Kinh
Phật Ðảnh Thủ Lăng Nghiêm
Chương
Ðại Thế Chí
Niệm
Phật Viên Thông
Hòa
Thượng Tuyên Hóa lược giải
Dịch
Sang Việt Ngữ
Ban
Phiên Dịch Kinh Ðiển
Hòa
Thượng Tuyên Hóa
Hòa
Thượng Tuyên Hóa pháp danh An Từ, tự Ðộ Luân, là vị truyền
thừa thứ chín của phái Quy Ngưỡng Thiền Tông, do đắc pháp
từ Lão Hòa Thượng Hư Vân. Ngài sanh vào cuối đời nhà Thanh,
tại huyện Song Thành, tỉnh Kiết Lâm, Mãn Châu. Năm 19 tuổi,
sau khi mẹ Ngài tạ thế, Ngài liền xuất gia, kết am tranh
bên cạnh mộ mẹ để thủ hiếu ba năm. Trong suốt thời gian
ấy, Ngài tu thiền định, tập giáo quán, nghiêm thủ công
hạnh ăn ngày một bữa, đêm ngủ ngồi.
Năm
1948, Ngài đến Hương Cảng thành lập Phật Giáo Giảng Ðường,
và những đạo tràng khác. Năm 1962, Ngài mang chánh pháp đến
Tây Phương. Tại Mỹ Quốc, Ngài khai triển hơn mười bộ
Kinh Ðại Thừa, sáng lập Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới,
Vạn Phật Thánh Thành, Học Viện Dịch Kinh Quốc Tế, cùng
Ðại Học Pháp Giới, trường Tiểu Học Dục Lương, trường
Trung Học Bồi Ðức, và nhiều đạo tràng cũng như những
trung tâm giáo dục khác.
Với
tinh thần quên mình vì người, cả đời Ngài đã tận tụy
hy sinh cho chúng sanh. Với lòng từ bi và trí huệ, Ngài đã
cảm hóa biết bao người đổi ác làm lành, hướng đến con
đường thanh tịnh giác ngộ.
Ngày
7 tháng 6 năm 1995, Ngài thị hiện viên tịch tại Los Angeles,
Mỹ Quốc. Sự ra đi của Ngài, giống như mặt trời khuất
bóng, khiến ai cũng thương cảm thống thiết.
Tám
Quy Luật Của Viện Phiên Dịch Kinh Ðiển
1.
Dịch giả phải thoát mình ra khỏi động cơ tự truy cầu
danh lợi.
2.
Dịch giả phải tu thân dưỡng tánh, dứt bỏ đi thói cao ngạo.
3.
Dịch giả phải tự chế, không được tự khen ngợi nhưng
lại chê bai kẻ khác.
4.
Dịch giả không được tự cho mình là tiêu chuẩn, là thước
đo, rồi hạ thấp kẻ khác bằng cách tìm lỗi lầm nơi tác
phẩm của họ.
5.
Dịch giả phải lấy tâm Phật làm tâm mình.
6.
Dịch giả phải dùng Trạch-pháp-nhãn để phán xét đâu là
chân lý.
7.
Dịch giả phải cung kính cầu thỉnh Cao Tăng, Ðại Ðức ở
mười phương chứng minh cho bản dịch.
8.
Dịch giả phải hoan hỷ truyền bá giáo nghĩa nhà Phật bằng
cách in Kinh, Luật, Luận một khi phần phiên dịch của mình
được chứng minh là đúng.
Nam
Mô Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam
Mô Kim Cang Tạng Bồ Tát
Nam
Mô Ðại Thế Chí Bồ Tát
Ðại
Phật Ðảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh, bảy chữ này là tựa đề
của kinh. Ðại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương
là tựa đề của một chương trong bộ kinh ấy. Hôm nay vì
thời gian có hạn cho nên tôi không giải thích tựa Kinh Lăng
Nghiêm. Chỉ đơn thuần giải thích tựa kinh cũng đòi hỏi
rất nhiều thời giờ, vì vậy tôi chỉ giảng sơ lược mà
thôi.
Bộ
Kinh Lăng Nghiêm này gồm có Chú Lăng Nghiêm. Hai chữ "Lăng
Nghiêm" có nghĩa là "Cứu cánh kiên cố." Tại Trung Quốc bộ
kinh này có tầm quan trọng đặc biệt, nên có câu:
Thành
Phật có Pháp Hoa
Khai
tuệ có Lăng Nghiêm
Tôi
rất hoan hỷ giảng Kinh Lăng Nghiêm và Kinh Pháp Hoa, vì hai
bộ kinh này giúp khai mở trí tuệ và giúp thành Phật. Chẳng
những tôi hoan hỷ mà còn mong muốn mỗi Phật tử đều nghiên
cứu để am tường đạo lý trong Kinh, đặc biệt là Kinh Lăng
Nghiêm.
Nói
đến Kinh Lăng Nghiêm, tôi nhớ tại Trung Qưốc có một vị
Trí Giả Ðại Sư bình sanh chỉ nghe tên bộ Kinh này là liền
ao ước được trì tụng. Hằng ngày, Ngài hướng về Ấn
Ðộ rập đầu lễ bái, hy vọng có thể thấy tận mắt bộ
kinh này. Ngài lễ bái suốt mười tám năm mà vẫn chưa thấy
được bộ kinh. Trí tuệ của Trí Giả Ðại Sư rất vượt
bực, và biện tài của Ngài rất là vô ngại, nhưng Ngài vẫn
hết sức thành kính lễ bái bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm. Như
vậy đủ chứng tỏ tầm quan trọng của bộ Kinh này.
Kinh
Lăng Nghiêm còn lưu hành trên thế gian, thì thiên ma ngoại
đạo đều không dám xuất hiện. Bất hạnh thay, vào thời
Mạt-pháp Kinh Lăng Nghiêm sẽ là bộ kinh bị mất trước tiên.
Một khi bộ Kinh Lăng Nghiêm này không còn trên thế gian nữa,
thiên ma ngoại đạo sẽ mặc sức lộng hành.
Thậm
chí hiện nay có một số người tự xưng là chuyên gia về
Phật học mạo nhận là học giả từng nghiên cứu Phật-pháp,
hoặc là giáo sư khoa học Phật học của một trường đại
học nào đó, và công nhiên đề xướng rằng Kinh Lăng Nghiêm
là giả, do người Trung Quốc ngụy tạo. Quý vị hãy nghĩ
xem tuy rằng có rất nhiều thánh nhơn xuất hiện ở Trung Quốc
nhưng tôi tin chắc rằng sẽ chẳng bao giờ tìm thấy được
vị thánh nhân đã tạo ra Kinh Lăng Nghiêm đó. Cho nên tôi
tuyệt đối tin rằng bộ Kinh Lăng Nghiêm này là thật, là
chính xác, và là một bộ kinh khả dĩ hàng phục thiên ma,
chế ngự ngoại đạo. Vì trong Chú Lăng Nghiêm toàn là những
câu thần chú dùng để hàng phục thiên ma, chế ngự ngoại
đạo. Từ câu chú đầu tiên đến câu chú cuối cùng, mỗi
câu đều có một sự diệu dụng và uy lực bất khả tư nghì
của nó. Cho nên, Phật vì Chú Lăng Nghiêm mà thuyết Kinh Lăng
Nghiêm.
Trước
kia, tại Hương Cảng, có người đã phiên dịch Kinh Lăng Nghiêm
ra Anh văn, nhưng lại xén bỏ đoạn Kinh văn về nghi quy thiết
lập "Lăng Nghiêm Ðàn," ngay cả Chú Lăng Nghiêm cũng bị loại
bỏ. Vị dịch giả ấy nói rằng người Tây phương chẳng
ai tin Chú Lăng Nghiêm và cũng chẳng ai tụng Chú này, bởi
họ cho rằng Chú là những gì mê tín và không tin ở công
dụng của Chú. Cho nên trong bản dịch Anh ngữ ấy không có
đoạn nói về cách "thiết đàn" và cách tu trì "Lăng Nghiêm
Ðại Pháp."
Từ
khi tôi đến các quốc gia Tây phương, nhất là qua kinh nghiệm
bản thân ở Mỹ, tôi nhận thấy rất nhiều người Tây phương
thích trì tụng Chú Lăng Nghiêm, và chẳng những hoan hỷ trì
tụng mà còn học thuộc lòng nữa.
Tại
Kim Sơn Thánh Tự tôi có một đệ tử vào hai thời công phu
sáng tối đều cùng chúng tôi trì tụng Chú Lăng Nghiêm và
chỉ tụng mỗi ngày hai thời như thế mà trong hai mươi sáu
ngày là y đã thuộc lòng Chú Lăng Nghiêm!
Tại
Mỹ Quốc môn học tôi đưa ra khảo hạch trước tiên là khi
học thuộc lòng Chú Lăng Nghiêm; ai trả bài thông suốt thì
đậu; ai không thuộc thì tạm thời bị đánh rớt. Ðó là
quy định của khóa tu mùa hè năm 1968. Bấy giờ, có một người
học thuộc trong hai mươi sáu ngày, và có một người trong
hai mươi tám ngày. Cho nên hiện nay có rất nhiều Phật giáo
đồ Tây phương biết đến Chú Lăng Nghiêm.
Quý
Phật tử hãy nghĩ xem, vì sao những kẻ mạo nhận là chuyên
gia Phật học, những kẻ tự xưng là học giả, hoặc khoe
khoang mình là giáo sư của trường đại học nào đó, lại
chủ trương Kinh Lăng Nghiêm là giả? Chỉ vì những gì nói
trong Kinh Lăng Nghiêm đều có đề cập đến khuyết điểm
cùng những sai lầm của họ. Như trong Kinh có dạy rõ rằng:
"Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối" (bốn điều răn dạy về tánh
thanh tịnh), là không được phỉ báng. Những kẻ này chẳng
muốn dứt bỏ khuyết điểm của họ nên mới chủ trương
Kinh Lăng Nghiêm là do người Trung Quốc tạo ra.
Vậy,
ban đầu do ai chủ trương như thế? Là do người Nhật. Thế
người Nhật nói là ai nói với họ? Truy nguyên ra là một
vị Pháp-sư Trung Quốc đã mách họ, bảo rằng Kinh Lăng Nghiêm
là giả. Tôi chẳng rõ vị Pháp-sư này có hiểu Kinh Lăng Nghiêm
chăng? Tôi không cần phải nêu danh tánh vị Pháp-sư này ra
vì chuyện đã xưa rồi. Như vậy, do "cái sai loan truyền cái
sai" mà nói rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả.
Việc
này đủ chứng minh rằng Phật-pháp đang suy tàn, là do người
trong hàng ngũ Phật giáo tạo ra tin đồn này, từng bước
từng bước khiến cho người ta sinh ra hoài nghi, rồi dần
dần không tin nữa. Vì hồ nghi không tin nên bộ Kinh này được
xếp cất trên gác cao. Xếp lên xó gác thì chẳng khác gì
hủy diệt. Vì chẳng còn ai nghiên cứu hoặc quan tâm đến
nữa, thì lâu dần Kinh tất bị hủy diệt. Chẳng phải vì
Kinh không có chữ, hoặc vì khan hiếm giấy, mà là vì dần
dà người ta quên hẳn nó đi.
Vì
sao có người đề xướng Kinh Lăng Nghiêm là giả? Chỉ vì
họ không muốn tuân theo quy củ. Trong Kinh nói rằng 50 ấm
ma có vô số phép thần thông song đều không đáng kể. Bởi
vậy khi họ có đôi chút thần thông, thì họ cho là nếu có
thần thông thì cũng bị xem là giả thôi. Cho nên những kẻ
mưu cầu thần thông đều không thích kinh này.
Tôi
nghe nói hiện nay tại Nhật Bản có một vị có thần thông,
dùng tay chỉ ngọn nến thì ngọn nến bốc cháy, không hiểu
có đúng như vậy hay không? Ngày 14 sắp tới tôi sẽ đi Nhật
Bản và có thể sẽ viếng thăm vị này. Từ lâu ông ta hy
vọng được gặp tôi. Lần này gặp mặt chúng tôi có thể
cùng nhau trao đổi ý kiến.
Tầm
quan trọng của Kinh Lăng Nghiêm và Chú Lăng Nghiêm không thể
nào nói cho hết được, và tương lai cũng không nói hết được
sự diệu dụng, cho nên nói rằng bất khả tư nghì.
Hôm
nay tôi thành thật trình bày với quý vị tầm mức diệu dụng
của Chú Lăng Nghiêm này.
Khi
xưa lúc tôi ở tại Ðông Bắc, mỗi khi gặp người có bệnh
tôi nhất định làm cho họ lành bịnh. Tôi lấy oai lực gì
làm cho họ khỏi bịnh. Ðó là oai lực của Chú Lăng Nghiêm.
Trong
Chú Lăng Nghiêm có tất cả năm bộ:
Ðông
Phương có:
A Súc
Phật - Kim Cang Bộ
Nam
Phương có:
Bảo
Sinh Phật - Bảo Sanh Bộ
Trung
Ương có:
Tỳ
Lô Giá Na Phật - Phật Bộ
Tây
Phương có:
A Di
Ðà Phật - Liên Hoa Bộ
Bắc
Phương có:
Thành
Tựu Phật - Yết Ma Bộ
Phương
Ðông có A Súc Phật, A Súc Phật tức là Kim Cang Bộ; Phương
Nam có Bảo Sanh Phật, tức là Bảo Sanh Bộ; Trung Ương là
Phật Bộ; Phương Bắc là Yết Ma Bộ; tất cả gồm năm bộ.
Năm bộ này cai quản năm đại ma quân ở năm phương trên
thế giới, cho nên khi trì tụng Chú Lăng Nghiêm thì năm đại
ma quân có năm phương đều cúi đầu phủ phục, không dám
cưỡng lại oai lực của Chú Lăng Nghiêm.
Công
năng của Chú Lăng Nghiêm gồm có:
1.
Tức tai Pháp
2.
Hàng phục Pháp
3.
Tăng ích Pháp
4.
Thành tựu Pháp
5.
Câu triệu Pháp.
1.
Tức tai Pháp (Pháp giải trừ tai ương). Một khi chúng ta trì
Chú lăng Nghiêm thì hết thảy tai ương đều được giải
trừ.
2.
Hàng phục Pháp (Pháp làm cho hàng phục). Bất luận đối phương
là thứ thiên ma ngoại đạo gì chăng nữa, một khi chúng ta
trì Chú Lăng Nghiêm thì pháp lực của chúng ma liền bị phá
vỡ, chúng sẽ bị hàng phục dễ dàng.
3.
Tăng ích Pháp (Pháp giúp tăng trưởng lợi ích). Thí dụ chúng
ta tu đạo, Chú Lăng Nghiêm sẽ giúp chúng ta tăng trưởng trí
tuệ, tăng trưởng bồ đề tâm, tăng trưởng nguyện lựcỦmọi
thứ đều tăng trưởng. Ðó là pháp làm gia tăng sự lợi
ích.
4.
Thành tựu Pháp (Pháp giúp cho được thành tựu). Chúng ta trì
Chú Lăng Nghiêm, thì bất luận chúng ta tu pháp môn gì, chú
này cũng sẽ giúp chúng ta được thành tựu.
5.
Lại còn một loại nữa là Câu triệu Pháp (Pháp thâu tóm
về). Pháp này có thể dùng khi chúng ta gặp thiên ma ngoại
đạo và muốn bắt chúng, cũng như trên thế gian cảnh sát
bắt kẻ phạm tội vậy. Bất luận là thiên ma hay ngoại đạo,
nếu chúng ta muốn bắt giữ chúng thì hết thảy Hộ Pháp
Thiện Thần, Thiên Long Bát Bộ, và tám muôn bốn ngàn Kim Cang
Tạng Bồ Tát tức khắc bắt giữ chúng. Ðó là Câu Triệu
Pháp.
Chú
Lăng Nghiêm gồm năm hội, và được phân ra trên ba mươi bộ
pháp. Lúc tôi ở Ðông Bắc tôi nhờ vào công lực của Chú
Lăng Nghiêm để trị bịnh. Nhưng chẳng phải ai ai cũng tùy
tiện sử dụng Chú Lăng Nghiêm được, nếu có dùng chú này
chăng nữa thì cũng không sử dụng được toàn bộ, vì chú
này bao gồm trên ba mươi bộ pháp.
Khi
nghe tôi nói như vậy thì có một số giáo sư đại học ở
Mỹ không hiểu Phật-pháp nói rằng "A! Hóa ra Chú Lăng Nghiêm
là do nhiều bài chú nhỏ chắp nối lại mà thành!" Qúy Phật
tử nghĩ xem, đúng là làm trò cười cho thiên hạ! Chính họ
cũng chẳng hiểu ất giáp gì cả, nên mới lấy bộ óc chứa
đầy kiến thức khoa học của một giáo sư đại học mà
suy đoán tầm mức bất khả tư nghị của Chú Lăng Nghiêm.
Vì
sao tôi lại nhắc đến Chú Lăng Nghiêm? Vì Phật do Chú Lăng
Nghiêm mà thuyết Kinh Lăng Nghiêm. Nếu chẳng có Chú Lăng Nghiêm
thì căn bản chẳng có Kinh Lăng Nghiêm.
Do
đó vị phiên dịch Kinh Lăng Nghiêm sang Anh ngữ nói trên đã
bỏ Chú Lăng Nghiêm và cũng không dịch phần nghi quy kết đàn.
Như vậy, có thể nói rằng bản dịch Anh ngữ ấy chẳng khác
gì người mất đầu. Một người không có đầu thì còn chi
hữu dụng nữa? Cho nên người phiên dịch Kinh điển không
được tự mình phán đoán, không được dùng cái trí tuệ
hoặc cái tri kiến nông cạn, hạn hẹp của mình mà cắt câu
lấy nghĩa, tự tiện thêm bớt, làm sai lệch ý văn. Người
có thái độ như vậy đối với Kinh điển thì không thể
chấp nhận được.
Hiện
nay tại Kim Sơn Thánh Tự chúng ta đang thực hiện công tác
phiên dịch Kinh điển. Phàm những lời trong Kinh phải tuyệt
đối lưu giữ, không được "bỏ đầu xén chân." Lại cũng
không thể như vị giáo sư nào đó đã phiên dịch "lưỡng
túc tôn" đấng đầy đủ cả hai, nghĩa là phước huệ là
"đấng hai chân." Ông đã dịch: "Quy y Phật, đấng hai chân."
Dịch
như vậy không thể nói là chẳng đúng, tuy nhiên ít nhiều
cũng có lệch lạc không tương hợp với ý chính của Kinh.
Bởi vậy, tại Kim Sơn Thánh Tự chúng ta phải hết sức cẩn
thận trong công tác phiên dịch Kinh điển, không được tùy
tiện "thủ tiêu" bất cứ một đoạn nào trong Kinh. Hôm nay
giảng Kinh Lăng Nghiêm tôi nhân tiện trình bày cho quý Phật
tử rõ.
Chương
Ðại Thế Chí Bồ Tát
Niệm
Phật Viên Thông
Ðại:
Ðại là gì? Ðại là trái với tiểu, nhưng ở đây "đại"
mà "vô ngoại," nghĩa là chẳng có gì lớn hơn nữa. "Ðại"
ở đây là thể của pháp, đồng thời cũng là Phật tánh
của chúng sanh. Ðó là "đại nhi vô ngoại," "tiểu nhi vô nội,"
bao trùm tận thư không gồm hết pháp giới.
Do
đó nói rằng Ðại Thế Chí Bồ Tát làm một động tác như
đưa tay lên hoặc bước tới một bước, thì thập phương
thế giới đều rúng động. Uy lực của Ngài vô cùng lớn
lao, cho nên gọi là "Ðại Thế Chí." Bởi vậy khi Ngài di động,
cả mười phương thế giới đều rúng động. Có người thắc
mắc: "Ngài thường đi đây đi đó hay không?"
Quý
Phật tử chớ nên bận tâm về việc này, vì một khi Ngài
Ðại Thế Chí di chuyển thì thập phương thế giới thường
chấn động, do đó Ngài thường ở trong đại định. Tuy nhiên,
mặc dù Ngài nhập định nhưng Ngài vẫn có mặt cùng khắp,
hào quang của Ngài chiếu sáng cùng khắp, trí tuệ của Ngài
cũng ở cùng khắp.
Quý
Phật tử cũng chẳng nên nghĩ rằng: "Oh!" "Ngài Ðại Thế
Chí Bồ Tát nhất định là một vị rất quê mùa, thô lổ.
Nếu không như thế thì bước chân của Ngài đâu có thể
làm chấn động thập phương thế giới? Nhất định bước
chân của Ngài rất nặng nề."
Chẳng
phải như thế đâu. Không phải bước chân của Ngài nặng
nề như quý vị suy đoán. Quý vị không nên lấy cái tri kiến
của phàm phu mà suy đoán Thánh nhơn. Chẳng qua là oai đức
của Ngài làm chấn động thập phương thế giới. Không những
Ngài có oai đức to tát như vậy mà Ngài còn có thể dùng
năng lực của mình để khiến cho thập phương thế giới
được bình an vô sự, chẳng có mảy may chấn động. Cho nên
mặc dù Ngài có năng lực như vậy nhưng chưa hẳn Ngài mang
quyền lực này ra sử dụng, đó là Ðại Thế Chí Bồ Tát.
Vừa
qua tôi đã giảng nghĩa ba chữ "Ðại Thế Chí." "Bồ-tát"
là gì? "Bồ-tát" là "bồ dã, giác dã, tình dã." Tức là giác
hữu tình. Nói đầy đủ là Bồ Ðề Tát Ðỏa, phạn ngữ
là Bodhisattva. Bồ-tát là bậc giác ngộ trong số chúng sanh,
cũng có thể nói rằng Bồ-tát là chúng sanh đã giác ngộ.
Làm
sao có thể nói Bồ-tát là bậc giác ngộ từ trong chúng sanh?
Bồ-tát vốn cũng là chúng sanh như quý vị, như tôi. Chẳng
qua là Bồ-tát nguyện phát bồ đề tâm, dũng mãnh tinh tấn,
hành Bồ-tát đạo, Ồxả những gì mà người khác không thể
xả bỏ được, nhẫn những gì mà người khác không thể
nhẫn được, làm những gì mà người khác không thể làm
được, và đem lại lợi ích cho hết thảy chúng sanh. Vì Bồ-tát
làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh cho nên mới được giác
ngộ, và là một bậc giác ngộ trong số chúng sanh chúng ta.
Bồ-tát
vốn chẳng khác gì chúng ta. Chẳng những Bồ-tát giống như
chúng ta, mà ngay cả Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn sanh đi sanh
lại nhiều kiếp ở nhân địa, thì Ngài cũng là chúng sanh
như quý vị, như tôi. Hiện giờ tôi, quý vị và hết thảy
chúng sanh đều là chư Phật trong vị lai, cho nên Phật xem
hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ trong quá khứ, đều là
chư Phật trong vị lai. Quán sát như vậy nên Ngài xem hết
thảy chúng sanh đều là cha mẹ trong quá khứ, do đó đối
với mỗi chúng sanh Ngài đều có tâm hiếu thuận. Ngài xem
mỗi chúng sanh đều là Phật trong vị lai, do đó Ngài có lòng
cung kính đối với mỗi chúng sanh. Ðối với tất cả chúng
sanh Ngài vừa có tâm cung kính vừa có tâm hiếu thuận.
Cho
nên Ngài đối xử với hết thảy chúng sanh rất bình đẳng,
nhìn chúng sanh với đôi mắt từ bi, và cũng trên phương diện
này, Bồ-tát là bậc giác ngộ trong chúng sanh. Lại nữa, Ngài
mang đạo lý mà Ngài giác ngộ được ra giáo hóa chúng sanh,
khiến hết thảy chúng sanh cũng đều giác ngộ như Ngài để
được lợi ích, cho nên gọi đó là "tự lợi, lợi tha." Vừa
qua tôi đã giải thích đại khái về Bồ-tát.
"Niệm
Phật." Tôi xin quý vị hãy nhận thức rõ ràng hai chữ "Niệm
Phật" trong chương "Ðại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên
Thông." Ý nghĩa của Kinh văn chẳng phải là Ngài Ðại Thế
Chí Bồ Tát được thỉnh cầu niệm Phật, mà là Ðại Thế
Chí Bồ Tát hiện thân thuyết pháp, dạy chúng ta và hết thảy
chúng sanh rằng: "Tôi nhờ pháp môn Niệm Phật mà đắc viên
thông. Nếu người nào y theo phương pháp này tu hành thì khả
dĩ cũng đắc viên thông." Ngài đã đắc viên thông, Ngài muốn
hết thảy chúng sanh đều đắc viên thông như Ngài.
Cho
nên "Niệm Phật" ở đây chẳng phải chính Ngài Ðại Thế
Chí niệm Phật, vì Ngài đã "Niệm vô sở niệm," Ồchẳng
niệm mà niệm, niệm mà không niệm. Ngài đã đạt mức viên
thông này và nhiều kinh nghiệm về pháp môn niệm Phật. Cho
nên Ngài dạy chúng ta và hết thảy chúng sanh rằng: "Quý vị
có biết chăng? Tôi từ con đường Niệm Phật mà đến. Phương
pháp này giúp tôi đắc viên thông, nay tôi truyền cho quý vị,
quý vị có thể dùng pháp môn Niệm Phật này mà đắc viên
thông."
Niệm
Phật có bốn phương pháp:
1.
Trì danh niệm Phật
2.
Quán tượng niệm Phật
3.
Quán tưởng niệm Phật
4.
Thực tướng niệm Phật
1.
Trì danh niệm Phật:
Trì
danh niệm Phật là thường thường chuyên niệm sáu tiếng
"Nam Mô A Di Ðà Phật." Lúc tôi ở tại Ðài Bắc tôi gặp
một người rất bướng bỉnh. Tôi bảo y niệm Phật, y trả
lời: "Niệm Phật nào có lợi ích gì? Thay vì niệm Phật thì
để tôi niệm tôi hay hơn." Tôi đáp: "Cũng vậy thôi, nếu
ông niệm ông, mà có thể thành Phật được thì cũng được
thôi." Chúng ta niệm Phật là vì đức Phật A Di Ðà lúc còn
ở nhân địa đã phát bốn mươi tám đại nguyện.
Một
trong bốn mươi tám đại nguyện ấy là: "Tất cả chúng sanh
trong thập phương thế giới, nếu có người nào xưng danh
hiệu tôi thì người đó nhất định thành Phật; nếu người
đó không thành Phật thì tôi thề không thành Chánh giác, tôi
cũng chẳng thành Phật."
Căn
cứ vào lời đại nguyện này, chúng ta chẳng khác gì được
đi trên một chiếc thuyền để đến bờ bên kia. Nguyện lực
của Phật A Di Ðà chính là bản hợp đồng mà trong quá khứ
Ngài đã cùng chúng ta và chúng sanh trong thập phương ký kết
với nhau. Cho nên, nếu chúng ta niệm Phật mà chẳng được
sanh về thế giới Cực Lạc thì đức Phật A Di Ðà cũng thiếu
tư cách để thành Phật. Vì mối quan hệ này cho nên mỗi
chúng ta nên thành tâm thực hành pháp môn niệm Phật.
Pháp
môn niệm Phật là một pháp môn đơn giản nhất, viên dung
nhất, một pháp môn đi tắt chóng thành Phật nhất. Pháp môn
này cũng chẳng đòi hỏi nhiều thời gian, chẳng phải hao
tốn tiền bạc. Người già cả cũng có thể niệm Phật, người
trẻ tuổi cũng có thể niệm Phật, kẻ tráng niên cũng có
thể niệm Phật, người bịnh cũng như người khỏe mạnh
đều có thể niệm Phật. Theo pháp môn Niệm Phật này thì:
Tam
căn phổ bị
Lợi
độn kiêm thu
Tam
căn phổ bị: Ba căn là thượng, trung, hạ tức là kẻ có
trí tuệ, người bình thường, kẻ ngu đần. Cả ba hạng người
này đều có thể niệm Phật để được sanh về thế giới
Cực Lạc.
Lợi
độn kiêm thu: Là bao gồm cả hạng người thông minh nhất
(như Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, hai Ngài
đều phát nguyện vãng sanh Tịnh Ðộ) lẫn hạng người ngu
đần nhất. Ngay cả loài súc sanh như chim anh võ, chim bát ca,
chúng đều niệm Phật và cũng được vãng sanh về thế giới
Cực Lạc, hà huống là "vạn vật chi linh, như loài người
chúng ta" mỗi người niệm Phật đều có hy vọng vãng sanh
thế giới Tây Phương Cực-Lạc. Vì Ðức Phật A Di Ðà và
chúng ta có ký kết hợp đồng, không lý Ngài đã ký kết
rồi bỏ qua hay sao? Cho nên chúng ta dựa vào hiệu lực của
hợp đồng này nhất quyết có thể vãng sanh về thế giới
Tây Phương Cực-Lạc vậy.
2.
Quán Tượng Niệm Phật:
Quán
tượng tức là thỉnh một bức tượng Phật A Di Ðà, rồi
vừa niệm Phật vừa quán tưởng tướng hảo trang nghiêm của
Phật A Di Ðà, nhất là ánh hào quang tướng bạch hào giữa
hai mắt. Thường thường quán tượng để niệm Phật rất
dễ đắc Niệm Phật Tam muội, đạt tới nhất tâm bất loạn.
Chủ yếu trong việc niệm Phật là đạt tới nhất tâm bất
loạn, đắc Niệm Phật Tam muội. Nếu quý vị đắc Niệm
Phật Tam muội thì dù có mưa to gió lớn cũng không lay chuyển.
Bất luận quý vị đi, đứng, ngồi, hay nằm, nhứt nhứt đều
ở trong Tam muội, đi cũng Di Ðà, ngồi cũng Di Ðà; đi cũng
Phật, ngồi cũng Phật. Quý vị ở trong Tam muội thì sẽ được
thấm nhuần nước trí tuệ. Ðạt tới Niệm Phật Tam muội,
nhất tâm bất loạn, thì nhất định sẽ được vãng sanh.
3.
Quán Tưởng Niệm Phật:
Quán
tưởng tức chỉ đơn thuần quán tưởng, không cần phải
có tượng phật trước mặt. Quán tưởng:
A Di
Ðà Phật thân kim sắc,
tướng
hảo quang minh vô đẳng luân,
bạch
hào uyển chuyển ngũ Tu Di,
cám
mục trừng thanh tứ đại hải,
quang
trung hóa Phật vô số ức,
hóa
Bồ-tát chúng diệc vô biên,
tứ
thập bát nguyện độ chúng sanh,
cửu
phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.
Quán
tưởng bài kệ tán Phật này cũng có thể đắc Niệm Phật
Tam muội.
4.
Thực Tướng Niệm Phật:
Thực
tướng niệm Phật tức niệm mà không niệm, không niệm mà
niệm, lúc đó hành giả đi vào tham thiền. Cho nên người
hiểu rõ niệm Phật chân chính không phản đối tham thiền;
người hiểu rõ tham thiền chân chính cũng chẳng phản đối
niệm Phật. Chẳng những không phản đối niệm Phật mà cũng
chẳng phản đối Giáo Tông, Mật Tông, Luật, Mật, Tịnh nhưng
hợp lại thì "nhất tông bất lập," một tông cũng chẳng
có, tất cả đều hổ trợ lẫn nhau, tông này cùng tông nọ
đều có mối tương quan với nhau.
Chúng
ta là chúng sanh chẳng nên tự sanh tâm phân biệt, chẳng nên
"đầu thượng an đầu" trên đầu còn đặt thêm đầu nữa,
nói rằng: "Thiền tông là Thiền tông, Mật tông là Mật tông,
chẳng có tương quan gì cả." Không phải như vậy! Tất cả
các tông vốn là một, vốn chẳng có phân biệt quá nhiều
như vậy, chỉ vì chúng sanh không có việc chi làm, muốn tìm
cái gì để làm, cho nên phân ra đây một tông, đó một tông;
nam một tông; bắc một tông; đông một tông; tây một tông,
trên một tông, dưới một tông, rốt cuộc chẳng biết tôi
thuộc tông nào, ông thuộc tông nào.
Tại
Mỹ thường có người hỏi tôi: "Chẳng hay thầy thuộc tông
nào?" Tôi đáp: "Chẳng tông nào cả. Nếu tôi thuộc một tông
thì tôi đang ở trong một phạm vi hạn hẹp; tôi chẳng thuộc
tông nào thì tận hư không, cùng khắp pháp giới đều là
của tôi, bao trùm tất cả. Tại sao tôi lại tự vẽ cho mình
một phạm vi nhỏ bé, tạo ra một giới hạn chật hẹp, nói
rằng mình thuộc một tông nào đó? Tôi thuộc Phật giáo,
không có tông mà cũng chẳng có phái lại cũng chẳng có môn
mà cũng không có hộ. Tôi với tông nào cũng là một." Tôi
thường nói thế này:
Chân
nhận tự kỷ thác,
Mạc
luận tha nhân phi,
Tha
phi tức ngã phi,
Ðồng
thể danh Ðại Bi.
(Thành
thật nhận lỗi mình,
Chớ
bàn luận lỗi người,
Lỗi
người tức lỗi mình,
Ðồng
thể tức Ðại Bi.)
Hãy
nhìn nhận một cách thành thật lỗi lầm của mình, không
nên bàn luận lỗi lầm của người khác, kẻ khác có lỗi
lầm tức mình có lỗi lầm, lỗi lầm của họ cũng là lỗi
lầm của mình, phải tìm cách tự sửa sai mới đúng. Chớ
nên bất cứ lúc nào miệng cũng luôn nói: "Không đúng, không
đúng, không đúng, không đúng!" Thử hỏi như vậy có ích
lợi chi? Cho nên có câu: "Ðồng thể danh Ðại Bi," vì tất
cả đều là một thể, đó là đại bi tâm. Quý vị đi đâu
để tìm đại bi tâm? Quý vị tìm nó từ bản thân của quý
vị, chẳng cần đi tìm cầu bên ngoài.
Như
vậy thực tướng niệm Phật tức là tham thiền. Do đó quý
vị Thiện tri thức chớ nên làm một đệ tử bất hiếu của
Phật Thích Ca Mâu Ni, chớ nên luôn quấy nhiễu, chớ nên gây
tổn thương tình ruột thịt, chớ nên tự tạo rắc rối cho
mình. Ðó là kỳ vọng của tôi đối với Phật giáo hiện
đại.
Bấy
giờ, thời gian không cho phép chúng ta tiếp tục. Quý vị Phật
tử cần về nghỉ ngơi để ngày mai kẻ đi làm, người bận
việc khác, ép buộc tinh tấn thái quá cũng chẳng tốt. Mong
quý vị về nhà nếu trằn trọc chưa ngủ được thì hãy
niệm Phật. Chúc quý vị Phật tử một đêm an lành.
Bây
giờ chúng ta cùng Quy Y Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo.
Nam
Mô Thường Trụ Thập Phương Phật
Nam
Mô Thường Trụ Thập Phương Pháp
Nam
Mô Thường Trụ Thập Phương Tăng
Kinh
Ðại Bảo Tích nói: "Vào thời Mạt pháp, một ức người
tu hành chỉ một người đắc đạo cũng rất là hiếm, duy
có nương vào niệm Phật mà đắc độ." Tu hành vào thời
mạt pháp không dễ gì đắc đạo, duy có nương vào pháp môn
niệm Phật mới dễ thành tựu đạo nghiệp.
Ðại
Thế Chí Bồ Tát là một trong Tam Thánh ở cõi Tây Phương
mà đức giáo chủ là Phật A Di Ðà. Ðức Quán Thế Âm và
Ðức Ðại Thế Chí cùng đến giúp Ngài tiếp dẫn chúng sanh
về cõi Cực Lạc. Cho nên pháp môn niệm Phật rất được
các Ngài đề cao.
Chúng
ta niệm Phật cần niệm đến mức nhất tâm bất loạn, đạt
tới niệm Phật Tam muội. Muốn đạt tới trình độ này thì
phải làm thế nào? Trước tiên phải chuyên nhất, luôn giữ
chánh niệm mà trì danh niệm Phật. Cách đây hơn hai mươi
năm tôi có viết một bài kệ về niệm Phật, nay xin đọc
lại cho quý vị nghe.
Kệ
rằng:
Niệm
Phật năng niệm vô gián đoạn,
Khẩu
niệm Di Ðà đả thành phiến,
Tạp
niệm bất sanh đắc Tam muội,
Vãng
sanh Tịnh Ðộ định hữu phần,
Chung
nhật yếm phiền Ta-bà khổ,
Tài
tương hồng trần tâm niệm đoạn,
Cầu
sanh Cực Lạc ý niệm trọng,
Phóng
hạ nhiễm niệm quy tịnh niệm.
Niệm
Phật niệm hoài không gián đoạn,
Hồng
danh đồng khởi tại tâm can,
Tạp
niệm không sanh tam muội được,
Vãng
sanh Tịnh độ có phần sang,
Trọn
ngày chán nản Ta bà khổ,
Tâm
niệm hồng trần dứt sạch quang,
Cầu
sanh Cực Lạc luôn trong ý,
Nhiễm
niệm dứt trừ, tịnh niệm toàn.
"Niệm
Phật năng niệm vô gián đoạn" tức là quý Phật tử có thể
niệm Phật đến độ không gián đoạn.
"Khẩu
niệm Di Ðà đả thành phiến," tức quý vị luôn niệm sáu
tiếng hồng danh, "Nam Mô A Di Ðà Phật," niệm cho đến gió
thổi chẳng lọt, mưa tuôn không thấm. Lúc đó mới thực
sự đạt tới cảnh giới Niệm Phật Tam muội, cho nên mới
nói rằng miệng niệm Di Ðà khư khư chẳng rời.
"Tạp
niệm bất sanh đắc Tam-muội," tức là hết thảy tạp niệm
đều không nảy sanh, cho nên nói rằng:
Một
niệm chẳng sanh toàn thể hiện,
Lục
căn thoáng động bị mây che.
Quý
vị có thể niệm cho đến một niệm cũng chẳng sanh, thì
tạp niệm gì cũng chẳng còn, như vậy ắt đắc niệm Phật
Tam muội.
"Vãng
sanh Tịnh Ðộ định hữu phần." Một khi đạt tới Niệm
Phật Tam muội rồi thì nhất định được sanh về cõi Tịnh
Ðộ. Quý vị nhất định có hy vọng sanh về thế giới Tây
Phương Cực Lạc bốn câu trước đã giải thích qua, sau đây
là bốn câu còn lại:
"Chung
nhật yếm phiền Ta-bà khổ," tức là Ngày ngày đều cảm
thấy cõi Ta bà đầy khổ não, thế giới Cực Lạc rất an
vui, cho nên mình hãy luôn nhàm chán cõi khổ Ta bà.
"Tài
tương hồng trần tâm niệm đoạn," tức tâm niệm hồng trần
mới diệt được. Vì mình chán ghét cái khổ nên muốn được
an lạc, hễ muốn có an lạc thì hãy từ bỏ những thú vui
vật chất tạm bợ trên thế gian.
"Cầu
sanh Cực Lạc ý niệm trọng." Ðiều rất quan trọng là có
tâm mong cầu vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
"Phóng
hạ nhiễm niệm quy tịnh niệm," nghĩa là mình có thể rời
bỏ ý niệm nhiễm ô thì là lúc Tịnh Ðộ đã chín muồi.
Trái lại, nếu vẫn còn níu kéo cái ý niệm ô nhiễm kia thì
nhứt quyết chẳng thể nào vui hưởng sự an lạc thanh tịnh
của Thế Giới Cực Lạc được.
Bài
kệ tám câu này tuy rất ngắn gọn nhưng nếu ta suy ngẫm kỹ
thì rất lợi lạc cho ai tu pháp môn Tịnh Ðộ.
Ðại
Thế Chí Bồ Tát đắc niệm Phật "Viên thông": Viên là viên
dung vô ngại; thông là thông đạt. Niệm Phật tới mức vừa
viên dung lại vừa thông đạt, tức là niệm Phật đến viên
mãn, niệm đến thành tựu, đồng thời cũng chứng đắc sự
và lý đều viên dung vô ngại. Ðạt được cảnh giới này
thì gọi là viên thông.
"Chương"
tức là chương của "Hai Mươi Lăm Viên Thông" trong Kinh Lăng
Nghiêm. Nếu quý vị muốn hiểu đầy đủ hai mươi lăm viên
thông xin nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm.
Trung
Thiên Trúc Sa Môn
Bát
Lặc Mật Ðế dịch
"Trung
Thiên Trúc" là một quốc gia tại Ấn Ðộ. Ấn Ðộ phân ra:
Ðông, Tây, Nam, Bắc và Trung Ấn. Trong mỗi khu lại có rất
nhiều quốc gia. Sa Môn Bát Lặc Mật Ðế là người xứ Trung
Thiên Trúc.
"Sa
Môn," Phạn ngữ dịch ra tiếng Trung Hoa là "Cần Tức," nghĩa
là chuyên cần tu giới, định, huệ, dập tắt tham, sân, si.
"Cần tu" là không giải đãi, không thối chuyển, thời thời
khắc khắc luôn tinh tấn dõng mãnh, cứ hướng về phía trước
bước tới, chẳng thối chuyển, không lười biếng. Không
lười biếng ở đây chẳng phải là chỉ một ngày không lười
biếng mà là bất cứ ngày nào cũng không lười biếng; chẳng
phải hôm nay tinh tấn, hôm sau giải đãi. Tinh tấn một ngày,
giải đãi mười ngày thì không kể là tinh tấn, phải tinh
tấn trọn đời, chuyên cần trì giới trọn đời.
Giới
là:
Không
làm điều ác
Làm
mọi điều thiện
Không
làm điều ác tức là làm mọi điều lành; nếu có thể làm
tất cả mọi điều lành tức là chẳng làm các điều ác.
Cho nên trì giới cần tinh nghiêm, "nghiêm tịnh tỳ ni, hoằng
phạm tam giới," phải lấy chính mình làm mẩu mực, tự mình
nêu gương tốt. Ðó mới là trì giới.
Lại
nữa phải tu định. Ðịnh là một thứ công phu của thiền
định. Thiền định cần tu luyện thường xuyên thì mới sanh
định. Do giới mà sanh định. Nếu quý vị muốn có định
thì việc trước tiên là phải trì giới. Nếu thiếu trì giới
tâm sẽ tán loạn, không thể nào có định được. Không có
định, cố nhiên sẽ không sanh tuệ. Cho nên do định mà phát
tuệ. Ðó gọi là Tam vô lậu học. Nếu mình cần mẫn tu giới
định tuệ thì sẽ siêu xuất tam giới. Diệt được tham sân
si thì chẳng bị đọa tam ác đạo.
Vì
sao từ vô lượng kiếp đến nay mà chúng ta vẫn không thành
Phật? Vẫn là chúng sanh? Vẫn đi ra vào mãi trong lục đạo
luân hồi? Chỉ vì tham sân si tam độc làm cho chúng ta say đến
mức mất hết giác ngộ. Chúng ta bị tham sân si tam độc làm
cho mê mê hồ hồ, điên điên đảo đảo khiến cho chúng ta
chẳng thể lội ngược dòng sanh tử, chỉ có cách thuận theo
dòng lục trần phàm phu. Từ vô lượng kiếp đến nay, chỉ
vì tham sân si nó che lấp cái ánh sáng tự tánh của chính
mình.
Tham,
tức là chẳng biết chán. Sân, là do tham mà chẳng được
nên nổi sân; chỉ vì tham chẳng biết chán nên khi chẳng được
gì cả bèn sanh sân hận. Sanh sân hận rồi, sau đó mới tiến
đến cảnh giới ngu si, đi vào con đường ngu si. Sân là ngọn
lửa vô minh, vô minh tức là có nóng giận. Một khi lửa vô
minh bùng cháy thì theo đó cơn sân bốc lên.
Vì
sao có vô minh? Chỉ vì tiền kiếp mình tạo tội quá nặng.
Do đó, tục ngữ có câu: "Lửa vô minh chẳng khác gì thần
hổ, đó là do nghiệp căn từ tiền kiếp." Lửa vô minh là
gốc rễ của nghiệp từ tiền kiếp.
Thế
nào gọi là ngu si? Người ngu si toàn khởi những vọng tưởng
ngông cuồng. Thí dụ con ếch muốn ăn thịt con ngỗng, đó
là ngu si bởi vì con ếch làm sao mà ăn ngỗng được? Lại
nữa, không đi học mà muốn có mảnh bằng tiến sĩ, mạo
nhận ta là học giả với phong độ của một tri thức, sống
có vẻ như ta là một tiến sĩ. Chẳng đi học gì cả mà muốn
có bằng tiến sĩ. Ðó mới là ngu si. Lại có người chẳng
hề mua vé số mà muốn trúng độc đắc, không vốn muốn
sinh lời, thì đó cũng là hạng người ngu si vậy. Không làm
ruộng, nhưng vào mùa thu trông thấy người ta gặt lúa thì
cũng muốn có thu hoạch hoa lợi như họ, đó là việc tuyệt
đối chẳng thể có được.
Cho
nên Ông Hồ Ðại Xuyên có làm bài thơ Huyễn Tưởng Thi diễn
tả ý nghĩ của người ngu si như sau:
Háo
hoa thường linh triều triều diễm,
Minh
nguyệt hà phương dạ dạ viên,
Ðại
địa hữu tuyền giai hóa tửu,
Trường
lâm vô thọ bất dao tiền.
"Háo
hoa thường linh triều triều diễm." Người tham sắc muốn
hoa ngày ngày tươi đẹp, chẳng bao giờ tàn. Cho nên họ ao
ước hoa luôn tươi thắm, thậm chí muốn vợ mình chẳng bao
giờ già, cứ trẻ đẹp mãi. Ðó là ý nghĩ của người tham
sắc.
Còn
người thích du ngoạn thì nghĩ gì? "Minh nguyệt hà phương
dạ dạ viên." Vào ngày rằm trăng tròn và sáng, qua rằm thì
trăng khuyết một ít và càng ngày càng khuyết nhiều hơn.
Người thích thưởng trăng bèn nghĩ rằng: "Nếu đêm nào trăng
cũng tròn như thế này thì hay biết mấy!"
Người
thích uống rượu, vì hiện nay rượu quá đắt, tốn kém nhiều,
bèn nghĩ rằng: "Ngày ngày mình uống rượu, phải chi tất
cả dòng suối trên mặt đất biến thành rượu, đến nơi
nào cũng có rượu uống, chẳng tốn tiền mua rượu mà vẫn
có thể say sưa. Như vậy thì hay biết mấy!" Khởi vọng tưởng
như thế thì thật là ngu muội.
Còn
người bị đồng tiền mê hoặc thì sao? Người này cũng khởi
vọng tưởng chẳng kém. Hắn nghĩ bụng: "Tiền! Hiện nay mình
phải làm lụng vất vả mới kiếm được tiền. Ước gì
tất cả cây trong rừng đều biến thành tiền, chỉ đến
lắc nhẹ là tiền rơi xuống tha hồ tiêu xài. Cây ở hai bên
lề đường cũng thế. Quả là tốt lắm ư!"
Quý
Phật tử nghĩ xem, trên đây là những thí dụ về vọng tưởng
ngu si, làm không được mà cũng cố nặn óc nghĩ ra. Như vậy
người sa môn thì sao? Người sa môn chẳng có tâm si mê vọng
tưởng, nhất tâm tu đạo. Sa Môn có bốn hạng:
1.
Thắng Ðạo Sa MônỐBậc Sa Môn tu đạo chứng quả, gia nhập
hàng ngũ Thánh nhân, được gọi là "thắng đạo sa môn."
2.
Thuyết Ðạo Sa MônỐBậc Sa Môn giảng kinh thuyết pháp, giáo
hóa chúng sanh, được gọi là "thuyết đạo sa môn.
3.
Hoạt Ðạo Sa MônỐBậc Sa Môn lấy pháp làm lẽ sống, lấy
đạo làm lẽ sống. Trong Phật giáo hàng sa môn này có thể
tu đạo lại vừa phát bồ đề tâm.
4.
Ô Ðạo Sa MônỐÔ là dơ bẩn. Ðây là hạng Sa Môn chẳng
giữ giới luật, chẳng tu giới định huệ, Chẳng đoạn trừ
thâm sân si. Tuy cũng được gọi là sa môn, nhưng hàng sa môn
này nên sanh tâm hổ thẹn, cần tự vấn lương tâm.
"Bát
Lặc Mật Ðế," là tên vị dịch giả bằng Phạn ngữ, dịch
ra Hán Văn là "Cực Lượng," nghĩa là lượng của Ngài rất
lớn, có thể nói: Kiến thức của Ngài bao trùm cả trời
đất, tâm của Ngài trong sáng như mặt trời mặt trăng.
Lại
có thể nói tâm Ngài bao trùm hư không, lượng của Ngài trải
khắp thế giới nhiều như cát sông Hằng, cho nên gọi là
cực lượng.
Vị
Sa môn này rất thông minh, có trí tuệ. Ngài mang "Kinh Lăng
Nghiêm" truyền sang Trung Quốc. "Kinh Lăng Nghiêm" vốn chẳng
dễ gì truyền ra nước ngoài. Lần đầu tiên Ngài có ý định
mang bộ Kinh này sang Trung Quốc, nhưng đến cửa ải thì bị
tra xét, và chẳng những nhà cầm quyền cấm mang bộ Kinh ra
khỏi nước mà chính ngay cả Ngài cũng bị cấm xuất dương.
Lần thứ hai, Ngài bèn chép bộ Kinh trên lụa rất mỏng với
nét chữ cực nhỏ. Rồi Ngài tự rạch bắp tay đặt kinh vào
rồi kéo da phủ kín vết thương, thoa thuốc cao lên, và bằng
cách này Ngài đã thành công mang bộ Kinh Lăng Nghiêm ra khỏi
nước.
Ðối
với người Trung Hoa Kinh Lăng Nghiêm rất lợi ích. Ngày xưa
có nhiều vị tổ sư xuất gia cũng như cư sĩ, nhờ đọc tụng
Kinh Lăng Nghiêm mà khai ngộ. Trong quá khứ, Kinh Lăng Nghiêm
đã mang nhiều lợi ích đến cho rất nhiều người. Do đó
công tác dịch Kinh Lăng Nghiêm của Ngài đối với chúng ta
hiện tại và tương lai sẽ giúp ích rất nhiều. Cho nên những
người nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm đều nên biết đến vị
Sa-môn dịch giả này.
Vị
Sa môn này thuộc ba hạng sa môn nói trên và không thuộc vào
hạng thứ tư. Ngài đến Trung Quốc vào đời nhà Ðường,
Sau khi Võ Tắc Thiên thoái vị. Ngài khởi sự dịch bộ Kinh
này vào ngày 23 tháng 5 khi Ngài tới Quảng Châu.
Ðối
với Phật-pháp và Phật giáo, Kinh Lăng Nghiêm có tác dụng
và uy lực rất lớn. Cho nên người nghiên cứu Phật-pháp
trước tiên cần hiểu rõ đạo lý trong Kinh Lăng Nghiêm.
Ngày
nay, chúng ta phải hộ trì bộ Kinh này, đừng để kinh bị
mai một.
Nếu
chúng ta không sinh vào thời điểm này thì chúng ta chẳng có
trách nhiệm gì cả. Chúng ta hiện ở trong đời này, vậy
bổn phận chúng ta là phải dùng toàn lực và mọi khả năng
để hộ trì bộ kinh này.
Khảo
xét quá trình lịch sử Phật giáo, bộ Kinh Lăng Nghiêm vốn
xuất xứ từ Long Cung. Ngài Long Thọ Bồ Tát đã đọc bộ
Long Tạng tại Long Cung. Lúc xem đến bộ Kinh này, Ngài dùng
trí nhớ của Ngài ghi lại toàn bộ Kinh, do đó trên thế gian
mới có bộ Kinh Lăng Nghiêm này. Nước Thiên Trúc xem bộ Kinh
Lăng Nghiêm là quốc bảo, cấm truyền ra nước ngoài. Vì người
Trung Hoa có nhân duyên lớn với Phật giáo, nên mới được
một vị Thắng Ðạo Sa Môn chẳng tiếc thân mạng mang bộ
kinh này sang Trung Quốc. Hiện nay ai có thiện duyên xem được
bộ Kinh Lăng Nghiêm đều nên đảnh lễ vị Sa môn này.
Trí
Giả Ðại Sư lúc chưa thấy bộ Kinh Lăng Nghiêm đã từng
hướng về nước Ấn Ðộ ở phương tây rập đầu lạy tên
bộ Kinh này. Ngài lạy như vậy trong mười tám năm, nhưng
rất tiếc Ngài vẫn chưa được trông thấy tận mặt bộ
Kinh. Như vậy chúng ta may mắn có thiện duyên hơn Trí Giả
Ðại Sư, chẳng cần lễ bái nhiều năm mà đã gặp được
Kinh Lăng Nghiêm. Quý vị nghĩ xem, có phải nhân duyên của
chúng ta hơn Trí Giả Ðại Sư chăng?
Chánh
Văn:
Ðại
Thế Chí Pháp Vương Tử, dữ kỳ đồng luân, ngũ thập nhị
Bồ-tát, tức tùng tọa khởi, đảnh lễ Phật túc, nhi bạch
Phật ngôn: Ngã ức vãng tích, Hằng hà sa kiếp, hữu Phật
xuất thế, danh Vô Lượng Quang, thập nhị Như Lai, tương kế
nhất kiếp. Kỳ tối hậu Phật, danh Siêu Nhật Nguyệt Quang.
Bỉ Phật giáo ngã niệm Phật tam muội. Tỷ như hữu nhân,
nhất chuyên vi ức, nhất nhơn chuyên vọng. Như thị nhị nhơn,
nhược phùng bất phùng, hoặc kiến phi kiến. Nhị nhơn tương
ức, nhị ức niệm thâm. Như thị nãi chí, tùng sanh chí sanh,
đồng ư hình ảnh, bất tương thừa di. Thập phương Như Lai,
lân niệm chúng sanh, như mẫu ức tử, nhược tử đào thệ,
tuy ức hà vi? Tử nhược ức mẫu, như mẫu ức thời, mẫu
tử lịch sanh, bất tương vi viễn. Nhược chúng sanh tâm, ức
Phật niệm Phật, hiện tiền đương lai tất định kiến Phật.
Khứ Phật bất viễn, bất giả phương tiện, tự đắc tâm
khai. Như nhiễm hương nhơn, thân hữu hương khí, thử tắc
danh viết, hương quang trang nghiêm. Ngã bản nhân địa, dĩ
niệm Phật tâm, nhập vô sanh nhẫn, kim ư thủ giới, nhiếp
niệm Phật nhơn, quy ư Tịnh Ðộ. Phật vấn Viên Thông, ngã
vô tuyển trạch, đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế,
đắc Tam Ma Ðịa, tư vi đệ nhất.
(Ngài
Ðại-thế-chí Pháp-vương-tử cùng với năm mươi hai vị Bồ-tát
đồng tu một pháp môn, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh
lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: "Con nhớ hằng hà
sa kiếp trước, có đức Phật ra đời, tên là Vô Lượng
Quang; lúc ấy mười hai đức Như-lai kế nhau thành trong một
kiếp, đức Phật sau hết, hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang,
dạy con pháp Niệm Phật Tam-muội. Ví như có người, một
đằng chuyên nhớ, một đằng chuyên quên, thì hai người ấy,
dầu gặp cũng không là gặp, dầu thấy cũng là không thấy;
nếu cả hai đều nhớ nhau, hai bên nhớ mãi, khắc sâu vào
tâm niệm, thì đồng như hình với bóng, cho đến từ đời
này sang đời khác, không bao giờ cách xa nhau. Thập phương
Như-lai thương tưởng chúng sinh như mẹ nhớ con, nếu con trốn
tránh, thì tuy nhớ, nào có ích gì; nếu con nhớ mẹ như mẹ
nhớ con, thì đời đời mẹ con không cách xa nhau. Nếu tâm
chúng sanh nhớ Phật, tưởng Phật, thì hiện nay hay về sau,
nhất định thấy Phật; cách Phật không xa thì không cần
phương tiện, tâm tự khai ngộ như người ướp hương thì
thân thể có mùi thơm, ấy gọi là hương-quang trang-nghiêm.
Bản nhân của con là dùng tâm niệm Phật mà vào Vô-sinh-nhẫn,
nay ở cõi này tiếp dẫn những người niệm Phật về cõi
Tịnh-độ. Phật hỏi về Viên thông, con thu nhiếp tất cả
sáu căn, không có lựa chọn, tịnh niệm kế tiếp, được
vào Tam-ma-đề, đó là thứ nhất".)
Lược
giải:
Ðại
Thế Chí Pháp Vương Tử, dữ kỳ đồng luân, ngũ thập nhị
Bồ-tát, tức tùng tọa khởi, đảnh lễ Phật túc, nhi bạch
Phật ngôn:
"Ðại
Thế Chí" tức là vị đại Bồ-tát có uy lực lớn. Ngài còn
có tên là "Vô Biên Quang Xí Thân Bồ Tát" vì hào quang của
Ngài tỏa khắp mười phương quốc độ. "Pháp Vương Tử":
Phật là pháp vương, là vua các pháp. Quốc gia thì có quốc
vương, trên trời thì có Ngọc Hoàng, tức là Thiên Vương.
Phật là Pháp Vương, còn Bồ-tát thì sao? Bồ-tát là đệ
tử của Pháp Vương, cho nên Pháp Vương Tử có nghĩa là đệ
tử của Pháp Vương. Do đó có câu rằng: "Phật là Pháp Vương,
tự tại nơi pháp."
Bồ-tát
là người học Phật-pháp, cho nên là đệ tử của Pháp Vương.
Vị Ðại Thế Chí Bồ Tát này là đệ tử của Pháp Vương.
Chẳng những chỉ có Ngài mà còn có "dữ kỳ đồng luân,
ngũ thập nhị Bồ-tát." "Dữ kỳ đồng luân" tức cũng là
Bồ-tát như Ngài. "Luân" có nghĩa là loại, nghĩa là cũng y
như Ngài. Tuy nói là Bồ-tát như Ngài nhưng ít nhiều cũng
có điểm khác nhau, vì có Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh,
Thập Hồi Hướng, Thập Ðiạ, tất cả là năm mươi vị.
Lại có thêm Ðẳng Giác và Diệu Giác Bồ Tát, cộng tất
cả là năm mươi hai vị. Năm mươi hai vị Bồ-tát tức là
năm mươi hai quả vị, và số Bồ-tát trong năm mươi hai quả
vị thì vô lượng vô biên.
Cho
nên Ngài Ðại Thế Chí Bồ Tát cùng với năm mươi hai vị
Bồ-tát "tức tùng tòa khởi." Lúc nói Viên Thông thứ hai mươi
ba xong thì những vị Bồ-tát bèn từ chỗ ngồi của mình
đứng dậy. Mỗi vị Bồ-tát đều có chỗ ngồi riêng của
mình. Bồ-tát có ý kiến cần phát huy, muốn trình bày cái
viên thông sở đắc của mình nên mới từ chỗ ngồi đứng
dậy. Ðó cũng biểu thị:
Pháp
chẳng tự khởi,
Theo
cảnh mà sanh;
Ðạo
chẳng hư dối,
Gặp
duyên tất ứng.
"Tức
tùng tòa khởi" cũng ám chỉ rằng Phật sắp nói pháp, và
đồng thời cũng ám chỉ Bồ-tát cũng sẽ nói về đạo lý
viên thông mà Ngài chứng đắc.
"Ðảnh
lễ Phật túc," đây muốn nói đảnh lễ bằng cách gieo năm
vóc chạm mặt đất, biểu lộ hết lòng cung kính. Lúc đảnh
lễ Phật nên có một sự quán tưởng. Quán tưởng gì? Hãy
quán tưởng rằng: "Năng lễ sở tánh không tịch," tức người
lạy và người được lạy tự tánh cả hai đều rỗng lặng.
"Cảm ứng đạo giao nan tư nghì," tức là tuy rằng rỗng lặng
nhưng lại có một thứ cảm ứng đạo giao, một thứ cảnh
giới khó thể nghĩ bàn hiện ra. Quý vị lễ bái một vị
Bồ-tát, hoặc một vị tôn Phật đều phải quán tưởng vị
Phật hoặc vị Bồ-tát đó.
Như
vậy Ngài Ðại Thế Chí Bồ Tất và các vị Bồ-tát theo Ngài
đều đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni, gieo năm vóc thân thể
xuống đất, cúi đầu sát đất, hai tay chạm chân Phật để
biểu lộ sự tôn kính tột độ.
"Nhi
bạch Phật ngôn." Rồi mới thưa với Phật. Những câu Kinh
văn nói trên là những lời lẽ được thêm vào lúc kết tập
Kinh Tạng.
Ngã
ức vãng tích, hằng hà sa kiếp, hữu Phật xuất thế, danh
vô Lượng Quang, Thập nhị Như Lai, tương kế nhất kiếp.
Ðại
Thế Chí Bồ Tát thưa rằng: Ngã ức vãng tích tức là Ngài
nhớ lại vào thời kỳ xa xưa trước kia, lúc Ngài mới bắt
đầu phát tâm. Bồ-tát sơ phát tâm không nhất định thành
công. Quan trọng nhất là sau khi sơ phát tâm phải "niệm luôn
không thối chuyển" thì mới có thể thành tựu Phật quả.
Nếu mình phát bồ đề tâm rồi sau đó lại thối chuyển
thì chẳng thể nào chứng được Phật quả. Mình vẫn có
thể chứng được Phật quả nếu trong tương lai mình phát
bồ đề tâm trở lại. Cho nên có bài kệ như sau:
Ngư
tử am-ma-la
Bồ-tát
sơ phát tâm
Tam
sự nhân trung đa
Cập
kỳ kết quả thiểu.
Ngư
tử tức là trứng của con cá. Cá đẻ rất nhiều trứng,
nhưng không nhất định mỗi cái trứng đều trở thành cá.
Cây am-ma-la cũng vậy, trổ bông thì sum sê mà đậu quả thì
chẳng bao nhiêu. Sơ phát tâm Bồ-tát thì cũng y như vậy; số
người sơ phát Bồ-tát tâm rất nhiều, nhưng thực sự chứng
đắc quả vị Bồ-tát thì rất ít. Sau đây là ý nghĩa của
bốn câu trên: Trứng cá chẳng khác gì hoa am-ma-la và kẻ sơ
phát tâm Bồ-tát: nhiều không thể kể xiết nhưng kết quả
lại chẳng có là bao.
Vị
Ðại Thế Chí Bồ Tát này chẳng hề thối thất bồ đề
tâm, cho nên Ngài nhớ được quá khứ, những việc từ xa
xưa.
"Hằng
hà sa kiếp:" Hằng hà tức sông Hằng ở Ấn Ðộ, chảy qua
nước Xá Vệ, nơi Phật thuyết pháp. Ai ai cũng biết đến
con sông này, vì vậy khi nói đến một con số to tát, Phật
thường đề cập tới số cát sông Hằng. Ngài Ðại Thế
Chí cũng dùng danh từ này để diễn tả thời gian lâu dài.
"Kiếp," Phạn ngữ, gọi là "Kiếp ba" (kalpa), còn gọi là "trường
thời phân" tức là một thời gian lâu dài.
"Hữu
Phật xuất thế:" Thời đó có một vị Phật xuất thế. "Danh
Vô Lượng Quang:" đức Phật xuất thế này danh hiệu là Vô
Lượng Quang. Lại còn có các đức Phật Vô Biên Quang, Vô
Ngại Quang, Vô Xưng Quang v.v...tổng cộng mười hai vị Như
Lai, cho nên gọi là "Thập Nhị Như Lai."
"Tương
Kế Nhứt Kiếp:" Trong đại kiếp ấy, liên tục trong một
thời gian cực kỳ lâu dài như vậy, có 12 đức Như Lai kế
tiếp nhau xuất thế.
Bây
giờ còn một ít thời gian, tôi xin kể lại một chuyến hành
hương lên Ðại Tiên Tự ngày hôm nay, thăm Ngài "Bất Thị
Lão Hòa Thượng." Ngài là một vị hòa thượng không già.
Vị
Hòa thượng này là ai? Là "Khai Thiền Bất Thị Lão Hòa Thượng."
Vì sao tôi gọi Ngài là chẳng phải lão hòa thượng?" Vì Ngài
tuy tuổi trên tám mươi nhưng rất hăng say làm việc, thân
thể tráng kiện, tay chân vẫn còn bắp thịt, có vẻ đầy
sức lực. Thấy Ngài như vậy cho nên tôi mới cho Ngài cái
tên "Bất Thị Lão Hòa Thượng" (chẳng phải lão hòa thượng).
Tôi hy vọng Ngài mãi mãi không già.
Vị
lão hòa thượng này rất vui tính, có thể nói Ngài có đại
trí tuệ, biện tài vô ngại; Ngài thích nói những câu ẩn
ý, và dùng trượng đánh phủ đầu. Ngài có một bài kệ
như sau:
Thủy
lưu bình địa bổn vô thanh,
Dạ
hữu cao đê nhi hữu thanh,
Ðại
đạo vô ngôn chu Pháp Giới,
Nhân
tham sân si nhi hữu tranh.
Nước
chảy trên đất vốn không ra
tiếng,
Ðất
có cao thấp mới có tiếng,
Ðại
đạo không lời trong Pháp Giới
Bởi
tham sân si mà có tranh.
Ngài
vừa nói xong thì có người lập tức lấy bút giấy ghi lại.
Nhưng tôi nói với Ngài: "Bài kệ này vốn chẳng phải của
Ngài. Tôi đã biết từ lâu và Ngài hãy nghe tôi đọc đây.
Ngài đã đọc bài kệ này tôi." Tôi liền đọc bài kệ ấy,
Ngài tỏ vẻ như hết sức kinh ngạc. Ngưng một lúc Ngài hỏi:
"Như vậy Ngài đã sớm biết bài kệ này ư?
Tôi
đáp: "Dĩ nhiên tôi đã biết từ lâu. Nếu không, thì tại
sao Ngài vừa thốt ra tôi liền nhớ được ngay?"
Sau
đó tôi và Ngài đàm đạo rất lâu. Trước khi kiếu từ tôi
đến ngồi trên ghế của Ngài, rồi ngồi trên giường của
Ngài một lúc. Rồi nói: "Bây giờ tôi không về nữa. Ngài
hãy rời khỏi nơi đây, Ngài chẳng thể ở đây được."
Ngài
nói: "Vậy, tôi ra phía ngoài ở." Tôi nói: "Ngài cũng không
được phép ở bên ngoài."
Vị
hòa thượng này rất vui tánh. Ðã ba phen tôi có ý định ra
về, và ba phen tôi quay trở lại. Tôi bèn nói: "Tôi rất thích
túp lều tranh này. Trên thế gian này không có gì hơn nó được,
chẳng những nó đứng hạng nhứt trên thế gian mà ngay trên
trời cũng chẳng tìm ra. Cho nên lần này tôi nhất định muốn
có túp lều tranh này. Vậy xin Ngài hãy rời nơi đây ngay!"
Tôi muốn dời chăn mền của Ngài, nhưng Ngài vẫn không đi,
rốt cuộc tôi phải ra về.
Tôi
nói: "Tôi sẽ trở lại thiêu rụi túp lều này, thử xem Ngài
sẽ ở đâu?"
Tôi
và Ngài tranh luận rất lâu mà tôi vẫn không làm thế nào
khiến Ngài rời khỏi túp lều tranh này được. Tôi muốn
đón Ngài sang Mỹ. Tôi nói: "Ngài hãy mau sang Mỹ, chẳng nên
ở đây."
Vừa
rồi là những gì đã xảy ra cho tôi hôm nay.
Kỳ
tối hậu Phật, danh Siêu Nhật Nguyệt Quang. Bỉ Phật giáo
ngã niệm Phật tam muội. Tỷ như hữu nhân, nhất chuyên vi
ức, nhất nhơn chuyên vọng. Như thị nhị nhơn, nhược phùng
bất phùng, hoặc kiến phi kiến. Nhị nhơn tương ức, nhị
ức niệm thâm. Như thị nãi chí, tùng sanh chí sanh, đồng
ư hình ảnh, bất tương thừa di.
"Kỳ
tối hậu Phật, danh Siêu Nhật Nguyệt Quang." Ðại Thế Chí
Bồ Tát gặp mười hai vị Như Lai, đó là Vô Lượng Quang,
Vô Biên Quang, Vô Ngại Quang, Vô Ðối Quang, Diệm Vương Quang,
Thanh Tịnh Quang, Hoan Hỷ Quang, Trí Huệ Quang, Nan Tư Quang, Bất
Ðoạn Quang, Vô Xưng Quang, và Siêu Nhật Nguyệt Quang. Ðức
Phật ban sơ có danh hiệu là Vô Lượng Quang. Phật A Di Ðà
cũng có danh hiệu là Vô Lượng Quang; nhưng 12 đức Như Lai
này là kế tiếp nhau xuất thế trong một kiếp, cho nên tôi
tin rằng đó là một vị cổ Di Ðà. Thích Ca Mâu Ni Phật có
cổ Thích Ca, kim Thích Ca. Ðức Phật Vô Lượng Quang này có
thể là cổ Di Ðà. Như vậy đức Phật sau cùng hiệu là Siêu
Nhật Quang, hào quang của Ngài sáng hơn ánh sáng của mặt
trời và mặt trăng cả trăm ngàn lần.
"Bỉ
Phật giáo ngã niệm Phật Tam muội." khởi đầu từ thời
Ðức Phật Vô Lượng Quang, và cho đến Ðức Phật sau cùng
là Siêu Nhật Nguyệt Quang Như Lai, tôi đều ở chốn nhân
địa tu tập pháp môn Niệm Phật. Tôi đã từng theo học pháp
môn Niệm Phật với mười hai đức Phật này, cho nên tôi
nói rằng những đức Phật đó đã dạy tôi niệm Phật Tam
muội. "Bỉ Phật" tức là chỉ mười hai đức Phật kể trên.
Ðại Thế Chí Bồ Tát tu pháp môn Niệm Phật đã phải trải
qua một thời gian lâu dài đến một kiếp để học tập pháp
môn Niệm Phật Tam muội. Tam muội là Phạn ngữ, phiên dịch
ra Hán văn là "Chánh định" và "Chánh thọ."
Pháp
môn niệm Phật tu tập như thế nào? Trước tiên đơn cử
một thí dụ. "Tỷ như hữu nhơn, nhất chuyên vi ức, nhất
nhân chuyên vong." Thí dụ có hai người, một người luôn luôn
nhớ còn người kia thì chuyên quên. Hai người này hoặc là
bè bạn, hoặc là cha con, hoặc là có quan hệ thân thuộc với
nhau. Nhưng hai người này thì một người luôn nhớ người
nọ, thí dụ ta nói ông A luôn nhớ ông B. Còn ông B thì sao?
Ông B thì chuyên quên, chẳng nhớ gì đến ông A gắn bó với
mình, ngay cả quên hẳn ông A là ai.
"Như
thị nhị nhơn" Như hai kẻ này, ông A luôn nhớ, ông B lại
chẳng hề nhớ chi cả, "nhược phùng bất phùng," tức là
nếu có gặp nhau thì y như chẳng gặp, vì ông A thì nhớ,
ông B thì quên mất. Trong trường hợp ông A gặp ông B thì
ông vẫn nhớ rõ ông B. Rất tiếc ông A chẳng gặp ông B.
Nếu ông B thấy ông A thì y như chẳng thấy vì ông chẳng
nhớ chi cả, không biết đó là cha, bạn bè hay thân quyến
của mình. Vì không còn nhớ nên nói có gặp như chẳng gặp.
"Hoặc
kiến phi kiến" Hoặc thấy, thì cũng như chẳng thấy. Vì chỉ
có một người nhớ còn kẻ kia lại chẳng nhớ, chẳng khác
gì xòe một bàn tay vỗ trên hư không thì không phát ra tiếng,
phải cần đủ hai món nhân duyên phối hợp mới thành tựu
được. Cho nên, hai người này dù có thấy nhau cũng như chẳng
thấy.
"Nhị
nhơn tương ức, nhị ức niệm thâm." Thí dụ hai người đều
nhớ nhau, chẳng quên nhau -- Ông A nhớ ông B và ngược lại,
người này gắn bó với người kia, thì là hai mối nhớ nhung
thâm sâu, ghi đậm vào tâm trí. "Như thị nãi chí, tùng sanh
chí sanh." Như vậy, từ đời này sang đời khác hai kẻ này
vẫn nhớ nhau sau, ghi đậm vào tâm trí mãi mãi. Cũng như Phật
nghĩ đến chúng sanh và ngược lại. Trong thí dụ trên, Phật
hằng nhớ đến chúng sanh, còn kẻ chuyên quên kia tức là
những chúng sanh chẳng hề nhớ đến Phật. Tuy Phật hằng
nghĩ đến chúng sanh, chúng sanh trái lại không nghĩ đến Phật,
cho nên hào quang không hòa hợp được. Hào quang không hòa
hợp, dĩ nhiên chẳng thể có sự cảm ứng.
Như
vậy nếu hai người đều nhớ đến nhau, như Phật hằng nhớ
đến chúng sanh và ngược lại, tâm niệm sâu đậm và thành
khẩn, thì trọn kiếp này hoặc từ kiếp này đến kiếp sau,
hoặc trong rất nhiều kiếp, hoặc trong nhiều đại kiếp,
họ vẫn không xa rời. "Ðồng ư hình ảnh, bất tương thừa
dị." Vì nỗi nhớ nhung sâu đậm giữa hai nguời cho nên họ
y như hình với bóng. Thân chẳng rời bóng, bóng chẳng xa thân,
như vậy cả hai chẳng thể nào không thấy nhau.
Thập
phương Như Lai, lân niệm chúng sanh, như mẫu ức tử. Nhược
tử đào thệ, tuy ức hà vi?
"Thập
phương Như Lai." Chắc quý Phật tử đều biết rõ "thập phương,"
tức là đông, tây, nam, bắc thêm vào đó là đông nam, tây
nam, đông bắc, tây bắc đó là tám phương thêm thượng phương,
hạ phương, tổng cộng là mười phương. Thập phương thế
giới đều có Như Lai, đều có Phật. "Lân niệm chúng sanh,
như mẫu ức tử," tức là chẳng khác gì tình cảnh mẹ nhớ
con. "Nhược tử đào thệ." Nhưng nếu con lại chẳng nhớ
mẹ, bỏ mẹ mà chạy chơi nô đùa, thì "Tuy ức hà vi:" Tuy
nhớ nhưng làm gì được? Lúc đứa con chạy ra bên ngoài,
mẹ có nhớ con cách mấy chăng nữa, đứa con cũng không trở
về với mẹ.
Tử
nhược ức mẫu, như mẫu ức thời. Mẫu tử lịch sanh, bất
tương vi viễn.
"Tử
nhược ức mẫu, như mẫu ức thời" Nếu con mà cũng nhớ
mẹ một cách chí tình giống như mẹ nhớ con vậy, thì:
"Mẫu
tử lịch sanh, bất tương vi viễn" tức là đời này qua đời
khác mẹ và con chẳng xa lìa nhau.
Ðoạn
kinh văn này ngụ ý nếu chúng sanh chúng ta nhớ nghĩ đến
Phật cũng chân thành như Phật tưởng nhớ chúng sanh, thì
nhứt định Phật sẽ tiếp dẫn chúng sanh chúng ta. Tiếc thay,
Phật nhớ chúng sanh nhưng chúng sanh lại chẳng nhớ Phật,
quên niệm Phật, quên nghĩ tới Phật, cũng chẳng khác gì
mẹ nhớ con, song chỉ có mẹ nhớ con chứ con lại không tưởng
nhớ mẹ, cho nên mẹ và con khó gặp nhau được. Nếu con cũng
nhớ đến mẹ thì luôn luôn mẹ và con đều chẳng xa lìa,
con không trốn mẹ chạy đi chơi. Vậy, nên chúng sanh chúng
ta hằng niệm Phật thì sẽ chóng về được cõi Thường Tịnh
Ðộ, tức là về cõi Phật.
Nhược
chúng sanh tâm, ức Phật niệm Phật, hiện tiền đương lai
tất định kiến Phật. Khứ Phật bất viễn, bất giả phương
tiện, tự đắc tâm khai.
"Nhược
chúng sanh tâm" "Nhược" nghĩa là giả sử. Giả sử tâm chúng
sanh; "chúng sanh," đây bao gồm quý vị, tôi, người khác, chúng
sanh trong quá khứ, chúng sanh trong hiện tại, chúng sanh trong
vị lai, tất cả đều ở trong hai chữ chúng sanh. Cho nên với
câu Kinh này mình chớ nên nghĩ rằng đó là nói về một chúng
sanh nào khác, mà phải thẳng thắn thừa nhận rằng chúng
sanh đó chính là mình chớ không ai khác, một chúng sanh yếu
hèn, một chúng sanh chẳng làm nên trò trống gì, một chúng
sanh chẳng biết báo ơn Phật, một chúng sanh quên Phật. Nếu
mình cứ hằng nghĩ như vậy tất phải sanh tâm hổ thẹn.
Phật đầy lòng từ bi thiết tha đến giáo hóa mình mà mình
bỏ ngoài tai, chẳng ưng nghe lời dạy của Phật, như vậy
tức là trong tâm ta chẳng có Phật, ngay cả một chữ "Phật"
cũng chẳng có.
Quý
Phật tử nghĩ xem tại Ðài Loan nơi Phật Giáo đang thịnh
hành, có thể mọi người đều biết Phật, biết lễ Phật,
nhưng trên thế giới số nguời biết Phật, lễ Phật được
bao nhiêu? Hãy cho rằng số người biết Phật rất nhiều và
biết lễ bái cũng không ít, tuy nhiên lại phân ra nào lễ
bái theo Phật giáo, nào là lễ bái của ngoại đạo, nào là
lễ bái của bàng môn tả đạo. Cho nên hiện nay chúng ta chẳng
hiểu pháp môn niệm Phật, có khi chúng ta còn bảo người
khác đừng niệm Phật, đừng tin Phật, như thế có phải
là điên đảo hay không?
Niệm
Phật một câu, tuy đơn giản như vậy nhưng không phải dễ
dàng, chớ tưởng rằng bất cứ ai cũng có thể niệm Phật
được. Nếu nghiệp chướng nặng nề thì muốn niệm Phật
niệm cũng chẳng ra.
Quý
Phật tử từng xem hát, có lẽ cũng biết về một tấn tuồng
tên Phong Ma Tảo Tần. Nội dung vở tuồng nói về Ðịa Tạng
Vương Bồ Tát muốn giáo hóa Thừa Tướng Tần Cối ở nước
Nam Tống.
Thuở
xua Tần Cối rất hiếu thảo với cha mẹ. Vì hiếu thảo với
cha mẹ nên ông tạo được một ít công đức. Do đó đời
này ông được giàu sang. Nhưng được giàu sang rồi ông không
biết tiếp tục tạo căn lành như trước để vun bồi quả
tốt cho tương lai và, ông ta đã tạo rất nhiều tội lỗi.
Có
lẽ vào một đời nào đó trong quá khứ, Ðịa Tạng Vương
Bồ Tát có quan hệ bạn bè với Tần Cối, cho nên Ngài nghĩ
rằng người này nên được cứu độ. Nguyện lực của Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát rất lớn. Ngài bèn phát tâm độ ông
Tần Cối này.
Ngài
độ ông Tần Cối bằng cách nào? Ngài hóa thân làm một vị
Tỳ-Khưu, viết chữ "Phật" trong lòng bàn tay rồi đến đưa
cho Tần Cối xem. Chỉ cần Tần Cối nhận ra chữ này và nói
đó là chữ Phật, thì tất cả tội lỗi mà Tần Cối đã
tạo từ trước Ngài sẽ giúp được xá miễn. Ðịa Tạng
Bồ Tát dùng phương tiện thiện xảo này để độ Tần Cối.
Nhưng khi Tần Cối gặp Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, ông chẳng
sanh tâm cung kính. Vì ông không sanh tâm cung kính nên Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát dùng đại oai thần lực, lấy phất trần
phủi một cái khiến ông tự động quỳ xuống, muốn đứng
dậy cũng chẳng được. Ðịa Tạng Vương Bồ Tát chìa tay
ra và hỏi ông rằng: "Ông hãy xem chữ gì trong lòng bàn tay
tôi."
Tần
Cối liếc qua rồi nói: "Tôi đậu Trạng Nguyên, nay làm Tể
Tướng, văn tự các nước tôi đều thông, văn tự các nước
mang đến xứ này đều qua tay tôi duyệt, hà huống chỉ có
một chữ trong lòng bàn tay Ngài? Ngài cho rằng tôi không biết
chữ đó hay sao? "Biết thì tôi biết đấy, nhưng tôi không
muốn đọc cho Ngài nghe!"
Quý
Phật tử nghĩ xem! Ðịa Tạng Vương Bồ Tát đầy lòng từ
bi, muốn ông Tần Cối chỉ đọc một chữ "Phật" mà thôi.
Ông ta biết chữ "Phật" đó nhưng chẳng thốt ra tiếng được,
lại còn nói: "Tôi biết nhưng tôi không đọc cho Ngài nghe."
Kết quả nghiệp chướng của y chẳng được tiêu trừ mà
lại còn bị đọa địa ngục. Câu chuyện này đủ chứng
minh niệm Phật chẳng phải là việc dễ dàng.
Nói
về cái tâm chúng sanh, mình bảo họ nhớ Phật niệm Phật
cũng chẳng phải là việc dễ dàng. Cho nên mới nói là "Nhược"
tức là giả sử. Ðoạn Kinh văn này chỉ là giả thuyết từ.
Giả sử cái tâm chúng sanh của mình "ức Phật niệm Phật,"
nhớ Phật niệm Phật. Tâm luôn tưởng nhớ Phật, miệng luôn
niệm Phật, thì hiện tiền và trong tương lai nhất định
sẽ được thấy Phật. Mình nhớ Phật, niệm Phật, hễ chuyên
nhất tất sẽ có linh ứng, tâm phân tán thời linh ứng khó
hiển hiện. Tâm niệm được chuyên nhất, niệm Phật một
cách khẩn thiết, chí thành, đến nỗi nước chảy cũng là
niệm Phật, gió thổi cũng là niệm Phật, niệm cho đến độ
mọi âm thanh chung quanh đều là "A Di Ðà Phật," như vậy mới
gọi là "nhớ Phật niệm Phật."
"Hiện
tiền đương lai." Hiện tiền là ngay trong đời này; đương
lai tức tương lai hoặc là đời sau của chúng ta.
"Tất
định kiến Phật." Mình nhất định có thể thấy được
Phật, vì thệ nguyện lực của Phật là chỉ cần mình niệm
Phật thì Phật nhất định nhiếp thọ mình. Cho nên "Khứ
Phật bất viễn," tức là không còn xa Phật.
"Bất
giả phương tiện." Mình chẳng cần tìm những pháp môn phương
tiện đâu đâu xa xôi để tu trì pháp môn niệm Phật này.
Niệm Phật là con đường tắt trong những con đường tắt,
phương tiện trong những phương tiện, một pháp môn viên đốn
nhứt, đơn giản nhứt, dễ dàng nhứt. Cho nên không cần tìm
kiếm một pháp môn hay phương tiện nào khác. Pháp môn niệm
Phật là phương pháp hay nhứt.
"Tự
đắc tâm khai." Tâm khai tức đã giác ngộ, đã thấu hiểu
thì khoát nhiên tâm liền khai ngộ, khoát nhiên thông suốt,
khoát nhiên đắc niệm Phật Tam muội, do đó tự đắc tâm
khai.
Như
nhiễm hương nhơn, thân hữu hương khí, thử tắc danh viết
hương quang trang nghiêm. Ngã bản nhân địa, dĩ niệm Phật
tâm, nhập vô sanh nhẫn, kim ư thủ giới, nhiếp niệm Phật
nhơn, quy ư Tịnh Ðộ.
"Như
nhiễm hương nhơn." Cũng như người nào có thấm nhiễm hương
thì "thân hữu hương khí" tức thân kẻ này toát ra mùi thơm
như hương. Vì có mùi thơm nên: "Thử tắc danh viết hương
quang trang nghiêm" cảnh giới này gọi là "hương quang trang
nghiêm."
"Ngã
bản nhân địa." Ðại Thế Chí Bồ Tát tự xưng là "vô ngã
chi ngã." Cái tôi vô ngã. Bồ-tát vốn vô ngã, nhưng Ngài đối
với chúng sanh thuyết pháp nên nói có ngã. Ngã bản nhân địa
nghĩa là lúc tôi còn ở tại nhân địa.
"Dĩ
niệm Phật tâm" tức dùng cái tâm nguyện niệm Phật để
"Nhập vô sanh nhẫn" tức chứng đắc vô sanh pháp nhẫn.
"Kim
ư thử giới, nhiếp niệm Phật nhơn" Tôi hiện ở tại thế
gian này, tức là thế giới Ta bà của chúng ta, để nhiếp
thọ, tất cả những người niệm Phật. Kẻ nào niệm Phật
thì tôi giúp đỡ người đó, kẻ nào niệm Phật thì tôi
tiếp dẫn người đó. Chỉ cần kẻ đó niệm Phật, tôi liền
tiếp dẫn kẻ đó vãng sanh thế giới Tây Phương Cực-Lạc.
Người niệm Phật chẳng khác gì miếng sắt, tôi y như cục
nam châm để hút sắt. Chỉ cần chịu niệm Phật thì tôi
hút về thế giới Tây Phương Cực-Lạc.
"Nhiếp
niệm Phật nhơn, quy ư Tịnh Ðộ" Tôi nhiếp thọ những kẻ
niệm Phật đều được sanh về thế giới Tây Phương Cực-Lạc,
về cõi Thường Tịch Quang Tịnh Ðộ của đức Phật A Di
Ðà.
Phật
vấn Viên Thông, ngã vô tuyển trạch, đô nhiếp lục căn,
tịnh niệm tương kế, đắc Tam Ma Ðịa, tư vi đệ nhất.
"Phật
vấn Viên Thông" Trong Kinh Lăng Nghiêm, Phật hỏi tất cả đệ
tử rằng sau khi nghe qua thập bát giới, theo sự nhận thức
của họ thì pháp môn nào viên dung vô ngại nhứt, viên mãn
nhứt, hợp căn cơ của họ nhứt? Do đó Ðại Thế Chí Bồ
Tát mới nói "Phật Vấn Viên Thông." Phần trước của Kinh,
Phật có hỏi các vị đệ tử của Ngài về pháp môn mà họ
đã chứng đắc để thành tựu đạo quả viên thông, cho nên
Ðại Thế Chí Bồ Tát mới nói:
"Ngã
vô tuyển trạch, đô nhiếp lục căn," tức tôi không có tuyển
chọn như thế, rằng xem pháp môn nào là đệ nhứt? là viên
thông? Nhưng tự mình cảm thấy pháp môn niệm Phật đều
thâu nhiếp lục căn, vì rằng:
Nhứt
niệm Di Ðà nhứt niệm Phật,
Niệm
niệm Di Ðà niệm niệm Phật.
Mình
lấy cái tâm niệm Phật để cầu sanh Tịnh Ðộ, và chận
đứng mọi vọng tưởng tạp niệm, không để chúng dấy khởi.
Nếu có thể dùng một niệm của cái tâm niệm Phật để
"đô nhiếp lục căn," thì cả sáu căn đều nghe theo lời mình,
không làm nghịch ý mình, tức là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân,
ý không bị cảnh giới của sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp,
làm dao động. Cho nên nói rằng: "lấy niệm phật để chuyển
hóa hết thảy các cảnh," lấy niệm Phật để không bị hết
thảy các cảnh chuyển hóa mình. Mình chỉ cần niệm sáu chữ
"Nam Mô A Di Ðà Phật" thì sẽ thâu nhiếp sáu căn dễ dàng,
rồi sáu căn này sẽ chịu nghe theo và phục tùng mệnh lệnh,
không dẫn dắt mình đến pháp nhiễm ô. Cho nên, "đô nhiếp
lục căn" tức là một pháp môn tổng trì (Dharani - Ðà la ni),
cũng là tổng nhất thiết pháp, trì vô lượng nghĩa vậy!
"Tịnh
niệm tương kế." "Tịnh" là gì? Không còn tạp niệm, không
còn vọng tưởng, gọi là tịnh. Niệm là gì? Nhứt niệm Phật
tức là niệm niệm Phật, niệm niệm Phật tức là nhứt niệm
Phật, một niệm cũng không gián đoạn thì ngay trong một niệm
này, nhứt định được vãng sanh về thế giới Cực-Lạc.
Cho nên nói rằng tịnh niệm tương kế. Hai chữ "tương kế"
này rất hệ trọng, chẳng phải niệm niệm là không niệm.
Mình phải:
Niệm
mà không niệm
Không
niệm mà niệm.
Hãy
niệm một cách tự nhiên, dù cho mình không muốn niệm Phật
cũng không được, tâm mình vẫn tự niệm. Cho nên nói rằng
muốn dứt cũng không dứt được, muốn tiếng niệm Phật
ngưng hẳn cũng không thể nào làm cho nó ngưng được. Chẳng
khác gì uống rượu say, niệm Phật đến say, muốn không niệm
cũng không được, chỉ còn lại một cái tâm niệm Phật.
Bởi
vậy mới nói là "tịnh niệm tương kế". Tương kế là kế
tục, không gián đoạn. Niệm Phật phải liên tục, không gián
đoạn, ngày này qua ngày nọ, tháng này qua tháng nọ, năm này
qua năm nọ, đời đời kiếp kiếp không lúc nào ngưng nghỉ.
Nếu mình phát tâm được như vậy thì đó gọi là tịnh niệm
tương kế.
"Ðắc
Tam Ma Ðịa" Tam-ma-địa là "đẳng trì," có người dịch là
"đẳng trị." Có người cho rằng tam-ma-địa là tam muội,
thực ra tam-ma-địa là định huệ viên dung, định huệ không
hai. Ðược như vậy gọi là đắc tam-ma-địa.
"Tư
vi đệ nhứt" Ðại Thế Chí Bồ Tát nói "Nếu đứng trên
cương vị của tôi, với kinh nghiệm tu hành và sở đắc của
bản thân tôi từ vô lượng kiếp cho đến nay và nếu ai hỏi
tôi pháp môn nào là hạng nhất thì tôi xin thưa rằng tôi
không chú ý đến các pháp môn khác, chỉ pháp môn thâu nhiếp
lục căn, tịnh niệm tương kế, đắc tam-ma-địa, là đệ
nhất."
Kệ
Hồi Hướng
Nguyện
đem công đức này
Trang
nghiêm cõi Phật-tịnh
Trên
báo bốn trọng ân
Dưới
cứu ba đường khổ
Nếu
có ai nghe thấy
Tất
phát bồ-đề tâm
Ðến
khi mạng này hết
Ðồng
sanh Cực Lạc Quốc.
Nam
Mô Hộ Pháp Vi Ðà Tôn Thiên Bồ Tát
Khai
Thị Về Kinh Và Chú Thủ Lăng Nghiêm
Kinh
Lăng Nghiêm Là Kinh Ngụy Tạo Chăng?