MỤC
LỤC
Lời
khen cuốn Việt Nam Phật giáo sử lược của Hòa thượng Phước
Huệ
Tựa
(Trần Văn Giáp)
Vài
nét về Thiền sư Mật Thể
Lời
nói đầu
Phàm
lệ
Tiểu
dẫn
Phần
Tự Luận
I.1
Chương một: I. Nguồn gốc Phật giáo
-
Lịch sử đức Thỉ tổ Phật giáo.
-
Phật Thích-ca Mâu-ni.
-
Hoàng tử Tất Đạt Đa.
-
Tư tưởng và lòng từ bi đặc biệt của một tâm hồn siêu
đẳng.
-
Một lý tưởng cao siêu.
-
Sự kết quả của bao nhiêu năm sống thắc mắc trước vấn
đề chân lý.
*
Phật giáo ấn Độ qua các triều đại
-
Bốn kỳ kiết tập kinh điển.
-
Nam phương Phật giáo và Bắc phương Phật giáo.
-
Thời đại Phật giáo phát triển.
-
Thời đại Phật giáo diệt vong.
-
Phong trào phục hưng Phật giáo
I.2
Chương hai : II . Phật giáo ở Trung Quốc
-
Phật giáo đời Tây Hán.
-
Đời Đông Hán.
-
Đời Tam Quốc.
-
Đời Tây Tấn.
-
Đời Nam Bắc triều.
-
Đời Hậu Ngụy.
-
Đời Đường.
-
Đời Ngũ đại.
-
Đời Tống - Kim.
-
Đời Nguyên - Minh - Thanh.
-
Đời Dân Quốc.
I.3
Chương ba : III. Địa thế nước Việt Nam
-
Nguồn gốc và tinh thần người Việt Nam
I.4
Chương tư : IV. Tôn phái truyền vào Việt Nam
-
Thiền Tôn
Phần
Lịch sử
II.1
Chương một : Thời đại Phật giáo du nhập
-
Phật giáo đời Bắc thuộc : Mấy vị đến truyền đạo đầu
tiên ở Việt Nam
II.2
Chương hai : Phật giáo đời hậu Lý Nam Đế và đời Bắc
thuộc thứ ba
-
Phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi
-
Khởi điểm phái Thiền tôn ở Việt Nam.
-
Ba đoàn truyền giáo ở Việt Nam.
-
Phái Vô Ngôn Thông
II.3
Chương ba : Phật giáo đời nhà Đinh và đời Tiền Lê
-
Một giai đoạn vẻ vang trong lịch sử Phật giáo.
-
Lần cầu kinh thứ nhất.
II.4
Chương tư : Phật giáo đời nhà Lý
-
Thời đại Phật giáo độc tôn.
-
Lần cầu kinh thứ hai.
-
Sự ảnh hưởng của Phật giáo trong các triều vua Lý.
-
Phái Thảo đường.
-
Sự bắt đầu Phật giáo bị pha lẫn các tà đạo.
-
Phật giáo bước sang thời kỳ bảo thủ.
II.5
Chương năm : Phật giáo đời nhà Trần
-
Vua Trần Nhân Tôn xuất gia, mở đầu phái Trúc Lâm Yên Tử.
-
Nguyên nhân sự sai lạc của Phật giáo.
-
Phật giáo bị áp đảo dưới thế lực của Nho sĩ.
II.6
Chương sáu : Phật giáo đời nhà Hồ đến đời thuộc Minh
-
Sự thiệt hại của Phật giáo.
II.7
Chương bảy : Phật giáo đời Hậu Lê
-
Thời đại Phật giáo suy đồi
II.8
Chương tám : Phật giáo ở thời đại Nam Bắc phân tranh
-
Cơ vận phục hưng.
-
Phái Lân Giác.
-
Phái Nguyên Thiều
-
Mấy vị Danh Tăng ở Trung Hoa sang trong đời chúa Nguyễn.
-
Phái Liễu Quán
II.9
Chương chín : Phật giáo trong thời kỳ cận đại
(triều
Nguyễn)
-
Mấy vị Danh Tăng triều Nguyễn.
-
Hiện trạng suy đồi.
II.10
Chương mười : Phật giáo hiện đại
-
Phong trào chấn hưng Phật giáo
-
Một vài tia hy vọng
Phụ
lục
-
Những dòng kệ của các phái
-
Tư liệu nghiên cứu về :
+
Tổ Nguyên Thiều
+
Tổ Liễu Quán
-
Sách tham khảo
Lời
khen cuốn Việt Nam Phật giáo Sử lược[1]
Tháng
Trọng Xuân năm Quí Mùi, Pháp sư Mật Thể du hành các tỉnh
phía Nam mang theo bản cảo Quốc ngữ cuốn Việt Nam Phật giáo
sử, và thưa với tôi đó là tập sách do Pháp sư trải bao
năm tháng sưu tầm biên soạn mà thành, thỉnh cầu tôi chứng
giám. Tôi nhận lấy bản cảo và đọc kỹ. Mỗi khi đêm tĩnh
đèn cao, ngồi bên cuốn sách, nghĩ đến Sư đã từng có năm
theo học nơi tôi, tôi biết được chí hướng và nguyện vọng
của Sư. Ngoài việc tu học, Sư chưa từng lưu tâm đến việc
phiên dịch trước thuật nhằm cho sự nghiệp hoằng pháp.
Xưa
kia Phật giáo từ Đông độ sang, truyền nhập vào nước Nam
ta đã hơn ngàn năm. Chư vị đạo Tổ Thánh Tăng tương tục
phát xuất công đức, chiếu sáng lịch sử, há đâu từng
mai một. Ngày hôm nay đây có được cuốn sách này, chẳng
những có công với Phật giáo mà còn có công với Phật học
vậy. Do đó tôi vui mừng vô lượng vô biên, vội có mấy
lời tán thán.
Phật
giáng thế 2506, tháng ba mùa Xuân,
Chùa
Thập Tháp, Bình Định
Hòa
thượng Phước Huệ.
Tựa
Phật
giáo khởi thủy ở ấn Độ, truyền đi khắp các xứ lân
cận. Trước hết sang các nước Trung á Tế á rồi thứ độ
sang Tây Tạng, Trung Hoa, Cao Ly, Nhật Bổn và các nước miền
Nam Châu á. Việt Nam ta cũng ở trong phạm vi ảnh hưởng ấy.
Mỗi khi Phật giáo vào xứ nào thì tùy theo tính tình, phong
tục, quốc độ, thời cơ xứ ấy mà phương tiện truyền
thụ. Phật giáo mỗi xứ có một tinh thần và một tính
cách khác nhau cũng như lịch sử các xứ ấy Nên muốn khảo
về Phật giáo một xứ nào cần phải chia ra làm hai phần
: Phần Lịch sử và phần giáo lý cùng triết lý. Lịch sử
có khảo cứu được rõ ràng thì giáo lý, triết lý suy nghiên
mới được vở vạc.
Hỏi
đến Lịch sử Phật giáo Việt Nam nhà thì ai cũng bảo: “Có
từ Đinh, Lê trải qua Lý, Trần, Lê rồi đến bản triều”,
tựa hồi như một vấn đề giản dị quá. Thật vậy, các
quan sử phần nhiều chỉ thấy có nói đến Phật giáo đời
Đinh mà thôi. Biết đâu bất đầu từ Đinh, Việt Nam ta đã
nhận Phật giáo làm Quốc giáo, đặt Tăng quan trong triều,
thì chắc hẳn Phật giáo hồi đó đã tới một trình độ
thịnh đạt lắm rồi. Bởi thế trong vấn đề Phật giáo
truyền vào từ bao giờ? Truyền vào cách nào? Đường nào?
Từ phía Bắc hay từ phía Nam? Ấy, chính những câu hỏi ấy,
khiến ta phải để tâm nghiên cứu.
Những
sách nói về vấn đề Lịch sử Phật giáo Việt Nam tuy không
phải không có, nhưng cũng không lấy đâu được nhiều, mà
cũng không phổ cập mọi người. Bất quá chỉ vỏn vẹn được
vài ba bộ như : Thiền uyển tập anh, Thống yếu kế đăng
lục, Đạo giáo nguyên lưu v...v và một vài bộ Ngữ lục
cùng năm ba thiên truyện ký các vị Cao Tăng. Vì những nỗi
eo hẹp khó khăn ấy, nên mấy ai đã có cái hứng thú về
đường trước thuật, mà có một ít - rất ít - cũng dấu
trong chùa riêng, sao đi chép lại, chắc chưa có bản nào là
hoàn thiện mà ai cũng được xem. Tuy vậy có còn hơn không
: nhờ có những sách ấy của tiền nhân ta để lại mà ta
biết được chút ít về Lịch sử Phật giáo nước nhà. Há
không phải là những tài liệu quý hóa cho môn sử học này
hay sao?
Khốn
nỗi những sách ấy viết toàn bằng chữ Hán cả Đối với
phái xuất gia không kể, còn quốc dân ta, từ khi Hán học
không được nhận dạy ở các trường công, học giới
ta lấy Quốc văn và Pháp vặn thay vào. Các bậc tân tiến
ngày nay đối với kho sách chữ Hán xưa gần như chim chích
vào rừng. Nếu không dịch ra chữ Quốc ngữ thì các tài liệu
quý hóa ấy cũng chẳng bổ ích cho học giới được bao nhiêu.
Vậy
ngày nay trong Thiền gia học giới có người dụng công sưu
tập cả tài liệu Hán văn, Quốc văn cùng Pháp văn, đem dịch
thuật, sửa soạn phô diễn làm thành một quyển sách khiến
độc giả có thể biết qua cả Lịch sử Quốc giáo Việt
Nam trong mấy nghìn năm, há chẳng có ích lắm ru ! Không những
thế, những tài liệu đã sưu tập lại là tài liệu quý giá
cho sử học giới sau này, thì dù ở trong không khỏi có điều
sai lầm khiếm khuyết, song
về
môn tài liệu thì sách này vẫn là có công to.
Chính
vì các lẽ ấy, nên xin giới thiệu cùng các học giả và
các Phật tử Việt Nam sách “Việt Nam Phật giáo sử lược”
của Thượng tọa Mật Thể, giáo sư Trường Sơn Môn Phật
học Huế. Mong rằng Thượng tọa bền chí sửa tập, cố gắng
làm thêm cuốn VIỆT NAM PHẬT GIÁO GIÁO LÝ thì thật bổ ích
cho tương lai Phật giáo Việt Nam nhà ta lắm vậy.
Riêng
phần chúng tôi lấy làm mong mỏi vô cùng.
Nay
kính đề
Thúc
Ngọc : TRẦN VĂN GIÁP
Viết
tại Thư viện chùa Quán sứ
Trụ
sở Trung ương Hội Phật giáo Bắc kỳ - Hà Nội
ngày
nhập đông tháng mười năm Nhâm Ngọ (1942).
Vài
nét về Thiền sư Thích Mật Thể
(1913
- 1961)[2]
Thiền
sư tên thật là Nguyễn Hữu Kế, sanh năm 1912 ở làng
Nguyệt Biểu, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thành phố
Huế.
Chánh
quán huyện Tống Sơn, Gia miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa,
dòng Thích Lý của cụ Nguyễn Hữu Bộ.
Lúc
nhỏ theo học Nho giáo và Quốc ngữ chương trình Pháp Việt.
Thiền sư đã đỗ Primaire. Người thông minh, lanh lợi.
Gia
đình đều qui hướng theo Phật. Cụ thân sinh và người anh
ruột cũng đều xuất gia làm đệ tử chốn Thiền lâm.
Lên
12 tuổi, Thiền sư được thân sanh đem về chùa Diệu Hỷ
(Huế) cho tu học. Hằng ngày cần mẫn học tập. Bản chất
thông minh nên chả mấy chốc tiếp thu một cách mau chóng Kinh
Luật căn bản của Phật giáo.
Lên
16 tuổi Thiền sư nhập chúng ở chùa Từ Quang với Hòa thượng
Giác Bổn. Nhận thấy Thiền sư là người xuất sắc, đảm
đang, nên cho vào tu học ở chùa Trúc Lâm với Hòa thượng
Giác Tiên. Khi vào đây như cá gặp nước, rồng gặp mây,
Thiền sư lại được gần Thầy gần bạn, học hỏi chuyên
cần nên trí huệ mau chóng phát triển.
Năm
lên 18 tuổi, Thiền sư được Hòa thượng Giác Tiên thế độ
và cho thọ Sa-di giới với Pháp danh Tâm Nhứt, Pháp tự là
Mật Thể.
Năm
1932, Hoà thượng Giác Tiên thỉnh đại lão Hòa thượng Phước
Huệ chùa Thập Tháp tỉnh Bình Định ra khai giảng Phật học
đường ở chùa Trúc Lâm và Tây Thiên, Thiền sư được đặc
cách cho theo học lớp này.
Năm
1935, Hòa thượng Bổn sư viên tịch. Năm 1937 Hòa thượng Thập
Tháp vì tuổi già không thể dạy tiếp nên trở về Tổ đình
Thập Tháp ở Bình Định an nghỉ. Thiền sư xin với Sư huynh
sang Trung Quốc nghiên cứu về Phật học ở Viện Phật học
Tiêu Sơn do Hòa thượng Tinh Nghiêm làm Trú trì.
Cuộc
chiến tranh Hoa-nhật bùng nổ, năm 1938 Thiền sư trở về Việt
Nam làm Giảng sư cho Sơn môn Phật học và An Nam Phật học
Hội. Trong thời gian này Thiền sư trước tác quyển Việt
Nam Phật giáo Sử lược. Ngoài ra còn dịch tiếp quyển Phật
giáo Khái luận, Phật học dị giải và kinh Đại thừa vô
lượng nghĩa.
Năm
1941, Thiền sư nhận làm giáo thọ cho Phật học đường Lưỡng
Xuyên tại Trà Vinh được một năm rồi trở ra Huế.
Đến
năm 1944, Thiền sư thọ Cụ túc giới ở Giới đàn tại chùa
Thuyền Tôn do Hoà thượng Giác Nhiên làm Đàn đầu.
Trong
Giới đàn này Thiền sư đứng đầu các giới tử và được
công nhận là Thủ Sa-di.
Năm
1945, Thiền sư được Sơn môn cử giữ chức Trú trì chùa
Phổ Quang ở cố đô Huế. Những văn nhân nghệ sĩ tên tuổi
thời bấy giờ như cụ Trần Văn Giáp, Phạm Quỳnh, Khái Hưng
. . . đều đặn đến chùa Phổ Quang đàm đạo với Thiền
sư.
Năm
1946, Thiền sư tham gia Phong trào Phật giáo cứu quốc khi Chính
phủ Lâm thời tổ chức Tổng tuyển cử, Thiền sư được
đề cử ra ứng cử đơn vị Thừa Thiên và đắc cử Đại
biểu Quốc Hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Cũng năm 1946 này, Thiền sư được mời làm Chủ tịch ủy
ban Phật giáo Cứu quốc tỉnh Thừa Thiên. Trong những năm
sơ tán, Thiền sư về ở Nghệ An và viên tịch tại đây.
Thiền
sư trụ thế 49 năm, thị tịch năm 1961 tại Nghệ An. Những
tác phẩm của Thiền sư đã xuất bản từ năm 1941-1957 gồm
có :
- Phật
giáo yếu lược.
- Phật
giáo khái luận.
- Cải
tổ sơn môn.
- Xuân
đạo lý.
- Đại
thừa Vô lượng nghĩa.
- Việt
Nam Phật giáo sử lược.
Trong
thời gian ở Nghệ An, Thiền sư đã phiên dịch và trước
tác Kinh Luật Luận rất nhiều, nhưng hiện nay đã thất lạc
vì chiến tranh. Tháp của Thiền sư hiện đã được cải táng
ở chùa Trúc Lâm - Huế.
Lời
nói đầu
Đứng
về phương diện tuyệt đối mà nói, chân lý vốn không có
thời gian và không gian. Thời gian và không gian đã không, thì,
trên cõi đời này có cái gì đáng gọi là lịch sử và ai
là nguội chép lịch sử ? Xưa đức Phật tổ qua 49 năm thuyết
pháp giáo hóa, khi gần nhập Niết-bàn, Ngài muốn khai thị
cho chúng biết đạo lý "bất nhị pháp môn", Ngài dạy: Ta
xưa nay chưa từng nói một chữ[3]
Huyền
diệu thay ! Câu nói tuy rất vắn tắt, đơn sơ mà bao hàm biệt
bao ý nghĩa. Vì sao ? Với chân lý tuyệt đối bản thể "pháp
giới thanh tịnh tâm " thì văn tự hay ngữ ngôn đều là thừa
cả.
Đành
vậy, nhưng cuộc đời này là tương đối. Trăm ngàn hiện
tượng phô diễn trước mặt, người ta không thể cùng nhau
bảo là không được. Toàn thể nhân loại chúng sinh đã mê
lầm, nhận vạn hữu trong vũ trụ cho là thật có, nên đã
manh tâm tranh dành kiến thiết, để mưu cầu sự tiến hóa
hạnh phúc. Nhưng trái lại, chỉ cùng nhau quay cuồng hụp lặn
trong biển khổ ! Nỗi nguy hại của lịch sử đã biểu diễn
ra rành rành, sao người ta không chịu xóa nhòa nó đi, để
mọi người được sống trong cảnh giới hòa đồng, không
còn phân chia văn hóa, chủng tộc của mỗi địa giới ? Nói
vậy, không phải tôi bi quan, phủ nhận sự tiến hóa hiện
thời của nhân loại. Nhưng tiến hóa bằng cách nào chứ ?
Nếu tiến hóa mà buộc nhân loại mãi rước lấy sự chém
giết lẫn nhau, thì khốc hại biết chừng nào ?
Mục
đích và tinh thần Phật giáo vốn dắt dẫn mọi người đạt
đến chân lý tuyệt đối. Và, chúng tôi bao giờ cũng thể
theo tâm “Vô tướng” của chư Phật, chân lý tuyệt đối
của “pháp giới” mà tu trì; ngoài ra không dám manh
tâm tranh dành một địa vị hay một thiên lịch sứ gì cho
Phật giáo hay cho cá nhân ở trong xã hội nhân loại này. Chẳng
qua với giữa hoàn cảnh người người đều xem trong lịch
sử, suy tầm lịch sử, mà Phật giáo lại là nền giáo lý
vốn sẵn phương tiện tùy duyên khai hóa, đủ có pháp này
pháp kia cho hết thảy mọi người biết mà tu học.
Vậy
Phật giáo đã là một hiện tượng trên thế giới, nói hẹp
là một tôn giáo đã truyền vào nước Việt Nam này, lẽ nào
lại không có một lịch sử truyền bá ?
*
Kể
Phật giáo từ khi truyền vào đất Việt Nam ta đến nay đã
gồm có cái lịch sử gần 2.000 năm. Qua các triều đại Đinh,
Lê, Lý, Trần, Lê không phải là không thạnh và, Phật giáo
không bổ ích cho thế đạo nhơn tâm. Các vị Tổ sư, các
bậc Cao Tăng xưa như ngài Pháp Hiền Thiền sư, Khuông Việt
thái sư, Vạn Hạnh Thiền sư, Cảm Thành Thiền sư và Trúc
Lâm tam tổ v.v... đã từng đem chỗ tu học hoằng pháp của
mình mà mở mang nền đạo đức văn hóa cho nước nhà không
phải là ít.
Thế
mà trừ một ít tài liệu chép rải rác trong các sách
sử và một đôi quyển Ngữ lục gia phổ ở các chùa, thì
không còn có một quyển sách nào cụ thể đáng gọi là một
quyển lịch sử có tổ chức để làm gương soi chung cho người
sau, noi theo đó biết được điều hay cần bắt chước, điều
dở phải tránh xa, đặng giúp về sự xét đoán trên bước
đường tu học hoằng pháp. (Nói thế chứ tôi đâu dám chỉ
trích gì cổ nhân. Không, tôi biết lắm ! - 1. Người
xưa tánh tình thuần phác, vả lại nền kinh tế kỹ nghệ[4]
chưa được phát triển mấy, nên người học đạo (Phật
hay Nho cũng vậy) cột để tu tâm dưỡng tánh, chứ đâu phải
để chuyên về mặt văn hóa trước thuật. Vì vậy, không
những riêng về Phật giáo
thiếu
quan niệm lịch sử mà cho đen thế gian các bậc tiền bối
ta cũng thiếu hẳn quan niệm ấy. Huống nữa Phật giáo là
một tôn giáo chứa đầy tư tưởng “vô tướng”. Người
hành đạo dù có làm việc gì to lớn đến đâu cũng không
cần ai biệt và chẳng lưu tâm biên chép điều đó để lại
làm gì. 2. Nước Việt Nam ta là một nước nhỏ ở gần một
nước lớn - Trung Hoa, ngót 1000 năm nội thuộc, hết thảy
văn hóa, giáo dục đều phải học đòi theo những sách vở
mà họ chở qua cho ta đọc còn không hết, có thì giờ đâu
mà nghĩ đến việc trước tác. Vả dù có nghĩ đến việc
trước tác thì, viết chữ Hán chi bằng đọc sách họ là
hơn, mà nếu viết bằng tiếng nước nhà thì chữ Nôm ta thời
ấy còn cho là nôm na, không có giá trị, chi bằng thôi là
xong. Những khuyết điểm ấy ta phải nhận là một công lệ
của thời đại trước. Mà thật ra người đương thời đó
cũng không lấy thế cho là khuyết điểm).
Ngày
nay nhơn phong trào học thuật tiến bộ, tư tưởng người
ta đã quan niệm nhiều về lịch sử. Riêng về Phật giáo
phần đông người học Phật cũng muốn biết đến tung tích
nền Phật giáo của nước nhà mình thế nào ... Vẫn biết
học đạo chỉ tìm thấy con đường về là được cần gì
phải hỏi đến Tổ tông[5] . Nhưng thiết nghĩ, nếu biết
được Tổ tông thì lại có hại gì ? Vả lại bước đầu
nếu không biết Tổ tông thì nương vào đâu mà tìm thấy
được con đường về.
Vì
thiên kiến, muốn thích ứng với nhu cầu của thời đại,
bổ khuyết vào chỗ khuyết hám trên nền Lịch sử Phật giáo
nước nhà, quyển Việt Nam Phật giáo sử lược này ra đời.
Nói lại lần nữa, bản ý chúng tôi không vì xua đùa theo
danh lợi, hay phô trương cái hay cái giỏi trong Phật giáo,
mà chỉ một lòng vì văn
hóa
học thuật, đi với mục đích hoẵng pháp lợi sanh, chỉ mong
được làm - dù công việc gì, nhiệm vụ của một Phật tử
trong một thời đại.
Những
tài liệu chúng tôi dùng viết sách này, về phương diện Phật
học phần nhiều căn cứ vào quyển Việt Nam Thuyền uyển
tập anh, Thống yêu kế đăng lục, Việt Nam Thuyền tôn
thế hệ và quyển Le Bouddhisme An-nam des origines au XIII è siècle
của Trần Văn Giáp tiên sanh. Còn về sách ngoài thì có bộ
Quốc Triều tiền biên. Chánh biên, lịch sử nhân vật chí,
Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Việt ký,
Đại Nam nhất thống chí, Việt Nam sử lược v.v… Tóm lại
những sách vở hoặc báo chí gì đã dùng làm tài liệu để
kê cứu trong khi việt sách này, chúng tôi đều có kê vào
mục sách tham khảo rõ ràng để tiện độc giả khi muôn xét
lại điều gì. Tiếc vì không gian quyển sách này có hạn
và mọi phiền tạp trong sự biên tập nên chúng tôi không
thể đánh dấu hết sơ xuất của mỗi chỗ được. Điều
đó, tưởng độc giả cũng xét biết mà lượng thứ cho.
Nội
dung sách này chia làm hai phần : Tự luận và Lịch sử. Phần
Tự luận chia làm bốn chương. Trước hết thuật qua lược
sử đức Thủy tổ Phật giáo và tình hình duyên cách Phật
giáo ở ấn Độ, rồi đến Phật giáo ở Trung Hoa; địa thế
nước Việt Nam, nguồn gốc và tinh thần người Việt Nam v.v...
Về phần Lịch sử chia làm mười chương. Bắt đầu khảo
xét Phật giáo từ khi mới du nhập, lần lượt qua các triều
đại cho đến hiện đại.
Trong
khoảng thời gian gần 2000 năm, sự bố giáo của liệt vị
Tổ sư ra thế nào, tình cảnh thạnh suy của Phật giáo qua
các triều đại ra thế nào, chúng tôi đều tham hiệp với
tình hình chính trị, kinh tế của mỗi thời đại trong nước
mà ghi chép rõ ràng kỹ lưỡng. Sau mỗi tôn phái lại có một
bản đồ kê về thế hệ cho độc giả tiện bề tham khảo.
Chúng tôi không dám tự nghĩ là đã hoàn toàn trong công cuộc
khảo xét, nhưng với tài liệu xưa, chúng tôi cố tìm và cố
chọn lấy những điều xét thật đáng tin. Chúng tôi không
có xa vọng gì hơn là mong sách này nó chỉ là một cuộn đại
quan về một thiên lịch sử, phận sự của nó là mở đường
cho những cuốn Việt Nam Phật giáo sử sau nầy.
*
Chúng
tôi vẫn nhận thấy khảo xét lịch sử là một công việc
rất lớn lao, không phải riêng phần cá nhân mà đảm đương
nổi. Riêng về Phật giáo, Thượng Chi tiên sanh cũng đã từng
than : “Sưu tầm tài liệu để viết quyển Việt Nam Phật
giáo sử là một việc rất khó”[6]. Nhưng chúng tôi đã đem
hệt nhiệt tâm, nhận lấy một trách nhiệm, trong ba, bốn
năm nay với sự yếu đau, với những khi mệt nhọc, chúng
tôi vẫn cố gắng quyết đeo đuổi một mục đích : Phụng
sự Phật giáo.
Trong
sự biên tập cũng nhờ có nhiều thiện hữu tri thức đã
giúp cho tôi, hoặc về tài liệu, hoặc biên chép hay cho những
đoạn Pháp văn có quan hệ đến Lịch sử Phật giáo. Tiếc
rằng không thể ghi hết được, vậy xin các bạn hoan hỷ
nhận lấy ở đây, lòng thành thật cảm ơn của tôi.
Và
chúng tôi rất trông mong các bậc Đại đức trong các Sơn
môn cùng các học giả, cư sĩ trong nước, sau khi quyển sách
này ra đời nếu được may mắn nằm trên tay quí ngài, như
còn chỗ nào sai lầm khuyết điểm, xin quí ngài vui lòng chỉ
giáo lại cho. Chúng tôi rất chân thành cảm tạ.
ĐIỀU
NGỰ TỬ MẬT THỂ
Viết
ở Trúc Lâm - Huế
Giữa
mùa Xuân năm Quí Tị
(Phật
lịch : 2506 - Tây lịch : 1943)
PHÀM
LỆ
1.
Phần Tự luận trong sách này, vì thảo luận các vấn đề
có hơi dài sau nghĩ muốn bỏ đi, nhưng lại tiếc cái công
trình đã thảo ra nó. Vậy độc giả muốn hiểu ngay tình
hình của một thiên lịch sử, xin hãy giở ngay phần lịch
sử đọc trước, khi rỗi rảnh sẽ tham khảo phần Tự luận
sau, cũng không ngại gì.
2.
Những bản đồ trong sách này, trừ bản A, bản H, và bản
I ra, còn các bản khác đều theo sự sắp đặt của Trần
tiên sanh trong sách Le Bouddhisme en An-nam ... Chẳng qua đoạn
dưới bản đồ G, tác giả có sửa lại mấy tên cho đúng
hiệp với thứ tự về những chữ trong giòng kệ.
3.
Kể ra Phật giáo ở Trung kỳ gần đây, ngoài phái Nguyên Thiều
và Liễu Quán, còn có các phái nhỏ khác, gốc ở hai phái
trên mà lập ra, đặt riêng một giòng kệ khác. Nhưng sự
truyền thống không được phát đạt lắm, nên đại khái
không thể chép thành bản đồ được
4.
Bất cứ một tôn giáo này, truyền vào nước nào, về sự
thạnh suy đều có liên quan bởi các vấn đề chính trị,
kinh tế, xã hội của các thời đại trong nước ấy. Sách
này vì muốn khởi hứng cho độc giả, nên tác giả dựa theo
tình hình của các thời đại trong nước, lược thuật một
cách rõ ràng, độc giả khi đọc rất có nhiều thú vị.
5.
Sách này viết xong vừa gặp thời cuộc chiến tranh ngày thêm
rắc rối, đối với vấn đề ấn loát thật trăm phần khó
khăn, nên đành phải để nằm trong tủ một thời gian, nay
mới đem in được. Vậy các giáo hữu xa gần, hữu tâm mong
đợi xin vui lòng lượng thứ.
TIỂU
DẪN
Theo
tục truyền, nước Việt Nam ta khai quốc bắt đầu từ dời
Hồng Bàng (2879 trước TL..?) lấy quốc hiệu là Xích
Quỷ.
Bấy
giờ dân ta còn mông muội lắm, ngoài sự tín ngưỡng thần
trời (ông Sâm, mụ Sét), thần cây, thần đá v. v… như các
dân mọi rợ hiện giờ, thì cũng không có một tín ngưỡng
gì thuộc về một tôn giáo nào nữa.
Điều
đó không có gì là lạ; bởi không luận dân tộc nào, hễ
còn ở vào cái thời kỳ dã man, trí thức chưa được nảy
nở, thì về phần tín ngưỡng, đại khái đều giống nhau.
Và người ta còn dùng bao nhiêu câu thần thoại để giải
thích những hiện tượng mà người đương thời đó cho là
bí mật khó hiểu trong vũ trụ. Như chuyện Sơn tinh, Thủy
tinh trong I.ích sử nước ta chẳng hạn v.v.. Nên ta có thể
nói sự tín ngưỡng ấy là một Thần đạo rất phổ biến
của nhân loại buổi sơ khai.
Đến
đời Tần Thủy Hoàng sai Đề Thư đem quân sang đánh Bách
Việt (Quảng Đông, Quảng Tây và Bắc kỳ bây giờ), (214 trước
TL), cho đến khi Triệu Đà nổi lên làm bá chủ cả quận
Nam Hải và Âu Lạc (tên cũ nước ta ngày xưa) (207 trước
TL) thì dân ta mới bắt đầu tiếp xúc với văn hóa Trung Quốc.
Tuy vậy cũng chưa được hấp thụ gì mấy.
Mãi
đến đầu thế kỷ, sau khi Lộ Bác Đức diệt xong họ Triệu,
các vua Trung Quốc mới nghĩ đến việc truyền bá văn chương,
lễ nghĩa sang lãnh thổ mới. Nhưng thật ra, thời ấy họ
cũng chỉ dạy cho một số ít người hiểu sơ về lễ giáo
và đủ làm thông ngôn mà thôi.
Đến
đời Sĩ Nhiếp, nghĩa là bắt đầu vào khoảng năm 178, họ
Sĩ được lãnh chức Thái Thú ớ đất này, bấy giờ sự
giáo dục mới có tổ chức, các học thuyết Khổng, Mạnh
mới bắt đầu truyền bá một cách rõ rệt. Trong khi họ Sĩ
đương đem Nho học khai hóa cho dân ta, đồng thời Phật giáo
cũng ở ấn Độ và Trung Quốc truyền vào; sau Phật giáo lại
có Lão giáo, cũng truyền vào lúc này.
Thế
là dân nước ta đến đây đã có được ba tôn giáo. Tựu
trung Phật giáo trước tiên được nhận làm Quốc giáo và
được nhân dân sùng tín hơn cả. Nhờ tinh thần sáng suốt
của thể đạo, với công nghiệp bố giáo của các Tổ sư,
Phật giáo rất có công to trên lịch sử văn hóa nước nhà.
…Mà
Phật giáo là gốc ở ấn Độ truyền qua Trung Quốc sang ta;
vì sự liên quan ấy, nên trước khi muốn rõ Lịch sử Phật
giáo Việt Nam, ta cần phải biết qua nguồn gốc Phật giáo
Ân Độ và Phật giáo Trung quốc. Điều đó tưởng cũng không
phải là vô ích.
[1]
Tường Như Lược dịch
[2]
Có tham khảo lời Sư bà Diệu Không kể do Lệ Như ghi năm
1985. Tiểu sử này được công bố năm 2004
[3]
Ngô bổn lai bất thuyết nhất tự. Đồng với tư tưởng này
Lão Tử nói: “Đại biện nhược nói”
[4]
Ngày xưa sự khắc bản in sách rất khó, nên ai có làm được
quyển gì chỉ để đựng trong nhà, ít khi có dịp in thành
sách mà công bố cho đời.
[5]“Xú
đồ thành trệ, phất Tổ thành oan”? Câu thoại đầu của
phải Thiền tôn…“Kim triệu nguyện môn hoàn gia lý, hà tất
bôn man vân tổ tông" - Liễu Quán.
[6]
Phật giáo lược khảo - Nam Phong 40 (Mà cũng khó thật, sách
vở nước ta ngày xưa ghi chép hết sức lan man. Đến đời
Trần Nhân Tôn lại bị người Chàm kéo vào cướp đốt khắp
nơi; đời Hồ lại bị tướng Minh thu hết cả sách vở đem
về Kim lăng (Trung Quốc) trước khi Gia Long phục quốc lại
phải mấy năm chiến tranh với Tây Sơn nên sách vở và bia
ký các chùa cũng đã tiêu tán mất nhiều