Kinh
Lăng Nghiêm Là Kinh Ngụy Tạo Chăng?
Kinh
Lăng Nghiêm: Ðại Biểu Của Chánh Pháp
Khai
tuệ có Lăng Nghiêm
Trung
Thiên Trúc Sa Môn Bát Lặc Mật Ðế dịch
Thấm
Nhuần Nghĩa Lý Kinh Ðiển
Kinh
Lăng Nghiêm Tuyệt Ðối Là Bộ Chơn Kinh
Trì
Chú Trước Tiên Phải Chánh Tâm Thành Ý
Quy
Mạng Chú Lăng Nghiêm Trên Ðảnh Phật
Nâng
Cao Tiêu Chuẩn Hàng Tăng Sĩ, Tích Cực Xiển Dương Kinh Lăng
Nghiêm
Bốn
Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh Tịnh Chân Thật, Bất Hư
Năm
Mươi Thứ Ấm Ma Trong Kinh Lăng Nghiêm
Lăng
Nghiêm Ðại Ðịnh
Chúng
Sanh Biệt Nghiệp Vọng Kiến Và Ðồng Phận Vọng Kiến
Chương
Ðại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông
Kinh
Lăng Nghiêm Là Kinh Ngụy Tạo Chăng?
Ðại
sư Hám Sơn từng nói hai câu như sau: "Chẳng đọc Pháp Hoa
thì chẳng hiểu khổ tâm cứu đời của Như Lai; chẳng đọc
Lăng Nghiêm thì không nắm được then chốt về mê hay ngộ
của tu tâm". Ðích xác là như vậy, bởi Kinh Lăng Nghiêm bao
gồm hết thảy các pháp, nhiếp thọ hết mọi căn cơ, là
pháp môn tinh tủy của các đời, là ấn chứng chính đề
thành Phật và làm Tổ. Vì lẽ đó, người tu thiền bắt buộc
phải nghiên cứu kỹ lưỡng bộ Kinh này, và hiểu thấu cảnh
giới "năm mươi loại ấm ma" đặng tránh khỏi sa vào vòng
của Ma vương. Nếu không vậy, không có sự nhận thức cho
rõ ràng, thì bạ cảnh giới nào gặp phải cũng sanh tâm chấp
trước, hành giả sẽ dễ nhập vào ma cảnh, thành kẻ quyến
thuộc của ma vương. Ðó là một điều cực kỳ nguy hiểm!
Chẳng
riêng Chú Lăng Nghiêm phải thuộc lòng, mà Kinh Lăng Nghiêm
thiền giả cũng phải thuộc nữa. Người ta nói "thuộc sẽ
nẩy cái hay", thời cơ tới sẽ có nhiều lợi ích, sẽ có
sự cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn. Hễ người nào nghiên cứu
văn học Trung quốc, tất phải đọc Kinh Lăng Nghiêm, văn từ
thì ưu mỹ, nghĩa lý phong phú, tóm lại là một bộ Kinh lý
tưởng.
Có
một số tự cho mình là học giả có hạng, chưa hề nghiên
cứu sâu rộng về Ðạo Phật, đã tự nhận mình là chuyên
gia Phật học, tự nhận mình có đủ uy tín mà sự thực không
hiểu Phật giáo cho đến ngành ngọn, khinh xuất cho rằng Kinh
Lăng Nghiêm là một kinh ngụy tạo. Từ đó lại có một số,
có dụng ý khác, ùa theo phụ họa. Ðúng là kẻ mù dắt kẻ
mù, thật đáng thương xót!
Tại
sao người ta bảo Kinh Lăng Nghiêm chẳng phải do đức Phật
Thích Ca thuyết giảng? Chẳng qua vì nghĩa lý trong bộ Kinh
rất ư chân thật. Kinh đã nêu ra cho kỳ hết các căn bệnh
của thế gian, bởi đó mà các loài yêu ma quỷ quái, các loài
quỷ trâu, quỷ rắn, không còn cách nào hoành hành, phải hiện
rõ nguyên hình của chúng. Từ đó chúng tìm mọi cách để
phá, chúng phải tuyên truyền Kinh Lăng Nghiêm là kinh ngụy,
thì chúng mới có cơ để sinh tồn. Nếu như thừa nhận đây
là lời Phật thuyết pháp thì đối với chúng là không xong.
Trước hết chúng không giữ được "Lời dạy về bốn loại
thanh tịnh", thứ hai chúng không tu tập được các "Pháp viên
thông của hai mươi lăm bậc thánh", thứ ba chúng không dám
đối diện với các cảnh giới của "Năm chục loại ấm ma".
Nếu
như ai ai cũng đọc Kinh Lăng Nghiêm, cũng hiểu rõ Kinh Lăng
Nghiêm, thần thông của hàng ngoại đạo sẽ hết linh ứng,
thành ra vô dụng khiến cho không ai còn tin vào thần thông
của họ nữa. Ðó là lý do bọn thiên ma ngoại đạo chỉ
còn tìm cách dèm pha, tuyên truyền, bảo Kinh Lăng Nghiêm là
kinh ngụy.
Chẳng
cứ chỉ những người tại gia phỉ báng Lăng Nghiêm là Kinh
giả, ngay cả những kẻ xuất gia cũng bắt chước nói theo.
Tại sao vậy? Bởi vì có một số xuất gia ít học, có khi
không thông chữ nghĩa, không xem được Kinh điển, trong khi
đó văn Kinh Lăng Nghiêm lại thâm thúy, ý nghĩa huyền diệu,
khiến họ không hiểu được nên không làm sao phân biệt được
chân giả. Ðến khi nghe người ta bảo Kinh này là giả, Kinh
kia là ngụy, thì họ đâu có suy xét gì, người ta nói sao
thì nhắc lại y hệt. Tự nhiên Kinh Lăng Nghiêm bị lãnh tiếng
oan là vì lẽ đó.
Lúc
xưa tại Ấn Ðộ, Kinh Lăng Nghiêm được liệt vào hàng quốc
bảo và có lệnh cấm không cho mang những thứ quý ra ngoại
quốc. Những ai xuất cảnh đều bị khám xét gắt gao và,
để phòng Kinh lọt ra ngoài, các nhân viên hải quan thường
đặc biệt chú ý đối với các Tăng xuất cảnh.
Hồi
đó tại Ấn độ - bên Trung quốc lúc đó là đời Ðường
- một vị cao tăng pháp danh là Ban Thích Mật Ðế (Paramiti)
đã khổ công tìm mọi cách để mang Kinh Lăng Nghiêm qua Trung
quốc. Sợ bị phát hiện tại trạm kiểm soát, ông phải nghĩ
ra cách giấu giếm, nhét Kinh vào sâu trong cánh tay và sau cùng
ông đã đổ lên bộ tại địa phận Quảng Châu. Lúc đó
là thời gian Tể tướng Phòng Dung bị Võ Tắc Thiên giáng
chức xuống làm Thái Thú Quảng Châu. Ban Thích Mật Ðế được
Phòng Dung mời tới để phiên dịch bộ Kinh này và chính Phòng
Dung là người nhuận sắc cho bản dịch. Bởi vậy Kinh Lăng
Nghiêm biến thành một tác phẩm văn học có giá trị, rồi
sau đó trình lên cho Võ Tắc Thiên. Thời bấy giờ đương
có tin đồn Kinh Ðại Vân là kinh ngụy tạo nên Hoàng Ðế
Võ Tắc Thiên không cho Kinh này được lưu hành.
Ðến
khi Thiền sư Thần Tú được phong làm Quốc sư rồi được
cúng dường ở trong hoàng cung, một hôm Thiền sư thấy được
bộ Kinh này, thấy Kinh rất có lợi cho những hành giả tu
thiền, mới cho Kinh này được phổ biến. Từ đó Kinh Lăng
Nghiêm mới được lưu hành ở Trung quốc. Căn cứ theo truyền
thuyết, Kinh Lăng Nghiêm là Kinh tối hậu truyền đến Trung
quốc, nhưng cũng là Kinh bị hủy diệt đầu tiên vào thời
Mạt Pháp, sau mới đến các Kinh khác, sau rốt còn lại một
Kinh A-Di Ðà.
Ghi
chú: Thượng nhân Tuyên công chủ trương dứt khoát rằng Kinh
Lăng Nghiệm chính là tâm ấn của chư Phật, điều này ngàn
vạn lần đích xác. Bởi vậy ngay sau khi đặt chân tới Mỹ,
Tuyên công liền giảng Kinh Lăng Nghiêm. Tại sao vậy? Phật
Pháp truyền bá tới đất Mỹ, thì Mạt Pháp sẽ biến thành
Chánh Pháp, và đó là tâm cơ của Thượng nhân trong sứ mạng
nối tiếp huệ mạng Phật. Bài "Lăng Nghiêm Kinh Thiển Giảng"
sẽ được đưa đăng từng kỳ trong tạp chí Vạn Phật Thành
Kim Cương Bồ Ðề Hải, bằng tiếng Hoa và tiếng Anh. Nay xin
thông báo cùng quý bạn độc giả.
Trích
Khai Thị 5
Kinh
Lăng Nghiêm:
Ðại
Biểu Của Chánh Pháp
Tất
cả kinh điển trong Phật Giáo đều rất quan trọng, nhất
là Kinh Lăng Nghiêm. Ở đâu có Kinh Lăng Nghiêm, ở đó có
Chánh Pháp trụ thế. Kinh Lăng Nghiêm không còn, thời Mạt
Pháp liền hiện tiền. Kinh Lăng Nghiêm là chân thân Phật,
Kinh Lăng Nghiêm là xá lợi Phật, Kinh Lăng Nghiêm là tháp thờ
Phật; do đó, tất cả tín đồ Phật Giáo cần phải đem hết
sức lực, khả năng của mình để ủng hộ, giữ gìn bộ
Kinh Lăng Nghiêm này.
Kinh
Pháp Diệt Tận nói: "Thời Mạt Pháp, Kinh Lăng Nghiêm diệt
trước, các kinh điển khác dần dần diệt sau."
Nếu
Kinh Lăng Nghiêm không bị diệt, thì Chánh Pháp sẽ hiện tiền.
Vì thế, chúng ta là Phật tử, cần phải dùng sanh mạng của
chính mình để hộ trì Kinh Lăng Nghiêm, đem hết sức lực
và khả năng của mình ra để hộ trì Kinh Lăng Nghiêm, lập
hạnh nguyện hộ trì Kinh Lăng Nghiêm, khiến cho Kinh Lăng Nghiêm
vĩnh viễn trụ thế, phát dương rộng lớn, lưu thông trong
từng mỗi hạt vi trần, lưu thông cho đến mọi nơi trên thế
giới, tận hư không biến Pháp Giới. Ðược như vậy, hào
quang của Chánh Pháp sẽ soi sáng khắp nơi.
Tại
sao Kinh Lăng Nghiêm bị diệt trước? Vì kinh này giảng đạo
lý rất chân thực, thiên ma ngoại đạo không chịu nổi, cho
nên chúng dùng đủ cách để phá hoại, tiêu diệt. Ðầu tiên,
chúng tạo ra lời đồn xuyên tạc, nói rằng Kinh Lăng Nghiêm
không phải từ kim khẩu Phật thuyết ra, mà là do người đời
sau ngụy tạo. Ðó là cách nói hàm hồ xuyên tạc của ngoại
đạo, dùng những thủ đoạn xấu xa, cố ý phá hoại "chân
kinh."
Nội
dung của Kinh Lăng Nghiêm là thuyết minh Bốn điều thanh tịnh
minh hối, Năm mươi cảnh giới ấm ma, và lời thuật lại
của hai mươi lăm bậc Thánh về sự tu hành viên thông của
mình. Toàn thể bộ kinh có thể ví như tấm "kính chiếu yêu,"
khiến cho yêu ma quỷ quái, bàng môn ngoại đạo, đều phải
hiện nguyên hình, không chỗ ẩn núp. Cho nên, chúng ta không
nên tin tưởng vào những lời xuyên tạc, đồn đãi rằng
Kinh Lăng Nghiêm là "ngụy kinh."
Mấy
năm gần đây, có một số học giả vô trí và giáo đồ ngu
xuẩn, không nhận thức được Phật Giáo, không hiểu rõ Phật
Học, mà dám đặt điều nói càn, ngông cuồng chỉ trích lời
dạy của bậc Thánh nhân. Những người vô trí vô thức này
vì không có trí huệ để phân biệt được chân ngụy, nghe
người ta nói sao thì nói hùa theo như vậy, chỉ biết "vẽ
đường cho giặc chạy," cổ võ người khác làm điều xấu,
nên mới lộng ngôn nói rằng Kinh Lăng Nghiêm không phải là
lời Phật thuyết!
Người
học Phật Pháp không những cần phải hiểu rõ sâu sắc các
đạo lý hàm chứa trong Kinh Lăng Nghiêm để làm cho Chánh Pháp
được trụ thế lâu dài và tà pháp phải vĩnh viễn biệt
tăm, mà còn phải đề xướng Kinh Lăng Nghiêm—khắp chốn
đều xiển dương Kinh Lăng Nghiêm, khắp nơi đều giảng thuyết
Kinh Lăng Nghiêm, và khắp mọi chỗ đều hộ trì Kinh Lăng
Nghiêm. Người tín đồ Phật Giáo cần phải tận tâm tận
lực đối với trách nhiệm này.
Hôm
nay tôi bảo đảm với quý vị một điều: bảo đảm rằng
Kinh Lăng Nghiêm đích thật là "chân kinh"! Nếu Kinh Lăng Nghiêm
là "ngụy kinh," thì tôi nguyện đọa địa ngục vì mình đã
không nhận thức được Phật Giáo, "lấy giả làm chân," cho
nên cam tâm tình nguyện nhận chịu quả báo. Chính vì Kinh
Lăng Nghiêm là "chân kinh" cho nên tôi mới phát nguyện đời
đời kiếp kiếp hoằng dương Ðại Pháp Lăng Nghiêm, tuyên
giảng chân lý Lăng Nghiêm.
Quý
vị hãy thử nghĩ: Kinh Lăng Nghiêm nếu không phải do Phật
tuyên thuyết, thì ai mà có thể thuyết ra diệu pháp chân chánh
như vậy? Tôi cầu mong những người phê bình Kinh Lăng Nghiêm
là ngụy kinh sẽ mau mau sám hối, sửa đổi lỗi lầm, nếu
không, nhất định sẽ bị đọa vào địa ngục cắt lưỡi!
Tôi
cầu nguyện cho những người tụng niệm Kinh Lăng Nghiêm, người
giảng Kinh Lăng Nghiêm, người tuyên dương Kinh Lăng Nghiêm,
người lưu thông Kinh Lăng Nghiêm, tất cả đều được sớm
thành Phật Ðạo. Nguyên nhân quan trọng là đạo lý mà Kinh
Lăng Nghiêm thuyết giảng thì vừa chính xác lại vừa hợp
lý, có thể khiến cho yêu ma quỷ quái và bàng môn tả đạo
không chỗ ẩn mình; đồng thời có thể làm cho người Phật
tử có được lòng tin chân chánh, giữ gìn chánh niệm, kiên
trì ủng hộ Chánh Pháp.
Khai
tuệ có Lăng Nghiêm
Nam
Mô Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam
Mô Kim Cang Tạng Bồ Tát
Nam
Mô Ðại Thế Chí Bồ Tát
Ðại
Phật Ðảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh, bảy chữ này là tựa
đề của kinh. Ðại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông
Chương là tựa đề của một chương trong bộ kinh ấy. Hôm
nay vì thời gian có hạn cho nên tôi không giải thích tựa
Kinh Lăng Nghiêm. Chỉ đơn thuần giải thích tựa kinh cũng
đòi hỏi rất nhiều thời giờ, vì vậy tôi chỉ giảng sơ
lược mà thôi.
Bộ
Kinh Lăng Nghiêm này gồm có Chú Lăng Nghiêm. Hai chữ "Lăng
Nghiêm" có nghĩa là "Cứu cánh kiên cố." Tại Trung Quốc bộ
kinh này có tầm quan trọng đặc biệt, nên có câu:
Thành
Phật có Pháp Hoa
Khai
tuệ có Lăng Nghiêm
Tôi
rất hoan hỷ giảng Kinh Lăng Nghiêm và Kinh Pháp Hoa,
vì hai bộ kinh này giúp khai mở trí tuệ và giúp thành Phật.
Chẳng những tôi hoan hỷ mà còn mong muốn mỗi Phật tử đều
nghiên
cứu để am tường đạo lý trong Kinh, đặc biệt là Kinh Lăng
Nghiêm.
Nói
đến Kinh Lăng Nghiêm, tôi nhớ tại Trung Qưốc có một vị
Trí Giả Ðại Sư bình sanh chỉ nghe tên bộ Kinh này là liền
ao ước được trì tụng. Hằng ngày, Ngài hướng về Ấn
Ðộ rập đầu lễ bái, hy vọng có thể thấy tận mắt bộ
kinh này. Ngài lễ bái suốt mười tám năm mà vẫn chưa thấy
được bộ kinh. Trí tuệ của Trí Giả Ðại Sư rất vượt
bực, và biện tài của Ngài rất là vô ngại, nhưng Ngài vẫn
hết sức thành kính lễ bái bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm. Như
vậy đủ chứng tỏ tầm quan trọng của bộ Kinh này.
Kinh
Lăng Nghiêm còn lưu hành trên thế gian, thì thiên ma ngoại
đạo đều không dám xuất hiện. Bất hạnh thay, vào thời
Mạt-pháp Kinh Lăng Nghiêm sẽ là bộ kinh bị mất trước tiên.
Một khi bộ Kinh Lăng Nghiêm này không còn trên thế gian nữa,
thiên ma ngoại đạo sẽ mặc sức lộng hành.
Thậm
chí hiện nay có một số người tự xưng là chuyên gia về
Phật học mạo nhận là học giả từng nghiên cứu Phật-pháp,
hoặc là giáo sư khoa học Phật học của một trường đại
học nào đó, và công nhiên đề xướng rằng Kinh Lăng Nghiêm
là giả, do người Trung Quốc ngụy tạo. Quý vị hãy nghĩ
xem tuy rằng có rất nhiều thánh nhơn xuất hiện ở Trung Quốc
nhưng tôi tin chắc rằng sẽ chẳng bao giờ tìm thấy được
vị thánh nhân đã tạo ra Kinh Lăng Nghiêm đó. Cho nên tôi
tuyệt đối tin rằng bộ Kinh Lăng Nghiêm này là thật, là
chính xác, và là một bộ kinh khả dĩ hàng phục thiên ma,
chế ngự ngoại đạo. Vì trong Chú Lăng Nghiêm toàn là những
câu thần chú dùng để hàng phục thiên ma, chế ngự ngoại
đạo. Từ câu chú đầu tiên đến câu chú cuối cùng, mỗi
câu đều có một sự diệu dụng và uy lực bất khả tư nghì
của nó. Cho nên, Phật vì Chú Lăng Nghiêm mà thuyết Kinh Lăng
Nghiêm.
Trước
kia, tại Hương Cảng, có người đã phiên dịch Kinh Lăng Nghiêm
ra Anh văn, nhưng lại xén bỏ đoạn Kinh văn về nghi quy thiết
lập "Lăng Nghiêm Ðàn," ngay cả Chú Lăng Nghiêm cũng bị loại
bỏ. Vị dịch giả ấy nói rằng người Tây phương chẳng
ai tin Chú Lăng Nghiêm và cũng chẳng ai tụng Chú này, bởi
họ cho rằng Chú là những gì mê tín và không tin ở công
dụng của Chú. Cho nên trong bản dịch Anh ngữ ấy không có
đoạn nói về cách "thiết đàn" và cách tu trì "Lăng Nghiêm
Ðại Pháp."
Từ
khi tôi đến các quốc gia Tây phương, nhất là qua kinh nghiệm
bản thân ở Mỹ, tôi nhận thấy rất nhiều người Tây phương
thích trì tụng Chú Lăng Nghiêm, và chẳng những hoan hỷ trì
tụng mà còn học thuộc lòng nữa.
Tại
Kim Sơn Thánh Tự tôi có một đệ tử vào hai thời công phu
sáng tối đều cùng chúng tôi trì tụng Chú Lăng Nghiêm và
chỉ tụng mỗi ngày hai thời như thế mà trong hai mươi sáu
ngày là y đã thuộc lòng Chú Lăng Nghiêm!
Tại
Mỹ Quốc môn học tôi đưa ra khảo hạch trước tiên là khi
học thuộc lòng Chú Lăng Nghiêm; ai trả bài thông suốt thì
đậu; ai không thuộc thì tạm thời bị đánh rớt. Ðó là
quy định của khóa tu mùa hè năm 1968. Bấy giờ, có một người
học thuộc trong hai mươi sáu ngày, và có một người trong
hai mươi tám ngày. Cho nên hiện nay có rất nhiều Phật giáo
đồ Tây phương biết đến Chú Lăng Nghiêm.
Quý
Phật tử hãy nghĩ xem, vì sao những kẻ mạo nhận là chuyên
gia Phật học, những kẻ tự xưng là học giả, hoặc khoe
khoang mình là giáo sư của trường đại học nào đó, lại
chủ trương Kinh Lăng Nghiêm là giả? Chỉ vì những gì nói
trong Kinh Lăng Nghiêm đều có đề cập đến khuyết điểm
cùng những sai lầm của họ. Như trong Kinh có dạy rõ rằng:
"Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối" (bốn điều răn dạy về tánh
thanh tịnh), là không được phỉ báng. Những kẻ này chẳng
muốn dứt bỏ khuyết điểm của họ nên mới chủ trương
Kinh Lăng Nghiêm là do người Trung Quốc tạo ra.
Vậy,
ban đầu do ai chủ trương như thế? Là do người Nhật. Thế
người Nhật nói là ai nói với họ? Truy nguyên ra là một
vị Pháp-sư Trung Quốc đã mách họ, bảo rằng Kinh Lăng Nghiêm
là giả. Tôi chẳng rõ vị Pháp-sư này có hiểu Kinh Lăng Nghiêm
chăng? Tôi không cần phải nêu danh tánh vị Pháp-sư này ra
vì chuyện đã xưa rồi. Như vậy, do "cái sai loan truyền cái
sai" mà nói rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả.
Việc
này đủ chứng minh rằng Phật-pháp đang suy tàn, là do người
trong hàng ngũ Phật giáo tạo ra tin đồn này, từng bước
từng bước khiến cho người ta sinh ra hoài nghi, rồi dần
dần không tin nữa. Vì hồ nghi không tin nên bộ Kinh này được
xếp cất trên gác cao. Xếp lên xó gác thì chẳng khác gì
hủy diệt. Vì chẳng còn ai nghiên cứu hoặc quan tâm đến
nữa, thì lâu dần Kinh tất bị hủy diệt. Chẳng phải vì
Kinh không có chữ, hoặc vì khan hiếm giấy, mà là vì dần
dà người ta quên hẳn nó đi.
Vì
sao có người đề xướng Kinh Lăng Nghiêm là giả? Chỉ vì
họ không muốn tuân theo quy củ. Trong Kinh nói rằng 50 ấm
ma có vô số phép thần thông song đều không đáng kể. Bởi
vậy khi họ có đôi chút thần thông, thì họ cho là nếu có
thần thông thì cũng bị xem là giả thôi. Cho nên những kẻ
mưu cầu thần thông đều không thích kinh này.
Tôi
nghe nói hiện nay tại Nhật Bản có một vị có thần thông,
dùng tay chỉ ngọn nến thì ngọn nến bốc cháy, không hiểu
có đúng như vậy hay không? Ngày 14 sắp tới tôi sẽ đi Nhật
Bản và có thể sẽ viếng thăm vị này. Từ lâu ông ta hy
vọng được gặp tôi. Lần này gặp mặt chúng tôi có thể
cùng nhau trao đổi ý kiến.
Tầm
quan trọng của Kinh Lăng Nghiêm và Chú Lăng Nghiêm không thể
nào nói cho hết được, và tương lai cũng không nói hết được
sự diệu dụng, cho nên nói rằng bất khả tư nghì.
Hôm
nay tôi thành thật trình bày với quý vị tầm mức diệu dụng
của Chú Lăng Nghiêm này.
Khi
xưa lúc tôi ở tại Ðông Bắc, mỗi khi gặp người có bệnh
tôi nhất định làm cho họ lành bịnh. Tôi lấy oai lực gì
làm cho họ khỏi bịnh. Ðó là oai lực của Chú Lăng Nghiêm.
Trong
Chú Lăng Nghiêm có tất cả năm bộ:
Ðông
Phương có:
A Súc
Phật - Kim Cang Bộ
Nam Phương
có:
Bảo
Sinh Phật - Bảo Sanh Bộ
Trung
Ương có:
Tỳ Lô
Giá Na Phật - Phật Bộ
Tây Phương
có:
A Di Ðà
Phật - Liên Hoa Bộ
Bắc
Phương có:
Thành
Tựu Phật - Yết Ma Bộ
Phương
Ðông có A Súc Phật, A Súc Phật tức là Kim Cang Bộ; Phương
Nam có Bảo Sanh Phật, tức là Bảo Sanh Bộ; Trung Ương là
Phật Bộ; Phương Bắc là Yết Ma Bộ; tất cả gồm năm bộ.
Năm bộ này cai quản năm đại ma quân ở năm phương trên
thế giới, cho nên khi trì tụng Chú Lăng Nghiêm thì năm đại
ma quân có năm phương đều cúi đầu phủ phục, không dám
cưỡng lại oai lực của Chú Lăng Nghiêm.
Công
năng của Chú Lăng Nghiêm gồm có:
1.
Tức tai Pháp
2.
Hàng phục Pháp
3.
Tăng ích Pháp
4.
Thành tựu Pháp
5.
Câu triệu Pháp.
1.
Tức tai Pháp
(Pháp giải trừ tai ương). Một khi chúng ta
trì Chú lăng Nghiêm thì hết thảy tai ương đều được giải
trừ.
2.
Hàng phục Pháp (Pháp làm cho hàng phục). Bất luận đối
phương là thứ thiên ma ngoại đạo gì chăng nữa, một khi
chúng ta trì Chú Lăng Nghiêm thì pháp lực của chúng ma liền
bị phá vỡ, chúng sẽ bị hàng phục dễ dàng.
3.
Tăng ích Pháp (Pháp giúp tăng trưởng lợi ích). Thí dụ
chúng ta tu đạo, Chú Lăng Nghiêm sẽ giúp chúng ta tăng trưởng
trí tuệ, tăng trưởng bồ đề tâm, tăng trưởng nguyện lựcỦmọi
thứ đều tăng trưởng. Ðó là pháp làm gia tăng sự lợi
ích.
4.
Thành tựu Pháp (Pháp giúp cho được thành tựu). Chúng
ta trì Chú Lăng Nghiêm, thì bất luận chúng ta tu pháp môn gì,
chú này cũng sẽ giúp chúng ta được thành tựu.
5.
Lại còn một loại nữa là Câu triệu Pháp (Pháp thâu
tóm về). Pháp này có thể dùng khi chúng ta gặp thiên ma ngoại
đạo và muốn bắt chúng, cũng như trên thế gian cảnh sát
bắt kẻ phạm tội vậy. Bất luận là thiên ma hay ngoại đạo,
nếu chúng ta muốn bắt giữ chúng thì hết thảy Hộ Pháp
Thiện Thần, Thiên Long Bát Bộ, và tám muôn bốn ngàn Kim Cang
Tạng Bồ Tát tức khắc bắt giữ chúng. Ðó là Câu Triệu
Pháp.
Chú
Lăng Nghiêm gồm năm hội, và được phân ra trên ba mươi bộ
pháp. Lúc tôi ở Ðông Bắc tôi nhờ vào công lực của Chú
Lăng Nghiêm để trị bịnh. Nhưng chẳng phải ai ai cũng tùy
tiện sử dụng Chú Lăng Nghiêm được, nếu có dùng chú này
chăng nữa thì cũng không sử dụng được toàn bộ, vì chú
này bao gồm trên ba mươi bộ pháp.
Khi
nghe tôi nói như vậy thì có một số giáo sư đại học ở
Mỹ không hiểu Phật-pháp nói rằng "A! Hóa ra Chú Lăng Nghiêm
là do nhiều bài chú nhỏ chắp nối lại mà thành!" Qúy Phật
tử nghĩ xem, đúng là làm trò cười cho thiên hạ! Chính họ
cũng chẳng hiểu ất giáp gì cả, nên mới lấy bộ óc chứa
đầy kiến thức khoa học của một giáo sư đại học mà
suy đoán tầm mức bất khả tư nghị của Chú Lăng Nghiêm.
Vì
sao tôi lại nhắc đến Chú Lăng Nghiêm? Vì Phật do Chú Lăng
Nghiêm mà thuyết Kinh Lăng Nghiêm. Nếu chẳng có Chú Lăng Nghiêm
thì căn bản chẳng có Kinh Lăng Nghiêm.
Do
đó vị phiên dịch Kinh Lăng Nghiêm sang Anh ngữ nói trên đã
bỏ Chú Lăng Nghiêm và cũng không dịch phần nghi quy kết đàn.
Như vậy, có thể nói rằng bản dịch Anh ngữ ấy chẳng khác
gì người mất đầu. Một người không có đầu thì còn chi
hữu dụng nữa? Cho nên người phiên dịch Kinh điển không
được tự mình phán đoán, không được dùng cái trí tuệ
hoặc cái tri kiến nông cạn, hạn hẹp của mình mà cắt câu
lấy nghĩa, tự tiện thêm bớt, làm sai lệch ý văn. Người
có thái độ như vậy đối với Kinh điển thì không thể
chấp nhận được.
Hiện
nay tại Kim Sơn Thánh Tự chúng ta đang thực hiện công tác
phiên dịch Kinh điển. Phàm những lời trong Kinh phải tuyệt
đối lưu giữ, không được "bỏ đầu xén chân." Lại cũng
không thể như vị giáo sư nào đó đã phiên dịch "lưỡng
túc tôn" đấng đầy đủ cả hai, nghĩa là phước huệ là
"đấng hai chân." Ông đã dịch: "Quy y Phật, đấng hai chân."
Dịch
như vậy không thể nói là chẳng đúng, tuy nhiên ít nhiều
cũng có lệch lạc không tương hợp với ý chính của Kinh.
Bởi vậy, tại Kim Sơn Thánh Tự chúng ta phải hết sức cẩn
thận trong công tác phiên dịch Kinh điển, không được tùy
tiện "thủ tiêu" bất cứ một đoạn nào trong Kinh. Hôm nay
giảng Kinh Lăng Nghiêm tôi nhân tiện trình bày cho quý Phật
tử rõ.
Trung
Thiên Trúc Sa Môn
Bát
Lặc Mật Ðế dịch
"Trung
Thiên Trúc" là một quốc gia tại Ấn Ðộ. Ấn Ðộ phân ra:
Ðông, Tây, Nam, Bắc và Trung Ấn. Trong mỗi khu lại có rất
nhiều quốc gia. Sa Môn Bát Lặc Mật Ðế là người xứ Trung
Thiên Trúc.
"Sa
Môn," Phạn ngữ dịch ra tiếng Trung Hoa là "Cần Tức," nghĩa
là chuyên cần tu giới, định, huệ, dập tắt tham, sân, si.
"Cần tu" là không giải đãi, không thối chuyển, thời thời
khắc khắc luôn tinh tấn dõng mãnh, cứ hướng về phía trước
bước tới, chẳng thối chuyển, không lười biếng. Không
lười biếng ở đây chẳng phải là chỉ một ngày không lười
biếng mà là bất cứ ngày nào cũng không lười biếng; chẳng
phải hôm nay tinh tấn, hôm sau giải đãi. Tinh tấn một ngày,
giải đãi mười ngày thì không kể là tinh tấn, phải tinh
tấn trọn đời, chuyên cần trì giới trọn đời.
Giới
là:
Không
làm điều ác
Làm
mọi điều thiện
Không
làm điều ác tức là làm mọi điều lành; nếu có thể làm
tất cả mọi điều lành tức là chẳng làm các điều ác.
Cho nên trì giới cần tinh nghiêm, "nghiêm tịnh tỳ ni, hoằng
phạm tam giới," phải lấy chính mình làm mẩu mực, tự mình
nêu gương tốt. Ðó mới là trì giới.
Lại
nữa phải tu định. Ðịnh là một thứ công phu của thiền
định. Thiền định cần tu luyện thường xuyên thì mới sanh
định. Do giới mà sanh định. Nếu quý vị muốn có định
thì việc trước tiên là phải trì giới. Nếu thiếu trì giới
tâm sẽ tán loạn, không thể nào có định được. Không có
định, cố nhiên sẽ không sanh tuệ. Cho nên do định mà phát
tuệ. Ðó gọi là Tam vô lậu học. Nếu mình cần mẫn tu giới
định tuệ thì sẽ siêu xuất tam giới. Diệt được tham sân
si thì chẳng bị đọa tam ác đạo.
Vì
sao từ vô lượng kiếp đến nay mà chúng ta vẫn không thành
Phật? Vẫn là chúng sanh? Vẫn đi ra vào mãi trong lục đạo
luân hồi? Chỉ vì tham sân si tam độc làm cho chúng ta say đến
mức mất hết giác ngộ. Chúng ta bị tham sân si tam độc làm
cho mê mê hồ hồ, điên điên đảo đảo khiến cho chúng ta
chẳng thể lội ngược dòng sanh tử, chỉ có cách thuận theo
dòng lục trần phàm phu. Từ vô lượng kiếp đến nay, chỉ
vì tham sân si nó che lấp cái ánh sáng tự tánh của chính
mình.
Tham,
tức là chẳng biết chán. Sân, là do tham mà chẳng được
nên nổi sân; chỉ vì tham chẳng biết chán nên khi chẳng được
gì cả bèn sanh sân hận. Sanh sân hận rồi, sau đó mới tiến
đến cảnh giới ngu si, đi vào con đường ngu si. Sân là ngọn
lửa vô minh, vô minh tức là có nóng giận. Một khi lửa vô
minh bùng cháy thì theo đó cơn sân bốc lên.
Vì
sao có vô minh? Chỉ vì tiền kiếp mình tạo tội quá nặng.
Do đó, tục ngữ có câu: "Lửa vô minh chẳng khác gì thần
hổ, đó là do nghiệp căn từ tiền kiếp." Lửa vô minh là
gốc rễ của nghiệp từ tiền kiếp.
Thế
nào gọi là ngu si? Người ngu si toàn khởi những vọng tưởng
ngông cuồng. Thí dụ con ếch muốn ăn thịt con ngỗng, đó
là ngu si bởi vì con ếch làm sao mà ăn ngỗng được? Lại
nữa, không đi học mà muốn có mảnh bằng tiến sĩ, mạo
nhận ta là học giả với phong độ của một tri thức, sống
có vẻ như ta là một tiến sĩ. Chẳng đi học gì cả mà muốn
có bằng tiến sĩ. Ðó mới là ngu si. Lại có người chẳng
hề mua vé số mà muốn trúng độc đắc, không vốn muốn
sinh lời, thì đó cũng là hạng người ngu si vậy. Không làm
ruộng, nhưng vào mùa thu trông thấy người ta gặt lúa thì
cũng muốn có thu hoạch hoa lợi như họ, đó là việc tuyệt
đối chẳng thể có được.
Cho
nên Ông Hồ Ðại Xuyên có làm bài thơ Huyễn Tưởng Thi diễn
tả ý nghĩ của người ngu si như sau:
Háo
hoa thường linh triều triều diễm,
Minh
nguyệt hà phương dạ dạ viên,
Ðại
địa hữu tuyền giai hóa tửu,
Trường
lâm vô thọ bất dao tiền.
"Háo
hoa thường linh triều triều diễm." Người tham sắc muốn
hoa ngày ngày tươi đẹp, chẳng bao giờ tàn. Cho nên họ ao
ước hoa luôn tươi thắm, thậm chí muốn vợ mình chẳng bao
giờ già, cứ trẻ đẹp mãi. Ðó là ý nghĩ của người tham
sắc.
Còn
người thích du ngoạn thì nghĩ gì? "Minh nguyệt hà phương
dạ dạ viên." Vào ngày rằm trăng tròn và sáng, qua rằm thì
trăng khuyết một ít và càng ngày càng khuyết nhiều hơn.
Người thích thưởng trăng bèn nghĩ rằng: "Nếu đêm nào trăng
cũng tròn như thế này thì hay biết mấy!"
Người
thích uống rượu, vì hiện nay rượu quá đắt, tốn kém nhiều,
bèn nghĩ rằng: "Ngày ngày mình uống rượu, phải chi tất
cả dòng suối trên mặt đất biến thành rượu, đến nơi
nào cũng có rượu uống, chẳng tốn tiền mua rượu mà vẫn
có thể say sưa. Như vậy thì hay biết mấy!" Khởi vọng tưởng
như thế thì thật là ngu muội.
Còn
người bị đồng tiền mê hoặc thì sao? Người này cũng khởi
vọng tưởng chẳng kém. Hắn nghĩ bụng: "Tiền! Hiện nay mình
phải làm lụng vất vả mới kiếm được tiền. Ước gì
tất cả cây trong rừng đều biến thành tiền, chỉ đến
lắc nhẹ là tiền rơi xuống tha hồ tiêu xài. Cây ở hai bên
lề đường cũng thế. Quả là tốt lắm ư!"
Quý
Phật tử nghĩ xem, trên đây là những thí dụ về vọng tưởng
ngu si, làm không được mà cũng cố nặn óc nghĩ ra. Như vậy
người sa môn thì sao? Người sa môn chẳng có tâm si mê vọng
tưởng, nhất tâm tu đạo. Sa Môn có bốn hạng:
1.
Thắng Ðạo Sa Môn - Bậc Sa Môn tu đạo chứng quả, gia
nhập hàng ngũ Thánh nhân, được gọi là "thắng đạo sa môn."
2.
Thuyết Ðạo Sa Môn - Bậc Sa Môn giảng kinh thuyết pháp,
giáo hóa chúng sanh, được gọi là "thuyết đạo sa môn.
3.
Hoạt Ðạo Sa Môn - Bậc Sa Môn lấy pháp làm lẽ sống,
lấy đạo làm lẽ sống. Trong Phật giáo hàng sa môn này có
thể tu đạo lại vừa phát bồ đề tâm.
4.
Ô Ðạo Sa Môn - Ô là dơ bẩn. Ðây là hạng Sa Môn chẳng
giữ giới luật, chẳng tu giới định huệ, Chẳng đoạn trừ
thâm sân si. Tuy cũng được gọi là sa môn, nhưng hàng sa môn
này nên sanh tâm hổ thẹn, cần tự vấn lương tâm.
"Bát
Lặc Mật Ðế," là tên vị dịch giả bằng Phạn ngữ, dịch
ra Hán Văn là "Cực Lượng," nghĩa là lượng của Ngài rất
lớn, có thể nói: Kiến thức của Ngài bao trùm cả trời
đất, tâm của Ngài trong sáng như mặt trời mặt trăng.
Lại
có thể nói tâm Ngài bao trùm hư không, lượng của Ngài trải
khắp thế giới nhiều như cát sông Hằng, cho nên gọi là
cực lượng.
Vị
Sa môn này rất thông minh, có trí tuệ. Ngài mang "Kinh Lăng
Nghiêm" truyền sang Trung Quốc. "Kinh Lăng Nghiêm" vốn chẳng
dễ gì truyền ra nước ngoài. Lần đầu tiên Ngài có ý định
mang bộ Kinh này sang Trung Quốc, nhưng đến cửa ải thì bị
tra xét, và chẳng những nhà cầm quyền cấm mang bộ Kinh ra
khỏi nước mà chính ngay cả Ngài cũng bị cấm xuất dương.
Lần thứ hai, Ngài bèn chép bộ Kinh trên lụa rất mỏng với
nét chữ cực nhỏ. Rồi Ngài tự rạch bắp tay đặt kinh vào
rồi kéo da phủ kín vết thương, thoa thuốc cao lên, và bằng
cách này Ngài đã thành công mang bộ Kinh Lăng Nghiêm ra khỏi
nước.
Ðối
với người Trung Hoa Kinh Lăng Nghiêm rất lợi ích. Ngày xưa
có nhiều vị tổ sư xuất gia cũng như cư sĩ, nhờ đọc tụng
Kinh Lăng Nghiêm mà khai ngộ. Trong quá khứ, Kinh Lăng Nghiêm
đã mang nhiều lợi ích đến cho rất nhiều người. Do đó
công tác dịch Kinh Lăng Nghiêm của Ngài đối với chúng ta
hiện tại và tương lai sẽ giúp ích rất nhiều. Cho nên những
người nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm đều nên biết đến vị
Sa-môn dịch giả này.
Vị
Sa môn này thuộc ba hạng sa môn nói trên và không thuộc vào
hạng thứ tư. Ngài đến Trung Quốc vào đời nhà Ðường,
Sau khi Võ Tắc Thiên thoái vị. Ngài khởi sự dịch bộ Kinh
này vào ngày 23 tháng 5 khi Ngài tới Quảng Châu.
Ðối
với Phật-pháp và Phật giáo, Kinh Lăng Nghiêm có tác dụng
và uy lực rất lớn. Cho nên người nghiên cứu Phật-pháp
trước tiên cần hiểu rõ đạo lý trong Kinh Lăng Nghiêm.
Ngày
nay, chúng ta phải hộ trì bộ Kinh này, đừng để kinh bị
mai một.
Nếu
chúng ta không sinh vào thời điểm này thì chúng ta chẳng có
trách nhiệm gì cả. Chúng ta hiện ở trong đời này, vậy
bổn phận chúng ta là phải dùng toàn lực và mọi khả năng
để hộ trì bộ kinh này.
Khảo
xét quá trình lịch sử Phật giáo, bộ Kinh Lăng Nghiêm vốn
xuất xứ từ Long Cung. Ngài Long Thọ Bồ Tát đã đọc bộ
Long Tạng tại Long Cung. Lúc xem đến bộ Kinh này, Ngài dùng
trí nhớ của Ngài ghi lại toàn bộ Kinh, do đó trên thế gian
mới có bộ Kinh Lăng Nghiêm này. Nước Thiên Trúc xem bộ Kinh
Lăng Nghiêm là quốc bảo, cấm truyền ra nước ngoài. Vì người
Trung Hoa có nhân duyên lớn với Phật giáo, nên mới được
một vị Thắng Ðạo Sa Môn chẳng tiếc thân mạng mang bộ
kinh này sang Trung Quốc. Hiện nay ai có thiện duyên xem được
bộ Kinh Lăng Nghiêm đều nên đảnh lễ vị Sa môn này.
Trí
Giả Ðại Sư lúc chưa thấy bộ Kinh Lăng Nghiêm đã từng
hướng về nước Ấn Ðộ ở phương tây rập đầu lạy tên
bộ Kinh này. Ngài lạy như vậy trong mười tám năm, nhưng
rất tiếc Ngài vẫn chưa được trông thấy tận mặt bộ
Kinh. Như vậy chúng ta may mắn có thiện duyên hơn Trí Giả
Ðại Sư, chẳng cần lễ bái nhiều năm mà đã gặp được
Kinh Lăng Nghiêm. Quý vị nghĩ xem, có phải nhân duyên của
chúng ta hơn Trí Giả Ðại Sư chăng?
Thấm
Nhuần Nghĩa Lý Kinh Ðiển
Muốn
nghiên cứu Phật Pháp thì cần phải hiểu rõ nghĩa lý trong
kinh. Mỗi bộ kinh do Ðức Phật thuyết giảng đều bao hàm
một nghĩa lý chân chánh riêng biệt; tuy nhiên, tất cả kinh
điển đều có quan hệ liên đới với nhau và nghĩa lý cũng
có tính cách liên đới.
Ðức
Phật viện dẫn Tiểu Thừa, Ðại Thừa, rồi cuối cùng quy
nạp về một thừa duy nhất là Phật Thừa. Bất luận là
Ðại Thừa, Tiểu Thừa, hay Phật Thừa, thừa nào cũng dạy
mọi người sửa đổi thói hư tật xấu, dẹp bỏ vô minh,
quét sạch phiền não và dứt trừ tham, sân, si. Nếu các bạn
dứt bỏ được mọi thói xấu thì đối với nghĩa lý kinh
điển tự nhiên sẽ có sự tương hợp; nếu không dứt bỏ
thói xấu thì các bạn sẽ không thể nào thấu triệt được
nghĩa lý trong kinh.
Chúng
ta đang nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm, và hiện đã nghiên cứu
xong Ngũ Thập Ấm Ma (Năm Mươi Thứ Ấm Ma) cùng Tứ Chủng
Thanh Tịnh Minh Hối (Bốn Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh Tịnh).
Vậy, nghĩa lý chân chánh của bộ kinh này là gì? Tại sao
Ðức Phật thuyết bộ kinh này? Các bạn tìm ra đặng thì
mới được xem là thật sự hiểu rõ giáo pháp hàm chứa trong
kinh; nếu không tìm ra chân-nghĩa thì coi như các bạn vẫn
chưa thật sự thông suốt kinh pháp! Chẳng hạn bạn gặp một
người nào đó, mặc dù đã biết tên của người ấy nhưng
bạn vẫn cần phải "tiến thêm một bước nữa", nhận rõ
tướng mạo, tư tưởng, hành vi, v.v... của người ấy; như
thế mới là nhận biết người ấy. Nếu bạn chỉ biết danh
tánh mà không biết gì về tướng mạo, tư tưởng... của
người ta, thì đó vẫn chưa phải là nhận biết. Chúng ta
nghiên cứu kinh Phật thì cũng tương tự như vậy!
Tướng
của Kinh Lăng Nghiêm là "đại nhi vô ngoại, tiểu nhi vô nội."
(lớn đến độ không gì có thể vượt ra ngoài nó, nhỏ đến
độ không gì nhỏ hơn nó). Nghĩa lý của Kinh Lăng Nghiêm ví
như bộ xương người vậy, nếu con người không có xương,
chỉ có da, thịt, gân, máu... mà thôi, thì chẳng ra hình dáng
con người cũng chẳng thể nào đứng vững được. Cho nên,
Kinh Lăng Nghiêm là cốt tủy của các bộ kinh. Kinh Lăng Nghiêm
có công dụng "phá tà hiển chánh", phá hủy tất cả tà vạy
để hiển lộ Tam-muội chân chánh. Nếu không có Kinh Lăng
Nghiêm, thì không có Phật Pháp; có Kinh Lăng Nghiêm, tất có
Phật Pháp! Vậy, muốn hộ trì Phật Pháp thì trước hết
chúng ta hoằng dương, phổ biến Kinh Lăng Nghiêm, phải học
cho thuộc, giảng giải cho được, rồi dựa theo đó mà tu
hành.
Vạn
Phật Thánh Thành chính là "Lăng Nghiêm Ðàn Tràng" đạo tràng
của Kinh Lăng Nghiêm. Chúng ta nhất định phải ngời sáng
"Lăng Nghiêm Ðại Quang," tu tập "Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh,"
thành tựu "Lăng Nghiêm Ðại Trí" và viên mãn "Lăng Nghiêm
Ðại Từ!"
(Giảng
ngày 01 tháng 5 năm 1983)
KINH
LĂNG NGHIÊM
TUYỆT
ÐỐI LÀ BỘ CHƠN KINH
Hôm
nay là ngày 17 tháng 12 năm 1976 (ngày vía Ðức A Di Ðà), tôi
đối trước mười phương chư Phật phát nguyện như sau. Nguyện
gì? Nguyện này có liên hệ đến vấn đề Kinh Lăng Nghiêm
là thật hay giả.
Gần
đây có rất nhiều học giả phê bình Kinh Lăng Nghiêm, cho
rằng bộ Kinh này không phải do chính Ðức Phật Thích Ca nói
ra, mà là do người đời sau ngụy tạo. Ðó là lối tuyên
truyền phá hoại, làm cho rất nhiều tín đồ không muốn thâm
giải Phật Pháp, sinh lòng phỉ báng hoài nghi. Nhiều người
nghe nói thì nói theo, nhưng lại không biết chân giả thế
nào, đó là điều rất đáng thương!
Hôm
nay, tôi đối trước mọi người mà bảo chứng rằng Kinh
Lăng Nghiêm là bộ kinh chân thật; không những Kinh Lăng Nghiêm
mà Chú Lăng Nghiêm cũng chân thật! Kinh Lăng Nghiêm là chân
thân của Phật, là xá lợi của Phật, không ai có thể phá
hoại được!
Có
Kinh Lăng Nghiêm thì có Chánh Pháp, không có Kinh Lăng Nghiêm
thì không có Chánh Pháp! Nếu như Kinh Lăng Nghiêm là giả thì
tôi nguyện sẽ bị cắt lưỡi, và đọa Vô Gián địa ngục.
Tôi
hy vọng các vị từ đây về sau phải có Trạch Pháp Nhãn,
đừng nghe theo lời của các vị tiến sĩ hay học giả nghiên
cứu Kinh Lăng Nghiêm mà cho rằng bộ Kinh này là ngụy tạo!
Các vị đừng để bị dao động, mà trái lại, cần phải
có Ðịnh lực để chuyển hóa sự sai lầm đó!Vì sao những
kẻ đó lại cho rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả tạo? Là vì
họ đã mê lầm đến cực điểm, không muốn cho Chánh Pháp
trụ thế, không muốn người khác tu hành, cho nên cố ý phá
hoại! Trong Kinh Lăng Nghiêm có dạy rằng:
"Dâm
tâm bất trừ, Trần bất khả xuất."
Nghiã
là:
"Lòng
dâm không dứt, Trần gian chẳng thoát."
Chỉ
hai câu này thôi cũng đủ chứng minh bộ Kinh này hàm chứa
diệu lý chơn thật, xác quyết của chư Phật nói ra: "Nếu
không trừ được lòng dâm dục, thì không thể ra khỏi được
Tam Giới. "(2) Cũng có thể nói rằng: Nếu không đoạn dục,
khứ ái, thì căn bản không thể nào chứng quả được! Trong
Kinh Lăng Nghiêm còn dạy rằng:
"Nhược
bất đoạn dâm,
Tu
Thiền Ðịnh giả,
Như
chưng sa thạch,
Dục
kỳ thành phạn,
Vô
hữu thị xứ."
Nghiã
là:
"Không
dứt lòng dâm,
Mà
tu Thiền Ðịnh,
Cũng
như nấu cát,
Rồi
mong thành cơm,
Thật
chẳng thể được."
Do
đó, quán chiếu thì biết rằng Chánh Pháp Nhãn Tạng là ở
đây! Phàm là người Phật tử chân chính thì nhất định
phải ủng hộ, nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm và tụng trì Chú
Lăng Nghiêm, bởi vì Chú này có năng lực không thể nghĩ bàn;
đó là kinh nghiệm của chính bản thân tôi.
Tôi
lại phát nguyện đặc biệt nhấn mạnh rằng bộ Kinh Lăng
Nghiêm là thật chứ không phải giả. Nếu tôi có sai lầm
thì nguyện sẽ đọa địa ngục và bị cắt lưỡi!
Hy
vọng các vị nhận thức rõ ràng vấn đề này, tự mình phải
có chánh kiến, đừng cô phụ lòng tôi.
CHÚNG
SINH BIỆT NGHIỆP VỌNG KIẾN,
VÀ
ÐỒNG PHẬN VỌNG KIẾN
Trong
Kinh Lăng Nghiêm có một đoạn thảo luận về hai thứ điên
đảo vọng kiến. Thế nào là hai thứ điên đảo vọng kiến?
Thứ
nhất gọi là Chúng Sinh Biệt Nghiệp Vọng Kiến, tức là do
mình đơn độc tạo nghiệp không giống với tất cả những
người khác, tự mình kiến giải hành vi không giống kẻ khác,
trong mọi trường hợp thì mình hoàn toàn đều khác.Thí dụ
cho mình là người giỏi nhất, hại người lợi mình, thích
những điều xa vời hão huyền hoặc làm những việc mà không
có người nào dám làm. Ðó là tạo nghiệp, mà tự mình tạo
thì mình thọ, so với người khác không giống nhau.
Loại
thứ hai gọi là Chúng Sinh Ðồng Phận Vọng Kiến, tức là
do chúng sinh cộng nghiệp tạo thành, mình cùng với tất cả
những người khác thì đều giống nhau; cũng như thiên tai
làm chết hàng ngàn vạn người thì đó gọi là cộng nghiệp,
là một số người cùng chịu chung. Những người đó cùng
tạo điều ác nên cùng thọ quả báo giống nhau.
Chữ
"kiến" ở đây có nghĩa là kiến giải, bởi vì lấy si mê
của chúng sinh làm của mình, nhận tên trộm làm con mình,
cho nên sinh ra đủ thứ chấp trước vọng tưởng. Do vọng
tưởng mà sinh ra mê hoặc, do mê hoặc mà tạo ra vô số ác
nghiệp, bởi vậy cho nên cùng nhau thọ quả ác.
Bây
giờ tôi xin kể một chuyện thật về Cộng nghiệp như sau:
Năm Dân Quốc thứ 33 (1944), ở tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, hoàn
toàn không có mưa cả một năm trời, đất đai khô cằn mà
còn bị thêm nạn châu chấu. Những con châu chấu này mỗi
lần bay tới thì đầy cả bầu trời. Tất cả nông sản đều
bị chúng ăn hết, thậm chí một ngọn cỏ một chiếc lá
cũng không mọc lên nổi. Lúc bấy giờ có một đứa trẻ
nhìn thấy trên trời có một ông già đeo cái túi, từ sáng
đến chiều luôn tay vứt xuống những con châu chấu từ trong
túi ấy bay khắp bầu trời.Dân ở đó vì quá đói nên giăng
lưới bắt châu chấu về ăn cho đỡ đói. Họ nghĩ rằng
châu chấu cũng là một nông sản nên không có chất độc.
Ngờ đâu khi những con châu chấu này bị nấu chín rồi thì
biến thành phân, thành đất bùn, ăn không được, không ai
dám ăn cả. Vì đói quá nên dân chúng chỉ còn có cách là
dời đến nơi khác. Từ tỉnh Hà Nam đến Trường An cách
xa tám trăm dặm, trong khoảng đường có người chết không
biết bao nhiêu mà kể; những người này chết một cách khủng
khiếp, ai nấy nhìn thấy cũng khiếp sợ. Ðây có thể nói
là một ví dụ do "cộng nghiệp" mà chiêu cảm lấy quả báo.
Bây
giờ nói tới Biệt Nghiệp Vọng Kiến và Ðồng Phận Vọng
Kiến. Trong Kinh Lăng Nghiêm Phật có giải thích rất rõ ràng.Thế
nào là Biệt Nghiệp Vọng Kiến? Cũng như trong thế giới này,
có những người mắt bị nhặm thì thấy trước mắt toàn
một màu đỏ, ban đêm khi nhìn ánh đèn lại thấy xung quanh
đèn có những vòng ánh sáng đủ màu. Bởi mắt có bịnh nên
mới thấy những huyễn ảnh như vậy, thấy đủ năm màu tạp
sắc trùng trùng điệp điệp. Con mắt bịnh này tượng trưng
cho vô minh, ban đêm tượng trưng cho si mê, ánh đèn tượng
trưng cho tạng tánh, tức là bổn tánh của mình, năm màu sắc
tượng trưng cho Ngũ Uẩn hay Ngũ Ấm, là những trần cảnh
giả tạo.
Vì
do chúng sinh có vọng kiến nên mới có huyễn ảnh ở ngoại
cảnh; nếu vọng kiến mà trừ rồi thì bịnh không còn nữa,
ánh sáng huyễn ảnh đó làm sao mà có được? Con mắt tốt
tượng trưng cho trí huệ chân thật, còn bóng đèn tượng
trưng cho chân lý. Dùng trí huệ chân thật mà thấy được
chân lý, thì Nhất Chân Pháp Giới hoàn toàn không có Ngũ ấm,
Ngũ Trần gì cả.
Cũng
như có người mắt mình vốn không có bịnh nhưng tự mình
lại làm cho có bịnh. Giống như một anh chàng hút thuốc phiện
vậy, có lần anh ta cười lớn trong khi anh ta đang đứng trước
một bức tường.
-Tôi
hỏi: "Tại sao anh cười?"
-Anh
ta trả lời: "Thật là kỳ quái! Bức tường này thật đẹp,
nó có đủ năm màu ánh sáng chiếu rọi bốn phía."
Ðó
chỉ là do huyễn ảnh mà ra, không có bịnh mà hút thuốc phiện
thì tâm thần trở nên điên đảo. Những huyễn ảnh đó vốn
là giả lại cho là thật, nên thân ở trong mê mà chẳng biết
mình mê! Trên đây đã lược giải Biệt Nghiệp Vọng Kiến.
Tiếp
theo, trong Kinh lại giải thích thế nào là Ðồng Phận Vọng
Kiến. Thí dụ như trong Diêm Phù Ðề có một châu nhỏ, chỉ
có hai nước mà quả báo chiêu cảm không giống nhau. Dân chúng
của một nước thì thọ cảm ác duyên, toàn gặp những tai
nạn bất tường; còn dân ở nước lân cận thì chẳng bị
gì cả. Ðó là do vọng hoặc, vọng nghiệp, vọng kiến mà
tạo thành.
Như
hiện tại ở Mỹ, miền Ðông thường có tai họa bão lụt
làm chết nhiều người, nhưng miền Tây Nam thì hoàn toàn vô
sự. Ðó là vì nghiệp cảm chỉ tại miền Ðông mà thôi,
không có tại miền Tây Nam vậy.Hoặc có kẻ thấy hai mặt
trời hay hai mặt trăng thì đều là những điềm bất tường;
người xưa nói: "Thiên vô nhị nhật, Dân vô nhị quân." (Trên,
không có hai mặt trời; Nước, không có hai vua.)
Ở
Trung Hoa, về đời nhà Hạ, vua Kiệt là người bạo ngược,
trên không trung bỗng nhiên hiện ra hai mặt trời, nhà Hạ
nhân đó mà diệt vong. Ðó là điềm hung dữ được báo trước.Ngoài
ra còn có những điềm gọi là Vựng, Thích, Bội, Quyết. Những
ác khí bao quanh mặt trăng làm mờ mặt trăng thì gọi là Vựng;
khí đen che lấp mặt trăng gọi là Thích; khí trắng ở bên
cạnh mặt trăng gọi là Bội, mà che đi một nửa thì gọi
là Quyết. Ðó là những điềm xấu thuộc về mặt trăng.
Lịch
sử Trung Hoa có chép rằng khi mặt trăng bị che lấp bảy lần
thì Hán Cao Tổ ở Bành Thành bị giặc Hung Nô vây khốn.Ngôi
sao có ánh sáng dài sau đuôi gọi là Tuệ, tức là sao chổi;
hào quang ngắn hơn quét đi bốn phía thì gọi là Bột Tinh;
ở trên không trung xẹt xuống gọi là Phi Tinh; ở dưới mà
vọt lên gọi là Lưu Tinh; đó đều là những điềm xấu thuộc
về các ngôi sao.
Sách
Xuân Thu có chép rằng vua Tống Nhượng Công không có nhân
nghĩa nên sao xẹt xuống như mưa, vua Tần Thủy Hoàng hết
sức bạo ngược thì sao chổi xuất hiện; đó cũng là những
điềm không lành.Ác khí ở phía trên mặt trời gọi là Phụ,
ở bên cạnh mặt trời gọi là Nhĩ. Sau khi trời mưa mà xuất
hiện cầu vồng thì gọi là Hồng Nghê, buổi sáng gọi là
Hồng, buổi chiều gọi là Nghê; đó đều là những điềm
xấu của mặt trời. Tóm lại, bên cạnh mặt trời, mặt trăng
có hiện ra những khí đó đều là những điềm báo trước
sự bất tường.
Ở
nước Trung Hoa, mỗi khi một triều đại thay đổi thì đều
có những điềm bất tường xảy ra. Có lần, một vị Hoàng
Ðế thấy điềm bất tường nơi một ngôi sao, liền triệu
quan Thiên Văn đến để hỏi sẽ xảy ra điềm tốt hay xấu.
-Vị
Khâm Thiên Giám tâu rằng: "Ðây là điềm hết sức bất tường,
Bệ Hạ có thể sẽ tử vong, nhưng thần có cách làm cho vị
Tể Tướng chịu điều hung dữ ấy thay cho Bệ Hạ, Bệ Hạ
có bằng lòng không?"
-Nhà
vua trả lời: "Tể Tướng lo liệu quốc gia đại sự thì làm
sao có thể chết thay cho ta được."
-Viên
quan lại hỏi: "Có thể chuyển tai họa đến nhân dân chăng?"
-"Dân
là gốc của nước, ta vì dân mà làm, có thể nào để dân
chết thay cho ta được."
-"Nếu
vậy thì chuyển tai họa này đến mùa màng được chăng?"
-"Mùa
màng mà mất thì dân sẽ chết đói, đó là chuyện ta không
thể làm được!"
Quan
Khâm Thiên Giám nghe xong liền sụp lạy mà tâu rằng: "Hoàng
Thượng đúng là bậc minh quân có lòng nhân từ, thì nhất
định sẽ chuyển được điều hung dữ thành điều kiết
tường; Hoàng Thượng nhất định không thể chết được!"
Quả
nhiên, ngày hôm sau điềm xấu trên trời biến mất, không
còn thấy nữa. Việc đó chứng minh rằng không có chuyện
gì là cố định, chỉ do tâm mình mà chuyển biến thôi. Nếu
tâm thiện thì có thể chuyển điều xấu thành điều tốt;
cho nên Lão Tử nói rằng:
"Hồi
tâm thú thiện,
Thiện
tuy vị vi nhi Thiện Thần tùy chi.
Hồi
tâm hướng ác,
Ác
tuy vị vi nhi Ác Thần tùy chi."
Dịch
là:
"Quay
tâm hướng thiện,
Ðiều
thiện tuy chưa làm mà Thiện Thần đã theo sát. Chuyển tâm
về ác,
Ðiều
ác tuy chưa làm mà Ác thần đã kề bên."
Thần
thì có thiện có ác; Thiện thần thì bảo hộ thiện nhân,
Ác thần thì trừng phạt kẻ ác, cho nên nói rằng: "Họa,
phước vô môn, Duy nhân tự chiêu." (Họa, phước không cửa
vào, Chỉ do mình tự chuốc lấy.)Nếu trong tâm mình không
làm điều ác thì điều bất tường (không lành) không thể
phát sinh.
TRÌ
CHÚ TRƯỚC TIÊN PHẢI
CHÁNH
TÂM THÀNH Ý
(Vạn
Phật Thành ngày 25 tháng 1 năm 1981)
"Tụng
trì, mặc niệm, thiểu ý ngôn,
Thị
giáo lợi hỷ hóa đại thiên.
Sở
tác chư pháp tất cứu cánh,
Bất
tăng bất giảm đáo Niết Bàn."
Dịch
là:
"Tụng
trì, thầm niệm, ít nói năng,
Dạy
dỗ, lợi vui, khắp nơi nơi.
Mọi
việc làm ra đều cứu cánh,
Không
tăng, không giảm, tới Niết Bàn."
Học
Chú thì trước tiên cần phải chánh tâm, thành ý; tâm không
chánh thì học chú gì cũng thành tà. Tâm chánh, học Chú mới
có cảm ứng. Chánh tâm cũng chưa đủ, cần phải thành ý.
"Thành" tức là lúc nào mình cũng hết sức chuyên chú, chuyên
tâm, không xao lãng, không làm những chuyện cẩu thả, tắc
trách. Ðược vậy thì mới có cảm ứng.
Nếu
không "chánh tâm, thành ý," nếu trong lòng đầy dẫy tư tưởng
sai lầm, làm hại kẻ khác, tức là mình làm chuyện của ma.
Pháp của ma vương là hại người, không lợi ích cho ai cả.
Nếu
thật sự muốn tu hành thì trong bất cứ trường hợp nào
cũng không được làm hại kẻ khác. Phải nuôi tâm làm lợi
chúng sinh; không được học Chú để hàng phục ma quỷ hoặc
đi đấu với người khác.
Người
theo Phật Giáo không có kẻ thù, không tìm người để trả
thù. Ðối với kẻ cố ý hại mình, mình phải nhẫn nại,
tu hạnh Nhẫn Nhục Ba-la-mật; không sinh tâm báo thù. Ðó là
chỗ cao siêu, là ưu điểm của Phật Giáo mà các tôn giáo
khác thiếu sót.
Tuy
Cơ Ðốc Giáo có nói rằng "ái địch" (thương kẻ địch),
nhưng đó chỉ là trên phương diện ngôn ngữ, thực sự họ
có thể hiện được trong hành động không? Họ luôn luôn
xem người Phật Giáo như kẻ địch, họ có thương yêu những
người Phật Giáo không? Chắc chắn là không, vì họ gọi
người Phật Giáo là nghịch đồ, là ma quỷ!
Tôn
chỉ hết sức trọng yếu của Phật Giáo là: Nếu bạn là
ma quỷ thì tôi tuyệt đối không làm tổn hại bạn, không
sinh lòng đối kháng, mà ngược lại, sẽ tìm cách để nhiếp
thọ bạn. Ðây là giáo nghĩa đặc biệt nhất của đạo Phật.
Ðối với chúng sinh luôn phát tâm từ bi, không làm hại kẻ
khác.
Chú
Lăng Nghiêm là chú kinh thiên động địa, khiến quỷ thần
phải run sợ, là linh văn hết sức hiệu nghiệm. Học Chú
Lăng Nghiêm rồi thì phải luôn luôn phát tâm từ bi, cử tâm
động niệm không được làm hại người khác. Nếu ai đối
với mình không tốt cũng đừng khó chịu, đừng oán ghét.
Tâm mình cần phải rộng lớn như ba ngàn thế giới vậy,
vạn vật đều có thể chứa gọn trong tâm mình; đó chính
là bản sắc của người Phật tử vậy!
"Tụng
trì, mặc niệm, thiểu ý ngôn." Câu chú "Yin two na" (Nhân đa
la) dịch nghĩa là tụng trì, hoặc là mặc niệm, hoặc thiểu
ý ngôn; tức là mình không cần nói nhiều, cũng không vọng
tưởng nhiều, chuyên tâm thì linh, tán loạn thì không cảm
ứng.
Thế
nào là chuyên nhất? Tức là luôn luôn đừng sinh tâm làm hại
chúng sinh. Nếu có tâm làm hại kẻ khác thì tương lai sẽ
gặp chuyện hết sức nguy hiểm; bởi vì: "Ða hành bất nghĩa
tất tự tệ." (Nếu luôn làm chuyện bất nghĩa, thì mình sẽ
tự tiêu diệt mình.)
Mình
hại kẻ khác tức là mình đã hại chính mình. Mình giết
cha người, thì có kẻ chắc chắc sẽ giết cha mình; mình
giết anh người thì sẽ có kẻ giết anh mình; đó là luật
nhân quả. Là Phật tử thì cần phải làm lành lánh dữ. Nếu
không tạo nhân ác, thì sẽ tránh được quả ác trong tương
lai.
"Thị
giáo lợi hỷ hóa đại thiên." Câu này nói rằng lấy Phật
Pháp chỉ dẫn, giáo hóa chúng sinh, làm cho tất cả mọi người
đạt được chỗ lợi ích, hoan hỷ. Khi thấy có chuyện gì
lợi ích cho người khác thì mình làm ngay:
"Tài
bồi tâm thượng địa,
Trưởng
dưỡng tánh trung thiên."
Dịch
là:
"Vun
bồi miếng đất tâm linh,
Nuôi
lớn bầu trời bản tánh."
Thường
giúp kẻ khác thì lâu ngày tự nhiên sẽ có đức hạnh. Không
phải chỉ kêu gọi người khác làm lợi ích cho mình, mà tự
mình không làm lợi ích kẻ khác. Kẻ nuôi dưỡng tánh ỷ
lại và chỉ muốn tận hưởng tiện nghi là kẻ không có khí
phách.
Hãy
xem trên đời này, những kẻ chuyên đi tìm tiện nghi cho mình
kết quả đều thất bại; nếu các vị không tin thì hãy nghiên
cứu cho kỹ lưỡng. Bất luận là ai, với lòng tham không đáy,
chuyên đi tìm tiện nghi cho chính mình thì kết quả đều không
tốt. Nếu mình đem lại lợi ích cho người khác, làm cho mọi
người hoan hỷ, thì đi tới đâu ai ai cũng kính phục mình.
Khổng
Tử nói rằng: "Ngôn tất trung tín, Hành tất đốc kính, Tuy
man mạch chi bang, hành hỹ." (Lời nói chân thật, Hành động
chắc thật, cung kính, thì dù ở nơi nguy hiểm cũng vẫn được
an toàn.)
Một
lời nói ra thì phải thành thật, không được gian trá, lừa
dối kẻ khác. Hành vi thì phải hết sức thành thực, trung
hậu, khiêm nhường, cung cẩn. Bất cứ làm việc gì cũng có
lòng "khiêm cung hòa kiết"; không được cống cao ngã mạn,
coi mình như ông trời, không ai sánh bằng. Như vậy thì không
thể chấp nhận được!
QUY
MẠNG CHÚ LĂNG NGHIÊM
QUANG
MINH TRÊN ÐẢNH PHẬT
"Ngã
kim quy mạng Ðại Phật Ðảnh,
Vô
tận Pháp tạng trí huệ quang.
Nguyện
ngã minh liễu diệu Tổng Trì,
Phụng
hành Như Lai sở thuyết "
"Ngã
kim quy mạng Ðại Phật Ðảnh": Ðó là lời của các vị Hộ
Pháp, rằng các vị ấy quy mệnh Ðại Phật Ðảnh Thủ Lăng
Nghiêm Thần Chú.
"Vô
tận Pháp tạng trí huệ quang": Ðại Phật Ðảnh là đảnh
đầu của Phật và là kho Pháp tạng vô tận. Nếu đuợc kho
Pháp tạng ấy thì dùng không bao giờ hết cả. Pháp tạng
vô tận này tại nơi tự tánh của mình mà xuất hiện chứ
không phải từ bên ngoài vào. Nhưng tại sao ngay bây giờ không
xuất hiện? Pháp tạng cũng giống như những con trùng ngủ
vùi trong mùa đông, chờ khi xuân tới nắng ấm thì chúng bắt
đầu hoạt động trở lại. Khi nào thân của người tu hành
phát nhiệt thì con trùng tự tánh sẽ hồi sinh, đồng thời
tất cả những loại vi khuẩn khác đều chết (vi khuẩn đây
tức là phiền não).
Như
vậy không phải là sát sanh sao? Nếu các vị cho rằng đây
là sát sanh, thì có thể không cần tu hành! Không ai bắt buộc
các vị cả; các vị có thể hoàn tục, có thể làm như người
tại gia với đầy dẫy phiền não, chướng ngại, tranh giành,
vô minh, ganh tị. Nhưng nếu muốn tu thì phải cải biến những
thứ vi khuẩn đó và khôi phục lại Phật tánh của mình.
Khi
chưa thành Phật thì trong thân mình có đến 84.000 loại trùng
ăn thịt của mình, uống máu của mình, trú ngụ nơi thân
của mình. Chúng xúi giục mình đừng giữ giới luật, bắt
mình làm chuyện điên đảo. Bởi bị chúng chi phối nên mình
mới làm đủ chuyện xấu xa. Nếu mình nói rằng: "Ôi! Ðó
là tại chúng nó làm, không phải tôi làm." Như vậy thử hỏi
tại sao mình lại giúp cho chúng? Nghĩa là đói một chút thì
chịu không nổi, khát một chút thì cũng không xong, ngủ không
đủ thì cũng không đành; tại sao mình phải trợ giúp những
thứ vi trùng đó? Trợ giúp chúng thì tự tánh chẳng thể
hiển lộ được!
Vậy
những thứ vi trùng đó rốt ráo là gì? Tức là trùng ngu si,
làm cho thân mình chỗ này không dễ chịu, chỗ kia không yên
ổn; toàn thân thật phiền hà! Có lúc thì chúng làm cho mình
bịnh này, lúc thì làm mình bịnh khác. Những thứ vi trùng
ngu si này khiến mình không đủ áo mặc thì không được,
cơm không đủ ăn cũng không xong, rốt cuộc cứ phải vật
lộn với chính mình.
Vô
tận Pháp tạng thì ở nơi Ðại Phật Ðảnh mà phát sinh.
Trí huệ quang này không giống như những thứ hào quang khác
mà là hào quang của Phật. Tại sao Phật lại có hào quang?
Bởi vì Phật không muốn có vi trùng ngu si tăm tối, cho nên
mới dùng trí huệ để chiếu sáng mọi vật, quét tan vô minh.
Khi vô minh bị quét sạch thì Pháp tánh tự nhiên hiển hiện,
do đó Trí huệ quang tức là Phật quang vậy!
"Nguyện
ngã minh liễu diệu Tổng Trì" : Tại sao cung kính Ðại Phật
Ðảnh Trí Huệ Quang? Tại sao phải cung phụng Ðại Phật Ðảnh
Trí Huệ Quang? Bởi vì mình muốn hiểu rõ Chú Ðại Tổng
Trì, cũng là Ðà La Ni Lăng Nghiêm. Chú Ðại Bi còn gọi là
Ðại Bi Ðà La Ni.
Ðà
La Ni là tiếng Phạn Dharani, dịch là Tổng Trì. "Tổng" nghĩa
là bao nhiếp tất cả các pháp, "trì" nghĩa là giữ gìn vô
lượng ý nghĩa. Tất cả các pháp đều được tổng nhiếp
vào chú này, tất cả các pháp đều khởi nguyên từ chú này.
Các
vị hãy nhìn lá cờ của Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới,
mỗi một màu hồng trên lá cờ là biểu hiện cho Trí huệ
quang. Ánh sáng này từ nơi "một" mà phát xuất ra, cho nên
nói rằng:
"Nhất
bổn tán vi vạn thù,
Vạn
thù hoàn quy nhất bổn."
Nghiã
là:
Từ
"một" mà phân thành vạn thứ,
Từ
vạn thứ lại trở về "một."
Hào
quang từ một điểm mà phóng ra vạn phương rồi từ vạn
phương mà thâu về một điểm. Vì vậy, tại Vạn Phật Thành
không phải chỉ có "một" mà là tất cả hào quang của chư
Phật đều từ đây phóng xuất quang minh, rồi quang minh đó
trở về làm "một" mà chẳng xâm phạm hay chướng ngại những
hào quang khác.
"Phụng
hành Như Lai sở thuyết nghĩa": là khi đã hiểu ý nghĩa của
thần chú này thì phải theo đạo lý của chú đó mà cung kính
thực hành.
NÂNG
CAO TIÊU CHUẨN HÀNG TĂNG SĨ,
TÍCH
CỰC XIỂN DƯƠNG KINH LĂNG NGHIÊM
(Vạn
Phật Thành ngày 14 tháng 4 năm 1983)
Chúng
ta đang ở trong thời Mạt Pháp, đã xa Phật quá lâu, song Pháp
chưa hoàn toàn tiêu diệt. Các vị vẫn còn cơ hội y chiếu
theo lời Phật dạy mà tu hành, các vị vẫn còn cơ hội chứng
quả thành Phật!
Nếu
bản thân là kẻ xuất gia thì mình phải quyết tâm giữ gìn
cái tông chỉ là dù gặp hoạn nạn khó khăn tới đâu cũng
không bao giờ thay đổi lập trường. Mặc ai tới phá hoại,
mình đừng để bị dao động. Chỉ cần nhận thức rõ ràng
việc mình làm, con đường mình đi là quang minh chính đại,
rồi cứ dũng mãnh mà tiến bước.
Trong
thời Mạt Pháp, thiên ma, ngoại đạo, ly mỵ, vọng lượng,
sơn yêu, thủy quái, sợ nhất là Chú Lăng Nghiêm vì Chú Lăng
Nghiêm có công năng phá tà hiển chánh, và vì Chú Lăng Nghiêm
mà Phật đã giảng Kinh Lăng Nghiêm, một bộ kinh cốt tủy
của Phật Giáo!
Con
người nếu không có xương tủy thì chết, Phật Giáo không
có Kinh Lăng Nghiêm thì Phật Pháp diệt. Cho nên phương pháp
tốt nhất để hộ trì Chánh Pháp trong thời Mạt Pháp là
học thuộc lòng Kinh Lăng Nghiêm, học thuộc lòng Chú Lăng
Nghiêm cho nhuần nhuyễn. Sau khi đọc và học thuộc lòng đến
chỗ hết sức thuần thục, hãy tận lực phát huy đạo lý
của Kinh và diễn thuyết cho mọi người nghe. Thế giới này
nếu thiếu Chú Lăng Nghiêm thì yêu ma, quỷ quái chẳng sợ
hãi gì nữa, chúng sẽ tha hồ hoành hành. Song bởi vì trên
thế giới còn có người trì Chú Lăng Nghiêm nên bọn bàng
môn, tả đạo, vọng lượng, ly mỵ, sơn yêu, thủy quái, còn
kiêng sợ, không dám công nhiên xuất hiện. Nếu không có Chú
Lăng Nghiêm thì thế giới này trở thành thế giới của bọn
yêu ma, quỷ quái!
Các
vị coi, hiện tại tư tưởng con người cũng hết sức cổ
quái, có kẻ không bằng loài cầm thú. Ðó là do bọn yêu
ma, quỷ quái lộng hành ở thế gian, mê hoặc người đời,
khiến họ mất đi trí huệ căn bản, biến thành hạng người
tráo trở, hết biết nhân nghĩa, làm chuyện thấp hèn không
bằng loài trâu ngựa nữa. Ðó cũng là do càng ngày càng ít
người biết tụng Kinh Lăng Nghiêm, trì Chú Lăng Nghiêm nên
thiên ma ngoại đạo mới hoành hành, không còn kiêng nể gì
cả!
Tuy
nhiên Vạn Phật Thành là nơi phát nguyên của Phật Pháp ở
Tây phương, là chỗ quy tập tinh hoa của những người tu Ðạo
chân chính trên thế gian, cho nên Vạn Phật Thành không phải
là địa bàn hoạt động của bọn yêu ma quỷ quái, bọn chúng
không thể nào đặt chân tới Vạn Phật Thành được! Có
những kẻ không thể ở Vạn Phật Thành được là do họ
không đủ đức hạnh, tư tưởng đầy dẫy những thứ tà
tri tà kiến, nên chỉ ở một thời gian là họ bị lộ nguyên
hình, phải bỏ đi chỗ khác.
Từ
đây về sau, ở Vạn Phật Thành, các vị xuất gia và đệ
tử tại gia đều cần phải học thuộc lòng Kinh Lăng Nghiêm.
Như vậy thì đối với Phật Pháp không có công lao nào lớn
bằng. Bởi vì có những giáo sư nổi tiếng, những vị học
giả trứ danh, thậm chí còn có cả kẻ xuất gia, hiện giờ
công khai nói rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả tạo!
Vì
sao họ lại điên đảo như vậy? Là do Kinh Lăng Nghiêm đề
cập đến Bốn điều răn dạy về sự thanh tịnh, và đồng
thời Năm mươi thứ ấm ma. Do đó, bọn họ không thể chịu
nổi khi đứng trước những tấm kính chiếu yêu được nói
đến trong Kinh Lăng Nghiêm này. Khi họ tự so sánh với năm
mươi thứ ấm ma thì bản chất yêu quái của họ hiện ra
rõ ràng, và khi tự so sánh với bốn điều dạy về sự thanh
tịnh thì họ không làm sao giữ được những quy củ nói đến
trong bộ Kinh này. Bởi không chịu nổi sự thật đó nên họ
mới che đậy lương tâm, và dèm pha cho rằng Kinh Lăng Nghiêm
là giả tạo!
Cho
nên, đối với Kinh Lăng Nghiêm và Chú Lăng Nghiêm, chúng ta
cần phải nhận thức rõ ràng là không có chú nào linh nghiệm
bằng Chú Lăng Nghiêm, không có kinh nào chân chính hơn Kinh
Lăng Nghiêm. Là vì kinh này đem tất cả những điều sai trái
của thiên ma ngoại đạo, và của cả chúng sinh, trình bày
vô cùng rõ ràng, xiển minh hết sức tường tận.
Nếu
không có Chú Lăng Nghiêm thì Phật Pháp chẳng còn, thiếu Kinh
Lăng Nghiêm thì Chánh Pháp bị tiêu diệt! Vì thế, các vị
hãy vì hộ trì Phật Pháp mà nhất định học thuộc lòng
Kinh Lăng Nghiêm! Nếu lúc nào cũng có thể thuyết giảng được
thì mới không hổ thẹn là một đệ tử chân chính của Phật,
không hổ thẹn là đã xuất gia một cách uổng phí.
Bởi
vậy cho nên các vị đừng để những "học giả trứ danh,"
những "giáo sư nổi tiếng," hoặc những "Ðại Pháp Sư" làm
cho mê hoặc, như kẻ đui đi theo người mù mà tin rằng Kinh
Lăng Nghiêm là giả tạo! Dựa vào đâu mà họ dám nói Kinh
Lăng Nghiêm là giả tạo? Với lời lẽ mù quáng, cống cao,
đầy dẫy tà kiến, ngã mạn, cuồng vọng, tương lai họ sẽ
chịu quả báo khó tưởng tượng nổi.
Mặc
cho gia phong của những đạo tràng khác ra sao, ở Vạn Phật
Thành ai muốn xuất gia thì tối thiểu phải có bằng Cử nhân!
Nếu các vị đỗ Cử nhân ở trường khác thì cần phải
gia nhập chương trình huấn luyện Tăng Già ở Vạn Phật Thành;
các vị phải trải qua ba năm huấn luyện nghiêm túc để cho
học vấn và đạo đức được ưu tú, rồi mới đủ tư cách
thọ giới Cụ Túc làm Tỳ Kheo hoặc Tỳ Kheo Ni.
Ở
thời đại này, người xuất gia nhất định cần phải xuất
chúng, đặc biệt siêu việt, có bối cảnh giáo dục ưu tú,
thì mới có thể trở thành bậc Pháp Khí được. Nếu là
kẻ không rành chữ nghĩa, cả ngày chỉ biết đi tìm cách
móc nối, thủ đoạn, xin xỏ, lợi dụng; hoặc là kẻ giả
làm sư để kiếm ăn qua ngày, hoặc chỉ làm những chuyện
hoàn toàn không cao thượng, không thanh tịnh, chuyên môn phá
giới, thì kẻ đó chỉ làm ô nhục cửa Phật mà thôi, làm
sao khiến cho Phật Giáo ngày càng sáng lạng được? Làm sao
khiến cho người ta sinh lòng cung kính Tam Bảo đặng?
Vì
thế từ đây về sau, những ai muốn xuất gia ở Vạn Phật
Thành, bất luận là nam hay nữ, già hay trẻ, trước hết cần
đỗ bằng Cử nhân, sau đó cần thuộc lòng Chú Lăng Nghiêm
và Kinh Lăng Nghiêm thì mới đủ tư cách xuất gia. Ngoài ra,
người xuất gia cần học thuộc lòng Giới Sa Di, 53 Tiểu chú,
Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới và thông đạt Tứ Phần Luật
(tức là Giới Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni). Trước kia, trong đạo
tràng này, tiêu chuẩn xuất gia tuy không nghiêm khắc như bây
giờ, song tôi không thu nhận đồ đệ một cách cẩu thả.
Trước khi thâu nhận ai, tôi hết sức cẩn thận, cho họ trải
qua một thời gian dài để quan sát tư tưởng, ngôn hạnh của
họ như thế nào rồi mới thâu nhận, thế phát cho xuất gia.
Song ở thời Mạt Pháp này, tà ma lộng hành nên tôi chẳng
thể không sửa đổi cho triệt để và tích cực đề cao phẩm
cách đạo đức và học vấn của người xuất gia. Phàm là
kẻ
theo
tôi xuất gia thì cần phải "đầu đội trời, chân đạp đất,"
văn võ toàn tài, là long tượng trong cửa Phật. Thậm chí
nếu lấy con mắt tục mà nhìn, thì phải là bậc nhân tài
trác tuyệt, phi phàm. Những kẻ theo tôi xuất gia đã lâu cũng
cần học thuộc Kinh Lăng Nghiêm và phải có thể sẵn sàng
giảng giải nếu cần. Như vậy thì mới thực sự đảm nhận
trách nhiệm hoằng dương Chánh Pháp, tiếp nối sứ mệnh của
Phật, và cũng không uổng phí sự nghiệp xuất gia của mình!
BỐN
ÐIỀU RĂN DẠY VỀ
TÁNH
THANH TỊNH CHÂN THẬT, BẤT HƯ
(Vạn
Phật Thành ngày 17 tháng 4 năm 1983)
Bốn
Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh Tịnh (Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh
Hối) trong Kinh Lăng Nghiêm là: "Ðoạn dâm, Ðoạn sát, Ðoạn
thâu, Ðoạn vọng" (dứt dâm dục, dứt giết chóc, dứt trộm
cắp, dứt nói dối). Bốn điều đó tương quan rất chặt
chẽ với nhau. Nếu phạm giới dâm thì dễ dàng phạm giới
sát và cũng dễ dàng phạm giới thâu, tức là ăn cắp, và
giới vọng ngữ tức là nói láo. Bởi vì phạm giới dâm thì
sát, đạo, vọng, đều đã bao gồm trong đó rồi, cho nên
tuy chia làm bốn, nhưng hợp lại mà nói thì là nhất thể!
Phật
thật là vô cùng từ bi, hết lòng hết dạ dạy bảo chúng
ta hết sức rõ ràng Bốn Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh Tịnh.
Tuy nói rõ như vậy, nhưng có người lại không tin. Không phải
chỉ có một số người không tin mà thôi, trong đó, những
kẻ không tin lại là những học giả, những vị giáo sư,
những kẻ xuất gia không giữ giới luật. Những người đó
không có niềm tin nên không có cách gì cải thiện, cũng không
cách gì để bài trừ cái gốc tà kiến của họ được; bởi
vì những điều hiểu biết sai lầm của họ đã chằng chịt,
thâm căn cố đế, làm cho họ mất lòng tin và công nhiên cho
rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả tạo!
Trong
các bộ kinh mà Phật nói ra, Kinh Lăng Nghiêm là một bộ kinh
hết sức trọng yếu. Dù cho các vị học giả, giáo sư, những
kẻ không giữ giới luật, cho đến những kẻ dùng đủ thứ
thần thông, hiện ra mười tám phép biến hóa, tới nói với
tôi rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả đi nữa, thì tôi cũng không
tin được! Tại vì sao? Bởi vì Kinh Lăng Nghiêm dạy đạo
lý hết sức chân chính, chỉ căn bịnh của chúng sinh hết
sức rõ ràng; đó là "vô minh tội nghiệp." Kinh này chính là
"đối bịnh cho thuốc," là lời khuyên răn rõ ràng nhất. Song
người ta không ai muốn uống thuốc đắng, mặc dù thuốc
hay thì quá đắng, khó mà chịu nổi. Nên dù có bậc thầy
thuốc giỏi đưa toa thuốc ra thì họ cũng vất đi không dùng,
nói rằng thuốc chẳng có hiệu lực gì, rằng thứ thuốc
này chỉ để lừa người ta. Như vậy đúng là tự mình lừa
mình và lừa người khác, tự mình làm hại mình rồi hại
người khác vậy!
Bởi
vậy cho nên những kẻ không hiểu biết cứ chạy theo những
người này, nói rằng có những vị học giả danh tiếng như
vầy, có những nhà giáo sư nổi tiếng như kia, hoặc có những
vị Ðại Pháp Sư có tên tuổi như nọ nói rằng Kinh Lăng
Nghiêm này là giả; rồi họ chạy theo những người đó như
những kẻ đui đi theo những người mù, cùng nhau kẻ xướng
người họa. Người ta nói làm sao thì họ nói làm vậy, do
đó rốt cuộc tà thuyết đầy dẫy.
Nếu
thật sự đúng như vậy, tức Kinh Lăng Nghiêm là giả, thì
các vị trong Phật Giáo không cần phải giữ giới luật làm
gì, cũng không cần nghe Bốn Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh
Tịnh này làm gì, và cũng không cần biết đến Năm Mươi
Thứ Ấm Ma là ra sao, tất cả mọi thứ đều nhất tề vất
bỏ hết! Các vị thử nghĩ coi, loại người như vậy thật
là ác độc vô cùng; nếu những người như thế đó mà không
bị xuống Ðịa ngục Cắt Lưỡi thì thật là không còn công
lý gì nữa!
Mới
đây tôi có nói đến một em bé bị bịnh thần kinh (em bé
này có bịnh tâm lý biến thái, hành vi quái dị, toàn thân
đều có bịnh). Ðứa bé này sở dĩ bị bịnh là vì kiếp
trước đã từng hủy báng kinh điển Ðại Thừa, tạo nên
tội nghiệp đọa địa ngục Vô Gián, bây giờ sinh ra làm
người phải chịu quả báo như vậy. Ðó cũng là vì loài
người chúng ta không hiểu đạo lý, lại còn tự cho mình
là hay là giỏi, rồi công nhiên tạo ra đủ thứ tội nghiệp,
còn trợn tròn mắt mà nói láo. Hành động như vậy thật
là mất hết lương tri, lương năng, làm cho bản hữu trí huệ
của mình bị hủy diệt đi; thật là đáng thương thay!
Bởi
những kẻ hủy báng kinh điển Ðại Thừa đó đã dùng tai,
mắt, mũi, lưỡi, thân, ý tạo ra đủ thứ ác nghiệp, nên
khi họ sinh làm người thì thành những kẻ mắc bịnh tâm
lý biến thái, trở nên vô tri, vô giác, đến khi thọ ác báo
rồi, lại còn cho rằng mình là hay là giỏi lắm!
Chúng
ta không nên dùng cái "thông minh giả" của mình mà hủy báng
lời Phật. Nào là những kẻ rất có tiếng tăm, nào là những
nhà học giả trứ danh, nào là những vị giáo sư uyên bác,
nào là các vị Pháp Sư nổi tiếng, một khi họ nói ra lời
hủy báng Phật Pháp thì vô hình trung, lời nói của họ sẽ
ảnh hưởng đến trăm ngàn vạn ức, vô lượng, vô biên người
khác, khiến cho những người đó đánh mất đi lòng tin chơn
chính. Cho nên các vị thấy, tạo ra tội nghiệp như vậy không
phải là tai hại vô cùng sao? Trăm ngàn kiếp về sau, họ sẽ
đầu thai làm kẻ thọ quả báo, trở thành những người câm!
Bởi vì họ làm hại tri kiến của kẻ khác, nói lên những
lời khiến kẻ khác hiểu lầm đạo lý, như thế thật là
vô cùng nguy hại!
Các
vị hãy nghĩ coi, vì sao những người đó cho rằng Kinh Lăng
Nghiêm là giả tạo? Là bởi vì họ không thể làm được
Bốn Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh Tịnh: Không dâm dục thì
họ không thể làm được, không sát sinh thì họ cũng chẳng
làm nổi! Không trộm cắp thì ở trên bề mặt có thể nói
rằng họ không trộm cắp, nhưng thực sự có rất nhiều học
giả, giáo sư thường lấy trộm văn chương của học sinh
hay của kẻ khác rồi vá víu lại để làm của mình; nếu
đem vật sở hữu của kẻ khác mà làm của mình thì đó chính
là trộm cắp vậy! Nếu một ngày nào mà họ nói những lời
lừa dối học sinh thì ngày đó họ đã nói láo rồi! Ðương
nhiên không phải tất cả những vị học giả hay giáo sư
đều như vậy, song ở trong hàng ngũ những người đạo đức
luôn luôn có vô số những kẻ gian dối tác hại.
Bởi
vì không làm được Bốn Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh Tịnh
đó nên họ sợ hãi, và không thể chấp nhận lý luận trong
Kinh được. Nếu họ chấp nhận lý luận của Kinh thì họ
không thể tồn tại, và dĩ nhiên họ sẽ mất đi địa vị
của họ. Nhưng họ lại không muốn như vậy nên mới làm
trái với lương tâm, mới nói rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả.
Khi có ý nghĩ như vậy là họ đã phạm tội lớn tày trời:
"Khoát
đạt không,
Bát
nhân quả,
Mãng
mãng đãng đãng, Chiêu ương họa."
Nghĩa
là:
"Phủ
nhận hết mọi thứ,
Bác
bỏ luật nhân quả,
Thì
tự chuốc lấy tai ương."
Trong
tương lai họ sẽ thọ lãnh quả báo đọa địa ngục Vô Gián,
lúc đó họ có hối lỗi thì không còn kịp nữa!
NĂM
MƯƠI THỨ ẤM MA
TRONG
KINH LĂNG NGHIÊM
Hiện
tại chúng ta đang nghiên cứu Năm Mươi Thứ Ấm Ma, nhưng sợ
rằng có đến năm trăm loại Ấm Ma sẽ xuất hiện cả đây!
Cho nên các vị đừng mở cửa để hoan nghinh chúng làm loạn!
Tuy nói là ma, song nhìn bề trái của nó thì chúng đến để
giúp đỡ sự tu Ðạo của mình, xem chí nguyện của mình kiên
cố hay chẳng kiên cố. Nếu kiên cố thì dù ngàn con ma tới
mình cũng không thay đổi lập trường, vạn con ma tới mình
cũng không thối lui, cái gì mình cũng không sợ cả! Nếu mình
không có sở cầu, thì tức là: "Ðáo vô cầu xứ, tiện vô
ưu." (Khi lòng không mong cầu, tâm sẽ hết âu lo.)
"Vô
sở cầu" tức là không có điều gì sợ hãi. Sợ cái gì?
Cũng giống như người sợ quỷ, nghĩ rằng quỷ hết sức
ghê gớm, xấu xí. Người nào cũng nghĩ rằng người chết
thì biến thành quỷ, nên họ sợ. Nhưng không ai sợ thần.
Ông thần Kim Giáp là kẻ hết sức lợi hại mà chẳng ai sợ
ông ta!
Khổng
Tử từng nói rằng: "Kính quỷ thần nhi viễn chi." (Kính quỷ
thần nhưng lánh xa họ.) Song, mình đừng sợ quỷ cũng đừng
sợ thần. Mình cung kính họ nhưng không cần phải thân cận
với họ.
Ma
là thứ đến thử thách người tu Ðạo nên các vị đừng
có lòng khủng khiếp, lo sợ. Nếu mình sợ sệt, thì dù không
muốn kêu ma lại, nó cũng sẽ tới. Nếu mình không sợ, thì
nó muốn lại cũng không được. Ðó là mật quyết vô cùng
trọng yếu: Ðừng sợ hãi! Khi mình không khiếp nhược, không
lo sợ, thì tự nhiên mình sẽ chánh. "Chánh" thì có thể hàng
phục mọi thứ, vì lẽ "tà bất thắng chánh." Ma sợ nhất
bốn chữ: Chánh Ðại Quang Minh. Nếu mình mà "chánh đại quang
minh" thì ma sẽ nép giữ quy củ, chúng sẽ hướng về mình
mà đảnh lễ.
Bây
giờ hãy nghiên cứu cảnh giới Năm Mươi Thứ Ấm Ma. Năm
mươi thứ đó tức là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Ðây
bất quá là nói sơ lược cốt tủy mà thôi. Kể tường tận
thì cảnh giới của chúng thật vô số, không thể kể hết
được, nên Phật chỉ nói có năm mươi thứ là để giúp
người đời hiểu và quán sát dễ dàng. Khi sáng tỏ được
đạo lý của Năm Mươi Thứ Ấm Ma thì mình sẽ không bị
cảnh giới đó làm dao động, đó là điều hết sức quan
trọng.
Nếu
muốn đừng bị cảnh giới làm dao động thì đầu tiên mình
phải trì giới. Giới là căn bản của tất cả các Ðịnh;
Ðịnh là căn bản của Trí Huệ; Huệ là căn bản để thành
Phật. Nếu muốn thành Phật thì nhất định phải tu Giới,
Ðịnh, Huệ. Tu mà không tương hợp với Giới, Ðịnh, Huệ
tức là mình tìm cầu pháp ở bên ngoài tâm, tức là đã "hướng
ngoại truy cầu"! Khi có Giới lực thì mình sẽ đắc Ðịnh
lực; có định lực thì mình sẽ có Huệ lực, vì chúng là
tương sinh. Giới sinh Ðịnh, Ðịnh phát Huệ, Huệ thành Phật;
thiếu một thì chẳng thành được.
Do
đó, hiện tại mình phải dùng thái độ khách quan mà nghiên
cứu, đừng có thái độ chủ quan. Khi có thái độ chủ quan
thì rất dễ có sự thiên lệch. Mình cần phải dùng Trạch
Pháp Nhãn (con mắt biết nhận định chân lý) mà quán sát,
dùng Trí Diệu Quán Sát mà nghiên cứu, nhưng đừng chấp trước
ở điều mình quán sát. Trí Diệu Quán Sát cũng giống như
cái gương vậy, chẳng khác gì mấy với Trí Ðại Viên Kính.
Trí Ðại Viên Kính thì chẳng dao động mà có thể hiện ra
tướng thật của mọi sự; còn Trí Diệu Quán Sát thì có
năng lực quán sát mọi vật khiến mình biết được mọi
vật một cách rõ ràng.
Phải
dùng thái độ khách quan, không thiên lệch, thì mới nhận
thức được cảnh giới một cách rõ ràng. Các vị mà nhận
thức thấu đáo được cảnh giới thì sẽ không bị nó làm
cho mê loạn!
LĂNG
NGHIÊM ÐẠI ÐỊNH
Vì
sao Chú Lăng Nghiêm có nhiều điều tốt đẹp như vậy? Bởi
vì niệm Chú Lăng Nghiêm thì có thể nhập Lăng Nghiêm Ðại
Ðịnh. Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh này không phải là định mà
cũng chẳng phải là không định, song không lúc nào là chẳng
định (vô định, vô bất định, vô hữu bất định thời).
Cho nên nói rằng: "Na-già thường tại Ðịnh, Vô hữu bất
định thời." (Na-già, tức là rồng, lúc nào cũng ở trong
Ðịnh, không bao giờ chẳng định.)
Lăng
Nghiêm Ðịnh là định hết sức kiên cố, phát sinh ra vô lượng
trí huệ, các thứ thiên ma, ngoại đạo không thể nào phá
hoại nổi.
Nhưng
nhập Ðịnh để làm gì? Ví như tới Disneyland vậy, nơi đó
có đủ trò vui, đồng thời cũng có đủ trò kinh dị, mình
sẽ thấy những điều chưa từng thấy, nghe những điều chưa
từng nghe. Cũng vậy, khi nhập Ðịnh, mình sẽ trải qua những
cảnh giới chưa từng thấy hay nghe qua. Nếu như trong Ðịnh
mà "như như bất động, liễu liễu thường minh," không bị
cảnh giới làm cho dao động, thì mình có thể xoay chuyển
tất cả cảnh giới. Ðó chính là sự kỳ diệu khi nhập Lăng
Nghiêm Ðịnh.
Không
có Lăng Nghiêm Ðịnh thì mình sẽ tùy theo cảnh giới mà xoay
chuyển, cái gì lại thì mình chạy theo cái đó, luôn luôn
bị cảnh giới dắt dẫn. Khi mình có Lăng Nghiêm Ðịnh này
thì mình không còn bị cảnh giới xoay chuyển nữa. Mắt mình
nhìn hình sắc mà bên trong tâm không có rung động; tai mình
nghe tiếng nhưng lòng không bị lôi cuốn theo. Khi thấy việc
gì xảy ra mà mình tỉnh giác thì sẽ ra khỏi vòng phiền trược;
nhưng nếu gặp việc mà mê muội, không tỉnh giác, thì mình
sẽ rớt vào vòng luân hồi.
Ở
trong Ðịnh mình có thể phát sinh vô lượng trí huệ, cho nên
nói rằng Ðịnh sinh Huệ. Nếu không nhập Ðịnh thì không
thể khai được trí huệ, cũng giống như chưa tới Disneyland
thì không biết trong đó có gì. Cho nên có một vị cư sĩ
mời tôi đi Disneyland chơi, muốn tôi coi đây coi đó; họ cho
rằng tôi chưa từng thấy qua những chuyện đó bao giờ. Thật
ra những hình sắc hay tất cả những đồ vật đều không
có gì đặc biệt cả. Chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay
đã thấy qua không biết bao nhiêu thứ, không biết bao nhiêu
chuyện nữa, bất quá mình đã nhìn qua rồi quên mất đi.
Nếu như mình nhớ được một cách rõ ràng thì không cần
phải coi lại làm gì nữa.