Chương
I TRUNG TÂM PHẬT GIÁO LUY LÂU
-
Ba trung tâm Phật giáo đời Hán
-
Nguồn gốc trung tâm Luy Lâu
-
Trung tâm Luy Lâu thành lập sớm hơn các trung tâm Lạc Dương
và Bành Thành
-
Trung tâm Lạc Dương
-
Trung tâm Lạc Dương được thành lập do từ trung tâm Bành
Thành
-
Nguồn gốc trung tâm Bành Thành
Chương
II HAI THẾ KỶ ÐẦU
-
Ðạo Phật Giao Châu trong thế kỷ đầu Tây lịch
Quan
niệm về Phật
Quan
niệm về Pháp
Quan
niệm về Tăng
Quan
niệm về nghiệp báo và luân hồi
Từ
bi
Công
dục
Tiết
dục
-
Lý hoặc luận của Mâu tử
-
Kinh Tứ Thập Nhị Chương
-
Học thuật Giao chỉ
-
Những Quan niệm căn bản về giáo lý
Quan
niệm về Phật
Quan
niệm về Pháp
Quan
niệm về Tăng
Quan
niệm về Niết Bàn
Quan
niệm về Luân Hồi Nghiệp Báo
Quan
niệm về Vô Ngã
Từ
Bi, Bố Thí và Tĩnh Dục
Thiền
Tinh
thần Hòa Ðồng Tôn Giáo
-
Phá mặc cảm tự tôn về “Trung Quốc”
-
Lão Tử Thành Phật ở đất Hồ
Chương
III KHỞI NGUYÊN CỦA THIỀN HỌC VIỆT NAM
-
Khương Tăng Hội
-
Tư tưởng thiền của Tăng Hội
Phương
pháp nhị thiền
Phương
pháp tam thiền
Phương
pháp tứ thiền
-
Chi Cương Lương Tiếp
-
Ðạt Ma Ðề Bà và Huệ Thắng
-
Vai trò quan trọng của Tăng Hội tại Kiến Nghiệp
-
Bài Tựa kinh An Ban Thủ Ý
Chương
IV SÁCH THIỀN UYỂN TẬP ANH VÀ CÁC TÀI LIỆU KHÁC VỀ ÐẠO
PHẬT VIỆT NAM ÐỜI ÐƯỜNG
-
Sách Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục
-
Về tác giả Thiền Uyển Tập Anh
-
Một số các vị tăng sĩ không được Thiền Uyển Tập Anh
nhắc tới.
Chương
V THIỀN PHÁI TỲ NI ÐA LƯU CHI
-
Hành trạng và truyền thừa
-
Bối cảnh tư tưởng của Tì Ni Ða Lưu Chi
-
Siêu việt Ngôn Ngữ Văn Tự
-
Siêu việt Hữu Vô
-
Yếu tố Mật Giáo
-
Sấm vĩ học, phong thủy học và ý thức độc lập quốc gia
-
Tóm lược những đặc tính của thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu
Chi
Chương
VI THIỀN PHÁI VÔ NGÔN
-
Vô Ngôn Thông và truyền thừa
-
Bối cảnh Thiền học Vô Ngôn Thông
-
Truyền thuyết Nam Tông về lịch sử Thiền
-
Ðốn ngộ và Tâm địa
-
Nguyên tắc vô đắc
-
Sự sử dụng thoại đầu
-
Thiền ngữ và hình ảnh thi ca
-
Ảnh hưởng Tịnh Ðộ Giáo
-
Tóm lược những đặc tính của thiền phái Vô Ngôn Thông
Chương
VII THIỀN PHÁI THẢO ÐƯỜNG
-
Nguồn gốc Thảo Ðường
-
Ảnh hưởng của phái Thảo Ðường
Chương
VIII TỔNG QUAN VỀ PHẬT GIÁO ÐỜI LÝ (1010-1225)
-
Chân đứng
-
Ðạo Phật và chính trị
-
Ðạo Phật và văn hóa
-
Ðạo Phật và mỹ thuật
-
Ðạo Phật và phong hóa
-
Tăng sĩ, tự viện và kinh điển
-
Vấn đề mê tín
Chương
IX NỀN TẢNG CỦA PHẬT GIÁO ÐỜI TRẦN THIỀN PHÁI YÊN TỬ
-
Nền Phật giáo thống nhất
-
Thiền sư Thường Chiếu
-
Sự quan trọng của Tâm học
-
Ðối tượng chứng đắc
-
Tùy mục
-
Vị tổ khai sơn Yên Tử: Hiện Quang thiền sư (1220)
-
Trúc Lâm quốc sư
-
Ðại Ðăng quốc sư
-
Tiêu Diêu thiền sư
Chương
X TRẦN THÁI TÔNG (1218-1277)
-
Tuổi trẻ và chí nguyện học Ðạo
-
Học hỏi, tu tập và sáng tác
-
Khóa hư lục
-
Thánh Ðăng Lục
-
Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh
-
Nhu yếu tỉnh thức
-
Nhu yếu tinh chuyên
-
Tư tưởng Thiền học
-
Thoại đầu thiền
-
Ảnh hưởng thiền phái Lâm Tế
-
Bố mươi bài tụng cổ
Chương
XI TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ
-
Diện mục Tuệ Trung
-
Hòa quang đồng trần
-
Ðập vỡ thái độ bám víu và khái niệm
-
Ðập phá quan niệm lưỡng nguyên
-
Phá vỡ những vấn đề giả tạo
-
Diệu khúc bản lai tu cử xướng
Chương
XII TRẦN NHÂN TÔNG VÀ THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
-
Một ông vua xuất gia
-
Ý nguyện xây dựng một nền hòa bình Chiêm-Việt lâu dài
-
Xây dựng một giáo hội mới
-
Tư tưởng Thiền học
-
Những ngày cuối
Chương
XIII: THIỀN SƯ PHÁP LOA (1284-1330)
-
Cuộc đời tu học của Pháp Loa
-
Ðại Tạng Kinh Triều Trần
-
Những tác phẩm của Pháp Loa
-
Phát triển giáo hội
-
Yếu tố Mật Giáo trở thành quan trọng
-
Anh Tông và Pháp Loa
-
Tư tưởng Thiền học của Pháp Loa
Chương
XIV THIỀN SƯ HUYỀN QUANG (1254-1334)
-
Về sách Tổ Gia Thực Lục
-
Cuộc đời của Huyền Quang
-
Câu chuyện Thị Bích
-
Huyền Quang và Pháp Loa
-
Nhà thi sĩ
-
Tư tưởng của Huyền Quang
-
Văn Nôm của Huyền Quang
-
Thời hưng thịnh chấm dứt
Chương
XV NHỮNG KHUÔN MẶT PHẬT TỬ KHÁC TRONG ÐỜI TRẦN
-
Trí Viễn thiền sư
-
Thuần Nhất pháp sư
-
Tăng Ðiền đại sư
-
Bão Phác quốc sư
-
Pháp Cổ thiền sư
-
Huệ Nghiêm thiền sư
-
Bảo Sát thiền sư
-
Viên thiền sư
-
Trí Thông thiền sư
-
Vô Sơn Ông
-
Minh Ðức Chân Nhân
-
Ðức Sơn thiền sư
-
Vương Như Pháp
-
Trần Thánh Tông
-
Trần Minh Tông
-
Bích Phong trưởng lão
-
Sa Môn Thu Tử
-
Lãm Sơn quốc sư
-
Thạch Ðầu và Mật Tạng
-
Tuyên Chân công chúa và Lệ Bảo công chúa
-
Những vị đệ tử
-
Truyền thống yên tử.
Chương
XVI TỔNG QUAN VỀ PHẬT GIÁO ÐỜI TRẦN
-
Chủ lực của văn hóa đời Trần
-
Những vị tăng sĩ ngoại quốc có mặt trong đời Trần
-
Tổ chức giáo hội
-
Vai trò văn hóa và chính trị của Phật giáo đời Trần
CÁC
PHỤ BẢN
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
BẢNG
TÊN
CHƯƠNG
XVII
SINH
HOẠT CỦA TĂNG ÐỒ VÀ CƯ SĨ
-
Tăng sĩ, tự viện và sinh hoạt kinh tế
-
Sinh hoạt trong tự viện
-
Giới pháp
-
An cư kết hạ
-
Tọa thiền, du phương, ứng phú
-
Sinh hoạt của giới tại gia
CHƯƠNG
XVIII
ÐẠO
PHẬT TRONG THỜI NHO HỌC ÐỘC TÔN
-
Sự suy yếu của đạo Phật về phương diện lãnh đạo trí
thức
-
Thịnh quá hóa suy
-
Chiến tranh Chiêm Việt
-
Tinh thần độc tôn thay thế tinh thần dung hợp
-
Cái học khoa mục
-
Sự biến dạng của Mật giáo
-
Thói quen ỷ lại vào vua chúa
-
Lương Thế Vinh
-
Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn
-
Chân Nghiêm và sách Thánh Ðăng Lục
CHƯƠNG
XIX
SỨC
SÁNG TẠO CỦA MÔN PHÁI TRÚC LÂM
-
Nguyên do của sự Phục Hưng
-
Thiên sư Chuyết Chuyết
-
Thiền sư Minh Hành
-
Chân Nguyên, người có công phục hưng môn phái Trúc Lâm
-
Tư tưởng, người có phục hưng môn phái Trúc Lâm
-
Tư tưởng thiền của Chân Nguyên
-
Những vị đệ tử xuất sắc của Chân Nguyên
-
Công tác trùng san những tác phẩm Phật học Lý Trần
CHƯƠNG
XX
CHƯƠNG
XXI
THIỀN
SƯ HƯƠNG HẢI
-
Từ Thiền Tỉnh viện đến đạo tràng Nguyệt Ðường
-
Con người của Hương Hải
-
Tư tưởng thiền của Hương Hải
-
Thơ Nôm của Hương Hải
CHƯƠNG
XXII
THIỀN
PHÁI LÂM TẾ VÀ PHẬT GIÁO Ở ÐÀNG TRONG
-
Các thiền sư từ Trung Hoa sang hoằng hóa
-
Môn phái Liễu Quán
-
Dấu chân hoằng hóa tại các vùng đất mới
CHƯƠNG
XXIII
THIỀN
PHÁI TÀO ÐỘNG TỚI VIỆT
-
Chủ trương của Tào Ðộng
-
Tào Ðộng ở Ðàng Ngoài
-
Thạch Liêm và Tào Ðộng ở Ðàng Trong
-
Con người của Thạch Liêm
-
Tư tưởng thiền của Thạch Liêm
-
Hưng Long Nguyễn Phúc Chu
-
Thiền Dương Hầu
CHƯƠNG
XXIV
LÝ
HỌC VÀ PHẬT GIÁO
-
Thái cực và vô cực; Lý và khí
-
Thái độ tăng sĩ trước sự kích bác của Nho gia
-
Lê Quý Ðôn khuyên Nho gia nên có thái độ cởi mở
-
Ðại Chân Viên Giác Thanh
-
Một tổng hợp Nho Phật độc đáo
-
Một số chủ đề khá của Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh
-
Quan niệm thiền của Hải Lượng và các bạn
-
Con người của Hải Lượng
-
Phan Huy Ích và Phan Huy Chú
-
Nguyễn Công Trứ
-
Nguyễn Du
CHƯƠNG
XXV
CÁCH
DANH TĂNG ÐỜI NGUYỄN
-
Thiền sư Mật Hoàng
-
Thiền sư Phổ Tịnh
-
Thiền sư Thanh Ðàm
-
Thiền sư Thanh Nguyên
-
Thiền sư An Thiền
-
Thiền sư Nhất Ðịnh
-
Thiền sư Diệu Giác
-
Thiền sư Tịch Truyền
-
Thiền sư Chiếu Khoan
-
Thiền sư Phúc Ðiền
-
Thiền sư Phổ Tịnh
-
Thiền sư Thông Vĩnh
-
Thiền sư Liễu Thông
-
Thiền sư Viên Quang
-
Thiền sư Ðạo Thông
-
Thiền sư Giác Ngộ
-
Thiền sư Cương Kỷ
-
Thiền sư Chí Thành
-
Thiền sư Diệu Nghiêm
-
Thiền sư Viên Ngộ
-
Thiền sư Phước An
-
Thiền sư Liễu Triệt
-
Thiền sư Huyền Khê
CÁC
PHỤ BẢN
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
BẢNG
TÊN
CHƯƠNG
XXVI
KHÁI
QUÁT VỀ CÔNG CUỘC CHẤN HƯNG TỪ NĂM 1930 ÐẾN 1945
-
Bối cảnh chính trị và văn hóa
-
Hai nhà chí sĩ họ Phan
-
Nhu yếu duy tân
-
Vài nét sơ lược về cuộc vận động chấn hưng
-
Những động cơ của cuộc vận động chấn hưng
-
Những động cơ của cuộc chấn hưng
-
Các hội Phật giáo đã thực hiện được những gì trong thời
gian 1930-1945
CHƯƠNG
XXVII
THIỀN
SƯ KHÁNH HÒA VÀ CÔNG CUỘC VẬN ÐÔNGJ Ở NAM KỲ
-
Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học
-
Các thiền sư Bích Liên và Liên Tôn.
-
Hội Lưỡng Xuyên Phật học
-
Thiền sư Pháp Hải và Thiền sư Chí Thành
-
Hội Phật Học Kiêm Tế và tạp chí Tiến Hóa
-
Thiền sư Trí Thiền
-
Thiền sư Thiện Chiếu
-
Tạo chí Pháp Âm và hội tịnh Ðộ Cư sĩ
-
Phật Học Tùng Thư
CHƯƠNG
XXVIII
HỘI
AN NAM PHẬT HỌC Ở TRUNG KỲ
-
Thiền sư Giác Tiên
-
Cư sĩ Tâm Minh
-
Chỉnh lý tăng chế và đào tạo tăng tài
-
Thiền sư Mật Khế
-
Khởi nguyên của phong trào Thanh Niên Phật Tử
-
Con người và tư tưởng của Tâm Minh
-
Các vị cao tăng làm rường cột cho phong trào chấn hưng
-
Thiền sư Tâm Tịnh
-
Thiền sư Huệ Pháp
-
Quốc sư Phước Huệ
-
Thiền sư Phổ Huệ
-
Thiền sư Viên Thành và thi phẩm Lược Ước Tùng Sao
-
Thiền sư Ðắc Ân
-
Thiền sư Phước Hậu
-
Thiền sư Tịnh Hạnh
-
Những Trung tâm chấn hưng
-
Ni sư Diên Trường
CHƯƠNG
XXIX
CÔNG
CUỘC CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO Ở BẮC KỲ
-
Bắc kỳ Phật Giáo Hội
-
Thiền sư Thanh Hạnh
-
Công trình Phật Học
-
Nguyễn Trọng Thuật và chủ trương Nhân Gian Phật Giáo
-
Cư sĩ Thiều Chửu
-
Công tác duy trì và phổ biến nền văn học Phật Giáo cổ
điển
-
Lệ Thần Trần Trọng Kim
-
Ưu Thiên Bùi Kỷ
-
Tăng sĩ và công tác xã hội
-
Sơn môn Linh Quang và tạp chí Tiếng Chuông Sớm
-
Thiền sư Thanh Tường
-
Truyền thừa Tào Ðộng theo bia chùa Hồng Phúc
CHƯƠNG
XXX
SAU
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
-
Phật tử tham gia Cách Mạng
-
Thiền sư Mật Thể
-
Thanh niên Tăng và Cách Mạng
-
Phật tử kêu gọi một tinh thần cởi mở và dung hợp
-
Tăng sĩ và thanh niên Phật tử hy sinh
CHƯƠNG
XXXI
XÂY
DỰNG LẠI CÁC CƠ SỞ HÀNH ÐẠO
-
Khuynh hướng tham gia kháng chiến của các tổ chức Phật giáo
-
Ðạo Phật xoa dịu đau thương
-
Phật tử đi tìm một con đường mới
CHƯƠNG
XXXII
CHÙA
ẤN QUANG VÀ CHÙA XÁ LỢI Ở NAM VIỆT
-
Phật Học Ðường Nam Việt
-
Giáo Hội Tăng Già Nam Việt
-
Thiền sư Thiện Hòa
-
Thiền sư Hành Trụ
-
Phật Học Ðường Huệ Nghiêm
-
Các Ni Viện Miền Nam
-
Ni sư Diệu Tịnh
-
Si sư Chí Kiên
-
Ni sư Diệu Ninh
-
Cư sĩ Chánh Trí và Hội Phật Học Nam Việt
-
Lễ Cung Nghênh Xá Lợi Phật Tổ
-
Tư tưởng Phật Học của Chánh Trí
CHƯƠNG
XXXIII
CHÙA
LINH QUANG VÀ CHÙA TỪ ÐÀM Ở TRUNG VIỆT
-
Chùa Linh Quang và Sơn Môn Tăng Già ở Trung Việt
-
Thiền sư Mật Nguyện
-
Cư sĩ Chơn An
-
Giới tăng sĩ đứng ra đảm nhiệm guồng máy lãnh đạo
-
Phật Học Ðường Báo Quốc
-
Các Trường tư thục Bồ Ðề
-
Tổ chức Gia Ðình Phật Tử
-
Các cơ sở Tăng Học
-
Ni sư Diệu Hương và Ni Viện Diệu Ðức
-
Những tạp chí Phật Học
-
Thiền sư Ðôn Hậu.
CHƯƠNG
XXXIV
CHÙA
QUÁN SỨ Ở BẮC VIỆT
-
Hội Tăng Ni Chính Lý Bắc Việt
-
Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam và Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc
-
Thiền sư Tuệ Tạng
-
Hội Phật Tử Việt Nam
-
Thiền sư Tố Liên
-
Thiền sư Trí Ðộ
-
Thiền sư Trí Hải
-
Các Ni Viện Miền Bắc
-
Si sư Ðàm Soạn
CHƯƠNG
XXXV
CON
ÐƯỜNG THỐNG NHẤT
-
Tổng Hội Phật Giáo
-
Vận Ðộng Thống Nhất Thật Sự
-
Xây Dựng Một Nền Phật Giáo Dân Tộc
-
Con Ðường Bất Bạo Ðộng đi tới Hòa Bình, Ðộc Lập và
Thống Nhất.
-
Thiền sư Huệ Quang
-
Thiền sư Khánh Anh
-
Phật sự 1956-1960
CHƯƠNG
XXXVI
THẾ
ÐỨNG CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
-
Thái độ bất hợp tác của Phật giáo và Ðạo Dụ số 10
-
Ông Ngô Ðình Diệm chấp chính
-
Con đường độc lập đối với các thế lực chính trị tranh
chấp
CHƯƠNG
XXXVII
NHỮNG
NGUYÊN DO ÐƯA TỚI CUỘC VẬN ÐỘNG CHỐNG ÐỐI CHẾ ÐỘ
NGÔ ÐÌNH DIỆM
-
Một cuộc vận động được toàn dân ủng hộ
-
Về chế độ Ngô Ðình Diệm
CHƯƠNG
XXXVIII
CUỘC
VẬN ÐỘNG CHỐNG ÐỐI CHẾ ÐỘ NGÔ ÐÌNH DIỆM
-
Phật Học và Phật giáo
-
Bảo vệ lá cờ năm sắc
-
Vụ tàn sát trước đài Phát Thanh Huế
-
Hoạch định đường lối và phương pháp vận động
-
Ủy Ban Liên Phái Bảo vệ Phật giáo
-
Phát động cuộc vận động
-
Chiến thuật của chính quyền
-
Ủy Ban Liên Bộ
-
Ngọn Lửa Quảng Ðức
-
Thông Cáo Chung
-
Thông Cáo Chung không được thực thi
CHƯƠNG
XXXIX
PHẬT
TỬ ÐÒI THỰC THI THÔNG CÁO CHUNG
-
Cuộc tuyệt thực tại chùa Xá Lợi
-
Biểu tình diễn hành
-
Tăng Ni bị tạm giam
-
Dư luận quốc tế chấn động
-
Hệ thống thông tin của Ủy Ban Liên Phái
-
Những thủ đoạn của chính quyền
-
Ngọn lửa Nguyên Hương
-
Kế hoạch nước lũ
-
Ngọn lữa Thanh Tuệ
-
Ngọn lửa Diệu Quang
-
Lệnh Tổng Ðình Công tại Huế
-
Ngọn lửa Tiêu Diêu
-
Giáo chức Ðại Học từ chức
-
Lễ Cầu Siêu tại chùa Xá Lợi
-
Ðòn ác liệt cuối của chính quyền
CHƯƠNG
XXXX
CHÍNH
QUYỀN NGÔ ÐÌNH DIỆM SỤP ÐỔ
-
Sinh viên và Học sinh đứng dậy
-
Phật giáo thuần túy
-
Ngọn lửa Quảng Hương
-
Phái đoàn Ðiều Tra Liên Hiệp Quốc tới Sài Gòn
-
Ngọn lửa Thiện Mỹ
-
Cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963
-
Vai trò của những cấp chỉ huy trẻ trong quân đội
-
Các tướng lãnh ngờ vực Hoa Kỳ
-
Tiến trình của cuộc đảo chính
-
Chiếc hầm bí mật dưới dinh Gia Long
-
Số phận không may của Tổng thống và ông cố vấn
-
Niềm vui của quần chúng sau ngày đảo chính
-
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập
CÁC
PHỤ BẢN
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
BẢNG
TRA CỨU
CÙNG
BẠN ÐỌC
Từ
mấy năm nay, trong xu thế đổi mới toàn diện của đất nước,
đời sống văn học, nghệ thuật nói chung đã có những chuyển
biến năng động và tích cực với các mặt biểu hiện phong
phú, đa dạng, cởi mở hơn, và việc tìm hiểu những truyền
thống văn hóa, tinh thần đặc sắc, nhiều mặt, trong lịch
sử trên dưới 4.000 năm của cha ông ta cũng trở thành một
đòi hỏi ngày càng mạnh mẽ.
Ðáp
ứng yêu cầu đó, Nhà xuất bản Văn học đã và sẽ lần
lượt cho tái bản một số công trình nghiên cứu, biên soạn,
dịch thuật, của nhiều học giả trong Nam ngoài Bắc, hoặc
từng được nhiều dư luận bạn đọc chú ý, hoặc đã trở
thành những tư liệu hiếm có trong các thư viện, như cuốn
La sơn phu tử, Chinh phụ ngâm bị khảo của Hoàng Xuân Hãn,
Lão Tử - Ðạo đức kinh của Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Kinh
dịch của Nguyễn Hiến Lê, Kinh Thi của Tạ Quang Phát, Luận
ngữ của Lê Phục Thiện, Những đại lễ và vũ khúc của
vua chúa Việt Nam của Ðỗ Bằng Ðoàn và Ðỗ Trọng Huề,
Chơi chữ của Lãng Nhân... Bộ sách Việt Nam Phật giáo sử
luận của Giáo sư Nguyễn Lang cũng nằm trong danh mục “tủ
sách học vấn” kể trên.
Như
thông lệ đối với bất kỳ bộ sách nào được đem ra tái
bản, trước khi đưa in Việt Nam Phật giáo sử luận, chúng
tôi đã tổ chức một Hội đồng thẩm định, gồm các ông:
Thượng tọa Thích Thanh Tứ, Phó viện trưởng Phân viện Phật
Học Việt Nam; Giáo sư sử học Hà Văn Tấn, Viện trưởng
Viện Khảo cổ học, Phó viện trưởng Phân viện Phật Học
Việt Nam, làm Chủ tịch. Hội đồng đã làm việc tích cực
đóng góp nhiều ý kiến bổ ích, cũng như đã nhất trí tái
bản bộ sách. Chúng tôi còn được giáo sư Nguyễn Huệ Chi,
người từng có điều kiện thâm nhập hai tập Việt Nam Phật
giáo sử luận từ rất sớm, vui lòng viết Lời giới thiệu
in vào đầu trang sách cũng như soát kỷ lại bản thảo. Xin
được ghi lại ở đây lời cám ơn chân thành của Nhà xuất
bản Văn học.
Do
chỗ tác giả hiện đang ở xa, không thể trao đổi, bàn bạc
trước khi in sách, chúng tôi hy vọng mấy lời Cùng bạn đọc
trên đây phần nào cũng có thể thay thế cho lời xin phép
tái bản sách của ông.
Sau
cùng, dù đã hết sức cố gắng, lần tái bản này phải bỏ
lại số lớn các bức ảnh phụ bản của Việt Nam Phật giáo
sử luận vì bản in trong nguyên bản vốn mờ sẵn. Thành thực
cáo lỗi cùng tác giả và bạn đọc.
Sau
khi Việt Nam Phật giáo sử luận công bố rộng rãi ở trong
nước, nhiều bạn đọc đã gửi thư về Nhà xuất bản đánh
giá cao bộ sách, và đề nghị đặt mua thêm. Vì vậy, lần
này Nhà xuất bản cho in lại cả hai tập sách trên.
Ðể
bộ sách ra mắt được hoàn chỉnh, xứng đang với mong đợi
của độc giả, trước khi in chúng tôi đã nhờ Giáo sư Nguyễn
Huệ Chi và Ban văn học Cổ cận đại Viện Văn học chỉnh
đốn lại kỹ càng những chỗ bất nhất về quy cách trình
bày mà lần in trước vẫn chưa khắc phục được. Ngoài ra,
chúng tôi còn nhờ nhà nghiên cứu mỹ thuật Tố Như tìm lại
các bản chính mà Giáo sư Nguyễn Lang đã mượn làm phụ bản
nhằm bổ khuyết phần minh họa, nhưng rất tiếc các bản
chính này cũng bị mờ, hơn nữa có tài liệu như của Miklós
(Hongrie) còn chú dẫn xuất xứ nhầm lẫn; cuối cùng Phó giáo
sư Tố Như đã phải tổ chức chụp lại từ nguyên mẫu các
chùa miền Bắc, nhờ đó có được những bức ảnh màu thay
cho ảnh đen trắng, đồng thời cũng bổ sung thêm một số
ảnh xét thấy có thể góp phần làm cho bộ sách có nhiều
dẫn liệu hơn. Giúp vào việc này có có các nhà nhiếp ảnh
Lê Cường, Võ Văn Tường, và Ðại đức Thích Phước An (phần
ảnh chùa miền Trung và miền Nam). So với bộ sách gốc, khối
lượng ảnh giờ đây đã phong phú hơn trước, đúng như mong
muốn của tác giả trong mấy dòng phụ đề ở cuối tập
III.
Xin
chân thành cảm tạ tấm lòng thịnh tình của tất cả.
NHÀ
XUẤT BẢN VĂN HỌC
LỜI
GIỚI THIỆU
Tập
I bộ sách Việt Nam Phật giáo sử luận của ông Nguyễn Lang
xuất bản ở Sài Gòn năm 1973, tính đến nay đã gần chẵn
hai thập kỷ [1]. Sau ngày Bắc Nam thống nhất, nhiều
bạn đọc miền Bắc hẳn đã từng có dịp tiếp xúc với
công trình còn dở dang này. Nhưng không lâu sau đó vào năm
1978, tập II được công bố tiếp ở Paris, vẫn dưới danh
nghĩa nhà xuất bản cũ. Ngay chính tập I cũng được tác giả
cho in lại, nội dung không mấy thay đổi, duy hình thức ấn
loát trang nhã và hiện đại hơn. Và chỉ vào khoảng giữa
cuối năm 1978 là cùng, cả hai tập sách vừa tái bản vừa
in mới ấy, đã hầu như có mặt trong đời sống học thuật
của giới nghiên cứu trong nước, Bắc cũng như Nam.[2]
Có
thể nói bộ sách đã được đón nhận với một thiện cảm
không phải bỗng chốc có ngay, mà nẩy nở dần dà cùng với
quá trình đọc sách. Ðiều đó có lý do của nó. Nói về
lịch sử Phật giáo thì trước Nguyễn Lang khá lâu, những
tên tuổi như Trần Văn Giáp, Thích Mật Thể, bằng uy tín
cá nhân, trong nghiên cứu, biên khảo, hoặc trong hành Ðạo,
xử thế, đã cho ra đời những công trình như Le Bouddhisme
en Annam des origines au XIIè siècle [3] và Việt Nam Phật
giáo sử lược[4] ,khiến người ta nhìn vào phải vì nể.
Và trước Trần Văn Giáp, Thích Mật Thể rất lâu cũng đã
có những bộ “Thiền phả” nổi tiếng, lẻ tẻ xuất hiện
trong các thế kỷ từ XIV, đến XIX, như Thiền Uyển Tập Anh
[5],Tam tổ thực lục [6], Thánh Ðăng lục[7] , Thiền uyển
kế đăng lục[8], Ðại Nam thiền uyển truyền đăng lục [9]...
mà những ai quan tâm nghiên cứu đều có biết đến dù ít
hay nhiều. Vậy thì, trong tình hình nghèo nàn, ít ỏi và sai
lạc - vì luôn luôn bị mất mát hủy hoại - của kho tài liệu
văn hóa - tôn giáo - triết học trong liền mấy thế kỷ nay,
lại càng nghèo nàn hơn vì sự hủy hoại đáng sợ của ngót
nửa thế kỷ vừa qua, như nhiều nhà nghiên cứu đã được
tận mắt chứng kiến, liệu ông Nguyễn Lang có tìm thêm được
điều gì mới hay không để đóng góp vào con đường mà người
trước đã khai phá? Mối băn khoăn e ngại thực là chính đáng,
nhưng cũng quả tình đã lần lượt đánh tan đi, khi ta từng
bước tiếp xúc với Việt Nam Phật giáo sử luận.
Trước
hết, bù đắp vào sự thiết thốn tài liệu, cuốn sách của
Nguyễn Lang đã biết dựa rất chắc chắn trên từng chặng
thành tựu của những công trình đã có, kể từ những cuốn
Lý hoặc luận, Từ thập nhị chương cuối đời Hán, cho đến
những cuốn sách mới xuất bản gần đây. Về phương diện
này, phải thừa nhận Việt Nam Phật giáo sử luận có cái
nhìn thâu tóm khá rành mạch và chuẩn xác, có thái độ tri
âm, tri kỷ của người biết kế thừa. Không những thế hay
còn quan trọng hơn, tác giả lại biết chọn cho mình một
phương thức trình bày uyển chuyển: kết hợp giữa viết
sử và bình luận lịch sử; giữa xây dựng các mốc biên
niên sử truyền giáo (bao gồm thế thứ các tông phái) và
lần tìm ra sợi dây thống nhất bên trong kết nối các mốc
biên niên sử ấy lại, qua đó tạo thành dáng nét riêng, là
linh hồn, bản sắc của Phật giáo Việt Nam; giữa nghiên cứu
tiểu sử các nhà tu hành và đi sâu tìm hiểu tính cách con
người, tư tưởng, thơ ca của họ... Bởi thế, bộ sách của
Nguyễn Lang tuy không đưa ra một tài liệu gì thật đột xuất,
nhưng đã đáp ứng được một trong những nhu cầu khách quan,
ngày càng trở nên bức xúc của khoa học xã hội và nhân
văn nước ta, trong một cố gắng chung nhằm mạnh mẽ quay
về với văn hóa dân tộc. Ðó là nhu cầu khám phá cặn kẽ
về Phật giáo Việt Nam - một thực thể tinh thần đã tồn
tại hàng nghìn năm, không phải với tư cách một tôn giáo
ngoại nhập, mà đã được bản địa hóa từ rất lâu, và
vẫn được thường xuyên bản địa hóa, để trở thành một
phần tâm linh dân tộc; không phải chỉ là một tôn giáo đơn
thuần mà cao hơn hẳn thế, còn là một thành tố trọng yếu
của văn hóa, tư tưởng; và không phải là một thành tố
rời rạc, phiến đoạn, mà luôn luôn hiện diện như một
hệ thống có sức vận động và phát triển tự thân trong
suốt tiến trình lịch sử. Nếu nói rằng Nguyễn Lang đã
tìm ra được một kết cấu hợp lý cho bức tranh sống thực
của lịch sử Phật giáo Việt Nam từ nguồn gốc đến thế
kỷ XIX thì cũng không có gì quá đáng, vì lẽ, dù đó đây
có nhiều điểm còn phải bổ sung, thay đổi, cái kết cấu
mà ông tạo dựng nên trong sách cũng đã trở thành một cái
gì khách quan và ổn định, nó góp phần làm sống lại không
khí cũng như diện mạo cụ thể của sinh hoạt Phật giáo
qua các thời đại, đến mức ngay những bộ sách cùng đề
tài triển khai sau ông, muốn tự đề xuất một hướng tìm
tòi mới, khoa học hơn, xác đáng hơn, chung quy vẫn dựa vào
kết cấu đó, đôi khi còn biến hóa vay mượn nó một cách
lộ liễu.
Thực
ra, nói Nguyễn Lang không đưa ra tài liệu gì mới thì cũng
không đúng hẳn, Như Bl. Pascal từng lấy ví dụ về một người
chơi cầu biết gieo quả cầu đúng chỗ để nhấn mạnh vai
trò tiên quyết của cách lựa chọn và sử dụng tài liệu
trong nghiên cứu[10] , ta cũng có thể nói như vậy về bộ
Phật giáo Việt Nam sử luận của ông Nguyễn Lang. Mặc dù
xét từ những tài liệu cốt yếu làm nền cho bộ sách. Nguyễn
Lang không có nhiều những tư liệu độc đáo hơn người,
nhưng ông lại tìm được những bộ tài liệu bổ trợ hiếm
có, nhất là tài liệu Phật giáo Trung Quốc liên quan đến
Phật giáo Việt Nam; đặc biệt hơn nữa là ông đã biết
cách làm cho tư liệu “sống dậy”. Một mặt, chúng được
ông khảo sát thật tâm huyết và tỷ mỷ, như một nhà văn
bản học thực thụ, nhằm đưa ra những bằng cứ có giá
trị “thiết chứng”, thuyết phục được người xem. Mặt
khác, ông biết nhìn ra trong tư liệu những tiếng nói riêng,
những “ẩn ngôn” bất ngờ có khả năng thông báo những
điều lý thú, mà người khác nhìn vào chưa chắc đã thấy
gì. Vì thế, tuy đã hơn một lần đọc các tài liệu này,
ta vẫn bị ngòi bút ông lôi cuốn không thể nào cưỡng lại
được, và say mê theo dõi các phát hiện của ông, từ những
nhận định về vị trí đặc biệt của trung tâm văn hóa
Luy Lâu so với Lạc Dương và Bành Thành, về ảnh hưởng của
Thiền học Việt Nam đối với Thiền học Trung Quốc ngay từ
buổi sơ khởi, thông qua Thiền sư Khương Tăng Hội, đến
các tìm tòi gợi ý về quá trình hình thành bộ sách Thiền
uyển tập anh, về gốc tích của Tuệ Trung Thượng sĩ [11],
về địa lý đặc biệt của Pháp Loa trong Trúc Lâm tam tổ,
về địa vị đặc biệt của Pháp Loa và Trúc Lâm tam tổ,
về mối quan hệ ý nhị giữa Pháp Loa và Huyền Quang, về
bước chuyển rõ rệt của Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn
nhà Trần (phóng khoáng ở sơ Trần và được tổ chức hoàn
bị sau khi Trần Nhân Tông nắm quyền lãnh đạo Giáo hội
Trúc Lâm), về ảnh hưởng của Mật tông đậm nét trở lại
dưới thời Trần Anh Tông cũng như trách nhiệm của nhà Nho
cố chấp Ðoàn Nhữ Hài trong việc phá vỡ quan hệ hòa hảo
Chiêm - Việt mà Trần Nhân Tông đã xây dựng. Thiền phái
Tào Ðộng và Thiền phái Lâm Tế ở Ðàng ngoài và Ðàng trong
thế kỷ XVII... Ta cũng không thể không suy nghĩ với thái độ
trân trọng, trước những phân tích sâu sắc mà chừng mực
của ông về tư tưởng Phật giáo của Trần Tung, Trần Thái
Tông, Trần Nhân Tông, Hương Hải Thiền sư, Thạch Liêm Thiền
sư, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh của Ngô Thì Nhậm, hay Thập
giới cô hồn quốc ngữ văn của Lê Thánh Tông...
Nhờ
lối phân tích kết hợp uyển chuyển giữa hành xử của nhân
vật và cách nhân vật quan niệm, tìm tòi triết thuyết Phật
giáo, tác giả thường làm hiện diện trước mặt người
đọc không phải một vài bản tiểu sử khô khan về các vị
tổ “đèn nối đèn”, mà là hàng loạt tính cách sinh dộng.
Ðặc biệt, nhờ phương pháp luận giải và chứng minh không
áp đặt, cứ để cho đối tượng tự nói lên, ý kiến Nguyễn
Lang không mấy khi làm người đọc khó chịu, dù có thể chỗ
này chỗ khác vẫn chưa tán đồng. Ở đây, ông đã tránh
được hai khuynh hướng trái ngược mà nhiều công trình nghiên
cứu trước nay hay vấp: hoặc rơi vào tình trạng nói suông,
bất chấp tư liệu, chỉ cốt phục sẵn một vài quan điểm
nào đấy và cố chứng minh cho sự sáng suốt đứng đắn,
nhìn xa trông rộng của những quan điểm ấy. Hoặc người
lại, trích dẫn tài liệu la liệt, nhưng không có tài liệu
nào ăn nhập với đối tượng cả, rốt cuộc đối tượng
chỉ là cái cớ cho sự phô bày các tri thức uyên bác của
mình.
Bộ
sách của Nguyễn Lang còn có một ưu điểm đáng quý: coi trọng
vai trò của tài liệu trong luận chứng, có thái độ tỉnh
táo trước hiện tượng thật giả khó phân của nhiều nguồn
tư liệu, nhưng không bao giờ đi đến một thái độ cực
đoan, hoài nghi chủ nghĩa, trong khi lục vào kho tài liệu nghèo
nàn, thậm chí hỗn loạn của cha ông.
Tinh
thần tôn trọng sự thật ở đây hoàn toàn không bị lẫn
lộn với sự phủ nhận sạch trơn di sản quá khứ. Vạch
ra tất cả những ý kiến khác nhau về niên đại xuất hiện
của cuốn Lý hoặc luận được coi là của Mâu Bác, từ Lương
Khải Siêu, Hồ Thích, H. Maspéro, Pelliot, đến Mastsumoto Buzaburo
(Nhật Bản)... Nguyễn Lang vẫn tìm được một giải pháp
khả thủ để sử dụng cuốn sách đó nhằm soi rọi cho tình
hình truyền bá đạo phật ở Giao Châu vào thế kỷ thứ II
sau Công nguyên mà không làm độc giả phân vân, nghi ngờ.
Hay khi duyệt lại các ý kiến phản bác quan niệm truyền thống
cho rằng Thập giới cô hồn quốc ngữ văn là của Lê thánh
Tông, ông đã tìm được một hướng giải quyết tích cực:
đi sâu vào nội dung cụ thể của bài văn để rút ra nét
tính cách nhà Nho của chính người sáng tác. Nét tính cách
này, theo Nguyễn Lang, chứng tỏ người đó rất gần gũi với
Lê Thánh Tông. Những phân tích thấu đáo như trên thật có
lý có tình, và rõ ràng không phải là cách nêu nghịch lý
cho vui của một người thiếu trách nhiệm. Thiết tưởng,
trong các giá trị của một công trình nghiên cứu, cũng phải
quan tâm đến phần giá trị ngoài ngôn bản, tức là định
hướng tư tưởng của người xây dựng nên công trình. Ðịnh
hướng của người viết Việt Nam Phật giáo sử luận không
có gì khác bơn là củng cố niềm tin của bạn đọc vào các
truyền thống văn hóa tốt đẹp, lâu đời của dân tộc chúng
ta, Ðó hiển nhiên là một định hướng chính xác.
Lẽ
tự nhiên, Việt Nam Phật giáo sử luận cũng có một số nhược
điểm. Nhược điểm dễ thấy nhất là việc phân bổ tỷ
lệ chương mục giữa hai tập chưa đồng đều. Nếu xét về
số trang thì tập II quá mỏng trong khi tập I lại quá dày,
nhưng nếu xét về nội dung vấn đề thì dường như tập
I có tham vọng bao quát lịch sử Phật giáo cho đến hết thời
thịnh trị của nó (nhà Trần), hóa ra lại chưa khái quát
được, phải để lại một chương vào tập II - Chương XVII:
“Sinh hoạt tăng đồ và cư sĩ”. Phải chăng lúc viết xong
tập I, tác giả chưa có ý định viết chương này, về sau
đọc lại thấy thiếu nên mới phải bổ sung? Nhưng cũng do
sự bổ sung có phần vội vã nên chương này lại để lộ
ra một nhược điểm, mà các chương khác đã không vấp phải.
Ta biết rằng, chỗ mạnh của ông Nguyễn Lang là ở phương
pháp phân tích tài liệu, nhưng không biết vì sao ở chương
XVII tác giả đã trình bày một cách khá tỉ mỷ về những
cung cách tổ chức và sinh hoạt của Giáo hội Phật giáo Việt
Nam vào thời Lý - Trần mà lại không chú ý giới thiệu tỷ
mỷ xuất xứ tài liệu làm chỗ dựa cho lập luận của ông,
khiến ta có cảm giác nhiều chỗ ông đã mượn các bộ sách
Trung Quốc mà chủ yếu là Sắc tu Bách Trượng thanh quy của
Ðức Huy đời Nguyên để dựng lên bức tranh sinh hoạt đó.
Cách làm như vậy cũng là chuyện bình thường, hữu lý, tuy
nhiên, cần chú dẫn để người đọc khỏi ngộ nhận, mặt
khác cũng cần cân nhắc thận trọng để không nẩy sinh mâu
thuẩn giữa “lý thuyết” và thực tế lịch sử.
Cũng
nói về chú dẫn tài liệu, thảng hoặc trong sách ta bắt gặp
dấu vết của những tài liệu nghiên cứu ở miền Bắc lúc
bấy giờ mà Nguyễn Lang đã tham khảo, nhưng vì lý do gì đâùy
mà chua rõ xuất xứ [12], cũng có tài liệu ông có chua xuất
xứ thì thật đáng tiếc tiếc, sự gián cách lại làm ông
lầm lẫn [13]. Cách bố trí chương mục ở Tập II nhìn chung
cũng chưa thật chặt chẽ, nên có cái gì như vừa thừa lại
vừa thiếu. Chẳng hạn, tại sao không có một chương riêng:
“Ðạo Phật trong một thế kỷ đất nước thống nhất dưới
triều nhà Nguyễn” mà chỉ có chương “Các danh tăng triều
Nguyễn”? Vì không có điều kiện sưu tầm tài liệu chăng?
Hoặc giả, tại sao lại có hẳn một chương nêu lên mối
quan hệ giữa Phật và Nho (xét về mặt học thuyết), dưới
đầu đề “Lý học và Phật giáo”, mà không có chương
nào nêu lên mối quan hệ chắc chắn là rất mật thiết giữa
một vài tông phái Phật giáo và Ðạo Giáo (xét về nghi thức
thực hành giáo lý - chẳng hạn người mở đầu Hoàng Giang
giáo phái ở Sơn Nam là Ðỗ Ðô, thuộc thế hệ thứ tư dòng
thiền Thảo Ðường, rõ ràng là người đã kết hợp chặt
chẽ Mật tông với Ðạo giáo)? Và tại sao trong chương “Lý
học và Phật giáo” thì lại chỉ đề cập đến Lê Quý
Ðôn (đặt ông này vào thế hệ sau thế hệ Ngô Thì Sĩ có
đúng không?), Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Công Trứ,
Nguyễn Du chứ không thêm vào dăm ba tên tuổi khác cũng có
thơ văn bàn về Phật và Nho? Ngay như Nguyễn Công Trứ và
Nguyễn Du, tuy đều là nhà Nho thật đấy, nhưng sáng tác của
họ đả động trực tiếp đến vấn đề gì có liên quan
giữa Lý học và Phật học và Phật Học thì cách giải thích
kể cũng chưa phải đã rõ ràng.
Tựu
trung, nhận xét có thể rút ra không mấy khó khăn, là tập
II không được chuẩn bị kỹ như tập I. Tập I tuy cũng còn
những tiết mục viết sơ lược, như mục “Thiền ngữ và
hình ảnh thi ca” (Chương VI), (nếu ta đối chiếu với cách
D.T. Suzuki trình bày vấn đề “Thiền và thơ Haikư” trong
cuốn Thiền và văn hóa Nhật Bản [14], hẳn nhận ra chỗ còn
sơ lược của Việt Nam Phật giáo sử luận), nhưng xét về
tổng thể, cả tập I vẫn là một khối gắn bó vững chắc,
trong khi tập II có phần lỏng lẽo hơn. Có vẻ như một số
chương ở tập này chỉ mới là những cái khung được dựng
sơ sài, hoặc có những cánh cửa còn để ngỏ, để tác giả
còn có dịp bổ sung sửa chữa khi tái bản.
Với
tất cả những ưu điểm nổi bật và những mặt còn tồn
tại của nó, tôi Việt Nam Phật giáo sử luận vẫn là một
trong số rất ít công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh về Phật
Học Việt Nam trong vòng 20 năm qua. Ðối với người nghiên
cứu
chuyên sâu hay với bạn đọc rộng rãi muốn nhìn lại lịch
sử Phật giáo Việt Nam, hẳn chắc đều có thể tìm thấy
ở đây những gợi ý hữu ích, và một người dẫn đường
đáng tin cậy.
Viết
tại Mộng Thương thư trai mùa kết hạ 1992
Gs.
NGUYỄN HUỆ CHI
[1]
Nxb. Lá Bối, Sài Gòn, 1973.
[2]
Người viết bài này, mặc dù không có hân hạnh quen biết
tác giả, vào cuối năm 1978 cũng nhận được 2 tập sách gửi
qua Bộ Ngoại gia đến Nxb. Khoa học xã hội (là nơi in xong
Thơ văn Lý - Trần, tập I) với lời đề tặng trân trọng.
Nhân dịp này xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành của chúng
tôi.
[3]
Của Trần Văn Giáp. BEFEO, XXXIII.
[4]
Của Thích Mật Thể, Nxb, Tân Việt, Hà Nội, 1943.
[5]
Tác phẩm đời Trần, ghi chép phả lục các dòng Thiền Vô
Ngôn Thông, Tỳ Ni Ða Lưu Chi, và Thảo Ðường. Bản in sớm
nhất còn lại vào năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1765).
[6]
Tập tiểu thuyết về 5 vị Thiền sư đồng thời là vua triều
trần: Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông.
Bản in sớm nhất còn lại vào năm Cảnh Hưng thứ 16 (1765),
do Sa môn Quảng Ðiền và Hải Lượng trùng đính, trùng san.
[7]
Tập tiểu thuyết về 5 vị Thiền sư đồng thời là vua triều
Trần: Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông.
Bản in sớm còn lại vào năm Cảnh Hưng 11 (1750), do sư Quảng
Ðức hiệu đính và đề tựa.
[8]
Tên đầy đủ là Ngự chế Thiền uyển thống yếu kế đăng
tục, do Thiền sư Như Sơn biên soạn, được khắc bản vào
năm Giáp dần (1.734).
[9]
Còn có tên là Thuyền uyển kế đăng lược lục, do Hòa thượng
Phúc Ðiền biên soạn, khắc bản vào năm Tự Ðức thứ 12
(1859).
[10]
“Ðừng có bảo tôi đã không nói cái gì mới. C¸ách bố
trí tài liệu là cái mới đó. Cũng như khi người ta đánh
cầu, hai người cùng chơi một quả cầu, nhưng một người
gieo đúng chỗ hơn (Les Pensées)
[11]
Trong thời gian ông Nguyễn Lang tìm ra tên thật của Tuệ Trung
Thượng sĩ ở Sài Gòn thì ở Hà Nội, nhóm nghiên cứu thơ
văn Lý - Trần của Viện Văn học cũng đạt đến kết quả
đó. Xem thơ văn Lý - Trần, Tập I, Nxb. Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1977; tr. 113 - 115.
[12]
Chẳng hạn, bài Một vài tìm tòi bước đầu về văn bản
thơ văn Lý - Trần của Trần Thị Băng Thanh. Tạp chí Văn
học số 5 - 1972, đã được sử dụng ở các trang 269 - 272,
tập I Việt Nam Phật giáo sử luận (bản in lần này)
[13]
Trong tập II của bộ sách, tác giả đã sử dụng một giả
thuyết của Ðinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên trong cuốn Văn Học
dân gian, Tập I (Nxb. Ðại học và trung học chuyên nghiệp,
Hà Nội, 1972; tr. 228) để cho rằng tác phẩm Trần triều Thiền
tông truyền tâm quốc ngữ hành là một tác phẩm dân gian
thuộc loại văn kể hạnh ra đời từ đời Trần (xem tr. 75,
tập II, bản in lần này)
[14]
Xin xem Thiền dữ Nhật Bản văn hóa. Ðào Cương dịch sang
Trung văn. Sinh hoạt, độc th ư, tân trị tam liên thư điếm
phát hành, Bắc Kinh, 1989; tr. 145-186.
Source:
Tu Viện Quảng Đức