Chương
ba
PHẬT
GIÁO ĐỜI NHÀ ĐINH (968 - 980)
VÀ
ĐỜI TIỀN LÊ (980 - l09)
Ngô
Vương làm vua được 6 năm thì mất vào năm Giáp Thìn (944),
có ủy thác con là Ngô Xương Ngập cho Dương Tam Kha, em của
Dương Hậu, Tam Kha cướp quyền cháu, tự xưng làm Bình Vương.
Sau em Xương Ngập là Xương Văn cướp ngôi lại và cùng làm
vua, tức Hậu Ngô Vương. Được 4 năm Xương Ngập mất, Xương
Văn làm vua được 15 năm cũng bị chết trận vì vua thường
phải thân chinh đi dẹp loạn. Bấy giờ là năm Ất Sửu (965).
Trong thời Hậu Ngô Vương, nước ta có cái loạn Thập
nhị xứ quân, dân tình rất là khổ sở.
Sau
có Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh nổi lên phục được tất
cả các sứ quân và lên ngôi Hoàng Đế, tức là Tiên Hoàng
Đế nhà Đinh, lấy niên hiệu là Thái Bình nguyên niên (970).
Vua
sai sứ sang thông hiếu với Tống triều bên Trung Hoa và sửa
sang việc nước, trừ diệt hết những sự tham nhũng, định
lại việc triều chính.
Nước
ta từ lâu đã có Nho giáo, Lão giáo ở Trung Hoa truyền sang,
nhưng thật ra hai giáo ấy chưa được phổ cập hết dân chúng
bằng Phật giáo, nên thời ấy có thể gọi là thời đại
Phật giáo độc tôn. Văn hóa trong lược hình như hầu hết
ở trong các Tăng sĩ cả. Nên
khi
Tiên Hoàng Đế định giai cấp văn võ, thì ngài triệu tất
cả Tăng sĩ lỗi lạc vào hàng Thái miếu và dính phẩm trật
cho các Tăng-già. Ngài tặng chức Khuông Việt Thái sư cho Pháp
sư Ngô Chân Lưu, Pháp sư Trương Ma Ni làm Tăng lục đạo sĩ
và Pháp sư Đặng Huyền Quang làm Sùng Chân uy nghi.
Phật
giáo ở nước ta được triều đình công nhận từ đó và
Tăng sĩ có định giai phẩm khi ấy cũng là lần đầu tiên.
Phật giáo sử lại thêm được giai đoạn vẽ vang. Và cứ
xem một vị Tăng Thống được phong đến chức Thái sư thì
đủ đoán được tình hình Phật giáo về đời nhà Đinh lại
bắt đầu thạnh hơn trước vậy.
Nhà
Đinh mất, nhà Tiền Lê (Lê Đại Hành) lên thay để chống
với quân nhà Tống (980). Triều này các Tăng sĩ cũng được
biệt đãi. Đại Hành thường triệu các vị Tăng Thống vào
triều để hỏi việc nước và Phật giáo.
Niên
hiệu ứng Thiên thứ 14 (l008), sau khi nước ta đã hòa với
Tống rồi, vua Đại Hành sắc ông Minh Xưởng và ông Hoàng
Thành Nhã sang sứ nước Trung Hoa, cống hiến đồ thô sản
và xin vua Tống ban cho bộ “Cửu kinh” và “Đại Tạng kinh”.
Vua Tống trao cho những bộ ấy và cho sứ giả đưa về. Đó
là lần đầu tiên nước ta cho người sang cầu kinh bên
Trung Hoa vậy.
Khuông
Việt Thái Sư : Ngài họ Ngô, pháp hiệu là Chân Lưu, quê ở
làng Cát Lỵ (?), Trú trì ở chùa Phật Đà. Thuở nhỏ ngài
theo Nho học; lớn lên thọ giới với Vân Phong Thiền sư ở
chùa Khai Quốc. Từ đó ngài đọc khắp kinh điển nhà Phật,
hiểu được mọi lẽ cốt yếu của Thiền Tôn, tiếng tăm
lừng lẫy trong nước. Năm ngài 40 tuổi, vua Đinh Tiên Hoàng
mời vào hỏi đạo, ngài ứng đối tinh tường. Vua rất lấy
làm mến phục, bèn phong làm chức Tăng Thống. Năm sau, niên
hiệu Thái Bình thứ 2 (971), vua lại phong là Khuông Việt Thái
sư (Khuông Việt nghĩa là giúp đỡ sửa sang nước Việt).
Đến
đời vua Lê Đại Hành, ngài lại càng được kính trọng lắm.
Bao nhiêu việc quân việc nước vua thường triệu ngài đến
hỏi.
Năm
Thiên Phúc thứ 7 nhà Tiền Lê (986), nhà Tống sai sứ Trung
Hoa là Lý Giác sang nước ta, vua Đại Hành liền sắc Khuông
Việt Thái sư ra đón tiếp và ứng đối. Khi Lý Giác về Trung
Hoa có để lại một bài thơ rằng :
Hạnh
ngộ minh thời tán thạnh du,
Nhất
thâu lưỡng độ sứ Giao Châu
Đông
đô tái biệt tâm vưu luyến,
Nam
Việt thiên trùng vọng vị hưu,
Mã
đạp yên vân xuyên lãng thạch,
Xa
từ thanh chướng phiếm trường lưu
Thiên
ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu,
Khê
đàm ba tịnh kiến thiềm thu.
Dịch
:
May
gặp minh quân giúp việc làm,
Một
mình hai lượt sứ miền Nam.
Mấy
phen qua lại lòng thêm nhớ,
Muôn
dặm non sông mắt chữa nhàm.
Ngựa
đạp mây bay qua suối đá,
xe
vòng núi chạy tới giòng lam,
Ngoài
trời lại có trời soi rạng,
Vừng
nguyệt trong in ngọn sóng đầm.
Vua
Đại
Hành đưa bài thơ ấy cho ngài, hỏi xem có ý gì không ? Ngài
tâu :
- Câu
thứ bảy sứ Trung Hoa có ý tôn Bệ hạ cũng như Vua của họ
vậy.
Vua
Đại Hành bèn nhờ ngài làm một bài tiễn Lý Giác. Ngài vâng
mệnh làm một bài từ theo điệu « Tống vương lang qui »
:
Tường
quang phong hảo cẩm phàm trương,
Thần
tiên phục đế hương.
Thiên
lý vạn lý thiệp thương lảng, (đọc : lương)
Cửu
thiên qui lộ trường
Nhân
tình thảm thiết đối ly trường.
Phan
luyến sứ tinh lang.
Nguyện
tương thâm ý vị nam cương,
Phân
minh tấu ngã hoàng.
Dịch
:
Gió
hòa phấp phới chiếc buồm hoa,
Thần
tiên trở lại nhà.
Đường
muôn nghìn dặm trải phong ba,
Cửa
trời nhắm đường xa.
Một
chén quan hà dạ thiết tha,
Thương
nhớ biệt bao là.
Nỗi
niềm xin nhớ cõi Nam Hà,
Bày
tỏ với vua ta.
Ngài
ở triều được ít lâu thì lấy cớ già yếu xin cáo về,
dựng một ngôi chùa ở núi Du hý. Ở đó ngài mở trường
giảng học, học trò đến học rất đông; có Đa Bảo Thiền
sư là đệ tử thân tín của ngài, sau được truyền tâm pháp.
Ngày
15 tháng 2, niên hiệu Thuận Thiên thứ hai đời nhà Lý, ngài
gọi Đa Bảo Thiền sư đến đọc bài kệ rằng :
Mộc
trung nguyên hữu hỏa,
Nguyên
hỏa phục hoàn sanh.
Nhược
vị mộc vô hỏa,
Toàn
toại hà do manh ?
Dịch
:
Trong
cây vốn có lửa,
Tia
lửa mới sáng lòa,
Nếu
bảo cây không lửa,
Cọ
xát sao lại ra ?
Đa
Bảo Thiền sư hiểu thâm ý của Sư phụ, liền sụp xuống
lạy. Khuông Việt Thái sư chấp tay lại mà tịch. Ngài thọ
81 tuổi[1] Ngài tức là đời pháp truyền thống thứ tư của
phái Vô Ngôn Thông Thiền sư vậy:
Pháp
Thuận Thiền sư : Ngài giòng họ Đỗ, không rõ quê quán ở
đâu, ngài xuất gia thuở nhỏ, thọ giáo với Long Thọ Phù
Trì Thiền sư. Khi nhà Tiền Lê mới thành nghiệp, ngài thường
được mời vào triều để luận bàn việc chính trị và ngoại
giao. Vua Đại Hành thường gọi là Đỗ Pháp Sư chứ không
dám gọi chính tên. Năm Thiên Phúc thứ 7 (986), nhà Tống sai
sứ là Lý Giác sang nước ta, vua sắc ngài cải trang làm phu
chèo đò cho sứ giả. Tình cờ lúc ấy có hai con ngỗng đi
ở mặt nước, Lý Giác liền ngâm rằng :
Nga
nga lưỡng nga nga,
Ngưỡng
diện hướng thiên nha.
Dịch
:
Song
song ngỗng một đôi,
Ngửa
mặt ngó ven trời.
Pháp
sư đang cầm chèo liền đọc tiếp :
Bạch
mao phô lục thủy,
Hồng
trạo bải thanh ba.
Dịch
:
Lông
trắng phơi gióng biếc,
Sóng
xanh chân hồng bơi.
Lý
Giác thán phục lắm.
Vua
Đại Hành thường hỏi ngài về ngôi nước dài ngắn thế
nào ? Ngài liền đọc bài kệ rằng:
Quốc
tộ như đằng lạc,
Nam
thiên lý thái bình,
Vô
vi cư điện các,
Xứ
xứ tức đao binh.
Dịch
:
Ngôi
nước như dây quấn,
Trời
Nam mở thái bình,
Trên
điện không sanh sự,
Đâu
đó dứt đao binh.
Niên
hiệu Hưng Thống nhà Tiền Lê năm thứ hai (990), ngài không
bịnh mà tịch, thọ 76 tuổi. Ngài có làm quyển “Bồ-tát
hiệu sám hối văn”, còn truyền lại.
Ngài
là đời pháp truyền thống thứ mười của phái Tì Ni Đa
Lưu Chi vậy.
Đọc
hai ngài trên đây, ta đủ rõ về thời ấy, trong nước chỉ
có những vị Tăng Thống mới là bậc bác học.
Ngày
xưa mỗi khi tiếp sứ Trung Hoa, vua ta thường phải chọn những
người lỗi lạc uyên bác ra tiếp, mà khi vị Thiền sư cũng
được cử vào việc ấy, đủ biết văn hóa trong nước hầu
hết do ở các Tăng sĩ cả. Những Pháp sư ấy lại mở trường
giáo hóa Tăng chúng, nên ta có thể đoán thời ấy Phật giáo
ở ta dân chúng hiểu biết lắm vậy. Vả thời ấy có thể
gọi là thời đại luật giáo thịnh nhất. Vua tin theo, triều
đình ủng hộ, lại có sứ đi cầu kinh, tất nhân dân ai ai
cũng phải biết.
Nhưng
đến cuối đời Tiền Lê, Phật giáo có lẽ mất thế lực
vì ông vua bạc nhược và khôi hài : Lê Long Đĩnh (Ngọa Triều
: 1005 – l009).
“Long
Đĩnh là người bạo ngược, tính hay chém giết, ác bằng
Kiệt, Trụ ngày xưa. Khi đã giết anh (Lê Trung Tôn con Lê Đại
Hành) rồi lên làm vua và thường cứ lấy sự giết người
làm trò chơi : Có khi những tù phạm phải tội hình thì
bắt lấy rơm tẩm dầu quấn vào người rồi đưa đốt sống;
có khi bắt tù trèo lên cây rồi sai người chặt gốc cho cây
đổ; có khi bỏ người vào sọt rồi đem thả xuống sông;
hoặc bắt các nhà sư rồi lấy mía để lên đầu mà róc
vỏ, thỉnh thoảng giả vờ lấy tay bổ dao xuống đầu, trông
thấy máu chảy ra thì lấy làm vui cười.
Còn
khi ra buổi chầu, có ai tâu sớ điều gì thì cho những người
hề nói khôi hài hay là nhái tiếng làm trò.”[2]
Với
một ông vua đồi bại như thế, dù có những ngài Tăng Thống
dự vào triều chính cũng vị tất đã dám đem những chuyện
Phật giáo để cho vua được dịp làm trò.
Cũng
may, Ngọa Triều làm vua được có 4 năm thì mất, để Lý
Công Uẩn là người của Phật giáo lên làm vua, gây nghiệp
nhà Lý và gây cho Phật giáo một thời đại cực thạnh.
[1]
Có sách nói ngài thọ 79 hoặc 52 tuổi. Sách « Le Bouddhisme
en An-nam » củaTrần Văn Giáp tiên sanh cũng chép ngài thọ
52 tuổi. nhưng cứ tính năm ngài tịch là năm Thuận Thiên
thứ hai nhà Lý (1011) trở lại năm Thái Bình thứ hai đời
nhà Đinh (971) là 40 năm. Vậy sách nào cũng nói năm Thái bình
nguyên niên (970) ngài được phong chức Tăng Thông và năm sau
(971) ngài được phongchức Khuông Việt Thái sư (Sách lại
nói năm trước ngài 40 tuổi. năm sau tất 41tuổi) vậy phải
là ngài thọ 81 tuổi mới đúng (40 + 41 = 81), nếu bảo ngài
thọ 51tuổi thì năm lên 10 tuổi ngài đã được phong Thái
sư ? Có lẽ nào ?
[2]
Trích “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim.