LỊCH
SỬ
Chương
một
THỜI
ĐẠI PHẬT GIÁO DU NHẬP
PHẬT
GIÁO ĐỜI BẮC THUỘC (43 - 544)
Phật
giáo ở Ấn Độ truyền bá đi các nước lân cận do hai đường
thủy và bộ. Về đường thủy thì qua miền Trung Á như Mông
Cổ, Tây Tạng và Trung Hoa; rồi từ Trung Hoa qua Cao Ly và Nhật
Bản. Về đường bộ thì qua đảo Tích Lan và Java truyền
vào Indonésie, Đông Dương và Trung Hoa. Nước ta ở vào giữa
hai con đường ấy. Vậy Phật giáo truyền đến đâu và từ
đời nào, ta phải khảo lấy mấy thuyết sau này :
1.
Những sách của các nhà sư Việt Nam viết từ thế kỷ thứ
13 và 14 có chép : “Chính đời nhà Hán (thế kỷ thứ 2 và
thứ 3) đã có các đạo sĩ ở Bắc như ông Ma-ha-kỳ-vực
(Mârijivaka), Khương Tăng Hội (K’ang-song-hoeuei) và Mâu Bác
(Meou-pô), ngài thì do theo đường thủy, ngài thì đường bộ
mà đến truyền giáo ở nước Việt Nam ta".
2.
Sách Ngô Chí của Trung Hoa chép: “Sĩ Nhiếp là một vị Thứ
sử có oai quyền ở Giao Châu, được dân bản xứ tôn kính,
khi ra đi người ta thường nghe có tiếng kiểng lẫn tiếng
trống kèn, bọn rợ Hồ đi theo thắp hương hai bên xe có từng
đoàn mười người…”
Theo
ông Sylvain-levi kê cứu, thì Hồ là một thứ tiếng riêng của
người Trung Hoa về thế kỷ thứ 3 dùng để chỉ bọn người
phương Tây. Vậy Hồ đây có lẽ là người Trung Á hay người
Ấn Độ.
3.
Truyện Đàm Thiên Pháp sư có chép: Vua Cao Tổ nhà Tùy bảo
Pháp sư rằng : “Trẫm nghĩ đạo Từ bi của đức Điều
Ngự, không biết báo ơn thế nào cho phải, Trẫm lạm giữ
ngôi dân chủ, muốn rộng truyền đạo Tam bảo, đã thu khắp
di hài Xá-lỵ, lập được 49 ngọn Bảo tháp trong nước để
làm tiêu biểu cho Đạo và làm được hơn 150 ngôi chùa rồi.
Bây giờ Trẫm lại muốn lập Chùa dựng Tháp khắp Giao Châu
(danh hiệu nước Việt Nam từ đời Bắc thuộc) để cho đạo
đức nhuần khắp thế giới. Cõi Giao Châu tuy nội thuộc nước
ta mà xa xôi quá, vậy Pháp sư nên tuyển lấy các thầy Sa-môn
đức hạnh, sang mà hoằng hóa cho dân ấy, để hết thảy
chúng sinh đều biết đạo Bồ-đề”. Pháp sư liền tâu :
“Cõi Giao Châu có đường thông sang Thiên Trúc gần hơn ta.
Khi Phật giáo chưa du nhập vào đất Giang Đông ta[1] mà ở
cõi ấy đã xây dựng được hơn 20 ngọn Bảo tháp, độ được
hơn 500 Tăng sĩ, dịch được 15 bộ kinh rồi. Vì ở bên ấy
gần nước Phật hơn ta. Bấy giờ có các vị Ma-ha-kỳ-vực,
Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương và Mâu Bác đến ở truyền
đạo . . . Ngài muốn bố thí một cách bình đẳng, phái Chư
Tăng sang truyền đạo, nhưng ở đó họ đã có đủ rồi,
ta không cần phải sang nữa.”
4.
Sách Pháp vụ thực lục chép : “Vào hồi thế kỷ thứ ba
có một ông tên là Kaudra gốc ở Đông ấn, gióng Brahmanes
qua Giao Châu một lần với ông Ma-ha-kỳ- vực…”
Cứ
theo mấy dẫn chứng trên đều thấy hợp nhau và cùng thấy
mấy ngài Ma-ha-kỳ-vực, Khương Tăng Hội,Chi Cương Lương,
Mâu Bác là bậc truyền đạo đầu tiên ở nước ta .
1.
Ma-ha-kỳ-vực (Mârajivaka hay là Jivaka) :
Trong
sách Cao Tăng truyện có chép : "ông Ma-ha- kỳ-vực gốc ở
Ấn Độ, đi du lịch các nước bắt đầu từ Ấn Độ đến
Founan theo đường Giao Châu và Quảng Châu (Bắc kỳ và Quảng
Đông bây giờ); qua nơi nào ngài cũng làm phép lạ. Khi đến
Tương Dương, muốn qua đò, nhưng người lái đò thấy ngài
quần áo rách rưới không cho xuống, đến khi đò ngang cặp
bến thì mọi người đều lấy làm lạ thấy ngài đã ở
bên này sông rồi.”
Cuối
đời Huệ Đế nhà Tấn (290- 306) nước Trung Hoa có loạn,
ngài lại trở về Ấn Độ, Ngài tịch năm nào không rõ.
Trong
sách Phật tổ lịch đại thống tải chép: “Ông Ma-ha-kỳ-vực
đến Lạc Dương vào niên hiệu thứ tư đời Tấn Huệ Đế
(294 sau Tây lịch).” Trước khi đến Lạc Dương, ngài có
qua Giao Châu và Quảng Châu.
2.
Khương Tăng Hội (K’ang-seng-houei) – Trong sách Lương Cao Tăng
truyện của Huệ Hao chép : “Một người nước Khương tên
là Tăng Hội, gốc ở Khương Cư (Soadiane), mấy đời tổ tiên
ngụ ở Thiên Trúc. Phụ thân ngài có qua buôn bán ở Giao Châu.
Ngài mồ côi cha mẹ từ thuở lên mười. Sau thời kỳ cư
tang, ngài xuất gia, chăm lo học tập kinh điển đã trở nên
một đạo sĩ khá cao thời ấy. Ngài tính tình chân thật,
hòa nhã và rất thông minh; không những ngài thông hiểu Tam
tạng lục kinh, mà ngài còn nghiên cứu cả toán số, thiên
văn đến văn chương và chính trị.
Bấy
giờ về đời Ngô Tôn Quyền (229 - 252) Phật giáo mới truyền
vào Đông Ngô, nhưng chưa được phát triển mạnh, ngài tới
đó liền hết sức tuyên dương Phật pháp khắp miền Giang
Tả; ngài thường cầm gậy tầm xích đi hành hóa khắp phía
Đông. Niên hiệu Xích Ô năm thứ hai đời nhà Ngô (247), ngài
đến thành Kiến Nghiệp (Nam Kinh bây giờ) làm một túp lều
ở đó tu trì và thiết trường giảng dạy. Vua Ngô Tôn Quyền
thấy ngài thi nhiều phép lạ lấy làm ngạc nhiên, đem lòng
tín phục và xây tháp dựng chùa ngài ở gọi là chùa Kiến
Sơ, chỗ ngài ở thì gọi là Phật-da-lý. Từ đó Phật giáo
mới thạnh hành trong miền Giang Tả .
Ngài
có dịch nhiều kinh chữ Phạn ra chữ Hán. Ngài tịch vào khoảng
niên hiệu Thiên Kỷ thứ tư nhà Ngô (280 sau Thiên chúa).
3.
Chi Cương Lương (Tche-kiang-leang) : Trong một bài khảo về bản
dịch “Thập nhị du kinh” của ông Pelliot có dẫn lời ông
Phí Trường Phòng trong sách Lịch đại tam bảo ký rằng: “Đời
vua Võ Đế nhà Tấn (265 - 290) có ông Cương Lương Lâu Chí
dịch kinh Chân Hỷ ở đất Quảng châu vào khoảng niên hiệu
Thái Thụy (266).”
Lại
trong một bản Kinh Tịch chí, ông Nanjio có dẫn đến một
ông tên là Chi Cương Lương tiếp dịch kinh ở đất Giao Châu.
Theo ông Pelliot kê cứu thì hai ông ấy chỉ là một người.
Cương Lương Lâu Chí chữ Phạn viết Kalyana ruci, theo sự khảo
cứu của Trần Văn Giáp tiên sanh trường Bác Cổ Viễn Đông[2]
4.
Mâu Bác (Méou-pô) : Theo ông Pelliot khảo cứu trong sách Mâu
Tử lý hoặc thì Mâu Bác hay Mâu Tử cũng là một. Ngài người
quận Thương Ngô tức Ngô Châu bây giờ. Sau khi vua Hán Linh
Đế mất (189) ngài theo mẹ qua ở Giao Châu. Bấy giờ nước
Trung Hoa rối loạn, các sĩ phu tránh qua đất Giao Châu rất
đông, có nhiều người theo đạo Lão học phép tiên.
Ngài
thường cùng đạo sĩ biện luận, nhiều khi họ không trả
lời được những nghi vấn của ngài; ngài liền phát tâm
theo Phật giáo. Theo ông Pelliot kê cứu thì ngài Mâu Bác sanh
vào khoảng năm 165 - 170 Tây lịch.
Ta
thấy bốn ngài truyền Phật đạo ấy, một ngài là người
Trung Hoa (Mâu Bác) còn là người Ấn Độ cả. Và so niên đại
thì ta thấy ngài Mâu Bác là người truyền Phật giáo ở đất
Giao Châu sớm nhất : năm 189 sau Tây lịch kỷ nguyên. Vậy
ta có thể kết luận : Phật giáo du nhập vào nước ta vào
khoảng cuối thế kỷ thứ hai.
(Ngoài
ra lại có thuyết nói Phật giáo truyền vào Giao Châu từ thế
kỷ đầu, ngang với khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc (67
Tây lịch);[3] hoặc giả đó là do Giao Châu bấy giờ ở vào
giữa con đường của các nhà truyền đạo, hoặc khách buôn
bán của ấn Độ Chi Na qua lại với nhau, có ghé, nhưng không
ở nhất định để truyền giáo, nên không còn di tích gì
chăng ? Vì theo ông Sylvain và ông Pelliot kê cứu thì Trung Quốc
và ấn Độ giao hảo với nhau từ năm 245 trước Thiên Chúa
giáng sinh đến thế kỷ thứ bảy đều lấy đất Giao Chỉ,
Giao Châu làm trung gian. Bọn du khách qua lại phải đi ngang
qua Bắc Kỳ bấy giờ và bể Nam Hải. Như vậy ta có thể
đoán đó chỉ là những nhà đạo sĩ và những người buôn
bán sùng đạo Phật mới đem tín ngưỡng đến xứ này về
thời ấy, chứ chưa hẳn là truyền bá giáo lý).
Ở
bên Trung Hoa từ sau khi vua Hán Linh Đế mất, chính trị trong
nước rối ren, những cuộc nội loạn bắt đầu sửa soạn
cái loạn Tam quốc sau này, thì đất Giao Châu được yên ổn
dưới quyền chính trị của Thái thú Sĩ Nhiếp (187-122).
Trong
sách Mâu Tử ký chép: “Sau khi Hán Linh Đế mất, trong nước
rối loạn, chỉ có đất Giao Châu là tạm yên, nên những
sĩ phu đều sang tránh loạn ở đó. Nhiều nhà đạo sĩ mang
truyền các ngoại đạo như Thần đạo, Tiên đạo, Trường
sanh đạo. . .” mà Mâu Bác lại qui y Phật giáo sau khi đã
khảo về Lão giáo (theo sách Mâu Tử Lý hoặc).
Vào
khoảng năm 194 - 295 ông Mâu Tử sang Giao châu tự khảo Phật
đạo và truyền đạo. Những người Trung Hoa khác cũng bắt
chước[4]
Xét
theo mấy dẫn chứng trên và trở lại dẫn chứng thứ hai
đầu mục này, ta có thể biết đại khái Phật giáo ở ta
về cuối thế kỷ thứ hai và đầu thế kỷ thứ ba; hồi
ấy đất Giao Châu đã có dư luận về đạo Phật ở trong
đám nhân gian bởi những người Trung Hoa và người Ấn Độ.
Nhưng chẳng qua đó chỉ là từng khu vực thôi, chớ sự thật
vị tất dân nước đã biết hết.
Nhưng
theo lời Đàm Thiên (dẫn chứng thứ ba chương này) thì nước
ta cũng đã dựng chùa, xây tháp đến 20 ngọn, Tăng sĩ đến
500 người và kinh dịch đã lược 15 bộ. Dịch kinh thì có
ngài Khương Tăng Hội dịch chữ Phạn ra chữ Hán - thời ấy
ta đã có theo học chữ Hán rồi - vào đầu thế kỷ thứ
ba; bấy giờ Giao Châu nội thuộc Đông Ngô.
Năm
225 - 226 cũng có một người nước Nhục Chi (Indoscythé) tên
là Kalyânaruci tới Giao Châu, dịch kinh Pháp Hoa Tam Muội.
Tuy
nhiên ở Giao châu từ ấy đến hết thời Bắc thuộc lần
thứ 2 (43 - 544) sang đến nhà Tiền Lý (544-548) rồi đến đầu
đời Bắc thuộc lần thứ ba (603-939) Phật giáo vẫn còn ở
thời kỳ phôi thai, tuy có Tăng sĩ, có chùa, nhưng đó mới
chỉ là một điều kiện tôn giáo tín ngưỡng thôi. Vì bấy
giờ ta ảnh hưởng trực tiếp với Ấn Độ hơn là với Trung
Hoa; bởi vậy trong một thời gian khá dài ấy, ngoài mấy người
Ấn Độ thông chữ Hán dịch kinh, còn không thấy ai dịch
nữa và cũng chẳng có một ai sang Trung Hoa cầu kinh chữ Hán,
nên Phật giáo trong thời ấy có lẽ chỉ là hình thức hơn
là tinh thần. Cũng là bởi từ khi Phật giáo du nhập nước
ta (khoảng năm 194 - 195) ta còn nội thuộc nước Trung Hoa đến
năm 544, những nhà cầm quyền của chính phủ đô hộ, không
chính thức nhận Phật giáo cho người bản xứ thờ làm một
tôn giáo đặc biệt, nên không chính thức ủng hộ.
[1]
Phật giáo tuy truyền vào Trung Quốc từ năm 67 sau Tây lịch
kỷ nguyên, nhưng lâu về sau mới phổ cập tới Giang Đông.
[2]
Le bouddhisme en An-nam – trang 214.
[3]
Trong bài “Phật giáo Nam lai khảo” đăng trong Tạp chí Nam
phong số 128 ra tháng Avril 1928. Nhưng trong một bài của ông
Trần Văn Giáp in trong tạp chí Viễn Đông Bác cổ năm 1930
(XXX, Phật, 151-155) phê bình về bài Phật giáo Nam lai khảo;
đính chính và nói rằng: Tác giả P.G.N.L.K nhận lầm năm Vĩnh
Bình đời Tấn Huệ Đế (294 sau TL) với năm Vĩnh Bình đời
Mán (61 sau TL).Thành ra sai đến 2 thế kỷ.
[4]
Le Bouddhisme en Annam của Trần Văn Giáp, trang 25.