Namo
Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa
Chương
I
(CITTA
- SAṄGAHA - VIBHĀGO)
NHỮNG
LOẠI TÂM VƯƠNG KHÁC NHAU
Chương
I
(CITTA
- SAṄGAHA - VIBHĀGO)
NHỮNG
LOẠI TÂM VƯƠNG KHÁC NHAU
(tiếp
theo)
-ooOoo-
SOBHANA
CITTĀNI
Tâm
"Ðẹp" thuộc Dục giới -- 24
6.
Pāpāhetukamuttāni
-- Sobhanāni'ti vuccare
Ek'ūnasaṭṭhicittāni
-- ath 'ekanavutī'pi vā
Aṭṭhā
Kāmāvaccara Kusala Cittāni
1.
Somanassa-sahagataṁ ñāṇasampayuttaṁ asaṅkhārikam ekaṁ,
2.
Somanassa-sahagataṁ ñāṇasampayuttaṁ sasaṅkhārikam ekaṁ,
3.
Somanassa-sahagataṁ ñāṇavippayuttaṁ asaṅkhārikam ekaṁ,
4.
Somanassa-sahagataṁ ñāṇavippayuttaṁ sasaṅkhārikam ekaṁ,
5.
Upekkā-sahagataṁ ñāṇasampayuttaṁ asaṅkhārikam ekaṁ,
6.
Upekkhā-sahagataṁ ñāṇasampayuttaṁ sasaṅkhārikam ekaṁ,
7.
Upekkhā-sahagataṁ ñāṇavippayuttaṁ asaṅkhārikam ekaṁ,
8.
Upekkhā-sahagataṁ ñāṇavippayuttaṁ sasaṅkhārikam' ekan'ti
Imāni
aṭṭha'pi sahetuka kāmāvacarakusalacittāni nāma.
Aṭṭha
Kāmāvacara Vipāka Cittāni
9.
Somanassa-sahagataṁ ñāṇasampayuttaṁ asaṅkhārikam ekaṁ,
10.
Somanassa-sahagataṁ ñāṇasampayuttaṁ sasaṅkhārikam ekaṁ,
11.
Somanassa-sahagataṁ ñāṇavippayuttaṁ asaṅkhārikam ekaṁ,
12.
Somanassa-sahagataṁ ñāṇavippayuttaṁ sasaṅkhārikam ekaṁ,
13.
Upekkhā-sahagataṁ ñāṇasampayuttaṁ asaṅkhārikam ekaṁ,
14.
Upekkhā-sahagataṁ ñāṇasampayuttaṁ sasaṅkhārikam ekaṁ.
15.
Upekkhā-sahagataṁ ñāṇavippayuttaṁ asaṅkhārikam ekaṁ,
16.
Upekkhā-sahagataṁ ñāṇavippayuttaṁ sasaṅkhārikam ekan'ti.
Imāni
aṭṭha'pi sahetuka kāmāvacaravipākacittāni nāma.
Aṭṭha
Kāmāvacara Kriyā Cittāni
17.
Somanassa-sahagataṁ ñāṇasampayuttaṁ asaṅkhārikam ekaṁ,
18.
Somanassa-sahagataṁ ñāṇasampayuttaṁ sasaṅkhārikam ekaṁ,
19.
Somanassa-sahagataṁ ñāṇavippayuttaṁ asaṅkhārikam ekaṁ,
20.
Somanassa-sahagataṁ ñāṇavippayuttaṁ sasaṅkhārikam ekaṁ,
21.
Upekkhā-sahagataṁ ñāṇasampayuttaṁ asaṅkhārikam ekaṁ,
22.
Upekkhā-sahagataṁ ñāṇasampayuttaṁ sasaṅkhārikam ekaṁ,
23.
Upekkhā-sahagataṁ ñāṇavippayuttaṁ asaṅkhārikām ekaṁ,
24.
Upekkhā-sahagataṁ ñāṇavippayuttaṁ sasaṅkhārikam ekan'ti,
Imāni
aṭṭha'pi sahetukakāmāvacarakriyācittāni nāma.
Icce'
vaṁ sabbathā'pi sahetuka-kāmāvacara-kusala- vipāka-kriyā cittāni
samattāni.
Vedanā-ñāṇa-saṅkhāra
-- bhedena catuvīsati
Sahetū-kāmāvacara
-- puññapākakriyā matā.
Kāme
tevīsapākāni -- puñña' puññāni vīsati
Ekādasa
kriyā c'āti -- catupaññāsa sabbathā.
§6
Ngoại
trừ những loại tâm Bất Thiện và Vô Nhân, các loại còn
lại được gọi là "Ðẹp" (Tịnh Quang Tâm, hay Tịnh Hảo
Tâm). Số tâm nầy có năm mươi chín, hoặc chín mươi mốt.
Tám
Loại Tâm Thiện:
1.
Một tâm, không bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ,
liên hợp với tri kiến,
2.
Một tâm, bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ, liên
hợp với tri kiến,
3.
Một tâm, không bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ,
không liên hợp với tri kiến,
4.
Một tâm, bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ, không
liên hợp với tri kiến,
5.
Một tâm, không bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ xả
[1], liên hợp với tri kiến,
6.
Một tâm, bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ xả, liên
hợp với tri kiến,
7.
Một tâm, không bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ xả,
không liên hợp với tri kiến,
8.
Một tâm, bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ xả, không
liên hợp với tri kiến
Ðó
là tám loại tâm Thiện, Hữu Nhân, thuộc Dục Giới.
Tám
Loại Tâm Quả:
9.
Một tâm, không bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ,
liên hợp với tri kiến,
10.
Một tâm, bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ, liên
hợp với tri kiến,
11.
Một tâm, không bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ,
không liên hợp với tri kiến,
12.
Một tâm, bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ, không
liên hợp với tri kiến,
13.
Một tâm, không bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ xả,
liên hợp với tri kiến,
14.
Một tâm, bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ xả, liên
hợp với tri kiến,
15.
Một tâm, không bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ xả,
không liên hợp với tri kiến,
16.
Một tâm, bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ xả, không
liên hợp với tri kiến.
Ðó
là tám loại tâm Quả, Hữu Nhân, thuộc Dục Giới.
Tám
Loại Tâm Hành:
17.
Một tâm, không bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ,
liên hợp với tri kiến,
18.
Một tâm, bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ, liên
hợp với tri kiến,
19.
Một tâm, không bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ,
không liên hợp với tri kiến,
20.
Một tâm, bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ, liên
hợp với tri kiến,
21.
Một tâm, không bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ xả,
không liên hợp với tri kiến,
22.
Một tâm, bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ xả, liên
hợp với tri kiến,
23.
Một tâm, không bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ xả,
không liên hợp với tri kiến,
24.
Một tâm, bị xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ xả, không
liên hợp với tri kiến.
Ðó
là tám loại tâm Hành, Hữu Nhân, thuộc Dục Giới.
Như
vậy chấm dứt tất cả, những loại tâm Thiện, tâm Quả,
tâm Hành, Hữu Nhân thuộc Dục Giới.
Tóm
lược:
Những
loại tâm Thiện, Quả, Hành, Hữu Nhân thuộc Dục Giới, khác
biệt nhau do thọ cảm, tri kiến và sự xúi giục, phải được
hiểu rằng có hai mươi bốn.
Trong
Dục Giới có hai mươi ba loại tâm Quả, hai mươi tâm Thiện
và Bất Thiện, và mười một tâm Hành, năm mươi bốn tất
cả.
Chú
Giải
28.
Sobhana
Gọi
là "Ðẹp", cũng được dịch là Tịnh Hảo, hay Tịnh Quang,
vì tâm nầy liên kết với những căn thiện như bố thí, tâm
từ, tri kiến và tạo nên những đức tánh tốt. (Bản Chú
Giải)
29.
Pāpa
Là
cái gì dẫn đến trạng thái khốn khổ. Nên hiểu đây là
cái gì xấu, ác, hay bất thiện, hơn là xem như "tội lỗi".
30.
Hetuka
Tất
cả những tâm được mô tả kể từ đoạn nầy đều được
gọi là Sahetuka, Hữu Nhân, nghĩa là bắt nguồn từ một, hai,
hoặc ba Nhân, đối chiếu với các tâm Vô Nhân của phần
trước, không liên kết với Nhân nào.
Trong
hai mươi bốn (24) tâm Ðẹp thuộc Dục Giới, Kāmāvacara Sobhana
Cittas, mười hai loại liên kết với hai căn thiện -- bố thí
(alobha, không-tham) và tâm từ (adosa, không-sân) -- mười hai
loại liên kết với ba căn: bố thí, tâm từ, và tri kiến
(amoha, không si).
31.
Năm mươi chín hay chín mươi mốt
Kāmāvacara
(thuộc Dục Giới) 24
Rūpavacara
(thuộc Sắc Giới) 15
Arūpāvacara
(thuộc Vô Sắc Giới) 12
Lokuttara
(Siêu Thế) 8
---------------------------------------------
Cộng
chung là: 59
Khi
tâm Siêu Thế (Lokuttara Citta) được phát triển xuyên qua một
trong năm tầng Thiền Thiện Sắc Giới (Kusala Rūpa Jhāna) như
sẽ đuợc giải thích ở cuối chương, thì có tất cả bốn
mươi (8 x 5 = 40) loại tâm Siêu Thế.
Trong
trường hợp nầy thì: 24+15+12+40 = 91
32.
Ñāṇa, Tri Kiến
Là
cái gì hiểu biết thực tại (Bản Chú Giải). Ở đây danh
từ ñāṇa đồng nghĩa với trí minh mẫn sáng suốt, hợp
lý, hay tri kiến. Ðối nghịch lại là moha (si mê, ảo kiến
hay cuồng si).
33.
Asaṅkhārika, không có sự xúi giục.
Theo
bản chú giải, ta làm một hành động tốt một cách hồn
nhiên, không suy nghĩ hay bàn tính trước, không có sự xúi
giục, xui khiến, sai bảo, từ bên trong hay bên ngoài, mà do
sự thích ứng vật chất và tinh thần, do vật thực, khí hậu
v.v... hậu quả của những hành động tương tợ đã có trong
quá khứ (một thói quen đã có, một phản ứng tự nhiên)
[2].
34.
Tất cả những hành động thiện đều do một trong tám loại
tâm đầu tiên.
Hậu
quả tương ứng của nó là tám tâm Quả. Tám tâm Quả Vô
Nhân (Ahetuka Vipāka Cittas) cũng là hậu quả phải có của những
tâm Thiện (Kusala Cittas) nầy. Vậy, có mười sáu tâm Quả
(Vipāka Cittas) tương ứng với tám tâm Thiện (Kusala Cittas).
Trong lúc ấy chỉ có bảy tâm Quả Vô Nhân (Ahetuka Vipāka Cittas)
tương ứng với mười hai tâm Bất Thiện (Akusala Cittas).
Chư
Phật và chư vị A La Hán cũng có tất cả hai mươi ba loại
tâm Quả (Vipāka Cittas) nầy bởi vì các Ngài còn phải gặt
quả xấu hay tốt của nghiệp đã gieo trong quá khứ, cho đến
ngày các Ngài nhập diệt.
Tuy
nhiên, các Ngài không có tám loại tâm Thiện đầu tiên bởi
vì không còn tích trử nghiệp mới, có năng lực tái tạo
nữa. Các Ngài đã tận diệt mọi thằng thúc trói buộc chúng
sanh vào vòng sanh tử luân hồi.
Trong
khi không còn hành động thiện thì, thay vì có tâm Thiện (Kusala
Cittas), các Ngài có tám tâm Hành (Kriyā Cittas, cũng gọi là
tâm Duy Tác) là những loại tâm không có năng lực tái tạo.
Những
người thường và những bậc Thánh ở ba tầng đầu -- Tu
Ðà Huờn, Tư Ðà Hàm, A Na Hàm -- không có loại tâm nầy.
35.
Thí Dụ Cho Tám Loại Tâm Thiện Ðầu Tiên
1)
Một cách hiểu biết và hồn nhiên, không có sự xúi giục,
ta cho người ăn xin một vật gì, lòng cảm nghe vui vẻ.
2)
Một cách hiểu biết, ta cho người ăn xin một vật gì sau
khi đắn đo suy nghĩ, hay có ai xui khiến, lòng cảm nghe vui
vẻ.
3)
Một em bé không biết gì, vui vẻ đảnh lễ thầy tỳ khưu
một cách hồn nhiên. Người nọ vui vẻ tụng kinh một cách
tự động, không biết gì đến ý nghĩa của lời kinh.
4)
Em bé không hiểu biết gì, vui vẻ đảnh lễ thầy tỳ khưu,
theo lời dạy của mẹ. Người nọ vui vẻ tụng kinh, theo lời
dạy của một người khác, và không hiểu biết ý nghĩa của
lời kinh.
Bốn
loại tâm còn lại nên được hiểu biết cùng thế ấy, thọ
Xả thay vào chỗ thọ Hỷ.
Ghi
chú:
[1]
Xem chú giải số 10. Nơi đây, upekkhā cũng có thể là trạng
thái tâm quân bình.
[2]
Xem chú giải số 12.
-ooOoo-
RŪPĀVACARA
CITTĀNI -- 15
Tâm
thuộc sắc giới -- 15
7.
Rūpāvacara
Kusala Cittāni -- 5
1.
Vitakka - Vicāra - Pīti - Sukh'Ekaggatā - sahitaṁ Paṭhamajjhāna-Kusalacittaṁ,
2.
Vicāra - Pīti - Sukh'Ekaggatā - sahitaṁ Dutiya- jjhāna-Kusalacittaṁ,
3.
Pīti-Sukh'Ekaggatā - sahitaṁ Tatiyajjhāna-Kusala- cittaṁ,
4.
Sukh'Ekaggatā - sahitaṁ Catutthajjhāna-Kusala- cittaṁ,
5.
Upekkh'Ekaggatā - sahitaṁ Pañcamajjhāna-Kusalacittañ c'āti.
Imāni
pañca'pi Rūpāvacara-Kusalacittāni nāma.
Rūpāvacara
Vipāka Cittāni -- 5
1.
Vitakka - Vicāra - Pīti - Sukh'Ekaggatā - sahitaṁ Paṭhamajjhāna-Vipākacittaṁ,
2.
Vicāra - Pīti - Sukh'Ekaggatā - sahitaṁ Dutiya- jjhāna-Vipākacittaṁ,
3.
Pīti - Sukh'Ekaggatā - sahitaṁ Tatiyajjhāna-Vipākacittaṁ,
4.
Sukh'Ekaggatā - sahitaṁ Catutthajjhāna-Vipāka- cittaṁ,
5.
Upekkh'Ekaggatā - sahitaṁ Pañcamajjhāna-Vipāka- cittañ c'āti.
Imāni
pañca'pi Rūpāvacara-Vipākacittāni nāma.
Rūpāvacara
Kriyā Cittāni -- 5
1.
Vitakka - Vicāra - Pīti - Sukh'Ekaggatā-sahitaṁ Paṭhamajjhāna-Kriyācittaṁ,
2.
Vicāra - Pīti - Sukh'Ekaggatā - sahitaṁ Dutiya- jjhāna-Kriyācittaṁ,
3.
Pīti - Sukh'Ekaggatā - sahitaṁ Tatiyajjhāna-Kriyācittaṁ,
4.
Sukh'Ekaggata - sahitaṁ Catujjhāna-Kriyācittaṁ,
5.
Upekkh'Ekaggatā - sahitaṁ Pañcamajjhāna-Kriyā- cittañ c'āti.
Imāni
pañca'pi Rūpāvacara-Kriyācittāni nāma.
Icc'evaṁ
sabbathā'pi paṇṇarasa Rūpāvacara-Kusala-Vipāka-Kriyācittāni samattāni.
Pañcadhā
jhānabhedena -- rūpāvacaramānasaṁ
Puññapākakriyābhedā
-- taṁ pañcadasadhā bhave.
§7
Tâm
Thiện Thuộc Sắc Giới -- 5
1.
Tâm Thiện Sơ Thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất
Ðiểm,
2.
Tâm Thiện Nhị Thiền, cùng với Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Ðiểm,
3.
Tâm Thiện Tam Thiền, cùng với Phỉ, Lạc, và Nhất Ðiểm,
4.
Tâm Thiện Tứ Thiền, cùng với Lạc và Nhất Ðiểm,
5.
Tâm Thiện Ngũ Thiền cùng với Xả và Nhất Ðiểm.
Ðó
là năm loại tâm Thiện thuộc Sắc Giới.
Tâm
Quả Thuộc Sắc Giới -- 5
1.
Tâm Quả Sơ Thiền, cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất
Ðiểm,
2.
Tâm Quả Nhị Thiền, cùng với Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Ðiểm,
3.
Tâm Quả Tam Thiền, cùng với Phỉ, Lạc và Nhất Ðiểm,
4.
Tâm Quả Tứ Thiền, cùng với Lạc và Nhất Ðiểm,
5.
Tâm Quả Ngũ Thiền, cùng với Xả và Nhất Ðiểm.
Ðó
là năm loại tâm Quả thuộc Sắc Giới.
Tâm
Hành Thuộc Sắc Giới -- 5
1.
Tâm Hành Sơ Thiền, cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất
Ðiểm,
2.
Tâm Hành Nhị Thiền, cùng với Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Ðiểm,
3.
Tâm Hành Tam Thiền, cùng với Phỉ, Lạc, và Nhất Ðiểm,
4.
Tâm Hành Tứ Thiền, cùng với Lạc và Nhất Ðiểm,
5.
Tâm Hành Ngũ Thiền, cùng với Xả và Nhất Ðiểm.
Ðó
là năm loại tâm Hành thuộc Sắc Giới.
Chú
Giải:
36.
Rūpāvacara, Thuộc Về Sắc Giới
Có
ba cảnh giới sinh tồn là: Dục Giới (Kāmaloka), Sắc Giới
(Rūpaloka), và Vô Sắc Giới (Arūpaloka). Bốn cảnh khổ (Apāya),
cảnh người (Manussa), và sáu cảnh Trời (Devaloka) thuộc Dục
Giới (Kāmaloka). Gọi như thế vì trong cảnh giới nầy tâm
tham dục chiếm phần quan trọng. Bốn cảnh giới được gọi
là Duggati -- khổ cảnh, hay trạng thái khốn cùng. Những chúng
sanh có hành động bất thiện tái sanh vào trạng thái nầy.
Cảnh người và cảnh Trời được gọi là Sugati -- cảnh giới
hữu phúc. Những chúng sanh có hành động thiện được sanh
vào cảnh giới hữu phước có nhiều dục lạc nầy.
Hạng
người tiến bộ hơn, không còn tìm thích thú trong dục lạc
tầm thường mà thích thú trong sự phát triển tâm linh cao
thượng hơn, tức nhiên phải được sanh vào những cảnh giới
thích đáng, phù hợp với nguyện vọng thanh nhã và cao thượng
của họ. Dầu ở trong cảnh người cũng vậy, có người rút
vào ẩn dật giữa rừng sâu xa xôi hẻo lánh để gia công
hành thiền.
Công
trình hành thiền (bhāvanā) có hai loại: Samatha hay lắng gom
tâm vắng lặng, hay thiền chỉ, và Vipassanā, thiền quán hay
minh sát. Samatha có nghĩa là tĩnh lặng, hay yên tịnh, và phương
cách để thành đạt trạng thái nầy là trau giồi các tầng
Thiền (Jhāna). Vipassanā là thấy đúng thực tướng của sự
vật. Sự vật như thế nào, thấy đúng như vậy. Do Thiền
(Jhāna) hành giả có thể phát triển những năng lực thần
thông (Abhiññā). Vipassanā (Minh Sát) dẫn đến Giác Ngộ.
Những
bậc diệu trí đã chứng đắc các tầng Thiền (Jhāna), sau
khi chết sẽ tái sanh vào cảnh Sắc Giới (Rūpaloka) và Vô
Sắc Giới (Arūpaloka).
Trong
cảnh giới Vô Sắc, không còn cơ thể vật chất (sắc) nữa,
mà chỉ có tâm. Thông thường, tâm và cơ thể vật chất,
danh và sắc, tùy thuộc tương quan mật thiết với nhau và
không thể tách rời ra. Tuy nhiên, do năng lực của ý chí,
có thể tạm thời làm cho tâm tách rời ra khỏi thân, hay ngược
lại. Chúng sanh trong những cảnh Trời Sắc Giới được biết
có hình thể vật chất rất tế nhị (tế sắc).
Sách
Compendium of Philosophy viết: "Gọi là Sắc Giới (Rūpaloka) bởi
vì nghe rằng ở cảnh giới nầy vẫn còn một phần vật chất
rất tế nhị. Gọi là Vô Sắc Giới (Arūpaloka) vì ở đây
không thể tìm ra dấu vết của vật chất."
Cái
gì thường có mặt trong Sắc Giới (Rūpaloka) được gọi là
Rūpāvacara. Có mười lăm loại tâm thuộc Sắc Giới. Năm loại
Thiện (Kusala), mà ta có thể trau giồi và phát triển ngay trong
kiếp sống nầy. Năm loại là Quả (Vipāka) tương ứng với
năm tâm Thiện trên mà hành giả sẽ thọ hưởng sau khi chết.
Năm loại là Hành (Kriyā), hay duy tác, chỉ chư Phật và chư
vị A La Hán chứng nghiệm trong kiếp sống nầy, hoặc các
vị A La Hán trong cảnh Sắc Giới.
37.
Jhāna (Saṁskrt: Dhyāna), Thiền.
Danh
từ Pāli nầy xuất nguyên từ căn "jhe", là suy gẫm. Ngài Buddhaghosa
giải thích Jhāna như sau:
"Ārammaṇ'upanijjhānato
paccanīkajhāpanato vā jhānaaṁ", gọi là Jhāna (Thiền) vì nó
suy gẫm bám sát vào đối tượng, hay bởi vì nó thiêu đốt
những chướng ngại (Nīvaraṇas). Jhāna là chăm chú mạnh mẽ
gom tâm vào một đối tượng.
Trong
bốn mươi đề mục để gom tâm được kể ra ở chương 9
của quyển sách nầy, hành giả chọn đề mục nào thích hợp
với tâm tánh mình nhất. Ðề mục nầy được gọi là Parikamma
Nimitta, đề mục sơ khởi, hay chuẩn bị.
Hành
giả chuyên chú gom tâm vào đề mục nầy cho đến khi tâm
mình hoàn toàn an trụ vào đó, tất cả mọi vọng tưởng
ngoại lai đương nhiên đều bị loại bỏ ra ngoài. Hành giả
sẽ tiến đến giai đoạn mà dầu mắt nhắm cũng có thể
hình dung đối tượng sơ khởi. Không để gián đoạn, hành
giả liên tục gom tâm trên hình ảnh hình dung (Uggaha nimitta)
ấy cho đến khi phát triển hình ảnh khái niệm (Paṭibhāga
nimitta).
Hãy
lấy đề mục Paṭhavi Kasiṇa, hình tròn bằng đất, làm thí
dụ:
Một
mặt tròn độ ba tấc bề kính, cạo gọt trơn bén, tô mặt
láng và đều đặn, làm bằng đất sét màu da trời lúc bình
minh. Nếu không có đất sét màu nầy có thể dùng một loại
đất sét khác.
Mặt
tròn bằng đất sét nầy được gọi là Parikamma Nimitta, đề
mục sơ khởi. Ðặt cái kasiṇa ấy cách chỗ mình ngồi độ
một thước, hành giả chăm chú gom tâm vào đó và niệm thầm
paṭhavi, paṭhavi ... (đất, đất...). Mục đích là gom tâm
vào một điểm.
Khi
hành như thế một ít lâu -- có thể hằng tuần, hằng tháng,
hoặc hằng năm -- hành giả đạt đến mức độ dầu nhắm
mắt lại cũng hình dung được cái vòng tròn kasiṇa. Ðề
mục hình dung ấy gọi là Uggaha Nimitta. Ðó là hình ảnh của
đối tượng sơ khởi phát hiện trong tâm. Hành giả tiếp
tục gom tâm vào đề mục được hình dung (Uggaha Nimitta) nầy,
vốn là hình ảnh của cái kasiṇa mà hành giả hình dung trong
tâm, cho đến khi phát triển một hình ảnh khái niệm gọi
là Paṭibhāga Nimitta.
Sự
khác biệt giữa Uggaha và Paṭibhāga Nimitta là trong hình ảnh
hình dung, Uggaha Nimitta, hành giả còn thấy rõ ràng những khuyết
điểm của đề mục như lồi lõm v.v... còn trong hình ảnh
khái niệm, Paṭibhāga Nimitta, thì không còn thấy nữa mà đề
mục chỉ xuất hiện như một "vỏ ốc xa cừ trau giồi bóng
láng". Hành giả không còn thấy hình dáng và màu sắc nữa.
Paṭibhāga "chỉ còn là một hình thức phát hiện, và khởi
sanh do tri giác".
Trong
lúc liên tục chuyên chú gom tâm vào khái niệm trừu tượng
như vậy, hành giả đạt đến mức độ gọi là "cận định"
(Upacāra Samādhi) và năm chướng ngại tinh thần (Nīvaraṇa)
cố hữu, luôn luôn cản trở tiến bộ tinh thần như tham dục
(Kāmachanda), oán ghét (Paṭigha), hôn trầm - thụy miên (Thīna-Middha),
phóng dật-lo âu (Uddhacca-Kukkucca), và hoài nghi (Vicikicchā) tạm
thời được khắc phục. Vào một lúc nào, hành giả có thể
bất thần nhập định (Appanā Samādhi) và đắc Thiền (Jhāna),
thọ hưởng trạng thái an tĩnh và vắng lặng của tâm an trụ.
Khi sắp thành đạt trạng thái nhập định (Appanā Samādhi)
tiến trình tư tưởng của hành giả trôi chảy như sau:
Bhavaṅga,
Manodvārāvajjana, Parikamma, Upacāra, Anuloma, Gotrabhū, Appanā.[1]
Khi
luồng tâm dừng lại, Ý Môn Hướng Tâm phát sanh và lấy hình
ảnh khái niệm (Paṭibhāga) làm đề mục. Liền sau đó, như
trường hợp có thể xảy diễn, tiến trình Javana bắt đầu
với Parikamma, hoặc Upacāra. Parikamma là chặp tư tưởng chuẩn
bị, hay sơ khởi. Upacāra có nghĩa gần kề, cận định, bởi
vì nó đến cận bên trạng thái nhập định (Appanā Samādhi).
Chính đến chặp tư tưởng Anuloma (thuận thứ) tâm hội đủ
điều kiện để cuối cùng nhập định, Appanā (toàn định).
Gọi là Thuận Thứ (Anuloma) bởi vì chặp tư tưởng hay sát-na
tâm nầy khởi sanh tương hợp thuận chiều với tâm định,
Appanā. Sau đó đến chặp Gotrabhū (Chuyển Tánh), chặp tư
tưởng vượt thoát ra khỏi Dục Giới. Gotrabhū có nghĩa là
cái gì chế ngự, "bhū", huyết thống phàm tục, "Gotra". Tất
cả những chặp tư tưởng của tiến trình Javana, từ đầu
đến chặp Gotrabhū (Chuyển Tánh) đều thuộc Dục Giới. Tức
khắc sau giai đoạn chuyển tiếp Gotrabhū, trong một chặp duy
nhất, liền phát sanh chặp Appanā, dẫn ngay vào Thiền (Jhāna).
Tâm nầy thuộc Sắc Giới và được gọi là Sơ Thiền Sắc
Giới. Trường hợp của một vị A La Hán, đó là Tâm Hành
(Kriyā Citta), hay Duy Tác, ngoài ra nó là tâm Thiện (Kusala).
Tâm nầy tồn tại trong một chặp tư tưởng rồi trôi trở
lại vào trạng thái Bhavaṅga.
Hành
giả tiếp tục chuyên chú gom tâm và phát triển trạng thái
Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền, và Ngũ Thiền cùng một
phương thức như đã mô tả ở phần trên.
Năm
tầng Thiền Quả (Jhāna Vipāka) là hậu quả tương ứng của
năm tầng Thiền Thiện. Hành giả chỉ có thể chứng nghiệm
Thiền Quả nầy sau khi chết và tái sanh vào Sắc Giới. Thiền
Thiện (Kusala Jhāna) và Thiền Hành (Kriyā Jhāna) thì có thể
được chứng nghiệm trong Dục Giới, có khi liên tục trọn
cả ngày. Năm chi Thiền: Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Ðiểm
đồng phát sanh trong tâm toàn định (Appanā) bao gồm cái được
gọi là Thiền (Jhāna).
Trong
tầng Nhị Thiền, chi thiền đầu tiên (Tầm) được loại.
Ðến tầng Tam Thiền, hai chi đầu được loại. Ở tầng Tứ
Thiền, ba chi đầu được loại. Và cuối cùng, đến tầng
Ngũ Thiền, chí đến chi thiền "Lạc" cũng bị loại và "Xả"
thay vào.
Ðôi
khi, như trong Visudhi Magga, Thanh Tịnh Ðạo, chỉ ghi nhận có
bốn tầng Thiền, từ Sơ Thiền đến Tứ Thiền. Ở trường
hợp nầy thì Nhị Thiền chỉ gồm ba chi, Phỉ, Lạc và Nhất
Ðiểm. Cả hai chi thiền đầu tiên, Tầm và Sát, đều bị
loại bỏ.
38.
Vitakka, Tầm.
Xuất
nguyên từ "vi" + căn "takk", suy nghĩ. Danh từ nầy thường được
dùng trong nghĩa suy tư hay suy gẫm. Ở đây Vitakka là một danh
từ kỹ thuật, có nghĩa đặc biệt. Ðó là cái gì hướng
những trạng thái cùng phát sanh đồng thời về đối tượng
(Ārammaṇaṁ vitakketi sampayutta-dhamme abhiniropeti' ti vitakko).
Như người cận thần được vua yêu chuộng hướng dẫn một
nông dân quê mùa đi vào cung điện, cùng thế ấy Vitakka, Tầm,
hướng dẫn tâm đến đề mục. Vitakka (Tầm) là một tâm
sở không có tánh cách đạo đức, tức không thiện cũng không
bất thiện. Liên hợp với tâm thiện (Kusala Citta) là thiện.
Khi liên hợp với tâm bất thiện (Akusala Citta) là bất thiện.
Chi Thiền "Tầm" là một hình thức phát triển khá cao của
tâm sở Tầm, Vitakka. Và một hình thức phát triển cao độ
hơn nữa của Vitakka phát sanh trong Ðạo Tâm (Magga Citta). được
gọi là Sammā Saṅkappa, Chánh Tư Duy. Vitakka (Tầm) của Ðạo
Tâm đưa các tâm sở hướng đến Niết Bàn và tiêu diệt
Micchā Vitakka như tham dục (Kāma), thù hận (Vyāpāda), và hung
bạo Vihiṁsā). (Trong chữ Micchā Vitakka, "Micchā" có nghĩa sai
lạc, bất thiện, vậy Micchā Vitakka là các tâm sở bất thiện,
lầm lạc, như tà tư duy). Chi thiền "Tầm" tạm thời khắc
phục trạng thái hôn trầm thụy miên (Thīna-Middha), một trong
năm pháp triền cái, hay năm chướng ngại tinh thần (Nīvaraṇa).
Do
nhờ chuyên chú thực hành liên tục, hành giả đạt đến
tầng Nhị Thiền bằng cách loại trừ chi thiền "Tầm". Trong
trường hợp chỉ tính có bốn tầng Thiền như trong Thanh Tịnh
Ðạo, thay vì năm, thì khi đắc Nhị Thiền hành giả loại
trừ cả hai chi thiền, Tầm và Sát (Vitakka và Vicāra) cùng
một lúc.
39.
Vicāra, Sát
Xuất
nguyên từ "vi" + căn "car" có nghĩa di chuyển hay lang thang bất
định. Danh từ nầy thường được gọi là "Sát", hay "Tứ",
tức quan sát, dò xét. Ở đây Vicāra có nghĩa là liên tục
đặt tâm trên đối tượng. Chi thiền "Sát" tạm thời khắc
phục triền cái hoài nghi (Vicikicchā).
Theo
Bản Chú Giải, Vicāra là cái gì di động quanh đối tượng.
Dò
xét, quan sát đối tượng là đặc tánh của tâm sở nầy.
Vitakka (Tầm) cũng tựa như con ong bay hướng về một cái hoa.
Vicāra (Sát) như ong vo vo bay quanh quẩn cạnh trên hoa. Khi Tầm
và Sát là hai chi thiền, thì hai chi thiền nầy liên hệ tương
quan mật thiết với nhau.
40.
Pīti, Phỉ.
Tâm
hứng thú, hân hoan, thích thú. Danh từ Pīti xuất nguyên từ
căn "pi", hoan hỷ, thích thú. Danh từ Pīti thường được dịch
là Phỉ, hay Hỷ. Nhưng Pīti không phải là một loại cảm
thọ (Vedanā) như Sukha, Lạc. Ðúng ra Pīti, Hỷ là tâm sở
đến trước, và trong khi xuất hiện, báo hiệu rằng sắp
có Sukha, thọ Lạc, phát sanh. Như hai chi thiền đầu tiên Pīti,
chi thiền Hỷ cũng là tâm sở đồng phát sanh cùng với cả
hai tâm thiện và bất thiện. Ðặc điểm của tâm sở nầy
là tạo thích thú cho đối tượng. Pīti tạm thời khắc phục
triền cái oán ghét (Vyāpāda), sân hận, hay bất toại nguyện.
Có
năm loại Pīti (Hỷ) là:
1.
Khuddaka Pīti, cái vui làm rùng mình, rởn óc, hay "nổi da gà".
2.
Khaṇika Pīti, cái vui thoáng qua mau lẹ như trời chớp.
3.
Okkantika Pīti, cái vui tràn ngập như sóng biển trườn lên
bãi.
4.
Ubbega Pīti, cái vui thanh thoát đem lại cho hành giả cảm giác
nhẹ nhàng như bông gòn lững lơ bay theo chiều gió.
5.
Pharaṇa Pīti, cái vui thấm nhuần toàn thể châu thân như bong
bóng được thổi phồng hay trận lục tràn lan làm ngập cả
ao vũng.
41.
Sukha, Lạc
Là
an lạc hay hạnh phúc yên tĩnh. Sukha là một loại cảm thọ
thích thú. Nghịch nghĩa của Sukha là Uddhacca và Kukkucca, phóng
dật và lo âu. Cũng như Vitakka (Tầm) đến trước, báo hiệu
có Vicāra (Sát) sắp khởi sanh, cùng thế ấy, Pīti (Phỉ) đến
truớc và báo hiệu sắp có Sukha (Lạc).
Ðặc
tánh của Sukha là thỏa thích hưởng thọ một cái gì mình
mong muốn, như ông vua đang hoan hỷ thưởng thức một cao lương
mỹ vị. Pīti (Phỉ) tạo cho hành giả trạng thái cảm nghe
hứng thú trong đề mục, còn Sukha (Lạc) thì giúp hành giả
thỏa thích hưởng thọ đề mục.
Khách
lữ hành mệt mỏi đi trong sa mạc thấy xa xa có cụm cây và
ao nước. Trạng thái vui mừng trước khi thật sự thọ hưởng
là Pīti, Phỉ. Khi đến tận ao nước, trạng thái thỏa thích
tắm rửa và uống nước là Sukha, Lạc.
Nên
phân biệt trạng thái thích thú tinh thần nầy với Ahetuka
Kāyika, thích thú về vật chất. Tâm sở Sukha nầy đồng nghĩa
với Somanassa. Ðây là trạng thái thích thú không liên quan
đến lạc thú vật chất. Trái lại, thọ Hỷ nầy chính là
hậu quả dĩ nhiên của sự từ bỏ thú vui vật chất (Nirāmisa
Sukha). Hạnh phúc Niết Bàn lại càng tế nhị và cao thượng
hơn hạnh phúc của Thiền (Jhāna) nhiều. Hạnh phúc Niết Bàn
không còn là một cảm giác (thọ), mà là sự giải thoát trọn
vẹn ra khỏi mọi đau khổ (Dukkhūpasama). Hạnh phúc Niết Bàn
có thể ví như trạng thái thoải mái dễ chịu của người
tàn phế khi được phục hồi trở lại, mạnh khoẻ như thường.
Ðó là trạng thái thoát ra khỏi một cảnh khổ, hạnh phúc
giải thoát.
42.
Upekkhā, Xả.
Ðúng
theo ngữ nguyên, Upekkhā là thấy (ikkhati) một cách vô tư (upa
= yuttito) . Ðó là nhìn đối tượng với tâm quân bình. Sách
Atthasālinī ghi: "Ðây là trạng thái vô tư (majjattaṁ) liên
quan đến đối tượng và bao hàm một sự hiểu biết phân
giải (paricchindanakaṁ ñāṇaṁ)."
Ðây
là lối giải thích chỉ riêng biệt áp dụng cho danh từ Upekkhā
trong các loại tâm "Ðẹp", hay Tịnh Quang Tâm, đồng phát sanh
cùng tri kiến. Trong các loại tâm Bất Thiện (Akusala) và Vô
Nhân (Ahetuka), Upekkhā chỉ là cảm giác vô ký suông, không-vui-không-buồn,
không có dấu vết gì của một sự hiểu biết phân giải.
Trong các loại tâm "Ðẹp" thuộc Dục Giới (Kāmāvacara Sobhana)
cũng có thể có cảm giác vô ký suông, như trường hợp người
nghe Pháp mà không thích thú. Ngoài ra còn có một hình thức
Upekkhā tế nhị, nhìn đối tượng với tâm rõ ràng vô tư
và có sự hiểu biết phân giải, như trường hợp một người
sáng suốt nghe Giáo Pháp với tâm phán đoán và vô tư.
Riêng
Upekkhā của tâm Thiền (Jhāna) có một tầm quan trọng về
mặt đạo đức và tâm lý. Chắc chắn đây không phải là
loại Upekkhā, thọ vô ký thông thường, phát hiện một cách
tự động trong các tâm Bất Thiện (Akusala). Chi thiền Xả
(Jhāna Upekkhā) được phát triển do một ý chí mạnh mẽ.
Nhận định rằng chi thiền "Lạc" vẫn còn thô kịch, hành
giả loại trừ luôn chi thiền ấy, như đã loại ba chi trước
kia, và trau giồi, phát triển chi "Xả", Upekkhā, tế nhị và
thanh bình an lạc hơn nhiều.
Khi
đắc Ngũ Thiền hơi thở cũng ngưng. Vì do nhờ ý chí, đã
vượt lên khỏi cả hai, đau khổ và thỏa thích, hành giả
cũng không còn cảm nghe đau đớn.
Chi
thiền Upekkhā là một hình thức vi tế của tâm sở Tatramajjhattatā,
bình thản, quân bình, một trong những tâm sở thiện tiềm
tàng ngủ ngầm trong tất cả những loại tâm "Ðẹp" (Sobhana).
Trong
câu Pāli: Upekkhā satipārisuddhi, sự trong sạch của tâm niệm
phát sanh do trạng thái bình thản, 'trạng thái bình thản",
hay tâm "Xả" (Upekkhā) được đề cập ở đây là Tatramajjhattatā.
Tâm sở nầy cũng tiềm ẩn ngủ ngầm trong bốn tầng Thiền
đầu tiên, nhưng đến Ngũ Thiền thì Tatramajjhattata nổi bật
lên và trở thành vi tế đến mức cao độ. Cả hai, thọ vô
ký (Upekkhā Vedanā) và trạng thái bình thản (Xả), được
bao hàm trong Phạn ngữ Upekkhā, đều nằm trong Ngũ Thiền.
Vậy,
có bốn loại Upekkhā như sau:
1.
Thọ vô ký suông, chỉ là một cảm thọ nằm trong sáu tâm
Bất Thiện (Akusala Citta).
2.
Thọ vô ký tiêu cực (Anubhavana Upekkhā) nằm trong tám căn môn
Vô Nhân (Ahetuka dvipañca-viññāṇa [2], những loại tâm Quả
đi từng cặp Thiện và Bất Thiện, có liên quan đến giác
quan)
3.
Upekkhā có tánh cách trí thức, thường nằm trong hai tâm Hành
Ðẹp (Sobhana Kriyā Cittas), đồng phát sanh cùng tri kiến, và
đôi khi nằm trong hai tâm Thiện Ðẹp (Sobhana Kusala Cittas),
đồng phát sanh cùng tri kiến.
4.
Upekkhā có tánh cách đạo đứch nằm trong tất cả tâm Ðẹp
(Sobhana Citta), hay Tịnh Quang Tâm, đặc biệt là trong Ngũ Thiền.
Brahmavihārupekkhā
và Saṅkhārupekkhā có thể đuợc bao hàm trong cả hai loại
Upekkhā -- trí thức và đạo đức [3] .
Brahmavihārupekkhā,
tâm Xả của Tứ Vô Lượng Tâm là trạng thái bình thản,
không chao động, tâm quân bình, trước những hoàn cảnh thăng
trầm của đời sống. Saṅkhārupekkha, tâm Xả Hành, là trạng
thái không ưa thích cũng không ghét bỏ, không luyến ái cũng
không bất toại nguyện, đối với các pháp hữu vi, các vật
được cấu tạo.
Sách
Visuddhi Magga, Thanh Tịnh Ðạo, lược kê tất cả mười loại
Upekkhā. Xem The Path of Purity quyển II, trang 184-186.
43.
Ekaggata, Nhất Ðiểm Tâm
(eka
+ agga + tā) một điểm duy nhất, hay nhất điểm tâm là trạng
thái gom tâm an trụ vào một điểm. Ðây là tâm sở nằm trong
tất cả các tầng Thiền (Jhāna). Sammā Samādhi (Chánh Ðịnh)
là Nhất Ðiểm Tâm nầy nằm trong Ðạo Tâm (Magga Citta) và
tạm thời khắc phục triền cái tham dục.
Ghi
chú:
[1]
Bhavaṅga, Ý Môn Hướng Tâm, Ðề Mục Sơ Khởi, Cận Ðịnh,
Thuận Thứ, Chuyển Tánh, Nhập Ðịnh.
[2]
Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, Thiện và Bất
Thiện. Ngoại trừ thân thức (kayaviññāṇa). Xem chú giải
số 24 về Ngũ Song Thức. Có năm cặp (Ngũ Song, thiện và bất
thiện)), nhưng trừ cặp thân thức, còn lại bốn (4x2=8)
[3]
Xem Compendium of Philosophy, những trang 14, 66, và 229-232.
-ooOoo-
ARŪPĀVACARA
CITTĀNI -- 12
Tâm
thuộc vô sắc Giới -- 12
8.
Arūpāvacara
Kusala Cittāni - 4
1.
Ākāsānañcāyatanakusalacittaṁ,
2.
Viññāṇañ-cāyatanakusalacittaṁ,
3.
Ākiñcaññāyatanakusalacittaṁ,
4.
N'eva-saññā-n'āsaññāyatanakusalacittañ c'āti.
Imāni
cattāri'pi Arūpāvacarakusalacittāni nāma.
Arūpāvacara
Vipāka Cittāni -- 4
5.
Ākāsānañcāyatanavipākacittaṁ,
6.
Viññāṇañ- cāyatanavipākacittaṁ,
7.
Ākiñcaññāyatanavipākacittaṁ,
8.
N'eva-saññā-nāsaññāyatanavipākacittañ c'āti.
Imāni
cattāri'pi Arūpāvacaravipākacittāni nāma.
Arūpāvacara
Kriyā Cittāni -- 4
9.
Ākāsānañcāyatanakriyācittaṁ,
10.
Viññaṇañ- cāyatanakriyācittaṁ,
11.
Ākiñcaññāyatanakriyācittaṁ,
12.
N'eva-saññā-n'āsaññāyatanakriyācittañ c'āti.
Imāni
cattāri' pi Arūpāvacarakriyācittāni nāma.
Icc'
evaṁ sabbathā'pi dvādasa Arūpāvacara-Kusala-Vipāka-Kriyācittāni
samattāni.
Ālambanappabhedhena
-- catudhā'ruppamānasaṁ
Puññapākakriyābhedā
-- puna dvādasadhā ṭhitaṁ.
§8
Tâm
Thiện Vô Sắc Giới - 4
1.
Tâm Thiền Thiện trong "Không Vô Biên Xứ".
2.
Tâm Thiền Thiện trong "Thức Vô Biên Xứ".
3.
Tâm Thiền Thiện trong "Vô Sở Hữu Xứ".
4.
Tâm Thiền Thiện trong "Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng".
Ðó
là bốn loại tâm Thiền Thiện Thuộc Vô Sắc Giới.
Tâm
Quả Vô Sắc Giới - 4
5.
Tâm Thiền Quả trong "Không Vô Biên Xứ".
6.
Tâm Thiền Quả trong "Thức Vô Biên Xứ".
7.
Tâm Thiền Quả trong "Vô Sở Hữu Xứ".
8.
Tâm Thiền Quả trong "Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng".
Ðó
là bốn loại tâm Thiền Quả Thuộc Vô Sắc Giới.
Tâm
Hành Vô Sắc Giới - 4
9.
Tâm Thiền Hành trong "Không Vô Biên Xứ".
10.
Tâm Thiền Hành trong "Thức Vô Biên Xứ".
11.
Tâm Thiền Hành trong "Vô Sở Hữu Xứ".
12.
Tâm Thiền Hành trong "Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng".
Ðó
là bốn loại tâm Hành thuộc Thiền Vô Sắc.
Như
vậy, chấm dứt, tất cả có mười hai loại tâm Thiền Vô
Sắc (Arūpajhāna) Thiện, Quả, Hành [1]. Tâm Thiền Vô Sắc
Giới (Arūpa jhāna) bốn, đuợc sắp xếp tùy theo đối tượng.
Tính theo Thiện, Quả và Hành thì có tất cả là mười hai.
Chú
Giải:
44.
Arūpa Jhāna, Thiền Vô Sắc.
Vị
hành giả đã có phát triển Thiền Sắc Giới (Rūpa Jhāna)
và giờ đây muốn trau giồi Thiền Vô Sắc, bắt đầu gom
tâm vào hình ảnh khái niệm (Paṭibhāga Nimitta) như đã có
giảng ở phần trên.
Khi
chuyên chú gom tâm như vậy một ít lâu hành giả thấy một
đốm ánh sáng nhỏ, yếu, giống như con đom đóm, phát ra từ
đối tượng kasiṇa. Hành giả nguyện rằng ánh sáng nhỏ
nầy lớn lên dần dần cho đến khi bao trùm toàn thể không
gian. Ðến đây hành giả không còn thấy gì khác, ngoài ánh
sáng nầy, cùng khắp mọi nơi. Không gian đầy ánh sáng nầy
không có thực, không phải là một thực tại, mà chỉ là
một khái niệm. Danh từ Pāli gọi là Kasiṇugghāṭimākāsa,
có nghĩa "không gian phát huy từ đối tượng kasiṇa". Gom tâm
vào đối tượng nầy, hành giả niệm "Ākāso ananto", "không
gian vô tận vô biên" cho đến khi phát triển tầng Thiền Vô
Sắc đầu tiên -- Ākāsānañcāyatana, Không Vô Biên Xứ.
Cũng
như trường hợp Thiền Sắc Giới, tiến trình tư tưởng của
hành giả lúc ấy trôi chảy như sau:
Manodvārāvajjana,
Parikamma, Upacāra, Anuloma, Gotrabhū, Ākāsānañcāyatana.
Chặp
tư tưởng Parikamma, đối tượng sơ khởi, có thể phát sanh,
có thể không.
Chặp
tư tưởng Thiền Vô Sắc (Arūpa Jhāna) chỉ phát sanh trong một
chặp (hay sát-na tâm) rồi trôi vào trạng thái Bhavaṅga.
Hành
giả tiếp tục gom tâm vào Sơ Thiền Vô Sắc và niệm "Viññāṇaṁ
anantaṁ", có nghĩa "thức vô tận vô biên" cho đến lúc phát
triển Nhị Thiền Vô Sắc -- Viññāṇañcā- yatana, Thức Vô
Biên Xứ.
Ðể
phát triển Tam Thiền Vô Sắc -- Ākiñcaññā-yatana, Vô Sở
Hữu Xứ -- hành giả lấy tâm Sơ Thiền làm đề mục và niệm
"Natthi kiñci", không có gì hết.
Tứ
Thiền Vô Sắc được phát triển bằng cách lấy Tam Thiền
Vô Sắc làm đề mục. Tam Thiền Vô Sắc nầy vi tế và tinh
chế đến nổi ta không thể quả quyết rằng có tâm hay không
có tâm. Khi chăm chú ít lâu vào Tam Thiền nầy hành giả phát
triển Tứ Thiền. Mặc dầu trong N'eva-sañña-n'asaññāyatana,
Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng, danh từ "Saññā", Tưởng, được
dùng, ở đây hai tâm sở Vedanā (Thọ) và Saṅkhāra (Hành)
cũng được bao hàm trong đó.
Năm
tầng Thiền Sắc Giới khác biệt nhau do các chi thiền. Bốn
tầng Thiền Vô Sắc Giới thì khác nhau do đề mục gom tâm.
Sơ Thiền và Tam Thiền có hai khái niệm (Paññatti). Ðó là
khái niệm về tánh cách vô biên của không gian và khái niệm
về hư vô.
Tâm
Nhị Thiền lấy tâm Sơ Thiền làm đề mục, và Tứ Thiền
lấy Tam Thiền làm đề mục.
Bốn
Thiền Vô Sắc nầy có Quả tương ứng của nó trong cảnh
giới Vô Sắc. Chỉ có chư Phật và chư vị A La Hán mới có
bốn tầng Thiền Hành (Duy Tác) Vô Sắc.
Trong
tất cả mười hai loại tâm Thiền Vô Sắc (Jhāna Cittas) đều
có hai chi thiền Upekkhā (Xả) và Ekaggata (Nhất Ðiểm). Ðó
cũng là hai chi của Ngũ Thiền Sắc Giới.
Ghi
chú:
[1]
Các loại tâm thuộc Sắc Giới và Vô Sắc Giới được gọi
chung là Mahaggata có nghĩa "lớn-đi-đến", tức là tâm đã
được phát triển, thường được dịch là tâm "Ðại Hành".
Nơi đây loại tâm nầy được gọi là "Tâm Cao Thượng".
-ooOoo-
LOKUTTARA
CITTĀNI -- 8
Tâm
siêu thế -- 8
9.
Lokuttara
Kusala Cittāni - 4
1.
Sotāpattimaggacittaṁ,
2.
Sakadāgāmimaggacittaṁ,
3.
Anāgāmimaggacittaṁ,
4.
Arahattamaggacitañ c'āti.
Imāni
cattāri'pi Lokuttarakusalacittāni nāma.
Lokuttara
Vipāka Cittāni -- 4
5.
Sotāpattiphalacittaṁ,
6.
Sakadāgāmiphalacittaṁ,
7.
Anāgāmiphalacittaṁ,
8.
Arahattaphalacittañ c'āti.
Imāni
cattāri'pi Lokuttaravipākacittāni nāma.
Icce'vaṁ
sabbathā'pi aṭṭha Lokuttara-Kusala-Vipāka-cittāni samattāni.
Catumaggapphedhena
-- catudhā kusalaṁ tathā
Pākaṁ
tassa phalattā'ti-- aṭṭhadhā nuttaraṁ mataṁ.
Dvādasākusalān'evaṁ
-- kusalān' ekavīsati
Chattiṁs'eva
vipākāni -- kriyācittāni vīsati.
Catupaññāsadhā
kāme -- rūpe paṇṇaras'īraye
Cittāni
dvādas' āruppe -- aṭṭhadhā'n uttare tathā.
§9
Tâm
Thiện Siêu Thế -- 4
1.
Nhập Lưu Ðạo tâm,
2.
Nhứt Lai Ðạo tâm,
3.
Bất Lai Ðạo tâm,
4.
Vô Sanh Ðạo tâm.
Ðó
là bốn loại tâm Thiện Siêu Thế
Tâm
Quả Siêu Thế -- 4
5.
Nhập Lưu Quả tâm,
6.
Nhứt Lai Quả tâm, 8. Bất Lai Quả tâm,
8.
Vô Sanh Quả tâm.
Ðó
là bốn loại tâm Quả Siêu Thế.
Có
tất cả tám loại tâm Thiện và Quả Siêu Thế.
Như
vậy chấm dứt tất cả, tám loại tâm Thiện và Quả Siêu
Thế. Tâm Thiện có bốn, khác nhau do Ðạo. Tâm Quả cũng vậy,
vì đó là quả của Ðạo. Tâm Siêu Thế phải được hiểu
là có tám.
Tóm
lược:
Như
vậy, tâm Bất Thiện có mười hai, Thiện có hai mươi mốt,
Quả có ba mươi sáu, Hành có hai mươi.
Trong
Dục Giới, được nói, có năm mươi bốn loại tâm. Trong Sắc
Giới có mười lăm. Trong Vô Sắc Giới có mười hai. Tâm Siêu
Thế có tám. (54 + 15 + 12 + 8 = 89).
-ooOoo-
EKAVĪSASATĀNI
CITTĀNI -- 121
121
loại tâm
10.
Ittham'ekūna
navutippabhedhaṁ pana mānasaṁ
Ekavīsasataṁ
v'ātha vibhajanti vicakkhanā.
Katham'ekūna
navutividhaṁ cittaṁ ekavīsasataṁ hoti?
1.
Vitakka-vicāra-pīti-sukh'ekaggatā-sahitaṁ
Paṭhamajjhāna-Sotāpattimaggacittaṁ,
2.
Vicāra-pīti-sukh'ekaggatā-sahitaṁ
Dutiyajjhāna-
Sotāpattimaggacittaṁ,
3.
Pīti-sukh'ekaggatā-sahitaṁ
Tatiyajjhāna
Sotāpatti- maggacittaṁ,
4.
Sukh'ekaggatā-sahitaṁ
Catutthajjhāna
Sotāpatti- maggacittaṁ,
5.
Upekkh'ekaggatā-sahitaṁ
Pañcamajjhāna
Sotāpatti maggacittañ c'āti.
Imāni
pañca pi Sotāpattimaggacittāni nāma.
Tathā
Sakadāgāmimagga, Anāgāmimagga, Arahatta-maggacittañ c'āti samavīsati
maggacittāni. Tathā phalacittāni c'āti samacattāḷīsa Lokuttaracittāni
bhavantī'ti.
1.
Jhānaṅgayogabhedhena-- katv'ekekan tu pañcadhā
Vuccatā'nuttaraṁ
cittaṁ -- cattāḷīsavidhanti ca.
2.
Yathā ca rūpāvacaraṁ -- gayhatā'nuttaraṁ tathā
Paṭhamādijhānabhede
-- āruppañcā'pi pañcame.
3.
Ekādasavidhaṁ tasmā -- paṭhamādikam'īritaṁ
Jhānan
ekekaṁ' ante tu -- tevīsatividhaṁ bhave.
4.
Sattatiṁsavidhaṁ puññaṁ—dvipaññāsavidhaṁ tathā
Pākam'iccāhu
cittāni -- ekavīsasataṁ budhā'ti.
Iti
Abhidhammatthasaṅgahe Cittasaṅgahavibhāgo nāma paṭhamo paricchedo.
§10
Những
loại tâm khác nhau nầy, tổng số là tám mươi chín, bậc
thiện trí phân chia làm một trăm hai mươi mốt.
Làm
thế nào tâm, vốn đã được phân tách làm tám mươi chín
loại, lại trở thành một trăm hai mươi mốt?
1.
Tâm Nhập Lưu Ðạo Sơ Thiền, đồng phát sanh cùng Tầm, Sát,
Phỉ, Lạc và Nhất Ðiểm;
2.
Tâm Nhập Lưu Ðạo Nhị Thiền, đồng phát sanh cùng Sát, Phỉ,
Lạc và Nhất Ðiểm;
3.
Tâm Nhập Lưu Ðạo Tam Thiền, đồng phát sanh cùng Phỉ, Lạc,
và Nhất Ðiểm;
4.
Tâm Nhập Lưu Ðạo Tứ Thiền, đồng phát sanh cùng Lạc và
Nhất Ðiểm;
5.
Tâm Nhập Lưu Ðạo Ngũ Thiền, đồng phát sanh cùng Xả và
Nhất Ðiểm.
Ðó
là năm loại tâm Nhập Lưu Ðạo.
Cùng
thế ấy, tâm Nhất Lai Ðạo, tâm Bất Lai Ðạo, tâm Vô Sanh
Ðạo, tất cả đúng hai mươi loại. Và cũng cùng thế ấy,
có hai mươi loại tâm Quả. Như vậy, tất cả có bốn mươi
loại tâm Siêu Thế.
Tóm
lược:
1.
Phân chia mỗi tâm (Siêu Thế) làm năm loại, tùy theo những
chi thiền khác nhau, số tâm Siêu Thế được nói là trở thành
bốn mươi.
2.
Như tâm thuộc Sắc Giới được phân làm Sơ Thiền v.v... tâm
Siêu Thế cũng được phân loại cùng thế ấy. Tâm Vô Sắc
Giới được bao gồm trong Ngũ Thiền.
3.
Vậy, bắt đầu từ Sơ Thiền, tổng số các Thiền được
nói, là mười một. Tầng Thiền (Jhāna) cuối cùng (tức Ngũ
Thiền) tổng cộng là hai mươi ba.
4.
Ba mươi bảy loại tâm Thiện, năm mươi hai loại tâm Quả,
bậc thiện trí nói có tất cả một trăm hai mươi mốt loại
tâm tất cả.
Ðến
đây chấm dứt chương đầu của quyển Vi Diệu Pháp Toát
Yếu (Abhidhammattha Saṅgaha) đề cập đến sự phân tách tâm.
Chú
Giải:
45.
Sự Chứng Ngộ Niết Bàn.
Vị
hành giả quyết tâm chứng ngộ Niết Bàn cố gắng thấu đạt
thực tướng của sự vật. Với tâm vững vàng an trụ vào
một điểm, hành giả thận trọng dò xét tỉ mỉ cái "tự
ngã" của chính mình, và khi quan sát chân chánh như vậy, khám
phá rằng cái được gọi là "cá tính", "bản ngã", hay cái
"ta" của mình chỉ là sự cấu hợp của hai thành phần, danh
và sắc. Danh gồm những tâm sở luôn luôn trôi chảy, phát
sanh như hậu quả của sự tiếp xúc giữa lục căn và lục
trần. Sắc là những năng lực và đặc tánh tự biểu hiện
trong muôn ngàn hiện tượng, dưới mọi hình thức.
Ðã
thành đạt quan kiến chân chánh về bản chất thật sự của
chính mình, đã thoát ra khỏi quan niệm sai lầm về một thực
thể "danh và sắc đồng nhất", thường còn và không biến
đổi, hành giả nỗ lực tìm hiểu nguyên nhân của cái "bản
ngã" nầy, và nhận thức rằng mọi sự vật trên thế gian,
trong đó có luôn cả chính mình, đều là vật cấu tạo, hữu
vi, do những nguyên nhân quá khứ hay hiện tại tạo điều
kiện. Vạn pháp đều do duyên sanh. Và sở dĩ có kiếp sống
nầy là do vô minh (avijjā), ái dục (taṇhā), thủ (upādāna),
tức sự cố chấp luyến ái bám chặt, và nghiệp (kamma) trong
quá khứ và vật thực (āhāra) của kiếp sống hiện tại.
Vì có năm nguyên nhân trên (bốn quá khứ và một hiện tại)
tự ngã nầy mới phát sanh. Những hành động trong quá khứ
đã tạo duyên cho hiện tại. Cùng thế ấy hiện tại sẽ
tạo điều kiện cho tương lai. Chú tâm suy niệm như thế hành
giả vượt lên khỏi mọi hoài nghi về quá khứ, hiện tại,
và tương lai (Kankhāvitaraṇavisuddhi, Ðoạn Nghi Tịnh). Tiếp
theo, hành giả suy niệm rằng tất cả các vật được cấu
tạo (các pháp hữu vi, saṅkhāra.) đều vô thường (Anicca),
phải chịu đau khổ (Dukkha), và không có một linh hồn trường
tồn bất diệt (Anattā). Hướng tầm mắt về bất luận nơi
nào, hành giả chỉ nhìn thấy ba đặc tướng ấy phát lộ
rành mạch, rõ ràng, không thể lầm lẫn. Bấy giờ hành giả
nhận thức rằng kiếp sống chỉ là một sự trôi chảy, một
di động liên tục, không gián đoạn. Dầu ở các cảnh Trời
hay trên quả địa cầu, hành giả không tìm được nơi nào
có hạnh phúc thật sự, bởi vì mỗi hình thức lạc thú chỉ
là bước đầu, mở đường đến đau khổ. Do đó, cái gì
vô thường tức nhiên phải chịu đau khổ, và nơi nào đau
khổ và biến đổi chiếm ưu thế thì không thể có một tự
ngã trường tồn vĩnh cửu.
Khi
chuyên chú hành thiền như thế ấy, sẽ có một ngày kia, trước
sự ngạc nhiên của chính mình, hành giả chứng kiến một
ánh hào quang (Obhāsa) phát tủa ra từ thân mình. Lúc ấy hành
giả thọ cảm trạng thái thỏa thích, hạnh phúc, và vắng
lặng, trước kia chưa từng bao giờ được biết. Hành giả
càng củng cố tâm định và càng tinh tấn thêm. Tâm đạo
nhiệt thành càng tăng trưởng, tâm niệm toàn hảo và tuệ
minh sát càng trở nên sâu sắc một cách lạ thường. Lầm
tưởng mức tiến bộ khá cao ấy là Ðạo Quả Thánh, nhất
là vì thấy có hào quang, hành giả phát triển tâm ưa thích
trạng thái tinh thần ấy. Nhưng sớm nhận thức rằng những
hiện tượng khai triển mới mẻ ấy chỉ là trở ngại cho
tiến bộ tinh thần và đạo đức, hành giả trau giồi và
phát triển trạng thái trong sạch của sự hiểu biết liên
quan đến "Con Ðường" và "Không-Phải-Con-Ðường" (Maggāmagga-ñāṇa-dassana-
Visudhi, Ðạo, Phi Ðạo Tri Kiến Tịnh). Ðã thấy rõ con đường
chân chánh, hành giả gom tâm quán tưởng vào trạng thái phát
sanh (Udaya ñāṇa, Tuệ Sanh) và hoại diệt (Vaya ñāṇa, Tuệ
Diệt) của tất cả các pháp hữu vi. Trong hai trạng thái,
sanh và diệt, sự hoại diệt nổi bật và chiếm ưu thế,
được nhận thấy rõ ràng hơn, nên dần dần gây ấn tượng
mạnh hơn trong tâm hành giả, bởi vì sự biến đổi được
nhận thấy hiển nhiên và rõ ràng hơn sự trở thành. Do đó
hành giả hướng tâm chú niệm của mình về sự phân tán
của sự vật (Bhaṅga- ñāṇa, Tuệ Phân Tán, Diệt) và nhận
định rằng cả danh và sắc, hai thành phần cấu tạo nên
cá nhân mình luôn luôn ở trong trạng thái đổi thay, trôi
chảy, không thể tồn tại giống hệt trong hai khoảnh khắc
kế tiếp. Bấy giờ phát sanh đến hành giả sự hiểu biết
rằng tất cả những gì bị phân tán đều là đáng sợ (Bhaya
ñāṇa, Tuệ Kinh Hải). Toàn thể thế gian phát hiện trước
mắt hành giả như một đống củi đang phừng cháy, một hiểm
họa. Kế đó hành giả suy tưởng về tánh chất rách nát,
đỗ vỡ, và tạm bợ nhất thời (Ādīnava ñāṇa, Tuệ Thấy
Hiểm Nguy) của thế gian đáng kinh sợ nầy, và có cảm giác
nhàm chán (Nibbidā ñāṇa, Tuệ Chán Nản), và khởi sanh ý
muốn tẩu thoát ra khỏi đó (Muñcitukamyatā ñāṇa, Tuệ Muốn
Giải Thoát). Hướng về đối tượng ấy, hành giả chú tâm
quán xét trở lại ba đặc tướng (Paṭisankhā ñāṇa, Tuệ
Suy Tư), và sau đó phát triển tâm Xả trọn vẹn, hoàn toàn
thản nhiên đối với tất cả các pháp hữu vi (Hành) -- không
luyến ái cũng không ghét bỏ hay bất toại nguyện, đối với
bất luận vật gì trên thế gian (Saṅkhārupekkhā ñāṇa, Tuệ
Xả Hành).
Khi
đạt đến mức độ tinh thần nầy, hành giả chọn một trong
ba đặc tướng -- vô thường, khổ, vô ngã -- đặc tướng
nào thích ứng nhất với mình và gia công khai triển tuệ giác
theo chiều hướng ấy cho đến ngày vẻ vang tươi sáng, thành
tựu mục tiêu cuối cùng -- Ðạo Quả Niết Bàn.
Lúc
ấy tiến trình Javana trôi chảy như sau:
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6,
7
|
|
*
|
*
|
*
|
*
|
*
|
*
*
|
|
Parikamma
|
Upacāra
|
Anuloma
|
Gotrabhū
|
Magga
|
Phala
|
Trong
trường hợp những vị hành giả có tuệ Minh Sát sâu sắc,
chặp tư tưởng Parikamma (chuẩn bị, hay đề mục sơ khởi)
không phát sanh, luồng Javana bắt đầu bằng chặp Upacāra và
Phala sẽ phát sanh trong ba chặp liên tiếp.
Chín
loại tuệ giác: Udaya, Vaya, Bhaṅga, Bhaya, Ādīnava, Nibbidā,
Muñcitukamyatā, Paṭisaṅkhā và Saṅkhārupekkhā ñāṇa -- đuợc
gọi chung là Paṭipadā Ñāṇadassana Visuddhi, Ðạo Tri Kiến
Tịnh, tức trạng thái trong sạch của sự hiểu biết và sự
trông thấy có liên quan đến Con Ðường, hay pháp hành.
Tuệ
Minh Sát trong tâm Ðạo Siêu Thế được gọi là Ñāṇadassana
Visuddhi, Tri Kiến Tịnh, tức trạng thái trong sạch của sự
hiểu biết và sự trông thấy.
Khi
chứng ngộ Niết Bàn lần đầu tiên hành giả được gọi
là Sotāpanna, Nhập Lưu hay Tu Ðà Huờn, người lần đầu tiên
bước vào dòng suối chảy đến Niết Bàn. Vị ấy không còn
là phàm nhân (Puthujjana) mà đã là Thánh Nhân (Ariya). Ngài đã
cỡi bỏ ba Thằng Thúc (Saṁyojana, dây trói buộc cột chúng
sanh vào vòng luân hồi) là Thân Kiến (Sakkāya Diṭṭhi, ảo
kiến về tự ngã của mình), Hoài Nghi (Vicikicchā), và Giới
Cấm Thủ (Sīlabbata Parāmāsa, tin tưởng vào những nghi thức
và lễ tế lầm lạc). Vì còn chưa tận diệt được tất
cả những Thằng Thúc trói mình vào những kiếp sinh tồn,
vị Nhập Lưu còn phải tái sanh trở lại, tối đa là bảy
lần. Trong kiếp kế liền sau khi đắc Quả Ngài có thể còn
nhớ, cũng có thể không hay biết gì rằng mình đã Nhập Lưu.
Tuy nhiên, dầu biết hay không, Ngài vẫn giữ những đặc tánh
của một vị Nhập Lưu.
Niềm
tin nơi Ðức Phật, Giáo Pháp, và Giáo Hội Tăng Già luôn luôn
tiềm tàng bên trong Ngài, không bao giờ còn vi phạm một giới
nào trong Ngũ Giới. Ngài không bao giờ còn tái sanh vào khổ
cảnh vì đã vững vàng bước vào con đường Giác Ngộ.
Từ
đây hành giả, là bậc Thánh Nhân, đã nhoáng thấy Niết Bàn
từ xa, càng quyết tâm gia công, tiến bộ nhanh chóng, kiện
toàn tuệ giác, thành tựu Ðạo Quả Nhứt Lai (Sakadāgāmi,
Tư Ðà Hàm) bằng cách làm giảm suy hai Thằng Thúc: Dục ái
(Kāmarāga, tham ái duyên theo Dục Giới). và bất toại nguyện,
hay sân hận (Paṭigha).
Trường
hợp nầy, và trong trường hợp của hai tầng Thánh trên nữa
là Bất Lai và Vô Sanh cũng vậy, tiến trình Javana vẫn trôi
chảy như trên, nhưng chặp tư tưởng Chuyển Tánh (Gotrabhū)
được gọi là "Vodāna", có nghĩa "trong sạch", bởi vì đây
không phải là chặp tư tưởng chuyển tiếp từ phàm đến
Thánh mà là một trường hợp tâm thanh lọc, trở nên trong
sạch hơn.
Vị
Thánh Nhứt Lai (Sakadāgāmi, Tư Ðà Hàm) chỉ còn tái sanh một
lần nữa trên quả địa cầu nếu không chứng đắc Ðạo
Quả A La Hán ngay trong kiếp hiện tại. Nên ghi nhớ rằng bậc
Thánh Nhân đã thành tựu tầng Thánh thứ nhì chỉ làm giảm
suy sức trói buộc rất chặt chẽ của hai Thằng Thúc đã
cột trói Ngài từ quá khứ vô tận. Ðôi khi Ngài vẫn còn
phải bận rộn với những tư tưởng tham ái và sân hận,
nhưng ở mức độ rất tế nhị.
Chí
đến khi thành đạt tầng Thánh thứ ba, Bất Lai (Anāgāmi,
A Na Hàm), trạng thái không bao giờ trở lại, hành giả mới
tận diệt hai Thằng Thúc ấy. Từ đây Ngài không bao giờ
còn tái sanh trở lại vào cảnh người hay những cảnh Trời
Dục Giới, vì đã hoàn toàn tận diệt mọi tham ái duyên theo
Dục Giới.
Sau
khi tịch diệt ở đây Ngài tái sanh vào cảnh Vô Phiên Thiên
(Suddhāvāsa, cảnh giới hoàn toàn