Chương
tư
PHẬT
GIÁO ĐỜI NHÀ LÝ (l010 - 1225)
1.
Lý
Thái Tổ (l010 - l088)
Ngài
tên húy là Công Uẩn, con nuôi một vị sư chùa Cổ Pháp là
Lý Khánh Văn, sau thọ giáo với ngài Vạn Hạnh. Lớn lên ngài
theo ngài Vạn Hạnh vào Hoa Lư làm quan với nhà Lê đến chức
Tả Thân Vệ Điện Tiền chỉ huy sứ. Khi Lê Ngọa Triều mất
thì ngài đã 35 tuổi. Bấy giờ lòng người đã oán giận
nhà Tiền - Lê lắm, nên ở trong triều có bọn ông Đào Cam
Nuộc, cùng với Tăng Thống Vạn Hạnh mưu tôn ngài lên làm
vua. Ngài lên ngôi Hoàng Đế tức là vua Thái Tổ , nhà Lý,
đóng đô ở thành Thăng Long (Hà Nội), lấy niên hiệu Thuận
Thiên.
Thái
Tổ vốn ở trong phái Phật học mà ra nên khi ở ngôi vua,
ngài hết sức sùng trọng Phật giáo. Ngay khi mới lên ngôi
đã sắc ban phẩm phục cho các hàng Tăng sĩ.
Năm
Thuận Thiên nguyên niên (l010), Thái Tổ sắc làm nhiều chùa
ở phủ Thiên Đức, lấy tiền kho hai vạn quan để dựng 8
ngôi: trong thành Thăng Long dựng chùa Hưng Thiên Ngự, gần
điện Thái Thanh dựng chùa Vạn Tuế, ngoài thành lại dựng
những chùa Thắng Nghiêm, Thiên Vương, Cẩm Y, Long Hưng, Thánh
Thọ, Thiên Quang và Thiên Đức. Triều đình lại sắc đi khắp
các làng hễ chùa nào đổ nát thì phải tu bổ lại.
Sang
năm thứ 9 (l019) Thái Tổ sai sứ là Phạm Hạo và Nguyễn Đạo
Thanh sang Trung Hoa thỉnh kinh. Khi được vua Tống ban cho, ngài
lại sắc một vị Thiền sư là Phi Trí đi sang tận Quảng
Tây đón về và để vào kho sách Đại Hưng. Đó là lần thứ
hai nước ta có sứ đi cầu kinh.
Năm
sau (l020), ngài sắc lập Đạo đường và phái Tăng sĩ đi
diễn giảng Phật đạo khắp trong nước. Lại sắc đúc mấy
quả chuông để treo ở các chùa Hưng Thiên, Đại Giáo, Thắng
Nghiêm.
Năm
Thuận Thiên thứ 15 (l024) tháng chín, ngài lập chùa Chân Giáo
ở trong thành và sắc các Tăng sĩ, Pháp sư đến đó tụng
kinh và giảng đạo để ngài thường đến nghe.
Về
đời Lý Thái Tổ, trong nước đã cường thịnh, các nước
ngoài như Chiêm Thành, Chân Lạp đều chịu triều cống, bên
Trung Hoa nhà Tống cũng giao hiếu không sanh sự, dân tình được
an lạc, vua và triều đình lại hết tâm ủng hộ, nên Phật
giáo ở nước ta hồi ấy có thể gọi là hồi thạnh nhất
từ trước đến sau. Bấy giờ Hán học tuy đã phổ thông
khắp dân chúng, nhưng Nho giáo hình như chỉ là phần phụ
ít ai để ý đến, vì chưa có khoa cử, nên Phật giáo vẫn
đứng địa vị độc tôn. Bởi thế, văn hóa và học thuật
trong nước vẫn là ở trong phái Phật học cả.
Những
vị Thiền sư có danh tiếng thời bấy giờ như Vạn Hạnh
Thiền sư, Đa Bảo Thiền sư, Sùng Phạm Thiền sư đều ở
hai phái Tì Ni và Vô Ngôn mà ra cả
Vạn
Hạnh Thiền sư : Người làng Cổ Pháp (nay là làng Đình Bản,
phủ Từ Sơn, Bắc Ninh) họ Nguyễn, không rõ tên tục là gì.
Nhà ngài đời đời thờ Phật, từ thuở nhỏ ngài đã thông
minh khác chúng, học khắp tam giáo và khảo cứu nhiều kinh
luận nhà Phật. Năm 20 tuổi, ngài xuất gia cùng với Định
Huệ Thiền sư, theo học với ngài Thiền ông Đạo-gia, tức
là đời pháp thứ hai của phái Tì Ni Đa Lưu Chi. Sau Thiền
ông tịch rồi, ngài chuyên tập pháp “Tổng trì Tam-ma-địa”,
mỗi khi nói câu gì lạ thường, người đời đều cho ông
là câu sấm. Thời vua Lê Đại Hành còn tại thế, thường
mời ngài đến hỏi về việc quân.
Niên
hiệu Thiên Phúc năm thứ nhất (980), nước Trung Hoa sai Hậu
Nhân Bửu đem quân qua đánh nước ta, khi đã đóng núi Cương
Giáp Lãng (?), vua Đại Hành mời Thiền sư đến hỏi quân
ta thắng bại thế nào ? Ngài tâu: Chỉ trong ba, bảy ngày thì
giặc tất lui. Sau quả nhiên như vậy. Ngài rất giỏi về
sấm ngữ và độn số, vua Đại Hành rất đem lòng tôn kính
thán phục.
Năm
Thuận Thiên thứ 9 (l018), ngài không đau ốm gì mà tịch. Vua
Lý Thái Tổ và các đệ tử rước ngài lên hỏa đàn rồi
thâu hài cốt xây tháp để thờ.
Ngài
có bài kệ trước khi tịch rằng :
Thân
như điện ảnh hữu hoàn vô,
Vạn
mộc xuân vinh thu hựu khô,
Nhậm
vận thạnh suy vô bố úy,
Thạnh
suy như lộ thảo đầu phô.
Dịch
:
Thân
như bóng chớp chiều tà,
Cỏ
xuân tươi tốt, thu qua rụng rời.
Sá
chi suy thạnh việc đời,
Thạnh
suy như hạt sương rơi đầu cành.
Sau
vua Lý Nhân Tôn (l072 - 1 127) cũng có bài truy tán ngài rằng:
Vạn
Hạnh dung tam tế,
Nhơn
phù cổ sấm cơ (ky).
Hương
quan danh Cổ Pháp
Trụ
tích trấn vương kỳ .
Dịch
:
Thiền
sư học rộng bao la,
Giữ
mình hợp phép sấm ra ngoài lời.
Quê
hương Cổ Pháp danh ngời,
Tháp
bia đứng vững muôn đời Đế Đô.
Đa
Bảo Thiền sư : Không rõ ngài quê quán ở đâu, Trú trì chùa
Kiến Sơ ở làng Phù Đổng. Ngài là đệ tử của Khuông Việt
Thái sư (phái Vô Ngôn Thông). Lý Thái Tổ nghe danh thường
mời ngài vào triều hỏi đạo và bàn luận việc nước và
việc ngoại giao Thái Tổ có sắc trùng tu chùa Kiến Sơ cho
ngài ở sau không rõ ngài tịch ở đâu và bao giờ, vì ngài
thường thường vân du đi khắp xứ để thuyết pháp truyền
đạo.
Đệ
tử được truyền tâm pháp của ngài là Định Hương Trưởng
lão.
2.
Lý
Thái Tôn (l028 - l054).
Thái
tử Phật Mã nối ngôi Thái Tổ, tức là Lý Thái Tôn,
lấy niên hiệu Thiên Thành. Ngài cũng là người sùng đạo
Phật, thường thường họp các bô lão, Tăng sĩ ở các chùa
để bàn luận về đạo Phật.
Năm
Thiên Thành thứ tư (l031) tháng tám, sau khi dẹp giặc Chiêm
ở Hoan Châu (Nghệ An bây giờ) về, Thái Tôn sắc lập 95 ngôi
chùa. Khi chùa là in xong, triều đình mở quốc hội để khánh
thành và miễn thuế cho nhân dân một năm.
Năm
1034, Thái Tôn đổi niên hiệu là Thông Thụy. Tháng 8 năm ấy
nhà Tống ban Đại Tạng kinh và sai sứ rước sang cho ta, Thái
Tôn sai triều quan đi đón rất long trọng.
Trong
năm ấy có 2 vị Thiền sư là Nghiêm Bảo Tánh và Phạm Minh
Tâm ngộ đạo tự thiêu mình, Thái Tôn cho rước tro ấy vào
thờ ở chùa Trường Thánh.
Đến
năm Thông Thụy thứ ba (l036), Thái Tôn sắc sơn thếp lại
các tượng Phật ở các chùa. Khi hoàn thành triều đình mở
quốc hội khánh thành và miễn thuế cho dân một năm.
Lại
vào khoảng niên hiệu Thông Thụy (l034-1038), vua thường đến
hỏi đạo nơi ngài Thuyền Lão Thiền sư và xưng làm đệ
tử. Sau vua được ngài truyền tâm pháp, tức là người thứ
bảy trong đời, truyền thống thứ bảy của phái Vô Ngôn
Thông vậy[1]
Triều
đời Lý, ngài thật là một ông vua sùng đạo bậc nhất.
Ngoài những lúc lo việc chính trị, ngài lại lo học pháp
Thiền định của phái Thiền Tôn. Ngài tu tại gia, thọ giáo
với ngài Thuyền Lão; ngài lại thường đàm đạo với các
Thiền sư nổi tiếng bấy giờ như Cứu Chỉ Thiền sư, Bảo
Tánh Thiền sư, Minh Tâm Thiền sư, v.v... Các Thiền sư này
cũng là những bậc Đại đức của phái Vô Ngôn, mỗi ngài
đều có đệ tử rất đông.
Qua
niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo năm đầu (1049), Thái Tôn sắc
dựng chùa Diên Hựu. Nguyên năm trước ngài nằm mơ thấy
đức Phật Quan Âm dẫn ngài vào Liên Hoa điện. Tỉnh dậy,
ngài ban hỏi đình thần thì một vị Tăng Thống xin lập chùa.
Vua nghe lời, sắc dựng một cục đá, ở trên xây điện Liên
Hoa (hình hoa sen nổi trên mặt nước) thờ Phật Quan Âm và
hội các Tăng sĩ lại tụng kinh cầu trường thọ (chùa ấy
hiện còn ở gần Hà Nội, người ta thường gọi là “Chùa
Một Cột”).
Những
Thiền sư có danh hồi ấy như Huệ Sinh Thiền sư, Định Hương
Trưởng lão Thiền sư (phái Tì Ni), Cứu Chỉ Thiền sư v.v
. . .
Huệ
Sinh Thiền sư : Họ Lâm, tên tục là Khu, quê ở Đông Phù
Liệt nguyên là con cháu Lâm Phú ở Trà Sơn (huyện Thanh Trì,
Hà Đông bây giờ). Thuở nhỏ tướng mạo khôi ngô, nói năng
rất lưu loát, nổi tiếng văn hay chữ tốt. Những khi học
Nho còn thừa thì giờ ngài lại nghiên cứu kinh Phật. Mỗi
khi nói đến chỗ cốt yếu của Phật pháp, ngài thường than
thở và rơi nước mắt. Gần 70 tuổi, ngài theo Định Huệ
Thiền sư, từ đó đạo học càng ngày càng tiến. Khi được
sư phụ truyền tâm pháp cho, ngài mới đi hành hóa khắp chốn
tòng lâm, rồi lên ở núi Bồ-đề. Mỗi lần ngài ngồi nhập
định tu pháp ít nhất cũng phải năm bảy ngày. Người đời
bây giờ thường gọi ngài là ông ‘Phật xác thịt”.
Vua
Lý Thái Tôn nghe tiếng ngài có sai sứ đến mời. Ngài bảo
sứ giả rằng: ông không thấy con sanh trong lễ tế ư ? Khi
chưa tế thì người ta cho nó ăn cỏ thơm, mặc áo gấm, đến
khi giắt vào Thái miếu thì nó chỉ muốn cầu chút sống sót,
còn nói đến việc gì ? Nói rồi ngài từ chối không chịu
đi. Sau vì nhà vua cố ép, bất đắc dĩ ngài phải tới cửa
khuyết.
Sau
khi đàm đạo về Phật pháp, vua rất lấy làm kính phục,
mới phong cho ngài làm chức Nội Cung Phụng Tăng và sắc truyền
ở chùa Vạn Tuế gần thành
Thăng
Long. Một hôm trong Đại hội có thiết tiệc chay đãi các
Tăng sĩ, vua ban :
“Đối
với tâm nguyện của Phật, các học giả thường cãi lộn
nhau, Trẫm muốn các bậc thượng đức ở đây, bày tỏ chỗ
sở đắc, để Trẫm xem học vấn của các ngài đến bậc
nào”.
Ngài
liền ứng khẩu đọc bài kệ rằng :
Pháp
bổn như vô pháp,
Phi
hữu duyệt phi không.
Nhược
nhân tri thử pháp,
Chúng
sinh dự Phật đồng.
Tịch
tịch Lăng già nguyệt,
Không
không độ hải châu.
Tri
không không giác hữu,
Tam-muội
nhậm thông châu.
Dịch
:
Pháp
vốn như không pháp,
Chẳng
có cũng chẳng không.
Nếu
hiểu được pháp ấy,
Chúng
sinh, Phật vẫn đồng.
Trăng
Lăng-già phẳng lặng,
Thuyền
Bát-nhã chơn không.
Biết
không rồi biết có,
Tam-muội
mặc dung thông.
Vua
rất lấy làm mến phục.
Thời
ấy các Vương công trong triều và các sĩ thứ nhiều người
đến hỏi đạo lý và đều kính ngài là bậc thầy. Sang đời
Thánh Tôn, ngài lại được phong làm Tả Nhai Tăng Đô Thống.
Đến năm Gia Khánh thứ 5 (l063) ngài mất. Ngài có soạn ra
mấy cuốn Pháp sư trai nghi, Đạo tràng khánh tản văn, nhưng
đều thất truyền.
Định
Hương Trưởng Lão : Họ Lữ quê ở Chu Minh, đệ tử của
ngài Đa Bảo Thiền sư (phái Vô Ngôn), thọ giới với sư phụ
đã hơn 24 năm.
Môn
đệ của Đa Bảo Thiền sư có hơn vài trăm người, ngài cùng
Bảo
Hòa Thiền sư đứng vào bậc nhất.
Một
hôm ngài hỏi Đa Bảo Thiền sư rằng :
- Thế
nào là tìm thấy chân tâm của mình ?
- Thì
người cứ tìm đi.
Ngài
nghe thầy nói thế, trong lòng bâng khuâng, một hồi lâu nói
:
- Hết
thảy mọi người cũng đều thế cả, phải gì một đệ tử
này.
- Thế
người đã hiểu chưa ?
- Khi
đệ tử hiểu rồi thì lại cũng như khi chưa hiểu.
- Ngươi
nên giữ gìn lấy cái tâm ấy.
Nghe
thầy dạy thế, ngài liền chấp tay và xây mình lại Đa Bảo
liền quát to lên rằng :
- Đi
đi !
Ngài
vội sụp xuống lạy. Đa Bảo Thiền sư dạy :
- Từ
nay người tiếp người nên coi mình như người mắt mờ tai
điếc vậy.
Thời
ấy ở Kinh đô có quan Thành Hoàng sứ là Nguyễn Tuân, rất
kính mến đạo đức của ngài mời ngài về trú ở chùa Cảm
ứng, học trò đến học rất đông, ngài giáo hóa được
nhiều người đắc đạo. Niên hiệu Sùng Hưng Dại Bảo thứ
ba (l051) ngài tịch.
Thuyền
Lão Thiền sư : Trú trì ở chùa Trùng Minh huyện Tiên Du, đệ
tử của Đa Bảo Thiền sư. Khi học đã đắc đạo rồi mới
về ở ngôi chùa vùng Từ Sơn, danh tiếng lẫy lừng, học
trò kể hơn nghìn người. Chỗ ở của Thiền sư thành ra một
nơi tùng lâm đô hội.
Trong
khoảng niên hiệu Thông Thụy (l034 - l038), vua Lý Thái Tôn nhơn
một hôm đến thăm và hỏi rằng :
- Hòa
thượng trú ở chùa này bao lâu ?
Thiền
sư liền đọc hai câu thơ rằng :
Đản
tri kim nhật nguyệt,
Thùy
thức cựu xuân thu.
Dịch
:
Sống
ngày nay biết ngày nay,
Còn
xuân thu trước ai hay làm gì.
- Ngày
thường Hòa thượng làm việc gì ?
Ngài
lại đọc :
Túy
trúc huỳnh hoa phi ngoại cảnh,
Bạch
vân minh nguyệt lộ toàn chân.
Dịch
:
Trúc
biếc hoa vàng đâu cảnh khác
Trăng
trong mây bạc hiện toàn chân.
Sau
khi về cung, vua định cho sứ đến rước ngài lo triều để
cố vấn. Đoạn sứ giả đến nơi thì ngài đã tịch rồi.
3.
Lý Thánh Tôn (l054 - l072)
Thái
tử Nhật Tôn nối ngôi Thái Tôn hiệu là Thánh Tôn, đổi
quốc hiệu là Đại Việt[2] niên hiệu là Long Thụy Thái Bình
(l054). Ngài là một ông vua sùng đạo Phật và nhân từ nhất.
Những mùa lạnh ở trong cung, ngài thường nghĩ thương đến
tù phạm và những kẻ nghèo. Một năm, trời rét lắm, Thánh
Tôn bảo những quan hầu cận rằng :
"Trẫm
ở trong cung ăn mặc như thế này mà còn rét, nghĩ những tù
phạm phải giam trong ngục, phải trói buộc, cơm không có mà
ăn, áo không có mà mặc, vả lại có người xét hỏi chưa
xong, gian ngay chưa rõ, lỡ rét quá mà chết thì thật là thương
lắm ".
Nói
rồi ngài truyền lấy chăn chiếu cho tù nằm và mỗi ngày
cho ăn hai bữa đầy đủ. Lại một hôm, Thánh Tôn ra ngự
ở điện Thiên Khánh xét án, có Động Thiên Công chúa đứng
hầu bên cạnh, ngài chỉ Công chúa mà bảo các quan rằng :
“Lòng
Trẫm yêu dân như yêu con Trẫm vậy; Trẫm vì trăm họ ngu
dại làm càn phải tội, Trẫm lấy làm thương lắm; vậy
từ rày về sau, tội gì cũng giảm nhẹ bớt đi” [3]
Ngài
có lòng từ bi bác ái như vậy; cũng là do ngài sùng mộ Phật
giáo và trong triều lại có nhiều vị Thiền sư hầu cận
làm ngự sử cho ngài.
Năm
Long Thụy Thái Bình thứ 5 (l056), Thánh Tôn sắc dựng Sùng
Khánh ở phường Báo Thiên, có xây một ngọn tháp 12 tầng,
cao 20 thượng và đúc một quả chuông hết 12 ngàn cân đồng
(phường ấy ở xã Tiên Thị, huyện Thọ Xương, tức Hà Nội
bây giờ hiện còn di tích).
*
PHÁI
THẢO ĐƯỜNG
Năm
Kỷ Dậu (l069), vua Lý Thánh Tôn đi đánh Chiêm Thành về, có
bắt được vua nước ấy là Chế Cũ và nhiều dân lính làm
tù binh. Các tù binh ấy vua Thánh Tôn ban cho các quan triều
làm quân hầu Trong số các quan triều ấy có một vị Tăng
Lục.
Một
hôm vị Tăng Lục ấy đi vắng về, bỗng thấy bản “Ngữ
lục” của mình bị một tù binh sửa chữa lại cả. Ngài
thất kinh đem việc ấy tâu vua, vua liền cho đòi tên tù binh
ấy hỏi, thì y ứng đối rất thông, luận về những kinh
điển nhà Phật rất là xác đáng. Hỏi ra thì đó một vị
Thiền sư người Trung Hoa theo thầy qua Chiêm Thành, chẳng may
bị bắt làm tù binh. Vị Thiền sư ấy chính tự hiệu là
Thảo Đường, đệ tử của ngài Tuyết Đậu Minh Giáo bên
Trung Hoa.
(Theo
sách Tục Truyền Đăng Lục thì Tuyết Đậu là đạo hiệu
của một vị Thiền sư tu ở núi Tuyết Đậu thuộc hạt Minh
Châu nước Trung Hoa, chính hiệu là Trùng Hiển, tự là Ẩn
Chi; vì tu ở núi Tuyết Đậu nên người ta kêu là Tuyết Đậu
Thiền sư).
Khi
biết rõ tung tích của Thảo Đường Thiền sư, vua Thánh Tôn
liền sắc phong ngài chức Quốc sư, cho khai giảng ở chùa
Khai Quốc trong thành Thăng Long. Đệ tử đến theo học rất
đông. Ngài biệt lập ra một phái, sau người ta gọi là phái
Thảo Đường, tức là phái Thiền tôn thứ 3 ở ta vậy.
Lý
Thánh Tôn cũng thọ giáo với ngài. Sau Thánh Tôn đắc đạo
được ngài truyền tâm pháp và là đệ tử đầu tiên của
phái Thảo Đường. Sau phái Thảo Đường truyền xuống được
5 đời, đắc đạo cộng được 19 người[4]
Thế
là trong đời vua Lý Thánh Tôn, Phật giáo ở nước ta lại
thêm một phái.
Năm
Thiên Huấn Bảo Tượng thứ 2 (l069), Thánh Tôn có sắc dựng
Văn miếu, đúc tượng Chu Công, Khổng Tử cùng tượng Tứ
Phối và Võ tượng 72 vị Tiền hiền để thờ, nhưng sự
chuộng Nho giáo ấy cũng không có ảnh hường gì đến sự
truyền bá và thế lực của Phật giáo. Sự thật là tuy Thánh
Tôn có bắt Hoàng tử Văn miếu mà học và có ý khai hóa việc
văn mà ngài vẫn đắc đạo thành một đạo sĩ của phái
Thiền tôn.
4.
Lý
Nhân Tôn (1072 - 1127)
Thái
tử Càng Đức con bà Ỷ Lan Thái Phi, nối ngôi Thánh Tôn lấy
đế hiệu là Lý Nhân Tôn. Nhân Tôn lên ngôi vua thì hãy còn
nhỏ tuổi, nhưng được Thái sư Lý Đạo Thành và các quan
triều hết lòng lo việc nước, nên sau ngài cũng thành một
vị vua thông minh và anh dũng. Trong đời này vua Nhân Tôn có
mở khoa thi tam trường, lập trường Quốc tử giám và lập
tòa Hàn Lâm, khuyến khích việc Nho học, nhưng ngài vẫn không
xao nhãng về vấn đề Phật giáo.
Năm
Quảng Hựu thứ ba (l087), Nhân Tôn ngự giá đi lễ Phật nghe
kinh ở chùa Lãm Sơn (ở huyện Quế Dương, Bắc Ninh bây giờ)
rồi thiết triều yến ở chùa, và ngài có ngự bút bài thơ
nhan đề là “Lâm sơn dạ yến”. Ngài có đặt một vị
quan triều cao cấp trông nom hết thảy các chùa trong nước.
Năm
Quảng Hựu thứ tư (l088), Nhân Tôn phong Khê Đầu Thiền sư
là chức Đại sư để cố vấn việc quốc chính như Khuông
Việt Thái sư đời Đinh Tiên Hoàng đế và Lê Đại Hành Hoàng
đế vậy.
Năm
Long Phù thứ năm (ll05), vua sắc sửa chùa Diên Hựu, trước
mặt chùa xây một ngọn tháp cao và đào một cái hồ thả
sen. Thường những ngày rằm, mồng một vua ngự giá đến
chùa, Hoàng hậu cũng xuất của riêng ra lập hơn một trăm
ngôi chùa.
Năm
Hội Tường Đại Khánh thứ 9 (I 1 18), nước Chân Lạp và
nước Chiêm Thành sai sứ đến cống hiến phương vật. Vua
mở một kỳ hội lễ Phật rất lớn, gọi là “Thiên Phật
hội” (Hội nghìn đức Phật).
Đời
Lý Nhân Tôn lại có nhiều bậc Thiền sư lỗi lạc trước
thuật những sách vở làm vẻ vang cho lịch sử Phật giáo
nước nhà; hiện nay vẫn còn mà hồi ấy người Trung Hoa cũng
phải bái phục, như :
Viên
Chiếu Thiền sư : Ngài họ Mai, húy là Trực, quê ở huyện
Long Đàm, con anh bà Linh Cảm Thái Hậu (vợ vua Thái Tôn).
Ngài
thông minh từ thuở nhỏ. Có vị Trưởng lão ở chùa Mật
Nghiêm có tài xem tướng, đoán cho ngài : Nếu đi tu thì có
thể trở nên một vị “Thiện Bồ-tát”.
Cảm
lời nói ấy, ngài liền từ giã cha mẹ, vào chùa Tiêu Sơn
xin làm đệ tử ngài Định Hương Thiền sư, để nghiên cứu
Thiền học. Ngài rất am hiểu pháp “Tam Quán” trong kinh Viên
Giác, tu đến đắc đạo và được sư phụ truyền tâm ấn.
Sau
ngài về Thăng Long, dựng một ngôi chùa ở mé tả kinh thành
mà Trú trì ở đó . Người bốn phương nghe tiếng tìm đến
theo học rất đông.
Ngài
có soạn quyển “Dược sư thập nhị nguyện văn”, trong
ấy bàn giải về 12 điều đại nguyện trong kinh Dược Sư.
Vua Lý Nhân Tôn có đưa bản sách ấy cho, sứ thần sang Trung
Hoa dâng vua Triết Tôn nhà Tống. Vua Tống giao sách ấy cho
các vị sư Thượng tọa chùa Tướng Quốc xem và có chỗ nào
đáng sửa thì sửa lại. Các Đại sư Trung Hoa xem rồi đều
tâu vua Tống rằng: “Đây là đấng hóa thân Đại sĩ ra đời
ở phương Nam, giảng giải kinh nghĩa rất tinh vi, bọn phàm
Tăng chúng tôi đâu dám thêm bớt một chữ nào nữa”.
Vua
Tống liền sắc cho sao lại một bản, còn bản chính thì trả
lại cho vua ta và có lời khen tặng.
Ngoài
ra ngài còn soạn những sách :
1.
Tán Viên Giác kinh
2.
Thập Nhị Bồ-tát hạnh tu chứng đạo tràng.
3.
Tham đồ biểu quyết.
Đó
là những sách giá trị đầu tiên trong những sách luận giải
về kinh điển nhà Phật của nước ta.
Ngài
tịch vào năm Quảng Hựu thứ 6 (l090), thọ 92 tuổi
Ngộ
Ấn Thiền sư : Ngài họ Đàm, húy là Khí Qui,ở làng Kim Bài
(thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông), Trú trì ở chùa Long
Ân.
Lúc
nhỏ ngài thọ giáo với một vị sư già Chiêm Thành. Năm 19
tuổi thì ngài phát chí xuất gia và thọ Cụ túc giới. Ngài
thông hiểu cả hai thứ chữ : Hán và Phạn; thường vân du
khắp mọi nơi để hành hóa, học trò theo rất đông.
Trong
những khi giảng dạy, ngài thường chủ trương thuyết “Tam
ban”. Tức là lấy thân làm Phật, lấy miệng làm pháp, lấy
tâm làm thuyền. Ngài lại giải rằng : "Tuy chia làm ba mà kỳ
thực chỉ có một. Ví dụ như nước ở ba ngọn sông, mỗi
xứ gọi mỗi tên, tên tuy khác mà chất nước không khác."
Ngài
tịch vào năm thứ tư niên hiệu Quảng Hựu (l088), thọ 69
tuổi.
*
Xét
ra thời này hình như Phật giáo có pha lẫn Đạo giáo vào
nên các Thiền sư danh tiếng nào cũng giỏi về nghề phù chú
độn số. Như tiểu truyện của Vạn Hạnh Thiền sư nói trên,
ngoài ra sách lại còn chép mấy chuyện về độn số và lời
sấm của ngài.
Cũng
trong thời này có một vị Thiền sư tên là Đạo Hạnh, họ
Từ, tên húy là Lộ. Cha là Từ Vinh, làm đến chức Tăng quan
đô án, mẹ là Đặng thị. Ông Vinh có dùng tà thuật làm
mích lòng Duyên Thành Hầu. Hầu giận, liền nhờ Đại Điên
Pháp sư dùng phép thuật đánh chết ông Vinh vất thây xuống
sông Tô Lịch, trôi đến Quyết Kiều bên nhà Duyên Thành Hầu.
Đến đây thây ông Vinh bỗng đứng dậy như người sống
và chỉ tay vào nhà Hầu suốt một ngày.
Hầu
sợ hãi liền đi tìm Đại Điên Pháp sư. Pháp sư liền đọc
câu kệ rằng :
“Tăng
hận bất cách túc” (Thầy tu có giận gì cũng không để
qua đêm khác), tự nhiên cái thây ngã xuống mà trôi đi.
Ngài
Từ Lộ giận lắm, muốn báo thù cho cha mà không biết làm
thế nào, vì pháp thuật của ngài còn kém; ngài liền vào
ẩn trong Từ Sơn, lấy Đạo hiệu là Đạo Hạnh; ngày thường
chuyên trì thần chú Đại bi và các pháp thuật khác. Một
ngày kia thấy pháp thuật mình đã tinh thông, ngài liền trở
về báo thù cho cha; ngài ném cái gậy xuống sông Tô Lịch,
gậy bơi ngược giòng sông lên qua nhà Duyên Thành Hầu thì
đứng lại chỉ vào nhà. Hầu lại báo tin cho Đại Điên Pháp
sư ra xem thì bị gậy ấy đánh chết ngay. Duyên Thành Hầu
sợ hãi liền mời Tổ Giác Hoàng Đại Pháp sư, hai bên thường
đấu phép nhiều lần. Sau Đạo Hạnh Thiền sư phải thua về
ẩn ở Sài Sơn (Sơn Tây). Nhân khi đánh nhau với tổ Giác
Hoàng, ngài Đạo Hạnh suýt bị chết, may có Sùng Hiền Hầu
xin cứu cho. Về sau nhớ
ơn
ấy, ngài Đạo Hạnh nguyện sẽ vào đầu thai làm con của
Hầu. Nhân bây giờ Sùng Hiền Hầu phu nhân có thai, ngài liền
hẹn bao giờ phu nhân trở dạ thì phải báo cho ngài biết.
Khi được tin ấy, ngài liền đập đầu vào núi đá chết[5]
Khi ấy ngài còn bị Giác Hoàng đại sư yểm bùa ngăn cản
mãi sau mới đầu thai vào được. Con của Sùng Hiền Hầu
sau này tức là vua Lý Thần Tôn[6]. (Đến nay Làng Láng mấy
năm lại mở đại hội một lần, vì trong mấy làng đó có
thờ ngài Đạo Hạnh, tục gọi là Từ Đại Thánh và Pháp
sư Đại Điên. Khi có hội (hội Lãng vẫn có tiếng, ở gần
Hà Nội) dân làng lại diễn lại tích ngài Đạo Hạnh và
Pháp sư Đại Điên đánh nhau. Ở Sài Sơn cũng còn thờ ngài
Đạo Hạnh. Sài Sơn ở phủ Quốc Oai, Sơn Tây bây giờ).
(Có
sách cho chuyện này là huyễn hoặc và bác đi, nhưng tưởng
ta cũng không nên tin hẳn. Ta chỉ nên nhớ rằng những chuyện
ấy đối với những tà thuật của Đạo giáo là một sự
thường và nhân đó ta có thể biết rõ rằng Phật giáo pha
lẫn với Đạo giáo bắt đầu từ lúc ấy
Nguyên
pháp của Thiền Tôn là phép Thiền định, tập trung tư tưởng,
luyện nhân thần nhân diện như thôi miên học của Thái Tây
bây giờ. Khi tâm đã chuyên nhất, trí đã mở thì ở người
ta có thể phát hiện nhiều thần thông mới lạ. Nhưng nếu
người tu hành nhận lầm thần thông ấy là cứu cánh trong
sự tu hành của mình, như vậy là sai lạc chân lý và không
khéo thần thông ấy lại trở thành tà thuật, những pháp
thuật ấy có thể gần với pháp thuật của Đạo giáo, nên
hai phái ấy có thể hỗn hợp được. Xét thế, sau này ta
khỏi lấy làm lạ khi thấy các Sư tu chùa cũng cúng cấp yểm
bùa, thần chú. Ấy là vì càng về sau Phật giáo càng bị
những tà đạo hạ cấp xen vào, nên Phật giáo mới lạc mật
tôn chỉ và luật pháp của Phật Thích Ca vậy).
5.
Lý
Thần Tôn (1128 - 1138)
Lý
Nhân Tôn không có con, lập con của Hoàng đệ là Sùng Hiền
Hầu lên làm Thái tử, Thái tử sau lên ngôi tức là Thần
Tôn.
Năm
Thiên Chương Bảo Tự thứ tư (I 136), vua mắc bịnh nặng có
nhờ Minh Không Thiền sư chữa khỏi, liền phong cho Thiền sư
làm Quốc sư và sắc lập chùa Linh Cảm.
Minh
Không Thiền sư : Họ Nguyễn, húy là Chí Thành, quê ở làng
Đàm Xá, thọ giáo với ngài Từ Đạo Hạnh, ở chùa Thiên
Phúc. Ngài tu hành rất có chí, nên được Đạo Hạnh truyền
hết bí pháp cho. Đến khi ngài Đạo Hạnh sắp tịch có bảo
ngài Minh Không rằng:
“Xưa
đức Thế Tôn đạo quả đã viên mãn rồi mà còn quả báo,
huống chi đời mạt kiếp này. Ta đây kiếp sau làm nhân chủ,
nhưng tất bị quái bịnh, người đã có duyên với ta thì
nên đợi mà cứu ta”. Nói rồi Đạo Hạnh liền hóa và đầu
thai làm con của Sùng Hiền Hầu tức là vua Lý Thần Tôn sau
này.
Ngài
Minh Không ghi lời thầy dạy, sau khi Sư phụ hóa kiếp, liền
trở về quê ẩn dật đến 20 năm, không cầu danh tiếng gì.
Đến năm Thiên Chương Bảo Tự thứ tư (1136), vua Thần Tôn
tự nhiên bị mắc một quái tật, tâm thần rối loạn, gầm
thét như hùm mà người thì mọc lông ra như lông hổ. Các
lương y trong nước đều phải bó tay. Một hôm chợt có tiếng
của trẻ con vỗ tay hát :
Tập
tầm vông ! Tập tầm vông !
Có
ông Nguyễn Minh Không
Chữa
được Thần Tông Hoàng Đế.
Triều
đình liền đi dò hỏi rước ngài về kinh. Khi ngài đến nơi,
thấy trong điện có nhiều Tăng sĩ, Pháp sư , lương y xúm
nhau lại bàn bạc để chữa bệnh cho Hoàng đế. Thấy ngài
quần nâu, áo vải quê mùa, các người kia đều tỏ vẻ khinh
bỉ và nghi ngờ. Ngài chào hỏi căn vặn, liền lấy một cái
đinh dài 5 tấc đóng vào cột mà bảo :
- Ai
nhổ được cái đinh này mới chữa được bịnh cho Thiên
tử
Nhưng
không ai làm được, ngài mới nhón ngón tay khẽ rút lên, thì
cái đinh ra rất nhẹ nhàng.
Bấy
giờ mọi người mới kinh sợ và để ngài tự ý chữa bệnh
cho vua.
Khi
vào thăm bệnh vua thì ngài thét to lên rằng :
- Đại
trượng phu đứng đầu muôn dân, trị vì bốn bể, sao lại
làm cách cuồng loạn thế?
Vua
Thần Tôn trong lúc cơn mê, nghe nói thì giật mình kinh hãi
và không lồng lộn ghê gớm nữa. Ngài Minh Không liền truyền
đun sôi một vạc nước và bỏ cái đinh ban nãy vào làm phép,
sau đem ra tắm cho vua, thì bao nhiêu lông rụng hết và bệnh
cũng khỏi dần.
Sau
Thần Tôn phong cho ngài làm Quốc sư ăn lương vạn hộ. Ngài
mở trường dạy rất đông đệ tử. Đến năm Đại Định
thứ hai vua Anh Tôn (1141), ngài hóa. Hiện nay ở làng Võng Thị
(vùng Bưởi trên bờ hồ Tây Hà Nội) có thờ ngài làm Thành
Hoàng.
Ngoài
ra, thời ấy lại có nhiều Thiền sư khác, giòng giỏi của
ba phái Thiền Tôn Tì Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường
mở đạo trường dạy đệ tử hoặc đi hành hóa, dùng pháp
thuật cứu giúp kẻ bệnh tật trong thiên hạ.
Đời
này có một vị sư là Diệu Nhân, húy là Ngọc Kiều, con gái
của một vị Hoàng thân: Lý Phụng Quì. Vua Lý Thánh Tôn nhận
làm con nuôi sau gả cho người họ Lê làm Tổng đốc châu
Đăng Châu. Khi quan Tổng đốc mất, bà thọ giới với Chân
Không Thiền sư và Trú trì ở chùa Hương Hải làng Phù Đổng.
Đó là một vị Ni đầu tiên nhập đạo của phái Tì Ni Đa
Lưu Chi.
Trong
đời vua Thần Tôn cũng có nhiều vị Thiền sư danh tiếng
như Thông Biện Thiền sư, Bảo Giám Thiền sư
Uông
Biện Thiền sư : Họ Ngô, quê ở Đan Phượng (Hà Đông), Trú
trì ở chùa Phổ Minh (huyện Từ Liêm Lúc nhỏ ngài đã thông
tuệ, kiến thông cả ba món Nho, Thích, Đạo; sau thọ giới
với Viên Chiếu Thiền sư. Khi đắc đạo rồi, ngài ra ở
chùa Quốc Tự (Thăng Long), tự hiệu là Trí Không. Một hôm
bà Nhân Hoàng Thái Hậu hội yến chư Tăng, giữa tiệc bà
hỏi gốc tích đạo Phật cùng các tôn phái và lịch sử Phật
giáo khi mới du nhập vào nước ta, ngài tâu lại rất rõ ràng.
Thái hậu bằng lòng, phong ngài làm chức Tăng lục, sau lại
triệu vào phong chức Quốc sư để Thái hậu tham hỏi lý nghĩa
kinh điển đạo Phật. Đến khi già, ngài mới trở về mở
đạo trường dạy nhiều đệ tử. Ngài tịch năm Giáp Thìn
(I 134).
6.
Lý
Anh Tôn (1138 -1175)
Thần
Tôn mất, triều đình tôn Thái tử Thiên Tệ lên làm vua, đế
hiệu là Anh Tôn. Anh Tôn là đệ tử của Không Lộ Thiền
sư (phái Thảo Đường) được truyền tâm pháp, tức là đời
thứ tư của phái Thảo Đường. Ngài sắc nhân dân phải gọi
ngài là Phật.
Những
Thiền sư có tiếng hồi ấy như Trí Thuyền, Am Trí, Bảo Giám,
Viên Thông v.v. . .
Bảo
Giám Thiền sư : Ngài họ Kiều, húy là Phù, xuất thân là
một nhà Nho đã từng làm quan ở triều, sau thọ giáo với
ngài Trưởng Lão Thiền sư.
Viên
Thông Thiền sư : Ngài họ Nguyễn, húy là Ức quê ở Nam Định,
Trú trì ở chùa Quốc An. Ngài xuất gia từ thuở nhỏ, theo
học với Viên Học Thiền sư, đã từng dự hai khoa thi Tăng
đạo đều đậu đầu cả.
Năm
thứ tư niên hiệu Đại Định (l143), ngài được phong làm
Quốc sư. Ngài tịch vào năm Đại Định thứ12 (1151), thọ
72 tuổi .
Ngài
có trước tác những bộ sách hiện nay còn lưu hành :
1 Chư
Phật tích duyên sự (30 chương).
2.
Hồng chung văn bi ký.
3.
Tăng-già tạp lục (50 chương).
4.
Một ngàn bài thơ.
7.
Lý
Cao Tôn (1176 - 1210)
Anh
Tôn mất, Thái lử Long Cán nối ngôi, hiệu là Cao Tôn. Cao
Tôn
mới có ba tuổi, ông Tô Hiến Thành làm phụ chính. Sau Cao
Tôn thọ giáo với ngài Trương Tam Tạng Thiền sư về phái
Thảo Đường[7]
Cùng
học với Cao Tôn, có một người Quảng Giáp Ca Nhi (Quảng
Ca) tên là Nguyễn Thức, sau cùng cũng được Trương Tam Tạng
truyền tâm pháp[8]
Kế
đời vua Anh Tôn và Cao Tôn, tuy vua cùng các bà phi, các quan
triều (như Thái úy Tô Hiến Thành, Thái Bảo Ngô Hòa Nghĩa)
đều sùng mộ đạo Phật, nhưng về sự phát triển không
có gì đặc sắc đáng kể, tuy triều vua Anh Tôn (1169) có sắc
mở khoa thi tam giáo để kén người vào làm việc quan.
8.
Lý
Huệ Tôn (1211 - 1225)
Thái
tử Sam nối ngôi Cao Tôn tức là Huệ Tôn. Lúc này nhà Lý
đã suy lắm, trong triều thì nội loạn, ngoài nhân dân cũng
không được yên ổn, vua cũng long đong. Bởi thế, Phật giáo
cũng chỉ là bảo thủ .
Năm
Kiến Gia thứ 14 (1224), vua Huệ Tôn chán đời ông Hoàng đế,
liền truyền ngôi cho con gái là công chúa Phật Kim tức Lý
Chiêu Hoàng, rồi xuất gia ở chùa Chân Giáo, tự xưng là Huệ
Quang Đại sư.
Sau
Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Thế là
hết đời nhà Lý. Xét ra Phật giáo nước ta thì đời nhà
Lý là thạnh nhất. Trong 215 năm trời, trải 8 đời vua, vua
nào cũng sùng tín đạo Phật. Xưa nay, một đạo một tôn
giáo hay một học thuật nào, bao giờ cùng phải dựa theo khuynh
hướng của chính trị, nên Phật giáo thạnh về đời này
là phải.
Trong
hơn 200 năm, Phật giáo giữ địa vị độc tôn, trong nước
đã có bao nhiêu sự mới lạ. Trong sách “Danh triết lục”
của Trần Ký Đằng có chép: “Trước đời Lý Nhân Tôn chưa
có khoa cử, những kẻ thông “lệnh nhanh nhẹn đều phải
đo phái Thích đạo lựa chọn và cất nhắc cho...” Như vậy
đủ biết văn hóa, học thuật và chính trị thời ấy hầu
hết đều ở trong tay các nhà tu hành. Bởi vì những nhà mô
phạm bấy giờ toàn là các vị Tăng sĩ, Thiền sư. Ngay như
các vị Hoàng đế, phần nhiều cũng là thọ giới ở nơi
các bậc Cao Tăng cả.
Lại
thấy đời ấy có bao nhiêu vị Thiền sư, khi đắc đạo rồi
là về mở đạo tràng để dạy có hàng nghìn đệ tử đủ
biết nhân dân sĩ thứ đời này đều qui hướng về một
Phật đạo.
Nhưng
cuối đời nhà Lý thì Phật giáo như phải bị lệnh đốn,
các nhân tài trong các phái hầu đã kém sút nhiều.
[1]
Xem bản đồ C.
[2]
Nước ta từ đời nhà Đinh đến giờ vẫn gọi là Đại Cồ
Việt, nay mới đổi quốc hiệu.
[3]
Trích “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim.
[4]
Xem bản đồ C.
[5]
Ở Sài sơn bây giờ trong hang còn vết chân người đứng
kiểng, tục truyền là ở tích này.
[6]
Xem chuyện Pháp sư Nguyễn Minh Khôg với kiếp sau của ngài
Từ Đạo Hạnh dưới này
[7]
Xem bản đồ D
[8]
Như trên