời nhẫn kim; sinh thời có hóa.
Ấy vậy, hồn là thần, phách là quỷ; no nên bụt, đói nên
ma. Khó miễn sang mặt há khác nhau; đói cũng rách lòng thời
cũng vậy. Kìa Khổng Tử ách nơi Trần, Thái, mặt đã rầu
rầu; nọ Lương Vũ khốn thủa Ðài Thành, dạ đà lép lép.
Tín có thủa lượm tay Phiếu mẫu; bá nhiều phen hổ mặt
đồ lê. Tô Lang nằm lỗ gia ăn sương, ruột sầu rười rượi;
Chu Dị thấy hạt cơm bám mà lòng tiếc bùi ngùi. Ấy thánh
hiền những đấng anh hùng; phải cơ khát đoái chi liêm sỉ.
Huống chi cô hồn bay: thác sinh trần thế, chịu âm dương.
Có quân tử, có tiểu nhân, chẳng cùng một đấng; trong phong
quang, trong nghệ nghiệp, tới ngót mười loài. Ai ai cải lấy
lòng phàm; khăn khăn cùng thời nghe giới”.
Và
đây là đoạn nói về giới thiền tăng:
“Chịu
giáo Thích Già, thìn lòng trì giới. Nhuộm sa vàng màu tươi
bông cải; sơn thác đỏ thức chuốc lệch bầu. Mũ tỳ lư
rập tăm tắp vỏ dừa, đội khi hầu nắng, gậy tích trượng
chỉn lô nhô đốt trúc, chống thủa còn sương. Lần sổ châu
chuốt hạt kim cương; quét đôi guốc dạo non linh thứu cương;
quét đôi guốc dạo non Linh Thứu. Kinh Pháp Hoa giảng đã mưa
nhộc nhộc, đượm áo nạp đầm đầm; Phiến bối diệp tung
gió thổi hiu hiu, quét lòng trần thây thẩy. Già lẫn chiền
là nơi ăn ở ; khói cùng mây ấy chốn láng giềng. Hái củi
quế tiển trà, khủng khinh một bình một bát; nằm am mây
tắm suối, nửa bụt nửa tiên. Náu từ bi kín nước tưới
hoa; ngồi thiền định thiêu hương chúc thánh... Ngỡ là ba
ngàn cung Ðâu Suất được thoát thân phàm; chẳng cộc mười
hai cửa Phong Ðô gây nên mông họa. Hỡi ôi! Sống bởi chưng
chưa sạch mọi lòng nhẫn nhục; thác hco phải chịu khó diệt
tân toan.
Kệ
than rằng:
Một
bình bát một cà sa
Náu
chốn chiền già làm cửa nhà
Kinh
giã ngọc lâu hương lọn triệu
Ðịnh
lui thiền viện bóng xoay hoa
Thân
tâm rửa sạch quê Hà hữu
Giới
hạnh vâng đòi giáo Thích già
Nói
những thiên đường cùng địa ngục
Pháp
sao chẳng độ được mình ta?
Những
danh từ Linh Thứu, Pháp Hoa, Bối Diệp, Ðâu Suất... là những
từ phổ thông thường hay nói đến, được tác giả đem dùng
cho có vẻ như một đoạn văn thực sự nói về giới thiền
tăng.
Chúng
ta hãy đọc một đoạn văn nói về giới nho sĩ sau đây để
so sánh, nhất là về phương diện điển tích:
“Ham
nói nho phong, toàn nghề cử tử. Cơm áo nhờ ơn cha mẹ; Ðêm
ngày đọc sách thánh hiền. Củi quế gạo châu, kham khổ nằm
chung trường ốc; song huỳnh án tuyết, dùi mài mến nghiệp
thi thư. Giấy làm ruộng, bút làm cày; hôm xem kinh, mai xem sử.
Trướng Mã Dung, màn Ðổng Trọng, lạnh lùng nào quản tuyết
sương; đèn Hàn Tử, gối Ôn Công, thức nhắp chẳng lìa nhật
dạ. Lặn lội rừng Nho bể học; ngâm nga ý Khổng lòng Chu.
Công đăng hỏa đã dày; tài văn chương càng nhọn. Lẽ lưỡi
nuốt chằm Vân Mộng, cách nương long dư ngàn đội giáp binh;
chép miệng luận sư Tôn Ngô, rủ tay áo n ăm bảy thiên thao
lược. Ðứng tao đàn gióng cờ nghe trống; đến tự tường
ngang tích cầm thương. Tuyết Bá Ngạn hoa Ðỗ Lăng, chẳng
câu chẳng lạ; thiếp Lan Ðinh tập Liên Xã mọi khúc mọi
mầu. Thơ ngâm quỷ khốc thần sầu; khúc ngợi non cao nước
chảy. Buộc miệng nuốt châu là ngọc; day tay giở cức bắn
dương. Sách đối đan trì, văn chói chói gấm trên bà ngựa;
tên bay kim bảng, tiếng sầm sầm sấm dưới đất bằng. Ruổi
dặm dài quyết chí côn bằng; giúp đời trị mừng điềm
lân phượng. Ngỡ là bể Doanh Châu, non Bồng Ðảo, mình được
hóa tiên; chẳng cốc quê Hoàng nhưỡng, núi Bắc mang, thân
đà nên quỷ. Hỡi ơi! Sống bởi chưng bàn bạc sự người;
thác cho phải phiêu lưu đôi chốn.
Kệ
than rằng:
Kềnh
kềnh áo bả lẽn khăn sa
Trường
ốc hôm mai để lệ nhà
Lạnh
lẽo đường thu như án tuyết
Nắng
sương mấy phút lọn hài hoa.
Tài
cao hơn nữa Công Tôn sách
Sự
thịnh còn truyền Nịnh Thích ca
Bút
mực chẳng quên bề chí lũ
Lộc
cao sao khéo lỡ người ta”.
Các
bài thơ kệ đều lấy vần sa, chứng tỏ có sự họa vần
ngâm vịnh; điều này khiến sta nghĩ đến hội Tao Ðàn. Ta
cũng lại nhận thấy rằng đoạn nói về nho sĩ đầy dẫy
điển cổ: Mã Dung, Ðổng Trọng, Hàn Tử, Ôn Công, Bá Ngạn,
Ðỗ Long, Lan Ðình, Liên Xã v.v... So sánh, ta thấy ngay một
sự mất thăng bằng lớn về điển tích. Về giới nho sĩ
nói đến đèn Hàn Tử, gối Ôn Công, thì về giới thiền
sư đáng lý phải nói “trà Triệu Châu, bánh Vân Môn” hay
“củi Tuyết Phong, đá Thạch Ðầu”(21)chẳng hạn. Ðiều
này càng cho ta thấy như đã nói một lần, tác giả là một
nhà nho lấy đề tài Phật học để ngâm vịnh.
CHÂN
NGHIÊM VÀ SÁCH THÁNH ÐĂNG LỤC
Thiền
sư Chân Nghiêm sống vào giữa thế kỷ thứ mười sáu, dưới
thời Mạc, là một người có liên hệ với truyền thống
Trúc Lâm Yên Tử. Ông đã cho khắc in sách Thánh Ðăng Lục
và viết bài tựa cho sách ấy. Sách in năm 1550. Thiền sư Chân
Nghiêm trú trì chùa Sùng Quang xã Xuân Lan, huyện Cẩm Giàng,
Hải Dương. Bài tựa của ông không thấy có đề năm tháng.
Ta biết được niên đại khắc bản của sách là nhờ một
bài tựa khác do thiền sư Tinh Quảng ở Thềin Phong Viện núi
Tử Sầm viết vào năm 1750 khi sách này được khắc bản lần
thứ ba. Cũng theo Tính Quảng thì vào năm 1705 sách được khắc
bản lần thứ hai, do thiền sư Chân Nguyên (1646-1726) chủ trương.
Lần khắc bản thứ ba năm 1750 là do một vị đệ tử của
Chân Nguyên tên là Tính Lương thực hiện. Chính Tính Lương
đã nhờ thiện hữu của mình là Tính Quảng viết bài tựa
của kỳ in này. Tính Quảng viết bài tựa: “Cuối thu, chiều
ngày 25 tháng này, lúc tôi đang đọc tại Nghi Thạch Song thì
thấy một thiện hữu là Tính Lương lên núi. Tôi chào hỏi,
mời ngồi. Hỏi thì Tính Lương bảo từ Tứ Kỳ Hải Dương
tới, lấy trong tay áo ra sách Trùng San Thánh Ðăng Lục hai
cuốn bằng giấy trắng vài tờ, nói rằng: “Xưa thầy tôi
là Tuệ Ðăng Hòa thượng lúc ở chùa Long Ðộng có san khắc
bản lục này vào năm Ất dậu, đến nay đã được bốn mươi
sáu năm. Bản ấy thất lạc, làm cho giới Thiền học muốn
truy ra tông phái của thánh giáo khó mà ấn chứng được...”
Những ấn bản hiện có của Thánh Ðăng Lục chỉ là những
ấn bản gần đây. Bản thứ nhất có tên Thánh Ðăng Lục,
do thợ khắc ở Liễu Tràng thực hiện năm 1848. Sách này có
mang hàng chữ Trùng San Thánh Ðăng Lục Tinh Tuyển Phật Ðồ
Tự, nhưng không có hình ảnh nào. Bản thứ hai không biết
ấn hành năm nào, có tên là Thánh Ðăng Ngữ Lục và Việt
Quốc An Tử Sơn Trúc Lâm Chư Thánh Ðăng Ngữ Lục. Bản này
có bài bạt của Thích Huệ Tử, ở am Trí Nhàn (Hải Dương?),
lại có hình vẽ.
Sách
Thánh Ðăng Lụchay Thánh Ðăng Ngữ Lục chỉ chép về cuộc
đời và sự tu tập của năm vị vua đầu đời Trần, nội
dung không giống sách Tam Tổ Thực Lục chỉ nói về vua Trần
Nhân Tông và hai vị tổ Pháp Loa, Huyền Quang. Sách An Tử Sơn
Trúc Lâm Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh bằng chữ Nôm
do thiền sư Chân Nguyên cũng có tài liệu trong các sách Khóa
Hư và Tam Tổ Thực Lục. Trên nguyên tắc, sách nói về Năm
vua và Ba tổ nhưng sự thực phần lớn nội dung là để dành
cho Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông. Như vây, Chân Nguyên,
ngoài việc san khắc Thánh Ðăng Lục bản chữ Hán, còn căn
cứ vào đó để viết thành một tác phẩm Nôm. Hai câu gần
cuối sách sau đây nghe như là mục đích của tác phẩm:
Ðem
Thánh Ðăng Lục giảng ra,
Khêu
đèn Phật tổ sáng hòa tam thiên.
Ta
không biết gì nhiều về Chân Nghiêm thiền sư, người đã
san khắc Thánh Ðăng Lục lần đầu. Thánh Ðăn Lục có nhiều
tài liệu trùng hợp với Khóa Hư Lục và Tam Tổ Thực Lục.
Tác phẩm này có thể nói được soạn lục căn cứ trên hai
tác phẩm kia. Chúng ta biết rằng Thánh Ðăng Lục được soạn
thảo sớm lắm là sau khi Minh Tông mất, bởi vì sách nói về
sự tu hành của năm vị vua Trần mà vua thứ năm là Minh Tông.
Phần thứ hai của Sách Tam Tổ Thực Lục viết về Pháp Loa,
do Trung Minh biên tập và chính tay Huyền Quang khảo đính, không
thể nào được viết sau Thánh Ðăng Lục được. Mà nếu
trong thời Huyền Quang, phần hành trạng về Pháp Loa đã được
hoàn tất thì chắc chắn phần hành trạng về Trúc Lâm Ðiều
Ngự cũng đã được hoàn tất. Nếu không thì đó là một
sự thiếu sót và bất kính đối với Nhân Tông, tổ thứ
nhất của thiền phái Trúc Lâm. Có người nêu lên sự kiện
là trong phần hành trạng của Trúc Lâm, sau tiêu đề “An
Tử Sơn Ðệ Nhất Tổ Trúc Lâm Ðại Sĩ Thực Lục” có câu
“Án Thánh Ðăng Lục...”(căn cứ trên Thánh Ðăng Lục) để
cho sách Tam Tổ Thực Lục được viết sau Thánh Ðăng Lục.
Ðiều này không đúng, bởi vì câu “Án Thánh Ðăng Lục...”
chắc chắn đã thêm vào trong những kỳ khắc bản sau này.
Duy phần thứ ba của Tam Tổ Thực Lục, viết về cuộc đời
Huyền Quang, ta không thể nói chắc rằng đã được viết
trước Thánh Ðăng Lục. Xét nội dung thì thấy rất có thể
nặng phần này đã được viết sau Thánh Ðăng Lục.
--------------------------------------------------------------------------------
(9)
Theo Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ðại Than thiền sư là một
vị quốc sư
(10)
Năm 1311, vua Chiêm Thành là Chế Chí sai trại chủ Câu Chiêm
sang triều cống Ðại Việt. Ðoàn Nhữ Hài dụ Câu Chiêm,
nói rằng nếu Câu Chiêm giúp làm nội ứng để Ðại Việt
đánh Chiêm Thành thì sẽ được hậu đãi. Rồi phao tin Chế
Chí phản trắc, đem quân sang đánh Chiêm Thành. Lại năm 1376,
khi Chế Bồng Nga cho đem mười mâm vàng sang để tạ tội
và ước hẹn sẽ tôn trọng điều cam kết không quấy phá
biên giới Ðại Việt nữa thì Ðỗ Tử Bình lúc bấy giờ
đang trấn giữ Châu Hóa, giấu vàng đi làm của riêng, và
tâu về triều là Chế Bồng Nga ngạo mạn vô lễ, nên đem
quân sang đánh. Vua Duệ Tông giận lắm bèn thân chinh đi đánh
Chiêm Thành.
(11)
Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư
(12)
Dười thời vua Dụ Tông
(13)
Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư
(14)
Việt Sử Tiêu Án
(15)
Kiến Văn Tiểu Lục
(16)
Khâm Ðịnh Việt Sử Khâm Giám Cương Mục
(17)
Hội Tao Ðàn do Lê Thánh Tông lập ra năm 1495 để sáng tác
và phê bình văn học. Lê Thánh Tông là Tao Ðàn nguyên soái.
Các ông Thân Nhân Trung, Ðỗ Nhuận, Thái Thuận là phó nguyên
soái. Lương Thế Vinh làm Tao Ðàn sái phu. Hội Tao Ðàn có
chừng ba mươi người.
(18)
Kiến Văn Tiểu Lục
(*)
Thật ra, quyền này chỉ là tương truyền, chưa ai nhìn thấy
tận mắt văn bản. (N.H.C)
(19)
Người tỉnh Hải Dương, làm chức Thượng Thư triều vua Lê
Hiển Tông.
(20)
Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Hà Nội, 1970
(21)
Ðèn Hàn Tử: đèn của Hàn Dũ; thơ Hàn Dũ (đời Ðường)
có câu: “Phần cao du di kế quỹ, hằng ngột ngột dĩ dùng
niên” nghĩa là đốt đèn dầu để tiếp nối bóng mặt trời,
thường cặm cụi suốt năm.
Gối
Ôn Công: Ôn Công (đời Tống) chăm học, sắm một các gồi
tròn để nằm đọc sách. Hể buồn ngũ thì gối lăn, đánh
thức mình dậy.
Trà
Triệu Châu: Thiền sư Triệu Châu (778-897) hỏi một trong hai
vị tăng mới đến: “Thầy đã đến đây lần nào chưa?”
Trả lời: “Chưa”. Triệu Châu nói: “Uống trà đi”. Lại
hỏi vị tăng kia: “Thầy đã đến đây lần nào chưa?”
Trả lời: “Rồi”. Triệu Châu nói: Uống trà đi”. Vị
Viện Chủ thiền viện hỏi Triệu Châu: “Người chưa từng
đến thì dạy “uống trà đi” còn vị đã từng đến cũng
dạy “uống trà đi, thế là thế nào?” Triệu Châu gọi:
“Viện Chủ!” Viện Chủ đáp: “Dạ!” Triệu Châu nói:
“Uống trà đi”. Câu chuyện đó trở thành công án thiền
học.
Bánh
Vân Môn: Một hôm có vị thiền giả đến thăm thiền sư Vân
Môn (881-966). Vân Môn cầm một chiếc bánh đưa lên, không
nói gì; vị thiền giả lĩnh hội ngay được thiền ý khỏi
cần qua trung gian văn tự.
Củi
Tuyết Phong: Tuyết Phong Nghĩa Tồn thiền sư (822-908) một hôm
đem đặt một bó cũi trước mặt thiền sư Lương Giới (người
sáng lập tông Tào Ðộng). Lương Giới hỏi: “Nặng nhiều
ít?” Tuyết Phong: “Cả loài người trên mặt đất xúm lại
cũng không đỡ lên nổi”. Lương Giới: “Sao đem tới đây
được?” Thiền sư Tuyết Phong không trả lời được.
Ðá
Thạch Ðầu: Mã Tổ tss (707-786) hỏi Ẩn Phong: “Ði Ðâu?”
Ẩn Phong đáp: “Ði lên núi Thạch Ðầu”. Mã Tổ: “Ðường
lên núi Thạch Ðầu đá trơn nguy hiễm lắm”. Ẩn Phong: “Ðã
có cây gậy tùy thân, không lo”. Liền đi tới Thạch Ðầu
Sơn chống gậy nói: “Tông chỉ nào?” Thạch Ðầu la lên:
“Trời xanh, Trời xanh”. Ẩn Phong lặng yên, về kể chuyện
ấy với Mã Tổ. Mã Tổ nói: “Nếu tới lần nữa mà ông
ta còn nói “trời xanh,trời xanh” thì đằng hắng hai lần.
Ẩn Phong y lời, tới hỏi cùng câu hỏi. Thạch Ðầu đằng
hắng hai lần, Ẩn Phong không biết nói ra sao, liền trở về
báo cáo với Mã Tổ. Tổ nói: “Ta đã nói: đường lên Thạch
Ðầu đá trơn lắm mà người không tin.”