Chương
III
PAKI.N.NAKA-SAṄGAHA-VIBHĀGO
PHẦN
LINH TINH
1.
Sampayuttā
yathāyogaṁ -- te paṇṇāsa sabbāvato
Cittacetasikā
dhammā -- tesaṁ'dāni yathārahaṁ.
Vedanā
hetuto kicca -- dvārālambanavatthuto
Cittuppādavasen'eva
-- saṅgaho nāma nīyate.
§1
Có
năm mươi ba tâm vương (1) và tâm sở phối hợp với nhau và
phát sanh tùy lúc tùy theo đặc tính.
Bây
giờ, xem tâm (2) như một đơn vị nguyên vẹn, các tâm vương
và tâm sở phối hợp nầy được đề cập đến một cách
thích ứng, tùy theo thọ, nhân, tác dụng, môn, đối tượng
và trú căn.
Chú
Giải
1.
Tất
cả tám mươi chín loại tâm vương được xem như một đơn
vị nguyên thuần vì lẽ tất cả đều có chung một đặc
tính là hay biết đối tượng. Năm mươi hai tâm sở thì được
đề cập đến một cách riêng rẽ vì mỗi tâm sở có một
đặc tính riêng biệt. (1+52 = 53).
2.
Cittuppāda
theo
nghĩa đen, là điểm xuất phát, hay khởi nguyên của tâm. Ở
đây danh từ nầy có nghĩa là chính cái tâm (cittam'eva cittuppādo).
Trong các trường hợp khác cittuppāda bao gồm chung tâm sở
cùng với tâm vương (aññattha pana dhammasamūho)
-ooOoo-
I.
Vedanā-Saṅgaho
Tóm
lược về Thọ
2.
Tattha vedanāsaṅgahe tāva tividha vedanā:-- sukhaṁ, dukkhaṁ, adukkhamasukhaṁ'
ti. Sukhaṁ, dukkhaṁ, somanassaṁ, domanassaṁ, upekkhā'ti ca bhedena
pana pañcadhā hoti.
3.
Tattha sukhasahagataṁ kusalavipākaṁ kāya- viññāṇaṁ ekam'eva.
4.
Tathā dukkhasahagataṁ akusalavipākaṁ kāya- viññāṇaṁ.
5.
Somanassa-sahagata-cittāni pana lobhamūlāni cattāri, dvādasa kāmāvacarasobhanāni,
sukha- santīraṇa-hasanāni ca dve'ti aṭṭhārasa kāmāvacara cittāni
c'eva, paṭhama-dutiya-tatiya- catutthajjhāna-saṅkhātānicatucattālīsa
Mahaggata-Lokuttara-
cittāni c'āti dvāsaṭṭhividhāni bhavanti.
6.
Domanassa-sahagata cittāni pana dve paṭigha- cittān'eva.
7.
Sesāni sabbāni'pi pañcapaṇṇāsa upekkhāsahagata-cittān'evā'ti.
8.
Sukhaṁ dukkham-upekkhā'ti tividhā tattha vedanā
Somanassaṁ
domanassam iti bhedena pañcadhā. Sukham'ek'attha dukkhañ ca domanassaṁ
dvaye ṭhitaṁ
Dvāsaṭṭhisu
somanassaṁ pañcapaṇṇāsaketarā.
§2.
Trong tóm lược về thọ (3) trước tiên, có ba loại thọ là:
lạc (4), khổ, và không-lạc-không-khổ. Hoặc nữa, có năm
loại là: hỷ, ưu, lạc, khổ và xả, hay tâm quân bình.
§3.
Trong những tâm nầy chỉ có loại tâm quả thiện thân thức
là liên hợp với thọ lạc.
§4.
Cùng thế ấy, chỉ có tâm quả bất thiện thân thức là liên
hợp với thọ khổ.
§5.
Có sáu mươi hai loại tâm đồng phát sanh cùng thọ hỷ (5)
- đó là:
a.
Mười tám loại tâm thuộc Dục Giới, như bốn bắt nguồn
từ căn tham, mười hai tâm Ðẹp thuộc Dục giới, và hai loại,
tâm suy đạc và tiếu sanh tâm (tâm làm mĩm cười).
b.
Bốn mươi bốn loại (6) tâm Cao Thượng (Ðại Hành) và Siêu
Thế, liên quan đến sơ, nhị, tam và tứ Thiền. (12 + 32 = 44).
§6.
Chỉ có hai loại tâm liên hợp với sân và đồng phát sanh
cùng thọ ưu (7).
§7.
Tất cả năm mươi lăm loại tâm còn lại đồng phát sanh cùng
thọ xả (8).
§8.
Nơi đây, thọ có ba là lạc, khổ, và xả. Cùng với hỷ và
ưu là năm.
Lạc
và khổ nằm trong một, ưu trong hai, hỷ trong sáu mươi hai,
và còn lại (xả) nằm trong năm mươi lăm.
Chú
Giải
3.
Vedanā, Thọ
là
một tâm sở quan trọng nằm trong tất cả các loại tâm. Ðặc
tính của thọ là cảm giác (vedayita-lakkhana). Thọ phát sanh
do xúc tạo duyên. Như vậy, chuyển ngữ danh từ nầy là cảm
kích thì không mấy thích hợp.
Cảm
giác được định nghĩa là "một cảm tưởng có sự hay biết,
không bao gồm sự nhận diện hay hình dung đối tượng". Cảm
kích được giải thích là "những thành phần của trực giác
liên quan đến giác quan hay là, phương cách theo đó một chủ
thể có ý thức bị biến đổi bởi sự hiện diện của đối
tượng." [1]
Như
vậy cảm giác gần với vedanā hơn là sự cảm kích. Vedanā
(thọ) biến đổi luồng tâm và tác hành như một năng lực
nâng đỡ và tiêu diệt đời sống. Như thọ hỷ thì nâng
đỡ đời sống, còn thọ ưu thì gây trở ngại. Do đó vedanā,
thọ, có một vai trò rất quan trọng trong kiếp sinh tồn của
một người.
Kinh
nghiệm mùi vị của một vật là tác dụng của vedanā (anubhavana
rasa). Những sự ưa thích hay ghét bỏ tùy thuộc nơi tánh cách
đáng ưa thích hay đáng ghét bỏ của ngoại cảnh. Thế thường,
ưa hay ghét phát sanh một cách máy móc, tự động.
Tuy
nhiên đôi khi, bằng cách vận dụng ý chí, ta có thể quyết
định loại thọ mà không bị đối tượng chi phối. Thí dụ
như thông thường, khi nhận thấy một người thù nghịch thì
ta không vui, có thọ ưu, và trạng thái không vui hay thọ ưu
ấy khởi sanh đến ta một cách tự nhiên, máy móc. Nhưng một
người có tri kiến chân chánh, trong trường hợp tương tợ
sẽ rải tâm Từ (Mettā) đến người được xem là thù nghịch
ấy và do đó, chứng nghiệm một loại thọ hỷ. Như Socrates
chẳng hạn, uống chén thuốc độc với tâm hoan hỷ và đối
diện cái chết một cách vui vẻ. Một lần nọ có người
bà la môn kia tuôn ra một tràng những lời chưởi mắng Ðức
Phật nhưng Ngài vẫn giữ thái độ mĩm cười và đáp lại
bằng tâm Từ. Ðạo sĩ Khantivādi bị một ông vua say rượu
ngược đãi tàn tệ, vẫn thành thật ước mong cho ông vua
hung bạo kia được sống lâu, thay vì nguyền rủa vua.
Một
người khác đạo cuồng tín có thể chứa chấp tâm bất mãn
khi thấy Ðức Phật. Cái thọ của người ấy lúc bấy giờ
là ưu, không vui. Cùng thế ấy, khi thấy đạo sư của một
tôn giáo khác người Phật tử cuồng nhiệt có thể cảm nghe
không vui trong lòng. Cái gì là chất ăn thức uống cho một
người có thể là độc dược cho người khác.
Như
khoái lạc vật chất chẳng hạn, thường được người ở
hạng trung bình đánh giá rất cao. Nhưng một đạo sĩ ẩn
dật hiểu biết, người có khuynh hướng trau giồi và phát
triển thiền tập, sẽ cảm nghe hạnh phúc hơn khi từ khước
khoái lạc vật chất ấy, và tình nguyện sống đời nghèo
nàn thiếu thốn trong cảnh vắng vẻ an tĩnh. Người thiên
về dục lạc sẽ thấy sống như thế không khác nào ở cảnh
địa ngục. Ðúng vậy, cái gì là thiên đàng của một người
có thể là địa ngục cho người khác. Cái gì là địa ngục
cho một người có thể là thiên đàng cho người khác. Thiên
đàng hay địa ngục đều do chính ta tạo nên, và ít hay nhiều,
chính do tâm tạo.
"Nầy
chư Tỳ Khưu, có hai loại thọ: lạc và khổ." Ðức Phật
dạy như vậy. Ðúng. Rồi bây giờ tại sao ta lại nói có
loại thứ ba là thọ xả, không lạc cũng không khổ? Bản
chú giải ghi nhận rằng loại thọ xả không đáng bị khiển
trách được bao hàm trong thọ lạc, và loại đáng bị khiển
trách được bao hàm trong thọ khổ. Lại nữa, Ðức Phật
dạy rằng bất luận loại cảm giác nào mà ta kinh nghiệm
trên thế gian nầy đều là thọ khổ. Ðó là do bản chất
luôn luôn biến đổi của tất cả các pháp hữu vi. Ðứng
trên phương diện khác, nếu xét về tất cả những hình thức
của thọ như thuần túy tinh thần thì chỉ có ba loại là
hỷ (sukha), ưu (dukkha), và xả (adukkhamasukha).
Sách
Athasālini giải thích như sau:--
Danh
từ sukha có nghĩa "cảm giác thích thú"(sukha vedanā), "căn nguyên
của hạnh phúc"(sukha-mūla), "đối tượng vui thích" (sukhārammaṇa),
"nguyên nhân của hạnh phúc" (sukha hetu), "tạo duyên cho hạnh
phúc khởi phát" (sukhapaccayaṭṭhāna), "thoát khỏi phiền não"
(abyāpajjhā), Niết Bàn", v.v...
Trong
từ ngữ "bằng cách loại trừ sukha", danh từ sukha có nghĩa
là cảm giác thích thú.
Trong
lời nói "sukha là dứt bỏ, không luyến ái gì trong thế gian
nầy", danh từ sukha là căn nguyên của hạnh phúc. Trong câu
"Bởi vì, nầy Mahāli, hình sắc là sukha, là rơi vào và đi
xuống sukha". Ở đây sukha là đối tượng của sự thích thú.
"Phước
báu, nầy chư Tỳ Khưu, là đồng nghĩa với sukha", trong câu
nầy, sukha là nguyên nhân của thích thú.
"Nầy
chư Tỳ Khưu, không phải dễ gì thành đạt sukha của cảnh
trời bằng cách mô tả." Những ai không thấy Nandana ắt không
hiểu biết sukha". Ở đây sukha có nghĩa là tạo duyên cho trạng
thái thích thú khởi sanh.
"Những
trạng thái ấy hợp thành cuộc sống sukha trong chính thế
gian nầy". Ở đây, sukha là không phiền não.
"Niết
Bàn là sukha tối thượng". Ở đây, sukha là Niết Bàn.
Theo
những đoạn được trích dẫn trên người đọc có thể hiểu
các ý nghĩa khác nhau của danh từ sukha. Riêng ở trường hợp
của chương nầy danh từ sukha được dùng trong nghĩa cảm
giác thích thú thuộc về vật chất, thọ lạc.
Niết
Bàn được ghi nhận là hạnh phúc (sukha) tối thượng. Nói
vậy không có nghĩa là có cảm giác thích thú ở Niết Bàn,
mặc dầu danh từ sukha đã được dùng. Niết Bàn là hạnh
phúc giải thoát. Chính sự kiện thoát ra khỏi đau khổ là
Niết Bàn.
Danh
từ dukkha có nghĩa là "cảm giác đau đớn, thọ khổ", "căn
trú của sự đau đớn", "đối tượng đau đớn", "nguyên nhân
của sự đau đớn", "tình trạng tạo duyên cho sự đau đớn
phát sanh".
"Bằng
cách loại trừ dukkha" -- ở đây dukkha là cảm giác đau đớn.
"Bởi
vì, nầy Mahāli, hình sắc là dukkha, là rơi vào và đi xuống
đau đớn". Ở đây dukkha là đối tượng của sự đau đớn.
"Tích
tụ điều bất thiện là dukkha". Ở đây dukkha là nguyên nhân
của đau khổ.
"Nầy
chư Tỳ Khưu, không phải dễ gì nghe mô tả những cảnh khổ
mà nhận thức được dukkha". Dukkha ở đây là "hoàn cảnh
tạo duyên cho trạng thái đau khổ phát sanh".
Trong
trường hợp đặc biệt của chương nầy, danh từ dukkha được
dùng theo nghĩa cảm giác đau đớn, sự đau khổ thuộc về
vật chất, thọ khổ.
Trong
bài kinh Chuyển Pháp Luân Dhammacakka Sutta, Ðức Phật kể ra
tám loại dukkha, khổ, đó là:
1.
Sanh là khổ,
2.
già yếu là khổ,
3.
bệnh hoạn là khổ,
4.
chết là khổ,
5.
sống chung với người mình không ưa thích là khổ,
6.
xa lìa người thân yêu là khổ,
7.
không đạt được điều mong mỏi là khổ,
8.
tóm tắt, Ngũ Uẩn là khổ.
Tất
cả những điều trên là nguyên nhân của dukkha.
Khi
Ðức Phật ngỏ lời cùng chư Thiên và nhân loại, Ngài đề
cập đến tám loại dukkha. Khi chỉ nói riêng cho người, Ngài
nhắc đến mười hai loại. Thay vì vyādhi (bệnh), Ngài nói
soka (phiền muộn), parideva (ta thán), dukkha (đau đớn), domanassa
(âu sầu), upāyāsa (thất vọng), là đau khổ. Tất cả năm
điều nầy đều được bao gồm trong danh từ vyādhi (bệnh)
và hàm xúc trạng thái bất điều hòa, vật chất và tinh thần.
Soka,
domanassa, và upāyāsa (phiền muộn, âu sầu, và thất vọng)
thuộc về tinh thần. Dukkha và parideva (đau đớn, ta thán) thuộc
về vật chất.
Dầu
tám hay mười hai loại dukkha, trong thực tế không có sự khác
biệt rõ rệt giữa hai công thức.
Adukkha-masukha
là cảm giác không thích thú cũng không đau đớn. Ðây là
thọ xả. Trạng thái nầy tương đương với cả hai, sự thản
nhiên lãnh đạm, và sự thản nhiên khắc kỷ. Danh từ Pāli,
upekkhā (xả), bao hàm một ý nghĩa rộng rãi hơn, được dùng
thường hơn danh từ nầy để chỉ cảm giác không vui không
buồn.
Trong
một loại tâm bất thiện, upekkhā (xả) là thản nhiên, lãnh
đạm, bởi vì đó là trường hợp của một loại tâm do vô
minh xúi giục. Trong một loại tâm quả vô nhân (ahetuka-vipāka),
như một cảm giác chẳng hạn, upekkhā chỉ giản dị là một
cảm giác xả, không có giá trị đạo đức, không có tánh
cách thiện hay bất thiện. Danh từ adukkha-m-asukha, không đau
đớn cũng không thỏa thích, chỉ áp dụng vào trường hợp
nầy. Upekkhā tiềm tàng ngủ ngầm trong một loại tâm Ðẹp
thuộc Dục Giới (Kamāvacara Sobhana Citta), có thể là một trong
những trạng thái sau đây: sự thản nhiên suông (không có
tánh cách lãnh đạm vì không có vô minh), cảm giác xả suông,
cảm giác vô tư, không thiên vị hay nghiêng ngã về bên nào,
sự thản nhiên khắc kỷ, và hoàn toàn quân bình.
Trong
tâm Thiền (Jhāna), upekkhā là trạng thái quân bình hoàn toàn,
tâm xả, phát sanh do định. Tâm xả nầy có cả hai tánh cách,
đạo đức và trí thức. (Xem chương I, chú giải 42).
Theo
một lối phân hạng rộng rãi hơn, Vedanā được chia làm năm
loại là:
a.
Sukha -- cảm giác thích thú thuộc về vật chất, lạc.
b.
Somanassa -- hoan hỷ thỏa thích thuộc tinh thần, hỷ.
c.
Dukkha -- đau đớn thuộc thể chất, khổ.
d.
Domanassa -- ưu phiền, thuộc tinh thần, ưu.
e.
Upekkhā -- thản nhiên, quân bình, xả.
Ðến
mức cùng tột, tất cả những cảm giác đều thuộc về tinh
thần, bởi vì thọ là một tâm sở. Tuy nhiên có sự khác
biệt giữa sukha và dukkha.
Trong
89 loại tâm chỉ có hai liên hợp hoặc với sukha hoặc với
dukkha. Trong hai loại tâm ấy, một là thân thức liên hợp
với thọ lạc, và loại kia là thân thức liên hợp với thọ
khổ.
Cả
hai loại tâm nầy đều là tâm quả, hậu quả của nghiệp
thiện (kusala kamma) và nghiệp bất thiện (akusala kamma). Thí
dụ như sự xúc chạm êm dịu đem lại thọ lạc. Ðụng mạnh
vào mũi nhọn đem lại thọ khổ. Ðây là hai trường hợp
trong đó ta kinh nghiệm hai loại thọ kể trên.
Bây
giờ, một câu hỏi có thể được nêu lên.
--
Tại sao chỉ có thân thức liên hợp với thọ lạc và thọ
khổ? Trong những thức khác như nhãn thức, nhĩ thức v.v...
tại sao chỉ có thọ xả?
Trong
phần mở đầu quyển Triết Học Khái Luận, Ông Aung cung cấp
lời giải đáp như sau:
"Chỉ
có xúc giác (thân thức) mới đem lại những cảm giác đau
đớn hay thích thú tích cực. Những giác quan kia chỉ liên
hợp với thọ xả. Sự xúc chạm giữa mặt nhạy (pasāda rūpa)
của những giác quan khác và các đối tượng tương ứng --
cả hai đều là tánh chất phụ thuộc của thân -- không đủ
mạnh để tạo nên cảm giác đau đớn hay thích thú về vật
chất. Nhưng trong trường hợp của xúc giác thì có sự xúc
chạm của một phần hay của tất cả những tánh chất căn
bản -- thành phần có đặc tính duỗi ra, cứng hay mềm (paṭhavi,
đất), thành phần có đặc tính nóng hay lạnh (tejo, lửa),
thành phần có đặc tính di động (vāyo, gió) -- sự xúc chạm
nầy đủ mạnh để gây cảm kích cho những tánh chất căn
bản của thân. Cũng như đặt bông gòn trên hòn đe thì không
có gì, nhưng cái búa đập bông gòn trên hòn đe sẽ có ảnh
hưởng nhiều đến hòn đe." -- (Compendium of Philosophy, trang
14)
Trong
trường hợp của xúc giác thì có sự tiếp chạm mạnh. 'Các
thành phần chánh yếu của vật chất', Tứ Ðại [2] của đối
tượng trực tiếp chạm mạnh vào những thành phần tương
ứng của cơ thể. Trường hợp các thức khác như nhãn thức,
nhĩ thức v.v... chỉ có sự tiếp xúc suông mà không có sự
xúc chạm đủ mạnh, do đó không tạo cảm giác đau đớn
hay thích thú về vật chất.
Mặc
dầu thọ phát sanh do xúc có thể là sukha, dukkha, hay upekkhā,
tiến trình javana không nhất thiết phải liên hợp với một
loại thọ giống như vậy.
Thí
dụ như khi Ðức Phật bị một mảnh đá bay trúng vào chân
thì Ngài nghe đau, trạng thái đau đớn thuộc về cơ thể
vật chất, nhưng tiến trình javana phát sanh do cảm giác đau
không nhất thiết đồng phát sanh cùng thọ khổ. Ngài không
bị cái đau làm chao động mà trong lúc ấy giữ tâm hoàn toàn
bình thản. Cảm giác nổi bật mạnh mẽ nhất trong tâm Ngài
là xả, upekkhā. Cùng thế ấy, khi nhìn thấy Ðức Phật, một
người hiểu biết chân chánh tự nhiên có một loại nhãn
thức liên hợp với thọ xả (upekkhāsahagata cakkhu- viññāṇa),
nhưng luồng javana vẫn là thiện. Thọ đồng thời phát sanh
với javana sẽ là somanassa (hỷ).
Ðiểm
phức tạp nầy phải được hiểu biết rõ ràng.
Somanassa
(trạng thái tâm tốt -- thọ hỷ) và Domanassa (trạng thái tâm
không tốt -- thọ ưu} thuần túy thuộc về tinh thần. Năm
loại thọ nầy có thể được thâu gọn lại thành ba, ba còn
hai, và hai còn một, như sau:
i)
Sukha + somanassa; upekkhā; dukkha + domanassa
ii)
Sukha; upekkhā; dukkha
iii)
Sukha; dukkha
iv)
Dukkha
(Upekkhā
bị chìm mất trong sukha, và cuối cùng sukha bị chìm mất trong
dukkha).
4.
Sukha, Thích Thú
Sukha,
trạng thái thích thú về vật chất, phải được phân biệt
rõ ràng với somanassa, sự hoan hỷ thỏa thích về tinh thần.
Cũng như dukkha, đau đớn về vật chất, phải được phân
biệt rõ ràng với domanassa, trạng thái ưu phiền, thuộc tinh
thần. Chỉ có một loại tâm liên hợp với sukha. Cùng thế
ấy, chỉ có một loại tâm đồng thời phát sanh cùng dukkha.
Cả hai loại tâm nầy đều là quả của những hành động
tốt và xấu.
Thí
dụ như khi Ðức Phật bị Tỳ Khưu Devadatta gây thương tích,
Ngài có một loại thân thức liên hợp với thọ khổ. Ðó
là hậu quả của một hành động bất thiện của Ngài trong
quá khứ.
Khi
ngồi trên một cái ghế có đầy đủ tiện nghi, chúng ta có
một loại thân thức liên hợp với thọ hỷ. Ðó là hậu
quả của một hành động tốt trong quá khứ. Tất cả những
hình thức đau đớn hay thỏa thích đều là hậu quả không
thể tránh của nghiệp đã tạo.
5.-
6. Người đọc sẽ ghi nhận rằng tâm phát sanh cùng thọ hỷ
nhiều hơn tất cả các loại tâm khác. Như vậy, trong kiếp
sống của một người, có nhiều lúc thỏa thích hơn là đau
khổ. Ðiều nầy không mâu thuẩn với lời dạy rằng đời
sống là đau khổ (dukkha). Khi nói rằng đời sống là dukkha,
đau khổ, danh từ dukkha không được dùng theo nghĩa thọ khổ,
mà dukkha có nghĩa là áp bức, trở ngại (pīḷana, bất toại
nguyện). Người đã đọc một cách thận trọng đoạn mô
tả dukkha trong kinh Dhammacakka Sutta (Chuyển Pháp Luân) sẽ thấy
rõ điều nầy.
6.
Ðó là bốn loại tâm Thiền Thiện (Kusala Jhāna), bốn tâm
Thiền Quả (Vipāka Jhāna), bốn tâm Thiền Hành (Kriyā Jhāna)
và ba mươi hai tâm Thiền Siêu Thế (Lokuttara Jhāna). (4 + 4 +
4 + 32 = 44).
7.
Chỉ có thọ ưu trong hai loại tâm liên quan đến sân (paṭigha).
Khi nổi giận chúng ta cảm nghe không vui, thọ ưu. Có phải
nơi nào có thọ ưu là có sân không? -- Phải. Sân dưới hình
thức thô kịch hay vi tế. (Xem chương I, chú giải 10)
8.
Ðó là 6 Bất Thiện (Akusala), 14 Vô Nhân (Ahetuka), 12 Ðẹp (Sobhana),
3 Thiền Sắc Giới (Rūpa Jhāna), 12 Thiền Vô Sắc (Arūpa Jhāna),
8 Siêu Thế (Lokuttara). (6 + 14 + 12 + 3 + 12 + 8 = 55).
Ghi
chú:
[1]
Dictionary of Philosophy, trang 108.
[2]
tức paṭhavi, tejo, vāyo (thành phần có đặc tính duỗi ra
và chiếm không gian, thành phần có đặc tính nóng hay lạnh,
và thành phần có đặc tính di động). Āpo, nước, thành phần
có đặc tính làm dính liền, không có kể ở đây, vì không
thể dùng giác quan để tri giác thành phần nầy được.
-ooOoo-
II.
Hetu Saṅgaho
Tóm
lược về Nhân
4.
Hetusaṅgahe
hetu nāma lobho doso moho alobho adoso amoho c'āti chabbidhā bhavanti.
Tattha
pañcadvārāvajjanadvipañcaviññāṇa-sampa- ṭicchana-santīraṇa-votthapana-hasana-vasena
aṭṭhārasāhetukacittāni nāma,
Sesāni
sabbāni'pi ekasattati cittāni sahetukañ'eva.
Tattha'pi
dve momūhacittāni ekahetukāni.
Sesāni
dasa akusalacittāni c'eva ñāṇavippayuttāni dvādasa kāmāvacarasobhanāni
c'āti dvāvīsati dvihetukacittāni.
Dvādasa
ñāṇasampayutta-kāmāvacara sobhanāni c'eva pañcatiṁsamahaggata-lokuttara
cittāni c'āti satta cattāḷīsa tihetukacittāni.
5.
Lobho
doso ca moho ca hetu akusalā tayo
Alobhādosāmoho
ca kusalābyākatā tathā
Ahetukaṭṭhāras'eka
hetukā dve dvāvīsati
Dvihetukā
matā satta cattālisa tihetukā.
§4
Trong
phần tóm lược về nhân (9), có sáu nhân là tham, sân, si,
không-tham hay tâm quảng đại, không-sân hay thiện ý, và không-si
hay trí tuệ.
Nơi
đây có mười tám loại tâm không có nhân (vô nhân) (10) là
ngũ môn hướng tâm, ngũ song thức, tiếp thọ tâm, suy đạc
tâm, xác định tâm và tiếu sanh tâm.
Tất
cả bảy mươi mốt (11) loại tâm còn lại thì có nhân.
Trong
những tâm còn lại nầy có hai (12) liên hợp với si và chỉ
có một nhân.
Mười
loại tâm bất thiện còn lại (13) và mười hai (14) loại tâm
Ðẹp thuộc Dục Giới, không liên hợp với tri kiến -- cộng
chung lại là hai mươi hai -- có hai nhân.
Mười
hai loại tâm Ðẹp thuộc Dục Giới (15), liên hợp với tri
kiến và ba mươi lăm loại tâm Cao Thượng và Siêu Thế --
cộng chung lại là bốn mươi bảy -- có ba nhân.
§5
Tham,
sân, si, là ba nhân bất thiện. Cùng thế ấy tâm buông bỏ
(không-tham), thiện ý (không-sân) và trí tuệ (không-si) là
thiện và bất định (16).
Nên
hiểu rằng có mười tám loại tâm không có nhân, hai loại
có một nhân, hai mươi hai loại có hai nhân, và bốn mươi
bảy loại có ba nhân.
Chú
Giải:
9.
Xem chương I, chú giải số 9.
Muốn
biết rõ đầy đủ chi tiết về hetu (nhân), xin xem Dhammasaṅghani
Hetu-gocchakaṁ, Phần 1053-1083; Buddhist Psychology trang 274-287.
Theo
sách Atthasālini có bốn loại hetu, nhân.
i.
Hetu-hetu, nguyên nhân của nhân, hay duyên sanh nhân. Có ba nhân
thiện, ba nhân bất thiện, và ba nhân bất định (abyākata,
không có tánh cách đạo đức, không thiện cũng không bất
thiện). Ở đây danh từ hetu được dùng trong ý nghĩa rễ
cây.
ii.
Paccaya-hetu, điều kiện tạo nhân, hay nguyên nhân tác dụng
như phương tiện.
"Bốn
Ðại Chánh Yếu (Mahābhūta, Tứ Ðại), nầy chư Tỳ Khưu,
là nguyên nhân (hetu), là những điều kiện (paccaya, duyên)
để Sắc Uẩn (Rūpakkhandha) biểu hiện".
Ở
đây hetu được dùng trong nghĩa tương quan tạo duyên (paccayahetu).
Có
sự khác biệt tế nhị giữa hetu (nhân) và paccaya (duyên).
Hetu (nhân) có nghĩa là rễ (mūla). Paccaya là yếu tố hỗ trợ
(upakāraka dhamma). Hetu ví như rễ cây, và paccaya như phân bón,
nước, và đất, những yếu tố giúp cho cây trưởng thành.
Sự
khác biệt nầy phải được hiểu biết rành rẽ.
Cũng
nên ghi nhận rằng đôi khi hai danh từ hetu và paccaya được
xem như đồng nghĩa.
iii.
Uttama-hetu, nguyên nhân hay điều kiện chánh (chí thượng nhân).
Một
đối tượng (trần cảnh) đáng được ưa thích tác động
như nguyên nhân chánh (uttama) để tạo quả lành và đối tượng
không đáng được ưa thích tác động như nguyên nhân chánh
tạo quả xấu.
Ở
đây, hetu là nguyên nhân chánh.
iv.
Sādhāraṇa-hetu, nguyên nhân hay điều kiện chung, thông thường
(phổ biến nhân).
Vô
minh là nguyên nhân (hetu), điều kiện (paccaya, duyên), để
hành (saṅkhārā) phát sanh.
Ở
đây hetu có nghĩa là nguyên nhân tổng quát, thông thường.
Cũng
như tinh chất của đất và nước là nguyên nhân thông thường
giúp tạo tánh chất ngọt hay đắng của trái cây, cùng thế
ấy, vô minh là nguyên nhân thông thường của hành.
Mặc
dầu danh từ hetu có nhiều ý nghĩa tương tợ, không khác nhau
xa, ở đây hetu được dùng theo nghĩa rễ, căn nguyên, nhân.
10.
Tất
cả những loại tâm Vô Nhân (Ahetuka Cittas) đều không có nhân
nào. Do đó những loại tâm nầy không có tánh cách đạo đức,
không thiện cũng không bất thiện.
Bảy
trong những loại tâm nầy là quả của những hành động bất
thiện, tám là quả của những hành động thiện,và ba chỉ
là hành suông, hành động không tạo quả. (7+8+3 = 18)
(Xem
chương I, Ahetuka Cittāni - trang 38)
11.
Tức
là: 89 - 18 = 71
12.
Là
loại tâm liên hợp với hoài nghi (vicikicchā) và tâm kia, liên
hợp với phóng dật (uddhacca). Ðó là hai tâm duy nhất chỉ
có một nhân là nhân si. Hoài nghi (vicikicchā), vốn là một
loại tâm yếu, không đủ năng lực để quyết định kiếp
sống tương lai.
Cả
hai, hoài nghi và phóng dật, là hai thằng thúc, tức dây trói
buộc cột chúng sanh vào vòng luân hồi. Hoài nghi được tận
diệt khi chứng đắc Ðạo (Magga) của tầng Thánh đầu tiên,
và phóng dật chỉ được tận diệt khi đắc Ðạo của tầng
thánh thứ tư, A La Hán Ðạo.
13.
Tám
loại tâm bất thiện đầu tiên liên quan đến lobha (tham) và
moha (si). Hai loại tâm bất thiện kế đó bắt nguồn từ dosa
(sân) và moha (si).
Nên
ghi nhận rằng moha (si) nằm trong tất cả những loại tâm
bất thiện.
14.
Mười
hai tâm Ðẹp (cũng được gọi là Tịnh Hảo hay Tịnh Quang
Tâm) thuộc Dục Giới (Kāmāvacara Sobhana Cittas) nầy (đã được
đề cập đến trong chương I) không liên hợp với tri kiến
(ñāṇa) và do hai nhân alobha (không-tham) và adosa (không-sân)
tạo điều kiện để phát sanh. Hai nhân nầy hiện hữu cùng
một lúc trong các tâm thiện.
15.
Mười
hai tâm Ðẹp thuộc Dục Giới còn lại, liên hợp với tri
kiến, do tất cả ba nhân thiện tạo điều kiện.
Cùng
thế ấy, 15 tâm thuộc Sắc Giới, 12 thuộc Vô Sắc Giới và
tám loại Siêu Thế (15 + 12 + 8 = 35), luôn luôn liên hợp với
ba nhân.
Nên
hiểu rằng không phải như vậy là không bao giờ có tâm bất
thiện, do ba nhân bất thiện tạo duyên, phát sanh trong cảnh
Sắc Giới và Vô Sắc Giới. Ðiểm cần phải biết ở đây
là trong các loại tâm Cao Thượng (Ðại Hành) không có nhân
bất thiện.
Không
giống như các tâm thiện (Kusala Citta) khác, những tâm Siêu
Thế (Lokuttara Citta), mặc dầu liên hợp với ba nhân thiện,
không có năng lực tái tạo, tức không tạo nghiệp.
16.
Abyākata, Bất Ðịnh
Theo
nghĩa trắng, là cái gì không biểu hiện. Danh từ nầy được
áp dụng cho cả hai, tâm Quả (Vipāka) và tâm Hành (Kriyā).
Vipāka tự nó là quả và như vậy, không tạo nghiệp. Kriyā
là hành động không tạo nghiệp, không bao giờ trổ quả.
Rūpa (Sắc) cũng được xem là abyākata (bất định), bởi vì
tự nó không tạo thêm quả.
Ahetuka
-- những loại tâm vô nhân = 18
Ekahetuka
-- những loại tâm có một nhân = 2
Dvihetuka
-- những loại tâm có hai nhân: bất thiện = 10; thiện = 12
Tihetuka
-- những loại tâm có ba nhân: Ðẹp = 12; Cao Thượng = 27; Siêu
Thế = 8
Tổng
cộng: 18 + 2 + 10 + 12 + 12 + 27 + 8 = 89
-ooOoo-
III.
Kicca-Saṅgaho
Tóm
lược về Tác dụng
6.
Kicca-saṅgahe
kiccāni nāma paṭisandhi-bhavaṅga- vajjanadassana-savana-ghāyana-sāyana-phusana-sampaṭicchana-
santīraṇa-votthapana- javana- tadālambana-cutivasena cuddasavidhāni
bhavanti.
Paṭisandhibhavaṅgāvajjanapañ
cāviññāṇaṭṭhānādi- vasena pana tesaṁ dasadhā ṭhānabhedo
veditabbo.
Tattha
dve upekkhāsahagatasantīraṇāni c'eva aṭṭha mahāvipākāni ca
nava rūpārūpavipākāni c'āti ekūnavīsati cittāni paṭisandhi-bhavaṅga-cutikiccāni
nāma.
Āvajjanakiccāni
pana dve. Tathā dassana-savana-ghāyana-sāyana-phusana-sampaṭicchanakiccāni
ca.
Tīni
santīraṇakiccāni.
Manodvārāvajjanam'eva
pañcadvāre votthapana- kiccaṁ sādheti.
Āvajjanadvaya-vajjitāni
kusalākusalakriyā cittāni pañcapaṇṇāsa javanakiccāni.
Aṭṭhamahāvipākāni
c'eva santīraṇattayañc'āti ekādasa tadālambanakiccāni.
Tesu
pana dve upekkhāsahagatasantīraṇacittāni paṭisandhi-bhavaṅga-cuti-tadārammaṇa-santīraṇa-vasena
pañca kiccāni nāma.
Mahāvipākāni
aṭṭha paṭisandhi-bhavaṅga cuti-tadārammaṇa-vasena catukiccāni.
Mahaggatavipākāni
nava paṭisandhi-bhavaṅga-cutivasena tikiccāni.
Somanassa-sahagataṁ
santīraṇaṁ-tadālambana- vasena dukiccaṁ
Tathā
votthapanañ ca votthapanāvajjanavasena.
Sesāni
pana sabbāni'pi javana-manodhātuttika-pañcaviññāṇāni yathāsambhavam'
eka kiccāni'ti.
7.
Paṭisandhādayo
nāma kiccabhedena cuddasa
Dasadhā
ṭhānabhedena cittuppādā pakāsitā
Aṭṭhasaṭṭhi
tathā dve ca navaṭṭhadve yathākkamaṁ
Ekadviticatupañcakiccaṭṭhānāni
niddise.
§6
Trong
phần tóm lược về tác dụng (17) có tất cả mười bốn
loại là: 1. nối liền (18), 2. hộ kiếp (19), 3. hướng tâm
(20), 4. thấy, 5. nghe, 6. hưởi, 7. nếm, 8. xúc chạm (21), 9.
tiếp thọ (22), 10. suy đạc (23), 11. xác định (24), 12. Javana
(25), 13. đăng ký (26), và 14. chết (27).
Lối
phân loại các tâm nầy (28) phải được hiểu rằng có mười
là: 1. nối liền, 2. hộ kiếp, 3. hướng tâm, 4. ngũ song thức
v.v...
Có
mười chín loại tâm làm nhiệm vụ nối liền, hộ kiếp và
chết.
Các
loại tâm ấy là:
1.
hai loại tâm suy đạc, đồng phát sanh với thọ xả (29),
2.
tám loại tâm đại quả (30), và
3.
chín loại tâm quả thuộc Sắc Giới và Vô Sắc Giới (31).
(2
+ 8 + 9 = 19).
Hai
loại làm nhiệm vụ hướng tâm (32).
Cùng
thế ấy hai loại (33) làm nhiệm vụ thấy, nghe, hưởi, nếm,
xúc chạm, và tiếp thọ (34).
Có
ba loại (35) làm nhiệm vụ suy đạc.
Ý
môn thức làm nhiệm vụ xác định (36) trong (tiến trình) ngũ
song thức.
Ngoại
trừ hai loại hướng tâm (37), năm mươi lăm (38) loại tâm
bất thiện, thiện, và hành, làm nhiệm vụ Javana (tốc hành
tâm).
Tám
tâm đại quả và ba loại tâm suy đạc (tất cả là mười
một) (39), làm nhiệm vụ đăng ký.
Trong
các loại tâm, hai tâm suy đạc đồng phát sanh với thọ xả,
làm năm nhiệm vụ như nối liền, hộ kiếp, chết, đăng ký,
suy đạc.
Tám
loại tâm đại quả làm bốn nhiệm vụ như nối liền, hộ
kiếp, chết, và đăng ký.
Chín
loại tâm quả Cao Thượng (Ðại Hành) làm ba nhiệm vụ như
nối liền, hộ kiếp, và chết (40).
Tâm
suy đạc đồng phát sanh với thọ hỷ, làm hai nhiệm vụ như
suy đạc và đăng ký.
Cùng
thế ấy, tâm xác định (41) làm hai nhiệm vụ như xác định
và hướng tâm.
Tất
cả những loại tâm còn lại -- javana, ba thành phần tâm (42),
và ngũ song thức -- chỉ làm một nhiệm vụ duy nhất khi phát
sanh.
§7
Có
tất cả mười bốn loại tâm được dạy, tùy theo tác dụng
như nối liền v.v... và mười tùy theo lối phân loại.
Những
loại tâm làm một nhiệm vụ được dạy rằng có sáu mươi
tám; hai nhiệm vụ, có hai; ba nhiệm vụ có chín; bốn nhiệm
vụ, có tám, và năm nhiệm vụ, có hai.
Chú
Giải
17.
Kicca, Nhiệm Vụ, Tác Dụng.
Trong
chương I, tâm cốt yếu nhất được phân loại tùy theo bản
chất thiên nhiên (jāti), và tùy theo cảnh giới (bhūmi). Trong
phần nầy những nhiệm vụ hay tác dụng khác nhau của tất
cả 89 loại tâm được giải thích với đầy đủ chi tiết.
Mỗi
loại tâm có một nhiệm vụ riêng biệt. Có vài loại tâm
đảm nhiệm nhiều tác dụng, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau,
với những khả năng khác nhau. Tất cả đảm trách mười
bốn nhiệm vụ đặc biệt.
18.
Paṭisandhi, Tâm Nối Liền
Theo
nghĩa trắng, danh từ paṭisandhi là "nối liền".
Loại
tâm mà ta kinh nghiệm lúc được mẹ thọ thai có tên là paṭisandhi,
thức nối liền. Ðược gọi như vậy vì tâm nầy nối liền
hai kiếp sống, quá khứ và hiện tại. Có nơi gọi là tâm
tục sanh.
Tâm
nối liền (paṭisandhi citta) nầy, cũng được gọi là thức
tái sanh, khởi phát do chặp tư tưởng có nhiều năng lực
lúc chết ở kiếp trước tạo điều kiện, và được xem
là cội nguồn của luồng sống trong kiếp hiện tại. Trong
suốt kiếp sống chỉ có một chặp tâm nối liền. Những
thành phần tâm linh chứa đựng trong chặp bhavaṅga (hộ kiếp)
mà về sau sẽ phát sanh vô số lần trong kiếp sống, và trong
chặp tử tâm (cuti citta, tâm chết) mà chỉ phát sanh một lần
duy nhất lúc chết, giống hệt như thành phần tâm thức kết
hợp trong paṭisandhi citta (tâm nối liền).
19.
Bhavaṅga, Hộ Kiếp
"Bhava"
+ "aṅga" = yếu tố của đời sống, hay điều kiện, nguyên
nhân không thể không có của kiếp sinh tồn.
Trong
một điểm thời gian nhất định ta chỉ có thể có một chặp
tư tưởng (sát-na tâm) mà thôi. Hai chặp tư tưởng không thể
cùng tồn tại trong một lúc.
Mỗi
chặp tư tưởng duyên theo vài loại đối tượng (trần cảnh).
Không thể có tâm phát sanh mà không có đối tượng, tinh thần
hay vật chất.
Khi
một người đang ngủ mê trong trạng thái không mộng mị,
người ấy có một loại tâm ít nhiều tiêu cực, thụ động
hơn là tích cực. Loại tâm ấy cũng giống như loại tâm sơ
khởi, lúc được mẹ thọ thai, hay loại tâm cuối cùng, lúc
chết. Abhidhamma (Vi Diệu Pháp) gọi loại tâm nầy là bhavaṅga,
hộ kiếp. Cũng như tất cả các loại tâm khác, loại tâm
nầy bao gồm ba sắc thái: sanh (uppāda), trụ (ṭhiti), và diệt
(bhaṅga). Luôn luôn sanh và diệt trong từng khoảnh khắc, nó
trôi chảy như một dòng suối, không bao giờ tồn tại giống
nhau trong hai khoảnh khắc kế tiếp.
Khi
một đối tượng (trần cảnh) nhập vào dòng tâm thức, xuyên
qua giác quan, chặp bhavaṅga dừng lại, và một sát-na khác
phát sanh, thích ứng với đối tượng. Không những chỉ trong
lúc ngủ say không mộng mị mà trong khi tỉnh cũng vậy, chúng
ta có loại tâm nầy nhiều hơn tất cả các loại tâm khác.
Do đó bhavaṅga (hộ kiếp) trở thành thiết yếu, không thể
thiếu trong đời sống.
Bà
Rhys Davids và Ông Aung so sánh bhavaṅga với "trạng thái tri
giác tối tăm, chưa lên đến thức", trong một "giấc ngủ
không mộng mị" của Leibniz.
Ta
không thể đồng ý, bởi vì bhavaṅga tự nó là một loại
tâm. Không có sự tri giác tối tăm ở đây.
Vài
người cho rằng bhavaṅga là tiềm thức. Theo Dictionary of Philosophy,
tiềm thức là "một ngăn trong tâm mà vài nhà tâm lý học
và triết học chủ trương là nằm phía dưới thức". Theo
quan điểm của các triết gia Tây Phương, tiềm thức và thức
cùng tồn tại trong một lúc. Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma),
không thể có hai loại tâm cùng tồn tại trong một lúc, bhavaṅga
cũng không phải là một cảnh giới nào ở phía dưới.
Sách
Compendium lại nói thêm rằng "bhavaṅga có nghĩa là một trạng
thái thuộc về cơ năng của tiềm thức". Như vậy đó là
trạng thái tiềm thức -- "nằm dưới ngưỡng cửa" của tâm,
do đó ta quan niệm có thể có sự sống chủ quan liên tục.
Như vậy nó trùng hợp với "subliminal consciousness" [1] của
F.W. Myer.
Tự
điển Dictionary of Philosophy giải thích "subliminal" (sub, dưới
-- limen, ngưỡng cửa) là những tiến trình tư tưởng vô ý
thức, đặc biệt là những cảm giác nằm phía dưới ngưỡng
cửa của tâm". Một cách chính xác, bhavaṅga cũng không trùng
hợp với subliminal consciousness. Trong triết học Tây Phương
hình như không có chỗ cho bhavaṅga.
Bhavaṅga
được gọi như vậy bởi vì nó là điều kiện chánh yếu
cho kiếp sống chủ quan liên tục.
Khi
tâm không thâu nhận một đối tượng từ bên ngoài, ta có
loại tâm bhavaṅga [2]. Tức khắc sau một tiến trình tâm cũng
có một chặp bhavaṅga. Do đó loại tâm nầy cũng được gọi
là vīthimutta, tự do, không dính mắc trong một tiến trình.
Ðôi khi nó tác động như một trái độn giữa hai tiến trình
tâm.
Danh
từ Việt ngữ thường được dùng để phiên dịch chữ bhavaṅga
là "hộ kiếp" [3]. Cái gì giúp cho đời sống tiếp diễn.
Trong sách nầy danh từ được giữ nguyên vẹn.
Theo
sách Vibhāvini Tikā, bhavaṅga phát sanh giữa những chặp:
1.
Paṭisandhi (nối liền) và āvajjana (hướng tâm),
2.
Javana và āvajjana,
3.
Tadārammaṇa (đăng ký) và āvajjana,
4.
Votthapana (xác định) và āvajjana,
5.
và đôi khi giữa javana và cuti (tâm chết), và
6.
Tadārammaṇa và cuti.
20.
Āvajjana, Mở Ra, hay Hướng Về
Khi
một đối tượng nhập vào dòng bhavaṅga của tâm, chặp tư
tưởng liền kế đó gọi là bhavaṅga calana (bhavaṅga rung
động). Tức khắc kế đó nữa có một chặp khác phát sanh,
được gọi là bhavaṅga upaccheda (bhavaṅga dừng lại, dứt
dòng). Vì lẽ dòng bhavaṅga trôi chảy vô cùng mau lẹ, đối
tượng từ bên ngoài không làm phát sanh tức khắc một tiến
trình tâm. Chặp bhavaṅga sơ khởi diệt. Chừng ấy dòng trôi
chảy mới được kiểm soát. Trước khi thật sự chuyển qua
một chặp tâm mới, bhavaṅga rung động trong một chặp (sát-
na).
Khi
chặp bhavaṅga dừng lại,. một chặp tâm phát sanh, hướng
về đối tượng. Nếu đối tượng thuộc về vật chất thì
chặp tâm nầy được gọi là ngũ môn hướng tâm, hay ngũ
khai môn (pañcadvārāvajjana). Trường hợp đối tượng thuộc
về tinh thần chặp tâm nầy là manodvārāvajjana, ý môn hướng
tâm, hay ý khai môn.
Trong
một tiến trình tâm mà đối tượng thuộc về vật chất,
sau chặp hướng tâm liền phát sanh một trong ngũ quan thức.
(Xem chương I, chú giải số 27).
Āvajjana
phát sanh giữa bhavaṅga và pañcaviññāṇa (ngũ quan thức),
và giữa bhavaṅga với javana.
21.
Pañcaviññāṇa, Ngũ Quan Thức.
Phát
sanh giữa ngũ môn hướng tâm và tiếp thọ tâm (sampaṭicchana).
Thấy, nghe, hưởi, nếm, và xúc chạm được gọi chung là
ngũ quan thức (pañcaviññāṇa).
22.
Sampaṭicchana, Tiếp Thọ Tâm.
Phát
sanh giữa ngũ quan thức và tâm suy đạc (santīraṇa).
23.
Santīraṇa, Suy Ðạc Tâm
Phát
sanh giữa tâm tiếp thọ và tâm xác định (votthapana).
24.
Votthapana, Xác Ðịnh Tâm
"Vi"
+ "ava" + căn "tha", đứng lên, làm cho vững, dựa trên, theo
nghĩa trắng là quyết định hoàn toàn.
Chính
ngay lúc nầy bản chất của đối tượng được xác định
một cách trọn vẹn. Ðây là cổng đưa dòng tâm vào tiến
trình thiện hay bất thiện. Phân biệt đúng hay sai là ở giai
đoạn nầy. Chính giai đoạn nầy quyết định tiến trình
tư tưởng, tốt hay xấu, thiện hay bất thiện.
Không
có một hạng tâm riêng biệt gọi là votthapana (xác định).
Chính manodvārāvajjana (ý môn hướng tâm) làm nhiệm vụ quyết
định.
Tâm
xác định phát sanh giữa những tâm:
1.
suy đạc (santīraṇa) và tốc hành (javana) và
2.
suy đạc và hộ kiếp (bhavaṅga).
25.
Javana
Xuất
nguyên từ căn "ju" chạy nhanh. Ðây là một danh từ kỹ thuật
khác rất quan trọng, phải được hiểu biết rõ ràng. Thông
thường danh từ nầy có nghĩa là lanh lẹ. Thí dụ như javanahaṁsa
là con thiên nga lanh lẹ, javanapaññā, là lanh trí. Trong Abhidhamma,
Vi Diệu Pháp, danh từ nầy được dùng trong ý nghĩa thuần
túy kỹ thuật.
Ở
đây javana là chạy. Ðược gọi như vậy vì trong suốt tiến
trình tâm nó diễn tiến liên tiếp 7 hoặc 5 chặp cùng một
thứ tâm, duyên theo một đối tượng duy nhất. Trạng thái
tinh thần trong tất cả bảy hay năm sát-na ấy cũng giống
nhau, nhưng tiềm năng khác nhau, mạnh yếu không giống nhau.
Khi
tâm bắt một trần cảnh, hay duyên theo một đối tượng,
thường có bảy chặp javana phát sanh trong một tiến trình.
Trường hợp chặp tư tưởng chấm dứt một kiếp sống --
chặp tử tâm -- hay khi Ðức Phật thực hành pháp Song Thông
(Yamaka Pāṭihāriya), chỉ có năm chặp phát sanh. Trong tiến
trình javana Siêu Thế của tâm Ðạo (Magga citta), chỉ có một
chặp.
Ðứng
về phương diện đạo đức, giai đoạn javana là quan trọng
hơn hết. Chính trong giai đoạn tâm lý nầy mà ta thật sự
làm điều thiện hay điều bất thiện. Thí dụ như khi gặp
người thù nghịch tức nhiên tư tưởng sân hận phát sanh
đến ta một cách hầu như máy móc, tuy nhiên, một người
sáng suốt và nhẫn nại có thể tự tạo cho mình một tâm
niệm từ bi đối với người ấy.
Chính
đó là lý do tại sao trong kinh Pháp Cú, câu 165, Ðức Phật
dạy:
"Làm
điều ác, do ta,
Làm
cho ta ô nhiễm, do ta,
Do
ta, không làm điều bất thiện,
Do
ta, tự làm cho mình trong sạch."
Quả
đúng thật vậy, hoàn cảnh, những khuynh hướng quen thuộc,
môi trường sinh sống v.v... gieo ảnh hưởng đến tâm ta. Chừng
ấy, ý chí tự do bị tùy thuộc nơi diễn tiến có tánh cách
máy móc của cuộc sống. Nhưng, những năng lực ngoại lai
ấy cũng có thể được khắc phục, và ta có thể vận dụng
ý chí tự do của chính mình để phát huy những tư tưởng
hoặc xấu, hoặc tốt.
Một
yếu tố ngoại lai có thể hướng dẫn cảm xúc của ta theo
một chiều hướng nào. Nhưng chính ta trực tiếp chịu trách
nhiệm về những hành động của ta.
Trong
bảy chặp javana thông thường, chặp thứ nhất có tiềm năng
yếu kém hơn hết, bởi vì không có tiềm năng nào trước
đó còn lại để nâng đỡ nó. Ðứng về phương diện nghiệp
báo, quả của chặp tư tưởng ấy có thể trổ ngay trong kiếp
hiện tại. Nghiệp ấy được gọi là Diṭṭhadhamma- vedaniya
Kamma, hiện nghiệp. Nếu không có cơ hội trổ sanh trong kiếp
hiện tại, nghiệp nầy trở thành vô hiệu lực (ahosi). Chặp
javana yếu kế đó là chặp cuối cùng. Quả của chặp tư
tưởng nầy trổ sanh trong kiếp kế liền sau kiếp hiện tại
(Upapajjavedaniya, hậu nghiệp). Nếu không trổ sanh được trong
kiếp ấy nó cũng trở thành vô hiệu lực (ahosi). Quả của
năm chặp javana còn lại có thể trổ sanh bất cứ lúc nào,
cho đến ngày Ðại Niết Bàn (Parinibbāna), và được gọi
là Aparāpariya-vedaniya, nghiệp vô hạn định.
Nên
biết rằng javana thiện và bất thiện (kusalākusala) thuộc
về phần tích cực của đời sống (kammabhava), hữu. Nó tạo
điều kiện cho kiếp sinh tồn trong tương lai phát sanh (upapattibhava)
[4].
Ngoài
ra còn có javana Quả và Hành (Phala [5] và Kriyā). Trong những
javana Hành, mà chỉ Ðức Phật và chư vị A La Hán mới có,
tác ý (cetanā) không có khả năng tạo nghiệp.
Thật
rất khó tìm ra một danh từ có thể diễn đạt một cách
thích nghi các ý nghĩa của Phạn ngữ javana.
Vài
người gợi ý dùng Anh ngữ "Apperception".
Theo
Dictionary of Philosophy, "apperception" là "tâm thấu triệt những
trạng thái sâu kín bên trong chính mình bằng cách nhìn trở
vào, tự quán chiếu, hay bằng cách suy tư". Leibniz, người
đã tạo ra danh từ apperception, phân biệt chữ perception, tri
giác (sự hiểu biết bên trong những trạng thái bên ngoài)
và chữ apperception (trạng thái bên trong tự hay biết chính
mình bằng cách suy tư). Trong Kant, danh từ apperception biểu
lộ sự đồng nhất của tâm thức mình với, hoặc cái tự
ngã theo kinh nghiệm (empirical apperception), hoặc với tự ngã
thuần túy (transcendental apperception)". (Trang 15)
Chú
giải về danh từ "javana", Bà Rhys Davids viết:
"Tôi
đã trải qua suốt nhiều giờ để suy tư về danh từ javana,
và rốt cùng đành bỏ đi danh từ apperception để tìm một
chữ khác thích ứng hơn, hoặc để nguyên vẹn chữ javana
mà không dịch, vì chữ nầy cũng dễ đọc như chữ "javelin"
của chúng ta. Ta chỉ nhớ nó là một sắc thái tinh thần hoặc
song song với điểm thời gian trong tiến trình thần kinh (nerve-process),
khi cơ năng chính đã đến lúc sắp trở thành "cân cảm" (innervation,
trạng thái của thần kinh sẵn sàng hoạt động). Các vị
giáo sư ở Tích Lan (Sri Lanka) kết hợp chữ javana với chữ
"động". Ðối với các nhà tâm lý học Tây Phương điểm
quan trọng nổi bật nhất của danh từ là sự chung hợp trí
thức và ý chí trong tâm lý học Phật Giáo..." -- (Compendium
of Philosophy, Trang 249)
Danh
từ "xúc động" càng xa ý nghĩa của chữ javana hơn nữa.
Như
Bà Rhys Davids gợi ý, có lẽ giữ nguyên vẹn danh từ Pāli
là sáng suốt hơn hết.
Xem
Compendium of Philosophy, trang 42-45, 249.
Theo
sách Vibhāvini Tikā, javana phát sanh giữa,
1.
votthapana (xác định) và tadārammaṇa (đăng ký),
2.
votthapana và bhavaṅga,
3.
votthapana và cuti (tâm chết),
4.
manodvārāvajjana (ý môn hướng tâm) và bhavaṅga,
5.
manodvārāvajjana và cuti.
26.
Tadālambana, hay Tadārammaṇa.
Theo
nghĩa trắng là "đối tượng kia".
Tức
khắc liền theo tiến trình javana có hai hoặc không có chặp
nào cả, phát sanh cùng một đối tượng với javana. Do đó
chặp tâm nầy có tên là tadālambana. Sau chặp tadālambana luồng
tâm nhập trở vào bhavaṅga.
Tadālambana
phát sanh giữa,
1.
Javana và bhavaṅga và
2.
Javana và cuti.
27.
Cuti, Tử Tâm.
Danh
từ cuti, tâm chết, xuất nguyên từ căn "cu", ra đi, được
giải phóng.
Paṭisandhi
(tâm nối liền) là điểm sơ khởi của một kiếp sống. Cuti
(tâm chết) là mức cuối cùng. Chặp paṭisandhi đưa vào đời
sống. Chặp cuti đưa thoát ra. Cuti tác động như một sự
ra đi suông thoát khỏi đời sống. Ba chặp paṭisandhi, bhavaṅga,
và cuti trong một kiếp sống hoàn toàn giống nhau vì có cùng
một đối tượng và bao gồm những tâm sở đồng phát sanh
với nhau.
Cái
chết xảy ra tức khắc liền sau chặp cuti. Cùng với cái chết,
cơ thể vật chất tan rã và dòng tâm chấm dứt mặc dầu
không tiêu diệt, bởi vì nghiệp lực làm cho luồng sống trôi
chảy vẫn còn. Cái chết chỉ là giai đoạn báo hiệu cái
sanh sắp đến.
Cuti
phát sanh giữa,
1.
Javana và paṭisandhi và
2.
giữa tadālambana và paṭisandhi.
28.
Thāna, Sở.
Theo
nghĩa đen là nơi, trạm, hay cơ hội.
Mặc
dầu có tất cả mười bốn loại tác dụng, hay nhiệm vụ,
nhưng nếu xét theo nơi chốn hay cơ hội làm nhiệm vụ thì
chỉ có mười loại. Ngũ quan thức (pañcaviññāṇa) được
xem chung là một, bởi vì tác dụng của năm thức nầy giống
hệt nhau.
29.
Một
là akusala-vipāka (quả bất thiện), và một kia là kusala-vipāka
(quả thiện).
Tái
sanh (paṭisandhi) trong cảnh thú, cảnh ngạ quỷ hay cảnh a-tu-la
xảy diễn với loại tâm quả bất thiện (akusala vipāka) làm
nhiệm vụ suy đạc, liên hợp với thọ xả, akusala vipāka
upekkhāsahagata santīraṇa.
Những
chặp bhavaṅga và cuti trong kiếp sống ấy cũng giống hệt
như chặp paṭisandhi nầy.
Những
người sanh ra mù, điếc, câm v.v... sanh ra với chặp paṭisandhi
là loại tâm quả thiện làm nhiệm vụ suy đạc, liên hợp
với thọ xả kusala vipāka upekkhāsahagata santīraṇa. Mặc dầu
bị tật nguyền là quả của nghiệp bất thiện, sự kiện
được sanh vào cảnh người là do nghiệp thiện.
30.
Ðó
là loại tâm quả thiện thuộc Dục Giới (Kāmāvacara kusala
vipāka). Tất cả những ai sanh vào cảnh người mà không bị
tật nguyền được sanh ra với chặp paṭisandhi là một trong
tám loại tâm nầy.
Tất
cả mười loại tâm trên đều thuộc về Dục Giới (Kāmaloka).
31.
Ðó
là năm loại tâm quả thuộc Sắc Giới (Rūpāvacara vipāka)
và bốn loại tâm quả thuộc Vô Sắc Giới (Arūpāvacara vipāka).
Những tâm Quả (Phala) Siêu Thế (Lokuttara) không được liệt
kê vào đây bởi vì những loại tâm Siêu Thế nầy không đưa
đến tái sanh.
Như
vậy, có mười chín loại tâm tác hành nhiệm vụ paṭisandhi,
bhavaṅga và cuti.
32.
Ðó
là manodvārāvajjana (ý môn hướng tâm), và pañcadvārāvajjana
(ngũ môn hướng tâm), được đề cập đến trong mười tám
loại tâm vô nhân (ahetuka citta).
Loại
ý môn hướng tâm phát sanh khi có một đối tượng tinh thần
và loại ngũ môn hướng tâm khi tâm có một đối tượng vật
chất.
33.
Ðó
là mười loại tâm quả, thiện và bất thiện, thuộc Dục
Giới (kusala-akusala vipāka pañcaviññāṇa).
34.
Là
hai tâm tiếp thọ liên hợp với xả, được đề cập đến
trong những loại tâm vô nhân (ahetuka).
35.
Ðó
là hai loại đồng phát sanh cùng thọ xả và một cùng thọ
lạc. Ðây là hai loại đầu tiên tác hành nhiệm vụ paṭisandhi,
bhavaṅga và cuti.
Không
nên hiểu rằng vào lúc tái sanh có sự suy đạc nào. Trong
một lúc một loại tâm chỉ tác hành một nhiệm vụ. Tâm
nầy chỉ làm nhiệm vụ tái sanh, nối liền hai kiếp sống,
quá khứ và hiện tại. Tâm suy đạc (santīraṇa) liên hợp
với thọ lạc phát sanh như tâm đăng ký (tadālambana) khi đối
tượng phát hiện trước tâm là đáng được ưa thích.
36.
Không
có một loại tâm đặc biệt nào tên là votthapana (xác định).
Chính manodvārāvajjana (ý môn hướng tâm) làm nhiệm vụ ấy
trong tiến trình tâm có ngũ môn hướng tâm (pañcadvārāvajjana)
37.
Ðó
là manodvārāvajjana (ý môn hướng tâm) và pañcadvārāvajjana
(ngũ môn hướng tâm), hai trong những tâm Hành Vô Nhân (Ahetuka
Kriyā Citta). Vì không thưởng thức mùi vị của đối tượng
nên nó không làm nhiệm vụ javana. Loại tâm Hành (Kriyā) còn
lại, tiếu sanh tâm, tức tâm làm mĩm cười, tác hành nhiệm
vụ javana.
38.-39.
Ðó là:
12
loại tâm bất thiện + [8+5+4+4 = 21 thiện] + 4 Quả Siêu Thế
+ [1+8+5+4 = 18 Hành]
=
55.
Danh
từ Quả dùng ở đây không phải là Vipāka mà là Phala. Những
tâm quả thuộc Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới (vipāka)
không được xem là javana. Những tâm Ðạo (Magga) và tâm Quả
(Phala) Siêu Thế phát sanh trong tiến trình javana được xem
là javana, mặc dầu chỉ tồn tại trong thời gian một chặp
tư tuởng (sát-na).
39.
Mười
một loại tâm nầy là tâm quả (vipāka citta). Khi làm nhiệm
vụ đăng ký (tadālambana) thì không làm nhiệm vụ suy đạc
(santīraṇa).
Loại
tâm suy đạc liên hợp với thọ lạc tác hành cả hai nhiệm
vụ suy đạc và đăng ký.
40.
Mỗi
loại trong cảnh giới đặc biệt của nó.
41.
Manodvārāvajjana.
42.
Manodhātu, Ý Giới.
Ý
giới (manodhātu) đuợc áp dụng cho hai loại tâm, tiếp thọ
(sampaṭicchana), và ngũ môn hướng tâm (pañcadvāravajjana). Tất
cả những loại tâm còn lại, ngoại trừ mười loại ngũ
song thức (dvipañca viññāṇa) đều được gọi là mano viññāṇa
dhātu, ý thức giới.
Xem
chú giải số 99, cùng chương.
Ghi
chú:
[1]
Trang 266.
[2]
Susupti hay giấc ngủ mê, được ghi nhận trong kinh Upanishads
"Trong ấy tâm và giác quan, cả hai được nói là tiêu cực".
Indian Philosophy, trang 258. Radhakrishnan,
[3]
Radhakrishnan nói ... Bhavaṅga là sự sinh tồn của tiềm thức,
sự sống phía dưới cái tâm, hay nói rõ hơn, sự sinh tồn
tinh thần, tự do, không bị ảnh hưởng của tâm. Khi được
nhìn một cách chủ quan bhavaṅga là sự sinh tồn phía dưới
cái tâm, mặc dầu một cách khách quan đôi khi danh từ nầy
được dùng trong nghĩa Niết Bàn. Indian Philosophy, trang 408.
Chắc
chắn đây không phải là quan điểm của Phật Giáo. Bhavaṅga
cũng hiện hữu trong những loại tâm khi ta thức, tức khắc
sau một tiến trình tâm (citta vīthi). Không khi nào bhavaṅga
đồng nghĩa với Niết Bàn.
[4]
Xem chương VIII.
[5]
Nên ghi nhận danh từ Phala được dùng ở đây, thay vì Vipāka,
quả. Trong tiến trình javana Siêu Thế, tâm Quả (Phala) tức
khắc phát sanh liền theo tâm Ðạo (Magga).
-ooOoo-
IV.
Dvāra-Saṅgaho
Tóm
lược về Môn
8.
Dvārasaṅgahe
dvārāni nāma cakkhudvāraṁ sotadvāraṁ ghāṇadvāraṁjivhādvāraṁ
kāyadvāraṁ manodvārañ c'āti chabbidhāni bhavanti.
Tattha
cakkhum'eva cakkhudvāraṁ, tathā sotādayo sotadvārādīni. Manodvāraṁ
pana bhavaṅgaṁ pavuccati.
Tattha
pañcadvārāvajjana -cakkhuviññāṇa-sampaṭicchana-santīraṇa-votthapana
kamāvacara- javana-tadālambanavasena cha cattāḷīsa cittāni cakkhudvāre
yathārahaṁ uppajjanti. Tathā pañcad- vārāvajjana-sotaviññāṇādivasena
sotadvārādīsu' pi chacattāḷīs'eva bhavanti. Sabbathā' pi pañcadvāre
catupaññāsacittāni kāmāvacarañ' evā'ti veditabbāni.
Manodvāre
pana manodvārāvajjana- pañcapaññāsa- javana-tadālambanavasena sattasaṭṭhicittāni
bhavanti.
Ekūnavīsati
paṭisandhi-bhavaṅga-cuti-vasena dvāra- vimuttāni.