Chương
bảy
PHẬT
GIÁO ĐỜI HẬU LÊ (1428 - 1527)
Nhà
Hậu Lê kể từ vua Thái Tổ cho đến vua Cung Hoàng cọng được
10 đời, trị vì trong 100 năm chẳn. Trong 10 đời vua ấy, vua
Thái Tổ thì không chỉ có vua Thánh Tôn và Thái Tôn lớn tuổi
mới lên làm vua, còn thì vua nào cũng có ít tuổi cả. Nên
trải những triều vua ấy, vua thì bị quyền thần lung lạc,
vua thì lớn lên sinh kiêu xa, dâm ác, khiến nước nhà không
mấy lúc được yên.
Phật
giáo cũng vì thế mà không hưng khởi lên được nữa. Nhất
là hồi trước quan nhà Minh đã tịch thu hết kinh điển, nên
dù có những bậc mộ đạo đến đâu cũng không lấy gì mà
nghiên cứu. Bởi thế, các Tăng đồ lúc ấy, nhân lúc dân
nước được tự lập, tự trị, dù có cố duy trì lấy đạo
Phật thì chẳng qua cũng là một sự tín ngưỡng theo hình
thức thời.
Thời
này Nho học đã thật làm bá chủ cho văn hóa, các sĩ phu xô
nhau vào khoa cử, miệt mài trong tư tưởng Tống nho, triết
lý nhà Phật không làm danh làm lợi cho ai, tất bị bỏ quên.
Việc
tu đạo đối với hạng ít học chỉ thành một kế quyền
nghi theo hình thức, với hạng sĩ phu thì chỉ là một chỗ
để người nào lận đận công danh, chán nản cuộc thế,bất
bình với thói đời, nghĩa là chỉ những người yếm thế
mới tìm đến để tiêu giao ngày tháng, mượn cảnh chùa am,
tiếng chuông câu kệ mà dứt bỏ cuộc đời bên ngoài thôi;
chớ không phải là mến hiểu giáo lý của Phật mà tu hành,
và ngộ đạo, rồi lại đem đạo lý ra mà giác ngộ cho kẻ
khác.
Bởi
vậy, trong đời Hậu Lê có thể gọi là “thời đại Phật
giáo suy đồi”
Hãy
xem sử chép những việc đối với Phật giáo của đời Hậu
Lê :
Năm
Thuận Thiên thứ 2 (1429 - Lê Thái Tổ) mở một kỳ khảo hạch
Tăng đạo. Người nào trúng tuyển thì được ở chùa tu hành,
người nào hỏng thì phải hoàn tục.
(Việc
ấy càng tỏ ra trong số Tăng đồ đầu đời Hậu Lê phần
nhiều là hạng ít học, tu hành là chỉ theo hình thức không
hiểu đạo gốc nữa. Vả có kinh điển đến đâu mà nghiên
cứu. Triều đình dù có hòa với nhà Minh nhưng cũng không
có ý ủng hộ Phật giáo, thì ai nghĩ đến sự cầu kinh).
Năm
Thiện Bình thứ nhất (1434 - Lê Thái Tôn), trời đại hạn,
vua sắc rước tượng Phật ở chùa Pháp Vân về kinh làm lễ
cầu mưa.
(Càng
tỏ ra từ vua đến dân đã yên trí Phật là “phép thần
thông” như một vị thần của Lạt Ma giáo hay Phù chú giáo).
Năm
sau vua Thái Tôn sắc đúc tượng bà Thái Hoàng Thái hậu (bà
nội vua Thái Tổ). Khi đúc xong, mời Huệ Hồng Thiền sư vào
làm lễ điểm nhãn.
(Thiền
sư đã nghiễm nhiên một thầy phù thủy ở chùa, đọc kinh
Phật làm sư).
Niên
hiệu Thái Hòa thứ bảy (1449 - Nhân Tôn), trời đại hạn,
vua sắc bộ lễ làm đảo vũ ở chùa Báo Ân. Lại sắc rước
tượng Phật ở chùa Pháp Vân về chùa Báo Thiên mời các
Tăng sĩ đến tụng kinh. Bà Hoàng Thái hậu ra đứng chủ lễ.
(Phật
hiển nhiên đã thành một vị tượng thần cho dân Việt Nam
tín ngưỡng).
Năm
Quang Thuận nguyên niên (1460 – Lê Thánh Tôn), sắc cấm các
Tăng đạo không được qua lại với nhân dân trong thành. Năm
sau sắc cấm dân gian không được làm thêm chùa; vì nhân dân
lúc ấy quá sùng tín đạo Phật, trong một năm làm không biết
bao nhiêu là chùa, nên mới có lệnh ấy.
(Sùng
tín mà đến nỗi Tăng đồ bị cấm không được giao thiệp
với dân và trong đời không có thêm được một vị
Cao Tăng, thì quả là tinh thần đạo Phật đã tuyệt diệt.
Sự ngăn cấm này phải chăng là vua sợ món tín ngưỡng hình
thức rộn ràng ấy sẽ nguy hại cho dân chúng, hay chỉ là
nghe lời dèm siễm thiên vị của các ngoại đạo khác?)
Xét
những điều kể trên, ta đủ biết Phật giáo trong khoảng
đời Hậu Lê này, chỉ còn là sự cúng cấp cầu đảo, và
Tăng đồ đã thành những tay sai đáng thương hại của vua
quan hoặc các nhà có tiền khi tự cầu tài mặc dù bề ngoài
như tuồng họ vẫn tôn kính.