Chương
hai
II.
PHẬT GIÁO Ở TRUNG QUỐC
Nước
ta lúc đầu ảnh hưởng Phật giáo tuy có trực tiếp với
Ấn Độ, song sự truyền bá không được phổ cập hết dân
tộc, nên sau Phật giáo có thạnh là nhờ kinh điển của Trung
Quốc đã dịch lại ở văn Phạn. Bởi thế, ta cần biết
qua lịch sử Phật giáo ở Trung Quốc.
Trong
sách Liệt Tử có dẫn lời đức Khổng Tử rằng : “Khâu
này nghe phương Tây có bậc Thánh, không trị mà không loạn,
không nói mà tự tin”.
Lại
sách Ngụy thư thích Lão chi có chép : “Vua Võ Đế nhà Tây
Hán sai tướng Hoạt Khử Định đánh nước Hung Nô, bắt được
hình người bằng vàng dài hơn một trượng, đem về dâng
vua, vua liền đem vào thờ ở trong cung Cam Tuyền, thường ngày
thắp hương lễ bái”.
Cũng
trong sách ấy chép : “Đời Tây Hán có tướng Trương Khiên
phụng mệnh vua Võ Đế đi sứ Tây vức về tâu rằng : Bên
nước Thân độc (một nước trong xứ Tây vức bấy giờ)
có đạo Phù Đề (tức Phật giáo)”.
Sách
Liệt tiên truyện của Lưu Hướng đời Tây Hán Thành đế
có chép : “Từ đời Hoàng đế đến nay, đắc đạo có hơn
700 người, nhưng trong số ấy tu theo đạo Tiên chỉ có 146
người, còn bao nhiêu đều theo đạo Phật”.
Xem
đó đủ biết dân Trung Quốc biết có Phật giáo đã lâu lắm,
trong dân gian rải rác đã có người theo và trong nước đã
có dư luận về đạo Phật vậy.
Mãi
đến đời nhà Đông Hán, niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ 10
(TL.67) vua Minh Đế sai các ông Thái Hâm, Vương Tuân, cả thảy
18 người, qua nước Đại Nhục Chi để rước Phật về thờ
và có mời được hai vị sư là Ca Diếp Ma Đằng và Trúc
Pháp Lan qua Trung Quốc. Vua Hán Minh Đế liền sắc dựng chùa
Bạch Mã để thờ Phật và cho hai ngài ở đó dịch kinh, truyền
đạo Hai ngài dịch được kinh Tứ thập nhị chương và 16
quyển khác. ở Trung Quốc, Phật giáo được triều đình thừa
nhận, có làm chùa và dịch kinh là bắt đầu từ đó. Dần
dần đạo Phật càng ngày càng bành trướng khiến đạo Lão
gần mất hết thế lực. Bởi thế, những nhà truyền đạo
từ Tây vức lục tục kéo sang Trung Quốc, như ngài An Thế
Cao, Chi Lâu Ca Sấm, Chi Diệu, Trúc Phật Sóc là những bậc
nổi tiếng nhất. Đến đây, kinh chữ Phạn dịch ra chữ Hán
đã đến số 300 bộ.
Nhà
Đông Hán mất; Ngụy, Thục, Ngô nổi lên, tức là đời Tam
Quốc, có ngài Khương Tăng Hội từTây Vức qua truyền đạo,
thuyết pháp, vua Ngô Tôn Quyền chịu qui y. Năm thứ hai niên
hiệu Gia Bình vua Ngụy Minh Đế (TL. 250), ngài Đàm-ma-ca-la
từ Trung Ấn Độ qua thi hành phép “Thập Nhơn Thọ”[1] về
Tứ Phần luật. Trung Quốc thi hành giới luật là bắt đầu
từ lúc ấy. Mấy năm sau (TL. 258), Châu Tử Hàng ở Lạc Dương
khai đàn giảng kinh Bát-nhã. Trung Quốc công khai giảng kinh
Phật cho nhân dân nghe cũng bắt đầu từ lúc ấy. Nhưng thời
bấy giờ kinh điển dịch ra chưa hoàn bị, nghĩa còn mờ quá,
nên Châu Tử Hàng quyết chí qua Tây vức học chữ Phạn và
tìm nguyên bản kinh chữ Phạn để dịch lại.
Năm
thứ tư niên hiệu Vĩnh Gia nhà Tây Tấn (TL. 310), ngài Sa-môn
xứ Tây Vức Phật Đồ Trừng sang thuyết pháp, nhân dân mộ
theo rất đông, có hàng vạn người, trong ấy như Ngài Đạo
An, Pháp Hòa, Trúc Pháp Hải v.v...là những môn đồ nổi tiếng
nhất. Phật giáo cảm hóa nhân gian và hưng thạnh hơn từ
đó. Ngài Đạo An, Huệ Viễn sau phát dương mối manh tôn chỉ
của Phật giáo ra, đến ngài Cưu-ma-la-thập mới là thạnh
đạt. Đó là thời kỳ Phật giáo Trung Quốc biến đổi lần
thứ nhất. Đời này bắt đầu có Tam luận tôn, Thành thật
tôn.
Đến
đời Nam Bắc triều (TL. 420-588) Phật giáo càng có thế, có
Tăng sĩ Huệ Lâm được tham dự triều chính. Đời ấy có
ngài Bồ-đề Đạt-ma ở Thiên Trúc sang truyền pháp Thuyền
Tôn, ngài Tam Tạng Nhơn Đế dịch luận Đại thừa Khởi tín.
Lúc đó ở Trung Quốc mới đề xướng pháp môn “Chân như
duyên khởi”. ấy là thời kỳ Phật giáo Trung Quốc biến
đổi lần thứ hai. .Lại có Nam Nhạc đại sư lập Thiên thai
tôn, ngài Đàm Vô Sấm dịch truyền Niết-bàn tôn.
Nhưng
đến niên hiệu Thái Bình Chân Quân thứ 7 (TL. 446), vua Hậu
Ngụy Thái Võ Đế lại chém giết hết các Tăng lữ và phá
hủy hết Kinh, Tượng, Chùa, Tháp trong nước. Lịch sử Phật
giáo có chỗ gọi rằng: “Tam Võ, nhất Tôn chi ách”[2],đây
là Võ ách lần thứ nhất. Bốn năm sau Võ Đế thăng hà, Văn
Thành vương nối ngôi, lại sắc phục hưng Phật giáo. Dần
dần các đời vua sau cũng chấn hưng, nên đạo Phật được
trùng quang. Có ngài Lặc-na-ma-đề dịch truyền Địa luận
tôn. Đến đời vua Tuyên Võ (TL. 508), Phật giáo lại cực
thạnh, các Sa-môn Tây Vức tìm đến có ba ngàn, chùa chiền
trong nước dựng hơn một vạn, Tăng lữ gần hai triệu.
Song
đến đời Võ Đế Bắc Chu (TL. 574), Phật giáo lại bị ách
vận lần thứ hai : Vua bãi bỏ Phật giáo, dùng chùa chiền
làm phủ độ cho các vương hầu; còn Tăng sĩ phải về làm
dân hoặc tuyển làm quân lính.
Sau
Võ Đế, Tuyên Đế nối ngôi, lại sắc chiếu phục hưng Phật
giáo, chuyên dịch kinh luận. Tiếp đến đời Tùy, Phật giáo
càng ngày càng thạnh, vua quan đều qui y Phật pháp, các Tăng
đồ trước thuật nhiều kinh luận.
Nhà
Tùy suy, đến nhà Đường nổi lên, vua Cao Tổ cũng sùng tín
Phật giáo, nhưng có quan Thái Sử Lịnh là Phó Dịch bảy lần
dâng sớ bài bác đạo Phật, vua Cao Tổ lại phải chất vấn
lại các Tăng sĩ, nên có hai vị Tăng là Huệ Thừa làm Biện
chính luận và Minh Khái làm Quyết đối luận. Nhưng vua Cao
Tổ cũng hạn chế việc làm chùa và truyền đạo. Thời ấy
Lão giáo cũng bị hạn chế.
Sau
Cao Tổ có Lý Thế Dân là con nối ngôi, hiệulà Dường Thái
Tôn. Đời này nhơn dân an cư lạc nghiệp, đường giao thông
với ngoại quốc mở rộng, nên không những Phật giáo hưng
thạnh mà các giáo khác của ngoại quốc cũng bắt đầu truyền
vào, như Tiên giáo, Ma Ni giáo, Hồi giáo và Cảnh giáo. Chính
ngài Huyền Trang sang Thiên Trúc cầu kinh cũng vào lúc này.
Nguyên kinh điển Phật giáo bấy giờ phần thì các đời trước
dịch sai lầm, phần thì mấy lần bị các vua chúa thiêu hủy,
khi chép lại có sai nhiều; ngài Huyền Trang thấy thế liền
quyết sang tận thành Vương-xá Trung Ấn Độ, thọ giáo với
ngài Giới Hiền luận sư, rồi lại du lịch các nước trong
cõi Ấn Độ để tìm nguyên bản kinh điển đem về dịch.
Niên hiệu Trinh Quán thứ 19 (TL 645), ngài mới về nước. Đường
Thái Tôn rất tôn kính, ban ngài ở chùa Đại từ ân và chùa
Hoằng Phước để dịch kinh, truyền đạo. Ngài hết sức
truyền bá, nên Phật giáo được lừng lẫy phổ cập khắp
nhơn gian. Với kinh điển của ngài dịch ra, người sau gọi
là “Tân dịch”, đối với những lần dịch trước có phần
sai khác. Đó là thời kỳ biến đổi lần thứ ba Phật giáo
ở Trung Quốc. Các đệ tử của ngài về sau cũng trước tác
kinh luận rất nhiều quyển có giá trị.
Sau
vua Cao Tổ, đến bà Võ Tắc Thiên Hoàng đế, cũng sai sứ
qua nước Vu Điền (tức là Khotan và Kustana bây giờ) cầu
kinh Hoa Nghiêm thêm các kinh điển chữ Phạn, và mời một
học giả chữ Phạn là Thật-xoa-nan-đà về dịch kinh cùng
ngài Bồ-đề Lưu Chi Tam tạng, dịch kinh Hoa Nghiêm được
80 quyển gọi là “Bát thập Hoa nghiêm”, bà Võ Tắc Thiên
làm bài tựa. Lại có ngài Nghĩa Tịnh Tam tạng cùng qua Ấn
Độ du lịch các nước và cầu kinh về dịch được 60 bộ,
cộng 230 quyển, Phật giáo thật đến hồi cực thạnh vậy.
Từ
đó hết đời vua này đến đời vua khác, vua nào cũng ủng
hộ Phật giáo, Tăng sĩ có rất nhiều người hoặc Tây du,
hoặc dịch Kinh, hoặc làm Luận, nên Phật giáo càng ngày càng
rộng.
Nhưng
đến đời vua Võ Tôn, Phật giáo lại đại ách, tức là Võ
ách thứ ba : Niên hiệu Hội Xương thứ 5 (TL. 845), nguyên Võ
Tôn sùng tín Lão giáo, nên nghe các đạo sĩ hạ sắc hủy
44.600 chùa Phật, bắt 265.000 Tăng sĩ hoàn tục, những chuông
khánh bằng đồng tịch thu để đúc tiền. Thời ấy các giáo
khác cũng bị giải tán.
Cách
hai năm sau, vua Tuyên Tôn lên ngôi mới lại hạ sắc tu bổ
chùa chiền, chấn hưng Phật giáo. Nhưng đời ấy quốc thế
nhà Đường đã đến thời suy, nên Phật giáo dù hết sức
chấn hưng cũng kém bề thạnh đạt.
Đời
Đường có thêm các tôn : Tịnh độ, Pháp tướng, Cu-xá, Luật
Hoa nghiêm, Chơn ngôn.
Xét
ra, Trung Quốc đến đây và từ đây về sau, chỉ có đời
Đường, từ Đường Cao Tôn (TL. 645) đến đầu đời Đường
Võ Tôn (TL. 845) là Phật giáo hưng thạnh lừng lẫy nhất.
Còn từ nay về sau, Phật giáo từ chỗ bảo thủ đến thời
suy đồi, không đời nào được hưng thạnh hơn nữa; ấy
cũng bởi thời thế rối ren, thay đổi luôn luôn. Như sau đời
Đường đến đời Ngũ Đại (Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu
Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu), chiến tranh thường nổi dậy. Không
những thế, vua Thế Tôn nhà Hậu Chu lại không ưa Phật giáo,
sắc chỉ phá hủy chùa chiền đến 30.336 cái, và đem tượng
đồng, chuông, khánh đúc tiền (đó là nhất Tôn chi ách vậy),
những kinh điển và chương luận của các bậc Cao Tăng tán
lạc hết, Phật giáo tưởng đến tuyệt tích!
Hết
đời Ngũ Đại, nhà Tống nổi lên chấn hưng Phật giáo, nhưng
không thể rực rỡ ngay được nữa. Tuy vậy, những chùa chiền,
tháp tượng đã bị phá hủy, dần dần cũng được dựng
lại, kinh điển được tìm ra khắc lại. Và cũng có sứ sang
Cao Ly tìm kinh điển, nên Phật giáo cũng đỡ điêu tàn. Lần
lượt các đời vua sau hết sức chấn hưng, sai sứ đi cầu
Kinh, cầu Pháp sư Tây Vức về, và sắc dịch kinh điển, nên
Phật giáo lại được hồi phục, tuy có kém trước.
Rồi
dần dần nhà Tống cũng suy yếu, nhà Kim (Mãn Châu) sang xâm
lấn, Phật giáo vì vậy cũng suy. Sau Mông Cổ lại diệt Kim,
Hốt Tất Liệt diệt Nam Tống thống nhất thiên hạ, lập
ra nước Nguyên; tuy các đời vua cũng sùng tín Phật giáo,
nhưng không có việc gì đặc sắc. Nhân lại có Lạt Ma giáo
ở Tây Tạng truyền vào, được vua chúa triều đình sùng
thượng hơn, nên đạo Phật cố hữu ở Trung Quốc càng suy
kém.
Nhà
Nguyên suy, Chu Nguyên Chương nổi lên thay thiên hạ, lập ra
nhà Minh. Minh Thái Tổ lúc nhỏ đã từng làm Sa-di, nên hết
sức ủng hộ Phật giáo. Ngài lại qui định phép tắc cho
Tăng lữ, đặt những Ty Tăng Càng, Tăng chánh, Tăng hội để
chưởng lý các Tăng lữ. Trong phái Tăng đồ có chức hiệu
từ đó. Đồng thời cũng có nhiều Tăng sĩ phiên dịch và
trước thuật kinh luận, nên Phật giáo lại được trùng hưng.
Đến đây có thể nói là thời kỳ vẻ vang sau cùng vậy.
Nhà
Minh tàn, nhà Thanh (Mãn Châu) nổi lên thống nhất thiên hạ.
Thanh Thái Tổ, Thanh Cao Tôn tuy cũng ủng hộ Phật giáo, nhưng
cũng chỉ là bảo thủ thôi Đến đời Thánh Tổ, Thế Tôn
thì Phật giáo càng suy đốn, vẫn có chùa chiền, Tăng sĩ,
nhưng thật ít người thấu hiểu đạo lý của Phật.
Cuối
đời nhà Thanh, sóng văn minh âu Tây truyền vào, thuyết bài
trừ mê tín sôi nổi toàn quốc, Phật giáo càng suy, các chùa
chiền phần nhiều bị đổi ra làm trung học hoặc các việc
công ích khác. Bởi vì sự thật, Phật giáo bấy giờ chỉ
còn hư danh, nói đến Phật học là người ta chỉ nghĩ cúng
cấp mê tín thôi, nên Phật giáo cũng bị người ta lầm cho
là một món tà đạo đầy sự lợi dụng, mê tín. Sau các
nhà văn sĩ, học giả mới nổi lên, đều nghiên cứu triết
lý nhà Phật. Họ nghiên cứu theo khoa học và đồng tán dương
trên sách báo nên Phật giáo nhờ đó lại được quốc dân
tưởng niệm đến.
Đến
thời Tôn Văn nổi lên cách mệnh, xướng thuyết Tam Dân chủ
nghĩa rồi diệt nhà Thanh mà lập nên Dân quốc (1912), dân
chúng càng ảnh hưởng văn minh, thì Phật học lại càng tăng
và đi vào đường nghiên cứu. Nhờ vậy Phật giáo bỗng nẩy
ra những tia sáng mới lạ.
Năm
Dân quốc mới thành lập, ngài Kỉnh Sơn cùng các ngài đồng
chí Sa-môn, cư sĩ, sáng lập Trung Quốc Phật giáo Tổng hội;
các cư sĩ ở Thượng Hải cũng lập Phật giáo cư sĩ lâm,
Phật giáo Tịnh nghiệp xã.
Về
sau này, các Sa-môn cư sĩ dần dần sáng lập những chuyên
môn học hiệu, như: Giảng đường chùa Quán Tôn ở Ninh Ba
(Chiết Giang) do Đế Nhàn Pháp sư chủ giảng; ở Võ Xương
(Hồ Bắc) có Phật học viện do Thái Hư Pháp sư là người
tân học uyên bác chủ giảng; ở Giang Tô có Hoa Nghiêm học
viện; Nam kinh có Hội học viện do Âu Dương Kỉnh Vô chủ
giảng. Trong các đoàn thể nghiên cứu Phật giáo, phần nhiều
có tạp chí làm cơ quan hoằng dương giáo nghĩa, như Phật
học tùng báo, Hải triều âm, Cư sĩ lâm san. Tinh nghiêm nguyệt
san. Chi Na nội học, Oai âm, Vi diệu thanh, Phật giáo tân văn
v.v... đều lục tục xuất bản.
Đến
nay xảy ra nạn Trung Nhật chiến tranh, nên Phật giáo cũng
bị ảnh hưởng, các cơ quan phần bị tạc đạn, phần chạy
loạn, nên công việc hoằng dương đều phải đình đốn cả.
Nhưng các bậc Đại đức Tăng già, Hộ pháp cư sĩ vẫn quyết
chí duy trì ở những nơi đã bị chiếm cứ hoặc chưa bị
chiếm cứ, tưởng sau này thời thế được yên, thì Phật
giáo chắc lại có cơ hồi tịnh vậy[3]
[1]
Mười người để truyền giới, tức Tam sư : Hòa thượng
Đàn Đầu, yêt-ma, Giáo thọ ; Thất chúng là 7 vị Tôn chứng
[2]
Ách vận của đạo Phật trong ba đời vua Võ, một vua Tôn,
Ba Võ là : Thái Võ nhà Hậu Ngụy, Võ Đế Bắc Chu, Võ Tôn
nhà Đường. Nhất tôn là Thế Tôn Hậu Chu
[3]
Phần này hoàn toàn toát yếu trong cuộc “Trung Quốc Phật
giáo tiểu sử” của Trần Bàn Hòa, Mật Thể dịch thuật.