Chương
II
LỜI
MỞ ĐẦU
Trong
89 loại tâm vương được đề cập đến ở Chương I, có
52 tâm sở -- hay trạng thái tâm -- khởi sanh nhiều hay ít,
ở mức độ khác nhau.
Có
bảy (7) tâm sở chung cho tất cả các loại tâm vương, gọi
là tâm sở Phổ Thông, hay Biến Hành. Sáu (6) loại khác, có
thể phát sanh hay không, trong mỗi và tất cả những loại
tâm vương. Sáu loại tâm sở nầy được gọi là Pakiṇṇakas,
Riêng Biệt hay Biệt Cảnh.
Tất
cả 13 loại tâm sở kể trên có tên là Aññasamānas, một
danh từ đặc biệt kỹ thuật. "Añña" là "cái kia", "samāna"
là "chung". "Sobhanas" (Tốt, Ðẹp), khi so sánh với "Asobhanas"
(Xấu) thì được gọi là Añña (cái kia), bởi vì thuộc về
phân hạng trái nghịch lại. Cùng thế ấy Asobhanas là phản
nghĩa với Sobhanas.
13
tâm sở nầy trở thành thiện hay bất thiện tùy theo loại
tâm vương mà chúng đồng hiện khởi chung, tức loại tâm
vương mà chúng nằm trong đó.
14
tâm sở luôn luôn nằm trong tất cả các loại tâm Bất Thiện.
19
tâm sở luôn luôn nằm trong tất cả các loại tâm Thiện.
6 tâm
sở khác phát sanh tùy trường hợp.
Vậy,
năm mươi hai tâm sở nầy (7+6+14+19+6 = 52) nằm trong những
loại tâm vương tương ứng, ở mức độ khác nhau.
Trong
chương nầy tất cả 52 tâm sở đều được đề cập đến
và phân loại. Mỗi loại tâm vương đều được phân tách
tỉ mỉ. Những loại tâm sở nào đồng phát sanh cùng tâm
ấy cũng được đề cập đến với đầy đủ chi tiết. Loại
tâm vương trong đó có những tâm sở nào đồng phát sanh cũng
được mô tả rành rẽ.
Người
đọc thiếu kiên nhẫn sẽ thấy chương nầy khô khan và không
hứng thú. Nhưng đối với một học giả sáng suốt và suy
tư thì trái lại, chương nầy sẽ được xem là một khái
luận thú vị có tánh cách trí thức.
Thí
dụ như lúc mới nhìn vào, một sinh viên hóa học có thể
cảm thấy nhiều công thức hóa học rất phức tạp, khó hiểu.
Nhưng khi thật sự cố gắng phân tách và nghiên cứu từng
hóa chất trong những cuộc thí nghiệm khác nhau, người sinh
viên ấy mới thấy môn học quả thật hứng thú và bổ ích.
Cùng
thế ấy, người mới đọc chương nầy của Vi Diệu Pháp
(Abhidhamma) nên cố gắng phân tách, thận trọng nghiên cứu
từng loại tâm, và tự mình tìm hiểu các loại tâm sở theo
luận lý riêng của mình. Sau đó sẽ so sánh những gì ta đã
nghĩ ra với kinh điển căn bản. Chừng ấy người đọc sẽ
thấy rằng chương II nầy giải minh một cách sáng tỏ, và
thay vì hoang phí thì giờ để cố nhớ những con số, vị
nầy nắm vững một cách sáng suốt ý nghĩa của bản văn.
Thí
dụ, ta hãy phân tách loại tâm Bất Thiện đầu tiên, bắt
nguồn từ căn Tham.
Somanassa-sahagata
-- đồng phát sanh cùng thọ hỷ,
Diṭṭhigata-sampayutta
-- liên hợp với tà kiến,
Asaṅkhārika
-- không có sự xúi giục.
Sau
khi phân tách, ta nhận thấy rằng:
Thọ
(Vedanā) của tâm nầy là "Hỷ".
7 loại
tâm Phổ Thông và tất cả 6 tâm sở Riêng Biệt đều có mặt.
4 tâm
sở Bất Thiện chung nằm trong tất cả những tâm vương Bất
Thiện là Moha (Si), Ahirika (Không Hổ Thẹn Tội Lỗi), Anottappa
(Không Ghê Sợ Hậu Quả Của Tội Lỗi), và Uddhacca (Phóng
Dật) cũng đều phát hiện trong ấy cùng một lúc.
Còn
10 tâm sở còn lại thì sao?
Lobha
(Tham) -- phải có phát sanh cùng lúc.
Diṭṭhi
(Tà Kiến) -- phải có phát sanh.
Māna
(Ngã Mạn) -- không thể phát sanh.
Ngã
Mạn không thể phát sanh trong loại tâm Tham, cùng với Tà Kiến.
Tà Kiến liên quan đến quan kiến sai lầm, còn Ngã Mạn thì
liên quan đến lòng vị kỷ. Các nhà chú giải nói rằng Tà
Kiến và Ngã Mạn giống như hai con sư tử, không thể sống
chung với nhau trong cùng một chuồng.
Dosa
(Sân), Issa (Ganh Tỵ), Macchariya (Xan Tham), và Kukkucca (Lo Âu)
không thể phát sanh, vì bốn tâm nầy thiên về sân hận, ác
ý, hay bất mãn, chỉ nằm trong các loại tâm sân.
Thīna
(Hôn Trầm) và Middha (Thụy Miên) không phát sanh, vì đây là
một loại tâm không có sự xúi giục (Asaṅkhārika). Cũng không
có tâm sở Sobhanas (Ðẹp), vì đây là tâm Bất Thiện.
Tổng
cộng: 7 + 6 + 4 + 2 = 19.
Như
vậy, sau khi phân tách tỉ mỉ ta thấy rằng nằm trong loại
tâm Bất Thiện đầu tiên có 19 tâm sở.
Các
loại tâm khác cũng phải được phân tách như vậy.
-ooOoo-
CETASIKA
(Tâm
Sở)
1.
Ekuppāda-nirodhā
ca -- ekālambanavatthukā
Cetoyuttā
dvipaññāsa -- dhammā cetasikā matā
§1
Năm
mươi hai trạng thái tâm đồng liên hợp với tâm vương, đồng
phát sanh và đồng hoại diệt cùng tâm vương, đồng có một
đối tượng và một căn cùng tâm vương, được gọi là Cetasika
(tâm Sở).
Chú
Giải:
1.
Cetasika, = "Ceta" + "s" + "ika"
Cái
gì liên hợp với tâm, hay thức, là Cetasika, tâm sở (Saṁkrt:
Caitasika hay Caitti).
Ðịnh
Nghĩa: Cetasika (tâm sở) là:
(i)
Cái gì đồng phát sanh cùng tâm vương,
(ii)
Cái gì đồng hoại diệt cùng tâm vương,
(iii)
Cái gì cùng có chung một đối tượng với tâm vương,
(iv)
Cái gì đồng có chung một căn với tâm vương.
Người
đọc sẽ ghi nhận rằng nơi đây tác giả không đưa ra một
định nghĩa hợp lý tương ứng theo loại hay phân hạng. Thay
vì thế, tác giả đề cập đến bốn đặc tánh của tâm
sở (Cetasika) .
Nhà
chú giải nêu lên lý do tại sao.
Tâm
vương không thể hiện hữu ngoài các tâm sở. Cả hai, tâm
vương và các tâm sở tương ứng, đồng khởi sanh và đồng
hoại diệt cùng một lúc. Tuy nhiên có vài đặc tánh vật
chất -- như Viññatti Rūpa [1] (Những Phương Cách Phát Hiện
của Sắc) -- đồng khởi sanh và đồng hoại diệt với thức.
Ngoài những hình thức phát hiện ấy đặc tánh thứ ba là
có một đối tượng đồng nhất với đối tượng của tâm
vương. Khi có đủ ba đặc tánh trên tức nhiên phải có đặc
tánh thứ tư là đồng có chung một căn.
Theo
Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), tâm hay thức đồng phát sanh cùng
năm mươi hai tâm sở (cetasikas).
Một
trong các tâm sở ấy là Vedanā (Thọ); một tâm sở khác là
Saññā (Tưởng). Năm mươi tâm sở còn lại được gọi chung
là Saṅkhāra (Hành). Tâm sở Cetanā (Tác Ý) là quan trọng nhất
trong các tâm sở.
Toàn
thể nhóm "thọ" được gọi là Vedanākhandha (Thọ Uẩn). Cùng
thế ấy toàn thể nhóm "tri giác" và nhóm "sinh hoạt tâm linh"
được gọi là được gọi là Saññākhandha (Tưởng Uẩn)
và Saṅkhārakkhandha (Hành Uẩn).
Ghi
chú:
[1]
Kāyaviññatti, phương thức phát biểu bằng hành động và
Vaci Viññatti, phương thức phát biểu bằng lời nói.
-ooOoo-
DVIPĀÑÑĀSA
CETASIKA
52
loại tâm sở
2.
Sabbacittasādhāraṇā
-- 7
Katham?
(i)
1. Phasso, 2. Vedanā, 3. Saññā, 4. Cetanā, 5. Ekaggatā, 6. Jīvitindriyaṁ,
7. Manasikāro
c'āti
satt'ime Cetasikā Sabbacittasādhāraṇā nāma.
3.
Pakiṇṇakā
-- 6
(ii)
1. Vitakko, 2. Vicāro, 3. Adhimokkho, 4.Viriyaṁ, 5. Pīti, 6. Chando
c'āti cha ime Cetasikā pakiṇṇakā nāma.
Eva'mete
Cetasikā Aññasamānā'ti veditabbā. (13)
4.
Akusala
-- 14
(iii)
1. Moho, 2. Ahirikaṁ, 3. Anottappaṁ, 4. Uddhaccaṁ, 5. Lobho, 6. Diṭṭhi,
7. Māno, 8. Doso, 9. Issā, 10. Macchariyaṁ, 11. Kukkuc-caṁ, 12. Thīnam,
13. Middhaṁ, 14 Vicikicchā c'āti cuddas'ime
Cetasikā
Akusalā nāma.
5.
Sobhanasādhāraṇā
-- 19
(iv)
1. Saddhā, 2. Sati, 3. Hiri, 4. Ottappaṁ, 5. Alobho, 6. Adoso, 7. Tatramajjhattatā,
8. Kāyapassaddhi, 9. Cittapassaddhi, 10. Kāyalahutā, 11. Cittalahutā,
12. Kāyamudutā, 13. Cittamudutā, 14. Kāyakammaññatā, 15. Citta-
kammaññatā, 16. Kāyapāguññatā, 17. Citta- pāguññatā, 18. Kāyujjukatā,
19. Cittujjukatā, c'āti ek'unavīsat'ime
Cetasikā
Sobhanasādhāraṇā nāma.
6.
Viratiyo
-- 3
(v)
1. Sammāvācā, 2. Sammākammanto, 3. Sammā- ājīvo c'āti tisso
Viratiyo
nāma.
7.
Appamaññā
-- 2
(vi)
1. Karuṇā, 2. Muditā pana
Appamaññāyo
nāma'ti sabbathā'pi.
8.
Paññindriya
-- 1
(vii)
Paññindriyena saddhiṁ pañcavīsat'ime
Cetasikā
Sobhanā'ti veditabbā.
9.
Ettāvatā ca –
Teras'aññasamānā
ca -- cuddasākusalā tathā
Sobbanā
pañcavīsā'ti -- dvipaññāsa pavuccare.
§2.
Tâm Sở Phổ Thông -- 7 [1]
Thế
nào?
(i)
1. Xúc, 2. Thọ, 3. Tưởng, 4. Tác Ý, 5. Nhất Ðiểm, 6. Mạng
Căn, 7. Chú Ý.
Bảy
tâm sở nầy nằm chung trong tất cả các loại tâm.
§3.
Tâm Sở Riêng Biệt -- 6 [2]
(ii)
1. Tầm, 2. Sát, 3. Xác Ðịnh, 4. Tinh Tấn, 5. Phỉ, 6. Dục.
Sáu
loại tâm sở nầy được gọi là "Riêng Biệt" hay Biệt Cảnh
(Pakiṇṇakā).
Như
vậy những (mười ba) tâm sở nầy phải được hiểu là "chung
với nhau" (Aññasamāna) [3] .
§4.
Tâm sở Bất Thiện -- 14
(iii)
1. Si, 2. Vô Tàm, 3. Vô Quý, 4. Phóng Dật, 5. Tham, 6. Tà Kiến,
7. Ngã Mạn, 8. Sân, 9. Ganh Tỵ, 10. Xan Tham, 11. Lo Âu, 12. Hôn
Trầm, 13. Thụy Miên, 14. Hoài Nghi.
Mười
bốn tâm sở nầy được gọi là "Bất Thiện".
§5.
Tâm Sở Ðẹp -- 19
(iv).
1. Tín, 2. Niệm, 3. Tàm, 4. Quý, 5. Không- Tham, 6. Không-Sân,
7. Xả, 8. Tâm Sở Vắng Lặng, 9. Tâm Vắng Lặng, 10. Tâm Sở
Khinh An, 11. Tâm Khinh An, 12. Tâm Sở Nhu Thuận, 13. Tâm Nhu Thuận,
14. Tâm Sở Thích Ứng, 15. Tâm Thích Ứng, 16. Tâm Sở Tinh Luyện,
17. Tâm Tinh Luyện, 18. Tâm Sở Chánh Trực, 19. Tâm Chánh Trực.
Mười
chín tâm sở nầy được gọi là "Chung Cho Các Tâm Sở Ðẹp".
§6.
Tâm Sở Tiết Chế -- 3
(v)
1. Chánh Ngữ, 2. Chánh Nghiệp, 3. Chánh Mạng.
Ba
tâm sở nầy được gọi là "Tiết Chế".
§7.
Tâm Sở Vô Lượng -- 2
(vi)
1. Bi, 2. Hỷ.
Hai
tâm sở nầy được gọi là "Vô Lượng".
§8.
Tâm Sở Tuệ Căn -- 1
(vii)
Tuệ Căn.
Với
Tuệ Căn, hai mươi lăm tâm sở nầy, trong mọi trường hợp,
phải được hiểu là "Ðẹp".
§9.
Tóm lược:
Mười
ba tâm sở "chung với nhau". Cùng thế ấy, mười bốn chung
cho tâm sở Bất Thiện, hai mươi lăm là "Ðẹp". Vậy năm mươi
hai đã được liệt kê.
Chú
Giải
2.
Phassa, Xúc. [4]
Xuất
nguyên từ căn "phas", tiếp xúc.
Cho
đặng có sự ghi nhận hay biết của giác quan phải có ba yếu
tố: thức, giác quan tương ứng, và đối tượng. Thí dụ
như với nhãn thức ta thấy một vật (nhãn trần) xuyên qua
mắt (nhãn căn).
Khi
một đối tượng phát hiện đến thức, xuyên qua một trong
sáu căn thì tâm sở "Xúc" khởi sanh. Không nên hiểu rằng
sự xúc chạm suông là "Xúc" (Na sangatimatto eva Phasso). [5]
Như
cây cột cái nâng đỡ trọn vẹn toàn thể sườn nhà, cùng
thế ấy, Xúc cũng có nhiệm vụ tương tợ, nâng đỡ các
tâm sở đồng phát sanh.
Xúc
có nghĩa là "nó chạm đến" (phusatī'ti). Có sự xúc chạm
(phusana) là đặc tính nổi bật (lakkhana), đụng (sanghaṭṭana)
là cơ năng (rasa), sự trùng hợp (của nền tảng vật lý,
đối tượng và thức) là biểu tượng (sannipāta paccupaṭṭhāna)
và đối tượng đã đi vào con đường (của sự hay biết)
là nguyên nhân gần (padaṭṭhāna). [6]
Xúc
được đề cập đến đầu tiên vì nó đến trước tất
cả các tâm sở. "Có sự tiếp chạm do xúc, thức chứng nghiệm
do thọ, tri giác do tưởng, và có ý muốn do tác ý (Phassena
phusitvā, vedanāya vediyati, saññāya sañjānāti, cetanāya ceteti)".
Theo pháp Thập Nhị Nhân Duyên (Paṭicca Samuppāda) cũng vậy,
Xúc tạo điều kiện để Thọ phát sanh.
Tuy
nhiên, một cách chính xác, không có lý do nào để nói rằng
tâm sở nầy phát sanh trước tâm sở kia, vì tất cả đồng
khởi sanh cùng một lúc. Sách Atthasālini viết: "Về các tâm
sở đồng phát sanh trong một tâm thức, ta không thể nói rằng
'tâm sở nầy' khởi sanh trước, 'tâm sở kia' sau. Xúc được
kể đến trước tiên chỉ vì để cho tiện việc giảng giải,
nhưng ta cũng có thể trình bày như thế nầy:- Có thọ và
xúc, tưởng và xúc, tác ý và xúc; có thức và xúc, thọ,
tưởng, tác ý, tầm. Tuy nhiên, để cho dễ hiểu, ta đề cập
đến xúc trước tiên. Cùng thế ấy, khi nêu lên từng tâm
sở còn lại, cũng không có dụng ý nào đặc biệt ngoài việc
để cho dễ hiểu."
"Xúc
được có địa vị ưu tiên vì được xem như khởi thủy,
bắt đầu tư tưởng và như "điều kiện tất phải có" cho
các tâm sở đồng phát sanh, nâng đỡ nhiều cho tất cả như
cây cột chánh của một kho hàng nâng đỡ các cơ cấu khác."
(Mrs. Rhys Davids -- Buddhist Psychology, trang 6)
3.
Vedanā, Thọ.
Xuất
nguyên từ căn "vid", cảm thọ.
Cảm
thọ là danh từ thích nghi, hơn chữ cảm giác, để phiên dịch
Phạn ngữ vedanā. Cũng như Xúc, Thọ là đặc tính chánh yếu
của tất cả các loại tâm vương. Thọ có thể là hỷ, ưu,
hay vô ký, thuộc tinh thần. Khổ và lạc, thuộc cơ thể vật
chất cũng đều là thọ. Nhưng khổ hay lạc thuộc về thân
không có tầm quan trọng về phương diện đạo đức.
Theo
các nhà chú giải, Thọ cũng như một ông chủ thưởng thức
món ăn do người đầu bếp nấu. Người đầu bếp thì tựa
như các tâm sở còn lại trong một tư tưởng. Một cách chính
xác, chính Thọ thọ cảm một đối tượng, khi đối tượng
nầy tiếp xúc với giác quan tương ứng.
Chính
Thọ thọ cảm những quả lành hay dữ của một hành động
đã làm trong kiếp hiện tại hay trong kiếp quá khứ. Ngoài
tâm sở Thọ không có một linh hồn hay một cá nhân nào khác
thọ cảm quả của hành động. Nên hiểu rằng hạnh phúc
Niết Bàn không có gì liên quan đến Thọ. Hạnh phúc Niết
Bàn chắc chắn là hạnh phúc (sukha) tối thượng, nhưng đó
là hạnh phúc của sự giải thoát ra khỏi mọi đau khổ, không
phải là sự thích thú trong một đối tượng đáng ưa thích.
4.
Saññā, Tưởng.
"Saṁ"
+ căn "ñā", hiểu biết, nhận thức (so với chữ La Tinh "cognoscere",
hiểu biết.).
Ý
nghĩa của danh từ nầy khác nhau khá nhiều tùy theo đoạn
văn. Ðể tránh khỏi lẫn lộn phiền phức không cần thiết,
tốt hơn ta nên hiểu Saññā theo nghĩa dùng ở đây, đặc
biệt như tâm sở Phổ Thông.
Ðặc
tính chánh yếu của Saññā là nhận ra một vật do dấu hiệu
trên vật ấy như màu xanh v.v... Nhờ Saññā ta nhận ra một
vật mà trước kia tâm của ta đã có lần biết, tức tri giác
xuyên qua giác quan.
"Diễn
tiến của nó giống như trạng thái tâm của người thợ mộc,
nhận ra những khúc gỗ (như đây là cột trước, kia là cột
sau v.v...) nhờ dấu hiệu đã có ghi trên gỗ từ trước. Cũng
giống như người giữ kho, nhận ra mỗi món đồ nữ trang
nhờ cái nhãn cột theo món đồ. Hay như thú rừng nhận ra
hình nộm là do người ta làm."
Vậy,
Saññā, Tưởng, chỉ giản dị có nghĩa là tri giác, nhận
thức bằng giác quan.
"Tri
Giác", theo một quyển Tự Ðiển Triết Học hiện đại là
"sự nhận thức đối tượng thông thường của giác quan như
cây cối, nhà cửa, bàn ghế v.v... khi giác quan bị khích động."
Danh
từ "tri giác" ở đây không được dùng theo nghĩa mà các triết
gia như Bacon, Descartes, Spinoza và Leibniz đã dùng.
Trong
Ngũ Uẩn (Pañcakkhandha), Tưởng Uẩn, Saññā, được dùng trong
nghĩa tri giác.
Vậy,
trí nhớ có phải do Saññā, tưởng, không?
Saññā
(Tưởng), Viññāna (Thức), và Paññā (Trí Tuệ) phải được
phân biệt rõ ràng. Saññā, Tưởng, ví như sự nhận ra đồng
tiền của một em bé cỡ một hay hai tuổi. Nó thấy vật gì
trắng, tròn, nhỏ, dẹp v.v... và nhận ra đó là đồng tiền,
nhưng không biết rõ ràng giá trị của đồng tiền ấy là
bao nhiêu. Một người lớn bình thường, thấy đồng tiền
có thể biết giá trị và công dụng lợi ích của nó, nhưng
không thấu hiểu các hợp chất hoá học của đồng tiền
là thế nào. Viññāṇa, Thức, ví như sự hiểu biết của
người ấy. Paññā, Trí Tuệ, là tri kiến phân giải của
một chuyên viên hóa học, thấu triệt từng chi tiết các hoá
chất và đặc tính của mỗi hóa chất hợp thành đồng tiền.
5.
Cetanā, Tác Ý
Cả
hai danh từ, Cetanā và Citta, đều xuất nguyên từ căn "cit",
suy tư. Có nơi dịch danh từ Cetanā là "Tư". Ở đây xin dùng
danh từ Tác Ý, trong nghĩa "ý muốn làm" hay "ý muốn, làm động
cơ đưa đến hành động".
Trong
trường hợp chữ Citta, tâm hay thức, căn "cit" được dùng
theo nghĩa phân biện (vijānana), rõ ràng phân biệt. Trong chữ
Cetanā, tác ý, câu nầy được dùng trong nghĩa phối hợp (abhisandhāna)
và tích trữ (āyūhana).
Theo
sách Atthasālini và Vibhāvini Tikā, Cetanā là cái gì phối hợp
các tâm sở đồng phát sanh với nó trên đối tượng của
tâm (Attanā sampayutta-dhamme ārammaṇe abhisandahati). Như vị Tăng
Trưởng hay người thợ chánh, vừa làm công chuyện của mình
vừa điều hành công chuyện của người khác, Cetanā vừa
tác hành nhiệm vụ của mình, vừa phối trí sinh hoạt của
các tâm sở khác đồng phát sanh.
Còn
có một lối giải thích nữa. Cetanā là cái gì đưa đến
hành động bằng cách tạo duyên cho cái được cấu tạo (Saṅkhatābhisaṅkharane
vā byāpāraṁ āpajjatī'ti cetanā). Cetanā là cái gì đóng vai
trò quan trọng nhất trong tất cả các hành động, thiện và
bất thiện.
Shwe
Zan Aung nói rằng theo Ngài Ledi Sayadaw, một vị Ðại Ðức
học giả Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) người Miến Ðiện, "Cetanā
hành động trên các tâm sở đồng phát sanh với nó bằng
cách thâu nhận đối tượng, và hành động nhằm thành tựu
nhiệm vụ, tức là quyết định hành động." (Compendium, trang
236).
Cetanā,
tác ý, là tâm sở có ý nghĩa quan trọng nhất trong các loại
tâm Tại Thế (Lokiya), còn trong tâm Siêu Thế thì có Paññā,
trí tuệ hay minh sát tuệ. Tâm Tại Thế có khuynh hướng tích
trữ Nghiệp. Tâm Siêu Thế (Lokuttara) trái lại, có chiều hướng
tận diệt Nghiệp. Do đó Cetanā trong các tâm Siêu Thế không
tạo Nghiệp. Cetanā trong tất cả những loại tâm Tại Thế,
thiện hay bất thiện, đàng khác, đều được xem là Nghiệp
(Kamma). Mặc dầu Cetanā cũng hiện hữu trong các loại tâm
Quả (Vipāka), ở đây nó không có tánh cách đạo đức vì
không có năng lực tích trữ.
Trong
Thập Nhị Nhân Duyên (Paṭicca Samuppāda) chính Cetanā được
bao hàm trong danh từ Saṅkhāra (Hành) và Bhava (Hữu). Trong Pañcakkhandha
(Ngũ Uẩn), Saṅkhārakkhandha (Hành Uẩn) có nghĩa là năm mươi
tâm sở, ngoài hai tâm sở Vedanā (Thọ) và Saññā (Tưởng).
Trong năm mươi tâm sở đó Cetanā là quan trọng hơn hết và
được kể đầu tiên.
Ðứng
về phương diện tâm lý Cetanā quyết định các hoạt động
của những tâm sở cùng phát sanh đồng thời với nó. Về
phương diện đạo đức, nó quyết định hậu quả dĩ nhiên
phải đến của nó. Do đó, nếu không có Cetanā, tức nhiên
không có Kamma (Nghiệp).
6.
Ekaggatā, Nhất Ðiểm
"Eka"
+ "agga" + "tā" = nhất điểm, trạng thái tâm gom vào một điểm,
an trụ vào một đề mục, hay tập trung vào một đối tượng.
Tâm
Nhất Ðiểm giống như ngọn đèn đứng vững, không bị gió
làm giao động. Như trụ cột vững chắc mà gió không thể
lay chuyển. Như nước kết hợp, làm dính liền lại nhiều
thể chất để cấu thành một hợp chất cụ thể. Tâm sở
nầy ngăn ngừa, không để các tâm sở đồng phát sanh khác
phân tán, và giữ chắc các tâm sở ấy vào đề mục. Có
nơi danh từ Ekaggatā nầy đuợc gọi là Nhất Hành.
Trạng
thái nhất điểm nầy là một trong năm chi thiền (Jhāna). Khi
được phát triển và trau giồi đến mức độ cao thì tâm
Nhất Ðiểm trở thành Samādhi (Ðịnh). "Ðó là mầm giống
của tất cả những tâm thức chăm chú, chọn lọc, tập trung
hay an trụ vào một điểm." (Compendium, trang 241).
7.
Jivitindriya, Mạng Căn
"Jivita"
= đời sống + "Indriya" = khả năng kiểm soát hay quy tắc.
Gọi
"jīvita", sinh mạng hay đời sống, vì nó nâng đỡ các tâm
sở đồng phát sanh.
Gọi
"indriya", khả năng kiểm soát, hay căn, vì nó kiểm soát các
tâm sở đồng phát sanh.
Cetanā,
Tác Ý, quyết định mọi sinh hoạt của tất cả tâm sở,
nhưng chính Jīvitindriya, Mạng Căn, truyền sự sống ấy vào
Cetanā và các tâm sở khác.
Có
hai loại Jīvitindriya (Mạng Căn) là Nāma Jīvitindriya (Danh Mạng
Căn) và Rūpa Jīvitindriya (Sắc Mạng Căn). Danh Mạng Căn truyền
sự sống vào các tâm sở, trong khi Sắc Mạng Căn truyền sự
sống vào các hiện tượng vật lý.
Như
sen trong đầm được nước nâng đỡ, như em bé được bà
vú nuôi chăm sóc ẩm bồng, các tâm sở và các hiện tượng
vật lý được Mạng Căn nâng đỡ.
Một
Rūpa Jīvitindriya (Sắc Mạng Căn) tồn tại trong thời gian mười
bảy chặp tư tưởng, hay sát-na tâm. Mười bảy Nāma Jīvitindriya
(Danh Mạng Căn) liên tiếp sanh rồi diệt trong khoảng thời
gian của một Sắc Mạng Căn. Trong sự sống của loài thảo
mộc cũng có Sắc Mạng Căn. Tuy nhiên, Sắc Mạng Căn của
con người và của loài thú do Nghiệp tạo duyên (điều kiện)
nên không cùng một loại với Sắc Mạng Căn của thảo mộc.
Cả
hai, Danh Mạng Căn và Sắc Mạng Căn, khởi sanh đồng thời
vào lúc ta được bà mẹ thọ thai và đồng thời hoại diệt
lúc ta chết. Do đó, cái chết được xem là sự hoại diệt
của Mạng Căn. Tức khắc liền sau đó, do năng lực của Nghiệp,
một Mạng Căn khác khởi sanh trong kiếp kế, ngay vào lúc bà
mẹ thọ thai. Trong trường hợp tái sanh vào cảnh người,
ba Sắc Mạng Căn khởi sanh cùng lúc với một Danh Mạng Căn
[7] .
Như
người chèo thuyền phải tùy thuộc chiếc thuyền và chiếc
thuyền tùy thuộc người chèo thuyền, cùng thế ấy Jīvitindriya
(Mạng Căn) tùy thuộc danh và sắc, và danh và sắc tùy thuộc
Mạng Căn.
8.
Manasikāra, Sự Chú Ý
Theo
nghĩa của từng chữ, là 'làm trong tâm'.
Quay
tâm hướng về đối tượng là đặc tính chánh của danh từ.
Sự chú ý giống như bánh lái của một chiếc tàu, bộ phận
không thể không có để hướng tàu về đến nơi đến chốn.
Tâm không có sự chú ý (manasikāra) cũng như tàu không có bánh
lái.
Manasikāra
cũng có thể ví như người đánh xe song mã, ngồi trên xe chăm
chú vào hai con ngựa (danh và sắc) chạy song song đều đặn.
Manasikāra, sự chú ý, phải được phân biệt với Vitakka,
chi thiền Tầm, một tâm sở khác sắp được đề cập đến
kế liền dưới đây. Manasikāra hướng các tâm sở đồng
phát sanh về đối tượng. Vitakka, Tầm, áp đặt hay ném (pakkhipanto
viya) các tâm sở đồng phát sanh vào đối tượng. Vitakka,
Tầm, giống như vị quan cận thần hướng dẫn một dân quê
(cái tâm) vào yết kiến nhà vua (đối tượng).
"Sự
chú ý" có ý nghĩa gần nhất với danh từ Manasikāra trong tiếng
Phạn, mặc dầu đứng về phương diện thuần túy triết học
không chính xác diễn đạt trọn vẹn ý nghĩa. Như một tâm
sở, Manasikāra chỉ là sự chú ý suông, không có tánh cách
đặc biệt linh hoạt hay rõ ràng. Trạng thái linh hoạt ấy
phần nào được diễn tả trong danh từ Saññā, "Tưởng".
Vậy
Manasikāra, sự chú ý, có thể cũng giúp cho trí nhớ không
vì nó phổ thông nằm trong tất cả các loại tâm, Tại Thế
và Siêu Thế? Bảy tâm sở kể trên được gọi là sabbacittasādhāraṇā,
Phổ Thông hay Biến Hành, vì nằm trong tất cả các loại tâm
9.
Vitakka, Tầm. [8]
"Vi"
+ căn "takk", suy tư.
Rất
khó tìm ra một danh từ thích nghi để phiên dịch Phạn ngữ
nầy, bởi vì nó có nhiều ý nghĩa khác nhau trong Tạng Kinh
và Tạng Luận.
Trong
Tạng Kinh (Sutta Piṭaka) danh từ Vitakka được dùng trong nghĩa
ý niệm, ý kiến, tư tưởng, luận lý v.v.... Trong Tạng Diệu
Pháp (Abhidhamma Piṭaka, cũng gọi Tạng Luận) danh từ nầy
được dùng trong ý nghĩa đặc biệt kỹ thuật, có tánh cách
chuyên môn.
"Nâng
cao" các tâm sở đồng phát sanh đến đối tượng (abhiniropaṇa)
là đặc tính chánh yếu của Vitakka, Tầm. Như người kia lên
đến hoàng cung tùy thuộc nơi (hay nhờ nơi) các vị sủng
thần hay các hoàng thân quốc thích trong triều, cùng thế ấy,
tâm lên đến đối tượng tùy thuộc nơi (hay nhờ nơi) Vitakka,
Tầm. (Atthasālinī, trang 114).
Vitakka,
Tầm, có thể được định nghĩa là sự gắn ghép, áp đặt
các tâm sở đồng phát sanh vào đối tượng. Manasikāra, như
đã đề cập đến ở trên, là trạng thái hướng các tâm
sở đồng phát sanh về đối tượng. Ðặc điểm khác biệt
của hai tâm sở nầy phải được thấu hiểu rõ ràng.
Vitakka,
Tầm, có nhiều giá trị khác nhau khi được dùng ở những
trường hợp khác nhau. Khi được dùng như một tâm sở Riêng
Biệt thông thường, hay Biệt Cảnh tâm sở (pakiṇṇaka), thì
tâm sở nầy được gọi là Vitakka. Khi được trau giồi và
phát triển đầy đủ, tâm sở nầy trở thành yếu tố đầu
tiên của Thiền (Jhāna), chi thiền Tầm của Sơ Thiền. Lúc
ấy tâm sở nầy được gọi là Appanā, hoàn toàn, đầy đủ,
vì đã vững chắc an trụ vào đề mục. Tâm sở Tầm thông
thường chỉ ném (áp đặt) tâm lên trên bề mặt của đối
tượng.
Từ
Nhị Thiền trở lên không còn tâm sở Vitakka, Tầm, vì tâm
đã quen thuộc với đề mục rồi.
Một
người dân quê đi viếng hoàng cung lần đầu tiên phải cần
có sự tiến dẫn, nhưng khi đã ra vào quen thuộc rồi thì
không cần tiến dẫn nữa.
Khi
được trau giồi đầy đủ, tâm Appanā-Vitakka được gọi
là Samādhi, Ðịnh. Khi Vitakka sanh khởi trong tâm Ðạo Siêu
Thế (Lokuttara Magga Citta) thì được gọi là Chánh Tư Duy (Sammā
Saṅkappa), vì đã loại trừ các tư tưởng lầm lạc và đặt
tâm vào Niết Bàn.
Danh
từ Vitakka lại còn được dùng trong ý nghĩa hoàn toàn khác
biệt để chỉ tâm tánh của một người. Vitakka Carita có
nghĩa là một người có tâm tánh rời rạc, không mạch lạc
[9] .
10.
Vicāra, Sát [10]
"Vi"
+ căn "car", đi thênh thang bất định.
Như
Vitakka, danh từ Vicāra cũng đuợc dùng theo nghĩa đặc biệt
kỹ thuật trong Tạng Abhidhamma (Diệu Pháp).
Vicāra,
là sinh hoạt liên tục của tâm trên đối tượng.
Quan
sát, dò xét (anumajjana) là đặc tính chánh yếu của Vicāra.
Vitakka
thường được dịch là Tầm, và Vicāra là Sát, hay Tứ.
Cả
hai danh từ nầy phải được phân biệt rõ ràng. Vitakka như
con ong đáp xuống cành hoa sen. Vicāra như ong bay quanh quẩn
trên hoa sen. Vitakka giống như chim đập cánh, sắp bay. Vicāra
như chim bay lượn, quần trên không trung. Như đánh vào trống
hay giọng vào chuông là Vitakka, tiếng ngân vang đi là Vicāra.
Vicāra
cũng là một chi thiền. Chi thiền Sát nầy khắc phục triền
cái hoài nghi (Vicikicchā).
11-
Adhimokkha, Xác Ðịnh.
"Adhi"
+ căn "muc", phóng thích. Nghĩa trắng của danh từ là "phóng
thích để đến".
Adhimokkha
phóng thích tâm ra khỏi hoài nghi để tiến đến đối tượng.
Ðặc
tính chánh yếu của Adhimokkha là xác định, chọn lọc, và
nghịch nghĩa của danh từ là hoài nghi, bất định. Có nơi
dịch danh từ nầy là Thắng Giải.
Có
sự quả quyết khẳng định "đúng hẳn là cái nầy" (imam'
evā'ti sanniṭṭhānakaraṇaṁ).
Adhimokkha
được ví như quan tòa phán quyết. Vì tánh cách không lay chuyển
của nó, danh từ nầy cũng có khi được so sánh với một
trụ cột vững chắc.
12.
Vīriya, Tinh Tấn
Xuất
nguyên từ căn "aj" có nghĩa đi + "īr". "Vī" thay thế "aj". Vīra
là người chuyên cần nỗ lực hoàn thành công việc của mình
một cách liên tục.
Viriya
được định nghĩa là trạng thái, hay hành động, của người
cương quyết (Vīrānaṁ bhāvo, kammaṁ). Danh từ nầy cũng có
nghĩa là cái gì được thực hiện hay hoàn tất đúng phương
pháp (Vidhinā īrayitabbaṁ pavattetabbaṁ vā).
Viriya
có đặc tính nâng đỡ (upatthambana), giữ vững (paggahaṇa),
chống đỡ (ussahana). Danh từ nầy được dịch là Tinh Tấn.
Như
một ngôi nhà hư cũ nhờ những cây cột mới chống đỡ,
cùng thế ấy, Viriya hỗ trợ và nâng đỡ các tâm sở khác
đồng phát sanh. Như đám quân tiếp viện hùng hậu hỗ trợ
một đạo binh đang cố thủ vị trí thay vì rút lui bỏ chạy,
cùng thế ấy, Viriya giữ vững và nâng đỡ các tâm sở khác
đồng phát sanh với nó.
Viriya
được xem là một trong năm khả năng kiểm soát, Ngũ Căn (Indriya),
vì nó khắc phục trạng thái lười biếng. Viriya cũng được
xem là một trong năm năng lực kiểm soát, Ngũ Lực (Bala), vì
nó không thể bị trạng thái lười biếng làm lay chuyển.
Viriya là một trong bốn phương tiện để thành tựu mục tiêu
cứu cánh (Iddhipāda, Tứ Thần Túc). Viriya cũng nằm trong bốn
phương cách nỗ lực tối thượng (Sammappadhāna, Tứ Chánh
Cần). Ðược nâng đến mức độ cao siêu, Viriya là một trong
bảy yếu tố cần thiết của sự Giác Ngộ (Bojjhaṅga, Thất
Giác Chi). Cuối cùng, Viriya tiến đạt đến mức trở thành
Chánh Tinh Tấn, một trong tám chi của Con Ðường Cao Quý (Aṭṭhaṅgika
Magga, Bát Chánh Ðạo).
Sách
Atthasālini viết rằng Viriya, Tinh Tấn, phải được xem là
căn nguyên của mọi thành tựu mỹ mãn.
Chuyên
cần, cố gắng, tận lực, tinh tấn, được xem là những danh
từ sát nghĩa nhất với Viriya.
13.
Pīti, Phỉ hay Hỷ
Xem
chương I, chú giải số 40.
14.
Chanda, Dục, ý-muốn-làm.
Xuất
nguyên từ căn "chad", mong ước, muốn.
Ðặc
tính chánh yếu của Chanda là "ý muốn làm" (kattukamyatā), cũng
như vói tay nắm lấy một vật. Danh từ Chanda nầy, không có
tánh cách đạo đức, phải được phân biệt với danh từ
Lobha, tâm tham, có tánh cách bất thiện. Lobha là bám chặt
vào một vật.
Có
ba loại Chanda, Dục, là:
1.
Kāmachanda, tham dục, là khát vọng duyên theo lục trần, một
trong năm pháp Triền Cái (Nīvaraṇa). Ðây là một loại tâm
bất thiện.
2.
Kattukamyatā Chanda, chỉ là "ý muốn làm" suông. Không có tánh
cách đạo đức.
3.
Dhammacchanda, ý muốn chân chánh. Chính ý muốn chân chánh nầy
thúc giục Hoàng Tử Siddhattha từ bỏ những dục lạc của
đời vương giả.
Trong
ba loại Chanda, Kattukamyatā Chanda, có nghĩa là riêng biệt luyến
ái một tâm sở nào, một trong bốn ảnh hưởng quan trọng
(Adhipati).
Shwe
Zan Aung nói: "Sự cố gắng quyết ý, hay ý chí là do Viriya,
Tinh Tấn. Pīti, Phỉ hay Hỷ, là trạng thái thích thú trong
đối tượng; Chanda là có ý định liên quan đến đối tượng."
(Compendium, trang 18).
Người
Phật tử có Dhammacchanda, ý muốn chân chánh, để chứng ngộ
Niết Bàn. Ðây không phải là tham ái.
Sáu
loại tâm sở nầy -- Tầm, Sát, Xác Ðịnh, Tinh Tấn, Phỉ,
Dục -- có thể phát sanh hay không phát sanh trong tất cả các
loại tâm -- được gọi là Pakiṇṇaka, Riêng Biệt, hay Biệt
Cảnh.
15.
Moha, Si
Xuất
nguyên từ căn "muh", mê mờ, lầm lạc. Moha là một trong ba
căn bất thiện, và nằm trong tất cả các loại tâm bất thiện.
Nghịch nghĩa của Moha, si, là Paññā, trí tuệ. Ðặc tính
chánh của Moha là lẫn lộn, không thấy rõ bản chất của
sự vật. Moha như đám mây mờ, bao phủ tri kiến của ta liên
quan đến Nghiệp và Tứ Diệu Ðế.
16.
Ahirika, Vô Tàm
Ahirika
là một danh từ trừu tượng được cấu hợp do "a" + "hirika",
có nghĩa không hổ thẹn, Vô Tàm. Người không hổ thẹn khi
làm điều bất thiện là ahiriko. Trạng thái của người như
vậy là ahirikkaṁ = ahirikaṁ. Người có tâm Hiri (hổ thẹn)
sẽ chùng bước, thối lui, trước hành động bất thiện,
cũng như lông gà rút co lại trước ngọn lửa. Người "không
có Hiri" (Vô Tàm) có thể làm bất luận điều bất thiện
nào mà không chút rụt rè.
17.
Anottapa, Vô Quý
"Na"
+ "ava" + căn "tapp", bứt rứt, dày vò.
Ottappa
là sợ làm điều bất thiện, tức sợ hậu quả của hành
động bất thiện.
Anottappa,
phản nghĩa của Ottappa, được ví như con thiêu thân bị cháy
sém trên ngọn lửa. Một người biết sợ nóng ắt không thọc
tay vào lửa. Nhưng con thiêu thân thì không ngờ hậu quả tai
hại của hành động bay vào lửa, do đó bị thiêu đốt. Cùng
thế ấy, một người Vô Quý, không biết sợ hậu quả của
hành động bất thiện, có thể làm bất luận điều ác nào
và phải chịu khốn cùng trong khổ cảnh.
Hai
danh từ Hiri và Ottappa đi chung với nhau. Hiri phải được phân
biệt với trạng thái nhút nhát, rụt rè, thông thường, và
Ottappa phải được phân biệt với trạng thái sợ hãi, kinh
hoàng. Sợ hãi được xem là một trong mười đạo binh của
Ma Vương (Māra). Người Phật tử đuợc dạy không nên sợ
bất cứ nhân vật nào, dầu là một đấng Thần Linh, bởi
vì Phật Giáo không đặt nền tảng trên sự sợ sệt cái
gì không bao giờ được biết đến.
Hiri
(Hổ Thẹn) phát sanh từ bên trong, và Ottappa từ bên ngoài,
do ngoại cảnh. Thí dụ như có thanh sắt. Một đầu của thanh
sắt thì đốt nóng lên, đầu kia thì thoa đồ dơ thúi vào.
Ta không sờ tay vào đầu dơ thúi của thanh sắt vì ghê tởm,
gớm, và không sờ vào đầu nóng vì sợ. Hiri, Hổ Thẹn, cũng
giống như đầu dơ thúi, và Ottappa, Ghê Sợ, như đầu nóng.
Những điểm ghi nhận sau đây của Bà Rhys Davids về Hiri và
Ottappa mô tả rành rẽ sự khác biệt giữa hai tâm sở mật
thiết liên quan với nhau nầy:
"Hiri
và Ottappa, như Ðức Buddhaghosa phân tách, cho thấy nhiều điểm
vô cùng hứng thú về phương diện đạo đức. Gom chung lại,
hai danh từ nầy là sắc thái 'cảm xúc' và 'quyết ý' của
ý niệm về tâm thức của thời hiện đại, cũng như Sati
(Niệm) tiêu biểu cho phần trí thức. Hiri 'có nghĩa tương
đương với hổ thẹn (lajjā)', Ottappa tương đương với 'nổi
ưu phiền đau khổ (ubbego) về hành động bất thiện.' Hiri
(Tàm) bắt nguồn từ bên trong (attādhipati), tự mình cảm nghe
hổ thẹn. Ottappa (Quý) chịu ảnh hưởng của xã hội (lokādhipati),
sợ xã hội dị nghị. Hiri được xây dựng trên sự hổ thẹn,
Ottappa, trên sự sợ sệt. Hiri tiêu biểu trạng thái nhất
trí, Ottappa, ghi dấu sự phân giải tình trạng hiểm nguy và
ghê sợ lỗi lầm. Nguồn gốc chủ quan của Hiri có bốn: ý
niệm có liên quan đến sự sanh trưởng, đến tuổi tác, đến
giá trị, và đến giáo dục của ta. Do đó người có tâm
biết hổ thẹn trước hành động bất thiện, Hiri, sẽ suy
tư: 'Chỉ có con cái của hạng người tầm thường, như dân
chài chẳng hạn, những người nghèo khó, đói rách, những
người mù, dốt, mới làm điều nầy', và vì nghĩ vậy người
ấy tự chế, nhịn không làm. Nguồn gốc của Ottappa, Quý,
ghê sợ hậu quả của hành động bất thiện, nằm ở bên
ngoài ta. Ðó là ý niệm: 'hạng người chân thật sẽ khiển
trách ta', và vì lẽ ấy không làm điều bất thiện. Nếu
có Hiri, biết hổ thẹn trước hành động bất thiện, Ðức
Phật dạy, thì người ấy là vị chủ nhân tốt nhất của
chính mình. Ðối với người có nhiều nhạy cảm hơn với
Ottappa, ghê sợ hậu quả của hành động bất thiện, thì
các ông chủ của niềm tin là hướng dẫn tốt nhất."
"Trong
đoạn bổ túc, 'Hiri tiêu biểu trạng thái nhất trí v.v...'
được giải thích như sau: Trong Hiri ta suy gẫm về giá trị
của sự sanh trưởng của ta, giá trị của ông thầy ta, của
giai cấp ta, và của các bạn đồng môn với ta. Trong Ottappa
ta cảm nghe ghê sợ trước những phiền hà của chính ta, sự
khiển trách của người khác, và quả báo trong một kiếp
sống khác," (Buddhist Psychology, trang 20).
Hiri
và Ottappa được xem là hai yếu tố chi phối thế gian rất
quan trọng. Thiếu hai yếu tố nầy không có xã hội văn minh
nào có thể tồn tại.
18.
Uddhacca, Phóng Dật
"U"
= trên, phía trên + căn "Dhu" = chao động, rung chuyển.
Uddhutassa
bhāvo Uddhuccaṁ = Uddhaccaṁ = trạng thái phun lên. Uddhacca được
ví như trạng thái chao động của một đống tro khi người
ta ném đá vào. Ðó là trạng thái tâm chao động, và phản
nghĩa là trạng thái tâm an trụ. Khi được xem như một trong
năm triền cái (Nivārana, chướng ngại tinh thần), tâm Phóng
Dật đối chiếu với chi thiền "Lạc".
Trong
một vài trường hợp hiếm hoi Uddhacca được xử dụng trong
ý nghĩa trạng thái tâm bị thổi phồng, tương đương với
tánh tự cao tự đại. Ở đây danh từ nầy không được dùng
trong nghĩa ấy. Thông thường Uddhacca (Phóng Dật) phải được
phân biệt rõ ràng với Māna (Ngã Mạn), bởi vì cả hai đều
được xem là một trong mười Thằng Thúc (Saṁyojanas), dây
trói buộc, cột chúng sanh vào vòng luân hồi.
Bốn
tâm sở kể trên -- Moha, Ahirika, Anottappa và Uddhacca -- mở đầu
danh sách các tâm sở bất thiện, nằm chung trong tất cả các
loại tâm bất thiện.
19.
Lobha, Tham.
Xem
chương I, chú giải 9.
20.
Diṭṭhi, Tà Kiến.
Nên
ghi nhận sự khác biệt giữa Moha, Si, và Diṭṭhi, Tà Kiến.
Tâm Si Mê che lấp, làm mờ đối tượng giống như một đám
mây bao phủ. Diṭṭhi liên quan đến quan kiến nhất định,
khư khư cố chấp vào ý tưởng của mình, như nói, "đây quả
thật là chân lý, ngoài ra, những gì khác đều sai." Diṭṭhi,
Tà Kiến, nghịch nghĩa với Ñāṇa, Trí Tuệ. Diṭṭhi bác
bỏ, không chấp nhận bản chất thật sự và nhìn sự vật
một cách sai lầm. Trí Tuệ phân biện đối tượng đúng như
thật, thấy bản chất thật sự của đối tượng. Khi danh
từ Diṭṭhi được dùng riêng một mình, không có túc từ
đi kèm theo thì có nghĩa là Micchā Diṭṭhi, Tà Kiến. Sammā
Diṭṭhi, Chánh Kiến, hay Amoha, Không Si là nghịch nghĩa với
Moha, Si.
21.
Māna, Ngã Mạn.
Xuất
nguyên từ căn "man", suy tư.
22.
Dosā, Sân.
Xem
chương I, chú giải 9.
23.
Issā, Ganh Tị.
Xuất
nguyên từ "i" + căn "su", đố kỵ, ganh ghét, tật đố. Ðặc
tính của Issā là ganh tị sự thành công và thạnh vượng
của người khác. Như vậy có tánh cách khách quan, bắt nguồn
từ bên ngoài chủ thể.
24.
Macchariya, Xan Tham.
Macchariyassa
bhāvo là trạng thái của người bỏn xẻn keo kiết.
Ðặc
tính của Macchariya là che đậy, dấu kín sự thạnh vượng
của mình. Ngược lại với Issā, Macchariya có tánh cách chủ
quan, bắt nguồn từ bên trong chủ thể.
Cả
hai, Issā (Ganh Tị) và Macchariya (Xan Tham, Bỏn Xẻn) đều được
xem là bạn của Dosa (Sân), bởi vì mỗi khi Issā và Machariya
khởi sanh là có Dosa.
25.
Kukkucca, Lo Âu.
Kukatassa
bhāvo = kukkuccaṁ = trạng thái của người bồn chồn lo âu,
hối hận vì đã có hành động sai lầm.
Theo
chú giải, điều bất thiện đã làm là ku + kata, và như vậy,
không làm là tốt. Ăn năn hối hận về một điều bất thiện
đã làm là Kukkucca, và ăn năn hối tiếc điều thiện đã
bỏ qua không làm cũng là Kukkucca. Sách Dhamma-saṅgani giải
thích: Tại sao lo âu?
"Cái
tâm cho rằng điều hợp pháp là bất hợp pháp, cái tâm cho
rằng điều bất hợp pháp là hợp pháp; cái tâm cho rằng
điều không hợp đạo đức là đạo đức và điều hợp
đạo đức cho rằng không hợp đạo đức -- tất cả những
loại lo âu, sốt ruột, quá e ngại, bứt rứt lương tâm, những
mất mát tinh thần ấy -- đều được gọi là Kukkucca." (Buddhist
Psychology - trang 313)
Kukkucca
(Lo Âu) là một trong năm pháp Triền Cái (Nivāraṇa) và đi
chung với Uddhacca (Phóng Dật). Kukkucca chỉ liên quan đến quá
khứ.
Theo
Tạng Luật, Kukkucca là tâm hoài nghi trong sạch về Giới Luật.
Theo
Tạng Diệu Pháp trái lại, Kukkucca là hối tiếc, làm cho tâm
bất an, và như vậy nên tránh.
26.
Thīna, Hôn Trầm.
Xuất
nguyên từ căn "the", co rút lại + "na". Thena = thāna = thīna.
Thīna
là trạng thái tâm co rút lại, thối lui, giống như lông gà
trước ngọn lửa. Thīna (Hôn Trầm) nghịch nghĩa với Viriya
(Tinh Tấn). Thīna được giải thích là Citta-gelaññaṁ, trạng
thái tâm ươn yếu bệnh hoạn. Như vậy, Thīna đối nghịch
với Cittakammaññatā, trạng thái nhu thuận của tâm, một trong
các tâm sở Ðẹp (Sobhana cetasika, Tịnh Quang, hay Tịnh Hảo
tâm sở).
27.
Middha, Dã dượi, hay Thụy Miên.
Xuất
nguyên từ căn "middh", không hoạt động, không có phản ứng,
không có khả năng.
Ðây
là trạng thái uể oải, ươn yếu, dã dượi, của tâm sở.
Cả
hai -- Thīna (Hôn Trầm) và Middha (Thụy Miên) luôn luôn đi chung
-- là một trong năm pháp Triền Cái (Chướng Ngại Tinh Thần).
Chi thiền Vitakka (Tầm) khắc phục Chướng Ngại nầy. Middha
(Thụy Miên) cũng nghịch nghĩa với Viriya (Tinh Tấn). Nơi nào
có Thīna và Middha thì không có Viriya.
Middha
được giải thích là Kāya-gelañña, trạng thái ươn yếu của
"cơ thể tinh thần". Nơi đây danh từ Kāya, cơ thể, không
có nghĩa là cơ thể vật chất, hay thân nầy, mà là cơ cấu
tổng hợp các tâm sở, tức Vedanā, Saññā và Saṅkhāra (Thọ,
Tưởng và năm mươi tâm sở còn lại). Do đó Middha đối nghịch
với Kāyakammaññatā, trạng thái nhu thuận của tâm sở.
Sách
Dhammasaṅgani giải thích hai tâm sở Thīna và Middha như sau:
"Thīna,
Hôn Trầm, là gì?
"Ðó
là trạng thái trí năng khó chịu, nhuể nhoại, không sẵn
sàng làm, nặng nề, chậm chạp, dính mắc và không linh động;
trạng thái trí thức cố thủ, bám níu, khư khư cố chấp,
trạng thái trí thức chết cứng một chỗ -- đó là Thīna
(Hôn Trầm).
"Middha,
Thụy Miên hay Dã Dượi, là gì?
"Ðó
là trạng thái cảm giác khó chịu, không sẵn sàng; trạng
thái có cảm giác như người bị liệm kín, bị bao phủ, bị
ngăn chận từ bên trong. Trạng thái dã dượi làm cho buồn
ngủ, hôn mê, trạng thái tâm sở như mơ màng, thiu thỉu ngủ,
nửa tỉnh nửa mê -- đó là Middha (Dã Dượi) -- (Buddhist Psychology,
trang 311-312)
28.
Vicikicchā, Hoài Nghi.
Xem
chương I, chú giải 13.
Khi
là một Chướng Ngại Tinh Thần Vicikicchā không có nghĩa là
hoài nghi Phật, Pháp, Tăng v.v...
Bản
Chú Giải Trung A Hàm (Majjhima Nikāya) ghi nhận: "Gọi như vậy
vì nó không thể quyết định cái đó đúng thật là như vậy."
(Idam'ev'idanti nicchetuṁ asamatthabhāvato'ti vicikicchā ).
29.
Saddhā, Tín.
"Saṁ",
tốt đẹp + căn "dah", thiết lập, đặt lên, để trên.
Danh
từ Saṁskrt Sraddhā gồm "Srat", đức tin + "dhā", thiết lập.
Theo
Pāli, Saddhā là niềm tin thiết lập vững chắc đặt nơi Ðức
Phật, Giáo Pháp và Giáo Hội Tăng Già. Ðặc tính chánh yếu
của Saddhā là thanh lọc, làm cho trong sạch, tinh khiết (sampasādana)
các tâm sở đồng phát sanh với nó. Saddhā có thể được
ví như viên bảo ngọc của vị hoàng đế có đặc tính làm
cho nước trong. Khi bỏ viên ngọc nầy vào nước đục, bao
nhiêu bùn và bợn nhơ của nước đều lắng xuống và nước
trở nên trong. Cùng thế ấy, Saddhā làm cho bợn nhơ của tâm
lắng xuống và tâm trở nên trong sạch.
Saddhā
(Tín) ở đây không phải là đức tin mù quáng mà là niềm
tin tưởng, tín nhiệm, căn cứ trên sự hiểu biết.
Ta
có thể hỏi: "Một người không phải là Phật tử có Saddhā
được không?"
Tập
Atthasālini nêu lên chính câu hỏi nầy và đưa ra một lời
giải đáp không mấy thỏa đáng và không hoàn toàn thích ứng.
"Người
có quan kiến sai lầm không tin tưởng nơi vị thầy của họ
sao?" Ðức Buddhaghosa đặt câu hỏi như vậy. Và câu trả lời
của Ngài là:
"Họ
vẫn tin nơi thầy của họ. Nhưng đó không phải là Saddhā
(Tín). Ðó chỉ suông là một thỏa thuận bằng ngôn từ (Vacanasampaṭicchanamattameva)".
Nếu
chỉ có người Phật tử mới có Saddhā (Tín) vậy ta phải
nói thế nào khi một người không phải Phật tử đặt đức
tin, hay niềm tin tưởng, nơi thầy của họ? Chắc chắn rằng
khi nghĩ đến vị thầy dạy đạo mình, tâm của người không
phải Phật tử phần nào cũng trở nên trong sạch. Người
không phải Phật tử đặt niềm tin nơi đạo sư mình có phải
là Tà Kiến (Diṭṭhi) không? Nếu là Tà Kiến thì hẳn đó
là tâm Bất Thiện (Akusala). Như vậy, người không phải Phật
tử không bao giờ có cơ hội để chứng nghiệm tâm Thiện
sao?
Có
phải chăng đúng hơn ta nên nói rằng Saddhā chỉ là sự tín
nhiệm hay niềm tin suông, thay vì đặt một giới hạn, cho
rằng niềm tin ấy phải đặt nơi Tam Bảo mới gọi là Saddhā.
Bộ
Dhammasaṅgani giải thích Saddhā như sau: "Trong trường hợp
nầy đức tin là sự tín nhiệm nơi, sự biểu lộ niềm tin
tưởng nơi, một ý niệm được đảm bảo, tình trạng an
tâm tin chắc, đức tin, đức tin xem như một khả năng và
một năng lực." (Buddhist Psychology trang 14)
Saddhā
(Tín) cũng là sự hiểu biết bằng cách trực giác chứng nghiệm,
hoặc là sự hiểu biết được huân tập từ nhiều kiếp
sống quá khứ.
30.
Sati, Niệm
Do
căn "sar", hồi nhớ.
Sati
(Niệm), không chính xác tương đương với quan niệm về trí
nhớ của người Tây Phương. Trạng thái chú tâm gần với
Sati. Sự chú tâm ghi nhận, hay Niệm, cần phải được trau
giồi và phát triển. Kinh Niệm Xứ, Satipaṭṭhāna Sutta, có
mô tả với đầy đủ chi tiết nhiều phương pháp khác nhau
để phát triển tâm sở Niệm nầy. Khi phát triển Sati (Niệm)
đến mức cao độ hành giả có thể thành đạt khả năng
nhớ lại nhiều kiếp sống quá khứ. Chính Sati nầy được
xem là một trong tám chi của Bát Chánh Ðạo -- Chánh Niệm.
Sati
có khuynh hướng gợi hiện lên trước mắt ta những thiện
pháp và không để cho các điều lành ấy bị lãng quên. Ðặc
tính chánh của Sati là "không trôi đi" (apilāpana). Không giống
như trái bí, trái bầu, hay lu hũ nổi trôi trên mặc nước,
Sati trầm mình trong đề mục.
Phải
ghi nhận rằng loại Sati (Niệm) đặc biệt nầy không nằm
trong các loại tâm bất thiện.
Trong
tâm bất thiện chỉ có Micchā Sati (Tà Niệm).
Sách
Dhammasaṅgani giải thích Sati như sau:
"Niệm
ở đây là hồi nhớ lại, khiêu gợi đem trở lại tâm; sự
chú tâm hồi nhớ, mang trong tâm cái gì nghịch nghĩa với trạng
thái nông cạn và lãng quên; sự chú tâm xem như một khả
năng; sự chú tâm xem như một năng lực, chánh niệm." (Buddhist
Psychology, trang 16)
Chú
giải danh từ Sati Bà Rhys Davids nói:
"Chú
giải của Ðức Buddhaghosa về Sati theo đó Ngài bám sát và
giảng rộng trong Mil. 37, 38, cho thấy rằng quan niệm cổ truyền
về sắc thái nầy của tâm có nhiều phần giống lý thuyết
hiện đại về lương tâm hay lương tri. Sati (Niệm) xuất hiện
dưới hình ảnh một nhà chỉ đạo bên trong, phân biệt rõ
ràng điều nào tốt, điều nào xấu, và thúc giục chọn lựa.
"Hardy
đi xa đến mức phiên dịch Sati là "lương tâmṅhưng điều
nầy làm tổn thương sự khác biệt hứng thú giữa tư tưởng
Ðông Phương và Tây Phương. Ðối với người phương Ðông,
đối tượng của Sati không có gì là thần bí. Nó đem tiến
trình tâm lý hay cơ năng tiêu biểu (mà không vạch ra sự khác
biệt giữa trí nhớ suông và sự xét đoán) và trình bày dưới
một sắc thái đạo đức." -- (Buddhist Psychology, trang 16)
31.
Hiri & Ottappa, Tàm và Quý.
Xem
Ahirika và Anottappa, chú giải 16 và 17.
32.
Alobha, Không-Tham.
Alobha
phản nghĩa với Lobha (Tham). Xem chương I, chú giải 9.
Alobha
(Không-Tham) bao hàm ý nghĩa Dāna, là lòng quảng đại, hạnh
bố thí. Alobha là một phẩm hạnh tích cực liên quan đến
lòng vị tha. Alobha (Không-Tham) là một trong ba căn Thiện. Giống
như giọt nước trên lá sen, lăn trôi đi mà không dính mắc,
đặc tính chánh của Alobha là buông bỏ, từ khước, không
đeo níu vật gì.
33.
Adosa, Không-Sân.
Adosa
là phản nghĩa của Dosa (Sân). Xem chương I, chú giải 9.
Adosa
(Không-Sân) không phải chỉ là không có lòng sân hận hay không
bất toại nguyện, mà còn là một phẩm hạnh tích cực.
Adosa
(Không-Sân) đồng nghĩa với Mettā (tâm Từ), một trong bốn
phẩm hạnh cao thượng vô lượng vô biên, Tứ Vô Lượng Tâm.
Người
đọc sẽ ghi nhận rằng nơi đây, khi liệt kê những loại
tâm vô lượng, chỉ có hai loại được đề cập đến là
Karuṇā (tâm Bi) và Muditā (tâm Hỷ). Lý do là vì Mettā (tâm
Từ) đã được bao hàm trong Adosa (Không-Sân) và Upekkhā (tâm
Xả) đã nằm trong Tatramajjhattatā, tâm quân bình.
Adosa
(Không-Sân) cũng là một trong ba căn thiện. Giống như một
người bạn lành dễ chịu Adosa có đặc tính chánh là không
gắt gỏng, không nặng lời (caṇḍikka).
34.
Ba Căn Thiện
Alobha
(Không-Tham), Adosa (Không-Sân), Amoha (Không-Si) là ba căn Thiện.
Amoha
(Không-Si) không được đề cập đến trong 19 tâm sở Ðẹp
(Tịnh Quang tâm sở) vì đã nằm trong Paññā (Trí Tuệ).
Sách
Atthasālini mô tả ba phẩm hạnh nầy một cách sống động
như sau:
"Trong
ba đức tánh nầy, Alobha (Không-Tham) có đặc tính là không
gắn bó vào, hay không dính mắc trong một vật, tựa như giọt
nước trên lá sen. Cơ năng của Alobha là không chiếm hữu,
như thầy tỳ khưu siêu thoát (A La Hán). Biểu hiện của Alobha
(Không-Tham) là buông bỏ, phủi sạch như người té vào đống
rác dơ bẩn.
"Adosa
(Không-Sân) có đặc tính là không gắt gỏng hay gây phiền
não, như người bạn lành. Cơ năng của Adosa (Không-Sân) là
tiêu trừ trạng thái bực bội, phiền toái hay nóng nảy, như
gỗ trầm. Biểu hiện của Adosa là dễ mến, dịu dàng, như
ánh trăng rằm.
"Ðặc
tính, cơ năng v.v... của Amoha (Không-Si) được đề cập đến
liên quan với danh từ Paññindriya (Tuệ Căn). Lại nữa, trong
ba đức tánh nầy, Alobha (Không- Tham) nghịch nghĩa với ô nhiễm
ích kỷ, Adosa (Không- Sân) nghịch nghĩa với trạng thái không
trong sạch (dussīlya, bất tịnh), Amoha (Không-Si) với trạng
thái không phát triển những điều kiện đạo đức.
"Alobha
(Không-Tham) là nguyên nhân đưa đến đức quảng đại, tâm
bố thí; Adosa (Không-Sân), đưa đến cuộc sống giới đức;
và Amoha (Không-Si), đến hành thiền.
"Do
Alobha (Không-Tham) ta không lấy cái gì đã có dư, vì người
tham lấy điều mình đã dư thừa. Do Adosa (Không- Sân) lấy
cái gì không ít, vì người sân lấy cái gì ít. Do Amoha (Không-Si)
lấy cái gì chánh đáng, vì người si mê chấp điều sai lầm.
"Do
Alobha (Không-Tham), trước một lỗi lầm hiển nhiên, thấy
đúng thực tướng của nó và nhìn nhận nó là vậy. Người
tham lam che giấu lỗi lầm. Do Adosa (Không-Sân), trước một
đức tánh hiển nhiên ta thấy đúng thực tướng của nó,
và nhìn nhận nó là vậy. Người sân xóa bỏ, làm phai mờ
đức tánh ấy. Do Amoha (Không-Si) ta thấy đúng thực tướng
của mọi vật và chấp nhận là vậy. Người si mê thấy giả
là thật, thấy thật là giả.
"Do
Alobha (Không-Tham) sầu muộn không phát sanh khi xa cách người
thân yêu, vì trìu mến là bản chất cố hữu của người
tham, cũng như không thể chịu đựng nổi tình trạng xa cách
người thân yêu. Do Adosa (Không-Sân), sầu muộn không phát
sanh khi sống chung với người không ưa thích vì trạng thái
bất thỏa mãn là bản chất cố hữu của người sân, cũng
không thể chịu đựng sự kết hợp với người không ưa
thích. Do Amoha (Không-Si), sầu muộn không phát sanh khi không
đạt được điều mong muốn, vì bản chất cố hữu của
người si mê là tự hỏi: "ở đâu ta có thể đạt được
điều ấy?" v.v...
"Do
Alobha (Không-Tham), hiện tượng tái sanh không làm phát sanh
sầu muộn, vì Alobha (Không-Tham) là đối nghịch với ái dục,
và ái dục là nguyên nhân đưa đến tái sanh. Do Adosa (Không-Sân),
sầu muộn vì tuổi già không phát sanh, bởi vì người nhiều
sân hận, tánh tình nóng nảy, mau già. Do Amoha (Không-Si) sầu
muộn vì chết không phát sanh. Người mê muội thấy cái chết
quả thật đau khổ. Người không si mê không thấy hiện tượng
chết là đau khổ.
"Hàng
cư sĩ sống thuận hòa với nhau nhờ Alobha (Không-Tham), bậc
xuất gia sống thuận hòa nhờ Amoha (Không-Si), và tất cả
chung sống thuận hòa với nhau nhờ Adosa (Không-Sân).
"Ðặc
biệt, do Alobha (Không Tham) không tái sanh vào cảnh ngạ quỷ,
vì thường chúng sanh sa đọa vào cảnh nầy do ái dục. Do
Adosa (Không-Sân), không tái sanh vào địa ngục (Niraya) vì sân
hận, tức bản chất quạu quọ, gắt gỏng, đưa chúng sanh
vào cảnh địa ngục, cảnh giới thích hợp với lòng sân.
Adosa đối nghịch với tâm sân. Do Amoha (Không-Si), không tái
sanh vào cảnh thú, vì si mê đưa chúng sanh vào cảnh thú. Amoha
đối nghịch với si mê. "Trong ba đức tánh, Alobha (Không-Tham)
thúc giục ra khỏi ảnh hưởng thu hút của tham ái; do Adosa
(Không-Sân), ra khỏi ảnh hưởng thu hút của sân hận; Amoha,
ra khỏi trạng thái chai cứng, lãnh đạm thờ ơ vì si mê.
"Hơn
nữa, do ba đức tánh trên phát sanh ba ý niệm tương ứng:
Ý niệm về sự từ khước (ly dục), không sân hận (vô sân),
không gây tổn hại (bất hại); và ý niệm về sự ghê tởm,
về các phẩm hạnh vô lượng, và về những nguyên tố căn
bản (Dhātu, Xứ).
"Do
Alobha (Không-Tham) tiêu trừ cực đoan lợi dưỡng. Do Adosa (Không-Sân)
tiêu trừ cực đoan khổ hạnh. Do Amoha có sự đào luyện đúng
theo con đường "Trung Ðạo".
"Cùng
thế ấy, do Alobha dây trói buộc tham ái (Abhijjhā Kāyagantha)
đuợc tiêu trừ. Do Adosa, dây sân hận, và do Amoha hai dây trói
buộc si mê còn lại được tiêu trừ. [11]
"Hai
chi đầu tiên của niệm (tức niệm thân và niệm thọ) được
thành tựu nhờ năng lực của Alobha (Không-Tham) và Adosa (Không-Sân).
Hai chi sau (niệm tâm và niệm pháp) nhờ năng lực của Amoha
(Không-Si).
"Nơi
đây Alobha (Không-Tham) dẫn đến sức khỏe, vì người không
tham ái không ham mê đeo níu theo những gì thu hút, mà chỉ
làm những gì thích hợp với mình -- do đó được khỏe mạnh.
Adosa (Không-Sân) đưa đến tình trạng trẻ trung, vì người
không sân hận giữ mình trẻ trung lâu dài, không bị lửa
sân thiêu đốt, làm nhăn da bạc tóc. Amoha (Không-Si) dẫn đến
tuổi thọ cao, vì người không si mê phân biệt điều gì thích
hợp với mình, điều gì không, và tránh những điều không
thích hợp, làm điều thích hợp -- do đó được trường thọ.
"Alobha
(Không-Tham) đưa đến tình trạng giàu có, vì do lòng quảng
đại bố thí ta thâu thập tài sản sự nghiệp. Adosa (Không-Sân)
đưa đến tình trạng có nhiều bạn bè, vì do tâm Từ ta được
bạn, mà không mất. Amoha (Không-Si) đưa đến những thành
tựu cá nhân viên mãn, vì người trí tuệ chỉ làm những
gì lợi ích cho mình, tự điều chế mình.
"Alobha
(Không Tham) đưa vào cảnh Trời. Adosa (Không-Sân), đến cảnh
Phạm Thiên, và Amoha (Không-Si) đến đời sống của các bậc
Thánh Nhân.
"Do
Alobha (Không-Tham) ta sống an lành với tài sản đã thâu thập,
giữa những người và vật quen thuộc (thuộc phe nhóm mình),
vì không quá luyến ái, khi những người hay vật ấy mất
mát hay hoại diệt ta không quá đổi âu sầu tiếc rẻ. Do
Adosa (Không-Sân) ta sống an vui giữa những người và vật
không quen thuộc (không thuộc phe nhóm mình), vì người không
sân không chứa chấp tình cảm bất thân thiện, dầu sống
giữa những người thù nghịch. Do Amoha (Không-Si) ta sống an
vui giữa những người và vật không thuộc phe nhóm nào, vì
người không si mê đã dứt bỏ mọi luyến ái.
"Do
Alobha (Không-Tham) có tuệ minh sát sâu sắc về lý vô thường,
vì người tham ái bị lòng ham muốn thọ hưởng che lấp, không
thấy đặc tướng vô thường trong sự vật vô thường. Do
Adosa (Không-Sân) có tuệ minh sát sâu sắc về đặc tướng
đau khổ, vì người có bẩm tánh từ ái đã dứt bỏ mọi
cố chấp, nguyên nhân của lòng bất toại nguyện, nhìn thấy
vạn pháp đều đau khổ. Do Amoha (Không-Si) có tuệ minh sát
sâu sắc về lý vô ngã, vì người không si mê sáng suốt thấu
đạt chân tướng của vạn pháp, nhận định rõ ràng ngũ
uẩn là vô ngã.
"Như
ba trạng thái trên (Không-Tham, Không-Sân, Không-Si) đưa đến
tuệ minh sát sâu sắc về đặc tướng vô thường v.v... cùng
thế ấy, tuệ minh sát sâu sắc về ba đặc tướng vô thường
v.v... đưa đến ba trạng thái trên.
"Tuệ
minh sát về đặc tướng vô thường đưa đến Alobha (Không-Tham).
Do tuệ minh sát về đặc tướng đau khổ trạng thái Adosa
(Không-Sân) phát sanh. Do Amoha (Không-Si) có tuệ minh sát về
đặc tướng vô ngã.
"Người
quả thật đã thấu hiểu chắc chắn rằng cái nầy là vô
thường có còn phát triển lòng ham muốn cái nầy nữa không?
"Người
quả thật đã nhận thức rõ ràng đặc tướng đau khổ của
sự vật có còn phát triển trạng thái đau khổ khác nữa
do lòng sân hận quá độ không?
"Người
quả thật đã thấu triệt đặc tướng rỗng không của linh
hồn có còn rơi trở lại vào ảo tưởng hiển nhiên ấy không?"
-- (Atthasālini trang 137 -139. Xem The Expositor, tập i, trang 167-170)
35.
Tatramajjhattatā, Xả, tâm quân bình.
Theo
đúng căn nguyên, "tatra" = ở đó, tức đối với đối tượng.
"majjhattatā" = ở khoảng giữa, tức không thiên về bên nào,
quân bình.
Ðặc
tính chánh yếu của Tatramajjhattatā là nhìn đối tượng một
cách vô tư, không thiên vị. Tatramajjhattatā như người đánh
xe, nhìn đồng đều vào cặp ngựa đã được huấn luyện
thuần thục.
Ðôi
khi Tatramajjhattatā và Upekkhā được dùng như hai danh từ đồng
nghĩa. Trong Tứ Vô Lượng Tâm, Tatramajjhattatā đồng nghĩa
với Upekkhā. Do đó, khi liệt kê các tâm sở vô lượng ta
không đề cập đến Upekkhā nữa. Chính Tatramajjhattatā nầy
được nâng cao và được xem như một trong bảy yếu tố của
sự giác ngộ (Bojjhaṅga, Thất Giác Chi, hay bảy nhân sanh quả
bồ đề). Cũng phải phân biệt rõ ràng Tatramajjhattatā với
trạng thái Upekkhā lãnh đạm thờ ơ. Ðôi khi cả hai tâm sở
nầy đồng khởi sanh trong một loại tâm vương, tức trong
tất cả Upekkhāsahagata Kusala Cittas, những tâm Thiện đồng
phát sanh cùng thọ Xả.
Tatramajjhattatā
nầy đuợc xem là tâm Xả (Upekkhā) về cả hai phương diện,
trí thức và đạo đức.
(Xem
chương I, chú giải 42)
36.
Kāya Passaddhi & Citta Passaddhi. Trạng thái an tĩnh của tâm
sở và trạng thái an tĩnh của tâm vương.
Passaddhi
gồm "pa" + căn "sambh" làm cho an tĩnh, yên lặng. Passaddhi là
trạng thái an tĩnh, yên lặng, tự tại.
Ðặc
tính chánh của Passaddhi là tiêu trừ, hay làm giảm dịu tình
trạng nóng bỏng của dục vọng (Kilesa- daratha-vūpasama). Passaddhi
như tàn bóng mát mẻ của một cội cây đối với người
đi đường đang bị nắng thiêu đốt. Passaddhi nghịch nghĩa
với Uddhacca, phóng dật, trạng thái tâm bị khích động. Khi
được phát triển đến cao độ Passaddhi trở thành một trong
Thất Giác Chi (Bojjhaṅga).
Trạng
thái an tĩnh nầy có hai: trạng thái an tĩnh của Kāya, Tĩnh
Thân, và trạng thái an tĩnh của Citta, Tĩnh Tâm. Nơi đây Kāya
không có nghĩa là cơ thể vật chất, mà là một cơ cấu,
một nhóm yếu tố tâm linh gồm Vedanā (Thọ), Saññā (Tưởng)
và Saṅkhāra (Hành). Trong các tâm sở đi chung từng cặp tiếp
theo đây, danh từ Kāya cũng phải được hiểu cùng một thế
ấy. Citta là toàn thể tâm thức. Như vậy, Kāya Passaddhi là
trạng thái an tĩnh của những yếu tố tâm, hay của những
tâm sở. Citta Passaddhi hàm xúc trạng thái an tĩnh của toàn
thể tâm thức, hay tâm vương. Những cặp ở phần sau cũng
phải được giải thích cùng một thế ấy.
37.
Kāya Lahutā & Citta Lahutā -- Thân Khinh An và Tâm Khinh An.
Trạng
thái nhẹ nhàng của tâm sở và trạng thái nhẹ nhàng của
tâm vương.
Xuất
nguyên từ "Laghu", có nghĩa nhẹ, mau. (Saṅskrt Laghutā). Lahutā
là trạng thái nhẹ nhàng, thư thái. Tiêu trừ trạng thái nặng
nề của tâm và của tâm sở là đặc tính chánh yếu của
Lahutā. Lahutā ví như đặt gánh nặng xuống, nghịch nghĩa
với Thīna và Middha, hôn trầm và thụy miên, làm cho tâm sở
và tâm nặng nề, thô cứng.
38.
Kāya Mudutā & Citta Mudutā -- Thân Nhu Thuận và Tâm Nhu Thuận.
Trạng
thái mềm dẻo của tâm sở và của tâm vương.
Ðặc
tính chánh của Mudutā là tiêu trừ trạng thái thô cứng và
đề kháng. Mudutā làm mất đi tính cách thô cứng và làm cho
tâm trở thành mềm dẻo, nhu thuận để tiếp nhận đối tượng.
Mudutā được ví như một tấm da có thấm dầu và nước đầy
đủ, trở nên mềm dẻo và có thể được xử dụng dễ dàng.
Mudutā nghịch nghĩa với tà kiến và ngã mạn (Diṭṭhi và
Māna). Hai tâm sở sau nầy làm tâm thô cứng, không mềm dẻo,
khó xử dụng.
39.
Kāya-Kammāññatā & Citta-Kammaññatā -- Tâm Sở Thích Ūng
và Tâm Thích Ứng.
Trạng
thái thích ứng của tâm sở và trạng thái thích ứng của
tâm vương.
"Kamma"
+ "nya" + "tā" = Kammanyatā = Kammaññatā. Ðúng căn nguyên của
danh từ, là trạng thái dễ xử dụng, hay tình trạng có thể
dùng.
Ðặc
tính chánh của Kammaññatā là tiêu trừ trạng thái không dùng
được, khó xử dụng, của tâm sở và của tâm vương. Kammaññatā
ví như kim khí đã được đốt nóng, muốn uốn nắn thế
nào cũng được. Kammaññatā nghịch nghĩa với tất cả các
chướng ngại tinh thần còn lại (tức tham dục, oán ghét và
hoài nghi).
Sách
Atthasālini ghi nhận rằng hai cặp tâm sở nầy (cặp Mudutā
và cặp Kammaññatā) tạo nên trạng thái tĩnh lặng (Pasāda)
trong những sự vật thuận tiện -- tức khi hành thiện, tâm
được tĩnh lặng -- và thích ứng, nhu thuận, như vàng y dễ
xử dụng trong mọi việc lợi ích.
40.
Kāya-Pāguññatā & Citta-Pāguññatā -- Thân Thuần Thục và
Tâm Thuần Thục.
Trạng
thái tinh luyện của tâm sở và trạng thái tinh luyện của
tâm vương.
Ðây
là trạng thái tinh luyện, thuần thục. Ðặc tính chánh của
nó là tiêu trừ tình trạng ươn yếu bệnh hoạn của tâm
và các tâm sở. Nghịch nghĩa của Paguññatā là những khát
vọng như thiếu niềm tin v.v...
41.
Kāyujjukatā & Cittujjukatā -- Thân Chánh Trực và Tâm Chánh
Trực.
Trạng
thái ngay thẳng của tâm sở và trạng thái ngay thẳng của
tâm vương.
Ðây
là trạng thái chánh trực, ngay thẳng, nghịch nghĩa với trạng
thái xuyên vẹo, quanh co, khuất khúc, lừa phỉnh, mưu mẹo,
Ðặc tính chánh của trạng thái nầy là ngay thẳng.
42.
Tất
cả 19 tâm sở "Ðẹp" nầy đồng phát sanh cùng tất cả các
loại tâm thiện, không giống như có những tâm sở bất thiện
không hiện hành trong một loại tâm bất thiện. Ở đây không
có loại tâm vương thiện nào mà không đồng phát sanh cùng
với tất cả những tâm sở thiện nầy. Ngoài nhóm tâm sở
"Ðẹp" nầy còn có những tâm sở thiện khác chỉ phát sanh
tùy lúc, trong từng loại tâm vương.
43.
Virati, Tiết Chế.
"Vi"
+ căn "ram", thỏa thích trong. Virati là tiết chế, thỏa thích
trong sự kiêng cữ.
Theo
sách Atthasālini có ba loại Virati (Tiết Chế): Sampatta-Virati,
Samādāna-Virati, và Samuccheda-Virati.
Sampatta-Virati
là kiêng cữ, tránh làm điều bất thiện vì nghĩ đến tông
môn, đến tuổi tác, giáo dục v.v... của mình. Samādāna-Virati
là kiêng cữ, tránh làm điều bất thiện vì đó là vi phạm
giới luật mà mình đã tự nguyện nghiêm trì. Thí dụ như
người Phật tử kiêng cữ, không sát sanh, trộm cắp v.v...
để giữ tròn ngũ giới.
Samuccheda-Virati
là sự tiết chế của một vị Thánh Ðệ Tử, không làm điều
bất thiện vì đã tận diệt mọi căn cội bất thiện.
Trong
hai trường hợp đầu -- Sampatta-Virati và Samādāna-Virati --
những quy tắc tốt đẹp còn có thể bị vi phạm, nhưng trường
hợp chư vị A La Hán thì không thể có, vì các Ngài đã tận
diệt mọi dục vọng.
Ở
đây được kể ra ba điều kiêng cữ, có liên quan với tà
ngữ, tà nghiệp và tà mạng.
Một
cách chính xác, ba tâm sở đồng khởi sanh chung nầy chỉ phát
khởi cùng một lúc trong Tâm Siêu Thế (Lokuttara Citta). Trong
những trường hợp khác, ba tâm sở nầy phát sanh riêng rẽ,
vì đây là ba tác ý (Cetanā) riêng biệt.
Khi
hiện hữu trong Tâm Siêu Thế (Lokuttara Citta) ba tâm sở nầy
được xem là ba Chi -- Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng
-- của Con Ðường (Maggaṅga) và hợp thành nhóm Sīla (Giới).
Sammā-Diṭṭhi
(Chánh Kiến) và Sammā Saṅkappa (Chánh Tư Duy), vốn hợp thành
nhóm Paññā (Tuệ), được bao hàm trong các tâm sở Paññindriya
(Tuệ Căn) và Vitakka (Tầm).
Sammā
Vāyāma (Chánh Tinh Tấn), Sammā Sati (Chánh Niệm) và Sammā Samādhi
(Chánh Ðịnh) được bao hàm trong các tâm sở Tinh Tấn, Niệm
và Nhất Ðiểm.
Sammā-Vācā
(Chánh Ngữ) là tiết chế, kiêng cữ, tránh nói lời giả dối
(Musāvāda), tránh nói lời đâm thọc (Pīsuṇāvācā), lời
thô lỗ cộc cằn (Pharusavācā) và nhảm nhí (Sampapphalāpa).
Sammā
Kammanta (Chánh Nghiệp) là tránh hành động sát sanh (Pāṇātipāta),
trộm cắp (Adinnādāna), và tà dâm (Kāmesu Michācāra).
Sammā
Ājīva (Chánh Mạng) là tránh: buôn bán độc dược, bán các
chất say, bán khí giới, bán nô lệ và bán thú để làm thịt.
44.
Appamaññā, Vô Lượng.
Vì
có đối tượng nhiều vô số kể nên tâm sở nầy được
gọi là Vô Lượng, Appamaññā, không có giới hạn (Saṅskrt
Aprāmānya). Cũng đuợc gọi là Brahma Vihāra, Những Nếp Sống
Cao Thượng. Mettā (Từ), Karuṇā (Bi), Muditā (Hỷ), và Upekkhā
(Xả) là bốn tâm Vô Lượng ấy.
Như
đã giải thích ở phần trên Mettā (Từ) đã được bao hàm
trong Adosa (Không-Sân), và Upekkhā (Xả) trong Tatramajjhattatā
(Tâm Quân Bình). Do đó ở đây chỉ ghi nhận có hai tâm sở.
45.
Mettā, Từ
Xuất
nguyên từ căn "mid", làm êm dịu, thương yêu. Theo danh từ
Saṅskrt mitrasya bhāvah = Maitri, trạng thái của một người
bạn lành. Cái gì làm êm dịu tâm trí, hay tâm tánh dịu hiền
của người bạn lành là Mettā (tâm Từ).
Thiện
chí, từ ái, tình thương vì lòng tốt, tâm từ, được xem
là những danh từ gần nghĩa nhất với Mettā. Mettā (tâm Từ)
không phải là tình thương thiên về xác thịt, hay lòng trìu
mến. Người thù trực tiếp của Mettā (Từ) là sân hận hay
ác ý (Kodha) và người thù gián tiếp là lòng trìu mến (Pema).
Mettā bao trùm tất cả chúng sanh, không loại bỏ chúng sanh
nào. Mức cùng tột của Mettā là tự chan hòa, tự đồng nhất
với tất cả chúng sanh (Sabbattatā).
Mettā
là lòng thành thật ước mong tất cả chúng sanh được tốt
đẹp và an lành. Mettā lánh xa ác ý.
Thái
độ từ ái là đặc tính chánh của Mettā.
46.
Karuṇā, Bi.
Căn
"Kar", làm ra, chế tạo + "uṇa".
Cái
gì làm rung động trái tim của người hiền lương nhân đức
trước cảnh ưu phiền của kẻ khác là Karuṇā (Bi). Cái gì
làm tan biến nổi đau khổ của kẻ khác là Karuṇā (Bi).
Ðặc
tính chánh yếu của Karuṇā (Bi) là lòng mong muốn giải trừ
nổi khổ đau của người khác. Kẻ thù trực tiếp của Karuṇā
là Hiṁsā (tánh Hung Bạo), và kẻ thù gián tiếp là Domanassa
(Ưu Phiền). Karuṇā bao gồm những chúng sanh đau khổ. Karuṇā
loại bỏ những tư tưởng hung bạo.
47.
Muditā, Hỷ.
Xuất
nguyên từ căn "mud", hoan hỷ, bằng lòng.
Muditā
(Hỷ), không phải là thiện cảm suông, mà là trạng thái hoan
hỷ có tánh cách tán dương, vui vẻ ngợi khen. Kẻ thù trực
tiếp của tâm Hỷ là ganh tỵ, và kẻ thù gián tiếp là vui
mừng rối rít (Pahāsa). Ðặc tính chánh của Muditā là hoan
hỷ ghi nhận sự thạnh vượng của kẻ khác (Anumodanā). Tâm
Hỷ bao gồm các chúng sanh thạnh vượng, là thái độ ngợi
khen. Hỷ loại trừ sự ghét bỏ (Arati).
48.
Upekkhā, Xả
"Upa"
= một cách vô tư, công bằng + căn "ikkh", thấy, nhìn, xem.
Upekkhā,
tâm Xả, là nhìn một cách vô tư, tức không luyến ái cũng
không bất mãn. Ðó là trạng thái tâm quân bình. Kẻ thù trực
tiếp của Upekkhā là khát khao ham muốn (Rāga) và kẻ thù gián
tiếp là trạng thái thờ ơ lãnh đạm một cách hồn nhiên,
không có suy tư. Upekkhā loại bỏ luyến ái và bất mãn. Thái
độ vô tư là đặc tính chánh của Upekkhā.
Ở
đây Upekkhā (Xả) không có nghĩa là thọ cảm trung lập, vô
ký, mà quả thật rõ ràng là một phẩm hạnh. Quân bình, bình
thản, là những danh từ sát nghĩa với Upekkhā nhất. Tuy nhiên,
những danh từ nầy cũng chỉ mô tả một sắc thái của Upekkhā.
(Xem chương I, chú giải 10, 42).
Chính
tâm Xả (Upekkhā) nầy được nâng lên đến mức độ là một
yếu tố của Bojjhaṅga, Thất Giác Chi.
Upekkhā
bao gồm tất cả người tốt kẻ xấu, kẻ thương người
ghét, những vật vừa lòng hay những vật làm khó chịu, hạnh
phúc và đau khổ, và tất cả những cặp đối nghịch tương
tợ.
49.
Những
điểm ghi chú sau đây của Bà Rhys Davids để làm sáng tỏ
ý nghĩa của bốn phẩm hạnh Từ, Bi, Hỷ, Xả đáng được
đọc một cách thận trọng:
"Về
bốn bài tu tập vĩ đại nầy, xem Rhys Davids, S. B. E. xi 201,
n.; và về hiệu năng thanh thoát của nó, M. i. 38, Ðức Buddhaghosa
một lần nữa nhắc nhở người đọc nên tham khảo quyển
Visuddhi Magga (Thanh Tịnh Ðạo) của Ngài để có thêm nhiều
chú giải đầy đủ chi tiết hơn (vide chương ix, và của Hardy,
"Eastern Monachism", trang 243 và tiếp theo)...
Về
điểm nầy đối tượng của dòng tư tưởng (Ārammaṇa) sẽ
bị "giới hạn" nếu người học thiền chỉ đặt mình trong
tình thương v.v... một số chúng sanh giới hạn nào đó. Nhưng
đối tượng ấy (Ārammaṇa) sẽ "vô lượng" nếu tâm của
thiền giả bao gồm một số chúng sanh rộng lớn.
"Nhà
chú giải có không ít để nói trong áng văn hiện hữu về
bản chất và về những mối tương quan giữa những "trú xứ"
(Trang 193-195) [12]. Trước tiên các đặc tính của mỗi phẩm
hạnh đuợc trình bày đầy đủ, cùng với biểu hiện giả
dạng (Vipatti). Trìu mến (Sinehasambhavo) là biểu hiện giả
dạng (Vipatti) của tâm Từ, một hình thức làm cho người
ta tưởng rằng đây là tâm Từ. Dấu hiệu chánh yếu, hay
thực chất, của tâm Từ là bền chí theo đuổi đức tánh
từ ái v.v... Nước mắt và những gì tương tợ không đúng
là đặc tính thật sự của lòng bi mẫn (Karuṇā, tâm Bi),
như sự chia sẻ và làm suy giảm nổi đau khổ của người
khác. Vui cười hỷ hạ và những gì tương tợ không đúng
là biểu lộ thiện cảm (Muditā, tâm Hỷ) như thành thật ngợi
khen một việc mà người khác thành tựu mỹ mãn. Và có một
điều kiện của trạng thái thản nhiên (Upekkhā) do si mê thúc
giục chớ không phải do tuệ minh sát sáng suốt, thấu triệt
lý nghiệp báo của nhân loại làm êm dịu những khát vọng
đam mê.
"Kế
đó Ngài (Buddhaghosa) đề ra bốn thái độ phản xã hội phải
được diệt trừ tận gốc rễ bằng những kỷ luật đạo
đức nầy (Tứ Vô Lượng Tâm), kể theo thứ tự sau đây:
Thù hận (Vyāpāda), bạo tàn (Vihesa), bất mãn (Arati), và khát
vọng (Rāga), và chỉ rõ làm cách nào mỗi đức tánh cũng
có một tật xấu đối nghịch thứ nhì (ngoài tật xấu đối
nghịch trực tiếp). Tật xấu nầy, Ngài gọi là kẻ thù ở
gần vì nó không tấn công trực tiếp như tật xấu đối
nghịch ngay mặt. Tật xấu đối nghịch ngay mặt giống như
kẻ thù ẩn núp trong sào huyệt xa xôi giữa rừng hay trên
đồi núi. Tâm Từ và tâm thù hận không thể cùng ở chung.
Muốn giữ ưu thế về điểm nầy (tức muốn chiến thắng
tâm thù hận) ta phải mạnh dạn phát triển tâm Từ. Tuy nhiên,
nơi nào tâm Từ và đối tượng của nó quá gần nhau thì
tâm Từ lại bị tâm luyến ái đe dọa. Về phương diện nầy,
hãy thận trọng bảo vệ tâm Từ. Lại nữa, kẻ thù bên cạnh
tâm Bi, càng gian trá hơn lòng tàn bạo, là lòng bi mẫn đối
với chính mình, tự thương xót mình, tự gắn bó khắng khít
vào cái gì mình không có hay đã mất -- một nổi buồn mơ
hồ thường tình, thấp hèn. Và hạnh phúc trần tục tương
đương, hoan hỷ với cái gì mình có, hoặc với hậu quả
của sự lãng quên cái gì mình đã mất, nằm sẵn chờ đợi
để bóp nghẹt sự vui mừng ca ngợi điều may mắn của người
khác. Sau cùng, có sự lãnh đạm không sáng suốt của người
trần thế, không chiến thắng nổi những giới hạn cũng không
nắm vững nhân và quả, vì không đủ khả năng để vượt
qua khỏi sự vật bên ngoài.
"Những
điều ghi nhận còn lại của Ngài (Buddhaghosa) tập trung vào
sự phối hợp cần thiết của bốn "Trú Xứ" và tầm quan
trọng của sự áp dụng phương pháp thực hành để trau giồi
bốn đức tánh ấy và sau cùng Ngài tập trung vào một cái
tên kỹ thuật khác của Appamaññā, hay vô lượng. Về điểm
nầy Ngài lặp lại thí dụ gợi cảm của Hardy (cp. Cit., 249)
thuật lại câu chuyện bà mẹ và bốn con. Lòng ước mong cho
đứa con sơ sinh mau lớn, được xem là Mettā (tâm Từ); ước
mong cho đứa con đang bệnh sớm bình phục, được xem là Karuṇā
(tâm Bi); ước mong các tài năng thiên phú của đứa con đang
thời niên thiếu đuợc bảo tồn nguyên vẹn là Muditā (tâm
Hỷ); trong lúc ấy, sự thận trọng không làm trở ngại công
ăn việc làm của người con đứng tuổi được xem là Upekkhā
(tâm Xả).
"Nhân
cơ hội ta có thể ghi nhận rằng khi Hardy -- với tâm trạng
của người ngoại quốc kém lòng bi mẫn -- chỉ trích thầy
tỳ khưu khất thực (trang 250), cho rằng người