Mục
Lục
Lời
Mở Ðầu
Chương
1 -- Tâm Vương
Câu
kệ mở đầu. Ðề Tài.
Bốn
Loại Tâm Vương
Tâm
Bất Thiện Thuộc Dục Giới
Tâm
Vô Nhân
Ðồ
Biểu 1,2,3
Tâm
"Ðẹp"
Tâm
Thuộc Sắc Giới. Thiền (jhāna)
Tâm
Thuộc Vô Sắc Giới
Tâm
Siêu Thế
121
Loại Tâm
Sự
Chứng Ngộ Niết Bàn
Ðồ
Biểu 4,5,6,7,8,9.
Chương
2 -- Tâm Sở
Lời
Mở Ðầu. Ðịnh Nghĩa
Năm
Mươi Hai Loại Tâm Sở
Những
Sự Phối Hợp Khác Nhau Của Các Tâm Sở
Tâm
Sở Bất Thiện
Tâm
Sở "Ðẹp"
Tâm
Siêu Thế
Tâm
Cao Thượng
Tâm
"Ðẹp" Thuộc Dục Giới
Tâm
Bất Thiện
Tâm
Vô Nhân.
Chương
3 -- Phần Linh Tinh
Thọ
Nhân
Tác
Dụng
Tốc
Hành Tâm (Javana)
Tử
Tâm
Môn
Ðối
Tượng
Thời
gian
Siêu
Trí
Căn.
Chương
4 -- Phân Tách Tiến Trình Tâm
Tiến
Trình Tâm xuyên Qua Năm Căn Môn
Những
Tiến Trình Tâm
Tiến
Trình Tâm Xuyên Qua Ý Môn
Tiến
Trình Tâm Appanā
Phương
Thức Diễn Tiến Của Chặp Ðăng Ký Tâm
Phương
Thức Diễn Tiến Của Tốc Hành Tâm (javana)
Diệt
Thọ Tưởng Ðịnh
Phân
Hạng Chúng Sanh
Những
Cảnh Giới
Ðồ
Biểu 9.
Chương
5 -- Phần Không Có Tiến Trình
Bốn
Cảnh Giới Sinh Tồn
Cảnh
Trời
Bốn
Phương Cách Tái Sanh
Bốn
Loại Nghiệp
Nghiệp
Bất Thiện
Nghiệp
Thiện
Nghiệp
Những
Loại Nghiệp Khác Nhau
Hiện
Tượng Chết Và Tái Sanh
Chết
Biểu
Tượng Lâm Chung
Dòng
Diễn Tiến Của Tâm
Ðồ
Biểu 10, 11, 12.
Chương
6 -- Phân Tách Sắc Pháp
Lời
Mở Ðầu. Câu Kệ Nhập Ðề
Liệt
Kê Các Sắc Pháp
Phân
Loại Các Sắc Pháp
Sự
Khởi Sanh Của Các Sắc Pháp
Các
Nhóm Sắc Pháp
Phương
Thức Khởi Sanh Của Các Sắc Pháp
Niết
Bàn
Ðồ
Biểu 13.
Chương
7 -- Toát Yếu Những Phân Loại
Câu
Kệ Nhập Ðề
Những
Loại Bất Thiện Pháp
Ðồ
Biểu 14
Những
Loại Pháp Linh Tinh
Những
Yếu Tố Của Sự Giác Ngộ
Ðồ
Biểu 15
Tổ
Hợp Tổng Quát
Tóm
Lược.
Chương
8 -- Toát Yếu Về Những Duyên Hệ
Câu
Kệ Nhập Ðề
Ðịnh
Luật Tùy Thuộc Phát Sanh
Ðịnh
Lý Tương Quan Duyên Hệ
Những
Duyên Hệ Của Danh Và Sắc
Khái
Niệm.
Chương
9 -- Ðề Mục Hành Thiền
Câu
Kệ Nhập Ðề
Khái
Lược Về Thiền Vắng Lặng
Những
Giai Ðoạn Luyện Tâm
Những
Ấn Chứng Của Công Trình Luyện Tâm
Thiền
Sắc Giới
Thiền
Vô Sắc
Siêu
Trí
Những
Bẩm Tánh
Những
Pháp Thanh Tịnh Khác Nhau
Sự
Chứng Ngộ
Giải
Thoát
Những
Bậc Thánh Nhân
Thanh
Tịnh Ðạo
Những
Sự Chứng Ðắc
Ước
Nguyện.
Lời
mở đầu
Như
danh từ hàm xúc ý nghĩa, Abhidhamma, Vi Diệu Pháp, là Giáo Huấn
Cao Siêu, vi diệu, thù thắng, của Ðức Phật. Sách nầy trình
bày phần tinh hoa của Giáo Pháp mà Ngài ban truyền.
Giáo
Pháp nằm trong tạng Kinh (Sutta Pitaka) là giáo huấn thông thường,
có tánh cách quy ước, chế định (vohāra desanā). Vi Diệu
Pháp (Abhidhamma) là giáo huấn cùng tột (paramattha desanā) rốt
ráo. Không thể đổi thay hay biến chuyển, không thể phân
tách thêm được nữa.
Trong
Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) cả danh và sắc, hai thành phần tâm
linh và vật chất cấu tạo guồng máy phức tạp của con người,
đều được phân tách rất tỉ mỉ. Những diễn tiến chánh
yếu liên quan đến tiến trình sanh và tử đều được giải
thích tường tận. Những điểm phức tạp và khó hiểu trong
Giáo Pháp đều được rọi sáng. Con Ðường giải thoát được
chỉ vạch với những ngôn từ rành rẽ.
Tâm
lý học hiện đại, còn hạn định, vẫn nằm trong phạm vi
của Vi Diệu Pháp khi đề cập đến tâm, tư tưởng, tiến
trình tư tưởng và trạng thái tâm. Nhưng Vi Diệu Pháp không
chấp nhận có một linh hồn, xem như một thực thể đơn thuần
thường còn, không biến đổi. Phật Giáo dạy một tâm lý
học trong đó không có linh hồn trường cửu.
Tâm
thức được định nghĩa. Tư tưởng được phân tách và được
sắp xếp thành loại trên bình diện luân lý. Tất cả những
trạng thái tâm, hay tâm sở, đều được ghi rõ từng khoản.
Thành phần cấu hợp của mỗi loại tâm đều được trình
bày tường tận với đầy đủ chi tiết. Những tiến trình
tâm phát sanh qua năm cửa giác quan và cửa tâm (ý căn) được
mô tả một cách vô cùng hứng thú. Không có bản khái yếu
tâm lý học nào giảng giải tiến trình tâm được rõ ràng
như vậy.
Những
chặp tư tưởng Bhavaṅga (Hộ Kiếp) và Javana (Tốc Hành) mà
trong tâm lý học hiện đại không có gì tương đương, chỉ
được giải thích trong Vi Diệu Pháp. Người tìm học hỏi
và nghiên cứu khoa tâm lý sẽ đặc biệt thích thú với đoạn
nầy.
Người
thông suốt Vi Diệu Pháp sẽ nhận thức một cách hết sức
rành mạch rằng luồng tâm trôi chảy như một dòng suối,
quan điểm mà vài tâm lý gia hiện đại như William James cũng
trình bày tương tợ. Ta phải thêm rằng người học Vi Diệu
Pháp có thể thấu hiểu đầy đủ lý Vô Ngã (Anattā), giáo
lý nòng cốt của Phật Giáo. Giáo lý nầy rất quan trọng
về cả hai phương diện: triết học và đạo đức.
Hiện
tượng chết, tiến trình tái sanh vào những cảnh giới khác
nhau mà không có gì di chuyển từ kiếp nầy sang kiếp khác,
giáo lý Nghiệp Báo và Tái Sanh mà ta có thể kiểm chứng bằng
những sự kiện hiển nhiên, tất cả đều được giải thích
đầy đủ.
Chứa
đựng một kho tàng quý báu những chi tiết liên quan đến
phần tâm linh (nāma, danh) Vi Diệu Pháp cũng đề cập đến
yếu tố thứ nhì cấu thành con người -- phần vật chất
(rūpa, sắc). Những thành phần căn bản của vật chất, những
năng lực vật chất, đặc tánh của vật chất, nguồn gốc
của vật chất, sự liên quan giữa cơ thể vật chất và tâm,
sắc và danh, đều được mô tả.
Trong
tập "Abhidhammattha Saṅgaha", Vi Diệu Pháp Toát Yếu, cũng có
trình bày vắn tắt Ðịnh Luật Tùy Thuộc Phát Sanh (cũng được
gọi là pháp Thập Nhị Nhân Duyên, hay Thập Nhị Duyên Khởi),
và tiếp theo sau là phần mô tả pháp Tương Quan Duyên Hệ
(những tương quan giữa nhân và quả), không tìm thấy trong
hệ thống triết học nào khác.
Nhà
vật lý học sẽ không đào bới sâu vào Vi Diệu Pháp để
thâu thập một kiến thức thấu đáo và đầy đủ về vật
lý học.
Ta
phải nói rõ rằng Vi Diệu Pháp không chủ trương trình bày
một kiến thức có hệ thống về tâm và vật chất. Pháp
nầy chỉ nghiên cứu hai yếu tố hổn hợp của cái được
gọi là chúng sanh, nhằm thấu triệt thực tướng của vạn
pháp. Dựa trên kiến thức ấy một triết học được phát
huy. Và, đặt nền tảng trên triết học nầy, một hệ thống
luân lý đạo đức được triển khai nhằm chứng ngộ mục
tiêu cứu cánh, Niết Bàn.
Cũng
như Bà Rhys Davids nói rất đúng,
"Vi
Diệu Pháp đề cập đến:
1.
Những gì ta tìm thấy (a) bên trong ta, (b) quanh ta, và
2.
Những gì ta khao khát thành đạt."
Trong
Vi Diệu Pháp tất cả những vấn đề nào chỉ liên quan đến
các học giả và những nhà khảo cứu mà không liên quan đến
sự Giải Thoát, đều được thận trọng gác qua một bên.
Tập
"Abhidhammattha Saṅgaha", mà tác giả được xem là Ngài Anuruddha
Thera, một vị tỳ khưu người Ấn ở Kanjevaram (Kañcipura),
là bản toát yếu tóm lược Tạng Diệu Pháp (Abhidhamma Piṭaka,
thường được gọi là Tạng Luận). Ðến nay sách nầy vẫn
còn là bộ sách nhập môn Vi Diệu Pháp thích ứng nhất mà
khi đã vững vàng thấu hiểu, ta có thể dễ dàng lãnh hội
những nét đại cương của Tạng Luận.
Ðể
thật sự nắm vững ý nghĩa của Tạng Luận phải đọc đi
đọc lại nhiều lần, đọc một cách chuyên chú và sáng suốt
tất cả bảy bộ, cùng với những chú giải và những chú
giải của các chú giải ấy.
Vi
Diệu Pháp không phải là một đề tài chỉ thỏa mãn tạm
thời người đọc thoáng qua.
Ðối
với người minh mẫn sáng suốt thật sự muốn tìm chân lý,
Vi Diệu Pháp là một hướng dẫn thiết yếu, vừa là một
luận giải có tánh cách trí thức. Ở đây có thức ăn để
bồi dưỡng tinh thần các tư tưởng gia chân chánh cũng như
người hăng say nghiên cứu học hỏi nhằm tăng trưởng trí
tuệ và sống cuộc sống lý tưởng của người Phật tử.
Tuy
nhiên, đối với người nông cạn chỉ nhìn thoáng qua trên
bề mặt, Vi Diệu Pháp quả thật khô khan như cát, như bụi.
Ta
có thể nêu lên câu hỏi:
"Vi
Diệu Pháp có quả thật tuyệt đối thiết yếu để chứng
ngộ Niết Bàn, mục tiêu cứu cánh của Phật Giáo không? Vi
Diệu Pháp có thật sự tuyệt đối thiết yếu để thấu
đạt thực tướng của vạn pháp không?"
Vi
Diệu Pháp chắc chắn là vô cùng hữu ích để thấu đạt
giáo huấn của Ðức Phật một cách đầy đủ và chứng ngộ
Niết Bàn, vì pháp nầy là chìa khóa để mở cửa vào thực
tại. Pháp nầy đề cập đến những thực tại và lối sống
thực tiễn cao thượng dựa trên sự chứng nghiệm của các
bậc đã thấu triệt và chứng đắc.
Thiếu
kiến thức về Vi Diệu Pháp đôi khi ta thấy khó lãnh hội
ý nghĩa thật sự của một vài giáo huấn thâm diệu của
Ðức Thế Tôn. Abhidhamma, Vi Diệu Pháp, chắc chắn rất hữu
ích để khai triển Tuệ Minh Sát (Vipassanā).
Tuy
nhiên chúng ta không thể khẳng định một cách quả quyết
rằng Vi Diệu Pháp tuyệt đối thiết yếu để thành tựu
Giải Thoát.
Hiểu
biết thấu đáo và chứng ngộ là vấn đề thuần túy cá
nhân (sandiṭṭhika, mỗi cá nhân phải thấu triệt chân lý
và thành tựu giải thoát cho chính mình). Tứ Diệu Ðế, nền
tảng của giáo huấn mà Ðức Phật ban truyền, tùy thuộc
nơi tấm thân nhỏ bé nầy. Giáo Pháp không riêng biệt với
ta, không ở ngoài ta. Hãy nhìn trở vào trong. Hãy tự tìm lấy
ta. Chân lý sẽ tự nó bày trần, trải ra trước mắt ta.
Phải
chăng thiếu phụ Paṭācārā, vô cùng sầu lụy vì mất tất
cả những người thân yêu nhất trong đời, đã chứng ngộ
Niết Bàn trong khi rửa chân dưới suối, nhờ quán niệm về
những giọt nước từ chân rơi xuống gieo điểm trên mặt
nước rồi tan biến theo dòng?
Phải
chăng Cūlapanthaka, người không thể học thuộc một câu kinh
trong thời gian bốn tháng trường đã thành tựu Ðạo Quả
A La Hán nhờ thấu hiểu bản chất vô thường của một cái
khăn tay sạch mà mỗi ngày ông đưa lên ngay mặt trời để
nhìn?
Phải
chăng Upatissa, về sau trở thành Ðức Sāriputta, Xá Lợi Phất,
đã chứng đắc Niết Bàn khi chỉ nghe được phân nửa câu
kệ liên quan đến nhân và quả?
Ðối
với vài người, chỉ một chiếc lá vàng rơi cũng đủ để
chứng đắc Ðộc Giác Phật.
Ðối
với những vị thường xuyên suy gẫm sâu xa, một chỉ dẫn
nhẹ nhàng thoáng qua cũng đủ để khám phá những chân lý
vĩ đại.
Theo
một vài học giả, Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) không phải do Ðức
Phật truyền dạy mà về sau, do các nhà sư uyên bác soạn
thảo và trau chuốt. Tuy nhiên, theo truyền thống, chính Ðức
Phật giảng dạy phần nòng cốt của Vi Diệu Pháp.
Các
nhà chú giải ghi nhận rằng để tỏ lòng tri ân từ mẫu
-- lúc bấy giờ đã qua đời và tái sanh vào một cảnh trời
-- Ðức Phật thuyết giảng liên tiếp suốt ba tháng cho vị
Trời mà trước kia là mẹ Ngài cùng với chư Thiên khác. Ðức
Thế Tôn dạy Ngài Sāriputta những chủ đề chánh yếu (mātikā)
của giáo lý cao siêu cấp tiến như các thiện pháp (kusalā
dhamma), bất thiện pháp (akusalā dhammā) và bất định pháp
(abyākata) v.v... rồi Ngài Sāriputta giảng rộng ra, gom lại
thành sáu bộ sách của Tạng Luận (ngoại trừ bộ Kathāvatthu,
Thuyết Sự, những điểm tranh luận).
Rất
khó mà tìm được một danh từ thích nghi để phiên dịch
một cách chính xác Phạn ngữ "Abhidhamma". Ở đây xin tạm
dịch là "Vi Diệu Pháp".
Trong
Vi Diệu Pháp cũng có nhiều danh từ kỹ thuật không thể được
phiên dịch sang một từ ngữ khác mà khỏi làm sai lệch ý
nghĩa. Vài danh từ như tâm, ý chí, tác ý, trí thức, tri giác
v.v... được dùng trong triết học Tây Phương với những ý
nghĩa đặc biệt. Nơi đây xin quý vị đọc giả cố gắng
hiểu các danh từ kỹ thuật ấy theo nghĩa của Vi Diệu Pháp
(Abhidhamma). Ðể tránh hiểu lầm từ ngữ theo lối hiểu biết
quen thuộc từ xưa, các danh từ Pāli được giải thích và
giữ lại dùng ở đây, mặc dầu người không quen thuộc với
Pāli đôi khi thấy phiền phức. Trong nhiều trường hợp các
danh từ Pāli được chiết tự và giải thích theo ngữ nguyên
để được hiểu rõ ràng và chính xác.
Ðôi
khi danh từ Pāli được chọn dùng luôn mà không phiên dịch
để người đọc quen thuộc với những chữ ấy. Cũng có
khi người đọc gặp những danh từ không được thông dụng
như hoặc lậu, tâm hành, tâm quả v.v... nhưng rất quan trọng
trên phương diện Vi Diệu Pháp, ý nghĩa của những danh từ
nầy phải được thông suốt rõ ràng và chính xác.
Trong
khi soạn thảo bản dịch nầy, hai quyển "Buddhist Psychology"
của Bà Rhys Davids và "Compendium of Philosophy" của Ông Shwe Zan
Aung quả thật vô cùng hữu ích. Mỗi khi cần, những đoạn
trong hai quyển sách nầy được trích dẫn và đăng nguyên
văn cùng với lời ghi chú về xuất xứ của nó.
Tôi
chân thành tri ân hội Buddhist Publication Society đã tình nguyện
ấn hành bản duyệt lại lần thứ nhì nầy.
Nārada
14-07-1978/
2522
http://www.budsas.org/