Chương
mười
PHẬT
GIÁO HIỆN ĐẠI.
Tuy
nhiên, ít năm trước ở Bắc cũng có Cụ tổ Vĩnh Nghiêm (Thanh
Hanh), sư cụ Tổ Các (Phan Trung Thứ), sư cụ Bằng Sở (Dương
Văn Hiển); ở Trung có ngài Tâm Tịnh, ngài Huệ Pháp, ngài
Phước Huệ; ở Nam có ngài Khánh Hòa thỉnh thoảng mở trường
giảng dạy. Nhờ vậy, đạo pháp cũng còn lưu lại ảnh hưởng
chút ít.
Lại
cách đây trên 10 năm, nhờ ảnh hưởng chấn hưng Phật giáo
ở Trung Hoa mà nước ta lại có phong trào vận động chấn
hưng Phật giáo. Những người khởi xướng đầu tiên là ngài
Khánh Hòa và sư Thiện Chiếu (sau vì trong công việc vận động
phải bị nhiều trở lực, ngài Thiện Chiếu đã tức giận
bỏ về tục) cùng các ngài Tăng-già, cư sĩ khác lập thành
Nam kỳ nghiên cứu Phật học hội (1931) ở Nam. Rồi lần đến
Trung kỳ có ngài Giác Tiên, ông Lê Đình Thám (cư sĩ) ban đầu
mở đạo trường ở chùa Trúc Lâm, mời ngài Phước Huệ
chùa Thập Tháp - Bình Định làm chủ giảng; sau lần đến
nhóm cư sĩ lập thành Phật học hội (1932); ở Bắc có sư
Trí Hải cùng cụ Nguyễn Năng Quốc và các ngài Đại đức,
cư sĩ khác lập Bắc kỳ Phật giáo Tổng hội (1934).
Ba
miền đều có mở đạo trường cả, ở Bắc có trường Tăng
ở chùa Quán Sứ, trọng Ni ở chùa Bồ-đề đo Bắc kỳ Phật
giáo hội tổ chức; ở Trung có Phật học viện ở chùa Tây
Thiên, đầu tiên do các thầy Đại đức và một nhóm thanh
niên trong Sơn môn tổ chức, hiện nay đã giao lại cho toàn
thể Sơn môn quản cố; lại có Phật học viện ở chùa Báo
Quốc do Phật học hội tổ chức, duyên khởi thành lập đầu
tiên là thầy Giảng sư Mật Khế, và trường Ni ở chùa Diệu
Đức do một nhóm nữ cư sĩ tổ chức; trong Nam thì có Phật
học viện do hội Lưỡng Xuyên Phật học Trà Vinh tổ chức.
Ngoài
ra, hội nào cũng xuất bản tạp chí để hoằng dương Phật
pháp; ở Nam có báo Từ Bi âm, Duy Tân; ở Trung có tạp chí
Viên âm; ở Bắc có báo Đuốc Tuệ .v..v Thỉnh thoảng lại
có một vài vị sư trí thức và những nhà cư sĩ, học giả
ở ngoài cũng viết sách truyền bá Phật lý . . .
Nói
tóm lại thì Phật giáo hiện thời đã có phần chấn hưng.
Nhưng có một trở lực mà chưa có Hội nào hay một Sơn môn
nào giải quyết, là: Cổ động thì hội nào cũng cổ động
bằng Quốc văn là nền văn phổ thông, nhưng kho kinh điển
triết lý nhà Phật vẫn còn nguyên khối bằng Hán văn .Vả
dấu tích đồi bại điêu tàn của ngày qua, hiện nay vẫn
còn lưu hành lại rõ rệt và có thế lực. Nên thật ra cả
mấy hội Phật học ấy ngoài mấy việc xây hội quán, làm
chùa và cổ động một số đông người quy y, còn chưa hội
nào làm được việc gì vĩ đại có vẻ đỉnh cách cho nền
Phật giáo cả.
Trong
lúc này, đại đa số Tăng đồ trong các Sơn môn vẫn đương
mơ màng thiêm thiếp, chưa làm một việc gì tỏ rõ là người
đã thức tỉnh. Cho nên tuy hiện giờ có phong trào chấn hưng
mà kỳ thực mới là chấn hưng hình thức và danh hiệu.
Một
nền Phật giáo chỉnh đốn, in tuồng đương đợi một cuộc
tổ chức tương lai do một phương pháp cải tạo hoàn toàn
chơn chánh.
Chúng
tôi rất mong . . .
Phụ
lục
NHỮNG
GIÒNG KỆ CỦA CÁC PHÁI
Những
giòng kệ của các phái Thuyền tôn hiện hành trong Phật giáo
xứ ta (những giòng kệ ấy cũng như những giòng chữ Hường,
Ưng, Bửu, Vĩnh...của bên Hoàng phái vậy) đối với lịch
sử Phật giáo không có gì quan hệ lắm, tuy những chữ ấy
là để đánh dấu sự truyền thống về mỗi đời. Nhưng
xét hiện nay nó vẫn có thế lực nhiều các Tăng đồ, tín
đồ khi quy y, thọ ký vẫn lấy đó làm thứ lớp mà đặt
pháp danh. Nên nay nhân tiện cũng xin phụ lục ra đây để
người đồng đạo xem qua cho biết.
*
Xét
ngài Nghĩa Huyền lập tôn Lâm Tế truyền đến đời 21 là
ngài Vạn Phong Thời ủy ở chùa Thiên Đồng (Trung Hoa) xuất
ra bài kệ :
Tổ
đạo giới định tôn,
Phương
Quảng chứng viên thông,
Hạnh
viên minh thực tế,
Liễu
đạt ngộ chân không.
Như
nhật quang thường chiếu.
Phổ
châu lợi ích đồng
Tín
hương sanh phước huệ,
Tương
kế chấn từ phong.
Đại
ý :
Tông
giới đinh tuệ của Tổ đạo
Động
lớn chứng viên thông
Hạnh
sáng vượt thực tế
Đạt
ngộ được chân không.
Như
ánh mặt trời thường chiếu sáng
Khắp
nơi đều được lợi ích như nhau,
Hương
thơm của lòng tin sanh phước huệ
Tương
tục làm hưng thịnh ngọn gió từ.
(Nguyên
Lệ dịch để tham khảo năm 2004).
Bài
kệ này có chỗ chép 4 câu, có chỗ chép cả 8 câu. Có nhiều
ngài nói nguyên bài kệ chỉ có 4 câu đầu, còn 4 câu sau là
người sau nối thêm, mà có lẽ là ngài Minh Lý chùa Thập
Tháp Bình Định (xem lại bản đồ H).
Truyền
đến đời 22 là ngài Bảo Tạng cho đến đời 31 là ngài
Đạo Mân (ở chùa Thiên Khai, Trung Hoa), ngài xây lại chia ra
giòng kệ khác :
Đạo
bổn nguyên thành Phật tổ tiên,
Minh
như hồng nhật lệ trung thiên.
Linh
nguyên quảng nhuận từ phong phổ,
Chiếu
thể chân đăng vạn cổ huyền.
Đại
ý :
Gốc
đạo vốn thành Phật, Tổ tiên,
Sáng
như mặt trời đỏ rực rỡ giữa không trung,
Nguồn
linh thấm rộng, từ phong lan tỏa,
Ngọn
đèn chân thật chiếu sáng thế gian vẫn treo cao muôn đời.
(Nguyên
Lệ dịch để tham khảo năm 2004).
Ngài
này truyền cho ngài Bổn Khao Khoán Viên, ngài Khoán Viên truyền
cho ngài Hoán Bích Nguyên Thiều Siêu Bạch, ngài Siêu Bạch
truyền cho ngài Minh Hoằng Tử Dung, Minh Hải Pháp Bảo, Minh
Vật Nhất Trí, Minh Hành Tại Toại v.v. . .
Ngài
Tử Dung Minh Hoằng truyền cho ngài Thiệt Diệu Liễu Quán (ngài
này khai sơn chùa Thuyền Tôn có tục bài kệ - xem truyện ngài
ở trước).
Ngài
Minh Hải Pháp Bảo người Phúc Kiến, qua An-nam ở tỉnh Quảng
Nam khai sơn chùa Chúc Thánh biệt xuất một giòng kệ :
Minh
thiệt pháp toàn chương
Ấn
chân như thị đồng,
Chúc
Thánh thọ thiên cửu,
Kỳ
quốc tộ địa trường
Đắc
chánh luật vi tuyên,
Tổ
đạo hạnh giải thông.
Giác
hoa Bồ-đề thọ,
Sung
mãn nhơn thiên trung.
Đại
ý :
Hiểu
thấu pháp chân thật,
Ấn
Chân như hiện tiền.
Cầu
Thánh quân tuổi thọ,
Chúc
đất nước vững bền.
Giới
luật nêu trước tiên,
Giải
và hạnh nối liền.
Hoa
nở cây giác ngộ,
Hương
thơm lừng nhân thiên.
(Nguyễn
Lang, sđd, tr. 594).
Ngài
Minh Vật Nhất Trí truyền cho đời 35 là ngài Thiệt Thoại
Tánh Tường, đời 36 ngài Tế Giác Quảng Châu cho đến đời
41 ngài Trí Thắng.
Bích
Dung lại biệt xuất giòng kệ :
Trí
huệ thanh tịnh,
Đạo
đức viên minh.
Chân
như tánh hải,
Tịch
chiếu phổ thông.
Tâm
nguyên quảng tục,
Bổn
giác xương long.
Nặng
nhơn thánh quả,
Thường
diễn khoan hoằng.
Duy
truyền pháp ấn,
Chánh
ngộ hội dung.
Kiên
trì giới hạnh,
Vĩnh
kế tổ tông.
Đại
ý :
Trí
huệ thanh tịnh
Đạo
đức viên minh
Bổn
tánh của chân như
Lặng
chiếu khắp tất cả
Nguồn
tâm tiếp tục mở rộng
Gốc
giác được hưng thịnh
Thánh
quả bậc Năng nhân
Mãi
tiếp tục mở rộng
Nhằm
truyền pháp ấn
Giác
ngộ ngân chánh được dung hội
Kiên
trì giới hạnh .
Mãi
nối tiếp tổ tông.
(Nguyên
Lệ dịch để tham khảo năm 2004).
Ngài
Minh Hành Tại Toại ở Nhạn Tháp Bắc kỳ cũng biệt xuất
một giòng kệ :
Minh
chân như bảo hải,
Kim
tường phổ chiếu thông.
Chí
đạo thành chánh quả,
Giác
ngộ chứng chân không.
Đại
ý :
Làm
sáng tỏ biển báu của chân như
Điềm
lành quí báu chiếu khắp
Đạo
rốt ráo thành chánh quả
Giác
ngộ chân không.
(Nguyên
Lệ dịch để tham khảo năm 2004).
Lại
xét ngài Thanh Nguyên Hành Tư Thiền sư học trò ngài Lục Tổ,
ngài Thanh Nguyên bắt đầu truyền cho ngài Thạch Đầu Hy Thiên,
ngài Hy Thiên truyền cho ngài Tịnh Trì Lương Giới hòa thượng
ở Đông sơn lập ra tôn Tào Động, rồi truyền cho ngài Tri
Giao Nhất Cú. Ngài Nhất Cú có xuất bài kệ :
Tịnh
Trí viên thông tôn từ tánh,
Khoan
giác đạo sanh thị chánh tôn.
Mậl
hành nhơn đức xưng lương huệ,
Đăng
phổ chiếu, hoằng pháp vĩnh trường.
Đại
ý :
Trí
thanh tịnh viên thông, tánh từ bi cao tột
Sanh
vào con đường giác ngộ rộng rãi là tâm chân chánh
Mật
hạnh nhân từ gọi là trí tuệ thiện lành
Đèn
chiếu khắp nơi, hoằng pháp mãi mãi.
(Nguyên
Lệ dịch để tham khảo năm 2004).
Ngài
này sau qua An-nam truyền tâm pháp cho ngài Thủy Nguyệt, Thủy
Nguyệt truyền cho Tôn Điển v.v...
Và
các giòng phái như trên, giòng Lâm Tế truyền ở Trung kỳ
rất nhiều; hiện nay khắp ở Trung Nam. Còn giòng Tào Động
truyền ở Bắc rất thạnh.
*
Tư
liệu nghiên cứu về:[1]
A.
Tổ Nguyên Thiều
1.
Tiểu sử chùa Quốc ân [2]
Chùa
Quốc ân là một Tổ Đình lớn và xưa nhất của Phật giáo
Thuận Hóa. Vào cuối thế kỷ thứ XVII, một Thiền sư Trung
Quốc từ Quy Ninh ra, vào cửa Tư Dung lên ở chùa Phổ Thành,
Hà Trung một thời gian, rồi lại lên tại chân đồi Hòn Thiên
cắm tích trượng, dựng thảo am Vĩnh Ân. Vị Thiền sư đó
chính là ngài Hoán Bích mà người ta thường gọi là Tổ Nguyên
Thiều. Thảo am được dựng trong khoảng 1682 đến 1684. Thời
gian này đang ở vào đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687).
Vào đời chúa Nguyễn Phúc Thái (1687-1691) niên hiệu Chính
Hòa năm thứ 10 (1689) của vua Lê Hy Tông nhà hậu Lê, ngày
27-5 Kỷ Tỵ, chúa đã phê chuẩn một sắc lệnh miễn giảm
tất cả thuế đất ruộng cho nhà chùa và đổi hiệu chùa
thành “Quốc Ân Tự”, chúa lại phái ngài Nguyên Thiều Hoán
Bích sang Trung Quốc thỉnh danh Tăng về lập giới đàn, nhưng
ngài Thạch Liêm không qua vào thời gian này. Khi về, Tổ Nguyên
Thiều chi thỉnh về được nhiều pháp khí và Phật tượng...có
lẽ sau chuyến này thì ngài được chúa Nguyễn phái về trú
trì chùa Hà Trung.
Tổ
Nguyên Thiều viên tịch ngày 19-10 Mậu Thân-Tây lịch là ngày
20-1- 1728. Tháp ngài hiện nay ở phía nam Đàn Nam Giao, ấp Thượng
Một, thôn Dương Xuân Thượng. Toàn bộ cảnh tháp cổ còn
nguyên vẹn. Ở bình phong phía trong cửa tháp dày độ 0m60
và cao hơn lm30, có xây cứng một tấm bia. Đấy là bia của
“Đại Việt Quốc Vương” tức chúa Ninh Vương Nguyễn Phúc
Thụ (1725-1738) ban thụy hiệu cho Tổ là “Hạnh Đoan Thiền
sư”. Tên bia là “Sắc tứ Hà Trung Tự Hoán Bích thiền sư
tháp Ký Minh”. Lạc khoản: “Bảo Thái thập niên tứ nguyệt
sơ bát nhật ban phụng lập". Bảo Thái là niên hiệu thứ
hai (1720-1729) của vua Lê Dụ Tông ở Thăng Long-Bắc Hà, các
chúa Nguyễn tuy cát cứ phương Nam, song vẫn dùng niên hiệu
vua Lê để tỏ ý “phù Lê diệt Trịnh”. Chúa Ninh Vương
(viết N) để khỏi lầm với chúa Minh Vương (viết M) là Nguyễn
Phúc Chu (1691-1725). Khi Trú trì chùa Quốc Ân, Tổ Nguyên Thiều
có xây một tháp Phổ Động tại đây. Nhưng đến đời Tây
Sơn, tháp bị đổ nát. Về sau, lúc trùng kiến chùa, người
ta không xây lại tháp nữa.
Tại
chùa Quốc Ân hiện nay, về phía tay phải sân (đi vào) có
tấm bia đá, người ta thường gọi là bia Quốc Ân. Bia này
chính là bia ở tháp Tổ được Hòa thượng Liễu Nhơn Từ
Hiếu sao chép nguyên văn và cho khắc lại y như nguyên bản
cách khắc ở bia tháp cổ. Vào năm 1914, bia còn dựng ở hàng
hiên sau chùa. Trong các kỳ trùng tu về sau thì người ta mới
đem ra vị trí hiện có hiện nay. Đối diện về phía tây
sân chùa là một tấm bia có chạy hoa văn và chạm ở đầu
bia nhưng trong lòng không có chữ gì. Bia do Hòa thượng Liễu
Nhơn Từ Hiếu trùng khắc cũng đã xưa hơn 100 năm nay, chỉ
tiếc là ngài không để ngày tháng trùng khắc, nên có thể
tạo sự lầm lẫn cho hậu thế. Hòa thượng Liễu Nhơn Từ
Hiếu Trú trì Tổ Đình Quốc Ân từ năm 1882 đến 1890.
2.
Sơ lược Tiểu sử Tổ Nguyên Thiều[3]
Tổ
Nguyên Thiều, Pháp tự là Hoán Bích, người huyện Trình Hưng,
phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông. Năm 19 tuổi, ngài xuất
gia tại chùa Báo Tư, tu học dưới sự hướng dẫn của Hòa
thượng Khoáng Viên[4]. Ngài theo thuyền buôn sang Đại Việt
năm 1665 trong đời chúa Nguyễn Phúc Tần. Ban đầu ngài cư
trú tại phủ Quy Ninh (Bình Định bây giờ), sau đó lập chùa
Thập Tháp Di Đà. Chùa này tọa lạc ở làng Thuận Chánh,
huyện Tuy Viễn; sau chùa có mười ngôi cổ tháp Chàm cho nên
chùa được gọi là chùa Thập Tháp. Sách Đại Nam Nhất Thống
Chí nói rằng chùa này lấp năm 1683, niên đại này có lẽ
là niên đại hoàn tất chùa sau nhiều năm xây cất. Năm 1691,
chùa được chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho biển ngạch và câu
đối. Sau đó Tổ Nguyên Thiều lại ra Thuận Hóa dựng chùa
Quốc Ân và xây tháp Phổ Đồng. Chùa Quốc Ân tọa lạc tại
ấp Phúc Quả. Chùa cũng được chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho
liễn đối có ghi đạo hiệu của chúa là “Thiên Túng Đạo
Nhân”. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí nói rằng tháp Phổ
Đồng được xây trước chùa Quốc Ân, sau đó bị binh lửa
tàn phá.
Sách
Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên nói rằng Tổ Nguyên Thiều
có phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Tần sang Quảng Đông rước
Hòa thượng Thạch Liêm (Đại Sán) và thỉnh Pháp khí. Bia
đá chùa Quốc Ân do chúa Nguyễn Phúc Chu đề năm 1729 cũng
nói : “Thiền sư Hoán Bích tự Nguyên Thiều ở chùa Hà Trung
vâng lệnh Nghĩa Vương qua Quảng Đông mời Hòa thượng Đại
Sán”. Xét kỹ Tổ Nguyên Thiều chưa từng mời Hòa thượng
Thạch Liêm; cùng qua Đại Việt với Tổ Nguyên Thiều cũng
có những Thiền sư khác nhưng không có mặt Hòa thượng Thạch
Liêm. Sách Hải Ngoại Kỷ Sự do ngài Thạch Liêm viết cho
biết ngài sang Đại Việt năm 1695 với một người bạn và
nhiều đệ tử của ngài chứ không đi với Tổ Nguyên Thiều.
Sách kể lại chuyện ngài tới thăm chùa Hà Trung là nơi Tổ
Nguyên Thiều Trú trì theo lời thỉnh của chúa Nguyễn. Tại
đây ngài không gặp Tổ Nguyên Thiều mà chỉ gặp một vị
giám lự mới thọ giới Tỳ-khưu với ông mấy tháng trước
đó tại giới đàn Thiền Lâm. Một vị giám tự mới thọ
Tỳ-khưu thì chắc chắn không phải là Tổ Nguyên Thiều, người
đã khai sơn hai tổ đình lớn là Thập Tháp và Quốc A6n. Điều
đó cho ta thấy rằng Tổ Nguyên Thiều đã tịch trước năm
1695, tức là năm Hòa thượng Thạch Liêm tới Đại Việt Niên
đại 1729 đề ở bia Quốc Ân chỉ là niên đại dựng bia
chứ không phải niên đại nhập diệt của Tổ Nguyên Thiều.[5]
Sách
Đại Nam Liệt Truyền Tiền Biên nói Tổ Nguyên Thiều thọ
81 tuổi. Vậy ngài mất vào năm nào và sinh vào năm nào ? Ta
biết khi Tổ Nguyên Thiều mất, chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho
ông thụy hiệu là Hạnh Đoan Thiền Sư. Như vậy ta có thể
biết chắc rằng Tổ Nguyên Thiều mất vào khoảng từ năm
1691 tức là năm chúa Nguyễn Phúc Chu lên ngôi đến năm 1695
tức là năm qua Đại Việt của Thiền sư Thạch Liêm. Như
vậy Tổ sinh vào khoảng 1610 -1614 và qua Đại Việt vào khoảng
từ năm 51 đến năm 55 tuổi.
Sách
Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên có nhắc đến chuyện chúa
Nguyễn Phúc Trăn nhờ Tổ Nguyên Thiều qua Trung Hoa để mời
Cao Tăng và thỉnh Pháp tượng, Pháp khí. Thượng tọa Mật
Thể trong sách Việt Nam Phật giáo Sử lược[6] có nói rằng
sau khi Tổ Nguyên Thiều về Đại Việt, chúa Nguyễn Phúc Trăn
có cho tổ chức giới đàn lớn tại chùa Linh Mụ. Chưa thấy
có chỗ nào chép như thế. Theo Thượng tọa Mật Thể, chuyến
đi của Tổ Nguyên Thiều sang Quảng Đông có mục đích mời
một số Cao Tăng sung vào ban Thập sư truyền giới tại giới
đàn, đồng thời cũng là để thỉnh những Pháp khí (như
tràng phan, chuông, mõ) cần thiết cho giới đàn. Ta nghĩ rằng
một chuyến đi như vậy không thể chỉ để thỉnh tượng
Phật và Pháp khí và một vài vị Tăng sĩ; cho nên việc lập
giới đàn tại chùa Linh Mụ có thể có thực. Dù sao, giới
đàn ấy, nếu có, cũng không long trọng bằng giới đàn do
ngài Thạch Liêm tổ chức tại chùa Thiền Lâm năm 1695. Chúa
Nguyễn Phúc Chu khi tới giới đàn nói sau đã quá khâm phục
mà nói : “May có Lão Hòa thượng tới đây mới được thấy
pháp môn quảng đại trang nghiêm như vậy”. Như thế có nghĩa
là
từ đó về trước chưa có giới đàn nào tổ chức lớn như
vậy, kể cả những giới đàn do Tổ Nguyên Thiều tổ chức.
Chúa Nguyễn Phúc Chu dù còn trẻ chắc cũng đã được đi
theo để dự xem giới đàn Linh Mụ tổ chức dưới thời chúa
Nguyễn Phúc Trăn. Những vị Cao Tăng nào đã cùng qua Đại
Việt với Tổ Nguyên Thiều? Theo tác giả Việt Nam Phật giáo
Sử lược thì cùng qua với Tổ Nguyên Thiều có các Thiền
sư Minh Hành Tại Tại. Minh Hoằng Tử Dung, Minh Hải Pháp Bảo,
Minh Vật Nhất Trí. Ta không thể biết chắc được tất cả
những thiền sư có tên trên đây đã cùng qua với ngài Nguyên
thiều hay không. Thiền sư Minh Hành chẳng hạn, như ta đã
biết, đã qua Đại Việt trước đó tới gần 60 năm, tới
kinh đô Thăng Long vào năm 1633. Vậy ta chỉ có thể nói rằng
một số các Thiền sư có lên ở trên đã cùng qua với Tổ
Nguyên Thiều, mà chắc chắn nhất là những vị đã lưu trú
tại các Tổ đình Thập Tháp và Quốc Ân do ngài Nguyên Thiều
khai sơn, như ngài Minh Vật Nhất Trí, Minh Hoàng Định Nhiên.
Những vị này có thể là những pháp điệt gọi Tổ Nguyên
Thiều bằng sư thúc hay sư bá ; cũng có thể nhiều vị là
đệ tử trực tiếp của ngài Nguyên Thiều. Mật Thể không
tin như vậy, cho rằng thời gian ở Đại Việt của ngài Nguyên
Thiều thì nhiều mà thời gian ở Quảng Đông của ông thì
ít, làm sao ông có thể có đệ tử Cao Tăng được. Tuy nhiên,
nếu ta biết ngài Nguyên Thiều sang Đại Việt hồi 51-55 tuổi,
trở về Quảng Đông lúc trên bảy mươi tuổi thì ta có thể
nói rằng trong số các vị gốc Trung Hoa trú trì tại hai chùa
Thập Tháp và Quốc Ân, có thể có vị là đệ tử trực tiếp
của ngài Nguyên Thiều từ khi ông chưa bỏ nhà Thanh sang Đại
Việt. Dù sao, ít nhất cũng là bảy vị Tăng sĩ vừa Hoa vừa
Việt đứng sau ông một thế hệ đã được ông nâng đỡ
và đặt vào công tác hành đạo. Đó là các vị cư trú tại
Bình Định (Thập Tháp) và Thuận Hóa (chùa Quốc Ân)
: Minh Vật Nhất Trí, Minh Giác Kỳ Phương, Minh Trí Nguyệt
Hạnh, Minh Dung Pháp Thông, Minh Lương Nguyệt An, Thành Đăng
Minh Yêu và Thành Thiên Pháp Thông. Đó là chưa kể những vị
nối nghiệp ngài ở chùa Hà Trung là chùa mà ngài Trú trì
vào những năm cuối cùng của đời ngài.
Chùa
Hà Trung tọa lạc tại xã Hà Trung, huyện Phú Lộc, có lẽ
đã được tạo dựng ngay sau khi chúa Nguyễn Phúc Chu mới
lên ngôi. Về chùa Hà Trung, thiền sư Thạch Liêm đã viết:
“Đoái nhìn chùa son điện ngọc, lấp lánh trong bờ biển
rừng tùng. Nước mây man mác, trập trùng bóng dương, phảng
phất chốn Bồng Lai Lãng Uyển". Và Thạch Liêm có làm ba bài
thơ. Đây là bài thứ nhất :
Lục
liễu thùy thùy ẩn Phạm Cung
Chung
thanh chiêu đệ mãn hà phong
Trúc
ly thảo kính phù lam yểm
Thạch
hác hà lâu đảo ảnh không
Hầu
thực hồng ngư suy thủy thượng
Đề
yên túy điểu lạc hoa trung
Vương
gia từ miếu âm sum xứ
Hướng
hữu linh quang tạ Hải Đông.
(Xanh
mấy từng dương ẩn Phật cung
Chuông
vàng theo gió thoáng bên song
Rèm
tre lối cỏ lên hơi núi
Gành
đá lầu mây xuống bóng đồng
Cá
đỏ chực mồi ngoi mặt nước
Chim
xanh hót nắng đậu giàn bông
Miếu
đền vua chúa thanh u quá
Như
có hào quang chiếu biển Đông[7]
Trú
trì tại chùa Hà Trung không bao lâu thì ngài Nguyên Thiều tịch.
Thụy hiệu Hạnh Đoan Thiền Sư là do chúa Nguyễn Phúc Chu
tặng sau khi ngài Nguyên Thiều mất. Trước khi tịch, ngài
có để lại bài kệ (Xem chương tám, phái Nguyên Thiều)
Tháp
Hóa Môn được dựng trên một khu đồi nhỏ xóm Thuận Hóa,
làng Dương Xuân Thượng. Bia đá chùa Quốc ân nói về ngài
Nguyên Thiều thì mãi đến năm 1725 mới dựng, do chúa Nguyễn
Phúc Chu (1725-1738) đề. Chúa Nguyễn Phúc Chu không những ban
thụy hiệu cho Tổ Nguyên Thiều mà còn làm một bài minh khắc
vào bia để ca tụng đạo đức Thiền sư (xem chương tám,
Phái Nguyên Thiều).
3.
Văn bia Tổ Nguyên Thiều tại chùa Quốc ân.
Sắc
tứ Hà Trung tự Hoán Bích Thiền sư tháp ký minh
Dịch
nghĩa :
Bài
ký và bài minh ở tháp
Thiền
sư Hoán Bích chùa Sắc tứ Hà Trung[8]
Ta
kính vâng mệnh trời mà đến với trăm họ, gà gáy đã dậy,
canh cánh chẳng lúc nào quên cái đạo làm thiện. Ngẫm rằng
nước Việt xét từ khi mở nước đến nay lập am dựng miếu,
thỉnh Tăng cúng Phật, rộng hành phương tiện, mưu cầu dân
nước phồn thịnh, tất thảy đều phải tự mình buông bỏ
tất cả, nương vào niệm lực ngõ hầu mới được sinh thuận
tử an, tiệm cận cảnh giới Hoá Thành. Ví như Thiền sư Hoán
Bích, vào năm Đinh Tỵ Ngài từ Trung Hoa đến, thuở ban đầu
trú tích tại phủ Qui Ninh, dựng chùa Thập Tháp Di Đà, rộng
mở tượng giáo. Kế đến ngài về núi Phú Xuân dựng chùa
Quốc ân và Tháp Phổ Đồng. Tiền triều, sư vâng mệnh đức
Thánh Khảo ta trở về Quảng Đông mời Hoà thượng Trường
Thọ Thạch lão cùng các tượng Phật, pháp khí, chuyến đi
xuôi thuận sư lập được nhiều công tích. Từ đó, sư vâng
chỉ Trú trì chùa Hà Trung, từ đấy, trí tuệ bừng khai tỏ
rõ tận ngọn nguồn. Luận lẽ nhiệm mầu thông suốt tất
cả những gì trước đây mình đã nghe, diệt trừ tà nguỵ
tiếp nối nguồn cơn, khai mở cho hàng hậu học thọ Cụ túc
giới. Thiền sư quê quán ở huyện Trình Hương, phủ Triều
Châu tỉnh Quảng Đông, con nhà họ Tạ, sinh vào giờ Tuất,
ngày 18 tháng 5 năm Mậu Tý. Mười chín tuổi từ thân xuất
gia với Hoà thượng Khoáng Viên chùa Báo Tư, Pháp danh là Nguyên
Thiều, tự Hoán Bích. Kể từ ngày sư xuôi buồm đến đây
tính đã hơn 50 năm. Năm Mậu Thân, ngày 19 tháng 10, nhục thân
nhuốm bệnh, ngài bèn triệu tập môn đồ tứ chúng luận
đến Jẽ nhiệm mầu, di chúc bí ngữ, lúc sắp ra đi cầm
bút viết bài kệ rằng:
Lặng
lặng gương không bóng
Rực
rỡ ngọc không hình
Rành
rành vật chẳng vật
Mênh
mông không chẳng không.
Viết
xong sư đoan nhiên thị tịch, trước sau trải 81 hạ lạp.
Quan lại và môn đồ dựng Tháp ở xứ cửa Hoá Đồ chúng
và mọi người tha thiết thỉnh cầu ta ban ký minh lưu lại.
Ta bèn ban đặt Thụy hiệu là Hạnh Đoan Thiền sư, muốn rằng
tất cả mọi người đời đời ngưỡng mộ đạo lành, đặng
chứng quả Vô thượng của Như Lai, hưởng phúc thái bình
vô lượng, nhân đó làm bài ký cùng tiếp bài minh rằng:
Trí
tuệ sáng ngời
Uy
nghi phạm hạnh
Trăng
nước ưu nhàn
Giới
trì ma phục
Rỗng
lặng tịch nhiên
Uy
nghiêm cao vọi
Quán
thân vốn không
Hoằng
giáo lợi vật
Bốn
bề mây ấm
Tuệ
nhật rộng soi
Ngắm
đi xem đi
Thái
son cao ngất
Bia
lập ngày mồng 8 tháng 4 năm Bảo Thái thứ 10 (… ?)
B.
Tổ Liễu Quán
1 Tóm
tắt tiểu sử chùa Thiền Tôn.[9]
Ở
Huế người ta thường gọi là chùa Thuyền Tôn mà đọc cho
đúng biểu hiệu thì phải gọi là chùa “Sắc tứ Thiên Thai
Thiền Tông Tự”. Chùa Thiền Tôn là một ngôi Tổ Đình quan
trọng không những đối với Phật giáo Thuận Hóa mà còn
đối với cả Phật giáo Nam Hà. Nói quan trọng vì chùa có
bề dày lịch sử lâu dài và đây là ngôi Tổ Đình do một
vị Thiền Tổ người Đại Việt đã khai sơn và khai sáng
cả một hệ phái Thiền rất lớn là phái Thiền Tử Dung -
Liễu Quán chùa được tổ Liễu Quán khai sơn vào khoảng Vĩnh
Thịnh tứ niên (1708), tức là niên hiệu thứ nhất (Vĩnh Thịnh:
1705-1719; Bảo Thái:1720-1729) của vua Lê Dụ Tông ở Thăng Long
- Bắc Hà. Mùa thu năm Nhâm Tuất (1742) nhằm năm Cảnh Hưng
thứ ba triều nhà Lê ở Bắc Hà, và đời chúa Võ Vương (Nguyễn
Phúc Khoát) năm thứ 5 ở Nam Hà, Tổ thị tịch, năm Quý Hợi
(1743) nhập tháp. Đến năm CảnhHưng thứ 9 (1748), thì có sư
Thiện Kế ở chùa Tang Liên ôn Lăng, tỉnh Phước Kiến, Trung
Hoa; nhân cuộc Nam du, đến bái yết tháp Tổ, môn đồ tứ
chúng xin sư viết cho bài văn bia theo các sử kiện mà 49 cao
đệ tử của Tổ thuật lại. Bia ấy gọi là bia “Sắc tứ
Lâm Tế chính tông, đệ tam thập ngũ thế, Liễu Quán Hòa
thượng, thụy Chánh Giác Viên Ngộ Hòa Thượng bi minh”. Bia
này hiện còn rất tốt, được gắn chặt vào thành phía đông,
mặt nhìn vào tháp Tổ. Tấm bia được chạm trổ rất đẹp
và khung để tấm bia vươn cao hơn mặt thành, bên trên trình
bày mái giả. Bia bằng đá thanh, viền bia chạm lưỡng long
triều nguyệt, bên dưới có đường viền hoa sen hình cánh
phượng. Lòng bia khắc 24 chữ đầu đề và 23 chữ lạc khoản;
văn bia khắc chữ chân phương, có khoảng một nghìn hai trăm
(1200) chữ kể cả bài “Minh” tán thán đạo phong của Tổ.
Niên Đại khắc bia là tháng tư năm Cảnh Hưng thứ 9 (1748).
Năm Gia Long thứ 14 (1815) triều nhà Nguyễn, các môn đồ trùng
tu tháp Tổ có dựng hai cái bia khắc hai bài thơ và lời dẫn
ở hai bên bia cổ nói trên.
Ngoài
bia ở tháp tổ Liễu Quán, thì tại phía đông chùa Thiền
Tôn, trên một ngọn đồi tròn rất đẹp, còn có tháp Đệ
nhị Tăng Thống Giác Nhiên; tại đây, trước tháp có bia khắc
hai mặt; mặt trước chữ nho, mặt nhìn vào tháp chữ quốc
ngữ. Đó là bia “Việt Nam Phật giáo Thống nhất Giáo hội
Tăng Thống bi minh” do Viện Trưởng Viện Hóa Đạo là Hòa
thượng Thích Trí Thủ soạn năm Kỷ Mùi, Phật lịch 2522,
Dương lịch 1979. Bia bằng đá màu đen láng rất đẹp.
Một
bia khác nữa là bia “Thiên Thai Sơn Thiền Tông Tự Sự Lục
Bi” do Như Như Đạo Nhân soạn. Lạc khoản: “Thành Thái
thập tam niên, tứ nguyệt thập lục nhật” Tây lịch ứng
với năm 1901. Bia này nguyên chép trong “Hàm Long Sơn Chí”,
mới đem khắc gần đây thôi. Bia này cung cấp rất nhiều
sử kiện về lịch sử chùa Thiền Tôn. Theo bia này thì niên
đại Khai sơn chùa Thiền Tôn kéo đến năm Quý Dậu (1693).
Nhưng theo câu văn ở bia tháp Tổ: “Chí Tân Mùi niên, tứ
nhiễm phủ tuế, quy hương chúc tân cung phụ. Nhẫm nhiễm
tứ tải, phụ tức tạ thế. Ất Hợi tái chỉ Thuận Đo...”
Tân Mùi là năm 1691, Ất Hợi là năm1695. Năm Quý Dậu, 1693
ở giữa thời đoạn 1691-1695 này, lúc đó ngài Liễu Quán
đang bận phụng dưỡng cha già ở Phú Yên, làm sao khai sơn
thảo am Thiền Tôn ở Thuận Hóa cho được? Vì lý do này mà
ở trước chúng tôi viết là thảo am được Tổ khai sơn vào
năm Vĩnh Thịnh tứ niên (1708), theo Hòa thượng Mật Thể đã
viết trong Việt Nam Phật Giáo Sử Lược vậy.
2.
Văn bia minh tháp Tổ Liễu Quán.
Dịch
nghĩa :
Bia
minh tháp của Hòa thượng Liễu Quán thuộc dòng Lâm Tế chánh
tôn đời thứ 35 được sắc phong là Chánh Giác Viên Ngộ[10]
Ôi,
trong giáo pháp Phật đà của ta, việc trọng đại nhất là
gì ? Con người sinh ra không từ cửa tử mà đến, chết không
vào cửa tử mà đi. Thế nên người xưa nằm non ở tổ, bỏ
ngủ quên ăn, chẳng tiếc thân mạng, đều vì việc lớn sinh
tử.
Ở
thời giáo suy pháp mạt này mà có người vì việc lớn sinh
tử như Hòa thượng Liễu Quán, thật là hy hữu.
Sư
sinh giờ Thìn, ngày mười tám tháng 11, năm Đinh Mùi (1667)
tại làng Bạch Mã, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên (nay là
làng An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên). Sư họ Lê, húy
Thật Diệu, hiệu Liễu Quán; đi tu từ nhỏ. Sư có thiên tư
cao lớn, khí vũ siêu quần. Sáu tuổi mồ côi mẹ, chí muốn
xuất trần, được thân sinh đưa đến chùa Hội Tôn xin lu
học với Hòa thượng Tế Viên; được 7 năm thì Hòa thượng
viên tịch. Sư tìm ra Huế đô lễ Giác Phong Lão tổ ở chùa
Hàm Long - Báo Quốc. Năm Tân Mùi (1691) xuống tóc xuất gia,
vừa tròn một năm lại trở về quê Phú Yên hằng ngày bán
củi nuôi chít. Thắm thoắt bốn năm thì cha qua đời. Năm
Ất Hợi (1695), Sư trở lại Thuận đô thọ giới Sa-di với
Hòa thượng Thạch Liêm. Hai năm sau, nhằm năm Đinh Sửu ( 1697),
thọ giới Cụ túc với Từ Lâm Lão Hòa thượng. Năm Kỷ Mão
(1699), Sư tham lễ khắp chốn tòng lâm, cam sống đời đạm
bạc, tâm thường suy nghĩ: “Có pháp gì cao siêu nhất ta quyết
bỏ thân mạng theo pháp đó tu hành”. Nghe nhiều bậc thiền
hòa các nơi nói: “Hòa thượng Tử Dung là vị khéo dạy người
niệm Phật, tham thiền nhất”.
Năm
Nhâm Ngọ (1701), Sư tìm đến Long Sơn, tham yết Hòa thượng
Tử Dung, cầu pháp tham thiền. Hòa thượng dạy tham cứu câu:
“Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ”- “Muôn pháp về
một, một về chỗ nào”. Ngày đêm tham cứu, trải qua tám
chín năm mà không ngộ được gì, tâm rất hỗ thẹn. Ngày
nọ nhân đọc Truyền Đăng Lục đến câu “Chỉ vật truyền
tâm, nhân bật hội xứ” – “Chỉ vật truyền tâm, chỗ
người không hiểu” bỗng nhiên ngộ nhập. Song vì biển núi
xa cách, không thể trình bày chỗ ngộ với Thầy. Mãi đến
xuân Mậu Tý (1708) mới trở lại Long Sơn cầu Hòa thượng
Tử Dung chứng minh, đem công phu tham cứu trình xin ấn chứng,
đến câu “Chỉ vật truyền tâm, nhân bật hội xứ", Hòa
thượng dạy: “Huyền nhai tán thủ, tự khẳn thừa đương;
tuyệt hậu tái tô, khi quân bật đắc” "Vực thẳm buông
tay, tự mình đương lấy; chết đi sống lại, dối ông sao
được”. Thế nào, thế nào, nói xem. Sư vỗ tay cười lớn:
Ha ha! Hòa thượng dạy: “chưa nhằm”. Sư thưa: “Bình chùy
nguyên thị thiệt" – “Cái cân nguyên là sắt”. Hòa thượng
dạy: “Chưa nhằm”.
Hôm
sau, Hòa thượng dạy: “Công án ngày qua chưa rồi, nói ai
xem”. Sư thưa: “Tảo tri đăng thị hỏa, phạn thục dĩ đa
thời - Sớm biết đèn là lửa, cơm chai đã lâu rồi". Hòa
thượng rất khen.
Mùa
hạ năm Nhâm Thìn (1712), Hòa thượng đến sách tấn rộng
rãi toàn viện, Sư trình bài kệ “Dục Phật” (Tắm Phật),
Hòa thượng hỏi: "Tổ Tổ tương truyền, Phật Phật thọ
thọ, vị thẩm truyền thọ cá thậm ma? - Tổ Tổ truyền cho
nhau, Phật Phật trao nhận với nhau, chưa rõ trao nhận cái
gì?". Sư đáp: "Thạch quẩn trừu điều trường nhất trượng;
quy mao phật tử trọng tam cân - Măng đá nảy cành dài một
trượng; phủ phất lông rùa nặng ba cân”. Hòa thượng lại
dạy:
"Cao
cao sơn thượng hành thuyền, thâm thâm hải để tẩu mã -
thuyền đi trên đỉnh núi cao; ngựa chạy dưới đáy biển
sâu là thế nào?" Sư thưa: “Chiết giác nê ngưu triệt dạ
hống, một huyền cầm tử tận nhật đàn - Đàn cầm đứt
dây rung suốt buổi; trâu đất gãy sừng rống thâu đêm”.
Mỗi mỗi nêu ra và vào thất cầu chứng, Hòa thượng xem xong,
rất vui, rất bằng lòng ấn khả. Sư gặp cơ hội, lấy trí
biện đáp rất thích hợp, như nắp đậy hộp, sữa hòa nước.
Cơ duyên rất nhiều, không thể chép hết.
Năm
Nhâm Dần (1722), Sư trở lại Huế đô, trú ở Tổ đình luôn
trong ba năm Quý Sửu, Giáp Dần và Ất Mão thể theo lời thỉnh
cầu của Cư sĩ Tể Quan hộ pháp và các hàng xuất gia tại
gia, mở bốn giới đàn lớn. Năm Canh Thân (1740) lại tấn
đàn Long Hoa truyền giới rồi trở về Tổ đình.
Bấy
giờ chúa Nguyễn quý trọng đạo đức Sư, có tâm ân cần
vì pháp đối với đạo vị của Sư nên xuống chiếu sắc
mời Sư vào cung, nhưng Sư vốn cao thượng, chí nguyện ở
suối rừng mà tạ từ chiếu chỉ, không đến. Mùa xuân năm
Nhâm Tuất (1742) lại mở giới đàn ở chùa Viên Thông; đến
mùa thu năm ấy nhuốm bệnh nhẹ, giống như không bệnh; đến
giữa tháng 10, Sư gọi môn đồ đến dạy rằng: “Duyên ở
đời đã hệt, ta sắp đi đây”. Môn đồ khóc lóc, Sư bảo:
“Các ngươi khóc cái gì? Chư Phật ra đời còn nhập Niết-bàn,
ta nay đến đi rõ ràng, về tật có chỗ, các ông không nên
buồn khóc”.
Đến
tháng 11 năm ấy, trước khi thị tịch mấy ngày, Sư ngồi
ngay thẳng, lấy viết chép kệ từ biệt đời. Kệ rằng :
“Hơn
bảy mươi năm trong thế giới,
Không
không sắc sắc thảy dung thông,
Ngày
nay nguyện mãn về nhà cũ,
Nào
phải bôn ba hỏi Tổ tông”.
Tuy
nhiên như vậy, câu cuối cùng của Lão tăng hiểu thế nào,
hãy nói: “Nguy nguy đường đường, vĩ vĩ hoàng hoàng. Tích
nhật giá cá lai, kim triêu giá cá khứ, yếu vấn lai khứ sự
nhược hà. Trạm trạm bích thiên thu nguyệt hao, đại thiên
sa giới lộ toàn thân - Nguy nguy đường đường, sáng láng
rực rỡ. Ngày xưa cái ấy đến, ngày nay cái ấy đi, cần
hỏi việc đến đi thế nào. Trời xanh lặng lặng trăng thu
sáng, thêm giới đại thiên lộ toàn thân”. Sau khi ta đi,
các ông hãy nên nghĩ đến vô thường mau chóng, siêng học
Bát-nhã, chớ bỏ qua lời ta. Mỗi người hãy nên cố
gắng.
Vào
ngày 22, sáng sớm uống trà, nói chuyện và hành lễ xong, Sư
hỏi: « Bây giờ là giờ gì? » Môn đồ đáp: « Giờ Mùi
». Sư an nhiên thị tịch.
Chúa
sắc làm bia ký ca ngợi đạo hạnh của Sư, ban thụy hiệu
là: CHÁNH GIÁC VIÊN NGỘ HÒA THƯỢNG.
Sư
sinh giờ Thìn ngày mười tám tháng 11 năm Đinh Mùi, thọ 76
tuổi; 43 năm được truyền y, 34 năm thuyết pháp lợi sinh.
Đệ tử nối pháp có 49 người. Hàng tại gia, xuất gia được
lợi ích nhờ sự hóa đạo của sư có cả ngàn vạn.
Ngày
19 tháng 2 năm Quý Hợi, nhập tháp tại phía nam núi Thiên Thai
thuộc xã An Cựu, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.
Kế
tôi gặp lúc đi đến phương nam hỏi han, nghe nói Sư đạo
phong cao lớn, hành hóa ở xứ này, độ người vô số, khế
hợp tâm Phật tổ, nối đời xuất gia, công hạnh và kiến
giả chân thật, xa gần đều khâm phục. Rất tiếc tôi không
kịp được gặp. Nay các môn nhân và đồ chúng nghĩ rằng:
Tháp đã làm xong, cần phải dựng bia ký, biết Kế tôi là
người trong cuộc, chắc biết việc trong cuộc nên đặc biệt
yêu cầu tôi viết bài minh để dựng bia. Kế tôi thẹn mình
bút mực sơ sài, đâu dám nhận lãnh. Song kẻ hèn này đã
ở trong cửa pháp, tình pháp hữu hẳn khó chối từ; vả lại,
khâm phục đạo phong cao khiết, nếu không nêu cao sự nghiệp
hoằng pháp độ sinh của Sư thời đời sau không có ai chép
lại.
Ôi,
nếu lấy mắt thường xem thời thấy có tướng sinh diệt
đi lại; nếu lấy mắt đạo xem thời không phải vậy. Sư
tuy tịch diệt mà thật đã chứng cảnh Niết-bàn không sinh
không diệt, đâu cần tán dương. Nhưng vì Sư trong lúc ở
đời có nhiều công đức, sự nghiệp lớn lao, không thể
để cho mai một. Song sự tướng ở đời và nhân duyên vào
đạo của Sư sợ chưa được rõ hết, nên tôi soạn lời
bia ký này; thí như người mù sờ voi, chỉ ghi lại được
đôi phần mà thôi.
Bài
minh ghi rằng:
Lờ
đờ nước chảy,
Nguồn
xa dòng dài
Đèn
tuệ nối lửa
Đạo
tổ sáng hoài
Cháu
con vô số
Như
voi như rồng
Núi
báu bỗng hiện
Tôn
phong siêu lạ
Trí
biện dung thông
Cơ
thiền nhạy bén
Hóa
duyên đã mãn
Ai
nấy tôn phong
Bên
núi Thiên Thai
Dựng
tháp Vô Phùng
Pháp
thân hiển lộ
Ở
giữa muôn trùng.
Năm
Cảnh Hưng thứ 9 (1748), tháng Tư, ngày Tốt, Trung Hoa, Phúc
Kiến, Huyện ôn Lăng, chùa Tang Liên, cháu trong đạo là Hòa
thượng Thiện Kế soạn.
HT.
Thích Thiện Siêu dịch
*
3.
Bia chép việc chùa Thiền Tôn núi Thiên Thai
Dịch
nghĩa:
Bia
chép việc chùa Thiền Tôn núi Thiên Thai
Chùa
do Tôn sư Liễu Quán kiến lập năm thứ 3 bản triều Hiếu
Minh Hoàng đế (năm Quí dậu, 1693 – Nguyễn Phúc Chu), tọa
lạc tại đia phận ấp Ngũ Tây, xã An Cựu, tổng An Cựu,
huyện Hương Thủy. tỉnh Thừa Thiên.
Hoạn
quan chưởng thái giám Đoán Tài Hầu Pháp danh Tế Ý làm Hội
chủ, năm thứ 5 (Nhâm Tuất - 1742) Hiếu Võ Hoàng đế
(Nguyễn Phúc Khoát), tức năm thứ 3 Lê Cảnh Hưng, Tổ tịch,
truyền lại Tổ sư Tế Hiệp. Hải Điện. Năm thứ 10 (Đinh
Mão - 1747) Đoán Tài Hầu đúc đại hồng chung. Năm thứ 12
(1749) tạo ruộng thở. Các năm 24 đến 26 (1761 - 1763) soạn
đủ tờ tấu mong được phê chuẩn cấp bằng, năm thứ
9 Hiếu Đinh Hoàng đế (Nguyễn Phúc Thuần - 1773), lại được
phê chuẩn miễn thuế năm thứ 11. Hiếu Đinh (1775), Tổ tịch.
Truyền lại cho Tôn sư Tế Mẫn Tổ Huấn. Đến năm thứ 13
(1777) sửa sang lại, năm thứ 14 (1778) Tổ tịch, truyền lại
cho Hòa thượng Đại Tuệ Chiếu Nhiên.
Đến
khi quân Tây Sơn dấy khởi, tich thu hết tự điền, cấm Tăng,
phá chùa, chùa chiền đồ đạc sạch hết, mà Hòa thượng
vẫn âm thầm tự tu, dấu kỹ Pháp khí, may giữ lại được
giấy tờ. Năm Kỷ Dậu (1789) bỏ cấm, Hòa thượng trở lại
tập họp Tăng chúng, giáo pháp tạm hưng.
Tháng
9 năm Qúi Sửu (1793), đại thí chủ bà Đốc Hựu phát nguyện
dựng nhà tranh, thiện tín tụ hội, càng ngày càng thịnh.
Năm Kỷ Mùi (1799) Hoàng đệ Thái Tể, tuổi vừa hai mươi
sáu, nguyện rộng khắp ba ngàn, hết lòng sùng kính, lại còn
chẩn thí, ủy cho Đại Tư Mã tái tạo sùng tu, điện nhà
trang nghiêm, tuệ quang chiếu sáng.
Tháng
5 năm Tân Dậu (1801). Thế Tôn Cao Hoàng đế thâu phục cố
đô, xe và sách về một ngôi, tôn sùng tượng giáo, ưu đãi
lễ kính Tăng già. Gia Long nguyên niên (Nhâm tuất 1802) tháng
7, Hòa thượng Chiếu Nhiên tịch, truyền lại cho thuê tòa
Đạo Tâm, là Hòa thượng Trung Hậu. Tháng 3 năm sau, tấu
xin lại đại hồng chung, nhận về bổn tự (triều Tây Sơn,
hồng chung nầy bị đem làm tự khí ở Văn Thánh) mong
được chuẩn y. Bấy giờ khai đàn u minh 21 ngày, cầu phước
đền ân.
Tháng
8, tấu xin ruộng đất Tam bảo, (toa lạc ở các xã ở hai
huyện Phú Vang Hương Trà, hơn 70 mẫu) nhận lại để phụng
tự luôn luôn đầu quân Tây Sơn lấy đem cấp cho các
nha ở huyện Phú Lộc), nhở có thương thư bộ Hộ Tích Thiện
Hầu tấu đạt lên vua, mong được chuẩn y.
Ba
gò Huyền Võ của núi Thiên Thai, được vua sắc cấm; giếng
xưa bên chùa sửa lại bờ thành, cây hoa trong vườn hồi xuân,
đàn na nối gót đi đến, dựng xây nhà ngói, dựng nhà tranh,
tứ chúng ngày mỗi đông, huy hoàng trở lại như xưa. Nhưng
khái quát xem sông núi mấy độ tang thương không ngờ chỉ
trong 4, 5 năm, ngọc vàng trở lại rực rỡ.
May
thay đạo lý tuần hoàn, hoại không rồi thành trụ. Năm thứ
6 (Đinh Mão - 1807) tháng 8, cung tiên đại thí chủ hai vị hoàng
công chúa, cùng bộ hạ Lê Nương đồng tâm phát nguyện, dựng
nhà phương trượng. Năm thứ 8 (Kỷ Ty - 1809) tứ chúng càng
trợ giúp nhiều, Hòa thượng tự nghĩ tài sơ đức bạc, ba
lần nhường lại mà không được, mới theo quyết nghị của
chúng, trên nhờ hai hoàng công chúa. quạt rộng gió huyền,
mười phương tin thí đồng tâm hướng thiện, chọn ngày 16
tháng 12 dựng chánh điện, tiền đường, phạm vũ trở lại
nguy nga.
Minh
Mạng nguyên niên (1820) tấu chuẩn nạp tô thuế riêng. Năm
thứ 15 (1834) Hòa thương tịch. Truyền lại cho Đại sư Tánh
Thiện An Cư làm Trú trí bổn tự Thiệu Trì năm thứ 7 (1847),
ruộng ở xã Triều Sơn bị quan tịch thu đất để làm gạch.
Tự Đức năm thứ 6 (1853), Đại sư đệ đơn trưng đôi nơi
khác.
Năm
thứ 15 (1862), sư tịch, truyền lại cho đại sư Hải
Nhuận
Phước Thiêm. Đồng Khánh nguyên niên (1886) cải sửa tụ vũ.
Thành Thái năm thứ 7 (1895), sung làm Tăng Càng chùa Diệu Đế.
Năm thứ 10 (1898) sư bệnh xin nghỉ, giao phó cho các đệ
tử Quảng Kế . . . phung phá tự điền tự khí sạch
hết.
Năm
thứ 11(1899) tháng 3, các Đại đức chùa quan chùa núi, đồng
thương lượng đặc cử Đại sư Tâm Thiền là Pháp tự thứ
7 của Hòa thượng Diệu Giác làm Trú trì Thiền Tôn, vừa
khi xã Triều Sơn đệ đơn mách bảo lấy ruộng Tam bảo sung
công, Đại sư trình chư sơn phúc bẩm thế nào. Đại sư Tâm
Truyền Tăng Cang Diệu Đế ủy tín nữ chùa Báo Quốc là Hồ
Thị Diệu Thiện trợ phí, Hồng Thị Tú, Trần Thị Ninh trơ
lực, song vì văn khế lâu ngày mối mọt ăn rách nát,
kiện nải rất khó, phai làm đơn xin sửa sang văn khế, việc
này trước sau tốn ước 400 đồng. Tuy nhờ sức và của
ba tín nữ nhưng nếu không có trí của Tăng Cang thì không
thêm thành tựu.
Tháng
6, sư làm đơn xin do đạc ruộng Tam bảo ở làng Thần Phù.
Tháng 8, đổi dời kiến thiết tự vũ trở lại trên nền
cũ, cấu tạo hậu điện. Nhờ các Đại đức chùa Báo Quốc,
Tường Vân, Từ Hiếu, Khánh Phương tấu lên Tam cung, ân cấp
tiền bạc và mười phường tín cúng, chừng một vạn công
hoàn thành.
Năm
thứ 12 (1900) tháng 5, làm lễ khánh tán, vạn pháp viên mãn,
phủ dụ núi sông tin điều tốt đẹp, ham thích sự thành
trụ mãi vô cùng. Đức có cạn sâu, danh lam này sở dĩ
ba lần tụ ba lần tán; đạo không có thịnh suy, cỗ sát này
cứ một lần bỏ lại một lần hưng, song đâu dễ lấy lẽ
tầm thường suy luận, chính cũng tại ở người và với giáo
pháp thế nào vậy. Bởi gốc sâu thì nhành tốt, nguồn xa
thì dòng sáng, nên việc tài bồi hay ngã nghiêng có mau chậm
khác nhau, hẳn không thể nói chuyện hoại không trong một
ngày được. Sư đối với Như Như tôi là Pháp thúc (chú trong
đạo pháp), đối với Hòa thượng Nhất Định là Pháp tôn
(cháu trong đạo pháp), đời thú 6 Pháp phái Tổ sư Liễu Quán.
Gốc kia sâu nên cành tốt, ngôn kia xa nên dòng sáng nhu vậy
có thêm thấy rõ.
Phẩm
hạnh Sư cao siêu, Như tôi ắt không vong cầu thái quá, chỉ
nguyện pháp tự của Sư sớm gặp được người tài, pháp
tự tiếp pháp tụ, tích trữ pháp khí, thì giang sơn tin tưởng
sẽ tốt đẹp, được thành trụ vô cùng vậy.
Thành
Thái năm 13 ngày 16 tháng 4 (1901).
Đệ
tử Như Như đạo nhân rửa tay kính soạn.
Hòa
thượng Thích Thiện Siêu dịch.
*
4.
Tổ đình Thiền Tôn và các thế hệ truyền thừa
a.
Lịch sử truyền thừa:
Theo
lịch sử Tổ đình Thiền Tôn, từ khi khai sơn cho đến nay
khoảng 300 năm, thời gian tuy không nhiều nhưng hoàn cảnh đổi
thay, thăng trầm, thuận nghịch không phải ít. Do đó, sự
truyền thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác chắc có lẽ
không ít thì nhiều cũng có lúc gặp phải khó khăn, bao gồm
việc duy trì Tổ đình qui củ, gìn giữ bảo địa già lam,
cùng với sự pháp triển tam môn tứ chúng, nhất là việc
truyền thừa mạng mạch đạo pháp. Trong kinh số 3 Trung Bộ,
đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, hãy là những người
thừa tự pháp của Ta, đừng là những người thừa tự vật
(àmisa). Và nếu các người là những người thừa tự vật,
không phải là những người thừa tự pháp, thì không những
chỉ các người bị người ta nói: Cả thầy và trò đều
là những người thừa tự tài vật, không phải là những
người thừa tự pháp, mà cả ta cũng trở thành người bị
người ta nói: Cả thầy và trò đều là những người thừa
tự tài vật, không phải là những người thừa tự pháp.
Do vậy, này các Tỳ kheo, hãy là những người thừa tự pháp
của Ta, đúng là những người thừa tự vật. Ta đã có lòng
thương tưởng các người và ta nghĩ: Làm sao những đệ tử
của ta là nhũng người thừa tự pháp của Ta, đừng là những
người thừa tự vật”. Đây là bức thông điệp vô cùng
quan trọng trong sự nghiệp tự lợi-tự tha để hoằng dương
Chánh pháp của đức Phật. Sau ngày đức Phật diệt độ,
lời dạy này trở thành truyền thống thừa tự Pháp bằng
nhiều hình thức biểu tượng khác nhau, vì vậy chư vị Tổ
sư quá khứ đã thay nhau từ thế hệ này đến thế hệ khác
để duy trì mạng mạch Phật pháp. Một trong chư vị Tổ sư
ấy là Tổ Liễu Quán, suốt cuộc đời của người không
làm gì hơn là giác ngộ Pháp Phật, thừa tự Pháp Phật, và
khuyên người khác thừa tự Pháp Phật. Sau khi Tổ viên tịch,
các đệ tử xuất gia cũng như tại gia đã tiếp tục làm
tất cả những gì có thể làm được vừa thể hiện đúng
tinh thần người con Phật, vừa ghi lại nơi mà Tổ sư đã
thừa tự Pháp Phật. Nhận chân được nhiệm mệnh thiêng
liêng này, Bảo tháp của Tổ sư và Tổ đình Thiền Tôn được
phụng lập như Pháp khí tôn nghiêm, và cũng là nơi cho hàng
hậu học trọn đời quy ngưỡng.
Như
chúng ta biết, Tổ sư Liễu Quán đã được truyền thừa tự
Tổ sư Minh Hoằng -Tử Dung thuộc phái thiền Lâm Tế. Trước
thế kỷ thứ 10 Thiền học Phật giáo Trung Hoa gồm có 5 Thiền
phái khác nhau với nhiều lý do: 1. Vì đất nước Trung Hoa
đất rộng, người đông và ngôn ngữ bất đồng; 2. Để
đáp ứng nhu cầu cần thiết của nhiều hạng người tùy
theo từng căn cơ và trình độ của từng tiểu quốc như chúng
ta thấy bài kệ dưới đây:
Lâm
Tế thống khoái
Qui
Ngưỡng cẩn nghiêm
Tào
Động tế mật
Vân
Môn ký cổ
Pháp
Nhãn tường minh
Phái
thiền do ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền (?-867) sáng lập khoảng
Thế kỷ thứ 9 nên có tên thiền phái Lâm Tế. Tổ sư Hoàng
Bá Hy Vận là thầy truyền pháp cho sư Nghĩa Huyền thông qua
sự can thiệp của thiền sư Đại Ngu. Sau khi ngộ đạo với
Tổ Hoàng Bá, Ngài Nghĩa Huyền truyền thừa Pháp đã ngộ
cho ngài Hưng Hóa Tồn Tưởng, Tam Thánh Huệ Nhiên...Thiền
sư Lâm Tế có ghi lại bài kệ thị tịch truyền trao cho người
sau thừa tự cũng giống như lời Phật dạy ở trên. Khi sắp
Niết-bàn Tổ bảo đồ chúng: “Sau khi ta tịch, các người
không được làm diệt mất Chánh pháp nhãn tạng của ta”.
Tam Thánh Huệ Nhiên bước ra thưa : “Đâu dám làm diệt mất”.
Tổ lại hỏi: “Về sau có người hỏi, ngươi đáp thế nào?”.
Bấy giờ Huệ Nhiên “Hét” và không đáp lời nào cả. Tổ
bảo: “Ai biết, Chánh pháp nhãn tạng của ta đến bên con
lùa mù làm diệt mất”. Tổ mất vào ngày 10 tháng 01 năm
Đinh hợi (867).
Trong
năm phái Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Quy Ngưỡng và Pháp
Nhãn thì Lâm Tế là một phái thiền nổi tiếng và còn truyền
đến nay. Nghĩa Huyền là truyền nhân đời thứ sáu kể từ
Huệ Năng. Thiền phái Lâm Tế kế tục truyền thừa đến
đời thiền sư Vạn Phong Thời ủy thuộc Lâm Tế đời 21
ở chùa Thiên Đồng (Tnmg Quốc) biệt xuất ra bài kệ:
Tổ
Đạo Giới Đinh Tôn
Phương
Quảng Chứng Viên Thông
Hạnh
Siêu Minh Thiệt Tế
Liễu
Đạt Ngộ Chơn Không
Như
Nhật Quang Thường Chiếu
Phổ
Châu Lợi Ích Đồng
Tín
Hương Sanh Phước Huệ
Tương
Kế Chấn Từ Phong.
Đến
đời thứ 30 Lâm Tế là thiền sư Viên Ngộ - Mật Vân có
một vị đệ tử nổi tiếng là Thông Thiện - Hoằng Giác
đời thứ 31. Thiền sư Thông Thiên - Hoằng Giác lại còn có
một pháp danh nữa là Đạo Mân - Mộc Trần (ở chùa Thiên
Khai, Trung Quốc) Ngài này lại biệt xuất dòng kệ :
Đạ
Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên
Minh
Như Hồng Nhật Lệ Trung Thiên
Linh
Nguyên Quang Nhuận Từ Phong Phổ
Chiếu
Thế Chân Đăng Vạn Cổ Truyền.
Ngài
Đạo Mân truyền cho ngài Bổn Khao - Khoán Viên, ngài Khoán
Viên lại truyền cho ngài Hoàn Bích - Nguyên Thiều hay Siêu
Bạch mà sau khi ngài Nguyên Thiều sang Việt nam và đã khai
sơn Tổ đình Quốc Ân - Huế. Trong đời ngài Siêu Bạch còn
có một huynh đệ đồng môn đó là Đại Xa - Siêu Trường.
Ngài Đại Xa - Siêu Trường lại có đệ tử là Minh Hoằng
- Tử Dung, đời thứ 34.
Ngài
Minh Hoằng - Tử Dung vào cuối thế kỷ 17 sang Việt Nam khai
sơn chùa Ân Tôn tại Thuận Hóa và truyền cho Ngài Thiệt Diệu
- Liễu Quán thuộc đời 35 theo bài kệ Tổ đạo giới định...
và sau đó ngài Liễu Quán đã biệt xuất một dòng kệ của
dòng thiền Lâm Tế của Phật giáo Đàng trong tại Thuận Hóa:
Trước giờ phút thị tịch, Tổ sư căn dặn đệ tử: “Tôi
sẽ ra đi. Sứ mạng của tôi ở đời này đã làm xong” .
Các đệ tử khóc òa. Ngài khuyên bảo: “Tại sao các vị
khóc? Chư Phật còn nhập Niết-bàn. Tôi cũng vậy, đến đi
rõ ràng, về có nơi chốn. Xin đứng buồn rầu, hãy tinh tấn
hơn lên”. Và sau đó biệt xuất bài kệ :
Thiệt
Tế Đại Đạo,
Tánh
Hai Thanh Trừng
Tâm
Nguyên Quảng Nhuận,
Đức
Bổn Từ phong
Giới
Định Phước Huệ,
Thể
Dụng Viên Thông
Vĩnh
Siêu Trí Quả
Mật
Khế Thành Công
Truyền
Trì Diệu Lý,
Diễn
Sướng Chánh Tôn
Hạnh
Giai Tương Ưng,
Đạt
Ngộ Chân Không.
Và
chùa Thiền Tôn từ khi thành lập đến nay có 10 đời kế
thế trú trì và truyền thừa theo dòng kệ của Ngài Liễu
Quán đã 12 đời, tức đến chữ Nhuận.
b.
Bảng liệt kê các vị Tổ sư Trú trì:
STT
Thời gian Pháp danh Năm sinh Năm tịch
1.
1693 - 1742 Thiệt Diệu - Liễu Quán 1667 1742
2.
1742 - 1775 Tế Hiệp - Hải Điện ? 1775
3.
1775 - 1778 Tế Mẫn - Tổ Huân ? 1778
4.
1778 - 1802 Đại Huệ - Chiếu Nhiên ? 1802
5.
1802 - 1834 Đạo Tâm – Trung Hậu ? 1834
6.
1834 - 1862 Tánh Thiện – An Cư ? 1862
7.
1862 - 1899 Hải nhuận - Phước Thiêm ? ?
8.
1899 - ? Thanh Liêm – Tâm
Thiền ? ?
9.
? - 1938 Thanh Đức – Tâm Khoan
1874 1938
10.
1938 - 1979 Trừng Thủy – Giác Nhiên 1877 1979
11.
1979 - 2001 Tâm Phật - Thiện Siêu 1921 2001
C.
Vài nét về các vị Trú trì:
l)
Tổ sư Thiệt Diệu - Liễu Quán: Ngài thuộc đời thứ
35 Thiền phái Lâm Tế, Ngài họ Lê quê ở làng Bạch Mã huyện
Đồng Xuân, phủ Phú Yên. Sinh ngày 18 tháng 11 năm 1667. Ngài
viên tịch vào giờ Mùi ngày 22 tháng 11 năm Nhâm Tuất (1742).
2)
Tổ sư Tế Hiệp - Hải Điện: Đệ tử đắc pháp của Tổ
Liễu Quán thuộc đời thứ 36 Thiền phái Lâm Tế, kế thế
Trú trì chùa Thiền Tôn sau khi Tổ Liễu Quán viên tịch. Ngài
Tế Hiệp tịch năm vào 1778 .
3)
Tổ sư Tế Mẫn - Tôn Huấn: Đệ tử đắc pháp của Tổ Liễu
Quán thuộc đời thứ 36 Thiền phái Lâm Tế, kế thế Trú
trì Tổ đình Thiền Tôn sau khi Ngài Tế Hiệp viên tịch. Ngài
Tế Mẫn tịch vào năm 1778.
4)
Tổ sư Đại Huệ - Chiếu Nhiên: Ngài thuộc đời 37 của Thiền
phái Lâm Tế đệ tử ngài Tế Ân - Lưu Quang, kế vị trú
trì Tổ đình Thiền Tôn sau khi Tổ sư Tế Mẫn viên tịch.
Ngài viên tịch tháng 7 năm 1802 (Nhâm Tuất) .
5)
Tổ sư Đạo tâm - Trung Hậu: Ngài thuộc đời thứ 38 của
Thiền phái Lâm Tế. Ngài húy Đạo Tâm thế danh là Nguyễn
Văn Hậu, có lẽ là đệ tử của thiền sư Đại Huệ - Chiếu
Nhiên. Hiện chưa rõ quê quán và năm sinh của ngài, chỉ biết
Sư xuất gia từ thuở nhỏ. Sau khi ngài Đại Huệ - Chiếu
Nhiên viên tịch truyền lại cho thủ tòa Đạo Tâm - Trung Hậu.
Theo Đỗ Bang trong bài Trần Văn Kỷ ở tập I cuốn Danh nhân
Bình Trị Thiên tr. 100 thì ngài Trung Hậu có thế danh là Trần
Văn Đức được thân phụ là Trần Văn Kỷ sợ bị liên hệ
với mình do việc theo Tây Sơn chống đối nhà Nguyên, nên
đã ngầm cho con mình vào ở chùa, nhưng vào năm 1801 thì Trần
Văn Đức mới 17 tuổi và sau đó đã hoàn tục, theo chúng
tôi thì tài liệu nầy không chính xác vì theo sử liệu còn
lại tại Tổ đình thì ngài Trung Hậu lên kế vị Trú trì
chùa Thiền Tôn sau khi ngài Chiếu Nhiên tịch vào năm 1802 và
làm trú trì liên tục đến khi viên tịch năm 1834.
6)
Ngài Tánh Thiện - An Cư: Không biết rõ ngày tháng năm sinh
cũng như tiểu sử của Ngài. Chỉ biết ngài được truyền
lại chức Trú trì bổn tự sau khi Hòa thượng Trung Hậu viên
tịch. Ngài tịch vào năm thứ 15 (1862), ngài thuộc Thiền phái
Lâm Tế đời thứ 39.
7)
Ngài Hai Nhuận - Phước Thiêm: Ngài thuộc Thiền phái Lâm Tế
đời thứ 40, thế danh là Nguyễn Hữu Thiêm kế thế Trú trì
chùa Thiền Tôn năm Đồng Khánh Nguyên niên (1886).
8)
Ngài Thanh Liêm - Tâm Thiền: đệ tử nối pháp thứ 7 của
ngài Diệu Giác - Hải Thuận, được Bổn sư phú pháp với
bài kệ :
Tinh
khiết thanh liêm đạo vị nhàn.
Tâm
tâm hy hữu ý hà nan.
Trì
trung dũng xuất liên hoa đóa,
Pháp
vũ ân triêm pháp giới khoan.
- Thế
danh của Ngài là Đặng Hy Hữu, húy Thanh Liêm hiệu Tâm Thiền
tự là Hy Hữu. Năm Thành Thái thứ 11 (1899) tháng 3 ngài được
đặc cử làm Trú trì Tổ đình Thiền Tôn.
9)
Hòa thượng Thanh Đức - Tâm Khoan: Sư người thôn Trung Kiên,
huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Sinh năm Giáp Tuất (1874)
thế danh là Phạm Gia Khánh, người thôn Trung Kiên tổng Bích
La huyện Đăng Xương tỉnh Quảng Trị. Ngài đồng chơn nhập
đạo, thọ giáo với Hòa thượng Hải Thuận - Diệu Giác,
được bổn sư cho Pháp danh là Thanh Đức hiệu Tâm Khoan tự
Gia Khánh. Đến năm 20 tuổi thọ giới Cụ túc tại giới đàn
Báo Quốc năm Giáp Tuất (1894) do ngài Hải Thuận làm Đường
đầu, sau đó ngài lại dược bổn sư cho bài kệ đắc pháp
đại sư:
Thanh
nhi Hữu Đức tiến tâm thiền
Gia
Khánh hy nhiên đạo vĩnh truyền
Đắc
pháp tu bằng vi diệu pháp
Hà
lao biệt ngoại pháp tầm huyền.
Sau
được Sơn môn bảo cử làm Trú trì chùa Báo Quốc và kế
thế ngài Tâm Thiền làm Trú trì Tổ đình Thiền Tôn. Sư là
vị đệ tử nối pháp thứ 8 của ngài Diệu Giác- Hải Thuận.
Ngài viên tịch năm 1938 trong khi ngài đang kiêm nhiệm Trú trì
3 chùa là Thiền Tôn, Báo Quốc và Kim Tiên. Kim quan của ngài
được nhập bảo tháp ở phía Nam cách chùa Thiền Tôn khoảng
500 mét.
10)
Hòa thượng Trừg Thủy - Giác Nhiên (1878 - 1979): Hòa thượng
Pháp danh Trừng Thủy, tự Chí Thâm, Pháp hiệu Giác Nhiên,
thuộc dòng Thiền Lâm Tế, Pháp phái Liễu Quán đời thứ
42.
Ngài
thế danh là Võ Chí Thâm, sinh ngày 07 tháng Giêng năm Mậu Dần
(1878) tại làng Ái Tư, xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong tỉnh
Quảng Trị. Năm 7 tuổi xuất gia ở chùa Tây Thiên Di Đà -
Huế, thọ giáo với Hòa thượng Tâm Tịnh . Năm 1910, thọ
Cụ túc giới . Ngài đã được bổn sư cho bài kệ đắc pháp
Đại sư:
Giác
tánh tự thiên nhiên,
Sắc
không bất hiện tiền.
Vật
ngoại nhàn nhân sụ
Cần
tu bổn lý thiền.
Năm
1932, Ngài đã cùng Quý Hòa thượng: Phước Huệ, Giác
Tiên, Tịnh Hạnh và hai cư sĩ Tâm Minh-Lê Đình Thám và Trương
Xương thành lập An Nam Phật học hội và ngài được hội
cử làm Giám đốc Phật học đường Tây Thiên. Năm 1934, được
phong chức Tăng Cang Quốc tự Tánh Duyên, cùng năm đó ngài
làm chứng minh cho tạp chí Viên Âm. Năm 1938, được Giáo hội
và môn phái suy cử làm Trú trì Tổ đình Thiền Tôn kế thế
ngài Tâm Khoan cùng những trách nhiệm khác của Giáo hội giao
phó như làm Viện trưởng Phật học viện Hải Đức - Nha
Trang, Chánh Hội trưởng Tổng Trị sự hội Phật giáo Trung
phần. Ngày 10.3 .1973 , Ngài được suy tôn làm Đệ nhị Tăng
Thống GHPGVNTN. Ngày 6 tháng Giêng năm Kỷ Mùi tức ngày 02 tháng
02 năm 1979, Ngài viên tịch, thọ 102 tuổi đời, 69 hạ lạp.
11)
Hòa thương Tâm Phật - Thiện Siêu: Hòa thượng người làng
Thần Phù, Hương Thuỷ, Thừa Thiên, thế danh là Võ Trọng
Tường, sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Dậu (1921), xuất gia năm
1935, đầu sư với Hòa thượng Giác Nhiên. Trú trì chùa Từ
Đàm năm 1947, năm 1973 Tổng Thư ký Viện Hóa đạo GHPGVNTN,
năm 1979 ngài Giác Nhiên viên tịch, Hòa thượng được môn
phái cử làm Trú trì Tổ đình Thiền Tôn, năm 1981 Hòa thượng
được Giáo hội cử làm Trưởng Ban Giáo dục Tăng Ni GHPGVN
và đến nay Hòa thượng đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch
Thưởng trực Hội đồng Trị sự GHPGVN kiêm Trưởng Ban Giáo
dục Tăng Ni và Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam
tại Huế.
SÁCH
THAM KHẢO
Hán
Văn
Hoàng
Việt Địa Dư : Bổn Triều Ngô Chí
Lịch
Triều Hiến Chương Chí : Phan Huy Chú
Đại
Nam Nhất Thống Chí : Cao Xuân Dục
Kiến
Văn Lục : Lê Quí Đôn
Vân
đài loại ngữ : Lê Quí Đôn
Khâm
Định Việt sử
Thông
Giám cương mục
:
Duy Tân Tu Thư Cuộc-Ngô Các
Quốc
Triều Chính Biên : Bổn Triều Thành Thái Đình Thần
Quốc
Triều Tiền Biên : Bổn Triều Thành Thái Đình Thần
Lịch
sử nhân vật chí Đại Việt Sử ký : Lê Văn Hưu
Ấn
Độ Phật giáo sử
(Thượng
Hải thương vụ ấn thư quán) : Tưởng Duy Kiều
Tây
Tạng Phật giáo sử
(Thượng
Hải P.H thư cuộc) : Lý Giực Phước
Việt
Nam Thiền uyển tập anh
Liệt
Tổ truyện
Thống
yếu kế đăng lục
Đạo
giáo nguyên lưu : An Thuyền Đại Sư
Hoàng
Việt Giáp Tý niên biểu : Nguyễn Bá Trác
Hàm
Long sơn chí (cảo bản) : Điềm Tịnh Cư sĩ
Khóa
Hư và các bia ký các chùa : Trần Thái Tôn
Quốc
Văn
Việt
Nam Văn Hóa Sử cương : Đào Duy Anh
Việt
Nam Sử lược : Trần Trọng Kim
Thế
giới sử : Đào Duy Anh
Trung
Quốc Phật giáo tiểu sử : Mật Thể dịch
Việt
Nam truyền thống thế hệ : Đồ nam Tử (Đuốc Tuệ)
Việt
Nam Văn học sử : Ngô Tất Tố
và
các báo chí Viên Âm, Nam Phong, Đuốc Tuệ
Pháp
văn
Le
Bouddisme en An nam des origines au XIIIe siècle : H. Maspéro
Esquisse
d’une histore du Bouddisme au Tonkin : Trần Văn Giáp
Le
premier Annamite consacré superieur de Bonzerie par les Nguyen-Son Tom
beau : L. Sogny
Le
songe et l’embassade de l’Empereur Minh: H. Maspero
Pagode
Quốc Ân par R.P.L. Cadière – Revuedes Amis du Vieux Huế, 1914,
161, & 1915 Pages 305, 318
Pagode
Quốc Ân par R.P.L. Cadière – Revuedes Amis du Vieux Huế, 1914,
161, & 1915 Pages 305, 318
Pagode
de Thiên Mụ par A. Bonhomme – Revue des Amis du Vieux Huế, Pages
173, 192, 251, 286, 429, 448
[1]
Lần tái bản năm 2004.
[2]
Bài tóm tắt của Hà Xuân Liêm.
[3]
Trích “Việt Nam Phật Giáo Sử Luận” Nguyễn Lang, Nxb. Văn
học. Hà Nội -2000
[4]
Hòa thượng Bổn Kiểu Khoáng Viên là đệ tử của thiền
sư Đạo Mân đời thứ ba mươi một, đời Lâm Tế, ở
chùa Thiền Khai, Quảng Đông. Ngài Đạo Mân có để lại bài
kệ Truyền Pháp sau đây :
Đạo
bổn Nguyên thành Phật Tổ Tiên.
Minh
như hồng nhật lệ trung thiên.
Linh
Nguyên quảng nhuận từ phong phổ.
Chiếu
thế chân đăng vạn cổ huyền.
[5]
Sách Hải Ngoại Kỷ Sự còn cho biết là trong thời gian chúa
Nguyên Phúc Trăn (1687- 1691) trị vì ông cũng đã được chúa
mời thỉnh tới hai lần nhưng chưa đi được Lần này ông
qua là do chúa Nguyễn Phúc Chu mời. Hai sứ giả được chúa
cử sang mời Hòa thượng Thạch liêm là Trần Thiêm Quang và
Ngô Từ Quang chứ không phải Tổ Nguyên Thiều. Sách Hải Ngoại
Kỷ Sự cũng không hề đề cập đến Tổ Nguyên Thiều.
[6]
Việt Nam Phật giáo Sử lược, 1943, Hà Nội.
[7]
Thạch Liêm, Hải Ngoại Kỷ Sự
[8]
Tư liệu do Nguyên Anh cung cấp
[9]
Bài tóm tắt của Hà Xuân Liêm.
[10]
Tư liệu do Nguyên Anh cung cấp.