Chương
năm
PHẬT
GIÁO ĐỜI NHÀ TRẦN (1225 - 1400)
1.
Trần Thái Tôn (1225 - 1258).
Lý
Chiêu Thánh Hoàng đế truyền ngôi cho chồng là Trần Cảnh,
tức là Trần Thái Tôn, Trần Thái Tôn lên ngôi vua mới có
8 tuổi, việc hành chính trong nước đều do tay Thái sư Trần
Thủ Độ thu xếp.
Trong
sách “Đại Nam thực lục chính biên”có chép: “Năm Kiến
Trung thứ 7 (1231), vua Thái Tôn sắc cho nhân gian phải vẽ hình
Phật ở khắp các nơi công quán và các nơi công chúng hội
họp”. Sách lại chép thêm : “Vua Thái Tôn lúc nhỏ đi xem
đám rước thần, có gặp vị Tăng nói sau ngài sẽ làm vua,
rồi vị Tăng ấy biến mất, nên ngài mới có lời sắc ấy”.
(Lời
cước chú ấy có vẻ huyền hồ lắm. Vả Thái Tôn bấy giờ
mới có 14 tuổi, việc triều chính đều ở tay Thủ Độ định
đoạt cả, vậy có thể nói đó là sự hành động của Trần
Thủ Độ. Nhưng làrn thế để làm gì ? Hoặc giả là một
“cách” làm chính trị chi đó mà ta chưa rõ chăng ? Vì Thủ
Độ là một tay xảo quyệt trong nghề chính trị; có lẽ nào
triều chánh thật tâm truyền bá đạo phật hoặc vua nhớ
ơn Phật (?) Hoặc giả vì Thái sư Trần Thủ Độ thường
làm những việc trái đạo lý, như bức tử vua Lý Huệ
Tôn ở chùa Chân Giáo và kết duyên với người chị họ,
nguyên là vợ vua Lý Huệ Tôn. Mà trong triều bấy giờ vẫn
còn các vị Tăng Thống Pháp sư, bên ngoài thiên hạ còn sùng
tín đạo Phật nên Thủ Độ làm ra thế để che mắt thiên
hạ chăng?
Nếu
đúng như lời ấy, thì do đó ta có thể tin rằng cuối đời
Lý, đạo Phật tuy không phát triển mạnh, nhưng đến đầu
đời nhà Trần vẫn còn quyền thế, dân gian còn theo đuổi
mạnh mẽ).
Năm
Đinh Dậu (1237), nhân bị Trần Thủ Độ ép làm việc thương
luân, vua Thái Tôn chán nản cảnh đời liền bỏ vào chùa
Phù Vân núi Yên Tử[1] yết kiến Phù Vân Quốc sư, xin ở
lại tu hành. Biết tin ấy, Trần Thủ Độ liền đem quần
thần đến rước Thái Tôn về. Thái Tôn không chịu về, nói
rằng :
«Trẫm
còn nhỏ dại, không kham nổi việc to lớn, các quan nên chọn
người khác để cho khỏi nhục xã tắc. »
Thủ
Độ khuyên mãi không được, liền bảo các quan rằng :
- Hoàng
thượng ở đâu thì triều chính ở đó.
Nói
đoạn truyền sắp sửa xây dựng cung điện ở chùa Phù Vân.
Thấy thế, Quốc sư liền đến mời xin Thái Tôn về và tâu
:
“Trong
núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm, nếu Thánh
Thượng hiểu được tâm thì đứng đâu là Phật ở đấy”.
Thái
Tôn bất đắc dĩ phải truyền xa giá về kinh. Nhưng cũng vì
câu nói của Phù Vân Quốc sư mà Thái Tôn hiểu rõ đạo Phật.
Ngài khuyến khích trăm quan theo gương ngài; nên ngài có lập
Viện Tả Nhai cho các vị Vương hầu ra đó học tập đạo
truyền.
Bởi
thế, Thái Tôn hiểu đạo Phật rất sâu xa. Ngài có làm hai
bộ sách trong thời kỳ này. Cuốn “Thiền tôn chỉ nam”
và cuốn “Khóa hư”. Đó là hai cuốn sách bàn giải về
đạo Phật rất có giá trị, có thể gọi là hai bảo vật
trong rừng Thiền về nền Phật giáo nước ta. Sách “Thiền
tôn chỉ nam” giải bày đạo lý tu Thiền; sách “Khóa Hư”
nói rõ cái khổ sanh, lão, bệnh, tử của đời và phá tan
các tánh cố chấp, thành kiến của thế gian viết bằng lời
khuyến lệ. Hai sách đều còn lưu truyền ngày nay.
Ngài
là người hiểu rõ đạo Phật một cách thấu đáo nên ngài
luận đúng được nguyên lý của đạo Phật.
Dưới
đây là bài thơ của ngài tặng cho vị sư ở chùa Thanh Phong
:
Phong
đả tùng quan nguyệt chiếu đình,
Tâm
đầu cảnh sắc cọng thê thanh.
Cá
trung tư vị vô nhân thức,
Đương
dự sơn Tăng lạc cọng minh.
Dịch
:
Gió
đập hiên tùng nguyệt dọi sân,
Tình
này cảnh ấy luống bâng khuâng.
Mùi
Thiền trong đó nào ai biết,
Thức
suốt đêm trường vui với Tăng.
Ngài
thường mời các Cao Tăng vào cung để bàn luận về Phật
pháp.
Năm
Thiên ứng Chánh Bình thứ 16 (1247), triều đình mở khoa thi
tam giáo. Hai năm sau sắc trùng tu chùa Chân Giáo. Năm Nguyên
Phong thứ 6 (1256) sắc đúc 330 quả chuông treo ở các chùa.
Đến
năm Đinh Tỵ (1257), Thái Tôn tạm dẹp việc kinh điển để
ngự giá đi đánh quân Mông Cổ. Nguyên bấy giờ nhà Tống
bên Trung Hoa bị quân Mông Cổ lấy, lập ra nhà Nguyên. Vì
sự xích mích giữa nhà Trần và nhà Nguyên, quân Mông Cổ
liền kéo sang nước ta. Thái Tôn đi đánh bị thua, bỏ kinh
đô chạy về Thiên Mục (Hưng Yên). Được ít lâu, Thái Tôn
trở lại đuổi được quân địch, lấy lại kinh đô.
Năm
sau, Thái Tôn nhường ngôi cho con là Thái tử Trần Quán, tức
Thánh Tôn, để dạy cách trị dân. Triều đình tôn ngài lên
làm Thái Thượng Hoàng để cùng coi việc nước. Thượng Hoàng
ngự ở cung Thiên Trường.
Năm
Thiệu Long thứ 5 (1262), Thượng Hoàng sắc dựng chùa Phổ
Ninh ở phía Tây điện Thiên Trường.
Năm
thứ 12 niên hiệu ấy (1269), hoàng thân Quốc Thương (anh ruột
vua Thánh Tôn) lập một sở tịnh xá rất lớn ở Diễn Châu
(Nghệ An), để công chúng đến lễ Phật và nghe thuyết pháp.
Năm
Bảo Phù thứ 5 (1277), Thái Thượng Hoàng băng, thọ 60 tuổi.
2.
Trần Thánh Tôn (1258 - 1278)
Vua
Thánh Tôn cũng sùng tín đạo Phật, nhưng có phần mở mang
về Nho học hơn. Ngài cho hoàng đệ là Trần Ích Tắc mở
học đường để những sĩ từ học tập. Thời này Nho học
thạnh hành, nhưng bên Nho cũng không hại cho bên Thích. Ngoài
nhân gian các Cao Tăng vẫn tiếp tục mở đạo đường để
giảng dạy đệ tử.
3.
Trần
Nhân Tôn
Năm
Mậu Dần (1278), Thánh Tôn lên ngôi Tháin Thượng Hoàng, nhường
ngôi cho con là Thái tử Khâm, tức Trần Nhân Tôn. Nhân Tôn
là một vị vua sùng mộ đạo Phật từ thuở nhỏ. Năm 16
tuổi được lập làm Hoàng Thái tử, ngài cố nhường lại
cho em, nhưng vua cha không chịu. Một hôm ngài trèo thành trốn
đi, định vào núi Yên Tử tìm một vị Thiền sư. Nhưng đến
chùa Đông Cứu (?) thì trời vừa sáng, trong mình mệt quá,
mới vào nằm nghỉ trong tháp chùa. Nhà sư Trú trì ở đó
thấy ngài tướng mạo khác thường, liền làm cơm thết đãi.
Vua cha được tin, sai các quan đi tìm thấy, ngài miễn cưỡng
phải về. Đến khi lên ngôi thiên tử, ngài vẫn giữ mình
thanh tịnh để tu tập phép Thiền. Thường đêm ngài nghỉ
ở chùa Tư Phúc. Ngài tham học với Tuệ Trung Thượng Sĩ[2]
nên ngài hiểu thấu đạo truyền.
Nhưng
trong khi ấy giặc Nguyên quấy rối, ngài phải xếp việc kinh
kệ để lo gìn giữ xã tắc. Bấy giờ giặc Nguyên là Thoát
Hoan, Ô Mã Nhi hai lần sang quấy rối. Nhưng vua được những
đại tướng như Hưng Đạo Vương, Quốc Tuấn, Trần Quốc
Toản, Trần Nhật Duật, Trần Bình Trọng, Trần Khánh Dư,
v.v . . . giúp, nên chẳng bao lâu trong nước lại thái bình.
Nước
loạn thì ngài ra trị loạn, nước yên thì ngài lại về nghiên
cứu kinh điển nhà Phật.
Năm
Quý Tỵ (1293), Nhân Tôn truyền ngôi cho con là Anh Tôn và lên
làm Thái Thượng Hoàng. Dạy con được ít năm, năm Kỷ Hợi
(1299), ngài vào tu ở núi Yên Tử, lấy tự hiệu là “Hương
Vân Đại Đầu đà”, lập trường giảng Pháp độ trăng,
môn đồ lần lượt tìm đến trước sau kể có hàng vạn.
Ngài lại đi khắp các nơi, sức dân gian hủy phá các dâm
tà và thuyết pháp khuyên dân làm mười điều thiện. Tiếng
là trú trì ở núi Yên Tử mà ngài thường đi khắp nhân gian
lập đàn giảng đạo. Đi theo ngài chỉ có 10 người đệ
tửthân tín. Trong số ấy có Pháp Loa Thiền sư là thân cận
hơn cả. Thiền sư thường bạch ngài rằng: “Tôn đức bây
giờ xuân thu đã cao, mà cứ xông pha mưa tuyết vất vả cực
khổ như vậy, lỡ khi nóng lanh bất kỳ, thì mạng mạch Phật
pháp trông cậy vào đâu?”
Ngài
liền dạy rằng :
- Thời
tiết sắp đến nơi rồi, ta chỉ còn đợi ngày giải thoát
nữa thôi.
Được
10 ngày, ngài về thăm bệnh bà chị là Thiên Thụy công chúa.
Khi trở về núi, đi được nửa đường, ngài bảo mấy người
đồ đệ rằng :
- Ta
muốn lên am Ngọa Vân[3] mà sức chân yếu quá.
Đệ
tử bạch :
- Đệ
tử chúng tôi xin phò Tôn Đức đi.
Ngài
liền để cho đệ tử dìu lên. Khi đến am Ngọa Vân, ngài
gọi Pháp Loa Thiền sư đến, cười mà bảo:
- Ta
sắp đi đây.
Pháp
Loa Thiền sư bạch:
- Tôn
đức đi đâu bây giờ ?
Ngài
liền đọc bài kệ :
Nhất
thiết pháp bấ t sanh,
Nhất
thế pháp bất diệt,
Nhược
năng như thị giải,
Chư
Phật thường hiện tiền,
Hà
khứ lai chi hữu.
Đại
khái nói: «Hết thảy các pháp trong thế gian, vốn không sanh
diệt. Nếu hiểu được như vậy, thì Phật thường hiện
ở trước mất, chẳng có đi đâu, mà cũng chẳng có lại
đâu cả ».
Nói
vậy rồi, ngài dặn Pháp Loa Thiền sư hết mọiviệc về sự
truyền bá Phật pháp; ngài ngồi chấp tay mà hóa. Pháp Loa
Thiền sư liền làm lễ rồi rước ngài lên hỏa đàn. Vua
Anh Tôn cùng đình thần đem long giá rước ngọc cốt về an
thế ở Đức Lăng và xây tháp ở chùa Vân Yên núi Yên Tử,
lấy tên là «Huệ Quang kim tháp » và dâng tôn hiệu là : «Đại
Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tỉnh Tuệ Giác Hoàng
Điều Ngự Tổ Phật".
Xét
Thiền Tôn ở ta nói ở Bắc thì đúng hơn. Còn lưu truyền
đến nay là nhờ ở phái Yên Tử được phát đạt là do Trúc
Lâm Tam tổ đứng đầu, mà Trần Nhân Tôn chính là đệ nhất
tổ vậy. Ngài tịch vào năm Long Hưng thứ 16 (1308) , thọ 51
tuổi.
Khi
vua Nhân Tôn vào núi Yên Tử thì Khâm Từ Hoàng hậu cũng xuất
gia làm Ni.
Tuệ
Trung Thượng Sĩ[4]: Ngài húy là Quốc Toản, con trai của Hưng
Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn (xem thêm chú thích ở cuối
chương này), được phong làm Hương Nhượng Vương. Giặc Nguyên
hai lần sang xâm chiếm nước ta, ngài đi theo Hưng Đạo Vương
lập được nhiều chiến công, làm đến chức Tiết Độ Sứ
tại Thái Bình.
Ngài
chí khí cao siêu, dung thần thanh nhã, lúc nhỏ đã có lòng
mộ đạo, nhân đến thăm Tiêu Giác Thiền sư[5], nghe giảng
thuyết mà tỉnh ngộ, ngài liền tuyệt ý công danh, chuyên
tâm học đạo, từ chức lui về phong ấp là Vạn Niên Hương.
Khi ngộ đạo, ngài thường lập đàn giảng pháp.
Ngài
tuy chức cao quyền lớn, mà đối đãi với dân chúng rất
giản dị, nên mỗi khi đăng đàn thì môn đồ thiện tín đến
dự thính rất đông.
Nhơn
một hôm người môn đệ hỏi ngài về lẽ sống chết, ngài
đáp bằng hai câu kệ rằng :
Trường
không túng sử song phi cốc,
Cự
hải hà phòng nhất điểm âu.
Dịch
:
Ngại
gì bọt nước sôi ngoài bể,
Phỏng
có vành xe liệng giữa trời.
Vua
Thánh Tôn rất kính trọng ngài, tự hiệu ngài là “Tuệ Trung
Thượng Sĩ” và ký thác vua Nhân Tôn cho ngài. Ngài hết lòng
dạy bảo Nhân Tôn về phần đạo lý. Khi trong nước có giặc
ngài lại lấy võ công mà giúp Nhân Tôn.
Một
hôm Khâm Từ Hoàng hậu (em gái ngài) thiết tiệc lớn đãi
ngài. Trong tiệc dọn đủ đồ chay đồ mặn, ngài dùng cả
các món thịt cá. Hoàng hậu lấy làm lạ hỏi rằng :
Anh
đã tu mà lại ăn cả thịt cá sao thành Phật được?
Ngài
cười :
- Phật
là Phật, anh là anh. Anh chẳng cần làm ra Phật., cũng như
Phật chẳng cần làm ra anh. Hoàng hậu chẳng nghe Cổ đức
nói : “Văn Thù là Văn Thù mà giải thoát là giải thoát”
đó ư?
Xem
vậy thấy đạo Phật trong tư tưởng ngài thật phiêu dật
phóng khoáng không câu nệ, cố chấp điều gì. (Chỗ này rất
nên chú ý đừng nên lầm sự vô ngại của các ngài đã giải
thoát (làm mà không trú tâm tham trước) với những hành vi
phóng túng buông lung mà ngụy biện là giải thoát. Đối với
người tu hành bao giờ cũng phải lấy thanh tịnh trì giới
là gốc).
Khi
gần hóa ngài khiến người nhà kê ghế giữa căn nhà trống,
ngồi tựa vào ghế mà tịch. Các nàng hầu khóc lên, ngài
liền mở mắt ra quở rằng :
- Sanh
tử là lẽ thường, có gì đáng thương xót mà làm nhiễu
tâm hồn ta như thế ?
Các
nàng hầu phải im khóc; ngài lại nhắm mắt thị tịch. Ngài
thọ 62 tuổi.
Vua
Nhân Tôn nhớ ơn ngài dạy dỗ, liền sai thợ vẽ chân dung
để thờ và lấy đạo của ngài truyền cho mà tuyên dương,
lập nên phái Trúc Lâm.
Pháp
Loa Tôn sư: Ngài họ Đồng, người làng Cửu La, phủ Nam Sách
(nay là làng Tiền Trung, tổng Vũ La, Hải Dương), mẹ là Vũ
thị Nguyên, mấy lần trước, bà mẹ mấy lần sanh con gái
đến chán nản không muốn sanh con nữa, bèn uống thuốc phá
thai hai lần mà không công hiệu.
Đến
khi sanh ngài thì mừng lắm, đặt tên là Kiên Cương (cứng
chắc). Ngài thiên tư đĩnh ngộ; năm 21 tuổi gặp ngài Điều
Ngự (vua Nhân Tôn) khen là có pháp nhãn, liền thâu làm đệ
tử, đưa về núi cho học đạo.
Ngài
ngộ đạo rất sớm kinh điển đều tinh thông; ít lâu đã
được ngài Điều Ngự truyền giới pháp cho và đặt hiệu
là Pháp Loa. Khi ngài Điều Ngự trú ở Báo An, huyện Siêu
Loại thì lập ngài làm giảng sư. Lúc ấy Huyền Quang[6] mới
xuất gia có tới chùa nghe giảng; ngài Điều Ngự trông thấy
thâu làm đệ tử rồi giao cho ngài trông nom dạy bảo.
Năm
25 tuổi, ngài phụng mệnh làm lễ khai giảng ở chùa Siêu
Loại, có vua và đình thần đến dự lễ; ngài Điều Ngự
lên đàn thuyết pháp rồi nhường chỗ cho ngài giảng đạo.
Lễ xong, ngài Điều Ngự đặt cho ngài kế thế Trú trì ở
chùa Siêu Loại làm chủ Sơn môn Yên Tử và đem in kinh điển
hơn 200 bộ giao phó cho ngài.
Ngài
có phụng sắc truyền giới xuất gia cho Tuyên Từ Hoàng Thái
hậu và Thiên Trinh- trưởng công chúa.
Ngài
phụng chiếu định chức các Tăng đồ trong nhân dân, từ
đó Tăng chúng mới có sổ sách rõ ràng, đều do ngài quản
lãnh cả. Trong một đời ngài, đúc1.300 tượng Phật, dựng
2 Đài giảng đạo, Tháp 5 ngôi,Tăng đường 200 sở. Ngài độ
cho Tăng Ni hơn 15.000 đệ tử đắc pháp đến 3.000 người.
Ngài có soạn cuốn “Đoạn sách lục” và “Tham thiền yếu
chỉ” nay còn lưu truyền
Lúc
gần tịch, ngài đem pháp bảo của ngài Điều Ngự truyền
cho, truyền lại cho ngài Huyền Quang, rồi đọc bài kệ cho
các đệ tử rằng :
Trần
duyên rủ sạch từ xưa ,[7]
Bốn
mươi năm lẻ bây giờ là tiên.
Hỏi
chi thêm bận thêm phiền,
Trăng
thanh gió mát là miền tiêu giao.
Dặn
dò đệ tử xong đâu đó thì ngài tịch. Thọ 47 tuổi.
Ngài
là Tổ Thứ hai của phái Trúc Lâm.
Huyền
Quang Tôn sư: Ngài họ Lý, người làng Vạn Tải (thuộc tỉnh
Bắc Giang bây giờ), cha là Tuệ Tổ có công đánh Chiêm Thành
nhưng không chịu ra làm quan. Ngài hình dung kỳ dị nhưng bẩm
tánh thông minh, hai mươi tuổi đỗ Trạng Nguyên (bấy giờ
Nho học đã thịnh, nên có nhiều khoa thi tam khôi).
Trước
khi thi đỗ, mẹ ngài có định hôn cho nhưng trắc trở mãi.
Đến khi thi đỗ, thì các nhà phú quý tranh nhau gọi gả con
gái cho, vua cũng gọi gả công chúa, nhưng ngài đều từ chối.
Cảm về nhơn tình thế thái ngài có khẩu chiếm hai câu thơ
rằng :
Khó
khăn thì chẳng ai nhìn,
Đến
khi đỗ Trạng tám nghìn nhơn duyên.
Từ
đó ngài có ý chán đời mà phát tâm tu đạo, tuy được bổ
ra làm quan ở Viện Hàn Lâm và đi sứ Trung Hoa. Một hôm ngài
được đi theo vua Anh Tôn nghe Pháp Loa Tôn sư thuyết pháp,
ngài liền giác ngộ. Ngài dâng biểu xin từ chức rồi xuất
gia thọ giáo với ngài Pháp Loa. Ngài thường cùng ngài Điều
Ngự và ngài Pháp Loa đi du lịch và thuyết pháp khắp dân
gian. Ngài có phụng mệnh soạn ra sách “Chư phẩm kinh” và
“Công văn tập”.
Sau
khi được ngài Pháp Loa truyền tâm ấn, ngài Trú trì ở chùa
Vân Yên núi Yên Tử, Tăng Ni theo học dễ đến hàng nghìn.
Rồi ngài về cố hương thăm phần mộ, lập chùa, in kinh,
mở pháp hội bố thí cho kẻ nghèo làm rất nhiều việc công
đức. Năm 60 tuổi có xảy ra một việc: Vua Anh Tôn sai thị
Bích đến thử ngài. Nhưng sau khi thị Bích đã dùng phương
pháp man trá quỉ quyệt mà lừa ngài và lấy được vật tin[8]
đem về tâu man với vua là người đã cám dỗ được ngài,
khi ấy vua Anh Tôn có ý hối hận than rằng: Việc ấy nếu
có thật, thì là tự ta vô cố đặt lưới để lừa chim.
Mà nếu không, thì người không khỏi bị mang tiếng oan. Thật
là tội lớn của ta”. Vua liền truyền mở hội Vô già mời
Quốc sư về làm lễ.
Trong
khi hành lễ có hiện nhiều phép lạ điềm lành, ai nấy đều
thất kinh , tin rằng đạo hạnh ngài đã cao không đến nỗi
bị thị Bích cám dỗ. Vua liền đứng dậy tạ lỗi với ngài
và bắt thị Bích hạ ngục.
Sau
khi ngài tịch, vua ban tự hiệu là : “Trúc Lâm Đệ Tam Dại
Tự Pháp Huyền Quang Tôn Giả”
Vì
ngài chính là Tổ thứ ba Phái Trúc Lâm vậy.
Ba
vị Tổ Trúc Lâm trên đây ta có thể gọi là những bậc Giáo
hoàng về thời ấy. Vì ngoài sự tu hành đắc đạo, thuyết
pháp độ sanh, các ngài lại còn được đặc quyền cầm sổ
Tăng tịch trong nước, thống lãnh hết thảy Tăng đồ. Thật
là một cách thống nhất Phật giáo rất hay, tiếc rằng không
biết sao, sau ngài Huyền Quang thì như là không còn người
nối nghiệp nữa.
4.
Trần
Anh Tôn (1293 - 1314)
Ngài
là Thái tử nối ngôi vua Nhân Tôn, học trò Pháp Loa Tôn sư,
ngài thường đến diễn đàn nghe Tôn sư thuyết pháp, nên
hiểu được Phật pháp rất chánh đáng.
Niên
hiệu Hưng Long năm thứ bảy (1299), nhơn Thái Thượng Hoàng
(Nhân Tôn) xuất gia, vua sắc ban cấp kinh Phật cho khắp nhân
dân trong nước.
Nguyên
năm trước, sau khi đã thông hiểu với nhà Nguyên xong, Thượng
Hoàng sai sứ Trần Khắc Dụng đi sứ Trung Hoa thỉnh được
Đại Tạng kinh về để ở cung Thiên Trường để khắc, in
làm nhiều bản ban bố cho nhân gian; lại ấn hành cuốn sách
“Phật giáo Pháp sự đạo tràng công văn cách thức” ban
cho dân.
Niên
hiệu Hưng Long năm thứ 21 (1303), Thái Thượng Hoàng Nhân Tôn
ngự ở Chiêm Thành về, vua Anh Tôn thiết một đàn tràng lớn
gọi là: “Vô lượng Phật pháp” ở chùa Phổ Minh hành lễ
phát chẩn cho dân nghèo.
*
Kể
Phật giáo đời nhà Trần cũng nằm về thời kỳ rất thạnh.
Nhưng đến đời vua Trần Anh Tôn hình như đã pha lẫn đạo
giáo vô nhiều. Sự pha lẫn ấy có lẽ bắt đầu từ đời
Lý (Xem chuyện Vạn Hạnh Thiền sư đời Lý Thái Tổ, Từ
Đạo Hạnh, đời Lý Nhân Tôn), nhưng đến đây càng rõ rệt
hơn và từ đây Anh Tôn đến cuối đời Trần, qua đời Hồ
rồi đến thuộc Minh nhất là thuộc Minh - Lạc Ma Giáo lại
truyền vào làm cho sự pha lẫn ấy trở nên một hại lớn
sau này.
Trong
sử có chép : Một khi vua Anh Tôn đau nặng, Bảo Từ Hoàng
Hậu có mời các Tăng sĩ đến cúng cấp và để xem lẽ sanh
tử, nhưng Anh Tôn gạt đi mà phán: “Tăng sĩ đã chết đâu
mà biết được sự chết”, nghe Tôn sư thuyết pháp, nên
ngài hiểu đạo Phật một cách sáng suốt.
Tiếc
thay vua Anh Tôn đã thông minh, biết ngờ vực đạo Phật khi
đã bị pha lẫn các tà đạo khác, mà ngài không biết cách
ngăn ngừa để lọc lấy phần đạo Phật thuần túy.
Vẫn
biết trong sự tu hành, tinh thần chuyên nhất thì tâm quang
phát hiện, tâm thanh tịnh thì diệu dụng vô cùng. Nhưng dù
thần thông diệu dụng, người tu hành nên coi đó là một
“phương tiện”, chớ không nên nhận làm sự thật. Nếu
nhận làm sự thật mà đem dùng thường thì trở thành huyễn
thuật. Ở đời người biết thì người không biết thì nhiều;
sự sai lầm và mất giá trị tự đó.
Sự
cúng cấp phù chú ở nước ta, ngoài Đạo Giáo đạo Phật
còn bị pha lẫn vào nhiều thứ tà đạo khác có lẽ từ Trung
Hoa truyền sang.
Sử
Trung Quốc có chép: “Trước khi Hốt Tất Liệt (tức vua Thế
Tổ nhà Nguyên (1279- 1367) tức vua Mông Cổ cướp thiên hạ
của nhà Tống, thống nhất nước Trung Hoa) phụng mệnh vua
Hiến Tôn qua đánh Tây Tạng . Khi về, Hốt Tất Liệt có đem
theo một vị Tăng Lạt Ma giáo là “Phát tư Ba”. Từ đó
Lạt Ma giáo bắt đầu lưu hành ở Mông Cổ, Mãn Châu rồi
truyền bá rộng ra.
Yếu
nghĩa của Lạt Ma giáo là dùng sức “bí mật” chú, cầu
tức thân thành Phật", cũng là một bộ phận, trong Phật giáo,
nhưng chú trọng về ấn chú nhiều. Cũng vì sự quá thiên
trọng ấy, dần dần về sau người ta làm sai nhiều, đến
trở nên một phái đầy hình thức mê tín. Mà yếu điểm
sai lầm ấy có lẽ ở chỗ lòng người hay theo bướng, hiếu
kỳ và chỉ làm mà không hiểu.
Khi
Hốt Tất Liệt lên ngôi vua, liền lấy Lạt Ma giáo làm Quốc
giáo, tôn Phát Tư Ba làm Quốc sư, Giám đốc Phật giáo trong
thiên hạ. Phát Tư Ba tiếng tăm lừng lẫy đến nỗi Hốt
Tất Liệt phải ban hiệu là : Hoàng Thiên Chi Hạ, Nhân Nhơn
Chi Thượng, Tuyên Văn Phụ Chánh, Đại Thánh Chí Đức, Phổ
Giác Chân Tri, Hựu Quốc Như Y, Đại Bảo Pháp Vương, Tây
Phương Phật Tử, Đại Nguyên Đế Sư.
(Bấy
giờ Phật giáo ở Trung Hoa rất đồi bại, mà Lạc Ma giáo
truyền vào ít lâu, dân gian đua nhau mê tín thành ra lại càng
tệ hại hơn)[9]
Thời
ấy ngang với nước ta là đời vua Trần Thánh Tôn, Trần Nhân
Tôn.
Một
đạo giáo đã ảnh hưởng rộng ở Trung Hoa như vậy, rồi
Trung Hoa với ta khi hòa khi chiến khỏi sao ngăn lấp được
sự truyền bá sang dân ta. Ngoài Lạt Ma giáo lại còn những
thổ giáo của Tây Tạng đồng thời truyền vào Trung Quốc,
lọc một lần nữa, thành ra những đạo giáo mạt lưu rồi
lại sang ta, dân ta rước lấy. Ấy thế là đạo Phật đến
ngày bất hạnh.
Trong
lịch sử Phật giáo Việt Nam có thể gọi thời này “Thời
đại Phật giáo lạc đạo gốc”.
Trong
sách Quốc Triều Chính biên lại có chép: “Niên hiệu Hưng
Long thứ 19 (1311), vua Anh Tôn nạp người con gái của vị Tăng
lạ tên là Dụ Chi Ba Lam vào cung. Vị Tăng lạ ấy trước
thường qua lại ở triều vua Nhân Tôn, có phép tịch cốc
và đi trên mặt nước, qua ở nước ta vài năm rồi về xứ.
Năm ấy lại qua với người con gái được nạp vào cung thì
vị Tăng ấy ở lại và mất ở trong thành.
Có
lẽ đó là một người xứ Tây Tạng, một nước thổ sản
của các phù chú giáo (tantrisme). Vậy hai năm vị Tăng sĩ ở
triều vua Nhân Tôn, rồi triều vua Anh Tôn lại ở hẳn, trong
thời gian ấy tránh sao được sự truyền bá Đạo Giáo. Tóm
lại, Phật giáo ở Việt Nam về cuối đời Trần, Tăng chúng
đã công nhiên mời các giáo chủ của các tà giáo và các
tạp phần vào ngồi chung với Phật Thích-ca trong các chùa.
Đạo Phật cứ lui dần để nhường chỗ cho đạo giáo, như
vậy thì sao tránh khỏi sự hiểu lầm để Trương Hán Siêu,
Nguyễn Trung Ngạn ở đời sau này ra mặt bài kích Phật giáo?
Nối
vua Anh Tôn là Minh Tôn[10] từ đời Minh luôn trở đi, nhà Trần
đã bắt đầu suy, nhân dân đã lại bị giặc ngoài đánh
cướp mà trong nhà vua thì lục đục, các quan triều đã chia
bè đảng, trong họ hãm hại nhau.
Rồi
đến Hiếu Tôn, Dụ Tôn, Nghệ Tôn, đời nào cũng không yên,
quân thần thì gian nịnh, vua thì nhu nhược lại cứ hay bắt
chước ông cha nhường ngôi cho con - nhường người con trên
dưới 10 tuổi - để lên làm Thái Thượng Hoàng.
Vận
nước đã suy như vậy, nên các nước ngoài dòm dõ. Hết Ai
Lao đến Chiêm Thành, rồi lại nhà Minh nhất thống nước
Trung Hoa cũng sang hạch sách. Trong nhà vua và ngoài triều đình
đến dân gian thật là lung tung rối beng.
Đến
đây trong nước Nho học đã độc tôn rồi, các Tăng sĩ lại
làm lạc mất đạo gốc, nên Phật giáo hầu như vô nghĩa
và trở nên một tôn giáo mê tín. Các nhà thuần nho đứng
lên bài xích. Bởi thế năm Đại Khánh thứ tám đời vua Trần
Hiến Tôn (1321), triều đình sắc mở một kỳ khảo hạch
Tăng sĩ trong nước, hỏi về nghĩa lý kinh Kim Cương. Đủ
biết những lối tu hành của Tăng sĩ bấy giờ cẩu thả và
đáng ngờ lắm nên mới có cuộc thi lạ lùng ấy.
Lạ
nhất là đến năm Xương Phù thứ 5 đời vua Phế Đế (1381)
triều đình sắc Đại Nam Thiền sư thống suất Tăng chúng
trong nước đi đánh giặc Chiêm.
Thật
ra thì đời ấy dân nước cũng quá hèn yếu mà Tăng đồ
thì trở nên một bọn vô ích, gai mắt các phái Nho học rồi,
nên họ cử đi vậy.
Đến
đời Trần Thuận Tôn năm thứ 9 (1396), lai mở một kỳ sát
hạch Tăng chúng, người nào dự tuyển được là in các chức
Tri cung (coi việc các cung), Tri quán (coi việc các đền) Tri
tự (coi việc các chùa).
Ấy
lại là một chứng để nhận thấy các Tăng sĩ vô ích và
thất thế đến nỗi phải đi thi để giữ chức coi việc
các cung vua và các đền miếu. Một hiện tượng suy đồi
đã rõ rệt ?
Trong
triều lại đến nạn Lê Quí Ly mưu việc tiếm ngôi. Sử chép:
“Quí Ly lập mưu cho người đạo sĩ vào cung, xui vua Thuận
Tôn nhường ngôi cho con mới có ba tuổi tức Trần Thiếu Đế”
Thế
là Quý Ly tiếm được ngôi vua và lập ra nhà Hồ
*
[1]
Ở huyện Yên Hưng tỉnh Quảng Ninh bây giờ.
[2]
Một vị chân tu có tiểu sử ở dưới, tức đệ tử của
Tiêu Giao (học trò Ứng Vương phái Vô Ngôn Thông).
[3]
Chỗ trú cuối cùng của Nhân Tôn, ở đây ngài tự xưng Trúc
Lâm cư sĩ và lập ra phái Trúc Lâm
[4]
Chú thích của lần tái bản năm 2004 : Theo tài liệu mới xác
thực thì Tuệ Trung Thượng Sĩ tên thật là Trần Quốc Tung
(1230-1291), con trưởng của An Sinh Vương Trần Liễu, anh của
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1232-1300) không phải là
Trần Quốc Tảng (1252-1313), lại càng không phải là Trần
Quốc Toản (1257-1285).
[5]
Đệ tử của của Ứng Vương. cuối phái Vô Ngôn Thông (xem
bản đồ phải Vô Ngôn Thông và bản đồ phái Trúc Lâm Yên
Tử).
[6]
Đệ tam Tổ Trúc Lâm. Bản đồ B.
[7]
Lúc này đã có ông Hàn Huyên xướng thuyết làm thơ nôm.
[8]
Nguyên gần lúc đó, vua có ban cho ngài một nén vàng.
Đến khi vua và quan muốn thử ngài có phải là người đã
hết ái dục chưa, bèn sai thị Bích đến chùa xin ở tu, thấy
ngài giới hạnh tinh nghiêm, không thể dỡ thói phong tình ấy
được, người bèn nghĩ ra một kế, khóc lóc bảo với các
Tăng Ni mình vốn là con nhà thế phiệt, cha làm tri huyện,
thâu thuế đem nạp Bộ, không may giữa đường bị cướp.
Bộ Hộ thương tình cho khất đến cuối năm, nếu không nạp
đủ sẽ phải trọng tội. Vì thế thị phải thu góp tư trang
và xin khắp thập phương các nhà từ thiện giúp đỡ. Khi
ngài nghe Tăng Ni bạch lại nỗi khổ tâm của thị, ngài muốn
về triều để xin tha tội, nhưng có vị Tăng can rằng : pháp
luật triều đình là việc công, Tôn sư không nên làm như
vậy ... Khi ấy ngài liền đem vàng cho thị Bích.
[9]
Trung Quốc Phật giáo tiểu sử
[10]
Xem bản đồ E.