Chương
tám
PHẬT
GIÁO Ở THỜI ĐẠI NAM BẮC PHÂN TRANH
(1528
- 1802)
Nhà
Hậu Lê làm vua đến đời vua Chiêu Tôn, Cung Hoành (1516 - 1527)
thì bị Mạc Đăng Dung thoán đoạt. Nhà Lê tuy mất ngôi, nhưng
lòng người còn tưởng nhớ đến công đức của Thái Tổ,
Thánh Tôn, cho nên nhiều người lại theo phò con cháu nhà Lê
Trung Hưng lên ở phía Nam, lập ra triều đình riêng ở vùng
Thanh Hóa, Nghệ An để chống nhau với nhà Mạc, thành ra Nam
triều và Bắc triều hai bên đánh nhau năm, sáu mươi năm trời.
Nhà
Hậu Lê nhờ họ Trịnh giúp, dứt được nhà Mạc, tưởng
giang san lại thống nhất như cũ, ai ngờ họ Trịnh với họ
Nguyễn lại sanh lòng ganh ghét, gây nên mối thù oán, rồi
mỗi họ hùng cứ một phương, chia nước ra làm hai mảnh :
họ Nguyễn ở Nam, họ Trịnh ở Bắc.
Nhà
Hậu Lê từ khi Trung Hưng lên, con cháu vẫn giữ ngôi vua, nhưng
quyền chính trị ở cả họ Trịnh.
Xét
Phật giáo đến cuối đời Lê đã suy đồi như trên nhưng
đến thời đại này lại có cơ phục hưng. Trong Nam ngoài
Bắc lại thêm mấy phái Thiền Tôn mới nữa.
Vào
khoảng đời Lê Thế Tôn (1573 - 1599),ở Bắc có phái gọi
là Tào Động, cũng là chi phái của phái Bồ đề Đạt-ma
bên Trung Hoa[1] phái ấy truyền vào bởi nhà sư Tàu Tri Giác
Nhất Cú; sau ngài Nhất Cú truyền cho ngài Thủy Nguyệt, ngài
Thủy Nguyệt truyền cho ngài Tôn Điền.v.v .. . Những nhà sư
Trú trì ở các chùa Hòa Giai, Hàm Long, Chấn Quốc ở
Hà Nội bây giờ là theo phái Tào Động.
Vào
khoảng đời vua Lê Hy Tôn (1676 - 1705), ở Bắc lại có phái
gọi là phái Liên Tôn, do một vị Vương công nhà họ Trịnh
là Lân Giác Thiền sư lập ra ở chùa Liên Phái (Bạch Mai -
Hà nội). Đồng thời sư Nguyệt Quang cũng lập phái ấy ở
Kiến An. Ngài Lân Giác với ngài Nguyệt Quang cùng là đệ
tử của ngài Chính Giác, ngài Chính Giác là đệ tử của
ngài Minh Lương, ngài Minh Lương là đệ tử của ngài Chuyết
Công (người Trung Hoa) tức là chi phái của phái Lâm Tế (hiện
nay những chi phái của chùa Hàm Long ở Bắc Ninh, chùa Nguyệt
Quang ở Kiến An đều là chi phái của phái Liên Tôn. Vậy
ở Hà Nội bây giờ có hai phái Phật giáo : Một ở chùa Bà
Đá là chi phái của Lâm Tế, một nữa ở chùa Hòa Giai là
chi phái Tào Động).
Từ
năm Vĩnh Thịnh thứ 15 (1719 - Dũ Tôn) đến năm Vĩnh Hựu thứ
ba (1737: Ý Tôn), chỉ thấy các chúa làm chùa.
Năm
Vĩnh Thịnh thứ 15 (1779) , chúa Trịnh Cương sức dân ba huyện
Gia Định, Lương Tài, Quế Dương trùng tu chùa Phúc Long, làm
xong miễn thuế một năm cho ba huyện ấy. Chùa Phúc Long ở
về làng Lãng Ngâm, huyện Gia Định (Gia Bình), chúa Trịnh
Tráng dựng ra từ năm Phúc Thái thứ tám (1648). Năm Bảo Thái
thứ 8 (1727), chúa Trịnh Cương cho các nội giá lập chùa Thiên
Tây (ở làng Sơn Đình, huyện Tam Dương về địa phận núi
Tam Đảo) và chùa Độc Tôn (ở làng Cát Nô, huyện Phổ An,
tỉnh Thái Nguyên) và cho ra nghỉ ở đó.
Năm
Vĩnh Khánh thứ hai (1730), chúa Trịnh Giang sức dân ba huyện
Đông Triều, Thủy Đường và Chí Linh trùng tu chùa Quỳnh
Lâm và chùa Sùng Nghiên. Dân phu 6000 người làm luôn đêm ngày
đến một năm mới xong.
Năm
Vĩnh Hựu thứ hai (1736), chúa Trịnh Giang sức dân các huyện
Đông Triều, Kim Thành, Giáp Sơn, Thủy Đường dựng chùa Hồ
Thiên (ở trên chóp núi thuộc huyện Bảo Lộc, trấn Kinh Bắc,
tức Bắc Giang bây giờ) và chùa Hương Hải (ở làng Phụ
Vệ, huyện Chí Linh).
Năm
Vĩnh Hựu thứ ba (1737), chúa Trịnh Giang dựng tượng Phật
lớn để thờ ở chùa Quỳnh Lâm sắc cho quan thay phiên đến
làm lễ. Cũng trong khoảng niên hiệuVĩnh Hựu (1735 - 1739),
ngài Trạm Công vâng sắc vua qua nước Đại Minh, non Đỉnh
Hồ, tham yết ngài Kim Quang Hòa thượng và sau thỉnh được
nhiều kinh điển đem về để tại chùa Càn An.
Đến
năm Cảnh Hưng nguyên niên (1740: Lê Hiến Tôn), chúa Trịnh
Giang lại tịch thu chuông các chùa để đúc binh khí.
Năm
Cảnh Hưng thứ 32 (1771), dựng chùa Tiên Tích ở ngoài cửa
Đại Hưng (thuộc làng Nam Ngư), huyện Thọ Xương, Hà Nội,
nay là phố Hàng Bột).
Năm
Chiêu Thống nguyên niên (1787), lại tịch thu các đồ đồng
ở chùa để đúc tiền
*
Trong
đời Hậu Lê cũng có một vài vị Cao Tăng như Huệ Đồng
Thiền sư, Lục Hồ Viên Cảnh Thiền sư, Đại Thâm Viên Khoan
Thiền sư, Hương Hải Thiền sư.v.v . Những vị Thiền sư trên,
không thấy sử chép rõ ràng, chỉ có Hương Hải Thiền sư
có tiểu truyện trong sách Kiến văn lục của ông Lê Quí Đôn.
Hương
Hải Thiền sư : Vốn gióng thế phiệt, ông cha từng làm đến
Quận công và phong làm Công thần trong đời chúa Nguyễn. Mười
tám tuổi đậu Hương cống (Cử nhân), được kén vào phủ
chúa Nguyễn rồi bổ ra làm tri phủ Triệu Phong. Bấy giờ
ngài mới có 25 tuổi, mà rất hâm mộ đạo Phật; thường
đàm luận với các Danh Tăng, rất thâm hiểu đạo lý. Cách
ba năm, ngài xin từ quan xuất gia tu đạo. Ngài ra chơi ở núi
Tiên Bút La ngoài Nam Hải rồi lập am ở lại đó tu trì Đạo
hạnh ngài rất cao, quan dân xa gần thảy đều cảm mộ. Chúa
Nguyễn (Nguyễn Phúc Chu: 1691-1725) sai người ra hải đảo mời
về; khi về đến nội địa, chúa Nguyễn thân ra đón tiếp,
rồi lập Thiền Tĩnh Viện ở núi Qui Cảnh mời ngài ở đó.
Sau có người dèm với chúa, nói ngài với Gia Quận công âm
mưu trở về Bắc với chúa Trịnh. Chúa Nguyễn đem việc xét
hỏi thì không có cớ gì, bèn truyền cho ngài phải vào Quảng
Nam. Bởi vậy, ngài mới quyết chí ra Bắc thật. Ngài sắm
một chiếc thuyền cùng 50 đồ đệ vượt bể về đến trấn
Nghệ An, vào yết kiến quan trấn thủ là Trịnh Na. Trịnh
Na liền tâu về triều, chúa Trịnh cho thuyền vào đón về
kinh, triệu vào phủ hỏi han mọi việc. Được ít lúc ngài
lập am tu trì ở trần Sơn Nam. Ngài có dịch và chú giải
các kinh ra chữ nôm được 30 thiên.
Vua
Dũ Tôn (1706 - 1729) vì hiếm hoi về phần con cái nên thường
mời ngài vào kinh để lập đàn cầu tự. Bấy giờ ngài đã
80 tuổi, vua rất kính trọng.
Môt
khi vua hỏi ngài rằng: “Trẫm nghe Thiền sư học rộng nhớ
nhiều, vậy xin Thiền sư thuyết pháp cho nghe, để Trẫm hiểu
được đạo.”
Ngài
tâu rằng : Bần Tăng có bốn câu kệ này, xin Bệ hạ để
tâm, suy nghĩ :
Phản
văn tự kỷ mỗi thường quan,
Thẩm
sát tư duy tử tế khan.
Mạc
giáo mộng trung tầm tri thức,
Đương
lai diện thượng đỗ sư nhan.
Dịch:
Nghe
lại điều mình thấy những ngày,
Suy
đi nghĩ lại kỹ càng hay.
Chớ
tìm tri thức trong cơn mộng
Có
thế mới hay nhận được thầy?[2]
Vua
hỏi : “Thế nào là ý của Phật?”
Ngài
thưa :
Nhạn
quá trường không,
ảnh
trầm hàn thủy.
Nhạn
vô di tích chi ý,
Thủy
vô lưu ảnh chi tâm.
Dịch
:
Nhạn
liệng giữa không,
Bóng
chìm dưới nước.
Nhạn
không để dấu ở lại,
Nước
chẳng lưu bóng làm chi.
Ngài
thường đọc những câu kệ để dạy Tăng chúng như câu :
Tầm
ngưu tu phỏng tích,
Học
đạo, quý vô tâm.
Tích
tại ngưu hoàn tại,
Vô
tâm đạo dị tầm.
Dịch:
Tìm
trâu tìm dấu chân trâu,
Dâú
còn trâu chẳng mất đâu bao giờ.
Nllững
người học đạo chớ ngờ,
Vô
tâm thì đạo có cơ dễ tìm.
Ngài
thường làm thơ, dưới đây là một bài thơ trong các bài
thơ của ngài :
Thành
thị du lai ngụ tự triền,
Tùy
cơ ứng biến mỗi thời nhiên.
Song
chiêu nguyệt đáo thuyền sàn mật,
Tùng
tiếu phong xuy tịnh khách miên.
Sắc
ưởng lâu đài minh sắc diệu,
Thanh
truyền chung cổ diễn thanh huyền.
Nguyên
lai tam giáo đồng nhất thể,
Nhậm
vận hà tằng ý hữu thiên.
Dịch
:
Chán
cảnh phồn hoa mến cảnh thiền,
Tùy
thời mới hiệp lẽ đương nhiên.
Trăng
dòm song mở giường kê sát,
Gió
thổi tùng reo giấc ngủ yên.
Lóng
lánh lâu đài màu huyền diệu,
Nhịp
nhàng chuông trống tiếng u huyền.
Cho
hay nhất thể đồng tam giáo,
Đạo
cả chưa từng lệch một bên.
Đọc
bài thơ này, ta thấy không những ngài không quên mình là nhà
Nho tu Phật, mà lại muốn cho hai đạo học ấy ảnh hưởng
với nhau, cho cả hai càng thêm sáng suốt.
Nhưng
không sao tránh khỏi nhược điểm của hai giáo ấy trong thời
này: Phật giáo về thời này tuy có cơ hưng thạnh, nhưng sự
thật đã yếu thế nhiều, nên phải xướng thuyết “nhất
thể” để cầu thân với Nho, Lão. Và đồng thời đẳng
cấp Nho giáo lúc này cũng đã bướcvào tình thế suy lạc,
nên lại phải mượn Phật giáo làm chỗ an ủi. Bởi vậy,
thời này rất có nhiều vị Nho sĩ đầu Thiền. Mà ngài là
người đại biểu.
Lại
cũng trong thời này, ông Trịnh Huệ cũng xướng thuyết “Nhất
thể” làm sách “Tam giáo nhất nguyên thuyết”, để giải
rõ ba giáo vốn đồng một gốc. Sách tuy có lợi cho những
người muốn tham học cả ba giáo, sự thật điều đó càng
giúp cho ta chứng rõ hướng ấy.
Phật
giáo ở ngoài (Bắc) đến đó lại lâm vào thời kỳ đình
đốn. Trong sử không thấy chép việc gì quan hệ Phật giáo
nữa. Cũng bởi từ đó tình thế trong nước rối ren, việc
chinh chiến xảy ra luôn luôn
*
Trong
lúc Phật giáo ở ngoài Bắc được phục hưng, đồng thời
trong Nam cũng có cơ xương thạnh. Nhất là khi ngoài Bắc bị
đình đốn, trong Nam lại phát đạt thêm nhiều
Từ
khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa, thì miền
Nam được mở mang mọi phương diện. Trong hơn 200 năm, họ
Nguyễn đối với Phật giáo hết lòng sùng thượng, nào dựng
chùa, nào đúc tượng, đúc chuông rất nhiều
Bấy
giờ có những ngài Tế Viên Hòa thượng, Giác Phong Lão tổ,
v.v...đều là người Trung Hoa đem Phật giáo qua truyền bá
ở An-nam.
Năm
Ất Tỵ (1665), Dũng Quận công Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687)
(sau truy tôn là Thái Tôn hoàng đế) lại có một vị Thiền
sư người Trung Hoa đem An-nam, ban đầu trác tích ở phủ Qui
Ninh (Bình sinh) lập chùa Thập Tháp Di Đà, sau ra Thuận Hóa
lập chùa Quốc ân truyền chánh phái Lâm Tế ở nước ta;
ấy là ngài Thọ Tôn Hòa thượng, húy Nguyên Thiều.
PHÁI
NGUYÊN THIỀU
Ngài
họ Tạ, quê ở Trình Hương Triều Châu, Quảng Đông, xuất
gia năm 19 tuổi, tu ở chùa Báo Tư thọ giáo với ngài Bổn
Khao Khoán Viên Hòa thượng. Niên hiệu Cảnh Trị năm thứ
ba đời Lê Huyền Tôn (năm ất Tỵ thứ 17 đời chúa Nguyễn
Phúc Tần: 1665), ngài đi theo thuyền buôn qua An-nam, trú ở
phủ Qui Ninh (Bình Định) lập chùa Thập Tháp Di Đà, mở trường
truyền dạy; sau ra Thuận Hóa lập chùa Hà Trung (thuộc huyện
Phú Lộc nay hãy còn), rồi lên Xuân Kinh (Huế) lập chùa Quốc
Ân và dựng tháp Phổ Đồng (?).
Sau
ngài lại phụng mệnh đức Anh Tôn (Nguyễn Phúc Trăng: 1687-1691)
trở về Trung Quốc, tìm mời các Danh Tăng và cung thỉnh pháp
tượng, pháp khí.
Ngài
về Quảng Đông mời được Thạch Liêm Hòa thượng và các
Danh Tăng khác, cùng thỉnh được nhiều kinh điển tượng
khí đem về. Chúa Nguyễn liền sắc mở đàn truyền giới
rất long trọng tại chùa Thiên Mụ. Sau đó chúa Nguyễn sắc
ban ngài chức Trú trì chùa Hà Trung.
Một
hôm ngài lâm bệnh, họp môn đồ lại dặn dò mọi việc và
ngài truyền cho bài kệ rằng :
Tịch
tịch kỉnh vô ảnh,
Minh
minh châu bất dung.
Đường
đường vật phi vật,
Liêu
liêu không vật không.
Đại
ý:
Lặng
lẽ gương không chiếu bóng
Sáng
trưng ngọc chẳng thâu hình
Rõ
ràng vật không phải vật
Minh
mông không chẳng là không.
(Nguyễn
Lang, VNPGSL, tr.590)
(Diễn
ra văn xuôi là ngài muốn khai thị cho trong Chúng biết : Thể
pháp thân thanh tịnh sáng suốt, như bức gương sáng sạch
không bụi, như ngọc minh châu trong sáng, bóng ngời, tuy hiện
tiền sự sự vật vật sai khác, nhưng đều là thể pháp thân
biểu hiện thể pháp thân thường vắng lặng mà không phải
là không, tức là lý “chân không diệu hữư”).
Ngài
viết xong bài kệ vừa ngồi yên lặng mà tịch.
Ngài
mất ngày 19 tháng 10 niên hiệu Bảo Thái thứ 10 nhà Lê, đồ
chúng cùng các tể quan thọ giới đệ tử làm tháp Hóa Môn
để chôn cất hài cốt (tháp này bên đồi nhỏ xóm Thuận
Hóa làng Dương Xuân Thượng)
Hiến
Tôn Hoàng đế ban thụy hiệu là: “HẠNH ĐOAN THIỀN SƯ”,
và có làm bài minh khắc vào bia để tán thán đạo đức của
ngài:
Ưu
ưu Bát-nhã,
Đường
đường phạm thất,
Thủy
nguyệt ưu du,
Giới
trì chiến lật.
Trạm
tịch cô kiên
Trác
lập khả tất
Quán
thân bổn không
Hoằng
pháp lợi vật,
Biến
phú từ vân
Phổ
chiếu huệ nhật
Chiêm
chi nghiêm chi
Thái
sơn ngật ngật.
Đại
ý:
Cao
vút trí tuệ
Phạm
hạnh vun trồng
Giới
đao một lưỡi
Trăng
nướng thung dung.
Ngồi
đứng một thân,
Trong
lặng kiên cường,
Hoằng
pháp lợi người
Quán
thân vốn không
Mây
từ che khắp
Trời
tuệ chiếu cùng,
Ngắm
đi ngắm đi,
Thái
sơn oai hùng.
Ngài
là vị Tổ truyền phái Lâm Tế đầu tiên ở Trung kỳ. Các
đệ tử được ngài truyền pháp cho, hoặc các ngài dưới
ngài cùng ngài truyền giòng Lâm Tế, như ngài Minh Hoằng Tử
Dung, Minh Hải Pháp Bảo, Minh Vật Nhất Tri v.v...
Xét
trong “Lịch Truyện Tổ đồ” thì ngài Nguyên Thiều đứng
về đời 69, xét về chánh thống phái Lâm Tế thì ngài đứng
về đời 33, mà truyền phái Lâm Tế ở Trung kỳ thì ngài
là Sơ tổ (xem bản đồ H).
Xét
Lịch sử Phật giáo ở Việt Nam ta về khoảng này, có đời
chỗ mơ hồ, cần phải biện minh không thể bỏ qua được,
ấy là nói về lối truyền thống của phái Lâm Tế do sau
khi ngài Nguyên Thiều truyền sang.
Đành
rằng ngài là vị Tổ đầu tiên truyền phái Lâm Tế ở ta,
nhưng trước tiên ngài đã kế thừa nơi một ngài nào ? Và
sau, những ai là người được truyền thọ pháp ấy ? Muốn
trả lời những dấu hỏi ấy không phải chuyện dễ .
Nguyên
do bởi ngài đã mang lấy hai danh hiệu: Nguyên Thiều, Siêu
Bạch.
Kể
Phật giáo sau khi truyền qua Trung Hoa, vì phân chia tôn phái
có nhiều, nhất là về phái ThiềnTôn lại có chia ra nhiều
nhánh khác nhau. Nên các ngài về sau lại sinh ra tư tưởng
đặt những giòng kệ để chấm dấu về thống hệ của mình.
Như phái Thiền Tôn truyền đời ngài Nghĩa Huyền, ngài lại
lập ra nhánh gọi là Lâm Tế. Lâm Tế truyền đến đời 21
là ngài Vạn Phong Thời Ủy ở chùa Thiên Đồng (Trung Hoa)
xuất ra bài kệ : Tổ, Đạo, Giới[3] truyền đến đời 31
là ngài Đạo Mân lại xuất một giòng kệ khác : Đạo, Bổn,
Nguyên, Thành…[4]
Như
trên đã nói : ngài đã mang lấy hai danh hiệu: Nguyên Thiều
và Siêu Bạch. Xét danh hiệu Nguyên Thiều là thuộc về giòng
kệ của ngài Đạo Mân, tức là sư tổ của ngài mới lập
ra Siêu Bạch là thuộc về giòng kệ của ngài Vạn Phong ,
tức là Tổ II đời của ngài truyền xuống. Do đó, người
ta bảo ngài đã thọ giáo cả hai bên. Bên giòng kệ của ngài
Vạn Phong thì ngài được hiệu là Siêu Bạch; bên giòng kệ
của ngài Đạo Mân thì ngài được hiệu là Nguyên Thiều.
Lẽ đó xét có phần đúng.
Nhưng
lại thấy có chỗ chép ngài Đạo Minh Huệ Nhật ở chùa Thiên
Khai (Trung Hoa) xuất ra giòng kệ: Đạo, Bổn, Nguyên ... ấy,
sau khi vừa mới thừa truyền theo giòng kệ Tổ, Đạo, Giới...
của ngài Vạn Phong chỉ có một đời. Bởi vậy rất sai vì
nếu nói ngài Đạo Minh xuất giòng kệ ấy thì chữ “Nguyên”
của ngài Nguyên Thiều không phải là chữ “Nguyên”
trong giòng kệ đó . Vì đem những chữ trong hai giòng
kệ kia ra mà đối chiếu thì từ chữ “Nguyên” – Nguyên
Thiều đến chữ “Siêu” - Siêu Bạch - cách nhau đến 8 –
9 chữ (tức là 8 - 9 đời) làm sao mà gặp nhau ở nơi một
người được ?
Có
giải quyết được điều này, tức đối vấn đề : Vì sao
ngài lại truyền xuống cả hai giòng kệ ấy (hiện nay chùa
Quốc ân (Huế) thì theo giòng kệ chữ “Nguyên”, tức là
giòng của ngài Đạo Mân; chùa Thập Tháp (Bình Định) thì
theo giòng kệ chữ “Siêu” tức là giòng của ngài Vạn
Phong) (?) Và trong hàng chữ “Minh” và chữ “Thành” (Sau
chữ Nguyên, chữ Siêu một chữ) ai là đệ tử của ngài ?
Như
trên nói ngài đã thọ giáo cả hai bên. Nên ở đây có thể
nói: Một bên ngài muốn truyền xuống giòng kệ chữ “Siêu”
của Tổ Vạn Phong. Một bên ngài muốn truyền xuống giòng
kệ chữ “Nguyên” của sư tổ mình. Bản ý đều muốn làm
cho phái diễn của tổ tiên khỏi phải đứt đoạn.
Chứng
thật cho ý kiến này, ta nhận thấy bất kỳ ở chùa Thập
Tháp hay Quốc Ân, dưới ngài đều có những ngài hoặc chữ
“Minh” hoặc chữ “Thành” xen lẫn nằm trong thế hệ.
Vậy
còn ai là đệ tử của ngài Nguyên Thiều? Theo thế hệ truyền
thống ở chùa Thập Tháp và Quốc Ân thì dưới ngài Nguyên
Thiều, Siêu Bạch, phần nhiều là những ngài nằm về chữ
Minh cả. Như ngài Minh Vật Nhất Tri, Minh Hoàng Định Nhiên,
Minh Giác Kỳ Phương, Minh Dung Pháp Thông, Minh Dương Nguyệt
Ân v.v... và có xen lẫn một đôi ngài nằm về chữ "Thành"
như ngài Thành Đẳng Minh Yêu, Thành Nhiên Pháp Thông, v.v...
Ngài các ngài ấy lại có những ngài cũng là chữ ‘Minh”
như ngài Minh Hoằng Tử Dung (khai sơn chùa Từ Đàm- Huế),
Minh Hành Tại Toại (ở Nhạn Tháp Sơn - Bắc Kỳ),
Minh
Hải Pháp Bảo (khai sơn chùa Chúc Thánh, Quảng Nam) v.v...
Theo
tương truyền xưa nay thì các ngài vừa mới kể trên đều
là đệ tử của ngài Nguyên Thiều cả (Vả xét theo thế hệ
của hai giòng kệ thì dù ngài chữ “Minh” hay chữ “Thành”
cũng đều nằm dưới ngài Nguyên Thiều một chữ cả). Nhưng
nếu đứng ra ngoài tín ngưỡng tập truyền, dùng quan điểm
của nhà sử học mà dò xét, thì không thể bảo các ngài
đó đều là đệ tử của ngài Nguyên Thiều cả.
Xét
trong bài bia ký dựng ở chùa Quốc Ân thì thấy chép: Ngài
19 tuổi xuất gia tu ở chùa Báo Tư, thọ giới với ngài Khoáng
Viên Hòa thượng ... Vậy sau khi ngài xuất gia, còn phải tu
học 5, 7 năm đã chứ! Lại trong bài bia ấy chép: “Niên hiệu
Cảnh Trị năm thứ ba đời Lê Hiến Tôn (năm Ất Tỵ thứ
7 đời chúa Nguyễn Phúc Tần:1665), ngài qua An-nam lập chùa
Thập Tháp (xem lại truyện ngài Nguyên Thiều)”.Thế thì khi
ngài qua An-nam đại khái cũng trên 30 tuổi. Ngài qua, trước
hết ở phủ Quy Ninh lập chùa Thập Tháp; từ khi qua đến
khi lập thành chùa Thập Tháp, ít nữa cũng phải trải qua
thời gian mươi năm. Rồi sau ra Thuận Hóa ở chùa Hà Trung,
lên Xuân Kinh lập chùa Quốc Ân cũng phải mất hết thời
gian chừng trên 10 năm nữa: Cho đến khi phụng mệnh đức
Anh Tôn (1687-1691) trở về Trung Quốc, tìm thỉnh các Danh Tăng
về khai giới đàn tại chùa Thiên Mụ. Chỉ thấy trong sử
chép ngài Thạch Liêm cùng ngài qua lúc này. Nhưng theo tương
truyền xưa nay thì cùng qua với ngài, ngoài ngài Thạch Liêm
còn có các ngài khác nữa, như ngài Tổ khai sơn chùa Thuyền
Lâm (Huế) v.v. . . với các ngài Minh Hoằng Tử Dung, Minh Hải
Pháp Bảo . . . (xét về thời đại của các ngài qua cũng nhằm
lúc ấy). Đến đây, hãy trở lại với vấn đề : Vậy các
ngài chữ “Minh” đồng qua với ngài lúc này, có thể bảo
đều là đệ tử của ngài NguyênThiều cả không ? E không
thể bảo được. Bởi thời gian ở Trung Hoa của ngài rất
ít, mà thời gian ở An-nam thì nhiều, làm gì đã có đệ tử
xứng đức, xứng vị để cùng qua với ngài ngồi trong địa
vị Thập sư trên giới đàn ? Và trong sử chép ngài vâng mệnh
vua về thỉnh các Danh Tăng; nếu ngài chỉ bảo đệ tử của
ngài qua (giả sử ngài đã có đệ tử ở Trung Hoa), thế thì
ngài đã hẹp hòi và tỏ khinh thường hai chữ “Danh Tăng”
lắm ru ! Nên dù cho trong khi ngài qua cũng có những vị đệ
tử hoặc mới theo lúc ngài trở về, hoặc đã theo lúc ngài
chưa qua An-nam, nhưng thiết tưởng những vị ấy cũng chỉ
theo để hầu thầy chứ chưa có thể ngồi ngang một ghế
Thập sư trong giới đàn được, mà dù có cũng chỉ được
đôi ba vị thôi.
Vậy
ta có thể bảo những ngài Minh Hoằng Tử Dung, Minh Hải Pháp
Bảo, Minh Hành Tại Toại ...chỉ là những ngài nằm dưới
ngài Nguyên Thiều một chữ, gọi ngài là sư thúc hoặc sư
bá gì chớ chưa hẳn là đệ tử của ngài cả.
Trong
tấm bia đá dựng ở chùa Chúc Thánh và trong quyển “Liệt
Tổ truyện”, có nói đến lược sử của ngài Minh Hoằng
cùng ngài Minh Hải, nhưng chỉ nói qua ngài người Đại Thanh,
qua An-nam, trác tích Thuận Hóa, lập chùa Ấn Tôn (Từ Đàm);
vô ở Quảng Nam lập chùa Chúc Thánh, chớ không nói đến
hai ngài đó là đệ tử của ngài nào. Vậy căn cứ vào đây,
ta có thể cho lời bàn trên là đúng chăng (?)
Có
thể, sau khi giới đàn xong, ngài Minh Hoằng mới tự do lập
chùa Ấn Tôn ở Huế, ngài Minh Hải lập chùa Chúc Thánh ở
Quảng Nam và ngài Minh Hành ra ở Nhạn Tháp Sơn, Bắc Kỳ.
Trái lại nếu quả là đệ tử, thì tình thầy trò đâu có
rã rời gấp gáp đến thế.
Tiếc
rằng về những sử liệu này, sau một thời kỳ biến loạn
Tây Sơn, những cái có quan hệ đến lịch sử như giấy má,
bia ký đều bị thất lạc, không đủ giúp cho ta khảo xét
thêm được rõ ràng, chắc chắn hơn nữa.
Thạch
Liêm Hòa thượng : Ngài quê ở Giang Tây nước Trung Hoa, học
vấn uyên bác, bao nhiêu món thiên văn, địa dư, toán số,
cho đến nghề viết, nghề vẽ, không thứ gì ngài không tinh
xảo, lại có sở trường về thơ phú. Cuối đời nhà Minh,
nhà Mãn Thanh làm chủ Trung Quốc, ngài không chịu ra làm quan,
bái từ mẹ già, cắt tóc đi tu, rồi vân du khắp nơi. Khi
Thọ Tôn Hòa thượng (Nguyên Thiều) vâng mệnh chúa Nguyễn
về Quảng Đông tìm các bậc Cao Tăng, có nghe tiếng ngài liền
đến mời ngài Trú trì ở chùa Thiên Mụ để dạy đệ tử
và thường mời vào cung đàm đạo; sau ngài có lập chùa Khánh
Vân gần chùa Thiên Mụ. Ở được ít năm, ngài xin trở về
Trung Hoa không qua nữa.
Sau
nhân có tàu buôn qua, ngài có gởi dâng chúa Nguyễn một bức
thơ xích độc và một bài thi :
XÍCH
ĐỘC
Nhất
giang yên lãng, đạo cách trùng vân,
Bát
độ xuân quang, tuyết thiêm hoa mấn.
Sổ
nhơn gian chi hạ lạp,
Ức
thiên ngoại chi nhơn duyên;
Diêu
tri cam điện bồ đoàn,
Dĩ
chứng huỳnh mai tiêu tức.
Viên
khiển độ giang chi vĩ,
Thiểu
thân súc địa chi hoài.
Dạ
nguyệt thông triều, trì lai viễn tín,
Tân
thi ký tặng, quí phạp trường ngôn.
Dịch
:
Trời
bể muôn trùng,
Nước
mây cách trở.
Xuân
về mấy độ,
Làn
tóc nửa sương.
Bấm
tay nghĩ chuyện nhân gian,
Chạnh
nhớ mối tình thiên ngoại.
Tưởng
chừng dưới chiếc bồ đoàn,
Đã
tỏ huỳnh mai lối cũ.
Thuyền
lan tiện gió,
Thâu
chỗ nhớ nhung.
Sóng
vỗ trăng ghềnh
Mây
đưa tình nhạn
Mấy
lời quê cạn,
Tỏ
chút u hoài.
THI
VIẾT :
Đông
phong tân lãng mãn giang tần,
Tưởng
kiến hồ sơn vũ lộ tân.
Tự
thị dương hòa qui thảo mộc,
Thái
bình nhân túy hải thiên xuân.
THƠ
RẰNG :
Sóng
rởn hoa tần phất gió đông,
Đỉnh
hồ tưởng thấy hạt mưa nhuần.
Cỏ
cây vui dưới trời êm diu,
Người
ngắm thăng bình tắm bể xuân.
Ngài
có làm tập “Ly Lục Đường thi”, tập “Hải ngoại ký
sự” và bộ “Kim Cang trực sớ” còn lưu hành.
Thời
ấy chúa Nguyễn đang trấn ở Thanh Hóa; phần nhiều là người
Chàm. Hai ngài này : Nguyên Thiều và Thạch Liêm - là người
rất có công đem văn hóa và học thuật Trung Quốc khai hóa
cho dân ta xứ này.
Tử
Dung Minh Hoằng : Không rõ ngài tên họ là gì chỉ biết ngài
là đời thứ 34 Lâm Tế; quê ở Quảng Đông theo ngài Nguyên
Thiều qua An-nam ở Thuận Hóa có lập chùa Ân Tôn (tức chùa
Từ Đàm, Hội Quán hội Phật học bây giờ).
PHÁI
LIỄU QUÁN
Liễu
Quán Hòa thượng : Ngài họ Lê, húy Thiệt Diệu, người làng
Đạo Mã, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên (Sông Cầu bây giờ).
Lúc 6 tuổi, mồ côi mẹ, cha đem đến chùa Hội Tôn thọ giới
với ngài Tế Viên Hòa thượng[5].Được bảy năm thì Hòa
thượng tịch, ngài ra Thuận Hóa xin học với Giác Phong Lão
tổ[6] chùa Báo Quốc. Sau đó một năm, năm Tân Mùi(1691), ngài
phải về phụng dưỡng cha già, lấy nghề kiếm củi độ
nhật. Bốn năm sau phụ thân mất, năm Ất Hợi (1695) ngài
lại trở ra Thuận Hóa thọ Sa-di giới với ngài Thạch Liêm
Hòa thượng. Năm Đinh Sửu (1697) ngài lại thọ Cụ túc giới
với ngài Từ Lâm Lão Hòa thượng (cũng là người Trung Hoa,
một ngài nay còn ở chùa Từ Lâm gần nhà máy nước ở Huế).
Bắt
đầu năm Kỷ Mão (1699), ngài đi tham lễ khắp thiền lâm,
chịu biết bao điều khó khăn, đạm bạc. Đến năm Nhâm ngọ
(1702) ngài đến Long Sơn vào bái Yết Tử Dung Hòa thượng
cầu dạy pháp tham thiền. Hòa thượng dạy ngài tham câu :
«
Vạn pháp qui nhất, nhất qui hà xứ ? »
(Muôn
pháp về một, một về chỗ nào ?)
Ngài
ngày đêm tham cứu 8, 9 năm mà chưa lãnh hội, trong lòng tự
lấy làm hổ thẹn.
Một
hôm, nhơn đọc truyện Truyền đăng lục đến câu : “Chỉ
vật truyền tâm, nhân bất hội xứ?” thoạt nhiên ngài được
tỏ ngộ. Nhưng vì núi sông cách trở, ngài không thể đến
ngài Tử Dung để trình ngộ được.
Đến
năm Mậu Tý (1708), mùa xuân ngài mới trở ra Long Sơn, cầu
Hòa thượng ấn chứng. Khi ấy ngài đem chỗ công phu của
mình, mỗi mỗi trình bày, đoạn ngài nói đến câu “chỉ
vật truyền tâm, nhân bất hội xứ”. Hòa thượng liền nói
:
Huyền
nhai tán thủ, tự khẳng thừa đương,
Tuyệt
hậu tái tô, khi quân bất đắc.
(Phải
bước ra bờ vỡ mà buông tay, chết sông tự mình chịu lấy,
ngất đi mà sống lại mới khỏi bị người dối gạt). Liền
đó ngài vỗ tay cười ha ha...
Hòa
thượng nói :
- Chưa
nhằm
Ngài
Liễu Quán nói :
Bình
thùy nguyên thị thiết.
(Trái
cân vốn là sắt)
Hòa
thượng nói :
- Chưa
nhằm.
Mai
lại, Hòa thượng gọi ngài đến bảo : Chuyện ngày qua chưa
xong, nói lại xem!
Ngài
Liễu Quán nói :
Tảo
tri đăng thị hỏa, phạn thục dĩ đa thì
(Sớm
biết đèn là lửa, cơm chai đã lâu rồi !)
Bấy
giờ Hòa thượng rất khen ngợi.
Năm
Nhâm Thìn (1712), mùa hạ, Hòa thượng vào Quảng Nam dự lễ
Toàn Viện (?), ngài đem trình bày kệ dục Phật.
Hòa
thượng liền hỏi :
- Tổ
Tổ tương truyền Phật Phật thọ thọ,
Vị
thẩm truyền thọ cá thậm ma ?
(Các
vị Tổ nói truyền cho nhau, đức Phật này trao cho đức Phật
khác, chẳng hay truyền thọ nhữngcái gì ?)
Ngài
Liễu Quán nói :
- Thạch
duẫn trừu điều trường nhất trượng,
Qui
mao phất tử trọng tam cân.
(Búp
măng trên đá dài một trượng,
phủ
phất lông rùa nặng mấy cân).
Hòa
thượng nói theo :
- Cao
cao sơn thượng hành thuyền
Thâm
thâm hải để tẩu mã
(Lung
linh nước chảy trên đèo,
Ngựa
đua dưới biển, thuyền chèo trên non)[7]
Ngài
tiếp theo nói :
- Chiết
giác nê ngưu triệt dạ hống,
Một
huyền cầm tử tận nhật đờn.
(Dây
đứt đờn cầm rung suốt buổi,
Gảy
sừng trâu đất rống thâu đêm).
Ngài
biện tài lanh lẹ, lâm cơ ứng biến, như nước và sữa rất
là phù hợp. Hòa thượng rất lấy làm vui mừng , ấn khả
.
Lại
chỗ hóa duyên của ngài rất rộng, ngài thường ra vào Huế
- Phú Yên để hóa đạo luôn luôn, không nề khó nhọc.
Năm
Quí Sửu (1733), Giáp Dần (1734) và Ất Mão (1735), ngài chịu
lời thỉnh cầu của các ngài trong Tôn môn, cùng các bậc
tể quan, cư sĩ ở Huế, dự bốn lễ lớn về đại giới
đàn.Qua năm Canh Thân (1740) ngài tấn đàn Long Hoa phóng giới,
rồi đó ngài trở về chùa Thiền tôn.[8]
Thời
ấy Nguyễn Chúa Ninh Vương rất yêu mến đạo đức của ngài,
thường mời ngài vào cung để đàm đạo, nhưng ngài vẫn
từ chối không vào.
Mùa
xuân năm Nhâm Tuất (1742), ngài lại dự lễ giới đàn ở
chùa Viên Thông. Cuối mùa thu năm ấy ngài thị bịnh, gọi
môn đồ đến mà dạy rằng : "Nhân duyên đã hết, ta sắp
chết vậy.” Khi ấy môn đồ đều khóc, ngài dạy rằng :
“Các người khóc mà làm gì ? Các đức Phật ra đời còn
nhập Niết-bàn; ta nay đi lại rõ ràng, về tất có chỗ, các
người không nên khóc và đừng nên buồn thảm lắm.”
Cuối
tháng 2, trước khi tịch mấy ngày, ngài ngồi dậy vững vàng,
tự cầm bút viết bài kệ từ biệt rằng :
Thất
thập dư niên thế giới trung,
Không
không sắc sắc duyệt dung thông.
Kim
triêu nguyện mãn hoàn gia lý,
Hà
tất bôn man vấn tổ tông.
Dịch
:
Ngoài
bảy mươi năm trong thế giới,
Không
không sắc sắc thảy dung thông.
Ngày
nay nguyện mãn về nơi cũ,
Nào
phải ân cần hỏi tổ tông.
Sau
khi ngài viết bài kệ xong, ngài bảo môn đồ rằng : “Sau
khi ta đi, các người phải nghĩ cơn vô thường nhanh chóng,
cần phải siêng năng tu học trí tuệ, các người hãy nên
gắng tới, chớ bỏ quên lời ta.”
Đến
ngày 22 tháng 2 ta, buổi mai, sau khi dùng nước trà và các đồ
đệ hầu chuyện cùng làm lễ xong, ngài hỏi đến giờ, các
đồ đệ thưa : giờ Mùi. Thế rồi...ngài vui vẻ thị tịch.
Vua
nghe tin, sắc ban bia ký, và tứ hiệu là “ĐạoHạnh Thụy
Chánh Giác Viên Ngộ Hòa Thượng” .
Ngài
là đời thứ 35 giòng Lâm Tế chánh tôn, khai sơn chùa Thiên
Thai Thiền Tôn ở Huế.
Ngài
có tục bài kệ về Pháp phái rằng :
Thiệt
tế đại đạo, tánh hải thanh trừng.
Tâm
nguyên quảng nhuận, đức bổn từ phong.
Giới
định phước huệ, thể dụng viên thông.
Vĩnh
siêu trí quả, mật khế thành công.
Truyền
trì diệu lý, diễn sướng chánh tôn.
Hạnh
giải tương ưng, đạt ngộ chơn không.
Dịch
:
Đường
lớn thực tại, biển thể tính trong,
Nguồn
tâm thấm khắp, gốc đức vun trồng.
Giới
định cùng tuệ, thể dụng viên thông,
Quả
trí siêu việt, hiểu thấu nên công.
Truyền
giữ lý mầu, tuyên dương chính tông
Hành
giải song song, đạt ngộ chân không.
(Nguyễn
Lang, Việt Nam Phật giáo sử lược, tr. 603)
Ngày
nay, Tăng đồ tín đồ ở Trung kỳ và Nam kỳ hầu hết là
thuộc về giòng Lâm Tế, mà ngài là ngườicó công khai hóa
hơn hết, hiện đã thành ra một nhánh lớn gọi là Liễu Quán.
Kể
ra Phật giáo về thời chúa Nguyễn này, ngoài mấy ngài chép
trên, còn có nhiều bậc Cao Tăng khác nữa, chẳng qua phải
một thời gian biến loạn Tây Sơn,chùa chiền hư nát; những
cái có thể lưu lại làm sử liệu cho ngày nay, đều bị tiêu
tan mất hết. Nên bây giờ người nghiên cứu lịch sử tìm
được dấu tích để ghi lại phương danh và thế hệ của
các ngài cũng đã khó, huống tìm cho rõ tiểu truyện của
mỗi ngài lại càng khó hơn nữa. Mà cái điều sau này ta có
thể nói: chỉ là sự may mắn của lịch sử. Hai ngài dưới
này cũng là Danh Tăng trong thời Nguyễn Chúa:
Trung
Đình Hòa thượng: Ngài không biết người ở đâu, tên
gì vì thường trú ở trong đình, nên người ta gọi tên ấy.
Ngài thường đi khất thực các làng, trong mình thường đeo
ba cái bị. Một cái nếu ai cho cá thịt gì cũng lấy bỏ vào
đó rồi cho kẻ ăn xin khác; một cái đựng món ăn chay ngài
dùng; còn một cái lớn để không, hễ tới đâu thì ngài
treo lên mái đình mà ngồi vào. Đêm thì trì tụng, ngày thì
lang thang khắp nơitrông hình dung nhớp nhúa, tóc xù, áo quần
không có phải đóng khố, trẻ con trông thấy đều sợ hãi
(cái danh từ “ông ba bị” để dọa trẻ con có từ thời
ấy - khoảng đời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777).
Khi
tu hành đã đắc đạo, ngài tâu xin lập hỏa đàn ở chùa
Thiên Mụ, bố cáo cho thiên hạ biết. Khi mọi người xin ngài
lưu lại cho một chút di thể, thì ngài đưa lên một ngón
tay. Khi đốt, lửa bốc theo gió lệch cái mũ Quan âm của ngài
đội do vua ban, ngài lấy tay sửa lại, miệng luôn luôn tụng
kinh. Người đi xem đông như kiến, giành nhau lấy trầm hương
liệng vào hỏa đàn. Thiêu xong, quả nhiên còn một ngón tay
không cháy. Người ta nhặt tro ấy xây tháp thờ ở bên chùa
Thiên Mụ .
Bấy
giờ ngài Pháp Vân Hòa thượng có tặng ngài bài thơ rằng
:
Kỷ
niên y bát ký phong trần,
Đốn
ngộ thuyền cơ nguyện hóa thân.
Mộng
huyễn hình hài túng liệt diệm,
Sắc
không tâm sự phú yên vân.
Thần
thê Tây độ niên niên tại,
Danh
bá thuyền môn nhật nhật tân.
Kim
cổ nhàn khan đàm tiếu lý,
Bất
tri như thử hữu hà nhân ?
Dịch
:
Phong
trần lẫn bấy nhiêu năm,
Ngộ
được cơ thuyền chết cũng cam.
Ngọn
lửa đột tàn thân ảo mộng,
Làn
mây bay với niệm từ đam.
Tinh
thần phảng phất miền Tây độ,
Danh
tiếng vang lừng đất Việt Nam.
Dở
chuyện xưa nay xem lại thử,
Những
người như thế có bao lăm ?
Bùi
Đăng Tường: Ngài người tỉnh Quảng Nghĩa, huyện Bình Sơn;
năm 12 tuổi đầu thuyền tại chùa Phổ Phước. Ngài tu hành
rất chân chánh, trì giới rất tinh nghiêm. Vua tặng chức Hòa
thượng và ban pháp hiệu là Long Kỳ Đại Sư.
Khoảng
năm Quý Tỵ (1773) đời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765 - 1777)
(sau truy tôn Duệ Tôn Hoàng Đế), bị giặc Tây Sơn xướng
loạn, ngài bèn lén vào kinh sư chịu mật chỉ về nhóm họp
các Tăng đồ, chiêu mộ nghĩa dõng, đồng lòng dẹp giặc.
Vua phong cho ngài làm chức « Khâm Sai Vệ Quốc Soái ». Sau
ngài cùng với giặc đánh nhau tại Quảng Nam vừa mất.
Dưới
đây là những việc làm của Nguyễn chúa trong thời này :
Năm
Tân Sửu thứ 14 (1601) đời chúa Nguyễn Hoàng (sau truy tôn
Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế) dựng nên chùa Thiên Mụ[9] .Tục
truyền : « Trước đó dân quanh vùng có thấy một bà già
mặc áo đỏ, ngồi trên cái đồi đất ấy, nói rằng: rồi
đây sẽ có một vị chân chủ đến cai trị, lập chùa ở
đây để cho tụ linh khí, vững bền long mạch. » Nói
xong, bà già biến mất. Sau chúa Nguyễn Hoàng vào trấn đất
Thuận Hóa, nhân dân thường gọi là chúa Tiên, nghe chuyện
ấy liền lập chùa và đặt tên là Thiên Mụ (nghĩa là bà
già linh thiêng ở trên trời).
Năm
ất Tỵ (1665), năm thứ 17 đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648
- 1687) (sau truy tôn Thái Tôn Hiếu Triết Hoàng Đế), sắc sùng
tu chùa Thiên Mụ. Nhưng nhất là đến đời Minh Vương Nguyễn
Phúc Chu (1691-1725) (sau truy tôn Hiền Tôn Hiếu Minh Hoàng đế),
chùa Thiên Mụ mới hoàn thành.
Vua
là người rất sốt sắng cùng đạo Phật, trong một thời
gian dài ở ngôi, biết bao nhiêu chùa tháp bởi vua dựng nên
hay sửa lại. Sử chép về khoảng vua sùng tu chùa Thiên Mụ
rằng :
“Năm
Canh Dần thứ 19 (1710), đời chúa Nguyễn Minh Vương, mùa hạ
tháng tư, sau khi trùng tu chùa Thiên Mụ xong rồi, vua sắc đúc
một quả chuông lớn nặng 3.285 cân. Chuông ấy hiện nay hãy
còn, khắc đề năm Canh Dần (1710) vào khoảng Vĩnh Thạnh (1705-1719
) đời vua Lê Dũ Tôn năm thứ 6 (1710) .
Năm
thứ 2 niên hiệu Vĩnh Thạnh Lê Dũ Tôn, vua Nguyễn Minh Vương
lại gởi mua bên Trung Hoa ba Tạng Kinh, Luật, Luận, đem về
để ở chùa.
Vào
khoảng năm 1738-1744, Võ Vương Nguyễn Phúc Hoạt sắc trùng
tu chùa Thiên Mụ rất là tráng lệ và sai người qua Trung Hoa
thỉnh Đại Tạng kinh hơn 1.000 bộ về để tại chùa. Võ
Vương là người mộ đạo, ngài tự hiệu là “Thiên Túng
đạo nhân”.
Xem
vậy đủ thấy Phật giáo ở thời này lại có cơ phục hưng.
Lại nhận thấy một điều: trước ngài Liễu Quán thì phần
nhiều các Thiền sư ở đàng trong là người Trung Hoa cả.
Xét ngay sử Trung Hoa thì bấy giờ (đời chúa Nguyễn Phúc
Hoạt) (1738 - 1765) vua Trung Hoa là Thanh Cao Tôn (tức Càn Long)
(1736 -1785).
Lại
xét Phật giáo sử của Trung Quốc thấy chép: “Một đời
nhà Thanh, vua Thái Tổ, vua Cao Tôn hết sức phục hưng Nho giáo,
đối với Phật giáo tuy có ý bảo hộ, nhưng không được
chu đáo lắm. Còn về Lạt Ma giáo thì giữ theo chánh sách
nhà Nguyễn.” Lại chép: « Đương thời tuy vẫn có các tôn:
Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Mật, Thiền, Pháp tướng, Tịnh độ
v.v...nhưng thật Tăng đồ ít ai thấu hiểu đốn giáo lý,
vì Phật giáo đã tới thời đại suy đồi rồi » [10].
Phật
giáo ở Trung Quốc bấy giờ suy đồi cũng là bởi trong nước
không yên, suốt một đời vua Càn Long, chẳng mấy lúc được
thái bình. Những bậc Cao Tăng thấy Tăng đồ trong nước ngày
một suy đồi, nên mới đi sang nước ta để giáo hóa.
Cứ
xem khắp giải Trung kỳ ngày nay, có bao nhiêu chùa còn di tích,
rất nhiều là của các Thiền sư người Trung Hoa lập ra, thời
đủ biết tình hình Phật giáo thời ấy.
Trong
triều Nguyễn chúa, lại có mấy lần đi cầu kinh, đều không
đủ Ba tạng, nhưng cũng còn bù được chút ít vào số kinh
sách đã bị nhà Minh tịch thu.
[1]
Xem bản đồ A
[2]
Chữ thầy đây là chỉ cho Đạo.
[3]
Xem phụ lục ở sau.
[4]
Như trên.
[5]
Người Trung Hoa.
[6]
Cũng người Trung Hoa, ở chùa Báo Quốc
[7]
Của người trước dịch sẵn
[8]
Chùa này do ngài khai sơn, nhưng hiện nay không biết rõ là
bắt đầu từ năm nào, chỉ thâý nơi bức biển chùa và nơi
đại hồng chung đều đề là Cảnh Hưng bát niên (niên hiệu
Cảnh Hưng thứ tám). Nhưng xét ra năm ấy không phải là năm
bắt đầu gây dựng chùa Thiền Tôn. Mà có lẽ đâu khoảng
Vĩnh Thạnh từ niên (niên hiệu Vĩnh thạnh thứ tư đời vua
Lê Dụ Tôn – l708) sau khi ngài ra Long Sơn cầu Hòa thượng
ấn chứng. Bấy giờ chỉ là một cái am nhỏ vừa để ẩn
tu rồi sau dần dần mới trở về một ngôi chùa to lớn có
đại hồng chung, có biển sắc Tứ . Sự chứng cớ rõ ràng
là ngài tịch vào năm Cảnh Hưng tam niêm (1742). Như vậy ta
đủ thấy khởi nguyên chùa Thiền Tôn không phải bắt đầu
từ năm ấy (Cảnh Hưng bát niên )
[9]
Trong bộ « Quốc Triều tiên biến toát yếu » quyển 1 trang
10 chép năm Tân Sửu thứ 44 đức Triệu Tổ Tịnh Hoàng
đế dựng chùa Thiên Mụ. Nhưng xét đời Triệu Tổ chưa hề
vào trấn đất này, lấy đâu mà lập chùa Thiên Mụ ? Và
năm Tân Sửu thứ 44, thuộc về đời chúa Nguyễn Hoàng, phải
đâu là Triệu Tổ.
[10]
Xem đoạn Phật giáo ở Trung Quốc.