Chương
VII
SAMUCCAYA-SAṄGAHA-VIBHĀGO
Những
phân loại theo Abhidhamma
1.
Dvāsattatividhā vuttā vatthudhammā salakkhaṇā
Tesaṁ
dāni yathāyogaṁ pavakkhāmi samuccayaṁ.
2.
Akusalasaṅgaho, missakasaṅgaho, bodhipakkhiya- saṅgaho, sabbasaṅgaho
c'āti samuccayasaṅgaho catubbidho veditabbo.
Kathaṁ?
(i)
Akusalasaṅgahe tāva cattāro āsavā: kāmā- savo, bhavāsavo, diṭṭhāsavo,
avijjāsavo.
(ii)
Cattāro oghā -- kāmogho, bhavogho, diṭṭh- ogho, avijjogho.
(iii)
Cattāro yogā — kāmayogo, bhavayogo, diṭṭhi- yogo, avijjāyogo.
(iv)
Cattāro ganthā -- abhijjhā kāyagantho, vyā- pādo kāyagantho, sīlabbataparāmāso
kāya- gantho, idaṁsaccābhiniveso kāyagantho.
(v)
Cattāro upādānā — kāmupādanaṁ, diṭṭhupādā- naṁ, sīlabbatupādānaṁ,
attavādupādānaṁ.
(vi)
Cha nīvaraṇāni — kāmacchandanīvaraṇaṁ, vyāpādanīvaraṇaṁ,
thīnamiddhanīvaraṇaṁ, uddhaccakukkuccannīvaraṇaṁ vicikicchā-
nīvaraṇaṁ, avijjānīvaraṇaṁ.
(vii)
Sattānusayā — kāmarāgānusayo, bhavarāgānu- sayo, paṭighānusayo,
mānānusayo, diṭṭhā- nusayo, vicikicchānusayo, avijjānusayo.
(viii)
Dasa saṁyojanāni — kāmarāgasaṁyojanaṁ, rūparāgasaṁyojanaṁ,
arūparāgasaṁyojanaṁ, paṭighasaṁyojanaṁ, mānasaṁyojanaṁ,
diṭṭhisaṁyojanaṁ, sīlabbataparāmāsasaṁyoja-naṁ, vicikicchāsaṁyojanaṁ,
uddhacca-saṁyojanaṁ, avijjāsaṁyojanaṁ, suttante.
(ix)
Aparāni dasa saṁyojanāni: kāmarāgasaṁyo- janaṁ, bhavarāgasaṁyojanaṁ,
paṭigha saṁyojanaṁ, mānasaṁyojanaṁ, diṭṭhi-saṁyojanaṁ,
sīlabbataparāmāsasaṁyojanaṁ, vicikicchāsaṁyojanaṁ, issāsaṁyojanaṁ,
macchariyasaṁyojanaṁ, avijjāsaṁyojanaṁ, abhidhamme.
(x)
Dasa kilesā -- lobho, doso, moho, māno, diṭṭhi, vicikicchā, thīnaṁ,
uddhaccaṁ, ahirikaṁ, anottappaṁ.
Āsavādīsu
pan'ettha kāmabhavanāmena tabbatthukā taṇhā adhippetā. Sīlabbataparāmāso
idaṁsaccābhiniveso attavādupādānaṁ ca tathā pavattaṁ diṭṭhigatam'
eva pavuccati.
Āsavoghā
ca yogā ca tayo ganthā ca vatthuto
Upādānā
duve vuttā aṭṭha nīvaraṇā siyuṁ.
Chaḷevānusayā
honti nava saṁyojanā matā
Kilesā
dasa vutto' yaṁ navadhā pāpasaṅgaho.
Nhập
Ðề
§1.
Bảy
mươi hai pháp (1) đã được trình bày với những đặc tính
của nó. Giờ đây tôi sẽ nói về những phân loại của các
pháp ấy theo tương quan của chúng.
§
2.
Toát
yếu các phân loại phải được hiểu là có bốn:
Toát
yếu những loại bất thiện pháp.
Toát
yếu những loại pháp hổn hợp.
Toát
yếu những loại pháp liên hệ đến sự giác ngộ.
Toát
yếu những pháp linh tinh.
Như
thế nào?
(i)
Ðể khởi đầu, trong toát yếu những loại pháp bất thiện
có bốn Hoặc Lậu (2):
1.
Tham Dục (Dục Lậu), 2. Luyến ái duyên theo kiếp sinh tồn
(Hữu Lậu), 3. Tà Kiến (Kiến Lậu), và 4. Vô Minh (Vô Minh
Lậu).
(ii)
Có bốn Bạo Lưu (cảnh ngập lụt) (3):
1.
trận lụt của tham dục, 2. trận lụt của sự luyến ái duyên
theo kiếp sinh tồn v.v... giống như trên từ 1 đến 4.
(iii)
Có bốn Trói Buộc (4): (trói buộc của tham dục v.v... như
trên 1-4)
(iv)
Có bốn Thắt Chặt (thân) (5):
1.
thắt chặt vào tham dục, 2. thắt chặt vào oán ghét, 3. thắt
chặt vào lễ nghi và nghi thức sai lầm, 4. thắt chặt vào
quan kiến độc đoán tin chắc rằng "chỉ có đây là chân
lý".
(v)
Có bốn Chấp Thủ (6):
1.
chấp thủ tham dục, 2. chấp thủ tà kiến, 3. chấp thủ những
lễ nghi và nghi thức sai lầm, và 4. chấp thủ thuyết linh
hồn trường cửu (bản ngã) (7).
(vi)
Có sáu Triền Cái (chướng ngại) (8). Chướng ngại của:
1.
tham dục, 2. oán ghét, 3. dã dượi hôn trầm, 4. phóng dật
lo âu, 5. hoài nghi, và 6. vô minh.
(vii)
Có bảy Tùy Miên (tâm tánh ngủ ngầm) (9):
1.
luyến ái theo dục lạc, 2. luyến ái theo kiếp sinh tồn, 3.
sân hận, 4. ngã mạn, 5. tà kiến, 6. hoài nghi, và 7. vô minh.
(viii)
Theo Kinh Tạng, có mười Thằng Thúc (dây trói buộc) (10):
1.
luyến ái duyên theo dục lạc, 2. luyến ái duyên theo Sắc Giới,
3. luyến ái duyên theo Vô Sắc Giới, 4. sân hận, 5. ngã mạn,
6. tà kiến, 7. chấp thủ những lễ nghi và nghi thức sai lầm,
8. hoài nghi, 9. phóng dật, và 10. vô minh.
(ix)
Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) có mười Thằng Thúc (dây trói
buộc) khác:
1.
luyến ái duyên theo dục lạc, 2. luyến ái duyên theo kiếp
sinh tồn, 3. sân hận, 4. ngã mạn, 5. tà kiến, 6. chấp thủ
những lễ nghi và nghi thức sai lầm, 7. hoài nghi, 8. ganh tỵ,
9. xan tham, và 10. vô minh.
(x)
Có mười Ô Nhiễm (11):
1.
tham ái, 2. sân hận, 3. si mê, 4. ngã mạn, 5. tà kiến, 6. hoài
nghi, 7. hôn trầm, 8. phóng dật, 9. không hổ thẹn (tội lỗi),
và 10. không sợ (hậu quả của tội lỗi).
Nơi
đây, trong sự phân loại các Ô Nhiễm v.v... câu "luyến ái
duyên theo dục lạc" và "luyến ái duyên theo kiếp sinh tồn"
hàm xúc lòng tham ái dựa trên đó. Cùng thế ấy, "chấp thủ
những lễ nghi và nghi thức sai lầm", "quan kiến độc đoán
tin chắc rằng "chỉ có đây là chân lý", và "chấp thủ thuyết
linh hồn trường cửu" chỉ hàm ý là những "tà kiến" liên
hệ.
Tóm
lược
Ðúng
ra những Ô Nhiễm, những trận Ngập Lụt, những Dây Trói
Buộc, và những Thắt Chặt có ba. Có hai Chấp Thủ và tám
Chướng Ngại. Tâm Tánh Ngủ Ngầm có sáu. Dây Trói Buộc phải
được hiểu là có chín. Ô Nhiễm có mười. Sơ lược các
loại bất thiện pháp nầy (12) có mười.
Chú
Giải:
1.
Vatthudhammā, Thực Thể.
Bốn
thực tại cùng tột, hay chân đế, đề cập trong sáu chương
đầu có thể được phân loại là 72 vatthudhammā, thực thể,
tức là hiện tượng tồn tại với những bản chất thiên
nhiên cố hữu dính liền. (1+52+18+1 = 72)
a)
1 -- Tất cả 89 loại tâm được xem là một vì tất cả đều
có chung đặc tính là "hay biết'.
b)
52 -- Tất cả những tâm sở (cetasikas) được quan sát riêng
rẽ bởi vì mỗi tâm sở có những đặc tính riêng biệt.
c)
18 -- Tất cả những sắc pháp được cấu tạo (nipphanna) được
quan sát riêng rẽ vì có những đặc tính khác nhau.
d)
1 -- Niết Bàn (Nibbāna) là một, vì đặc tính của Niết Bàn
là thanh bình an lạc. h.
Tất
cả 72 đều là những thực thể chủ quan và khách quan được
mô tả ở những chương trước. Trong chương nầy 72 sẽ được
trình bày lẫn lộn.
2.
Āsava, Hoặc Lậu.
Xuất
nguyên từ "ā" + căn "su", trôi chảy. Ðuợc gọi như vậy vì
āsava (hoặc lậu) trôi chảy đến tận đỉnh cao của những
kiếp sinh tồn và hiện hữu chí đến chặp tư tưởng Gotrabhū,
Chuyển Tánh, (tức chặp tư tưởng tức khắc trước chặp
tâm Ðạo, Magga, của vị Nhập Lưu, Sotāpatti). Trong vô lượng
tiền kiếp, những āsavas (hoặc lậu) nầy hiện hữu ngủ
ngầm bên trong tất cả những ai còn là phàm nhân, có thể
được xem là chất độc dược cực kỳ nguy hiểm làm say
đắm chúng sanh và có thể trồi lên mặt trong tất cả những
cảnh giới sinh tồn. Ô nhiễm, Hư Hỏng, Ðồi Bại, Nhơ Bẩn,
Chất Ðộc, Bợn Nhơ là một vài danh từ được xem là gần
ý nghĩa với phạn ngữ "trứ danh một cách vô danh" nầy.
[Lời
người dịch: Danh từ āsava thường được chuyển ngữ là
hoặc lậu. Hoặc là mê tối, lầm lạc, như trong chữ mê hoặc.
Lậu là rỉ ra, tiết lộ ra, và gây bợn nhơ. Ở đây là bợn
nhơ tinh thần, phiền não tham, sân, si v.v... Lậu tận là diệt
trừ phiền não. Khi lục căn tiếp xúc với lục trần không
còn gây ra những ý tưởng bất thiện].
Trong
bốn Āsavas (Hoặc Lậu), kāmāsava (dục lậu) có nghĩa là luyến
ái theo dục lạc của ngũ trần, bhavāsava (hữu lậu) là luyến
ái theo đời sống ở cảnh Sắc Giới và Vô Sắc Giới, diṭṭhāsava
(tà kiến lậu) là sáu mươi hai loại quan kiến lầm lạc [*]
và avijjāsava (vô minh lậu) là trạng thái vô minh liên quan
đến Tứ Diệu Ðế, đến đời sống quá khứ, vị lai, đến
cả hai, đời sống quá khứ và đời sống vị lai, và Ðịnh
Luật Tùy Thuộc Phát Sanh.
[*]
Xem Brahmajāla Sutta - Dīgha Nikāya -- Kinh Phạm Vỏng, Trường
A Hàm, số 1.
3.
Ogha, Ngập Lụt.
Xuất
nguyên từ "ava" + "han", gây tổn thương hay sát hại.
Chúng
sanh bị chìm đắm trong luồng trôi chảy của trận lụt vĩ
đại, bị quay cuồng giữa những dòng nước xoáy mãnh liệt,
bị lôi cuốn thẳng ra biển cả rồi bị nhận chìm xuống
tận đáy như thế nào, những trận ngập lụt (ogha) của đời
sống cũng lôi cuốn chúng sanh rồi đẩy vào, nhận chìm trong
những hoàn cảnh khốn cùng như thế ấy.
4.
Yoga, Trói Buộc.
Xuất
nguyên từ căn "yuj", trói buộc (như buộc chặt ách vào cổ
bò). Yogas, là những trói buộc cột chặt chúng sanh vào vòng
quanh những kiếp sinh tồn sanh tử-tử sanh vô cùng tận của
vòng luân hồi.
5.
Ganthas, Thắt Chặt.
Là
những gì thắt chặt tâm với thân, hoặc là những gì thắt
chặt thân trong hiện tại với thân trong những kiếp vị lai.
Nơi
đây danh từ kāya được dùng trong ý nghĩa "một khối" hay
"cơ cấu" -- tinh thần hay vật chất.
6.
Upādāni, Chấp Thủ.
Xuất
nguyên từ "upa" + "ā" và căn "dā", cho.
Thủ,
upādāna là ái ở mức độ cao. Vì lẽ ấy trong pháp Paṭicca
Samuppāda (Thập Nhị Nhân Duyên hay pháp Tùy Thuộc Phát Sanh),
có câu: "Vì có taṇhā (ái dục) nên có upādāna (thủ)". Taṇhā,
ái dục cũng như tên trộm rình mò trong đêm tối để trộm
một vật. Upādāna giống như chính hành động trộm cắp.
7.
Attāvādūpādāna, Thuyết Về Linh Hồn Trường Cửu.
Bản
chú giải đề cập đến hai mươi mốt lý thuyết về linh
hồn trường cửu (bản ngã vĩnh tồn) liên hệ đến Ngũ Uẩn
như sau:
(i)
Linh hồn (bản ngã) cùng với thân (cơ thể vật chất, sắc)
là một,
(ii)
Thân làm chủ linh hồn,
(iii)
Linh hồn ở trong thân,
(iv)
Thân ở trong linh hồn.
Bốn
thuyết về linh hồn trường cửu (bản ngã) liên hệ với
bốn Uẩn còn lại (thọ, tưởng, hành, thức) phải được
hiểu cùng một thế ấy.
8.
Nīvaranāni, Triền Cái.
Xuất
nguyên từ "ni" + căn "var", gây chướng ngại, ngăn cản. Ðuợc
gọi như vậy vì nó chận ngang con đường hướng về tình
trạng an lạc của cảnh trời và hạnh phúc Niết Bàn. Theo
bản chú giải, danh từ nầy có nghĩa là cái gì cản ngăn
con đường hướng về các tầng Thiền (Jhānas) v.v..., của
những tư tưởng thiện, hay cái gì không để cho các tầng
Thiền phát triển, hay cái gì ngăn chận con mắt trí tuệ.
Xem A Manual of Buddhism, trang 113-115, và The Buddha and His Teachings,
chương 37.
Thông
thường Nīvaranas, các pháp Triền Cái, được xem là có năm.
Cả
hai cặp -- hôn trầm và thụy miên, phóng dật và lo âu -- được
kể chung vì chức năng (kicca), nguyên nhân (āhāra = hetu), và
những yếu tố đối nghịch của các pháp nầy giống nhau.
Chức năng của hôn trầm và thụy miên là chểnh mảng tinh
thần, trì độn; chức năng của phóng dật và lo âu là băn
khoăn áy náy, không yên. Nguyên nhân của hôn trầm và thụy
miên là tình trạng lười biếng, của phóng dật lo âu là
bất mãn, buồn phiền, chẳng hạn như vì cái chết của một
người trong thân quyến v.v... Nghị lực đối nghịch với
cặp hôn trầm và thụy miên; tình trạng an tĩnh đối nghịch
với phóng dật lo âu.
Tham
dục được ví như nước pha lẫn với nhiều màu sắc khác
nhau; sân hận, như nước nấu sôi; hôn trầm và thụy miên,
như nước đầy rong rêu, phóng dật và lo âu, như nước bị
gió làm chao động; hoài nghi, như nước đục, đầy bùn nhơ.
Cũng
giống như khi ta nhìn xuống mặt nước đục đầy bùn nhơ
thì không thể thấy cái bóng của mình, cùng thế ấy, vì
bị những chướng ngại tinh thần, gọi là pháp triền cái,
cản ngăn ta không thể thấy cái gì dẫn đến tình trạng
an lành và hạnh phúc cho chính ta và cho kẻ khác.
Pháp
Triền Cái tạm thời bị các tầng Thiền (Jhānas) đè nén.
Khi chứng ngộ Ðạo Quả Thánh các chướng ngại nầy sẽ
hoàn toàn bị loại trừ. Hoài nghi, hay do dự không quả quyết,
bị loại trừ khi chứng đắc Tu Ðà Huờn; tham dục, sân hận
và lo âu bị loại trừ khi chứng đắc A Na Hàm; phóng dật
và lo âu, khi đắc Ðạo Quả A La Hán.
9.
Anusaya, Tâm Tánh Ngủ Ngầm (Tùy Miên).
Xuất
nguyên từ "anu" + "si", nằm, ngủ.
Anusayas
là những gì, vì chưa hoàn toàn bị loại trừ, còn nằm đó
ngủ ngầm cho đến khi có cơ hội, trồi lên phát hiện trên
mặt. Tất cả những khát vọng đều là anusayas, khuynh hướng
tâm tánh ngủ ngầm. Nhưng có bảy là mạnh nhất. Khi còn là
chúng sanh phàm tục, tức chưa đắc Quả Thánh, dầu đã thành
đạt những cảnh giới Thiền cao tuyệt đỉnh, lúc tái sanh
trở lại vào cảnh người cũng còn có thể bị những khuynh
hướng tệ hại ấy tuôn tràn trổi dậy dễ dàng vì chúng
nó chưa bị tận diệt, vẫn còn ngủ ngầm trong luồng nghiệp
(tùy miên).
10.
Saṁyojana, Thằng Thúc.
Từ
"saṁ" + căn "yuj", gát ách, trói buộc.
Là
những gì cột trói chúng sanh vào những kiếp sinh tồn của
vòng luân hồi. Bằng bốn Ðạo (Magga) dần dần loại trừ
những dây trói buộc nầy.
11.
Kilesas, Ô Nhiễm, hay Phiền Não.
Là
những gì làm bợn nhơ, hay gây đau khổ cho tâm.
12.
Trong phần phân loại bất thiện pháp danh từ kāma đôi khi
áp dụng cho Dục Giới, và bhava cho Sắc Giới và Vô Sắc Giới.
Lobha (tham ái) hàm ý là cả hai -- kāmataṇhā và bhavataṇhā.
Luyến ái duyên theo cảnh Sắc Giới và Vô Sắc Giới cũng
được gọi là bhavataṇhā. Ba chữ -- sīlabbataparāmāsa (giới
cấm thủ, tức tin theo những lễ nghi và nghi thức sai lầm),
idaṁsaccābhinivesa (sự tin tưởng độc đoán rằng chỉ có
đây là chân lý) và attavādūpādāna (lý thuyết về linh hồn
trường tồn vĩnh cửu) -- hàm xúc ý nghĩa diṭṭhi, tà kiến.
Cả hai danh từ kāmāsava và bhavāsava đều hàm ý là lobha (tham).
Một cách chính xác, chỉ có ba hoặc lậu (āsava) là oghas,
yogas, và ganthas (xem chú giải số 3, 4, và 5 cùng chương nầy).
Khi
hai cặp -- thīna-middha và uddhacca-kukkucca, hôn trầm dã dượi
và phóng dật lo âu -- được xem là bốn tâm sở thì Nīvaraṇas,
pháp triền cái có tám. Khi kāmarāga và bhavarāga (luyến ái
duyên theo Dục Giới và luyến ái duyên theo Sắc Giới và Vô
Sắc Giới) được nhập chung với ái dục thì anusaya (khuynh
hướng tâm tánh ngủ ngầm, hay tùy miên) được biết là có
sáu. Mười saṁyojanas (thằng thúc), theo Suttanta (Tạng Kinh),
còn bảy khi kāmarāga, rūparāga, arūparāga đuợc bao gồm trong
lobha, và diṭṭhi và sīlabbata- parāmāsa được bao gồm trong
diṭṭhi. Mười saṁyojanas được xem là còn tám khi kāmarāga
và bhavarāga đuợc bao gồm trong lobha, và diṭṭhi và sīlabbataparāmāsa
trong diṭṭhi. Kilesa (ô nhiễm) chính xác là mười. Như vậy,
ta sẽ thấy rằng 14 tâm sở bất thiện, với số lượng nhiều
hay ít khác nhau, nằm trong chín loại bất thiện pháp. Lobha
nằm trong tất cả.
Đồ
biểu 14
| |
|
|
Hoặc
lậu
|
Ngập
lụt
|
Trói
buộc
|
Thắt
chặt
|
Chấp
thủ
|
Triền
cái
|
Tùy
miên
|
Thằng
thúc
|
Ô
nhiễm
|
| 1 |
Lobha
(Tanhā) - Tham, ái dục |
9 |
+
|
+
|
+
|
+
|
+
|
+
|
+
|
+
|
+
|
| 2 |
Diṭṭthi
- Tà kiến, hiểu biết lầm lạc |
8 |
+
|
+
|
+
|
+
|
+
|
|
+
|
+
|
+
|
| 3 |
Avijā
(Moha) - Vô minh |
7 |
+
|
+
|
+
|
|
|
+
|
+
|
+
|
+
|
| 4 |
Paṭigha
(Dosa) - Bất mãn, sân |
5 |
|
|
|
+
|
|
+
|
+
|
+
|
+
|
| 5 |
Vicikicchā
(Kaṅkhā) - Nghi, bất định |
4 |
|
|
|
|
|
+
|
+
|
+
|
+
|
| 6 |
Māna
- Ngã mạn |
3 |
|
|
|
|
|
|
+
|
+
|
+
|
| 7 |
Uddhacca
- Phóng dật |
3 |
|
|
|
|
|
+
|
|
+
|
+
|
| 8 |
Thīna
- Dã dượi |
2 |
|
|
|
|
|
+
|
|
|
+
|
| 9 |
Kukkucca
- Lo âu |
1 |
|
|
|
|
|
+
|
|
|
|
| 10 |
Middha
- Hôn trầm |
1 |
|
|
|
|
|
+
|
|
|
|
| 11 |
Ahirika
- Không hổ thẹn tội lỗi. |
1 |
|
|
|
|
|
|
|
|
+
|
| 12 |
Anottappa-
Không sợ tội lỗi |
1 |
|
|
|
|
|
|
|
|
+
|
| 13 |
Issā
- Ganh tị, đố kị |
1 |
|
|
|
|
|
|
|
+
|
|
| 14 |
Macchariya
- Xan tham |
1 |
|
|
|
|
|
|
|
+
|
|
Missaka-Saṅgaho
Toát
yếu những loại pháp linh tinh
3.
(i)
Missaka-saṅgahe cha hetu -- lobho, doso, moho, alobho, adoso, amoho.
(ii)
Sattajhānaṅgāni -- vitakko, vicāro, pīti, ekaggatā, somanassaṁ,
domanassaṁ, upekkhā.
(iii)
Dvādasamaggaṅgāni -- sammādiṭṭhi, sammā- saṅkappo, sammāvācā,
sammākammanto, sammājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammā-samādhi,micchādiṭṭhi,
micchāsaṅkappo, micchāvāyāmo, micchāsamādhi.
(iv)
Bāvīsatindriyāni -- cakkhundriyaṁ, sotindri- yaṁ, ghāṇindriyaṁ,
jivhindriyaṁ, kāyindri-yaṁ, itthindriyaṁ, purisindriyaṁ, jīvitindri-yaṁ,
manindriyaṁ, sukhindriyaṁ, dukkhindri-yaṁ, somanassindriyaṁ, domanassindriyaṁ,
upekkhindriyaṁ,saddhindriyaṁ, viriyindriyaṁ, satindriyaṁ, samādhindriyaṁ,
paññindriyaṁ, anaññātassāmītindriyaṁ, aññindriyaṁ, aññātāvindriyaṁ.
(v)
Navabalāni -- saddhābalaṁ, viriyabalaṁ, sati- balaṁ, samādhibalaṁ,
paññābalaṁ, hiribalaṁ, ottappabalaṁ, ahirikabalaṁ, anottappabalaṁ.
(vi)
Cattāro adhipati -- chandādhipati, viriyā-dhipati, cittādhipati, vimaṁsādhipati.
(vii)
Cattāro āhārā -- kabalikāro āhāro, phasso dutiyo, manosañcetanā
tatiyo, viññāṇaṁ catutthaṁ.
Indriyesu
pan'ettha sotāpattimaggañāṇaṁ anaññātassāmītindriyaṁ, arahattaphalañāṇaṁ
aññatāvindriyaṁ, majjhe cha ñāṇāni aññindri- yānī'ti pavuccanti.
Jīvitindriyañ ca rūpārūpa- vasena duvidhaṁ hoti. Pañcaviññāṇesu
jhānaṅ-gāni, aviriyesu balāni, ahetukesu maggaṅgāni na labbhanti.
Tathā vicikicchācitte ekaggatā maggindriyabalabhāvaṁ na gacchati.
Dvihetu- ka tihetukajavanesv'eva yathāsambhavaṁ adhipati eko'va labbhati.
Cha
hetu pañca jhānaṅgā maggaṅgā nava vatthuto
Soḷasindriyadhammā
ca baladhammā nav'eritā.
Cattārodhipati
vuttā tathāhārā'ti sattadhā
Kusalādisamākiṇṇo
vutto missakasaṅgaho.
§3
(i)
Trong phần đại cương của những phân loại linh tinh (13) có
sáu Nhân (14): 1. tham, 2. sân, 3. si, 4. không luyến ái (tức
vô tham), 5. thiện ý (vô sân), và 6. trí tuệ (vô si).
(ii)
Có bảy chi Thiền (15) là: 1. tầm, 2. sát, 3. phỉ, 4. nhất
điểm tâm, 5. hỷ, 6. ưu, và 7. xả.
(iii)
Có mười hai chi Ðạo (16) là: chánh kiến, 2. chánh tư duy,
3. chánh ngữ, 4. chánh nghiệp, 5. chánh mạng, 6. chánh tinh tấn,
7. chánh niệm, 8. chánh định, 9. tà kiến, 10. tà tư duy, 11.
tà tinh tấn, 12. tà nhất điểm tâm.
(iv)
Có hai mươi hai Căn (khả năng kiểm soát) (17) là: 1. nhãn căn,
2. nhĩ căn, 3. tỷ căn, 4. thiệt căn, 5. thân căn, 6. nữ căn,
7. nam căn, 8. mạng căn, 9. tâm căn, 10. lạc căn, 11. khổ căn,
12. hỷ căn, 13. ưu căn, 14. xả căn, 15. tín căn, 16. tấn căn,
17. niệm căn, 18. định căn, 19. tuệ căn, 20. ý nghĩ: "Ta sẽ
chứng ngộ cái chưa từng được biết", 21. Chứng Ngộ Cao
Thượng Nhất, 22. Căn (khả năng kiểm soát) của vị đã hoàn
toàn chứng ngộ.
(v)
Có chín Lực (18) là: 1. tín lực, 2. tấn lực, 3. niệm lực,
4. định lực, 5. tuệ lực, 6. tàm lực (hổ thẹn tội lỗi),
7. quý lực (ghê sợ hậu quả của tội lỗi), 8. vô tàm lực,
9. vô quý lực.
(vi)
Có bốn Yếu Tố Ưu Thế (19) (Tăng Thượng) là: 1. dục (hay
ý-muốn-làm), 2. tấn (hay sự cố gắng), 3. tâm (hay tư tưởng)
(20), và 4. trí (hay trí thức).
(vii)
Có bốn loại Vật Thực (21) là: 1. vật thực có thể ăn được,
2. xúc (hay cảm thọ do năm giác quan), 3. tác ý, và 4. thức
(tái sanh).
Bây
giờ, trong những Căn, ý tưởng "Ta sẽ chứng ngộ cái chưa
từng được chứng ngộ" có nghĩa là Tu Ðà Huờn Ðạo tuệ.
"Căn" của vị đã hoàn toàn chứng ngộ có nghĩa là A La Hán
Quả tuệ. Chứng Ngộ Cao Thượng Nhất là sáu loại tuệ giác
ở khoảng giữa. Mạng Căn (hay khả năng kiểm soát sự sống)
có hai, là đời sống vật lý và đời sống tinh thần.
Các
"Chi Thiền" (22) không nằm trong ngũ quan thức (năm loại thức);
Các "Lực" không nằm trong những trạng thái tâm không tinh
tấn (23); Các "Chi Ðạo", không nằm trong những loại tâm Vô
Nhân (24). Cùng thế ấy, trong các loại tâm liên hợp với
Hoài Nghi (25) tâm an trụ nhất điểm không tiến đạt đến
trạng thái của "Chi Ðạo", của "Căn" hay của "Lực". Chỉ
có tâm "Ưu Thế" (26) được chứng ngộ một lần, tùy trường
hợp, và chỉ trong tốc hành tâm (javana) liên hợp với hai
hoặc ba nhân thiện.
Tóm
lược
Trong
thực tế có sáu Nhân, năm Chi Thiền, chín Chi Ðạo, mười
sáu Căn, chín Lực đã được trình bày (27).
Cùng
thế ấy, có bốn Yếu Tố Ưu Thế, bốn loại Vật Thực,
đã được đề cập đến. Như vậy, đại cương các phân
loại linh tinh được trình bày trong bảy phương cách, bao gồm
những trạng thái thiện và bất thiện.
Chú
Giải
13.
Missakasaṅgaho, Những Loại Pháp Linh Tinh.
Ðược
gọi như vậy bởi vì trong phần nầy các loại tâm thiện
(kusala), bất thiện (akusala) và bất định (avyākata) đều
được pha trộn lẫn lộn.
14.
Hetu, Nhân. Xem chương I, chú giải 23.
15.
Jhānaṅga, Chi Thiền
Jhāna,
Thiền, đuợc giải thích là cái gì thiêu đốt tánh cách chướng
ngại của các Triền Cái, hay cái gì bám sát nhìn vào đề
mục. Cả hai ý nghĩa đều có thể áp dụng cho trạng thái
"Thiền", được chứng đắc do tâm an trụ. Sáu Chi Thiền đều
được dùng trong hai ý nghĩa nầy. Cũng những chi nầy, khi
nằm trong một loại tâm thiện hay bất thiện và có thọ "ưu"
phát hiện trong một tâm bất thiện, thì được gọi là jhānaṅgas
trong ý nghĩa thứ nhì. Chỉ có thọ "ưu" là bất thiện; tất
cả còn lại là thiện, không có tánh cách thiện hay bất thiện,
và bất định. Xem chương I.
16.
Maggaṅgāni, Chi Ðạo.
Nơi
đây danh từ được dùng trong ý nghĩa phổ thông, tức là
cái gì dẫn đến trạng thái hạnh phúc, trạng thái bất hạnh,
và Niết Bàn (sugatidugatīnaṁ nibbānassa ca abhimukhaṁ pāpanato
maggā -- Bản Chú Giải). Trong mười hai Chi Ðạo, bốn yếu
tố sau cùng dẫn đến trạng thái bất hạnh; tất cả còn
lại dẫn đến hạnh phúc và Niết Bàn. Một cách chính xác,
mười hai Chi Ðạo kể trên là chín tâm sở nằm trong những
loại tâm khác nhau. Trong bốn chi bất thiện, tà kiến là tâm
sở hiểu biết sai lầm bất thiện (diṭṭhi cetasika), tà tư
duy, tà tinh tấn, và tà nhất điểm tâm là ba tâm sở vitakka,
vāyāma, và ekaggatā cetasika (tầm, tinh tấn, và nhất điểm
tâm) nằm trong các loại tâm bất thiện.
Chánh
kiến có nghĩa paññā cetasika (tâm sở trí tuệ); chánh tư
duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh nhất điểm tâm là
những tâm sở tầm, tinh tấn, niệm, và nhất điểm tâm nằm
trong những loại tâm thiện và bất định. Chánh ngữ, chánh
nghiệp, và chánh mạng là ba tâm sở virati, tiết chế, nằm
chung trong các loại tâm siêu thế và riêng rẽ nằm trong những
loại tâm thiện tại thế. Tám loại tâm đầu tiên chỉ nằm
chung trong tám loại tâm siêu thế. Bát Chánh Ðạo có nghĩa
là tám tâm sở đặc biệt nầy.
17.
Indriya, Căn, hay khả năng kiểm soát.
Ðược
gọi như vậy bởi vì những loại tâm nầy có một năng lực
kiểm soát trong lãnh vực riêng của mình. Năm căn đầu là
năm giác quan, đã có được mô tả trước. Căn thứ sáu và
căn thứ bảy được gọi chung là bhāvindriya, tánh căn (tức
tánh nam hay tánh nữ). Mạng Căn là cả hai, danh mạng căn và
sắc mạng căn. Căn số 10, 11, 12, 13, và 14 là năm loại thọ.
Căn số 15, 16, 17, 18, và 19 cả hai được xem là những khả
năng, Căn, và những năng lực, Lực, bởi vì hai loại nầy
chi phối những loại tâm đồng phát sanh và khắc phục những
năng lực đối nghịch. Ba Căn cuối cùng thật vô cùng quan
trọng và thuộc về siêu thế. Danh từ anaññātaṁ có nghĩa
là Niết Bàn, trước đây chưa từng bao giờ được biết.
Ðến khi thành đạt tầng Thánh đầu tiên (sotāpatti) mới
chứng ngộ Tứ Diệu Ðế lần đầu tiên. Do đó tuệ giác
của Sotāpatti Magga, Tu Ðà Huờn Ðạo, được gọi là anaññātaṁ
ñassāmi't'indriyaṁ. Sáu loại tuệ giác ở khoảng giữa, từ
Tu Ðà Huờn Quả đến A La Hán Quả được gọi là "aññā"
(xuất nguyên từ "ā" = tuyệt hảo + căn "ñā", hiểu biết),
tuệ giác tối thượng. Bởi vì trí tuệ nằm trong bảy loại
tâm siêu thế nầy kiểm soát tất cả 37 Yếu Tố của sự
Giác Ngộ. (tức 37 bồ đề phần, hay 37 phẩm trợ đạo) nên
gọi là Indriya, Căn, hay khả năng kiểm soát.
Một
vị A La Hán được gọi là Aññātāvī bởi vì Ngài đã chứng
ngộ trọn vẹn bốn Chân Lý Thâm Diệu. Yếu tố cuối cùng
là tuệ giác tối thượng của vị A La Hán trong tầng A La
Hán Quả.
18.
Balāni, Lực.
Chín
"Lực" nầy được gọi như vậy bởi vì không thể bị những
năng lực đối nghịch làm chao động, và bởi vì các loại
tâm nầy giúp tăng cường những loại tâm khác đồng phát
sanh. Bảy Lực đầu tiên là thiện; hai Lực cuối cùng là
bất thiện. Bảy Lực đầu tiên, theo thứ tự, đối nghịch
với những trạng thái không có đức tin, lười biếng, lơ
đểnh, phóng dật, vô minh, không hổ thẹn tội lỗi, và không
ghê sợ hậu quả của tội lỗi. Hai Lực bất thiện cuối
cùng chỉ nằm trong mười hai loại tâm bất thiện và củng
cố vững chắc những loại tâm đồng phát sanh với nó.
19.
Adhipati, Ưu Thế.
Có
quyền thế cao trội, hay quyền lãnh chúa. Sự khác biệt giữa
adhipati và indriya nên được hiểu biết rõ ràng. Adhipati, quyền
thế ưu trội, có thể ví như một ông vua, người lãnh đạo
một quốc gia, có toàn quyền cai trị một vương quốc, là
chúa của tất cả các vị bộ trưởng. Indriya, căn, ví như
vị bộ trưởng của nhà vua, chỉ kiểm soát riêng biệt bộ
của mình mà không thể lấn quyền qua một bộ khác. Như nhãn
căn chẳng hạn, chỉ có thể kiểm soát những sắc pháp cùng
tồn tại trong mắt mà không thể kiểm soát những khả năng
của tai. Trong trường hợp của adhipati, thì có quyền thế
hơn, chi phối toàn thể những yếu tố cùng tồn tại với
mình mà không có sự đối kháng nào. Không có hai adhipati có
thể tác hành cùng một lúc. Trái lại, Indriya ở những bộ
phận khác nhau như mắt, tai, mũi v.v... có thể cùng tồn tại
trong một lúc.
20.
Citta, Tâm, hay Tư Tưởng.
Nơi
đây citta ám chỉ tiến trình javana. Vimaṁsā hàm xúc tuệ
căn (paññindriya).
21.
Āhāra, Vật Thực.
Nơi
đây danh từ āhāra đuợc dùng trong nghĩa chất dinh dưỡng,
thức ăn. Kabalīkārāhāra, vật thực ăn được, cấp dưỡng
chất bổ cho cơ thể vật chất. Phassāhāra, thức ăn của
xúc giác, cấp dưỡng chất bổ cho năm loại thọ. Manosaṁ-
cetanāhāra, thức ăn cho tâm, là những tâm sở tác ý (cetanas)
nằm trong 29 loại tâm thiện và bất thiện tại thế. Những
"thức ăn cho tâm" nầy cấp dưỡng chất bổ, hay tạo nên
hiện tượng tái sanh trong tam giới. Viññaṇāhāra có nghĩa
là vật thực cho thức tái sanh, cấp dưỡng những tâm sở
và các sắc pháp (nāma-rūpa) đồng khởi sanh cùng một lúc.
Có 19 loại thức tái sanh. Trong trường hợp những chúng sanh
Vô Tưởng thì nó chỉ cung cấp sắc pháp. Trong cảnh Vô Sắc
Giới thì nó chỉ cung cấp danh pháp. Trong kiếp sống của
những chúng sanh có đủ năm uẩn thì nó cấp dưỡng cả hai
danh và sắc.
22.
Không có chi Thiền nằm trong mười loại thức, bởi vì cảm
thọ yếu, và không có sự tri giác đối tượng.
23.
Trạng thái không tinh tấn là mười sáu loại tâm, tức là
mười loại thức, hai tiếp thọ tâm, ba suy đạc tâm, và ngũ
môn hướng tâm (pañcadvārāvajjana). Tâm Nhất Ðiểm nằm trong
đó cũng không mạnh lắm.
24.
Vô Nhân là 18 ahetuka-cittas, tâm không có nhân.
25.
Tâm Nhất Ðiểm nằm trong loại tâm có hoài nghi chỉ giúp
tâm giữ quân bình. Tâm nầy không mạnh.
26.
Không có adhipati, tâm sở ưu thế, trong những loại tâm không
nhân (ahetuka) và tâm có một nhân (ekahetuka cittas).
27.
Một
cách chính xác có năm chi Thiền, bởi vì ba loại thọ có thể
được xem là một; Chi Ðạo có chín vì tà tư duy, tà tinh
tấn, và tà nhất điểm tâm được bao gồm, theo thứ tự,
trong Tầm, Tấn và Nhất Ðiểm Tâm; Căn (Indriya) có mười
sáu khi năm loại thọ được gom chung làm một, và ba loại
tâm siêu thế nằm trong paññā, trí tuệ.
-ooOoo-
Bodhipakkhiya
Saṅgaho
Những
yếu tố của sự giác ngộ (28)
4.
i.
Bodhipakkhiyasaṅgahe cattāro satipaṭṭhānā-kāyānupassanā-satipaṭṭhānaṁ,
vedanānupassanā satipaṭṭhānaṁ, cittānupassanā-satipaṭṭhānaṁ,
dhammānupassanā-satipaṭṭhānaṁ.
ii.
Cattāro sammappadhānā-uppannānaṁ pāpakā- naṁ pahānāya vāyāmo,
anuppannānaṁ pāpakā- naṁ anuppādāya vāyāmo, anuppannānaṁ
kusalā- naṁ uppādāya vāyāmo, uppannānaṁ kusalānaṁ bhiyyobhāvāya
vāyāmo.
iii.
Cattāro iddhipādā -- chandiddhipādo, viriy- iddhipādo, cittiddhipādo,
vimaṁsiddhipādo.
iv.
Pañcindriyāni -- saddhindriyaṁ, viriyindriyaṁ, satindriyaṁ, samādhindriyaṁ,
paññindriyaṁ.
v.
Pañcabalāni -- saddhābalaṁ, viriyabalaṁ, satibalaṁ, samādhibalaṁ,
paññābalaṁ.
vi.
Sattabojjhaṅgā -- satisambojjhaṅgo, dhamma-vicayasambojjhaṅgo, viriyasambojjhaṅgo,
pīti- sambojjhaṅgo, passaddhisambojjhaṅgo, samādhi- sambojjhaṅgo,
upekkhāsambojjhaṅgo.
vii.
Aṭṭhamaggaṅgāni -- sammādiṭṭhi, sammā- saṅkappo, sammāvācā,
sammākammanto, sammā- jīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi.
Ettha
pana cattāro satipaṭṭhānā'ti sammā-sati ekā'va pavuccati. Tathā
cattāro sammappadhānā'ti ca sammāvāyāmo.
Chando
cittam upekkhā ca saddhā-passaddhi-pītiyo
Sammādiṭṭhi
ca saṅkappo vāyāmo viratittayaṁ
Sammāsati
samādhī'ti cuddas'ete sabhāvato
Sattatiṁsappabhedena
sattadhā tattha saṅgaho.
Saṅkappa-passaddhi
ca pīt'upekkhā chando ca cittaṁ viratittayañ ca.
Nav'ekaṭhānā
viriyaṁ nava'aṭṭha sati samādhi catu pañca paññā
Saddhā
duṭhānuttamasattatiṁsaddhammānam' eso pavaro vibhāgo.
Sabbe
lokuttare honti na vā saṁkappapītiyo
Lokiye'pi
yathāyogaṁ chabbisuddhippavattiyaṁ.
§4
Trong
phần toát yếu của những yếu tố đưa đến sự Giác Ngộ
có:
1.
Bốn Niệm Xứ (29) là:
i.
Thân Quán Niệm Xứ, ii. Thọ Quán Niệm Xứ, iii. Tâm Quán Niệm
Xứ, iv. Pháp Quán Niệm Xứ.
2.
Bốn Cố Gắng Cao Thượng (30) (Tứ Chánh Cần) là:
i.
Cố Gắng lánh xa các ác pháp đã phát sanh, ii. Cố Gắng ngăn
ngừa các ác pháp chưa phát sanh, iii. Cố Gắng trau giồi, làm
phát triển các thiện pháp chưa phát sanh, iv. Cố Gắng làm
tăng trưởng các thiện pháp đã phát sanh.
3.
Bốn Phương Cách Ðể Thành Tựu (31) (Tứ Thần Túc) là:
i.
Dục Thần Túc, ii. Tấn Thần Túc, iii. Tư Duy Thần Túc, iv.
Trạch Quán Thần Túc.
4.
Năm Khả Năng (32) (Ngũ Căn) là:
i.
Tín Căn, ii. Tấn Căn, iii. Niệm Căn, iv. Ðịnh Căn, v. Tuệ
Căn.
5.
Năm Năng Lực (32) (Ngũ Lực) là;
i.
Tín Lực, ii. Tấn Lực, iii. Niệm Lực, iv. Ðịnh Lực, v. Tuệ
Lực.
6.
Bảy Yếu Tố của sự Giác Ngộ (33) (Thất Giác Chi) là:
i.
Niệm Giác Chi, ii. Trạch Pháp Giác Chi, iii. Tinh Tấn Giác Chi,
iv. Phỉ Giác Chi, v. Khinh An Giác Chi, vi. Ðịnh Giác Chi, vii.
Xả Giác Chi.
7.
Tám Chi Ðạo (tức tám yếu tố của Con Ðường (34), hay Bát
Chánh Ðạo) là:
i.
Chánh Kiến, ii. Chánh Tư Duy, iii. Chánh Ngữ, iv. Chánh Nghiệp,
v. Chánh Mạng, vi. Chánh Tinh Tấn, vii. Chánh Niệm, viii. Chánh
Ðịnh.
Nơi
đây Tứ Niệm Xứ có nghĩa là Chánh Niệm. Chánh Tinh Tấn
có nghĩa Tứ Chánh Cần.
Phần
toát yếu, gồm 37 yếu tố theo bản chất thiên nhiên, được
chia làm mười bốn là: Dục, Tâm, Xả, Tín, Khinh An, Phỉ,
Chánh Kiến, Tư Duy, Tấn, ba Tiết Chế, Chánh Niệm, và Ðịnh.
Sự
phân loại của 37 yếu tố tối thượng được trình bày như
sau: Tư Duy, Khinh An, Phỉ, Xả, Tâm, ba Tiết Chế, phát sanh
một lần; Tinh Tấn phát sanh chín lần; Niệm tám lần; Ðịnh
bốn lần; Tuệ năm lần; Tín hai lần (35).
Tất
cả những pháp nầy đôi khi, ngoại trừ Tư Duy và Phỉ, phát
sanh trong (các loại tâm) Siêu Thế. Các pháp nầy (cũng phát
sanh trong các loại tâm) tại thế, tùy trường hợp, trong sự
diễn tiến của sáu giai đoạn thanh tịnh.
Chú
Giải
28.
Bodhipakkhiya, Bồ Ðề Phần.
Cũng
được gọi là 37 Phẩm Trợ Ðạo. Bodhi là Giác Ngộ, hay người
có nguyện vọng thành đạt Giác Ngộ. Pakkhiya, theo nghĩa đen
là "đứng về phía của".
29.
Satipaṭṭhāna, Niệm Xứ.
Sati
= niệm, hay biết, hay chú tâm ghi nhận; paṭṭhānā = củng
cố, thiết lập, áp đặt lên, nền tảng, xứ. Những Satipaṭṭhānās,
niệm xứ, nầy được áp dụng để trau giồi và phát triển
cả hai, tâm định và tuệ minh sát. Mỗi niệm xứ nhắm vào
một mục tiêu riêng biệt. Quán niệm về bốn xứ nầy, một
đàng, dẫn đến sự phát triển trạng thái không đáng được
ưa thích (asubha), đau khổ (dukkha), vô thường (anicca), và vô
ngã (anattā), và đàng khác, nhằm tận diệt tình trạng "đáng
được ưa thích", khoái lạc, thường còn và có một thực
thể vĩnh cửu trường tồn.
Một
cách vắn tắt, đề mục chú niệm có thể được chia làm
hai phần là niệm về nāma, danh và niệm về rūpa, sắc. Thân
quán niệm xứ, hay niệm thân, liên hệ đến rūpa, sắc. Hơi
thở đuợc xem là một loại rūpa, sắc. Thọ Quán Niệm Xứ
và Tâm Quán Niệm Xứ (Niệm Thọ và Niệm Tâm) đề cập đến
những loại thọ cảm và những tư tưởng khác nhau. Niệm
Pháp đề cập đến cả hai, danh và sắc. Trong trường hợp
nầy thật rất khó mà tìm ra một danh từ Anh ngữ tương đương
với Phạn ngữ Dhamma, thường được gọi là Pháp. Tốt hơn
nên giữ nguyên danh từ Pāli nầy nhằm tránh mọi hiểu biết
lầm lạc. Muốn có thêm chi tiết xin đọc Satipaṭṭhānā
Sutta, Kinh Niệm Xứ và bản chú giải.
30.
Sammappadhāna, (Tứ) Chánh Cần.
Là
một tâm sở, viriya, chánh tinh tấn, tác hành bốn nhiệm vụ.
31.
Iddhipāda, (Tứ) Thần Túc.
Là
những phương tiện nhằm thành tựu mục tiêu, hay cứu cánh.
Một cách chính xác, tất cả bốn đều thuộc về tâm Siêu
Thế. Chanda, Dục là tâm sở "ý-muốn-làm". Viriya, Tấn, hàm
xúc bốn sự Cố Gắng Cao Thượng. Citta, Tâm, là những loại
Tâm Siêu Thế. Vimaṁsa, Trạch Quán, là tâm sở trí tuệ nằm
trong Tâm Siêu Thế. Chỉ khi nào cả bốn pháp nầy hiện hữu
trong Tâm Siêu Thế mới gọi là Iddhipāda, Thần Túc.
32.
Indriyas và Balas, (Ngũ) Căn và (Ngũ) Lực.
Năm
chi của Ngũ Căn giống hệt như năm chi của Ngũ Lực, mặc
dầu ý nghĩa gán cho mỗi căn và mỗi lực có phần khác nhau.
33.
Sambojjhaṅga, Thất Giác Chi.
Sam
= nâng cao, tốt; bodhi = giác ngộ, hay người có nguyện vọng
cố gắng để thành đạt sự giác ngộ; aṅga = yếu tố.
Nơi đây Dhammavicaya, Trạch Pháp, có nghĩa là nhìn thấy danh
và sắc đúng như danh và sắc thật sự là vậy. Ðó là tuệ
minh sát. Passadhi, khinh an có nghĩa cittapassadhi và kāyapassadhi,
tâm vương và trọn cơ cấu các tâm sở nhẹ nhàng an lạc.
Upekkhā không phải là trạng thái lãnh đạm, thờ ơ, hay lạnh
lùng, mà là tâm quân bình được gọi là tatramajjhattatā, buông
xả.
Dhammavicaya,
vīriya, và pīti (trạch pháp, tinh tấn và phỉ) đối nghịch
với hôn trầm dã dượi; passadhi, samādhi, và upekkā (khinh an,
định, và xả) đối nghịch với uddhaca (phóng dật).
34.
Maggaṅgāni, Chi Ðạo.
Theo
các bản chú giải, nơi đây danh từ Magga được dùng trong
hai ý nghĩa khác nhau là (1) "cái gì mà những ai cố gắng thành
đạt Niết Bàn mong tìm", và (2) "cái gì diệt trừ ô nhiễm
trên đường đi của nó" (Nibbānatthikehi maggīyatī'ti vā kilese
mārento gacchatī'ti maggo). Lẽ dĩ nhiên định nghĩa đặc biệt
nầy đã được trình bày để phân biệt Bát Chánh Ðạo với
những con đường thông thường.
Một
cách chính xác, tám chi của Bát Chánh Ðạo bao hàm tám tâm
sở chung hợp nằm trong tâm siêu thế lấy Niết Bàn làm đối
tượng.
Sammādiṭṭhi,
đuợc phiên dịch là Chánh Kiến, Quan Kiến, Niềm Tin, Sự
Hiểu Biết, chân chánh. Sammādiṭṭhi được giải thích là
hiểu biết bốn Chân Lý Thâm Diệu (Tứ Diệu Ðế). Nói cách
khác, đó là hiểu biết chính cá nhân mình đúng như nó thật
sự là vậy, hay hiểu biết sự vật đúng như sự vật là
vậy, hiểu biết thực tướng của vạn pháp. Theo Abhidhamma,
Vi Diệu Pháp, đó là những tâm sở trí tuệ (paññā) có chiều
hướng diệt trừ vô minh (avijjā). Chánh Kiến được sắp
đứng đầu trong tám chi vì tất cả mọi hành động đều
phải do trí tuệ điều hoà. Chánh Kiến dẫn đến Chánh Tư
Duy, suy tư chân chánh.
Sammāsaṅkappa,
Chánh Tư Duy, là có Tư Tưởng, Nguyện Vọng, Ý Ðịnh, Ý Kiến,
chân chánh. Theo Abhidhamma, Vi Diệu Pháp, đây là tâm sở vitakka
(tầm), hướng tâm về Niết Bàn, loại trừ những tư tưởng
bất thiện kāma (tham dục), vyāpādā (oán ghét), hiṁsā (hung
bạo), bằng cách vun quén đắp bồi những thiện pháp nekkhamma
(xuất gia, hay buông bỏ), avyāpāda (không oán ghét, hay từ
bi), và avihimsā (không hung bạo).
Hai
chi đầu của Bát Chánh Ðạo -- chánh kiến và chánh tư duy
-- hợp thành nhóm Tuệ (Paññā).
Chánh
Tư Duy dẫn đến Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng. Ba chi
nầy hợp thành nhóm Giới (Sīla).
Sammāvācā,
Chánh Ngữ, có nghĩa là tiết chế, hay kiêng cử, không nói
dối, không nói đâm thọc, không nói thô lỗ cộc cằn, và
không nói nhảm nhí.
Sammākammanta,
Chánh Nghiệp, liên hệ đến sự kiêng cử sát sanh, trộm cắp,
và tà hạnh.
Sammājīva,
Chánh Mạng, có hai phần: Ðời sống chân chánh của chư vị
tỳ khưu và của người cư sĩ. Ðối với hàng tại gia cư
sĩ là không buôn bán khí giới, không buôn bán nô lệ, không
buôn bán chất say, không buôn bán thú vật để làm thịt,
và không buôn bán thuốc độc.
Ba
tâm sở "Tiết Chế" (virati) được bao gồm trong ba chi nầy.
Sammāvāyāma,
Chánh Tinh Tấn, là bốn sự Cố Gắng Cao Thượng (tứ chánh
cần), được đề cập đến ở phần trên.
Sammāsati,
Chánh Niệm, là bốn loại quán niệm đã được đề cập
đến ở phần trên.
Sammāsamādhi,
Chánh Ðịnh, là gom tâm vào một điểm. Ðó là tâm sở ekaggatā,
"nhất điểm tâm".
Ba
chi sau cùng -- chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định -- hợp
thành nhóm Ðịnh (Samādhi).
Tám
chi bao gồm Giới, Ðịnh, và Tuệ hay Minh Sát.
35.
Tinh
Tấn (viriya), phát sanh chín lần như sau:
4 Tứ
Chánh Cần, 1 Tấn Thần Túc,1 Tấn Căn, 1 Tấn Lực, 1 Tấn
Giác Chi, 1 Chánh Tinh Tấn.
Niệm
phát sanh tám lần như sau:
4 Tứ
Niệm Xứ, 1 Niệm Căn, 1 Niệm Lực, 1 Niệm Giác Chi, 1 Chánh
Niệm.
Ðịnh
phát sanh bốn lần như sau:
1 Ðịnh
Căn, 1 Ðịnh Lực, 1 Ðịnh Giác Chi, và 1 Chánh Ðịnh.
Tuệ
phát sanh năm lần như sau:
1 Tuệ
Thần Túc, 1 Tuệ Căn, 1 Tuệ Lực, 1 Tuệ Giác Chi, và 1 Chánh
Kiến.
Tín
phát sanh hai lần như sau:
1 Tín
Căn, 1 Tín Lực.
Khi
tâm Siêu Thế đặt nền tảng trên Nhị Thiền ắt không có
tầm (vitakka). Khi đặt nền tảng trên Tứ Thiền và Ngũ Thiền
thì không có Phỉ (pīti).
Tất
cả 37 chi của pháp trợ đạo nầy chỉ nằm chung trong Tâm
Siêu Thế. Trong các loại tâm tại thế chỉ có riêng rẽ một
vài loại, tùy trường hợp.
Ðồ
Biểu 15
Bồ
Đề Phần (Boddhipakkhiya Saṅgaho)
| |
|
|
|
4
Niệm xứ
|
4
Chánh cần
|
4
Thần túc
|
5
Căn
|
5
Lực
|
7
Giác chi
|
8
Chánh đạo
|
| 1 |
Tấn |
|
9 |
|
--
(4)
|
--
|
--
|
--
|
--
|
--
|
| 2 |
Niệm |
|
8 |
--
(4)
|
|
|
--
|
--
|
--
|
--
|
| 3 |
Tuệ |
|
5 |
|
|
|
--
|
--
|
--
|
--
|
| 4 |
Định |
|
4 |
|
|
|
--
|
--
|
--
|
--
|
| 5 |
Tín |
|
2 |
|
|
|
--
|
--
|
|
|
| 6 |
Tư
duy |
|
1 |
|
|
|
|
|
|
--
|
| 7 |
Khinh
an |
|
1 |
|
|
|
|
|
--
|
|
| 8 |
Phỉ |
|
1 |
|
|
|
|
|
--
|
|
| 9 |
Xả |
|
1 |
|
|
|
|
|
--
|
|
| 10 |
Dục |
|
1 |
|
|
--
|
|
|
|
|
| 11 |
Tâm |
|
1 |
|
|
--
|
|
|
|
|
| 12 |
Chánh
ngữ |
Tiết
chế |
1 |
|
|
|
|
|
|
--
|
| 13 |
Chánh
nghiệp |
1 |
|
|
|
|
|
|
--
|
| 14 |
Chánh
mạng |
1 |
|
|
|
|
|
|
--
|
Sabbasaṅgaho
Tổ
hợp "tổng quát" (36)
5.
(i)
Sabbasaṅgahe -- Pañcakkhandho; rūpak- khandho, vedanākkhandho, saññākkhando,
saṅkhārakkhandho, viññāṇakkhandho.
(ii)
Pañcupādānakkhandhā -- rūpupadānākkhan- dho, vedanūpādānakkhandho,
saññūpādānak- khandho, saṅkhārūpādānakkhandho, viññāṇu-
pādānakkhandho. (īi)
(iii)
Dvādasāyatanāni -- cakkhāyatanaṁ, sotā- yatanaṁ, ghāṇāyatanaṁ,
jivhāyatanaṁ, kāyayata- naṁ, manāyatanaṁ, rūpāyatanaṁ, saddāyatanaṁ,
gandhāyatanaṁ, rasāyatanaṁ, phoṭṭhabbāyatanaṁ, dhammāyatanaṁ.
(iv)
Aṭṭhārasadhātuyo -- cakkhudhātu, sotadhātu, ghāṇadhātu, jivhādhātu,
kāyadhātu, rūpadhātu, saddadhātu, gandhadhātu, rasadhātu, phoṭṭhabba-
dhātu, cakkhuviññāṇadhātu, sotaviññāṇadhātu, ghāṇaviññāṇadhātu,
jivhāviññāṇadhātu, kāya- viññāṇadhātu, manodhātu, dhammadhātu,
mano- viññāṇadhātu.
(v)
Cattāri ariyasaccāni -- dukkhaṁ ariya-saccaṁ, dukkhasamudayo ariyasaccaṁ,
dukkha- nirodho ariyasaccaṁ, dukkhanirodhagāminīpaṭi- padā ariyasaccaṁ.
Ettha
pana cetasikā-sukhumarūpa-nibbānavasena ekūnasattati dhammā dhammāyatanadhammadhātū'ti
saṅkhaṁ gacchanti. Manāyatanam' eva sattaviññāṇadhātu vasena
bhijjati.
1)
Rupañ ca vedanā saññā sesā cetasikā tathā
Viññāṇam
iti pañc'ete pañcakkhandhā'ti bhāsitā.
2)
Pañc'upādānakkhandhā'ti tathā tebhūmakā matā
Bhedābhāvena
nibbānaṁ khandhasaṅgaha-nissaṭaṁ.
3)
Dvārālambanabhedena bhavantāyatanāni ca
Dvārālambanataduppannapariyāyena
dhātuyo.
4)
Dukkhaṁ tebhūmakaṁ vaṭṭaṁ taṇhāsamudayo bhave
Nirodho
nāma nibbānaṁ maggo lokuttaro mato.
5)
Maggayuttā phalā c'eva catusaccavinissaṭā
Iti
pañcappabhedena pavutto sabbasaṅgaho.
Iti
Abhidhammatthasaṅgahe samuccayasaṅgaha- vibhāgo nāma sattamaparicchedo.
§5
Trong
phần toát yếu các "tổ hợp tổng quát" có:
(i)
Năm Uẩn (37):
1.
sắc uẩn,
2.
thọ uẩn,
3.
tưởng uẩn,
4.
hành uẩn (38),
5
thức uẩn.
(ii)
Năm Uẩn Thủ (39):
1.
sắc uẩn thủ,
2.
thọ uẩn thủ,
3.
tưởng uẩn thủ,
4.
hành uẩn thủ,
5.
thức uẩn thủ.
(iii)
Mười Hai Xứ:
a.
Căn (40):
1.
nhãn (41) căn,
2.
nhĩ căn,
3.
tỷ căn,
4.
thiệt căn,
5.
thân căn,
6.
ý căn (42).
b.
Trần:
7.
sắc trần,
8.
thinh trần,
9.
hương trần,
10.
vị trần,
11.
xúc trần,
12.
pháp trần.
(iv)
Mười Tám Giới (43):
1.
nhãn giới,
2.
nhĩ giới,
3.
tỷ giới,
4.
thiệt giới,
5.
thân giới,
6.
sắc giới,
7.
thinh giới,
8.
hương giới,