BẢY
NHÁNH
Để
thọ nhận các sự ban phước của Guru Rinpoche, chúng ta cũng
cần hoàn thiện các sự tích tập công đức và trí tuệ.
Để có được hai sự tích tập ấy, phương pháp dễ dàng
nhất và thiết yếu nhất là phương pháp bảy nhánh. Theo tập
tục thông thường, khi đón mừng một nhân vật quan trọng,
chúng ta dâng lên họ một vài biểu hiện sự tôn kính của
chúng ta, một vài hình thức tôn kính như một lễ lạy, một
chỗ ngồi tiện nghi, và sau đó một vài món ăn và uống thơm
ngon. Tương tự, nhưng ở mức độ cao hơn, khi chúng ta cầu
thỉnh Guru Liên Hoa Sanh đến từ cõi Phật của ngài, chúng
ta thực hiện các sự cúng dường ngài. Nói chung, có một
công đức to lớn không thể nghĩ bàn trong việc cúng dường
chư Phật. Tuy nhiên, có nói rằng chỉ cúng dường một giọt
dầu cho một lỗ chân lông duy nhất trên thân thể bậc Đạo
Sư thì có nhiều công đức và lợi lạc hơn là cúng dường
vô hạn cho tất cả chư Phật. Đặc biệt, nếu chúng ta cúng
dường, lễ lạy, hoặc sám hối lỗi lầm trước bậc Đạo
sư, thì công đức và các lợi lạc sẽ được tăng trưởng
mạnh mẽ và sự tịnh hóa các che chướng và ô nhiễm của
ta sẽ nhanh chóng hơn.
SỰ
LỄ LẠY
Nhánh
đầu tiên trong bảy nhánh là sự lễ lạy. Khi tự quán tưởng
mình là Vajrayoginī, bây giờ chúng ta phóng ra một Vajrayoginī
thứ hai, ngài, với Guru Rinpoche an trụ trên đỉnh đầu, đứng
trước mặt chúng ta. Rồi từ chính mình, chúng ta phát ra vô
số thân thể nhiều như bụi trong vũ trụ.
Để
thực hành sự lễ lạy, chúng ta nên bắt đầu bằng cách
đứng trong một tư thế thật quân bình. Chúng ta chắp hai
bàn tay hơi chụm lại để làm thành hình một nụ sen sắp
nở, tượng trưng cho sự phát khởi bodhicitta (Bồ Đề tâm).
Kế đó chúng ta đặt hai bàn tay chắp lại ở ngang trán và
nghĩ tưởng: “Con kính lễ phương diện thân của tất cả
chư Phật.” Ở đây chúng ta đang tịnh hóa tất cả các che
chướng và ác hạnh của thân. Rồi chúng ta đưa đôi bàn
tay chắp xuống ngang cổ họng và nghĩ: “Con kính lễ phương
diện ngữ của tất cả chư Phật.” Ở đây, tất cả các
che chướng và ô nhiễm của chúng ta liên quan với ngữ được
tịnh hóa. Đưa đôi tay chắp lại xuống ngang trái tim, chúng
ta nghĩ: “Con kính lễ phương diện tâm của tất cả chư
Phật.” Ở đây, tất cả các che chướng và cảm xúc tiêu
cực của chúng ta được tịnh hóa. Qua chuỗi cử chỉ và
tư tưởng này, chúng ta nhận lãnh các sự ban phước của
thân, ngữ, và tâm của tất cả chư Phật.
Khi
chúng ta lễ lạy và chạm đất ở năm điểm – trán, hai
bàn tay, và hai đầu gối của ta – chúng ta nên nghĩ rằng
bằng cách này chúng ta kính lễ Ngũ Bộ Phật, và qua cách
này chúng ta chuyển hóa năm độc thành năm trí tuệ.
Sự
lễ lạy đầy đủ được coi là lễ lạy của lòng sùng mộ,
thực hiện bằng cách nằm sóng soài trên mặt đất với hai
tay và chân hoàn toàn duỗi ra, thậm chí đem lại những lợi
lạc to lớn hơn và một sự tịnh hóa nhanh chóng hơn. Khi chúng
ta nhỏm dậy từ sự lễ lạy đầy đủ này, các bàn tay ta
trượt lùi trên mặt đất, chúng ta nên nghĩ tưởng ta đang
nhận vào mình nỗi khổ của tất cả chúng sinh.
Chúng
ta dùng thân thể ta để thực hiện các lễ lạy thuộc vật
lý, sử dụng ngữ của ta để trì tụng lời Cầu nguyện
Bảy nhánh, và sử dụng tâm ta để quán tưởng Guru Rinpoche
ở trước mặt ta được đoàn tùy tùng rộng lớn như mây
của ngài vây quanh. Chúng ta nên thực hành sự chánh niệm
đối với từng phương diện này, nỗ lực duy trì sự trong
sáng và chính xác trong việc quán tưởng, sự tỉnh giác về
ý nghĩa của việc trì tụng, và sự chú tâm tới thân thể
khiến nó thực hiện với sự quân bình, đúng đắn, đĩnh
đạc, và kỷ luật.
Có
ba cấp độ đối với sự thực hành lễ lạy. Ở cấp độ
cao nhất, chúng ta nhận thức cái thấy về bản tánh tuyệt
đối, cốt tủy của Phật Quả. Nhận thức này chính là sự
lễ lạy sâu xa và tôn kính nhất. Ở cấp độ trung bình chúng
ta hòa lẫn sự thiền định của mình với hành vi lễ lạy
khi quán tưởng vô lượng chúng sinh và các hóa thân của chính
chúng ta cùng thực hiện sự lễ lạy. Ở cấp độ thông thường
chúng ta thực hiện lễ lạy với sự tỉnh giác và đức tin.
Có
nói rằng trong việc thực hiện một lễ lạy duy nhất đã
đầy đủ công đức bảo đảm có được những tái sinh trong
thân tướng của một Đại Đế nhiều như những hạt bụi
ở dưới thân thể nằm dài ra của chúng ta. Đó là bởi sự
khiêm tốn chân thực là cánh cửa mở dẫn tới mọi điều
cao quý của sự sống, trong khi sự tự phụ, thành trì của
bản ngã, thì hoàn toàn cản ngăn những ân phước của chư
Phật đến với chúng ta, vì thế chặn đứng bất kỳ tiến
bộ nào trên con đường.
SỰ
CÚNG DƯỜNG
Nhánh
thứ hai trong bảy nhánh là sự cúng dường, đối trị tính
tham lam và keo kiệt, gồm hai phương diện: các sự cúng dường
bên ngoài hay vật chất và các sự cúng dường bên trong hay
tinh thần. Trên bàn thờ, chúng ta đặt các chén nước, hương
hoa, các ngọn đèn, dầu thơm, thực phẩm, và một lễ vật
tượng trưng cho âm nhạc. Đây là bảy vật cúng dường vật
chất theo truyền thống. Nhờ năng lực tập trung của chúng
ta, ta có thể cúng dường sự hiển lộ bao la của toàn thể
các hiện tượng, tức là “ấn của sự hiện hữu.” Điều
này có nghĩa là chúng ta thực hiện một sự cúng dường toàn
thể vũ trụ, không bằng cách thông thường mà bằng một
hình thức tôn vinh. Ví dụ như núi non, ngoài vẻ đẹp thông
thường, ở đây được hoàn toàn làm bằng vàng, bạc, san
hô, ngọc báu, và tất cả các vật chất quý giá; rừng rậm
tươi tốt với các trái cây như ý; và các sông hồ tràn ngập
amrita, chất cam lồ bất tử. Chúng ta không chỉ cúng dường
các thứ này, nhưng cũng cúng dường tất cả những gì dễ
chịu và đẹp đẽ mà ta thấy quanh ta, như các vườn tược
và công viên, hoa cỏ, chim muông, thú vật, và ngay cả vẻ
nguy nga của các thành phố lớn với mọi sự giàu có và phong
phú của chúng. Chúng ta cúng dường tất cả những thứ này
cho Guru Rinpoche và đoàn tùy tùng của ngài gồm chư Phật và
Bồ Tát, bằng cách đó chúng ta tích tập công đức to lớn.
Cách
thức phi thường và hiệu quả nhất của việc thực hiện
sự cúng dường như thế là Sự Cúng dường như Mây của
Đức Phổ Hiền: khi quán tưởng chính ta là Bồ Tát Phổ Hiền,
từ tim mình chúng ta phóng ra hàng ngàn tia sáng chói lọi, mỗi
tia sáng đó mang theo các vật cúng dường rộng lớn cho chư
Phật khắp mười phương. Trên đầu mỗi tia sáng này lại
có Đức Phổ Hiền, và lại có những tia sáng và vật cúng
dường và v.v… cho tới khi tất cả sự bao la vĩ đại của
không gian hoàn toàn tràn ngập các vật cúng dường vô hạn.
Thêm vào đó, chúng ta cần cúng dường từ sâu thẳm của
trái tim ta bất kỳ điều gì ta yêu quý nhất trong thế gian
như thân thể chúng ta, con cái, vợ chồng, tài sản của ta…Chúng
ta nên thực hiện nhiều sự cúng dường trong khả năng của
ta, cả tinh thần lẫn vật chất, như hàng ngàn, hàng vạn,
hay hàng triệu ngọn đèn bơ. Trong cách này, chúng ta sẽ tiến
bộ nhanh chóng trên con đường.
SỰ
SÁM HỐI
Nhánh
thứ ba là sám hối. Trong khi duy trì sự tỉnh giác về Pháp
Thân bao la chói ngời, hay trạng thái tuyệt đối, chúng ta
sám hối các ác hạnh của thân, ngữ, và tâm làm ngăn ngại
sự tiến bộ hướng về giác ngộ của ta.
Từ
vô thủy chúng ta đã từng tái sinh trong đại dương sinh tử
luân hồi. Mặc dù một vị Phật trong sự toàn giác của ngài
biết rõ từng cuộc đời trong các cuộc đời của chúng ta
đã sống, cho dù ngài nói rõ toàn bộ một đại kiếp, ngài
cũng không thể tả hết tất cả những cuộc đời đó. Suốt
trong mỗi cuộc đời trong vô lượng cuộc đời này, chúng
ta đã từng tích tập các dấu vết của những ác hạnh. Về
thân, các ác hạnh này bao gồm sự sát sinh, lấy đi cái gì
không được cho, và sự tà dâm. Về ngữ, chúng bao gồm việc
nói dối, phỉ báng người khác, nói chuyện tầm phào vô ích,
và làm đau lòng người khác bằng những lời nói ác. Về
tâm, chúng bao gồm sự tham muốn, ước muốn làm hại người
khác, và sự bám chấp các tà kiến. Các ác hạnh khác của
ba cửa bao hàm các vi phạm những giới nguyện giải thoát
cá nhân (prātimoksa), các giới nguyện Bồ Tát, và các samaya
của Mật thừa.(33) Cái chúng ta gọi là ác hạnh, hay hành
động tiêu cực, không phải là cái gì có thể thấy được
như vết sơn, nhưng đúng hơn, nó rất giống một hạt giống
được gieo trồng trên mặt đất tâm thức của chúng ta hay
một giấy nợ ràng buộc cho tới khi sự việc chín mùi. Tất
cả các hành động của chúng ta, dù trắng hay đen, sẽ không
thể tránh được việc kết thành quả. Chính sự kết thành
quả không thể tránh khỏi và chắc chắn này khiến cho việc
sám hối và tịnh hóa các ác hạnh của ta trở thành điều
cấp thiết. Ví dụ, chúng ta đừng bao giờ cho rằng một ác
hạnh thật nhỏ bé như nói một lời ác ý với người nào
đó sẽ không bị các hậu quả; kết quả của bất kỳ hành
động nào, dẫu cho nhỏ bé tới đâu, sẽ không bao giờ dễ
dàng tan biến đi mà sẽ sinh ra hậu quả đúng lúc của nó.
Mặc
dù các ác hạnh của chúng ta có thể không chín mùi suốt
trong tiến trình của đời này, chúng sẽ nhất định chín
mùi vào lúc chúng ta chết, rất giống cái bóng của một con
chim không thể nhìn thấy được khi chim bay trên cao, nó sẽ
bất ngờ xuất hiện lúc chim đáp xuống đất. Sau khi chết,
khi tâm thức chúng ta đang lang thang trong bardo,(34) sức mạnh
các ác hạnh của chúng ta sẽ xô đẩy ta vào nỗi đau khổ
ghê gớm của sự tái sinh trong các cõi thấp. Hiện tại, chúng
ta có cơ hội để tịnh hóa những ác hạnh này và các hậu
quả của chúng nhờ thực hành sám hối.
Có
nói rằng phẩm tính tốt đẹp duy nhất của ác hạnh là nó
có thể được tịnh hóa. Thật vậy, không có ác hạnh nào
trầm trọng đến nỗi không thể được tịnh hóa.
Chúng
ta có thể bắt đầu tịnh hóa sự tiêu cực này bằng cách
sử dụng và nương cậy vào bốn sức mạnh. Sức mạnh thứ
nhất là sức mạnh của sự nương tựa. Trong nỗ lực sửa
chữa sự tai hại do các ác hạnh của chúng ta gây nên, ta
cần tới một đối tượng thích hợp như nơi nương tựa
cho việc sám hối của ta. Trong trường hợp này, nơi nương
tựa là Guru Rinpoche. Chúng ta quán tưởng ngài ở trước mặt
ta và dâng cúng sự sám hối cho ngài.
Thứ
hai là sức mạnh của sự ân hận. Đây là sự hối hận chân
thành về các hành động của chúng ta và nỗi đau buồn vì
đã mắc phạm chúng. Sự hối hận này phát sinh khi ta nghĩ:
“Tuyệt vọng biết bao vì năng lực của tất cả các ác
hạnh tôi đã liên tục mắc phạm trong vô số cuộc đời
của tôi trong quá khứ, giờ đây tôi đã bị trói buộc phải
tái sinh giữa các súc sinh, ngạ quỷ, hay chúng sinh ở địa
ngục. Chính các ác hạnh này đang ngăn cản không cho tôi đi
tới Giác ngộ.”
Kế
tiếp là sức mạnh của sự đối trị, là phương pháp sám
hối thực sự và bao hàm sự khẩn cầu Guru Rinpoche với lòng
sùng mộ mãnh liệt trong khi cúng dường sự sám hối của
chúng ta cho ngài. Đáp lại lòng sùng mộ mãnh liệt này, chất
cam lồ và các tia sáng phát ra từ trái tim và toàn thể thân
tướng Guru Rinpoche. Chúng hòa tan vào chúng ta, hoàn toàn tẩy
sạch và tịnh hóa mọi lỗi lầm và tiêu cực của chúng ta.
Thân thể được tịnh hóa của chúng ta trở nên tinh khiết
và trong vắt như pha lê, tràn đầy chất cam lồ trí tuệ.
Guru Rinpoche mỉm cười rạng rỡ rồi nói với chúng ta rằng:
“Tất cả các che chướng của con đã được tịnh hóa.”
Với hành động này, ngài tan ra thành ánh sáng và hòa nhập
vào ta. Sau đó, chúng ta an trụ một lúc trong một trạng thái
hợp nhất với tâm Guru Rinpoche.
Thứ
tư là sức mạnh của lời hứa. Sau khi đã sám hối, ân hận,
và tịnh hóa tất cả các ác hạnh của chúng ta, khi ấy ta
phải quyết định một cách mạnh mẽ sẽ tự chế không mắc
phạm các hành động như thế trong tương lai, ngay cả phải
trả giá bằng cuộc đời của chính ta. Nếu sự quyết định
hay lời hứa này không được thực hiện thì sự sám hối
không có ích lợi nhiều. Nếu chúng ta nghĩ: “Nếu cơ hội
để mắc phạm ác hạnh này xảy ra trong tương lai, tôi sẽ
không thể tự chế để đừng tái phạm nó,” hay nếu ta
nghĩ: “Việc phạm vào sai lầm không quan trọng vì sau này
tôi có thể dễ dàng tịnh hóa nó,” thì chúng ta sẽ ít đạt
được tiến bộ. Trước khi nghe Giáo Pháp, chúng ta không biết
tới các hậu quả ghê gớm của các ác hạnh và cảm xúc
tiêu cực. Tuy nhiên, bây giờ, khi đã có một sự hiểu biết
rõ ràng về những điều này, chúng ta cần thực hiện một
hứa nguyện không thể lay chuyển để tránh những hành động
như thế trong tương lai.
Theo
các giáo huấn cốt tủy, chúng ta có thể kết thúc sự thực
hành nhánh thứ ba bằng cách quán tưởng tất cả các ác hạnh
về thân, ngữ và tâm của ta trong hình thức một chất màu
đen kết tụ ở chót lưỡi của chúng ta. Rồi Guru Rinpoche
phóng ra từ thân thể ngài các tia sáng chạm vào lưỡi ta,
hoàn toàn làm tan rã mọi chất bất tịnh được kết tụ
này giống như những tia nắng mặt trời buổi sáng làm tan
các giọt sương đọng trên đầu ngọn cỏ suốt đêm. Khi
nghĩ rằng mọi sự đã trở nên tinh khiết, chúng ta chứng
nghiệm tánh Không và sự trong sáng của trạng thái tuyệt
đối, tức Pháp Thân, nó hoàn toàn thoát khỏi sự nhị nguyên,
không có ngay cả dấu vết tiêu cực nhỏ bé nhất. Chỉ vì
các che chướng của ta mà chúng ta phân biệt giữa điều thanh
tịnh và điều bất tịnh và không thể nhận ra được tánh
Không của các hiện tượng. Vì thế, trong tất cả các hình
thức sám hối, cách tối thượng là sám hối trong Pháp Thân
bao la chói lọi, là nơi không có ý niệm về chủ thể, đối
tượng, hay hành động.
TÙY
HỈ CÔNG ĐỨC
Nhánh
thứ tư trong bảy nhánh là tùy hỉ công đức, sự đối trị
tánh ganh tỵ và sân hận. Ở đây chúng ta nuôi dưỡng một
niềm vui sâu xa trong tất cả các hành động tích cực và
thiện hạnh bao gồm trong hai chân lý (chân lý tương đối
và chân lý tuyệt đối). Các thiện hạnh được tán dương
trên bình diện tương đối bao gồm các sự cúng dường vật
chất, ganacakra (các tiệc cúng dường) và các sự cúng dường
cho Tăng chúng, cũng như các việc lễ lạy và đi nhiễu quanh
các nơi linh thánh. Cái được tán dương trên bình diện tuyệt
đối là sự thiền định sâu xa, hay samādhi. Để có được
hiệu quả, các thiện hạnh được thực hiện trên bình diện
tương đối phải được thấm nhiễm hay củng cố bởi sự
tỉnh giác về cái tuyệt đối bắt nguồn từ thiền định.
Sự
nuôi dưỡng các hành động tích cực không được kèm theo
những cảm tưởng tự bằng lòng hay tự phụ, ta cũng đừng
nên phát triển tánh coi thường những người mà các hành
động tích cực của họ không so sánh được với mức độ
của riêng ta. Chúng ta đừng bao giờ cho rằng các sự cúng
dường của ta là sâu xa và tráng lệ nhất hay cho rằng không
ai có thể sánh được với ta về mặt đức hạnh. Cho dù
đã thành tựu các thiện hạnh có tầm vóc phi thường, như
trì tụng một trăm triệu lần thần chú mani (Lục Tự Đại
Minh) hay thần chú Vajra Guru, chúng ta có thể cảm thấy mình
đã làm tốt nhất trong khả năng của mình, nhưng đừng bao
giờ nghĩ rằng ta đã hoàn tất đầy đủ. Ta nên giống như
con bò yak hoang dã: dù đã tiêu thụ bao nhiêu cỏ chăng nữa,
nó luôn luôn tìm kiếm thêm. Tương tự như vậy, dù hành động
tích cực của ta rộng lớn tới đâu, chúng ta nên luôn luôn
nỗ lực nuôi dưỡng ngay cả một số lượng thiện hạnh
to lớn hơn nữa. Mọi sự kiêu ngạo nào ta có thể có do các
thiện hạnh của ta hay mọi hy vọng được nổi tiếng nhờ
ở chúng, tất cả sẽ làm nhơ bẩn các hành động và sự
cúng dường của ta, khiến các thiện hạnh không kết thành
quả.
Các
thiện hạnh của người khác phải là một suối nguồn của
đại hoan hỉ. Nếu chúng ta cúng dường tài sản to lớn và
thấy người nào đó bố thí nhiều hơn ta, ta có thể nghĩ
rằng sự cúng dường của họ có công đức rộng lớn hơn
công đức của ta và vì thế cảm thấy tức giận hay bực
bội. Điều này không đúng đắn. Thay vào đó, ta nên nghĩ
rằng họ đã thực hiện một sự cúng dường rất kỳ diệu
và ước muốn thật chân thành rằng họ có thể cúng dường
lớn lao hơn nữa, sự hoan hỉ trong cách này không có chút
dấu vết ganh tỵ nào. Với sự hoan hỉ chân thành như thế
trước việc tích tập công đức của những người khác,
sự giải thoát khỏi tính đố kỵ và lòng tham muốn phát
sinh trong chúng ta, nhờ sự hoan hỉ đó bản thân chúng ta cũng
tích tập công đức tương đương như vậy. Ví dụ, vua Prasenajit
(Ba Tu Nặc) đã thỉnh mời Đức Phật và toàn thể Tăng chúng
đến ở trong hoàng cung, cúng dường thực phẩm cho các ngài
trong trọn một tháng. Trong cùng thành phố có một người
đàn bà lớn tuổi, bà sùng mộ Đức Phật mãnh liệt và rất
nghèo. Trước một biểu lộ của lòng rộng lượng như thế,
mỗi ngày bà suy tưởng, lòng vô cùng hân hoan: “Kỳ diệu
biết bao đức vua tích tập một khối công đức bao la như
thế !” Trong sự toàn giác của ngài, Đức Phật biết điều
đó. Khi tháng cúng dường chấm dứt ngài đọc lời hồi hướng
công đức, trước sự ngạc nhiên của mọi người ngài đã
hồi hướng cho người đàn bà già sùng tín này.
Chúng
ta nên luôn luôn hoan hỉ khi một vị Thầy đang giảng dạy
Pháp, làm lợi lạc chúng sinh, và đang chăm sóc việc xây cất
chùa chiền và tu viện. Chúng ta nên hoan hỉ khi thấy hay nghe
nói về những hành giả du già đi sâu vào việc thực hành
các giai đoạn phát triển và thành tựu và đang sống trong
sự cô tịch. Chúng ta nên hoan hỉ trước những người tuân
giữ các giới nguyện tu sĩ của một Sa di hay những Tỳ kheo
và nghĩ rằng: “Đức hạnh xuất sắc làm sao! Thật là phi
thường khi họ có thể làm được một điều như thế !”
và ước mong rằng tất cả chúng sinh đều có thể thực hiện
tương tự như vậy.
Hành
động tích cực chân thực cốt ở việc nuôi dưỡng đức
hạnh mà không bao giờ xa lìa ý tưởng rằng bản chất của
nó thì như giấc mộng, huyễn hóa, và có bản tánh trống
không. Bằng cách kết hợp hai chân lý như thế, các thiện
hạnh của ta được giải thoát khỏi sự bám chấp và tham
luyến.
CẦU
THỈNH CHUYỂN PHÁP LUÂN
Nhánh
thứ năm trong bảy nhánh là cầu thỉnh chuyển Pháp luân, sự
đối trị vô minh. Trong tất cả các hoạt động của một
vị Phật thì chuyển Pháp luân là hoạt động quý báu và
căn bản nhất. Bài kệ nói: “Con cầu khẩn ngài chuyển Pháp
luân của ba thừa.” Mặc dù không tìm thấy ở đây, ta có
thể thêm vào một câu kệ: “Cho sự lợi lạc của ba loại
chúng sinh.” Để chúng sinh có căn cơ thấp được lợi lạc,
Pháp được giảng dạy qua các giáo lý của các Thanh Văn(35)
và các Phật Độc Giác, trong khi đối với các người có
căn cơ trung bình thì Pháp được truyền dạy qua các giáo
lý Đại thừa. Đối với lợi lạc của chúng sinh thượng
căn thì có các giáo lý của Mật Thừa. Chúng ta cần nhiệt
thành cầu thỉnh rằng Pháp luân của ba thừa này được quay
chuyển.
Khi
đạt được Giác ngộ dưới gốc cây Bồ đề, Đức Phật
thấu triệt bản tánh của mọi hiện tượng thì trống không.
Khi đã chứng ngộ điều này, ngài cảm thấy rằng chúng sinh
vẫn còn mê đắm trong vô minh sẽ không thể thấu hiểu nó.
Vì thế ngài nói: “Ta đã tìm được một Giáo Pháp như chất
cam lồ, sâu xa, an lạc, thoát khỏi mọi tạo tác, chói ngời
và bất sanh, nhưng nếu ta mở bày nó cho người khác, họ
sẽ không hiểu nổi,” và ngài đắm chìm trong thiền định
sâu xa suốt ba tuần, nghĩ rằng thật vô ích khi giảng dạy
Pháp cho chúng sinh. Tuy nhiên các vị trên Thiên giới nhận
thấy Đức Thích Ca Mâu Ni đã thành tựu Phật Quả, họ biết
rằng trừ phi Đức Phật chịu giảng dạy Pháp cho họ, lợi
lạc của chúng sinh sẽ không được rộng lớn. Vì vậy, vua
Trời Indra (Đế Thích) cúng dường một vỏ ốc xà cừ xoắn
sang bên phải, và Trời Brahmā (Phạm Thiên) cúng dường một
bánh-xe-một-ngàn-nan hoa bằng vàng, cùng cầu thỉnh Đức Phật
xuất định và chuyển Pháp luân. Theo sự cầu xin của họ,
Đức Phật đã chuyển Pháp luân. Nhờ việc cầu thỉnh này,
Trời Indra và Brahmā đã tích tập công đức vô biên.
Tương
tự như vậy, giờ đây chúng ta có thể tích tập công đức
to lớn bằng cách cầu thỉnh các giáo lý và hoan hỉ khi vị
Thầy ban tặng chúng, vì nhờ việc này chúng sinh sẽ được
chỉ rõ con đường vĩnh viễn giải trừ sự vô minh. Ở đây,
chúng ta nên quán tưởng chính mình như hiện thân của vô
số những hình thức như các quốc vương, Bồ Tát, Bổn Tôn
và các chúng sinh bình thường, mỗi vị đều cúng dường
vỏ ốc xà cừ, các bánh xe vàng, và các báu vật khác cho
vị Thầy, cầu thỉnh ngài chuyển Pháp luân vì lợi lạc của
chúng sinh.
CẦU
THỈNH VỊ THẦY Ở LẠI
THẾ
GIAN NÀY
Nhánh
thứ sáu là cầu thỉnh vị Thầy trụ thế. Câu kệ nói: “Con
khẩn cầu ngài đừng nhập nirvāna (Niết bàn) cho tới khi
sinh tử hoàn toàn trống rỗng, mà ở lại thế gian này để
tiếp tục làm lợi lạc chúng sinh.” Nếu trong thế gian này
không có chư Phật, các thiện tri thức hay các bậc Thầy,
thì thân người quý báu của ta, với tất cả sự tự do,
năng lực và thông minh của nó sẽ chỉ dấn mình vào các
hoạt động và kế hoạch của sinh tử. Chúng ta sẽ tiêu phí
toàn bộ thời gian để bảo vệ các người thân yêu của
ta, đánh bại kẻ thù, và phấn đấu để tích lũy của cải,
danh vọng, và quyền lực. Không có ích lợi gì trong việc
này. Chúng ta sẽ không biết tới nỗi khổ trong các cõi thấp
và nguyên nhân của chúng, không biết tới chuỗi tái sinh vô
tận trong tương lai và không biết điều gì cần tu tập, điều
gì cần né tránh. Vì vậy, hãy quán tưởng chính mình là đệ
tử cư sĩ Chanda, nhờ sự cầu thỉnh của ông mà thọ mạng
của Đức Phật đã kéo dài thêm ba tháng. Chúng ta nên cầu
nguyện các vị Thầy ở lại cho tới khi tất cả chúng sinh
được cứu thoát khỏi bánh xe sinh tử luân hồi.
HỒI
HƯỚNG CÔNG ĐỨC
Câu
kệ về nhánh thứ bảy và là nhánh cuối cùng, sự hồi hướng
công đức, nói rằng: “Tôi hồi hướng tất cả công đức
tôi đã tích tập suốt trong ba thời cho sự thành tựu Đại
Giác ngộ.” Bất kỳ công đức nào đã được tích tập
nhờ sự thực hành sáu nhánh đầu, cũng như bất kỳ thiện
hạnh nào ta đã từng thực hiện trong quá khứ và sẽ thực
hiện trong tương lai, chúng ta hồi hướng chúng cho tất cả
chúng sinh. Chúng ta hồi hướng công đức với ước nguyện:
“Cầu mong tất cả vô lượng chúng sinh sử dụng công đức
này như nền tảng để đạt được Giác ngộ. Nhờ sự hồi
hướng này, cầu mong tất cả chúng sinh được giải thoát
khỏi các cõi thấp và được an lập trên con đường giải
thoát.” Điều quan trọng đối với chúng ta là thực hiện
sự hồi hướng trên một phạm vi càng rộng lớn càng tốt.
Trong cách thức này chúng ta noi gương các Đại Bồ Tát như
Phổ Hiền và Văn Thù khi các ngài hồi hướng công đức do
các hoạt động của các ngài cho sự lợi lạc của tất cả
chúng sinh. Sự hồi hướng phải hoàn toàn không có bất kỳ
sự hy vọng được tưởng thưởng nào. Càng nhiều càng tốt,
chúng ta nên tự giải thoát khỏi sự bám níu vào ý niệm
về một tác nhân, một hành động, và một đối tượng của
hành động, nhận thức rằng ba thứ này chỉ là những ý
niệm trống rỗng.
Nếu
chúng ta đang thực hiện Pháp ngưndro hay thực hành chuẩn bị,
thì nó đặc biệt thích hợp với việc thực hiện các lễ
lạy trong sự kết hợp với pháp Guru yoga, trong khi tụng đọc
lời Cầu nguyện Bảy nhánh. Đó là bởi các sự lễ lạy,
cúng dường mạn đà la, và sám hối sẽ hiệu quả hơn khi
được tập trung vào Đạo sư của chúng ta. Thực hiện một
lễ lạy duy nhất đối với Đạo sư của ta thì có năng lực
hơn một trăm ngàn lễ lạy thập phương chư Phật và Bồ
Tát. Đây là lý do tại sao chúng ta thực hiện sự cúng dường
bảy nhánh trực tiếp tới vị Thầy của ta, vì qua sự cúng
dường này các che chướng của ta sẽ bị xua tan, mọi sự
ban phước của vị Thầy sẽ nhanh chóng đi vào con người
chúng ta, và như thế chúng ta sẽ có thể hoàn thành các sự
tích tập công đức và trí tuệ. Nếu thâu thập và tập trung
lượng nước mưa vào duy nhất một cái phễu rộng, ta có
thể làm đầy một thùng lớn rất nhanh chóng. Tương tự như
vậy, nếu chúng ta tập trung mọi nỗ lực bằng cách cúng
dường chúng cho vị Thầy, thì ta sẽ có thể tiến bộ nhanh
chóng trên con đường.
Chúng
ta phải luôn luôn niêm phong sự thực hành của ta bằng cách
hồi hướng bất kỳ công đức nào tích tập được cho sự
lợi lạc và giải thoát của tất cả chúng sinh. Công đức
đã được hồi hướng sẽ không bao giờ bị mất đi, giống
như một giọt nước được đặt trong đại dương sẽ không
bao giờ bốc hơi. Công đức không được hồi hướng sẽ
chỉ tạo ra các kết quả phù du, giống như một giọt nước
được nhỏ trên một hòn đá nóng sẽ bay hơi lập tức.